Vì vậy việc nghiên cứu sử dụng nguồn nguyên liệu tre nứa trong công nghiệp ván nhân tạo, làm vật liệu xây dựng và đồ mộc sẽ góp phần giải quyết vấn đề về nguyên liệu cho sản xuất, thúc đ
Trang 1Chương 1
MỞ ẦU 1.1 ấn
Trên thế giới có khoảng 14 triệu ha rừng với trên 500 loài tre nứa, phân
bố chủ yếu ở vùng Nam và Đông Nam Á Việt Nam là một trong những trung tâm phân bố tre nứa của thế giới, với gần 800.000 ha rừng tre nứa thuần loại, hơn 700.000 ha rừng tre nứa hỗn giao và hơn 2000 tỉ cây tre nứa phân tán theo các vùng như: Đông Bắc, Tây Bắc, Đồng Bằng Sông Hồng, Bắc Trung
Bộ, Duyên Hải Miền Trung…
Do có nhiều đặc tính quý, nên tre được sử dụng trong đời sống hàng ngày cũng như trong thủ công nghiệp và công nghiệp hiện đại Đã thống kê được hơn 30 công dụng của tre nứa, trong đó những công dụng chính là làm hàng thủ công, mỹ nghệ, làm vật liệu xây dựng, làm nguyên liệu trong công nghiệp giấy sợi và sản xuất măng tre làm thức ăn tươi hoặc khô
Theo chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam đến năm 2010, nước ta
sẽ sản xuất 2-2,5 triệu tấn giấy/năm; trong đó 30% nguyên liệu giấy có nguồn gốc từ tre nứa; như vậy phải cần khoảng 3-4 triệu tre nứa /năm, để đáp ứng cho riêng ngành công nghiệp giấy (5-6 kg tre nứa tươi cho 1 kg bột giấy) Ngoài ra còn cần rất nhiều tre nứa để sản xuất các mặt hàng mới như: Sản xuất đũa, tăm tre, sản xuất ván ghép thanh, ván ép…
Măng tre được sử dụng từ lâu đời; măng trúc, măng mai, măng giang, măng nứa…là các món ăn quen thuộc của mỗi người dân Việt Nam từ thành thị đến nông thôn Măng tre không chỉ được dùng trong nước mà còn là mặt hàng xuất khẩu ngày càng được ưa chuộng và yêu cầu với số lượng ngày càng tăng
Như vậy tre nứa là nhóm cây có sợi quan trọng bậc nhất Trong kế hoạch hành động Lâm sản ngoài gỗ của bộ Nông nghiệp và PTNT đang soạn thảo cũng coi việc phát triển tre nứa là một trong những mục tiêu trọng tâm của Lâm sản ngoài gỗ trong thời gian tới
Trang 2Việc nghiên cứu, gây trồng và khai thác sử dụng nguồn nguyên liệu Lâm sản ngoài gỗ hiện nay đang được quan tâm sâu sắc Đặc biệt trong công nghệ ván nhân tạo luôn mong muốn tạo ra những sản phẩm từ nguồn nguyên liệu này để đáp ứng nhu cầu sử dụng ngày càng tăng của thị trường
Vì vậy việc nghiên cứu sử dụng nguồn nguyên liệu tre nứa trong công nghiệp ván nhân tạo, làm vật liệu xây dựng và đồ mộc sẽ góp phần giải quyết vấn đề về nguyên liệu cho sản xuất, thúc đẩy khai thác có hiệu quả nguồn nguyên liệu và góp phần đa dạng hoá loại hình sản phẩm
Qua phân tích, đánh giá chung về tài nguyên và tình hình sử dụng tre nứa
ở nước ta đã khẳng định vai trò to lớn của nó trong đời sống kinh tế xã hội Hiện nay một số loài tre như Mai, Luổng, Vầu đã và đang được sử dụng chế biến các sản phẩm được sản xuất ở qui mô công nghiệp như ván sàn tre, chiếu tre, đũa tre, tăm hương, xiên thịt, chủ yếu để xuất khẩu Ngoài ra, trong mấy năm gần đây, một số cơ sở chế biến lâm sản ở miền Bắc đã đầu tư dây chuyền công nghệ sản uất ván cốp pha tre với các thiết bị chủ yếu được nhập từ Trung Quốc Nhưng các dây chuyền này v n c n đang trong giai đoạn hoàn thiện về công nghệ do có sự khác biệt về tính chất nguyên liệu giữa các loài tre của Việt Nam và các loài trúc của Trung Quốc , trong đó vấn đề đầu tiên
là công nghệ sấy tre Để góp phần vào việc định dạng sản phẩm và công nghệ chế biến các loài tre này, được sự phê duyệt của Khoa chế biến, Trường ĐHLN, tôi đã thực hiện đề tài nghiên cứu của Khoá luận tốt nghiệp:
“Khảo sát đánh giá qui trình sấy nguyên liệu tre thanh, sử dụng để sản
xuất ván cốp pha tre tại Công ty cổ phần G v xây dựng Long Vân, Đông Anh-Hà Nội”
1 i n i ng hương h nghi n hương h h
hi n
Mục tiêu nghiên cứu
Nắm được qui trình sấy nguyên liệu tre thanh, sử dụng để sản xuất ván cốp
pha tre tại Công ty CP Gỗ và Xây dựng Long Vân, Đông Anh – Hà Nội
Trang 3Nội dung nghiên cứu
- Tìm hiểu về công nghệ chế biến tre nứa trên thế giới và Việt nam
- Khảo sát cấu trúc và nguyên lý hoạt động của lò sấy tre thanh tại cơ sở sản xuất
- Khảo sát qui trình công nghệ sấy tre thanh tại cơ sở sản xuất: Kỹ thuật xếp đống, chế độ sấy và quá trình điều hành chế độ sấy
-Đánh giá chất lượng sản phẩm sấy – tre thanh
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thư viện: Để thu thập và tìm hiểu các kết quả nghiên cứu về công nghệ chế biến tre nứa đã được công bố
- Phương pháp hiện trường: Để khảo sát và nắm được qui trình sấy tre thanh tại cơ sở sản xuất
- Phương pháp thực nhiệm: Để ác định được một số chỉ tiêu về chất lượng của sản phẩm sấy – tre thanh
1.3 Phương thức tiến hành và quá trình thực hiện
n t t n n
Dưới sự hướng d n của TS.Trần Tuấn Nghĩa, nhóm sinh viên chúng tôi gồm 3 người đã thực hiện các đề tài nghiên cứu của khóa luận và chuyên đề tốt nghiệp, cụ thể cho từng người sau:
1 Nguyễn Mạnh Hà, với đề tài: Khảo sát đán á qu trìn sấy nguyên
liệu tre thanh, sử dụn để sản xuất ván cốp pha tre tại Công ty Cổ Phần Gỗ
và Xây Dựng Long Vân
2 Nguyễn Như Tướng, với đề tài: Khảo sát đán á về mối quan hệ giữa
á kí t ớc và về một số đặ đ ểm tre cây, sử dụn để sản xuất ván cốp pha tre tại Công ty Cổ Phần Gỗ và Xây Dựng Long Vân
3 Nguyễn Hữu Quỳnh, với đề tài: Khảo sát đán á sự ản ởng của các
chỉ số về kí t ớ v đặ đ ểm tre ây đ n chất l ợng và tỷ lệ lợi dụng tre
Trang 4thanh, sử dụn để sản xuất ván cốp pha tre tại Công ty Cổ Phần Gỗ và Xây Dựng Long Vân
Đây là các vấn đề nghiên cứu có liên quan với nhau, thuộc một nội dung của đề tài nghiên cứu ván cốp pha tre, cho nên thầy hướng d n đã hướng
d n chỉ đạo chúng tôi thực hiện theo nhóm trong việc thu thập tài liệu, số liệu
và viết phần tổng quan và nhóm c n được duy trì trong quá trình thực hiện các nội dung nghiên cứu Vì vậy phần tổng quan là kết quả nghiên cứu chung của các thành viên trong nhóm Chúng tôi đã ác định trường ĐHLN và Viện KHLNVN là hai cơ sở chủ yếu có thể thu thập các tài liệu cho nội dung nghiên cứu này Sau khi đã có được các tài liệu, số liệu thiết yếu, chúng tôi đã tiến hành lựa chọn, phân loại và sắp xếp lập thành phần và phân công mỗi người viết một phần Tiếp theo chúng tôi tập hợp lại bổ sung, hoàn thiện và nộp cho thầy hướng d n sửa chữa lần cuối cùng
Quá trình thực hiện
Xưởng sản xuất ván cốp pha tre thuộc Công ty cổ phần gỗ và xây dựng Long Vân Đông Anh – Hà Nội) là cơ sở chúng tôi thực tập lấy số liệu Phòng nghiên cứu chế biến lâm sản, Viện KHLNVN là cơ sở để chúng tôi tiến hành thí nghiệm theo đề cương đã được phê duyệt
Thời gian thực tập tốt nghiệp là 1 tháng, từ ngày 13/2 đến ngày 13/3/2011
Các công cụ, dụng cụ được chuẩn bị để đo đếm kích thước và đặc điểm của tre
- Thước cuộn kim loại, 5m
- Thước Panme
- Thước kẻ, giấy và bút dạ
Chúng tôi đã chọn ng u nhiên 100 cây tre Bước thứ nhất, chúng tôi đánh số thứ tự và đo chiều dài từng cây tre, đo đường kính và chiều dày vách gốc, đường kính và chiều dày vách ngọn của từng cây tre; đo độ cong của một
số cây tre và ghi lại các số liệu vào các bảng đã được chuẩn bị s n Bước thứ
Trang 5hai, chúng tôi đếm số lượng khúc tre được cắt ra từ mỗi cây tre các khúc tre được đánh số thứ tự tương ứng với thứ tự của mỗi cây tre , đo đường kính và chiều dày vách gốc, đường kính và chiều dày vách ngọn của từng khúc tre và ghi lại các số liệu vào các bảng đã được chuẩn bị s n Bước thứ ba, đếm số lượng thanh tre được chẻ ra từ mỗi khúc tre và đo kích thước của các thanh tre
từ mỗi khúc tre sau khi qua công đoạn phay tạo thanh và ghi lại các số liệu
vào các bảng đã được chuẩn bị s n Bước thư tư, tiến hành khảo sát đánh giá qui trình sấy nguyên liệu tre thanh, gồm các nội dung: Tìm hiểu sơ đồ cấu tao
và nguyên l hoạt động của l sấy tre thanh; kỹ thuật ếp đống vật liệu sấy; trực tiếp sấy 3 mẻ và đánh giá chất lượng sấy
Tất cả các công việc trên chúng tôi cùng thực hiện Các số liệu thực tập thu được, được phân chia để mỗi người ử l theo nội dung của đề tài nghiên cứu riêng của mỗi người
Trang 6
Chương 2 TÌM HIỂU TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, SẢN XUẤT CÁC SẢN PHẨM
TỪ TRE NỨA Ở TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 2.1 Tình hình nghiên c h bi n các sản hẩ từ re nư ở nước
ngoài
Có lẽ tác phẩm đầu tiên nghiên cứu tre trúc trên thế giới là của tác giả Munro được xuất bản vào năm 1868 với tựa đề: “Nghiên cứu về Bambusaceae” Sau đó tác phẩm của tác giả Gamble viết về: “Các loài tre trúc ở Ấn Độ” được xuất bản vào năm 1896 Trong tác phẩm này, tác giả đã
mô tả khá chi tiết về đặc điểm hình thái của 151 loài tre trúc phân bố ở Ấn
Độ và một số loài tre trúc ở Pakisttan, Srilanca, Myanma, Malaysia và Indonesia, theo ý kiến của Gamble thì các loài tre trúc là loài thực vật chỉ thị rất tốt về các đặc điểm và độ phì nhiêu của đất Ví dụ: loài Bambusa polymorphe phân bố trong tự nhiên đã chị thị cho đặc điểm của đất đủ độ ẩm gần như quanh năm và có hàm lượng chất dinh dưỡng tương đối cao hay đất tốt, do đó nó phân bố trong kiểu rừng tự nhiên thường xanh, ẩm Nhưng trái lại loài Dendrocalamus strictus phân bố trong tự nhiên lại chỉ thị cho điều kiện đất đai khô hạn, thuộc kiểu rừng tự nhiên thưa, rụng lá
Tre nứa là một nhóm cây có thân hoá gỗ, thuộc họ phụ tre (Bambusoideae), họ cỏ (poaceea) với khoảng 1300 loài tre, thuộc 70 chi, phân bố trên toàn thế giới, phân bố nhiều nhất ở vùng Nam và Đông Nam Á Cho đến nay đã thống kê được khoảng 14 triệu ha rừng tre nứa phân bố trên thế giới
Với diện tích lớn như vậy, tre nứa đã đóng vai tr quan trọng chỉ đứng sau gỗ với ngành Lâm Nghiệp ở các nước Châu Á, đặc biệt là các nước Đông Nam Á Trên thế giới có hơn nửa dân số liên quan đến sử dụng, quản lý và phát triển tre nứa Đến nay nhiều nước Châu Á đã nghiên cứu gây trồng và phát triền rừng tre nứa thành những vùng cung cấp nguyên liệu cho chế biến thực phẩm (chù yếu là măng và công nghiệp
Trang 7Trung Quốc là một nước có số loài tre nứa nhiều nhất với khoảng 500 loài, hiện nay Trung Quốc là quốc gia có ngành công nghiệp chế biến tre hàng đầu thế giới với rất nhiều chủng loại sản phẩm được chế biến từ tre theo quy
mô công nghiệp Ngành công nghiệp chế biến tre đã thực sự mang lại hiệu quả kinh tế và xã hội cho nhiều vùng nông thôn miền núi mà điển hình là sự phát triển kinh tế xã hội vùng Anji, tỉnh Triết Giang, Trung Quốc ngày nay có
sự đóng góp to lớn của ngành công nghiệp chế biến tre
Các sản phẩm từ chế biến tre công nghiệp chủ yếu ở vùng này là ván sàn tre, cốp pha tre, than tre Đặc biệt là các sản phẩm từ nguyên liệu tre ép khối, một loại nguyên liệu được sản xuất từ nan tre tẩm keo, được ép ở áp lực cao, tạo ra loại vật liệu tre composite có tính chất cơ lí cao tương đương các loại ghỗ nhóm 2 Từ nguyên liệu này có thể chế biến ra các loại sản phẩm nội thất có chất lượng cao như ván sàn, cột trụ cầu thang, mặt bậc cầu thang, khuôn cửa…
Nắm bắt được nhu cầu phát triển công nghiệp chế biến tre ở Việt Nam, các công ty của Trung Quốc đang triển khai các dự án chuyển giao công nghệ vào Việt Nam Tuy nhiên khó khăn cho các cơ sở sản xuất hiện nay là: 1/ các thông tin chào hàng từ Trung Quốc vào Việt Nam qua rất nhiều “kênh” thiết
bị được sản xuất từ rất nhiều công ty của Trung quốc với giá thành rất khác nhau vì thế các doanh nghiệp phải tự tìm hiểu tại Trung Quốc, các chi phí để
đi đến kí kết hợp đồng là không nhỏ 2/ giá thành bán thiết bị và chuyển giao công nghệ của các công ty Trung Quốc khá cao
Một số d n chứng về chi phí chuyển giao công nghệ và chi phí mua thiết bị toàn bộ của Trung Quốc như sau:
- Giá chuyển giao công nghệ sản xuất keo cho chế biến tre ép khối là 3,5
tỷ đồng (bao gồm cả chi phí chuyển giao công nghệ nấu keo, vận hành thiết bị
ép Sấy sản phẩm)
- Chi phí đầu tư dây chuyền sản xuất tre ép khối công suất dự kiến năm thứ nhất là 2500 m3 /năm và đạt công suất tối đa 10 000 m3/năm vào năm thứ
Trang 85 khoảng 19,8 tỷ đồng (nguồn: Chương trình Mekong tre-cơ hội đầu tư sản xuất tre ép khối, 2010)
- Chi phí đầu tư thiết bị chưa có phần chuyển giao công nghệ) cho dây chuyền sản xuất cốp pha tre công suất 5000 m3/năm là: 329 689, 5 USD; tương đương 62641 triệu đồng (nguồn: Chương trình Mekong tre 2010 Việc tiếp cận cơ sở sản xuất hiện đang có một số các thiết bị chế biến tre , hợp tác nghiên cứu hoàn thiện công nghệ sản xuất cốp pha tre và ván sàn tre
sẽ tiết kiệm chi phí đầu tư, sử dụng hiệu quả các thiết bị, rút ngắn thời gian sản xuất thử Hơn nữa cơ quan chuyển giao công nghệ còn phối hợp với cơ sở sản xuất xây dựng quy trình công nghệ sản xuất ván sàn tre và cốp pha tre cho chính họ Trong trường hợp nguyên liệu tre cung cấp có độ tuổi khác nhau, loài khác nhau, các cơ sở có thể điều trình các thông số kĩ thuật, làm chủ công nghệ sản xuất trong một số tình huống khó khăn về nguyên liệu
Một số loài tiêu biểu đã được nghiên cứu, gây trồng và đã được tổng kết thành các tài liệu tham khảo có giá trị như:
Gây trồng rừng mao trúc cao sản Tác giả: L Đại Nhất, Lâm Cường- nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật Trung Quốc, tháng 5 năm 2000
Sổ tay gây trồng và khai thác sử dụng rừng tre trúc ở Trung Quốc Tác giả: Huy Triều Mậu, Dương Vũ Minh- nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật Trung Quốc tháng 4 năm 2002
Kỹ thuật gây trồng tre trúc lấy măng cao sản Tác giả: Hà Quân Kiều, Kim Ái Võ, Châu Ngạch- nhà xuất bản Kim Thu n, tháng 3 năm 1994
Những kỹ thuật then chốt trong sản xuất măng tre trúc hiệu quả kinh tế cao Tác giả Kim Ái Võ- nhà xuất bản Nông Nghiệp Trung Quốc, tháng 4 năm 2002
Sản xuất và chế biến tre trúc, Tác giả : Tạ Hiếu Phúc- nhà xuất bản Kim Thu n tháng 3 năm 1994
Hỏi đáp về kỹ thuật gây trồng và chế biến măng tre trúc Tác giả Trần Tân Đinh- nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật Phúc Kiến, tháng 2 năm 1999
Trang 9Kỹ thuật phát triển và chế biến măng tre Tác giả : Lâm Nhung Dân, Trần Khai Tiêu- nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật Bắc Kinh, tháng 1 năm
2001
Kỹ thuật gây trồng trúc hướng măng và chế biến măng thực phẩm Tác giả Vương Hiến Bồi- nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật và phổ cập kỹ thuật Thượng Hải, tháng 1 năm 2003…
Các nước trong khu vực Đông Nam Á như Malaysia,Thái Lan, Indonesia cũng đã sử dụng tiềm năng tre nứa để phát triển kinh tế xã hội và các ngành công nghiệp sử dụng tre nứa, trong số đó đã tổng kết thành một số tác phẩm sau:
Trồng và sử dụng tre nứa ở Peninsualar, Malaysia Tác giả: A.razako.,A.Latif M., Walter và Noniri H 1995, giới thiệu nhiều loài tre nứa trồng ở khu vực và Peninsualar chế biến nguyên liệu tre nứa
Hiện trạng phát triển tre nứa và song mây ở Indonesia Tác giả Seodarto Kartodihardjo Phục hồi đất Lâm Nghiệp Indonesia Tài liệu này giới thiệu nhiều loài tre nứa được đưa vào sử dụng và phát triển ở Indonesia
Nghiên cứu và phát triển tre nứa ở Thái Lan Tác giả Rungnapar Pattanavipool, cục Lâm Nghiệp Hoàng gia Thái Lan Tài liệu này giới thiệu nhiều nghiên cứu và nhiều loài tre nứa được đưa vào sử dụng ở Thái Lan Báo cáo quốc gia về tre nứa và song mây ở Philippine Tác giả Merlyn N.Rivera Phòng nghiên cứu hệ thống và phát triển tre nứa phục vụ đời sống kinh tế, xã hội Có thể tóm tắt các nghiên cứu về tre nứa ở các nước trên thế giới tập trung vào các lĩnh vực sau:
- Nghiên cứu đa dạng sinh học thành phần loài tre nứa
- Nghiên cứu thành phần loài tre nứa được sử dụng trong các lĩnh vực chế biến lâm sản
- Quy hoạch và nuôi dưỡng vùng tre nứa tự nhiên làm nguyên liệu cho chế biến lương thực và công nghiệp chế biến lâm sản
Trang 10Gây trồng và phát triển tre nứa với nhiều mô hình khác nhau như mô hình lấy măng, mô hình vùng nguyên liệu ép ván dăm,…
Trong lĩnh vực nghiên cứu chế biến tre nứa, Trung Quốc cũng đứng đầu
về các đề tài và các kết quả ứng dụng vào sản xuất
Năm 1995 nhiều tác giả của viện Hàn lâm Trung Quốc đã ngiên cứu ván dăm tổng hợp từ phế liệu một số loại gỗ rừng trồng và dăm tre Và cũng trong năm đó nhiều tác giả của Trường Đại học Nam Ninh cũng đã tiến hành nghiên cứu ván tổng hợp tre với chiều dày 14-30mm Nhìn chung các m u sản phẩm này đều đạt được các chỉ tiêu về chất lượng cao hơn hẳn cùng loại từ gỗ Năm 1996 nhiều tác giả của Trung tâm nghiên cứu kỹ thuật tre Trung Quốc đã nghiên cứu tạo ván kết hợp tre - gỗ xẻ để tạo ra ván sàn, đạt tiêu chuẩn ván sàn cao cấp
Năm 1997 nhiều tác giả của Trường Đại học Nam Ninh đã tiến hành nghiên cứu tạo ván kết hợp tre - gỗ làm sàn conttener…,có sức chịu mài mòn cao
Năm 1999 nhiều tác giả của trung tâm nghiên cứu trúc ở Triết Giang Trung Quốc đã nghiên cứu tạo ván cốp pha tre chuyên sử dụng cho các công trình xây dựng cầu đường Thời gian sử dụng gấp trên hai lần so với ván cốp pha gỗ dán
Từ năm 2001-2005 nhiều tác giả của trung tâm nghiên cứu trúc ở Triết Giang Trung Quốc cũng đã nghiên cứu công nghệ tạo các sản mộc gia dụng
và trang trí nội thất từ tre Đặc biệt là các công trình nghiên cứu cacbon hoá tre tạo ra dạng sản phẩm mới giá trị từ tre
Tre phân bố tự nhiên ở một số nước trên thế giới Ngành công nghiệp tre chỉ phát triển ở một số nước trong đó Trung Quốc có thể được coi là
“cường quốc” về nghiên cứu tre và công nghiệp chế biến tre
Các nghiên cứu liên quan về tre nói chung chủ yếu tập trung phát triển bền vững nguồn tài nguyên tre góp phần bảo vệ môi trường sống toàn cầu Cho đến nay các kết quả nghiên cứu đã đạt được nhiều thành tựu lớn, nhưng
Trang 11chủ yếu là các kết quả nghiên cứu về phân loài tre (bamboo taxonomy), nghiên cứu về nhân giống và kĩ thuật gây trồng, nghiên cứu về sâu bệnh hại cây và biện pháp phòng ngừa Trong lĩnh vực chế biến sử dụng nguyên liệu tre, các nghiên cứu cho thấy có thể sản xuất được rất nhiều chủng loại sản phẩm có giá trị từ nguyên liệu tre như: các loại mĩ phẩm, vải chất lượng cao, than hoạt tính, à ph ng, bia vv… Về công nghiệp chế biến tre thành các sản phẩm thủ công mĩ nghệ, các vật dụng sinh hoạt trong gia đình ở các nước Châu Á và Đông Nam Á; các sản phẩm nội thất, ngoại thất và công trình dân dụng khác đã và đang rất phát triển ở Trung Quốc (tập trung ở vùng Anji, tỉnh Triết Giang Chính ngành hàng này đã tiêu thụ một lượng lớn nguyên liệu tre và thu hút lượng lao động phổ thông đáng kể tại các vùng nông thôn miền núi ở các nước đang phát triển Các thành tựu nghiên cứu trong lĩnh vực này chủ yếu tập trung vào việc ứng dụng công nghệ tiên tiến trong chế biến
gỗ, cải tiến thiết bị và công nghệ áp dụng trong công nghiệp chế biến nguyên liệu tre Các sản phẩm tre ép khối, ván sàn tre 3 lớp, cốp pha tre, các thành tựu trong bảo quản tre đều xuất phát từ ứng dụng thiết bị, công nghệ chế biến cơ-nhiệt-hóa của ngành chế biến gỗ
Nhờ áp dụng các công nghệ, thiết bị tiên tiến, nguyên liệu tre đã được chế biến tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao, thay thế gỗ để sản xuất ra các sản phẩm nội thất như bàn ghế, cầu thang, sàn nhà Cũng như trong công nghiệp chế biến gỗ, công đoạn sấy nguyên liệu cũng được ác định là khâu quan trọng trong quá trình chế biến tre để sản xuất các sản phẩm nội thất và xây dựng; nhưng vì tre là nguyên liệu dễ sấy hơn vật liệu gỗ (tre ít bị cong vênh, nứt, biến dạng hơn so với gỗ trong và sau quá trình sấy) nên hầu hết các cơ sở chế biến tre ở các nước đều áp dụng các thiết bị và công nghệ sấy
gỗ nhưng có điều chỉnh chế độ sấy để phù hợp hơn cho nguyên liệu tre Hầu hết nguyên liệu tre đưa vào sấy đều được sơ chế ở dạng nan thanh, ngoại trừ công nghệ sấy EDS Ecology Diversity Synergy do kĩ sư SACHIO ISHII giám đốc phòng thí nghiệm EDS tại Nhật Bản phát minh Theo công
Trang 12nghệ này, tre được để nguyên cây đưa vào l sấy ở nhiệt độ cao (từ 70-200 độ theo các quy trình riêng khác nhau tùy thuộc điều kiện đầu vào và yêu cầu sản phẩm đầu ra của nguyên liệu) ở nhiệt độ này một số thành phần cấu tạo của tre, gỗ như enlulo, hemi enlulo và lignhin bị phân giải thành các phân
tử thấp; khi nhiệt độ sấy giảm đi, các thành phần nêu trên được sắp xếp lại vì thế sản phẩm tre sau khi sấy có tính chất cơ học cao hơn so với công nghệ sấy thông thường, tre sau sấy EDS có màu nâu nhạt Một số ưu điểm nổi bật của
lò sấy EDS so với các kiểu lò sấy khác là: sử dụng nhiên liệu là phế thải chế biến gỗ, tre; một đặc tính cơ học của nguyên liệu sau sấy được cải thiện; thời gian sấy ngắn (5 ngày cho một đợt sấy với lò có dung tích 60 m3) Tuy nhiên giá thành chế tạo l quá cao, đầu tư ban đầu lớn so với các doanh nghiệp việt Nam; giá năm 2007 được công bố là 2 triệu USD cho lò 60 m3 và khoảng
700 000 USD cho lò có dung tích 20 m3
Nhận xét: Qua nghiên cứu và thực tế sản xuất tre ở các nước đều khẳng
định sấy tre là công đoạn quan trọng nhằm nâng cao chất lượng nguyên liệu, đáp ứng các yêu cầu nguyên liệu trong quá trình chế biến và là một giải pháp bảo quản, nâng cao độ bền tự nhiên của nguyên liệu tre và sản phẩm tre Thiết bị và công nghệ sấy gỗ hoàn toàn có thể cải tiến để áp dụng cho công đoạn sấy tre
Việc ứng dụng kiểu thiết bị nào, công nghệ nào còn tùy thuộc vào yêu cầu nguyên liệu sau sấy; quy mô sản xuất, khả năng đầu tư ở mỗi nước, mỗi doanh nghiệp
2.2 Tình hình nghiên c u ch bi n các sản phẩm từ tre n a ở Vi t Nam
Trong số các loài cây lâm sản ngoài gỗ, tre là loài cây khá quen thuộc,
có trữ lượng lớn, sản lượng khai thác hàng năm lớn hơn rất nhiều so với các loại lâm sản khác Việt Nam có 216 loài thuộc 25 chi tre-trúc khác nhau, phân
bố tự nhiên trên cả nước (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2005 Tính đến 12/2004, diện tích tre-trúc ước tính trên 1 563 253 ha, trong đó 799 130 ha rừng tre-trúc
Trang 13tự nhiên thuần loài, 682 642 ha rừng tre trúc tự nhiên hỗn loài và 81 484 ha rừng tre-trúc trồng (Nguyễn Ngọc Bình, Phạm Đức Tuấn 2007)
Được ác định là một trong các loài cây lâm sản có giá trị và được quan tâm phát triển; các nghiên cứu về tre đã đạt được các kết quả đáng kể về phân loài, gây trồng, bảo vệ cây sống và bảo quản tre; các nghiên cứu về chế biến
và sử dụng tre còn hạn chế Nếu như năm 1995, Việt Nam mới ác định được
121 loài thuộc 13 chi còn nhiều loài chưa được giám định tên (Nguyễn Tử Ưởng 1995 Năm 2005, Lê Viết Lâm, Vũ Văn Dũng ác định được 140 loài thuộc 29 chi và đến nay đã ác định được 216 loài thuộc 25 chi tre-trúc khác nhau (Nguyễn Hoàng Nghĩa.2005 Có thể nói các nghiên cứu về phân loài trong thời gian qua đã được thực hiện khá tốt với nhiều ấn phẩm được ban hành Các nghiên cứu về kĩ thuật lâm sinh là lĩnh vực được quan tâm nhiều nhất Ngay từ năm 1963 đã có các nghiên cứu về gây trồng tre, đến nay có ước tính trên 53 công trình nghiên cứu về các biện pháp lâm sinh và gây trồng tre-trúc ở Việt Nam, tuy nhiên các nghiên cứu chỉ tập trung vào một số loài có giá trị
Trong thời gian qua đã có rất nhiều các chương trình dự án hợp tác quốc tế, các đề tài nghiên cứu quan tâm đến phát triển bền vững tài nguyên tre-trúc ở Việt Nam; Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam trong một báo cáo tóm tắt kết quả các nghiên cứu đã trình bày tóm lược tiềm năng nguồn nguyên liệu tre, trúc ở Việt Nam; kết quả các nghiên cứu về phân loại tre trúc của Việt Nam, các biện pháp kĩ thuật lâm sinh trong gây trồng và phát triển tre, trúc; một số các kết quả nghiên cứu về bảo quản và phòng chống sâu bệnh hại tre, trúc; một số thông tin về nghiên cứu và phát triển thị trường các sản phẩm tre, trúc Các nghiên cứu về chế biến, sử dụng nguyên liệu tre-trúc còn rất hạn chế so với thế giới và thậm chí còn chậm sau một số cơ sở sản xuất có vốn đầu tư của nước ngoài Tuy nhiên trong phần đề xuất các nội dung cần nghiên cứu trong thời gian tới, báo cáo này đã đặt nhiệm vụ nghiên cứu chế biến, sử dụng hiệu quả nguyên liệu tre,trúc theo hướng đa dạng hóa
Trang 14các sản phẩm nhằm sử dụng tối đa, có hiệu quả nguyên liệu tre ở Việt Nam
Ví dụ: sử dụng phần gốc tre có đủ yêu cầu nguyên liệu làm ván ghép thanh tre, phần thân làm ván ghép khối, phần ngọn làm chiếu, đũa, tăm; sử dụng các phế liệu hoặc phần thân có kích thước nhỏ làm nguyên liệu sản xuất dăm làm giấy, vật liệu composite Nhưng các đề xuất này mới chỉ dừng lại ở mức
độ định hướng chung chưa đề cập đến các vấn đề công nghệ chế biến tổng hợp
Một số không nhiều các nghiên cứu về chế biến tre công nghiệp
Trần Tuấn Nghĩa 1993 Nghiên cứu công nghệ sản xuất cót ép và tấm lợp lượn sóng Kết quả đề tài đã tạo được các sản phẩm cót ép đặc biệt là cót
ép lượn sóng chất lượng cao có thể sử dụng làm tấm lợp cho các công trình xây dựng nhà tạm Kết quả nghiên cứu và sản phẩm đã được Tổ chức nghiên cứu tre quốc tế INBAR phổ biến rộng rãi trên tạp chí chuyên ngành và hội thảo quốc tế
TS.Hoàng Thị Thanh Hương (2001) đã thực hiện đề tài (Luận văn TSKH : “Nghiên cứu công nghệ sản xuất ván tre gỗ kết hợp” Đề tài đã xác định được cơ sở khoa học và công nghệ tạo ván ghép thanh, ván dăm tre gỗ kết hợp Các sản phẩm dạng này đã có được một số chỉ số kỹ thuật khác với các loại ván đơn thuần từ tre gỗ Kết quả nghiên cứu của các tác giả đã được một số cơ sở sản xuất phía nam đưa vào sản xuất thử nghiệm Nhưng đến nay
v n chưa thể trở thành quy mô sản xuất rộng rãi
Nguyễn Mạnh Hoạt và CTV (2001) Nghiên cứu sử dụng ván nứa ép 3 lớp thay thế ván gỗ trong nhà ở của nhân dân vùng núi phía Bắc Kết quả đề tài đã đề xuất công nghệ tạo sản phẩm ván nhân tạo kết hợp giữa nứa và ván bóc làm nguyên liệu xây dựng lát sàn và thưng nhà cho đồng bào miền núi Bùi Chí Kiên (2002) Nghiên cứu ảnh hưởng của áp suất ép biên và chiều dày thành tre luồng đến độ hở mạch keo của ván ghép thanh tre luồng Khác với vật liệu gỗ, vật liệu tre có các đặc tính vật lí và cơ học không giống nhau từ trong ra ngoài, từ gốc lên ngọn vì thế quá trình gia công tre để tạo
Trang 15phôi ghép khó khăn hơn so với gỗ, chất lượng bề mặt của phôi tre cũng không đồng nhất sau khi gia công vì thế trong quá trình ép tạo ván từ phôi tre cần có
sự điều chỉnh hợp lí để đạt được sản phẩm tre ghép có chất lượng như yêu cầu Nghiên cứu này đưa ra tương quan giữa áp lực ép và chất lượng mối ghép ngang trong quá trình tạo ván ép từ các nan tre thành phần có kích thước thanh nhỏ hơn
Bùi Chí Kiên, Trần Tuấn Nghĩa 2004 Nghiên cứu thăm d khả năng sử dụng mùn cưa tre để tạo cốt cho một số khay, đĩa sơn mài xuất khẩu bằng công nghệ ép định hình Phoi và mùn cưa và các đoạn tre có kích thước nhỏ
từ quá trình gia công sản xuất ván sàn tre, đũa và tăm tre là rất lớn (từ 30% đến 40% khối lượng nguyên liệu ban đầu) Mục tiêu của đề tài này là sử dụng các loại phế liệu này để sản xuất ra các sản phẩm hàng hóa có thể tiêu thụ được trên thị trường trong và ngoài nước Kết quả đề tài đã tạo được các m u sản phẩm cốt các loại khay đĩa với các hình dạng khác nhau, đạt chất lượng tốt, đáp ứng yêu cầu vật lí và cơ học của các sản phẩm sơn mài
Nguyễn Trọng Kiên, Phạm Văn Chương 2009 Trong khuôn khổ đề tài
“Nghiên cứu tạo tạo vật liệu com posite từ tre-gỗ dùng trong xây dựng và đồ mộc” đã nghiên cứu sử dụng vật liệu tre, cót mộc, gỗ để tạo ra các sản phẩm: Ván 3 lớp tre-gỗ-lớp ván mỏng và ván 3 lớp loại tre-MDF-lớp giấy cân bằng; nghiên cứu khảo nghiệm và xây dựng quy trình tạo ván cốp pha, ván sàn tre gỗ; nghiên cứu khảo nghiệm và xây dựng quy trình công nghệ tạo ván ép lớp
từ tre, ván bóc Các sản phẩm của đề tài tạo ra đều đáp ứng các tiêu chuẩn của Anh, Nhật Bản và Trung Quốc Đề tài đã kết hợp với cơ sở sản xuất tạo ra loại ván sàn có chất lượng đáp ứng yêu cầu thị trường tuy nhiên hiện nay v n chưa có khẳng định khả năng trở thành sản phẩm thương mại có thể cạnh tranh với các loại sản phẩm ván sàn từ gỗ hoặc gỗ composite và ván sàn từ tre
Nguyễn Thị Phúc.2008 Nghiên cứu sản xuất mặt ghế cong 2 chiều từ cót mộc và ván bóc gia nhiệt bằng d ng điện cao tần Đề tài ứng dụng công nghệ
Trang 16gia nhiệt bằng d ng điện cao tần, sản xuất các mặt ghế cong bằng cót ép đạt năng suất, chất lượng, mang lại hiệu quả kinh tế cao
Trong lĩnh vực sản xuất các sản phẩm từ tre nứa của Việt Nam ở quy mô công nghiệp từ đầu những năm 1980-1990, chỉ là cót ép dạng phẳng, với các tấm cót mộc đều được đặt đan theo các kích thước: 1m x 2m; 1m x 3m; 1m x 4m, chủ yếu được đan theo hoa văn lóng đôi Nhưng hiện nay hoa văn và kích thước cót đã được mở rộng và đa dạng hơn rất nhiều làm theo đơn đặt hàng sản phẩm cót ép, chủ yếu cho nhu cầu xuất khẩu Sản phẩm không những có hoa văn phong phú mà chất kết dính được sử dụng là các loại keo trắng, không độc hại có độ bền cao Nên sản phẩm cót ép chủ yếu được xuất khẩu sang Nhật Bản, Đài Loan, Malaysia, Mỹ…và một số nước Châu Âu, cung cấp vật liệu xây dựng cho các nhà nghỉ, nhà hàng của các khu du lịch sinh thái, các chòi che nắng ven biển.Nổi bật là khoảng 1000m2 cót ép chất lượng cao
đã được nhập từ các cơ sở của Việt Nam để lợp cho: “Nhà triển lãm Narkute” của Hội chợ quốc tế Nhật Bản Đây là ngôi nhà làm hoàn toàn từ tre nứa, song mây có hình dạng kén tằm lớn nhất thế giới Ngôi nhà có chiều dài 90m; chiều ngang 70m và chiều cao 19m, phải dùng hết khoảng 30.000 cây tre Hiện nay cót còn được sử dụng để sản xuất các sản phẩm mộc và trang trí nội thất bằng công nghệ ép định hình, ứng dụng công nghệ điện cao tần trong công đoạn ép nóng đang mở ra một hướng tiếp cận mới trong công nghệ chế biến lâm sản ngoài gỗ của nước nhà
Ngoài ra trong những năm 1990 một số cơ sở chế biến của miền Bắc đã liên doanh với Đài Loan, Trung Quốc đầu tư toàn bộ dây truyền thiết bị và công nghệ sản xuất ván sàn tre cao cấp và dây truyền thiết bị và công nghệ sản xuất đũa, tăm hương, xiên thịt, giấy để xuất khẩu Từ năm 2003 một số cơ
sở của tỉnh Hải Dương đã liên doanh với Pháp đầu tư xây dựng dây truyền sản xuất ván sàn tre ốp lên mặt ván sàn MDF Nhưng do một số yếu tố về nguyên liệu, tổ chức sản xuất, nên hiện nay các dây truyền này hầu như ngừng hoạt động
Trang 17Hiện nay một số trung tâm lớn sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu từ tre nứa, song mây, trong các sản phẩm cót ép chiếm một tỉ lệ đáng kể,
đã được hình thành như tại tỉnh Thanh Hoá có các huyện Thạch Thành, Ngọc Lạc, Yên Định…chuyên sản xuất cót ép dạng phẳng phục vụ nhu cầu sử dụng trong nước và xuất khẩu (chủ yếu sang Lào và Thái Lan); tại Hà Nội là các xã của huyện Quốc Oai, của huyện Chương Mỹ, chuyên sản xuất các mặt hàng mây tre đan xuất khẩu; tại các huyện Gia Lương, Gia Bình, Quế Võ…của tỉnh Bắc Ninh, các huyện Đồng Văn, Duy Tiên của tỉnh Hà Nam chuyên sản xuất các mặt hàng cót ép, hàng trang trí xuất khẩu; tại các huyện Quỳnh Phụ, Đông Hưng, Kiến Xương của tỉnh Thái Bình …chuyên sản xuất các mặt hàng mỹ nghệ từ song mây xuất khẩu; tại các huyện Ý Yên, Nghĩa Hưng của tỉnh Nam Định chuyên sản xuất các mặt hàng tre nứa xuất khẩu
Các nghiên cứu trong lĩnh vực phân loại, cải tạo giống và kỹ thuật lâm sinh về tre nứa ở Việt Nam cũng đã đạt được những kết quả đáng kể
Việt Nam là một trong những nước có thành phần tre nứa đa dạng và phong phú trong đó có nhiều loại được lấy măng làm thực phẩm và thân cây cho công nghiệp chế biến Đối với các loài lấy măng, nhiều loài bản địa có thể cung cấp nguồn măng có gía trị cao như măng Vầu Đắng, măng Mai, măng Giang,…Nước ta có diện tích tre nứa rộng lớn, đây là nguồn nguyên liệu tiềm năng cho nguyên liệu chế biến lâm sản
Trong thực tế, tre nứa đã gắn liền với người dân hàng ngàn năm nay, từ thủa Thánh Gióng đánh giặc Ân Chúng được dùng rộng rãi để làm vật liệu để sản xuất các mặt hàng quen thuộc trong gia đình và xã hội Tuy nhiên cho đến nay chỉ có một só loài được ngành chế biến lâm sản biết đến và đã được quy hoạch làm vùng nguyên liệu công nghiệp giấy và sản xuất ván ép như Luồng (Thanh Hoá, Nghệ An, Tuyên Quang, Phú Thọ… , Vầu Đắng (Hà Giang) Còn lại hầu hết các loài khác mới chỉ sử dụng ở mức độ tiểu thủ công nghiệp hoặc rải rác bởi kinh nghiệm của người dân Việc gây trồng và phát triển hầu hết các loài tre nứa cũng chỉ dừng lại ở kinh nghiệm gây trồng của người dân
Trang 18Cho đến nay mới chỉ có luồng là có quy phạm kỹ thuật trồng và khai thác (04 TCN, 21-2000) Nhiều loài khác như Trúc Sào, Vầu, Diễn,…mới có hướng
Trang 19
Chương 3
T QUẢ NG I N CỨU
3.1 Giới hi ơ ở h ậ
Tên công ty: Công ty cổ phần Gỗ và ây dựng Long Vân
Tên viết tắt: Công ty LONG VÂN
Trang 203.1.1 uá trình th nh p v hoạt động c ông t
Được thành lập từ năm 2007, công ty CP Gỗ và ây dựng Long Vân có ngành nghề sản uất cốp pha tre, cốp pha gỗ Sản phẩm của công ty sản uất
ra chủ yếu cung cấp cho các công ty ây dựng để làm cốp pha tấm lớn
3.1.2 h nh sách chất ư ng
Để thực hiện mục tiêu chất lượng, công ty đã đưa ra những chính sách quản l , kiểm tra chất lượng, khoán công việc gắn trách nhiệm cá nhân với chất lượng sản phẩm
Cốp pha tre Long Vân cung cấp sản phẩm chất lượng tốt đến các công trình ây dựng, lắng nghe phản hồi của khách hàng, đáp ứng các yêu cầu của Chủ đầu tư
3.1.3 ục tiêu phát triển c ông t
Ngoài việc sản uất sản phẩm cốp pha tre, cốp pha gỗ chịu nước, công ty
c n được Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam hợp tác về công nghệ để phát triển sản uất các sản phẩm khác từ nguyên liệu tre trong thời gian tới Bên cạnh đó c n có sự tiếp nhận chuyển giao công nghệ từ chuyên gia Trung Quốc – đất nước có sản phẩm tre chiếm 90% thị phần thế giới Tham gia các chương trình hoạt động do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, các đơn vị khác tổ chức các hoạt động vì mục đích phát triển ngành tre Việt Nam
Tiêu chí của công ty: Năng suất – Chất lượng – Hiệu quả Nhằm “Đồng hành phát triển cùng các doanh nghiệp ây dựng” trong sự nghiệp ây dựng
đất nước
Trang 213 1 4 Sơ đồ bộ máy hành chính c a công ty
ìn 3.1 đ ộ máy n ín
Trang 223 1 5 Sơ đồ dâ chu n công nghệ sản uất ván cốp ph tre
ìn đ n n ệ sản suất ván ốp p tre tạ n ty ỗ v ây
ựn on ân
3.2 hả ấ r ng n h ng ấ
3 1 Sơ đồ cấu tạo
Đây là l sấy tre thanh, do Trung tâm CNR, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt
Nam chuyển giao thiết bị và công nghê Sơ đồ cấu tạo của nó được chỉ ra ở
hình 2.2
C tre
h
Ch tre thanh
Phay thanh
Tr ng e
hả re
re thanh
Sấ re thanh
Trang 23ìn 3.3 đ ấu tạo l sấy tre t n
Trang 243.2.2 Đặc điểm cấu tạo
Cấu tạo l sấy gồm 5 bộ phận chính: Vỏ l sấy; hệ thống gia nhiệt; buồng sấy;
hệ thống lưu thông khí; hệ thống điều khiển chế độ sấy
+ Vỏ lò sấy có chức năng ngăn cách không gian trong lò sấy với môi trường xung quanh Vỏ lò sấy phải kín kít, cách nhiệt và cách ẩm để đảm bảo cho việc điều khiển chế độ sấy một cách chuẩn ác trong quá trình sấy Ngoài
ra vỏ lò phải đảm bảo các yêu cầu đối với một bộ phận kiến trúc trong phân xưởng Vỏ l sấy gồm có tường l được ây bằng gạch chỉ , trần l được làm bằng bê tông cốt thép
+ Hệ thống gia nhiệt có chức năng cấp nhiệt để làm nóng nguyên liệu sấy
và có thể điều chỉnh nhiệt độ của môi trường sấy theo từng giai đoạn của chế
độ sấy Hệ thống gia nhiệt gồm: Buồng gia nhiệt, là các hộp tôn có độ dày 8 – 10mm, hàn lại với nhau với cấu trúc chuyên biệt, để vừa đảm bảo chức năng cung cấp nhiệt với hiệu suất cao nhất theo tính toán thiết kế, vừa đảm bảo một phần chức năng đối lưu nhiệt của ống khói; buồng đốt được ây bằng vật liệu chịu lửa, được thiết kế để có thể sử dụng chất đốt là phế liệu tre gỗ hoặc là than đá; ống khói được chế tạo bằng tôn hàn, theo tính toán thiết kế không chỉ đảm bảo đối lưu nhiệt, mà c n giảm sự thất thoát nhiệt đến mức thấp nhất và giảm thiểu khói bụi gây ô nhiễm môi trường
+ Buồng sấy chiếm không gian chủ yếu trong không gian vỏ l sấy, để
ếp vật liệu sấy và là nơi thực hiện chức năng sấy gỗ Cửa buồng sấy khung ương được chế tạo băng thép hình, được che phủ băng vật liệu cách nhiệt, có cấu trúc đảm bảo cho buồng sấy kín khi đóng cửa và các e ếp vật liệu sấy cũng được coi là các bộ phận thuộc buồng sấy
+ Hệ thống lưu thông khí có chức năng luân chuyển chất d n sấy qua tất
cả các vị trí của đống vật liệu sấy với lưu lượng và vận tốc như nhau Nó gồm: 6 chiếc quạt trục có thể đổi chiều quay , được đặt thành 2 hàng thẳng đứng; 2 tấm định hướng gió và 1 tấm cưỡng bức gió hình 2.2
Trang 25Hệ thống điều khiển sấy có chức năng đo đếm và điều khiển các thông
số của môi trường sấy theo từng giai đoạn của một chế độ sấy Nó gồm: các công cụ, thiết bị đo độ ẩm, nhiệt độ môi trường sấy; giàn phun ẩm, các van điều tiết ẩm không được thể hiện trên hình 2.2 – Sơ đồ cấu tạo l sấy tre thanh)
3.2.3 Nguyên lý hoạt động
Không khi nóng từ buồng gia nhiệt 1 và một phần không khí tươi từ van điều tiết ẩm bên trái 2 được giàn quạt phía bên trái 3 hút và thổi vào mương nhiệt bên trái 4 , nhờ có tấm định hướng bên trái 5 được thổi vào đống tre thanh vật liệu sấy 6 với vận tốc tương đối đồng đều, mang hơi nước
và đi vào mương nhiệt bên phải 7) Không khí ẩm, nhờ có tấm định hướng bên phải 8 được giàn quạt bên phải 9 hút ra từ đống tre thanh vật liệu sấy với vận tốc tương đối đồng đều, một phần được ả ra ngoài qua van điều tiết
ẩm bên phải 10 và được thổi vào buồng gia nhiệt 1 Chu trình được lặp lại
từ đầu Khi thay đổi chiều hút đẩy của hai giàn quạt thì chu trình sấy diễn ra tương tự, nhưng theo hướng ngược lại
3 3 hả i r nh ng ngh ấ re h nh
Qui trình công nghệ sấy là tập hợp các chỉ d n, các qui định để thực hiện một chế độ sấy đối với một loại nguyên liệu sấy bởi một dạng l sấy cụ thể, nhằm đạt được chất lượng sản phẩm sấy theo yêu cầu với chi phí sấy ít nhất, thời gian sấy ngắn nhất Qui trình công nghệ sấy đang được ứng dụng cho l sấy
mã hiệu LSCT -04Tr tại Công ty CP Gỗ và ây dựng Long Vân, sấy tre thanh
để sản uất ván cốp pha tre, gồm các nội dung dưới đây:
(1) Nguyên liệu sấ
Nguyên liệu được sử dụng để sản xuất ván cốp pha tre tại Công ty cổ phần xây dựng và đồ mộc Long Vân là tre Luồng được thu mua chủ yếu ở Thanh Hoá và Tuyên Quang
Một số đặc điểm của tre Luồng:
Tên khác: Mạy sang, Mạy sang núi, Mạy sang num, Mạy mèn
Trang 26Tên khoa học: Dendrocalamus barbatus Hsuch D.Z.Li
Tên đồng nghĩa: Dendrocalamus membranaceus Munro
Họ thực vật: Hoà thảo – Poaceae
Phân họ: Tre – Bambusoideae
(1.1) Đặ đ ểm hình thái
Thân ngầm dạng củ, thân khí sinh mọc cụm, chiều cao thân 15-18m,
đường kính 10-15cm, ngọn cong hay hơi rủ, một số đốt gốc có vòng rễ khí sinh; lóng màu lục s m, chiều dài 26-30cm, phần phẳng dẹt một phía không lông, phần trên có ít phần trắng, bề dày vách thân 2-2,5cm, vòng thân không nổi lên chiều dài đốt 1,5cm, ở đốt và phía dưới vòng mo đều có một vòng lông nhung màu trắng, Chiều cao dưới cành 0,5-1m Mỗi đốt thân có nhiều cành, cành chính 3, trong đó 1 chiếc to khoẻ hơn rõ rệt, hay có lúc cành chính không phát triển mà có một chồi ngủ lớn và các cành bên khá nhỏ, rủ xuống
Bẹ mo rụng sớm, chất da, lúc đầu màu nâu vàng , lưng phủ phấn trắng và có lông gai nhỏ màu nâu; tai mo liền với phần kéo dài ra ngoài của gốc phiến
mo, dạng sóng, dài 5-15mm, rộng 2-3mm, phủ dày lông mi dạng bờm lợn dài 1cm; lưỡi mo cao 5-8mm, đầu xẻ răng không đều; phiến mo lật ra ngoài, gốc mặt bụng cũng phủ dày lông, thẳng cứng dạng lông bờm lợn, phần còn lại phủ lông gai nhỏ Cành nhỏ 8-15 lá, bẹ lá phủ lông, tai lá nhỏ, dễ rụng, có mấy chiếc lông tua; lưỡi lá cao 1mm; chiều dài phiến lá 10-15cm, rộng 1-2cm, gân cấp hai 5 hay 6 đôi
Cụm hoa không mang lá, mỗi đốt dính 10-25 bông nhỏ, đường kính trục cụm 1-2,2cm; bong nhỏ hình trứng ngược, dài 6-8,5mm, rộng 2-4mm, màu lục vàng, gân không lông, hai hoa nhỏ, chiều dài mày ngoài 6-7mm, rộng 4-5mm, đầu có mũi nhọn nhỏ dạng gai dài 0,8-1mm, có 3gân;chiều dài chỉ nhị 6mm, bao phấn màu vàng hay sau khi khô màu tím dài 6mm, đầu có mũi nhọn, chiều dài nhuỵ 6-7,5mm, phần trên của bầu cùng với v i và đầu nhuỵ đều phủ lông