1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bước đầu tìm hiểu về phương pháp bảo quản nguyên liệu và sản phẩm cói xuất khẩu tại công ty sản xuất kinh doanh hàng thủ công mỹ nghệ tiến thành thành phố thái bình

80 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bước Đầu Tìm Hiểu Về Phương Pháp Bảo Quản Nguyên Liệu Và Sản Phẩm Cói Xuất Khẩu Tại Công Ty Sản Xuất Kinh Doanh Hàng Thủ Công Mỹ Nghệ Tiến Thành
Tác giả Trần Thị Lan
Người hướng dẫn ThS. Đỗ Thị Ngọc Bích
Trường học Trường Đại Học Lâm Nghiệp
Chuyên ngành Chế Biến Lâm Sản
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2009
Thành phố Thái Bình
Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1 Sơ lược về cây cói và tình hình sản xuất cói (0)
    • 1.1.1 Trên thế giới (7)
    • 1.1.2 Việt Nam (8)
  • 1.2 Tình hình nghiên cứu bảo quản nguyên liệu và sản phẩm cói (10)
  • 1.3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài (10)
  • 1.4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài (11)
    • 1.4.1 Đối tượng nghiên cứu (0)
    • 1.4.2 Địa điểm nghiên cứu (11)
  • 1.5 Nội dung nghiên cứu (11)
  • 1.6 Phương pháp nghiên cứu (11)
  • Chương 2. Cơ sở lý luận (7)
    • 2.1 Một vài đặc điểm sinh học của cây cói (12)
      • 2.1.1 Khái quát đặc điểm sinh trưởng và phát triển của cây cói (12)
      • 2.1.2 Phân bố (13)
      • 2.1.3 Phân loại (15)
      • 2.1.4 Quá trình sinh trưởng và phát triển của cây cói (16)
      • 2.1.5 Phạm vi sử dụng cây cói (19)
    • 2.2 Nguyên liệu cói và bảo quản (19)
      • 2.2.1 Ảnh hưởng của đặc điểm nguyên liệu cói tới quá trình bảo quản (19)
      • 2.2.2 Bệnh mốc với nguyên liệu và sản phẩm cói (20)
      • 2.2.3 Các phương pháp bảo quản phòng chống mốc (27)
      • 2.3.1 Bảo quản kỹ thuật (28)
      • 2.3.2 Bảo quản bằng hóa chất (30)
  • Chương 3. Nội dung và kết quả nghiên cứu (12)
    • 3.1 Giới thiệu về Công ty (36)
    • 3.2 Thực trạng quá trình sản xuất và bảo quản tại công ty (39)
      • 3.2.1 Nguyên liệu tại công ty (39)
      • 3.2.2 Chủng loại sản phẩm của công ty (39)
      • 3.2.3 Giá trị kinh tế của sản phẩm (41)
      • 3.2.4 Quá trình chế biến và bảo quản cói (42)
      • 3.2.5 Các phương pháp bảo quản tại công ty (0)
    • 3.3 Phân tích, đánh giá (53)
      • 3.3.1 Thực trạng sản xuất và bảo quản tại công ty (53)
      • 3.3.2 Các phương pháp bảo quản tại công ty (58)
    • 3.4 Đề xuất (65)
  • Chương 4. Kết luận và kiến nghị (36)
    • 4.1 Kết luận (67)
    • 4.2 Kiến nghị (68)

Nội dung

Sơ lược về cây cói và tình hình sản xuất cói

Trên thế giới

Cây cói (Cyperus malaccen - Lam) là loài cây quan trọng nhất trong họ cói (Cyperaceae), thuộc bộ cói (Cyperales) với khoảng 70 - 95 chi và 3800 - 4000 loài Cói phát triển tốt ở những vùng đất phù sa màu mỡ, ven biển và ven sông nước lợ Loài cây này phân bố rộng rãi trên toàn cầu, từ các khu vực ôn đới, nhiệt đới đến hàn đới, đặc biệt nhiều ở Đông Nam Á, Tây Irắc, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Châu Úc.

Cói là nguyên liệu tự nhiên có giá trị cao, bền, dẻo dai và dễ trồng, được sử dụng rộng rãi trong ngành đan lát Nghề sản xuất cói đã tồn tại lâu đời ở nhiều quốc gia như Ấn Độ và các nước Đông Âu Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sản phẩm từ cói ngày càng đa dạng và tinh xảo, từ chiếu cói, thảm cói đến túi, giày dép và rổ rá cói Thị trường tiêu thụ sản phẩm cói đang mở rộng, với sự hiện diện mạnh mẽ ở Trung Quốc, Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản, Thái Lan, Việt Nam và Lào.

Nguyên liệu cói hiện nay được kết hợp với nhiều vật liệu khác như mây, tre, đay, gỗ và sắt thép, tạo ra những sản phẩm nội thất đẹp mắt và đa dạng.

Việt Nam

Theo báo cáo của Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, Việt Nam hiện có 26 tỉnh thành sản xuất cói, chủ yếu tại ba vùng: đồng bằng ven biển Bắc Bộ, ven biển Bắc Trung Bộ và ven biển Nam Trung Bộ, với tổng diện tích khoảng 13.800 ha và sản lượng hàng năm đạt khoảng 100.000 tấn Miền Bắc, đặc biệt là huyện Nga Sơn (Thanh Hoá), được xem là nơi trồng cói chất lượng cao nhất Trong bối cảnh Việt Nam là một trong năm quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu, việc nghiên cứu các cây trồng như cói, có khả năng sống chung với nước lợ và nước mặn, sẽ trở nên vô cùng quan trọng khi mực nước biển dâng cao.

Nghề sản xuất cói ở Việt Nam đã có lịch sử lâu dài, nổi bật tại các địa danh như Thanh Hoá, Ninh Bình và Thái Bình từ thế kỷ X, XI Hiện nay, ngành nghề này đang phát triển mạnh mẽ với nhiều nhà máy sản xuất và chế biến cói, nổi bật như Xí nghiệp Việt Trang, Công ty nông nghiệp Bình Minh, và Công ty cói Xuân Hoà, được thị trường trong và ngoài nước biết đến nhờ chất lượng sản phẩm tốt và mẫu mã đẹp Tại nhiều địa phương như Kim Sơn, Tiền Hải, và Tứ Kỳ, nghề chế biến cói đã trở thành nguồn thu nhập chính cho nông dân, tạo công ăn việc làm cho hàng nghìn người dân.

Việc trồng và chế biến cói tại Càng Long, Châu Thành, Trà Cú (Trà Vinh) đã đóng góp quan trọng vào việc cải thiện đời sống người dân nông thôn, giúp xoá đói giảm nghèo và tối ưu hóa nguồn lực địa phương.

Cây cói ở Việt Nam không chỉ có giá trị kinh tế cao, mà còn thể hiện nét văn hóa và giá trị tinh thần đặc trưng của làng quê Thời gian thu hoạch cói nhanh gấp ba lần so với trồng lúa, cho thấy tiềm năng kinh tế lớn Năm 2008, sản phẩm cói đã đóng góp đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu mặt hàng thủ công mỹ nghệ sang thị trường Mỹ.

Loại mặt hàng Tỷ trọng (%)

Mây tre lá kết hợp 1.84

Mặt hàng cói đóng góp quan trọng vào kim ngạch xuất khẩu thủ công mỹ nghệ, với doanh thu đạt 1.38 triệu USD tại thị trường Mỹ vào năm 2008 Trong đó, sản phẩm rổ rá đan bằng cói dẫn đầu về khả năng xuất khẩu với 395.000 USD Ngoài Mỹ, các thị trường như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc và EU cũng rất ưa chuộng sản phẩm từ cói.

Kể từ đầu năm 2007, thị trường sản phẩm cói đã chứng kiến sự sụt giảm trong sức tiêu thụ, dẫn đến việc nguyên liệu và các sản phẩm từ cói liên tục giảm giá Tình trạng này đã gây ra nhiều khó khăn cho nông dân và các doanh nghiệp trong ngành.

Tình hình nghiên cứu bảo quản nguyên liệu và sản phẩm cói

Cói được phân bố rộng rãi trên toàn cầu và có nhiều ứng dụng trong đời sống sản xuất, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học và tổ chức nghiên cứu như tổ chức phát triển Hà Lan (SVN) và Ford Foundation Tuy nhiên, tại Việt Nam, lĩnh vực nghiên cứu về cói, bao gồm chế biến và bảo quản, còn hạn chế với chỉ một số công trình sơ lược từ các tác giả như Nguyễn Tất Cảnh, Ngô Bá Bang và Anh Hương Hiện tại, chưa có nghiên cứu sâu về chế biến và bảo quản nguyên liệu cũng như sản phẩm từ cói.

Nghiên cứu về cói và bảo quản nguyên liệu cũng như sản phẩm từ cói là rất quan trọng Hoạt động này sẽ giúp giải quyết những khó khăn mà ngành hàng cói đang gặp phải, đồng thời tạo ra những bước tiến vững chắc cho ngành cói và ngành thủ công mỹ nghệ Việt Nam.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Hiện trạng bảo quản nguyên liệu và sản phẩm cói tại công ty sản xuất kinh doanh hàng thủ công mỹ nghệ Tiến Thành, Thành phố Thái Bình, đang gặp nhiều thách thức Công ty cần cải thiện quy trình bảo quản để đảm bảo chất lượng sản phẩm và nguyên liệu, đồng thời tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường Việc áp dụng các biện pháp bảo quản hiện đại sẽ giúp nâng cao hiệu quả sản xuất và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng.

Bài viết phân tích và đánh giá thực trạng bảo quản nguyên liệu và sản phẩm cói tại công ty, nhằm tìm ra những điểm mạnh và yếu trong quy trình hiện tại Từ đó, đề xuất các giải pháp cải thiện hiệu quả bảo quản, giúp nâng cao chất lượng sản phẩm và giảm thiểu lãng phí Việc áp dụng các phương pháp bảo quản tiên tiến sẽ góp phần tối ưu hóa quy trình sản xuất và tăng cường sự hài lòng của khách hàng.

Nội dung nghiên cứu

Trên cơ sở của mục tiêu nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài tôi tập trung nghiên cứu vào các nội dung chính sau:

+ Tìm hiểu nguyên liệu cây cói

+ Tìm hiểu quá trình tạo sản phẩm cói

+ Tìm hiểu phương pháp bảo quản nguyên liệu và sản phẩm cói tại công ty

+ Phân tích đánh giá thực trạng về bảo quản nguyên liệu và sản phẩm cói tại công ty Tiến Thành.

Cơ sở lý luận

Một vài đặc điểm sinh học của cây cói

2.1.1 Khái quát đặc điểm sinh trưởng và phát triển của cây cói

Cây cói, hay còn gọi là Cyperus malaccen - Lam, là một loại cây thân thảo thuộc họ Cyperaceae, thường sống ở những nơi ẩm ướt Cây có thân khí sinh không phân đốt, có hình dạng ba cạnh hoặc trụ, với tiết diện ngang hình tam giác hoặc hơi tròn Lá cây có bẹ ôm lấy thân, mọc từ gốc và xếp thành ba dãy Hoa của cây cói nhỏ, mọc thành bông ở kẽ lá bắc và tập hợp thành chùm hoặc hình chuỳ Hoa có thể lưỡng tính hoặc đơn tính, thụ phấn nhờ gió, với bao hoa rất nhỏ và có thể có từ 1-6 mảnh Cây cói có bộ nhuỵ gồm ba lá noãn, tạo thành bầu trên với một ô chứa một noãn, một vòi và ba đầu nhuỵ dài Quả của cây cói là quả đóng, hạt có nội nhũ bột bao quanh phôi.

Cây cói quan trọng nhất là phần thân khí sinh Thân được dùng để dệt chiếu, dệt thảm và làm các hàng thủ công mỹ nghệ

Nghề trồng và chế biến cói đã trở thành một phần quan trọng trong đời sống người dân Việt Nam, không chỉ ở nông thôn mà còn ở thành phố, với sản phẩm cói được biết đến như một loại hình gần gũi và thân thiện với môi trường Cây cói không chỉ giúp xóa đói giảm nghèo ở nhiều địa phương mà còn đóng vai trò thiết yếu trong đời sống dân sinh và nền công nghiệp của đất nước.

Cây cói Việt Nam được phân bố ở rất nhiều vùng trong cả nước dưới đây là bảng phân bố diện tích trồng cói của các địa phương

Bảng 2.1 Phân bố diện tích trồng cói theo các địa phương ở Việt Nam Đơn vị tính: ha

TT Tỉnh/ Thành phố Năm

III Duyên hải Nam Trung Bộ 700 600 708 714 715

V Đồng bằng sông Cửu Long 3.200 3.900 4.738 4.172 4.304

Vùng cói nổi bật nhất tại Việt Nam chủ yếu nằm ở các tỉnh đồng bằng duyên hải Bắc và Bắc Trung Bộ, bao gồm Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Thái Bình và Hải Dương.

Dương, Hưng Yên, Hải Phòng, và Thanh Hoá chiếm hơn 50% diện tích trồng cói toàn quốc, với sản xuất trên 7.000 ha Hàng năm, khu vực này thu hoạch khoảng 50.000 tấn cói và thu hút hơn 70.000 lao động tham gia vào nghề chế biến cói, bao gồm làm sợi, dệt cói và sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ.

Cây cói có khả năng sinh trưởng tốt trên nhiều loại đất, bao gồm đất hoang hóa, đất ngập úng, nhiễm mặn và nhiễm phèn, cho thấy tiềm năng mở rộng diện tích trồng rất lớn Tuy nhiên, việc mở rộng này còn phụ thuộc vào giá cả thị trường, đặc biệt là giá nguyên liệu cói.

Có nhiều cách phân loại cói, nhưng dưới đây xin giới thiệu hai cách phân loại phổ biến nhất

+ Theo đặc điểm sinh học người ta chia ra hai loại: (1) Cói bông trắng

Cói Cyperus tagetiformis (Roxb) có thân tròn, dáng mọc nghiêng, cao từ 1.5 - 2m với hoa trắng, cho sợi cói chắc, trắng, bền và năng suất cao từ 54 - 95 tạ/ha, thời gian sinh trưởng từ 100 - 120 ngày, rất thích hợp cho xuất khẩu Ngược lại, cói bông nâu (Cyperus corymbosus - Roxb) có thân to, hơi vàng, hoa vàng hoặc nâu, dáng mọc đứng nhưng cứng cây, đẻ yếu, chỉ cao khoảng 1.4 - 1.8m Mặc dù sợi cói này cũng chắc nhưng không trắng và phẩm chất kém hơn cói bông trắng, nên không được người tiêu dùng ưa chuộng.

+ Theo vị trí cấy trồng cói được chia làm hai loại: cói bãi và cói đồng

Cói bãi thường được trồng ở những vùng bãi non mới nổi, nơi có thủy triều ngập sâu, dẫn đến cây cói thấp và năng suất thấp Trong khi đó, cói đồng được trồng ở các bãi già cao hơn, với hệ thống đê quai ngăn thủy triều, tạo điều kiện cho việc canh tác cói trên đồng ruộng Cói đồng không chỉ cao hơn mà còn có năng suất cao hơn so với cói bãi, vì vậy nó được ưu tiên trồng hơn.

2.1.4 Quá trình sinh trưởng và phát triển của cây cói

(1) Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của cây cói

Cói là loại cây lâu năm, có thể thu hoạch sau 1 năm trồng và cho năng suất trong vòng 10 năm mà không cần trồng lại Việc nhân giống cây cói được thực hiện bằng phương pháp vô tính, với những giống tốt được chọn lọc và cấy trồng trên đồng ruộng hoặc bãi đất đã được chuẩn bị kỹ lưỡng Bằng các biện pháp canh tác phù hợp, cây cói sẽ được chăm sóc cho đến khi chín, sau đó tiến hành thu hoạch, bảo quản và chế biến để phục vụ cho sản xuất.

Cói ngoài bãi thường được trồng từ giữa tháng 3 đến đầu tháng 5 Trong khi đó, coi trong đồng có thể được canh tác liên tục trong năm với hai đợt trồng: đợt 1 từ tháng 2, 3 đến tháng 9 để thu hoạch, và đợt 2 từ tháng 10 đến tháng 5, 6 để thu hoạch.

Cây cói có thời gian sinh trưởng từ khi bắt đầu phát triển thân khí sinh cho đến khi ra hoa và chết, với vòng đời chỉ kéo dài khoảng 3 - 4 tháng Tuy nhiên, phần thân ngầm của cây có thể phát triển lâu dài, lên đến vài chục năm Quá trình sinh trưởng của cây cói được chia thành 3 giai đoạn chính.

+ Giai đoạn vươn dài của thân ngầm

+ Giai đoạn đâm tiêm và quy luật đẻ nhánh

+ Giai đoạn vươn cao a) Giai đoạn vươn dài của thân ngầm

Thân ngầm của cói chứa 4 mầm, trong đó có 2 mầm hoạt động và 2 mầm ở trạng thái ngủ được bảo vệ bởi lá bẹ và lá vảy Khi gặp điều kiện bất lợi như ngập nước hoặc nồng độ muối cao, 2 mầm hoạt động sẽ chết, trong khi 2 mầm ngủ vẫn được bảo vệ và có khả năng phát triển khi điều kiện thuận lợi trở lại Độ dài của thân ngầm phụ thuộc vào miền sinh trưởng nằm dưới mỗi lóng, được bảo vệ bởi lá bẹ hoặc lá vảy; lóng càng dài thì thân ngầm càng dài.

Trong quá trình sản xuất, việc yêu cầu thân ngầm lớn giúp tích lũy dinh dưỡng hiệu quả, từ đó tạo ra những cây cói dài, dẻo và chất lượng tốt Nếu độ vươn dài của lóng ngắn, sẽ dẫn đến sự phát triển nhiều tia mọc lên, trong khi thân khí sinh sẽ trở nên bé và dài hơn Giai đoạn đâm tiêm và quy luật đẻ nhánh cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình này.

Thời kỳ đâm tiêm là giai đoạn quan trọng trong quá trình sinh trưởng của cói, ảnh hưởng đến năng suất và phẩm chất sản phẩm Từ một mầm ở thân ngầm, cói phát triển thành hai nhánh, mỗi nhánh lại tạo ra hai ngọn Khi các nhánh này nhô lên khỏi mặt đất mà lá mác chưa xoè ra, đó chính là hiện tượng đâm tiêm Quá trình này diễn ra liên tục, thường có đợt đâm tiêm mới sau mỗi 23 - 25 ngày, cho thấy cói có khả năng đâm tiêm suốt 12 tháng trong năm.

Giai đoạn phát triển của cây cói bắt đầu khi lá mác vượt quá 10 cm so với lá mẹ, thời kỳ này chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố như phân bón, nước, nhiệt độ và ánh sáng Cây cói thường đạt chiều cao tối đa vào hai thời điểm trong năm: lần đầu vào giữa tháng 4 khi bắt đầu có mưa và độ ẩm tăng, và lần hai vào cuối tháng 8 Trong khoảng 10 - 20 ngày đầu tháng 4, cây cói có thể tăng trưởng nhanh chóng lên đến 40 cm, sau đó tốc độ phát triển sẽ chậm lại Các yếu tố như nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm không khí và ánh sáng có tác động trực tiếp đến khả năng phát triển chiều cao của cây cói.

(2)Các yếu tố ảnh hưởng tới sinh trưởng và phát triển của cây cói

Sự sinh trưởng và phát triển của cây cói bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, độ mặn, loại đất và điều kiện canh tác.

Nội dung và kết quả nghiên cứu

Giới thiệu về Công ty

Tiến Thành là doanh nghiệp chuyên sản xuất và kinh doanh các sản phẩm từ mây, tre, sợi móc và cói, với trọng tâm là mặt hàng cói Được thành lập vào năm 2005, công ty đã phát triển mạnh mẽ với 70 cán bộ công nhân viên, trong đó 45 người làm việc trong lĩnh vực cói Hàng năm, Tiến Thành tiêu thụ hơn 1.086 tấn cói nguyên liệu và xuất khẩu trên 869.400 sản phẩm sang các thị trường như Hàn Quốc và Đài Loan, đạt doanh thu 773.766 USD, góp phần quan trọng vào kim ngạch xuất khẩu của tỉnh Mức lương trung bình của công nhân dao động từ 800.000 - 1.500.000 đồng/tháng, đảm bảo cuộc sống ổn định cho người lao động tại một tỉnh thuần nông như Thái Bình.

Công ty, được thành lập năm 2005, đã nhanh chóng khẳng định tên tuổi trên thị trường trong và ngoài nước với các sản phẩm chất lượng cao như mặt ghế cói, rương cói, làn xách cói và giỏ cói, đặc biệt là tại Hàn Quốc và Đài Loan Nguồn thu nhập chính của công ty đến từ nguyên liệu cói, được thu mua từ các vùng như Tiền Hải, Kiến Xương, Hưng Hà, Quỳnh Phụ, cũng như từ các tỉnh lân cận như Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa Công ty nhận mẫu sản phẩm theo đơn đặt hàng và chế tác thử, sau đó gửi về các vùng sản xuất nhỏ, chủ yếu là các hộ gia đình Các sản phẩm sau khi hoàn thiện sẽ được kiểm tra chất lượng, bảo quản và xuất kho tại công ty.

Công ty nằm tại vị trí thuận lợi ở Thái Bình, gần tam giác tăng trưởng kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, giúp việc giao lưu và hợp tác quốc tế dễ dàng Với dân số khoảng 1.827.000 người, trong đó 94.2% là dân cư nông thôn, Thái Bình sở hữu nguồn lao động dồi dào, cần cù và sáng tạo Nghề trồng và chế biến cói đã có từ lâu, với diện tích trồng khoảng 300 ha, tạo ra vùng nguyên liệu ổn định cho công ty Tuy nhiên, công ty đang đối mặt với nhiều khó khăn do khủng hoảng kinh tế, giá nguyên liệu giảm và sự cạnh tranh gay gắt từ các doanh nghiệp trong và ngoài nước Để phát triển bền vững, công ty cần xây dựng chiến lược phù hợp nhằm vượt qua thách thức này.

Hình 3.1 Sơ đồ mặt bằng tổng thể của công ty

Kho thành phẩm đóng gói

Khu tạo khung mẫuKho nguyên liệuKho phế phẩm

Ao cảnh cứu hoả Phòng bảo vệ

Thực trạng quá trình sản xuất và bảo quản tại công ty

3.2.1 Nguyên liệu tại công ty

Công ty thu mua nguyên liệu từ các vùng trong tỉnh như Tiền Hải, Kiến Xương, Hưng Hà, cùng với các khu vực lân cận như Ninh Bình, Hải Dương, Hải Phòng và Thanh Hoá.

Nguyên liệu chính mà công ty thu mua là cói bông trắng, bao gồm cói đồng và cói bãi, với chiều dài thân cây khoảng 1.7 - 1.8 m, chắc chắn và có màu sắc bóng đẹp Cói được bó thành các "đon" nhỏ, nặng từ 20 - 30 kg và được lưu trữ trong kho nguyên liệu của công ty Tại đây, nguyên liệu được bảo quản, và sau đó có thể được cung cấp cho các cơ sở sản xuất nhỏ trong khu vực hoặc tiêu thụ ra thị trường Tuy nhiên, công tác bảo quản nguyên liệu tại công ty vẫn chưa được chú trọng đúng mức.

3.2.2 Chủng loại sản phẩm của công ty

Công ty Tiến Thành chuyên sản xuất và kinh doanh các sản phẩm thủ công mỹ nghệ từ cói, mây, tre và sợi, với sản phẩm chủ yếu là mặt hàng cói Đặc biệt, mặt ghế cói xuất khẩu sang Hàn Quốc và Đài Loan chiếm ưu thế, với nhiều mẫu mã đa dạng như 121K, 35K, 37K, AK, C247, C772, C999, CE, C90 Các mẫu ghế cói được thiết kế từ đơn giản đến phức tạp, bao gồm khung vuông, khung chữ nhật, khung tròn và khung khuyết, tạo nên sự phong phú, sáng tạo và mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, thể hiện nét đặc trưng riêng của Tiến Thành.

Một số sản phẩm mặt ghế cói đang sản xuất tại công ty:

Hình 3.2: Sản phẩm mặt ghế cói AK

Hình 3.3: Sản phẩm mặt ghế cói 121K

Hình 3.5: Sản phẩm mặt ghế cói 37K

3.2.3 Giá trị kinh tế của sản phẩm

Với nguồn nguyên liệu tự nhiên dễ dàng trồng và thu mua tại địa phương, giá thành nguyên liệu thấp và lực lượng lao động phong phú, chủ yếu là lao động thủ công không yêu cầu trình độ cao, sản xuất không chỉ thu hút người lớn mà còn tạo cơ hội cho trẻ em tham gia, từ đó tăng thu nhập cho gia đình Điều này cho thấy giá trị kinh tế mà sản phẩm mang lại là khá đáng kể.

Giá thành của các sản phẩm từ cói không cao, nhưng chúng đóng góp quan trọng vào việc cải thiện đời sống của người dân nông thôn.

Bảng 3.1 Giá trị sản phẩm mặt ghế cói

STT Chủng loại sản phẩm Giá trị sản phẩm (đ/chiếc)

Theo tìm hiểu, trung bình vào những ngày nông nhàn thì một người thợ lành nghề có thể đan được 5 - 6 chiếc mặt ghế/ ngày, thông thường làm được

Mỗi hộ gia đình sản xuất từ 3 đến 4 chiếc ghế mỗi ngày, với thu nhập bình quân từ 500.000 đến 800.000 đồng mỗi tháng Những hộ có nhiều lao động có thể đạt thu nhập lên đến 1.200.000 đồng/tháng Giá trị sản phẩm làm tại gia đình tăng gấp 3-4 lần khi được chế biến tại công ty để xuất khẩu Hàng năm, công ty tiêu thụ khoảng 1.086.000kg nguyên liệu cói và xuất khẩu khoảng 869.000 sản phẩm, mang lại doanh thu gần 800.000 USD, tạo nguồn thu nhập ổn định cho cán bộ và công nhân viên.

3.2.4 Quá trình chế biến và bảo quản cói

Cây cói khi đến thời kỳ thu hoạch đạt chiều cao khoảng 1.7 - 1.8 m sẽ được cắt bằng liềm chuyên dụng hình số 7, được rèn từ thép chất lượng cao Sau khi cắt, từng đám cói sẽ được giũ và phân loại cẩn thận.

Cây cói Chẻ đôi Hong phơi

Phân loại Tạo sản phẩm

Sau khi thu hoạch, quá trình làm sạch và kiểm tra chất lượng cói được thực hiện bằng cách sấy khô và chẻ đôi thân cói ngay tại ruộng Máy chẻ cói, gồm hai trụ gỗ và một lưỡi dao bằng sắt, giúp dễ dàng chẻ từng nắm cói Một người sẽ đưa cói qua máy trong khi người đối diện kéo cây cói đã chẻ để xếp thành bó.

Sau khi thu hoạch, cói sẽ được hong phơi để đảm bảo chất lượng Đối với cói đồng, vào mùa khô, việc phơi có thể thực hiện ngay tại ruộng hoặc bờ đê Trong khi đó, cói bãi sẽ được thu hoạch thành gùi và mang về nhà để phơi ngay lập tức Quá trình phơi thường kéo dài từ 3 đến 4 ngày nắng, nhằm tạo ra sợi cói cuộn tròn, đanh chắc và có màu trắng xanh đẹp mắt.

Hình 3.6: Thu hoạch nguyên liệu cói

Sau khi phơi xong, cói được phân loại cho các mục đích sử dụng khác nhau Cói đẹp được chọn để dệt chiếu và thảm, trong khi cói loại trung bình được dùng để đan làn và túi Các loại cói xấu được sử dụng để đan mặt ghế, sản phẩm tận dụng nguyên liệu cói hiệu quả nhất, không yêu cầu nguyên liệu cao như chiếu hay thảm, và có thể sử dụng cả những đoạn cói ngắn, nhỏ để tạo thành những chiếc mặt ghế xinh xắn.

Nguyên liệu sau khi phân loại sẽ được xử lý để tạo thành sản phẩm, bao gồm công đoạn nhuộm để mang lại màu sắc đẹp mắt Cói cần được ngâm trong 5 giờ để giảm thiểu các chất tan trong nước như đường, tinh bột và amino axít, từ đó hạn chế sự phát triển của nấm mốc và vi sinh vật gây hại Sau khi ngâm, cói sẽ được vớt lên, hong phơi và cất giữ để chuẩn bị cho quá trình đan Để tạo mặt ghế cói, cần tính toán lượng cói phù hợp, thông thường từ 1 - 1.5 kg cho mỗi sản phẩm, và trước khi đan, cói sẽ được nhúng nước trong 3 phút để làm mềm, giúp quá trình đan trở nên dễ dàng hơn.

Sản phẩm được thiết kế và tạo khung bởi công ty, sau đó được các nghệ nhân chế tác thử nghiệm và giới thiệu đến khách hàng Khi được chấp nhận, sản phẩm sẽ được giao cho các cơ sở sản xuất nhỏ, chủ yếu là hộ gia đình Tại đây, những người thợ khéo léo hoàn thiện sản phẩm, sau đó các ông chủ nhỏ thu mua lại và nhập cho công ty Khi về đến công ty, sản phẩm trải qua các công đoạn hoàn thiện cuối cùng như phòng chống nấm mốc, làm sạch, kiểm tra chất lượng và chuẩn bị xuất kho.

Sản phẩm sẽ được phơi tại công ty để giảm độ ẩm, hạn chế nấm mốc và kéo dài thời gian bảo quản Những sản phẩm bị mốc sẽ được xông hơi lưu huỳnh và sau đó sấy ở nhiệt độ 70 - 75 độ C, giảm độ ẩm xuống còn 15 - 16%, giúp sản phẩm có màu sắc đồng đều Cuối cùng, sản phẩm sẽ được kiểm tra chất lượng bởi bộ phận KCS, làm sạch và đóng gói trước khi nhập kho và xuất hàng.

Trong quy trình sản xuất sản phẩm cói xuất khẩu, công ty chỉ thực hiện các bước tạo khung mẫu, thu mua và bảo quản sản phẩm, cùng với việc hoàn thiện các khâu cuối trước khi xuất hàng Các khâu trung gian, đặc biệt là việc đan sản phẩm, chủ yếu được thực hiện bởi các hộ gia đình tại các cơ sở sản xuất nhỏ, chứ công ty không trực tiếp tham gia.

3.2.5 Các phương pháp bảo quản áp dụng tại công ty

(1) Phương pháp bảo quản kỹ thuật a) Phương pháp hong phơi

Phương pháp này tận dụng nguồn năng lượng mặt trời và diện tích sân bãi của công ty để tiến hành hong phơi

Nguyên liệu được thu mua về công ty và hong phơi tại sân bãi, hoặc có thể được hong phơi tại các hộ gia đình trồng cói trước khi nhập vào công ty Khác với song mây, cói cần được phơi dưới ánh nắng trực tiếp để đạt màu sắc đẹp Cói nên được sanh mỏng và phơi dưới trời nắng khoảng 3 - 4 ngày để có màu trắng xanh hấp dẫn Nắng càng to, màu cói càng đồng đều và đẹp Khi cói khô đạt yêu cầu, diệp lục sẽ mất đi, làm cho thân cói cuộn tròn, chắc chắn và khó bị nấm mốc tấn công.

Phân tích, đánh giá

3.3.1 Thực trạng sản xuất và bảo quản tại công ty

Trong quá trình thực tập tại công ty, tôi nhận thấy rằng việc bảo quản nguyên liệu và sản phẩm cói được công ty chú trọng, coi đây là một bước quan trọng không thể thiếu trong sản xuất và chế biến cói.

Cơ cở vật chất và điều kiện kỹ thuật

Công ty đã xây dựng một hệ thống kho bãi hiệu quả để bảo quản nguyên liệu và sản phẩm cói, bao gồm kho nguyên liệu, kho làm sạch, kho thành phẩm và kho phế phẩm Hai sân bãi rộng rãi được thiết kế để hong phơi nguyên liệu và sản phẩm, với một sân lát bê tông và một sân trải đá sỏi, giúp ngăn chặn ẩm ướt và vi sinh vật xâm nhập Sân bãi cũng hỗ trợ quá trình bảo quản bằng cách xông hơi lưu huỳnh cho nguyên liệu và sản phẩm bị mốc, cũng như tẩy trắng Công ty hiện có ba nhà kho, bao gồm kho phế phẩm và kho thành phẩm, đảm bảo phân loại và bảo quản khoa học, đồng thời hạn chế lây lan nấm mốc giữa các sản phẩm.

Công ty đã đầu tư xây dựng 2 lò sấy hơi đốt với dung tích 22.5 m³, có khả năng sấy từ 1000 đến 2500 sản phẩm mỗi mẻ Đặc biệt, hệ thống giàn sấy trong lò cho phép sấy nhiều loại sản phẩm khác nhau cùng lúc, với khả năng sấy song mây và sợi móc trên các giàn, trong khi sản phẩm cói được sắp xếp ở dưới Thiết kế này giúp tối ưu hóa việc sử dụng lò sấy, mang lại hiệu quả cao trong quá trình sản xuất.

Công ty đã phát triển một thiết bị làm sạch mốc hiệu quả, chỉ cần lắp chổi vào hệ thống trục gỗ có mô tơ Khi mô tơ quay, chổi sẽ hoạt động và sản phẩm cần làm sạch chỉ cần được đưa qua thiết bị này để loại bỏ mốc và lông tơ nhỏ Sáng chế này giúp giảm thiểu đáng kể nhân công trong việc làm sạch, đồng thời mang lại hiệu quả kinh tế cao.

Hình 3.15: Quá trình làm sạch sản phẩm

Hình 3.16: Nơi đóng gói sản phẩm

Nguồn nhiên liệu cho quá trình sấy có thể tận dụng phế liệu từ sản xuất, bao gồm đầu mẩu, bìa bắp và mùn cưa, tạo ra lượng nhiệt lớn Phương pháp sấy gia nhiệt gián tiếp bằng khí lò từ gỗ phế liệu không chỉ làm sạch phế liệu cho công ty mà còn giảm chi phí đầu tư thiết bị sấy và giá thành sản phẩm, đồng thời đạt yêu cầu về năng lượng tự cung tự cấp Một xưởng chế biến gỗ với công suất 20.000 m³ gỗ tròn mỗi năm có thể sản xuất khoảng 4.416 tấn gỗ phế liệu khô, sau khi đốt sẽ thu được năng lượng tương đương 3.500 tấn than tiêu chuẩn, đủ để sấy 44.000 m³ ván xẻ.

Công ty chuyên thiết kế và sản xuất khung từ gỗ tạp, tận dụng nguồn nguyên liệu gỗ kém chất lượng Nhờ đó, công ty tiết kiệm chi phí sản xuất và đảm bảo cung cấp số lượng khung mẫu ổn định, tạo tính liên tục và chủ động trong quy trình sản xuất.

Hình 3.17: Khu vực để khung mẫu

Công ty sở hữu hệ thống khuôn viên cây cảnh, bao gồm ao cứu hỏa, nhằm đảm bảo an toàn trong quá trình sấy nguyên liệu và sản phẩm cói, do tiềm ẩn nguy cơ cháy nổ Ao cứu hỏa là yếu tố thiết kế thiết yếu, góp phần bảo vệ an toàn cho quá trình bảo quản tại công ty.

+ Công ty có đội ngũ lao động, trẻ, nhiệt tình, năng động và sáng tạo có trách nhiệm với công việc

Đội ngũ lao động thủ công tại địa phương rất đa dạng và đông đảo, gồm những người cần cù, chịu khó, năng động và sáng tạo, đặc biệt là ở các cơ sở sản xuất nhỏ tại các vùng nông thôn trong tỉnh.

Mặc dù công tác bảo quản đã được công ty quan tâm nhưng vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế:

Cơ sở vật chất và diều kiện kỹ thuật

Công ty hiện tại chỉ tập trung vào việc bảo quản sản phẩm mà chưa chú trọng đến bảo quản nguyên liệu, trong khi nguyên liệu đóng vai trò quan trọng quyết định chất lượng sản phẩm cuối cùng.

Việc đánh giá chất lượng nguyên liệu và sản phẩm hiện chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của đội ngũ công nhân trong tổ KCS, trong khi thiết bị kiểm tra còn thiếu Công ty chỉ có một thiết bị thuỷ phần để đo độ ẩm sản phẩm, nhưng ít khi được áp dụng trong thực tế Hơn nữa, nguyên liệu đầu vào chưa có tiêu chí kiểm tra và đánh giá cụ thể, điều này cần được cải thiện để nâng cao chất lượng sản phẩm.

Cơ sở vật chất và trang thiết bị hiện tại còn thô sơ, với kho để nguyên liệu và sản phẩm phế phẩm chỉ được dựng tạm bợ, thiếu hệ thống kho kín Điều này tạo điều kiện cho hơi ẩm và mốc xâm nhập, ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm.

Hiện tại, công ty chưa có hệ thống kho kín để xông hơi lưu huỳnh, điều này ảnh hưởng đến quá trình bảo quản và tẩy trắng nguyên liệu cũng như sản phẩm cói Việc bảo quản chủ yếu được thực hiện ở sân bãi bằng cách che bạt kín, nhưng chỉ có thể tiến hành khi thời tiết nắng ráo Khi trời mưa, công việc này gặp nhiều khó khăn và không đạt hiệu quả cao Do đó, việc ủ bạt chỉ mang tính tạm thời, dẫn đến kéo dài thời gian sấy trong kho và làm tăng chi phí sản xuất.

Hiện tại, số lượng lò sấy hơi đốt chỉ có 2 và thiết bị đã cũ, dẫn đến mức độ hoạt động chỉ đáp ứng nhu cầu sản xuất nhỏ và trung bình Trong các thời điểm cao điểm, vấn đề này trở nên nghiêm trọng Hơn nữa, việc sử dụng lò sấy cho nhiều loại sản phẩm khác nhau với chế độ sấy không đồng nhất làm giảm hiệu quả sấy.

Mặc dù thiết kế lò sấy có quạt gió bên cạnh mang lại hiệu quả sử dụng dung tích cao và dễ dàng trong lắp đặt cũng như sửa chữa, nhưng nhược điểm lớn là tốc độ tuần hoàn của môi trường sấy trong đống sản phẩm cói không đồng đều, ảnh hưởng đến tính đồng nhất của sản phẩm cói sấy.

Công ty cần triển khai biện pháp xử lý khí lưu huỳnh sau khi xông hơi, vì khí này dễ tạo ra axit độc hại và gây ô nhiễm môi trường Hơn nữa, việc xông hơi thường diễn ra gần khu vực sinh hoạt và sản xuất của công nhân, gây kích thích và ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả làm việc.

Ngày đăng: 22/06/2021, 10:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w