1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng quy trình chẩn đoán và bảo dưỡng kỹ thuật cơ cấu phân phối khí động cơ trên xe toyata land cruiser overview

59 60 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 2,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Sau một thời gian nghiên cứu, tìm hiểu và làm việc nghiêm túc với tất cả nỗ lực của bản thân, em đã hoàn thành khoá luận tốt nghiệp với đề tài “Xây dựng quy trình chẩn đoán v

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trong ngành ô tô, từ ngày đầu tiên của năm 2014, thuế suất thuế nhập khẩu ôtô nguyên chiếc từ các nước trong khu vực Đông Nam Á giảm xuống còn 50% Động thái này được thực hiện theo Thông tư 161 do Bộ Tài chính ban hành ngày 17/11/2011 để thực hiện Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA) giai đoạn 2012 – 2014 Trước đó, cũng theo quy định này, mức thuế suất trong năm 2013 đã giảm từ 70% năm 2012 xuống còn 60% Quyết định của chính phủ về việc cắt giảm thuế nhập khẩu xe từ các nước Đông Nam Á, đặc biệt là Nhật Bản với các dòng xe nổi tiếng như Toyota, Honda và Mitsubishi đóng góp đáng kể vào việc làm nóng thị trường, đồng thời, giảm giá xe Điều này dẫn đến việc sử dụng ô tô ngày càng cao

Đi kèm với đó là sự phát triển của ngành sửa chữa, bảo dưỡng ô tô Với việc ô tô được xuất xưởng ngày càng nhiều nhưng việc sửa, chữa bảo dưỡng thiếu những người thợ giỏi Nhất là với thị trường đang phát triển mạnh như Việt Nam

Nhận thấy nhu cầu trên nên em đã tiến hành nghiên cứu thực hiện khoá

luận: “Xây dựng quy trình chẩn đoán và bảo dưỡng kỹ thuật cơ cấu Phân phối khí động cơ trên xe Toyota Land Cruiser Overview” Nhằm mục đích tìm

hiểu kĩ hơn về cơ cấu Phân phối khí động cơ

Mục tiêu, nội dung chính của đề tài tốt nghiệp là tìm hiểu được và xây dựng được quy trình từ chẩn đoán cơ câu phân phối khí động cơ và quy trình bảo dưỡng cơ câu phân phối khí động cơ trên xe Toyata Land Cuiser

Phương pháp nghiên cứu: vận dụng các kiến thức đã học từ các môn học, kiến thức thực tế thông qua các kì thực tập áp dụng vào xe Toyata Land Cuiser tại trường

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian nghiên cứu, tìm hiểu và làm việc nghiêm túc với tất cả

nỗ lực của bản thân, em đã hoàn thành khoá luận tốt nghiệp với đề tài “Xây

dựng quy trình chẩn đoán và bảo dưỡng kỹ thuật cơ cấu Phân phối khí động cơ trên xe Toyota Land Cruiser Overview” Em bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy

giáo TS Trần Văn Tùng đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ và động viên tinh thần trong suốt quá trình nghiên cứu thực hiện luận văn Em xin chân thành cảm ơn đến các thầy, cô giáo trong Khoa Cơ Điện - Trường Đại học Lâm Nghiệp, các bạn bè, trong quá trình thu thập tài liệu, trao đổi thông tin cũng như kinh nghiệm quý báu trong lý luận và thực tế Do hạn chế về điều kiện thời gian, tài liệu và trình độ nên luận văn không tránh khỏi những sai sót, khiếm khuyết Em rất mong tiếp tục nhận được sự chỉ bảo của các thầy, cô giáo và ý kiến đóng góp của bạn bè, đồng nghiệp

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Sinh Viên

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC HÌNH v

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1

1.1 Tổng quan về tình hình phát triển ngành ô tô hiện nay 1

1.1.1 Tình hình trên thế giới 3

1.1.2 Tình hình tại Việt Nam 8

1.2 Tổng quan về dịch vụ bảo dưỡng, sửa chữa ô tô tại Việt Nam hiện nay 11

1.3 Tổng quan về xe ô tô Toyata Land Cuiser 14

1.4 Cơ cấu phân phối khí trên xe Toyota Land Cruiser 15

1.4.1 Mục đích, phân loại, yêu cầu cơ cấu phân phối khí 15

1.4.2 Cơ cấu phân phối khí trong động cơ bốn kỳ 16

1.4.3 Các hiện tượng nguyên nhân hư hỏng của cơ cấu phân phối khí 17

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG QUY PHẠM PHÁP LUẬT TRONG CHẨN ĐOÁN, BẢO DƯỠNG VÀ SỬA CHỮA Ô TÔ 20

2.1 Những văn bản và quy định pháp luật về công tác chẩn đoán kỹ thuật và bảo dưỡng kỹ thuật 20

2.2 Nội dung về các văn bản và quy định công tác bảo dưỡng kỹ thuật 21

CHƯƠNG 3 XÂY DỰNG QUY TRÌNH CHẨN ĐOÁN, BẢO DƯỠNG HỆ THÔNG PHÂN PHỐI KHI TRÊN XE TOYATA LAND CUISER 24

3.1 Các bước căn bản của quá trình chẩn đoán kỹ thuật 24

3.2 Xác định thông số ra cho quá trình chẩn đoán cơ cấu phân phối khi trên xe Toyata Land Cuiser 31

3.2.1 Định nghĩa về chẩn đoán trạng thái kĩ thuật 31

3.2.2 Các loại thông số dùng trong chẩn đoán 31

3.2.3 Các điều kiện để một thông số ra được dùng làm thông số chẩn đoán 32

Trang 4

3.2.4 Thông số ra trên cơ cấu phân phối khí 33

3.2.5 Thông số chẩn đoán 33

3.3 Xây dựng quy trình chẩn đoán kỹ thuật cơ cấu phân phối khi trên xe Toyata Land Cuiser 35

3.3.1 Kiểm tra áp suất cuối kỳ nén 37

3.3.2 Kiểm tra, xác định độ kín nhóm pít tông - xéc măng - xilanh 38

3.4 Xây dựng quy trình bảo dưỡng cơ cấu phân phối khí 39

3.4.1 Chuẩn bị điều kiện để kiểm tra, điều chỉnh 40

3.4.2 Tháo nắp đậy dàn cò 43

3.4.3 Xác định thời điểm kiểm tra của máy số 1 44

3.4.4 Kiểm tra khe hở nhiệt máy số 01 45

3.4.5 Kiểm tra các máy tiếp theo 46

3.4.6 Điều chỉnh khe hở nhiệt 47

3.4.7 Lắp nắp che giàn cò và đường ống thông hơi tới các te 50

KẾT LUẬN 51 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Số người trên một ô tô tại các nước 7

DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 1.1 Xe Toyota Land Cruiser Over View (Phiên bản 70) 1989-1997 15

Hình 1.2 Cơ cấu phân phối khí dùng xupap treo trên xe 17

Hình 3.1 Các kỹ năng cơ bản về chẩn đoán kỹ thuật 24

Hình 3.2 Sơ đồ điều tra trước chẩn đoán 25

Hình 3.3 Xác định xem đó có phải là hư hỏng hay không 26

Hình 3.4 Dự đoán nguyên nhân hư hỏng 27

Hình 3.5 Kiểm tra khu vực nghi ngờ và phát hiện nguyên nhân 28

Hình 3.6 Ngăn chặn tái xuất hiện hư hỏng 29

Hình 3.7 Quy trình chẩn đoán kỹ thuật cơ cấu phân phối khí thông qua đo áp suất cuối kỳ nén 36

Hình 3.8 Áp kế cầm tay 37

Hình 3.9 Đổ dầu bôi trơn vào buồng đốt 38

Hình 3.10 Quy trình kiểm tra và điều chỉnh khe hở nhiệt 40

Hình 3.11 Bộ dụng cụ 41

Hình 3.12 Kiểm tra dầu bôi trơn động cơ 42

Hình 3.13 Tháo nắp đậy dàn cò 44

Hình 3.14 Bộ dàn cò 45

Hình 3.15 Nới ốc vít điều chỉnh 47

Hình 3.16 Kẹp thước là điều chỉnh khe hở nhiệt 48

Hình 3.17 Tiến hành với nhứng máy còn lại 49

Hình 3.18 Lắp đậy dàn cò 50

Trang 6

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan về tình hình phát triển ngành ô tô hiện nay

Để có được một ngành công nghiệp ô tô phát triển rực rỡ như ngày hôm nay, ngành công nghiệp này đã trải qua một thời gian dài phôi thai mà những nền tảng đầu tiên chính là phát minh ra các loại động cơ Năm 1887, nhà bác học người Đức Nicolai Oto chế tạo thành công động cơ 4 kỳ và lắp ráp thành công chiếc ô tô đầu tiên trên thế giới Có thể nói ô tô ra đời là sự kết tinh tất yếu của một thời kỳ nở rộ những phát minh trong cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đầu tiên của nhân loại Bởi ngay từ thế kỷ 13, nhà khoa học, triết học người Anh-Roger Bacon đã tiên đoán rằng “Rồi con người có thể chế tạo ra những chiếc xe

có thể di chuyển bằng một loại sức kéo nhanh không thể tin nổi, song tuyệt nhiên không phải dùng những con vật để kéo”.1 Kể từ khi ra đời, ô tô đã dành được sự quan tâm của biết bao nhiêu nhà khoa học, bác học vĩ đại Họ miệt mài nghiên cứu ngày đêm để không ngừng cải tiến nó về cả hình thức lẫn chất lượng: từ những chiếc xe thuở ban đầu thô sơ, kồng kềnh và xấu xí ngày càng trở nên nhỏ nhẹ hơn và sang trọng hơn Không lâu sau ô tô trở nên phổ biến, với những ưu điểm nổi trội về tốc độ di chuyển cao, cơ động, không tốn sức và vô

số những tiện ích khác, ô tô đã trở thành phương tiện hữu ích, không thể thiếu của người dân các nước công nghiệp phát triển và là một sản phẩm công nghiệp

có ý nghĩa kinh tế quan trọng ở tất cả các quốc gia trên thế giới Chính vì thế, theo lịch sử ngành công nghiệp ô tô thế giới, năm đầu tiên của thế kỷ 20-năm

1901, trên toàn thế giới đã có 621 nhà máy sản xuất ô tô xe máy, trong đó 112 ở Vương quốc Anh, 11 ở Italy, 35 ở Đức, 167 ở Pháp, 215 ở Mỹ và 11 nước khác Tuy nhiên, mốc thời gian đánh dấu sự ra đời chính thức của ngành công nghiệp

ô tô phải kể đến năm 1910 khi ông Henry Ford-Người sáng lập ra tập đoàn Ford Motor nổi tiếng, bắt đầu tổ chức sản xuất ô tô hàng loạt trên qui mô lớn

Vào những năm 1930 của thế kỷ 20, trước chiến tranh thế giới thứ 2, ô tô

đã có được những tính năng kỹ thuật cơ bản Cùng với những thành tựu khoa học kỹ thuật thời đó, công nghiệp ô tô thế giới đã thực sự trở thành một ngành

Trang 7

sản xuất đầy sức mạnh với 3 trung tâm sản xuất chính Bắc Mỹ, Tây Âu (từ trước chiến tranh thế giới thứ I) và Nhật Bản (trước chiến tranh thế giới thứ II) Hầu hết các hãng sản xuất có tên tuổi trên thế giới như Ford, General Motor, Toyota, Mercedes-Benz đều ra đời trước hoặc trong thời kỳ này Sau chiến tranh thế giới thứ II, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại bùng nổ, ô tô và công nghiệp ô tô cũng có những bước tiến vượt bậc Những thành tựu khoa học kỹ thuật được áp dụng như vật liệu mới, kỹ thuật điện tử, điều khiển học, đã làm thay đổi cơ bản, bản thân ô tô và công nghiệp ô tô cả về mặt kỹ thuật, khoa học công nghệ cũng như về quy mô kinh tế xã hội Nhìn lại lịch sử hình thành và phát triển của ô tô và ngành sản xuất ô tô thế giới, có thể hoàn toàn đồng ý với ý kiến cho rằng thế kỷ 20 là thế kỷ của ô tô Quá trình phát triển của ngành công nghiệp ô tô trên thế giới có thể chia làm 3 giai đoạn: Trước năm 1945: Nền công nghiệp ô tô của thế giới chủ yếu tập trung tại Mỹ, sản lượng công nghiệp ô

tô ở Tây Âu và Nhật Bản rất thấp Giai đoạn 1945-1960: Sản lượng công nghiệp

ô tô của Nhật Bản và Tây Âu tăng mạnh song còn nhỏ bé so với Mỹ Giai đoạn

từ 1960 trở lại đây: Nền công nghiệp sản xuất ô tô xe máy Nhật đã vươn lên mạnh mẽ và đã chiếm vị trí thứ nhất trong ngành công nghiệp to lớn này Nhật

đã trở thành đối thủ số một của Mỹ và Tây Âu trong ngành công nghiệp ô tô Ngành công nghiệp ô tô của Nhật có khả năng cạnh tranh rất lớn, để sản xuất 1 chiếc xe ô tô mới, Nhật chỉ cần 17 giờ trong khi Mỹ cần 25 giờ và Tây Âu cần

37 giờ Còn để xuất xưởng 1 mẫu xe mới Nhật chỉ cần 43 tháng trong khi Mỹ cần 62 tháng và Tây Âu cần những 63 tháng Bên cạnh đó là tính cạnh tranh của các bộ phận chi tiết phụ tùng Số lượng các khuyết tật tính trung bình trên 1 xe của Nhật là 0,24 so với Mỹ là 0,33 và Tây Âu là 0,62 Tuy nhiên sức cạnh tranh này gần đây đã giảm

Tóm lại, trong quá trình phát triển kinh tế, mỗi quốc gia khu vực đều sớm nhận thấy tầm quan trọng của ngành công nghiệp ô tô và cố gắng xây dựng ngành công nghiệp này ngay khi có thể Nhưng không vì thế mà ngành công nghiệp ô tô thế giới trở nên manh mún, nhỏ lẻ mà chính các tập đoàn ô tô khổng

Trang 8

lồ hoạt động xuyên quốc gia như một sợi dây xâu chuỗi liên kết có vai trò quyết định trong việc hình thành và phát triển ngành công nghiệp ô tô các quốc gia nói riêng và ngành công nghiệp ô tô thế giới nói chung Vậy nên ngành công nghiệp

ô tô thế giới hình thành, lớn mạnh và phát triển gắn liền với sự ra đời, liên kết, hợp tác, sáp nhập và lớn mạnh không ngừng của các tập đoàn ô tô khổng lồ hoạt động ở khắp các quốc gia, châu lục

số bán năm 1992 là 244 triệu FF Tại Mỹ có ba hãng ô tô khổng lồ là GM, Ford, Chrysler và ngoài ra còn có các hãng xe của Nhật liên doanh như Navistar, US Honda, International, Diamondster, Numi Nhật Bản nổi tiếng với các hãng ô tô lớn mạnh không ngừng như Nissan, Toyota, Honda, Mitsubishi Các hãng này

đã vươn rộng ra các thị trường thế giới và là từng làm các hãng xe Mỹ và Tây

Âu điêu đứng ngay trên sân nhà của các hãng này Cùng với sự phát triển của thương mại quốc tế và xu thế toàn cầu hoá, một số quốc gia, khu vực như Trung Quốc và ASEAN đã có những thành tựu đáng kể trong tăng trưởng kinh tế cũng

đã gia nhập ngành công nghiệp ô tô thế giới Hiện nay, hàng năm Trung Quốc sản xuất ra khoảng 1,2 triệu xe và các nước ASEAN đã góp tiếng nói của mình với sản lượng gần 1 triệu xe mỗi năm Theo nhận xét, đánh giá của Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô thế giới, hãng General Motor được công nhận là hãng ô tô lớn nhất thế giới, Ford chiếm vị trí thứ 2; vị trí thứ 3 thuộc về Toyota

Trang 9

Những tập đoàn ô tô hàng đầu thế giới là General Motor, Ford, Toyota, Daimler Chrysler và Volkswagen được xếp hạng trong 10 tập đoàn trên thế giới

có tài sản ở nước ngoài cao nhất Sáu tập đoàn này đóng góp 5% tổng giá trị đầu

tư trực tiếp trên toàn thế giới Công nghiệp ô tô đã và đang là động lực tăng trưởng cho nhiều quốc gia Công nghiệp ô tô là một ngành có quy mô lớn mang lại thu nhập cao Tổng giá trị hàng hóa do ngành công nghiệp này tạo ra đã đạt tới những con số khổng lồ Theo phòng thương mại Mỹ (US Department of Commerce) nền công nghiệp ô tô Mỹ chiếm 4,5% tổng sản phẩm quốc dân và tạo 1,4 triệu chỗ làm cho công nhân trong 4400 nhà máy chế tạo ô tô Tại Nhật Bản, theo thống kê Industrial Research Department năm 1991, công nghiệp ô tô

đã chiếm 12,9% tổng sản phẩm quốc dân và đóng góp 22,8% tổng kim ngạch xuất khẩu Con số này giờ đây chắc chắn đã vượt xa hơn nhiều Ngành công nghiệp ô tô được xem là một ngành sản xuất vật chất, cung cấp phương tiện đi lại và vận chuyển tối ưu nhằm đảm bảo mạch máu lưu thông, thúc đẩy kinh tế phát triển Theo thống kê, 82% khối lượng hàng hoá vận chuyển bằng đường ô

tô và 75% hành khách đi lại bằng phương tiện cơ động này Như vậy, ở điểm này, ngành công nghiệp ô tô đã gián tiếp đóng góp vai trò không thể thiếu của mình vào sự nghiệp phát triển kinh tế quốc gia và thế giới Ngoài ra, do đặc trưng gắn liền với thành tựu khoa học kỹ thuật, ngành công nghiệp ô tô có tác động thúc đẩy khoa học kỹ thuật phát triển đặc biệt là các ngành tự động hóa, khoa học điện tử, công nghệ mới, hóa chất, cơ khí chế tạo,…từ đó thúc đẩy nhiều ngành, lĩnh vực liên quan cùng phát triển đóng góp vào sự phát triển chung của nhân loại Bên cạnh đó, công nghiệp ô tô là khách hàng lớn nhất của nhiều ngành công nghiệp phụ cận như: kim loại, hóa chất, cơ khí, điện tử,…và tạo công ăn việc làm cho vô số lao động trong các ngành công nghiệp này Theo Industrial Research Department, trong tổng số 64,4 triệu lao động ở Nhật có tới 7,3 triệu làm trong ngành công nghiệp ô tô, chiếm 11,3% Công nghiệp ô tô tiêu thụ 70% cao su tự nhiên; 67% chì; 64% gang đúc; 50% cao su tổng hợp; 40% máy công cụ; 25% thuỷ tinh; 20% vật liệu bán dẫn; 18% nhôm; 12% thép và

Trang 10

một số nhiên liệu, dầu nhớt khổng lồ Điều này cho thấy sự phát triển của ngành công nghiệp ô tô sẽ thúc đẩy và lôi kéo theo sự phát triển của nhiều ngành công nghiệp khác Một vai trò không kém phần quan trọng của ngành công nghiệp ôtô thế giới là việc đẩy nhanh quá trình toàn cầu hóa thông qua việc quốc tế hóa của các tập đoàn ô tô khổng lồ trên thế giới và xúc tiến quá trình chuyển giao công nghệ từ các nước phát triển sang các nước kém phát triển

Tốc độ phát triển của ngành công nghiệp ô tô cũng là điều dáng kinh ngạc khi kể từ năm 1990 đến nay, tổng giá trị thương mại của ngành công nghiệp ô tô (bao gồm cả xe ôtô và phụ tùng) đã tăng 80% từ con số 318 tỷ đô la Mỹ vào năm 1990 lên đến 580 tỷ đô la Mỹ vào năm 2000 Đây là một mức tăng trưởng ngoạn mục trong mười năm qua và mức tăng trưởng này đã vượt qua tỷ lệ mức tăng trưởng của thương mại toàn cầu trong cùng thời gian đó Hiện nay 10% tổng giá trị thương mại trong các ngành công nghiệp chế tạo do ngành công nghiệp ô tô đóng góp

Xu hướng hiện tại của ngành công nghiệp ô tô thế giới là giảm bớt số lượng các tập đoàn sản xuất ô tô đa quốc gia bằng việc sát nhập vào với nhau nhằm thu được hiệu quả cao nhất Các nhà phân tích đều dự đoán rằng việc sát nhập này sẽ còn tiếp tục là xu hướng của tương lai bởi xu hướng này sẽ làm tăng tính tập trung trong ngành công nghiệp ô tô Và xu hướng này cũng đang và sẽ diễn ra đối với các hãng sản xuất phụ tùng phụ kiện ô tô Năm 1992, tổng số các nhà cung cấp phụ tùng và phụ kiện cho ngành công nghiệp ôtô là 30.000 với tổng giá trị sản phẩm và dịch vụ cung cấp đạt 496 tỷ đô la Mỹ Hiện nay con số các nhà cung cấp trên thế giới chỉ còn là 8.000 nhưng đạt được tổng giá trị sản phẩm và dịch vụ là 958 tỷ đô la Mỹ Các nhà phân tích dự đoán rằng vào cuối thập kỷ này (thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21) số lượng các nhà cung cấp phụ tùng

và phụ kiện cho ngành công nghiệp ôtô trên toàn thế giới chỉ còn 2.000 Ngoài việc củng cố hoạt động thông qua việc sát nhập và mua lại cổ phiếu của nhau, các hãng sản xuất ô tô lớn trên thế giới cũng đồng thời thiết lập ngày càng nhiều các đối tác chiến lược quốc tế về thị phần Ví dụ như: đối tác giữa General, Fiat

Trang 11

và Subaru; đối tác giữa Ford và Mazda; đối tác giữa Dex, Mitsubishi và Hyundai Điều này cũng góp phần vào xu hướng tăng cường củng cố và hội nhập trong tổ chức sản xuất của ngành công nghiệp ô tô trên thế giới Ngoài ra, các nhà sản xuất ô tô lớn trên thế giới cũng đang phải đối mặt với một nhu cầu ngày càng tăng đối với các loại xe ô tô an toàn hơn, ít gây ô nhiễm môi trường hơn, tiết kiệm nhiên liệu hơn nhằm thoả mãn những nhu cầu mục đích sử dụng

và thị hiếu ngày càng tăng của khách hàng Áp lực về việc thay đổi công nghệ này xuất phát từ nhiều phía trong đó có các chính phủ, các tổ chức phi chính phủ

và người tiêu dùng là điều không thể tránh khỏi trong tương lai Điều đó đã làm tăng chi phí lên đáng kể cho việc nghiên cứu và phát triển sản phẩm Để giải quyết vấn đề này, nhiều hãng sản xuất ô tô đã buộc phải thu hẹp ngân sách cho các chương trình nghiên cứu nhằm cải tiến và phát triển sản phẩm bằng cách cùng chia sẻ chi phí nghiên cứu và công nghệ thông qua các đối tác chiến lược

có cùng nhu cầu và tương đồng về công nghệ Chẳng hạn như, trong năm 2000, hai tập đoàn Toyota và Honda cũng cam kết trang bị hệ thống thông tin onstar của tập đoàn General Motor cho một số loại xe của mình Hệ thống này có thể xác định vị trí của xe ô tô có sử dụng hệ thống định vị toàn cầu (GPS) trong trường hợp xe bị tai nạn và ứng cứu kịp thời Xu hướng này sẽ là xu hướng chủ đạo trong tương lai khi nhu cầu và đòi hỏi của con người về một phương tiện đi lại đơn thuần đã gần như bão hoà và họ bắt đầu hướng đến những tính năng đặc biệt hơn của ôtô Thực tế còn cho thấy rằng, các tập đoàn ô tô đang có xu hướng chuyển sản xuất sang các nước và khu vực với chi phí thấp hơn, đưa sản xuất xích lại gần vùng tiêu thụ Xu hướng này đã từng được Henry Ford đề cập đến trong những ngày đầu hình thành nên ngành công nghiệp ô tô thế giới qua câu nói của ông “We build them where we sell them” (Chúng ta sản xuất ô tô tại nước chúng ta bán) Điều này không chỉ giúp các hãng tận dụng tiết kiệm được các chi phí vận chuyển, bốc dỡ mà còn tiếp cận được với thị trường để có những sản phẩm thoả mãn tối đa nhu cầu của khách hàng

Trang 12

Theo dự báo của Hiệp hội sản xuất ô tô Nhật Bản (JAMA), từ nay đến năm 2005, thị trường ô tô thế giới chỉ tăng bình quân hàng năm là 2% trong đó các nước Châu Âu không tăng, Nhật và Mỹ tăng ít còn các nước Châu á tăng 7%

và Nam Mỹ tăng 5% Thị trường ô tô ở các nước phát triển gần như bão hòa về

ô tô phổ thông với chức năng đơn thuần là phương tiện đi lại, bắt đầu chuyển sang phát triển các sản phẩm đòi hỏi kỹ thuật công nghệ cao, mẫu mã thời trang,

có các tính năng đặc biệt Trong khi đó, thị trường Trung Quốc, ấn Độ và ASEAN về lâu dài có tiềm năng lớn do mật độ người/xe còn rất cao so với các nước Châu Âu, Mỹ, Nhật Là khu vực tập trung đông dân cư nhất thế giới nhưng

tỉ lệ sử dụng xe còn rất thấp do thu nhập của người dân còn thấp, trung bình trên

100 người/1xe; Tuy nhiên, khi chất lượng cuộc sống đang ngày một được cải thiện nhanh chóng tại các quốc gia này nhờ tốc độ tăng trưởng kinh tế vượt bậc, đây quả là miền đất hứa cho các nhà sản xuất xe biết tạo ra những sản phẩm phù hợp với nhu cầu tại các thị trường này.(xem bảng 1.1)

Bảng 1.1 Số người trên một ô tô tại các nước

Trang 13

của cả thế giới Thị phần của các tập đoàn trên vào năm 2000 cụ thể là: GM chiếm 24,3% toàn thế giới, Daimler Chrysler chiếm 15%, tập đoàn Ford 15,5%, tập đoàn Toyota chiếm 10,7%, tập toàn VW chiếm 9,1% và tập đoàn Renault chiếm 8,9%.(1)

Như vậy, tương lai của ngành công nghiệp ô tô thế giới phụ thuộc rất lớn vào các tập đoàn ô tô khổng lồ Họ sẽ là những người dẫn dắt và thêu dệt nên những trang tiếp theo của ngành công nghiệp khổng lồ này, môt ngành đứng đầu cả về quy

mô lẫn lợi nhuận và mức độ ảnh hưởng đối với các ngành công nghiệp khác

1.1.2 Tình hình tại Việt Nam

Với chính sách “mở cửa” để thực hiện CNH-HĐH, ngành công nghiệp ô

tô được đánh giá là một trong số những ngành mũi nhọn giúp lôi kéo các ngành công nghiệp khác phát triển Công nghiệp ô tô là khách hàng lớn nhất của nhiều ngành công nghiệp: kim loại, hoá chất, cơ khí, điện tử Chúng ta không thể nói Việt Nam là một nước sản xuất công nghiệp nếu chưa có một ngành công nghiệp sản xuất ô tô phát triển Hơn nữa, 25 năm sau phải đạt tỉ lệ sử dụng ô tô bình quân trên thế giới là 10 người/xe, tức là phải có 10 triệu xe ô tô Vì vậy, cố gắng để hình thành ngành công nghiệp ô tô là hết sức quan trọng

Ngày nay, kinh tế Việt Nam đang chuyển đổi theo nền kinh tế thị trường

có sự điều tiết của Nhà nước Với chính sách mở cửa thu hút đầu tư nước ngoài, kinh tế nước ta có những bước tiến vượt bậc: sản xuất phát triển, khối lượng hàng hoá ngày một gia tăng Hàng hoá sản xuất ra phải sử dụng các phương tiện chuyên chở để phân phối đến điểm đích cuối cùng Ô tô chiếm ưu thế hơn hẳn các phương tiện vận tải khác nhờ tính năng cơ động và có thể thích hợp với mọi

địa hình: đồng bằng, miền núi, miền biển Theo thống kê của “Tạp chí con số và

sự kiện số tháng 9 năm 2002” đối với vận tải hành khách, ô tô chiếm 82,3% tổng

khối lượng hành khách vận chuyển, đạt khối lượng vận chuyển 569.802,3 nghìn hành khách và khối lượng luân chuyển đạt 19.475 hành khách/ km Đối với vận chuyển hàng hoá, các con số tương ứng là 64.4%, 95.220.6 nghìn tấn và 26.981

Trang 14

triệu tấn/km Điều này cho thấy ô tô là phương tiện vận tải tối ưu và không thể thiếu trong phát triển kinh tế của nước ta

Ngành công nghiệp ô tô Việt Nam những năm vừa qua đạt tốc độ tăng trưởng 15 ÷ 20% năm với doanh thu năm sau cao hơn năm trước Trong đó, năm

2015 ghi nhận một năm "bùng nổ" của thị trường ô tô Việt Nam với mục tiêu thụ kỷ lục đạt 244.914 xe; tăng 55% so với năm 2014 Trong đó, xe ô tô du lịch tăng 44%; xe thương mại tăng 74% và xe chuyên dụng tăng 105%, doanh số bán hàng của xe lắp ráp trong nước tăng 48% trong khi xe nhập khẩu tăng 74% so với cùng kì năm 2014 Về phía các doanh nghiệp thành viên VAMA*, tổng sản lượng xe tiêu thụ của nhóm đạt 208.568 xe; tăng 56% so với cùng kỳ năm trước Với lượng tiêu thụ đạt 80.421 xe, tăng trưởng 90% - Thaco dẫn đầu thị trường ô

tô Việt Nam năm 2015 với 38,6% thị phần Toyota Việt Nam đ ng th 2 với 24,1% thị phần; tăng trưởng 23% so với năm 2014 Đứng ở vị trí thứ 3 là Ford với 9,9% thị phần; tăng trưởng 48% Honda đứng ở vị trí thứ tư với 4% thị phần, tăng trưởng 28% so với năm trước Ngành công nghiệp ô-tô cũng đã đóng góp nguồn thu đáng kể cho ngân sách nhà nước, bình quân khoảng hơn một tỷ USD/năm - chỉ t nh riêng các khoản thuế và cũng đã giải quyết công ăn việc làm cho khoảng 80 nghìn lao động Từ một số số liệu trên, có thể thấy ngành công nghiệp sản xuất ô tô ở nước đang là 1 ngành hết sức quan trọng trong nền kinh

tế quốc dân Việt Nam, đất nước của hơn 90 triệu dân với mức tăng trưởng cao

về kinh tế thì một viễn cảnh tươi sáng của ngành công nghiệp ôtô là có thể Phát triển ngành công nghiệp này sẽ cho phép đất nước tiết kiệm được những khoản ngoại tệ đáng kể dành cho nhập khẩu, cũng như phát huy được một số thế mạnh nổi trội hiện nay, như chi phí cạnh tranh của nguồn nhân lực Đặc biệt, sẽ có những tác động trực tiếp mang tính tích cực lên một số ngành công nghiệp và dịch vụ mà Việt Nam đang rất cần, như hóa dầu, thép, phân phối

Thị trường ô tô Việt Nam là một thị trường hấp dẫn nhiều tập đoàn ô tô quốc tế Vì: theo các dự đoán của viện Goldman–Sachs và ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Việt Nam là nước có kinh tế phát triển mạnh nhất vùng Á châu

Trang 15

trong giai đoạn từ đây đến năm 2025 Với đà phát triển 7 ÷ 8% mỗi năm, GDP năm 2017 của Việt Nam sẽ tương đương với GDP Thái Lan năm 2006 Số lượng

xe ô tô ở Việt Nam mới chỉ đạt 28 xe/1.000 dân, trong khi ở Thái Lan 152 xe/1.000 dân, Hàn Quốc 228 xe/1.000 dân, Mỹ 682 xe/1.000 dân Nếu so với Thái Lan, quốc gia có ngành ô tô phát triển nhất khu vực Đông Nam Á, mức tiêu thụ 244.914 xe của Việt Nam trong năm 2015 vẫn chưa thấm vào đâu Nhưng nếu xem xét trong điều kiện mặt bằng giá ô tô tại Việt Nam đắt hơn gần hai lần

so với Thái Lan và 2,5 ÷ 3 lần so với các nước phát triển, thu nhập bình quân đầu người năm 2015 chỉ hơn 1.900 đô la Mỹ/năm, thì con số kể trên vẫn rất đáng kể Trong những năm qua, tuy có những thời điểm trồi sụt, nhưng nhìn chung thị trường ô tô Việt Nam vẫn phát triển rất mạnh Nếu giá ô tô giảm một nửa so với hiện nay, tương đương mặt bằng giá của Thái Lan, sức tiêu thụ của thị trường sẽ không chỉ tăng gấp đôi, mà có thể là gấp ba, bốn lần Nếu năm

1990, số lượng xe ô tô lưu hành trên cả nước là 250.000 chiếc thì đến năm

2002 số lượng xe ô tô lưu hành trên cả nước đã tăng 2,45 lần lên 607.401 chiếc

Từ năm 2003 đến nay, mức tiêu thụ ô tô trên thị trường liên tục tăng cao và ổn định hơn Đến năm 2005, tổng số lượng ô tô đang lưu hành là 891.104 chiếc, tăng 3,6 lần so với năm 1990 Đến năm 2015 thì tổng số xe tiêu thụ đã lên tới gần 2,5 triệu chiếc Dự báo đến năm 2020, Việt Nam sẽ có khoảng 3,5 triệu ô tô lưu hành Việc Chính phủ tung ra gói kích cầu trong năm 2009, Chính phủ đã giảm 50% thuế VAT và 50% ph trước bạ xe ôtô, đã góp phần hâm nóng thị trường ôtô nói chung Khi ôtô đã trở thành một ngành công nghiệp thì bất kể sự thay đổi thuế nào đều có những tác động nhất định và cần thời gian để thích nghi với thuế mới Những biến đổi mới nhất dành cho nhập khẩu và thuế trước bạ đã làm cho thị trường ôtô trở nên sôi động khi khách hàng mua xe chạy thuế vào cuối năm 2009 Từ tháng 6/2009, các nhà sản xuất ôtô trong nước không có đủ lượng xe để cung cấp tới khách hàng Khách hàng không nhận xe mới đúng thời gian cũng đã gây ra áp dụng đối với các nhà nhập khẩu So với các nước khác trong khối ASEAN như Malaysia, Thái Lan… thì công nghiệp ô tô Việt Nam

Trang 16

phát triển muộn hơn khoảng 30 năm Tuy nhiên với sự tăng trưởng kinh tế liên tục trong nhiều năm qua, cộng với đời sống của người dân đang được nâng cao, người dân có nhu cầu và có khả năng chi trả Việc mua một chiếc xe hơi không còn quá khó khăn, hay là mơ ước quá xa vời như 10 năm về trước, một phần nhỏ dân số đã xu hướng chơi xe, sưu tầm xe, trên đường phố Việt Nam đã

có mặt những chiếc xe đời mới nhất, sang trọng và hiện đại trên thế giới, điều đó cho thấy nước ta dần trở thành một thị trường hấp dẫn đối với công nghiệp ô tô

Tóm lại, việc phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam trong giai đoạn đất nước đang trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá là điều hết sức cần thiết, đòi hỏi không chỉ sự nỗ lực của bản thân ngành công nghiệp ô tô mà còn

cần có sự quan tâm giúp đỡ của Đảng, Nhà nước và các ngành sản xuất khác 1.2 Tổng quan về dịch vụ bảo dưỡng, sửa chữa ô tô tại Việt Nam hiện nay

Số liệu thống kê về xe ô tô ( tất cả các loại xe ô tô không tính xe máy) toàn cả nước năm 2017 và năm 2018 như sau:

Với dự kiến mỗi năm tăng 8-10% thì đến tháng 3 năm 2019 tổng số lượng

xe đã tăng lên là 3 353 537 xe Trong đó hai thành phố lớn là Hà Nội: 629 994

xe và thành phố Hồ Chi Minh: 567 869 xe

Theo thống kê trên xe ô tô ở trên có thể thấy số lượng khá lớn ô tô Trong

đó xe con cá nhân chiếm đến 1 nửa Dự báo thị trường ô tô đến năm 2020, nhu cầu thị trường ô tô trong nước đạt khoảng 500.000-600.000 xe, năm 2025 có thể đạt 750.000-800.000 xe và đến năm 2035 sẽ đạt từ 1,7 triệu đến 1,85 triệu xe Đây là dự báo của Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương

Trang 17

(IPSI) đưa ra tại hội thảo chuyên ngành ngày 7/6 trong khuôn khổ triển lãm quốc

tế lần thứ 15 về phương tiện giao thông, vận tải và công nghiệp hỗ trợ (Vietnam AutoExpo 2018) đang diễn ra ở Hà Nội

Với số lượng xe đang tăng mạnh tại thị trường Việt Nam thì ngành dịch

vụ bảo dưỡng sủa chữa là mảnh đất màu mỡ cho tất cả mọi người Hiện tại ở Việt Nam có khá nhiều hãng xe (ví dụ như Toyota, Merseder, Honda, Mazda, Hyndai, BWM, Land Rover, Kia,…) thì khả năng cung cấp dịch vụ chính là trách nhiệm của công ty trong việc bảo đảm rằng những mối quan tâm về bảo hành của khách hàng được quản lý một cách đúng đắn và được công nhận một cách thích hợp đáp ứng sự mong đợi của khách hàng về độ tin cậy của sản phẩm Ví dụ cho Toyota nhu cầu bảo dưỡng chính hãng tăng mạnh Số xe ôtô vào làm dịch vụ chính hãng tại xưởng sửa chữa bảo hành của công ty ở 103 Láng Hạ trong thời gian qua tăng rất mạnh, từ 200% đến 400% trong giai đoạn

2003 đến nay

Nhưng với số lượng xe lớn và nhiều chủng loại thì có hàng nghìn các garage mọc lên cạnh tranh cùng với các xưởng garage bảo dưỡng chính hãng được nhiều người lựa chọn với chất lượng là cách làm việc là sửa chữa với chi phí thấp thay vì hoàn toàn thay mới chi tiết hay cụm chi tiết như các hãng Với việc nhiều các garage sửa chữa tư nhân hay các hãng xe thì nhà nước đã có quy định về tiêu chuẩn Trong đó, về điều kiện kinh cơ sở bảo hành, bảo dưỡng ô tô, doanh nghiệp thành lập theo quy định của pháp luật được cấp Giấy chứng nhận

cơ sở bảo hành, bảo dưỡng ô tô khi đáp ứng 10 điều kiện, gồm:

1 Nhà xưởng được xây dựng trên khu đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của doanh nghiệp

2 Mặt bằng, nhà xưởng đảm bảo phục vụ việc thực hiện bảo hành, bảo dưỡng

3 Có các khu vực thực hiện các công việc tiếp nhận, bàn giao, bảo dưỡng, sửa chữa, kiểm tra xuất xưởng, có nhà điều hành, kho linh kiện, phụ kiện, khu vực rửa xe đáp ứng được công việc

4 Có đầy đủ các dụng cụ, trang thiết bị phục vụ công việc bảo hành, bảo dưỡng ô tô Các trang thiết bị đo lường phục vụ công việc bảo hành, bảo dưỡng

ô tô phải tuân thủ các quy định của pháp luật về đo lường

Trang 18

5 Có thiết bị chẩn đoán động cơ, tình trạng kỹ thuật của xe (đối với ô tô

có trang bị bộ điều khiển điện tử) phù hợp với các loại xe do cơ sở thực hiện bảo hành, bảo dưỡng Phần mềm thiết bị chẩn đoán phải tuân thủ các quy định về sở hữu trí tuệ

6 Có đội ngũ nhân lực và hệ thống quản lý chất lượng đảm bảo chất lượng cho việc bảo hành, bảo dưỡng ô tô

Các điều kiện nêu trên của cơ sở bảo hành, bảo dưỡng ô tô phải đáp ứng các yêu cầu về mặt bằng, trang thiết bị, dụng cụ, nhân lực, hệ thống quản lý chất lượng đối với cơ sở bảo dưỡng, sửa chữa ô tô theo các loại ô tô tương ứng tại Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 11794 Tiêu chuẩn cơ sở bảo dưỡng, sửa chữa ô tô

và các phương tiện tương tự

7 Có cam kết về việc hỗ trợ kỹ thuật và cung cấp linh kiện, phụ kiện phục

vụ việc bảo hành, bảo dưỡng ô tô của:

a) Doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô trong nước (trong trường hợp cung cấp dịch vụ bảo hành, bảo dưỡng cho doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô trong nước); hoặc

b) Doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô nước ngoài (trong trường hợp cung cấp dịch vụ bảo hành, bảo dưỡng cho doanh nghiệp nhập khẩu ô tô)

8 Có đủ nhân lực, phương án bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động

9 Đáp ứng đủ điều kiện an toàn về phòng cháy và chữa cháy, phương án chữa cháy theo quy định của pháp luật phòng cháy, chữa cháy

10 Có đủ các hồ sơ về bảo vệ môi trường đã được cơ quan có thẩm quyền

phê duyệt theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.(8)

Nhưng đến nay, trong số gần 400 cơ sở cơ sở bảo hành, bảo dưỡng chính hãng mới chỉ có 30 cơ sở hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận, 59 cơ sở đang trong quá trình kiểm tra và 118 cơ sở đã nộp hồ sơ để thực hiện việc thẩm định

Cụ thể, hiện nay một số hãng xe lớn đã cơ bản thực hiện việc cấp giấy chứng nhận cơ sở bảo hành, bảo dưỡng như: Honda Việt Nam có 5 xưởng dịch

vụ, Toyota Việt Nam có 3 giấy chứng nhận, Mercedes Việt Nam có 2 xưởng,

Trang 19

Thaco mỗi dòng xe nhập khẩu cũng có 1 xưởng… Một số doanh nghiệp lớn khác vẫn còn chậm chạp Thậm chí, có những đơn vị nhập khẩu hoàn toàn như: Jaguar Land Rover, Kamaz… vẫn chưa có cơ sở nào được cấp giấy chứng nhận Những trường hợp này nếu không có giấy chứng nhận sẽ không được cấp giấy phép nhập khẩu ô tô về Việt Nam

Nhìn chung với việc số lượng xe ở Việt Nam ngày càng nhiều thì ngành dịch vụ bảo dưỡng sửa chữa càng phát triển kèm theo đó là việc quản lý của nhà nước ngày càng thắt chặt với các chủ garage nhằm đảm bảo chất lượng cho người đi ô tô

1.3 Tổng quan về xe ô tô Toyata Land Cuiser

Lịch sử phát triển dòng xe Toyota Land Cruiser

Do xuất hiện nhu cầu sử dụng xe đa dụng quân đội hạng nhẹ, Toyota cho

ra đời dòng xe lấy cảm hứng từ những chiếc Jeep vào năm 1951 Sau đó 2 năm,

dòng xe này được Toyota đổi tên thành “Land Cruiser” cho phù hợp với đặc tính chạy đường trường của loại xe này Với lịch sử phát triển 60 năm, Land

Cruiser là mẫu xe có vòng đời dài nhất của Toyota Không ngừng cải tiến và đổi

mới, mẫu xe Land Cruiser 100 ra đời vào năm 1998, mẫu xe này nhanh chóng trở thành một trong những chiếc xe hai cầu đáng tin cậy nhất trên thế giới Toyota luôn hướng đến mục tiêu sản xuất những chiếc Land Cruiser vượt trên sự mong đợi của khách hàng về độ tin cậy, sự bền bỉ và luôn có sự cải tiến, tiến bộ

kỹ thuật Hiện nay, doanh số bán ra nước ngoài của loại xe này đã vượt trên 90%, và Land Cruiser đã có mặt tại hầu hết các khu vực trên thế giới Ngày nay, Toyata Land Cruiser được phát tiển thành dòng xe sang trọng với thay đổi về thiết kế ngoại thất đến nội thất bên trong Động cơ được nâng cấp lên động cơ V8, các 1VD-FTV mạnh mẽ và vận hành êm ái Tạo một luồng khí mới trong lĩnh vực xe hơi Như các xe Land Cruiser 200 và Toyota Land Cruiser Prado

Hiện 3 xe trên xưởng X2 là xe Toyota Land Cruiser (phiên bản 70) 1989-1997 Với thiết kê thân xe của Toyota Land Cruiser gồm :

- Bán tải 2 cửa, mui kín-mui mềm 2 cửa và van 4 cửa

Trang 20

- Hộp số 6 cấp

- Động cơ 4 xilanh thẳng hàng dung tích 2.0L

Hình 1.1 Xe Toyota Land Cruiser Over View (Phiên bản 70) 1989-1997 1.4 Cơ cấu phân phối khí trên xe Toyota Land Cruiser

1.4.1 Mục đích, phân loại, yêu cầu cơ cấu phân phối khí

Trang 21

nén, không bị cháy do lọt khí Xupáp thải không tự mở trong quá trình nạp Ít va đập, tránh gây mòn Dễ dàng điều chỉnh, sửa chữa, giá thành chế tạo thấp

c) Phân loại

Cơ cấu phân phối khí dùng xupáp: là loại cơ cấu được sử dụng rộng rãi trong động cơ 4 kỳ vì nó có kết cấu đơn giản, dễ chế tạo, dễ điều chỉnh và làm việc chính xác hiệu quả, mang lại hiệu suất cao

Cơ cấu phối khí dùng van trượt: là loại cơ cấu có nhiều ưu điểm như tiết diện lưu thông lớn, dễ làm mát, ít tiếng ồn

Trên xe Land Cruiser sử dụng loại cơ cấu phân phối khí dùng xupáp

1.4.2 Cơ cấu phân phối khí trong động cơ bốn kỳ

Trên động cơ bốn kỳ việc thải sạch khí thải và nạp đầy môi chất mới được thực hiện bởi cơ cấu cam - xupáp, cơ cấu cam - xupáp được sử dụng rất đa dạng Tùy theo cách bố trí xupáp và trục cam, người ta chia cơ cấu phân phối khí của động cơ bốn kỳ thành nhiều loại khác nhau như cơ cấu phối khí dùng xupáp treo, cơ cấu phối khí dùng xupáp đặt…

Trên xe Toyota Land Cruiser sử dụng cơ cấu phối khí dùng xupap treo nên sẽ chỉ đề cập đến cơ cấu phân phối khí dùng xupap treo

Cơ cấu phân phối khí dùng xupáp treo có kết cấu xupáp đặt trên nắp máy

và được trục cam dẫn động thông qua con đội, đũa đẩy, đòn bẩy hoặc trục cam dẫn động trực tiếp xupáp Khi dùng xupáp treo có ưu điểm: Tạo được buồng cháy gọn, diện tích mặt truyền nhiệt nhỏ vì vậy giảm được tổn thất nhiệt Đường nạp, thải đều bố trí trên nắp xilanh nên có điều kiện thiết kế để dòng khí lưu thông thanh thoát hơn, đồng thời có thể bố trí xupáp hợp lý nên có thể tăng được tiết diện lưu thông của dòng khí Tuy vậy cơ cấu phân phối khí dùng xupáp treo cũng tồn tại một số khuyết điểm như dẫn động xupáp phức tạp và làm tăng chiều cao của động cơ, kết cấu của nắp xilanh hết sức phức tạp, rất khó đúc và gia công Để dẫn động xupáp, trục cam có thể bố trí trên nắp xilanh để dẫn động trực tiếp hoặc dẫn động qua đòn bẫy Trường hợp trục cam bố trí ở hộp trục

Trang 22

khuỷu hoặc ở thân máy, xupáp được dẫn động gián tiếp qua con đội, đũa đẩy, đòn bẫy…

Hình 1.2 Cơ cấu phân phối khí dùng xupap treo trên xe

Khi bố trí xupáp treo thành hai dãy, dẫn động xupáp rất phức tạp Có thể

sử dụng phương án dẫn động xupáp dùng một trục cam dẫn động gián tiếp qua các đòn bẩy, hoặc có thể dùng hai trục cam dẫn động trực tiếp

Kết cấu này thường dùng trong các loại động cơ xăng tốc độ cao Kết luận: So sánh ưu khuyết điểm của hai phương án bố trí xupáp đặt và treo thấy rằng: Động cơ diezel chỉ dùng xupáp treo, do tạo được công năng cao còn động

cơ xăng có thể dùng xupáp treo, hay đặt nhưng ngày nay thường dùng cơ cấu phân phối khí kiểu treo Động cơ sử dụng cơ cấu phân phối khí kiểu treo có hiệu suất nhiệt cao hơn Dùng cơ cấu phân phối khí kiểu treo tuy làm cho kết cấu quy lát rất phức tạp và dẫn động cũng phức tạp nhưng đạt hiệu quả phân phối khí rất tốt Cơ cấu phân phối khí xupáp treo chiếm ưu thế tuyệt đối trong động cơ 4 kỳ

1.4.3 Các hiện tượng nguyên nhân hư hỏng của cơ cấu phân phối khí

- Xu-páp đóng không kín

Trang 23

Trong quá trình hoạt động của động cơ, việc xupáp đóng không kín sẽ gây ra tình trạng “tụt hơi”, giảm tỷ số nén của động cơ, hòa khí khó cháy hơn, công suất động cơ giảm và trong nhiều trường hợp động cơ không khởi động được

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng xu-páp đóng không kín, có thể

kể ra như việc rà xupáp không tốt, khe hở nhiệt quá nhỏ, lò xo xu-páp quá yếu hoặc bị gãy, muội than bám nhiều,… Nếu tình trạng xu-páp đóng không kín chỉ xảy ra ở một vài xy-lanh sẽ gây ra hiện tượng xe bị rung, giật

- Tiếng gõ bất thường

Trong quá trình làm việc bình thường của cơ cấu phối khí chuẩn, việc va đập giữa vấu cam với con đội, nấm xu-páp với đế xupáp sẽ gây ra tiếng gõ, nhưng tiếng gõ này nhỏ và rất đều, khác hẳn với những tiếng gõ do một số hư hỏng sau gây ra:

Khe hở nhiệt quá lớn do con đội, vấu cam bị mòn hoặc con đội thủy lực bị chảy dầu Khi chạy ở tốc độ thấp, tại vị trí nắp đậy nắp máy có tiếng kêu lách tách rõ ràng và liên tục do vấu cam va đập với con đội

Nếu lò xo xupáp bị gãy khi làm việc sẽ phát ra tiếng gõ nhẹ và thường kèm theo hiện tượng máy yếu, rung do xuất hiện tình trạng xupáp đóng không kín Trường hợp khe hở giữa thân xupáp và ống dẫn hướng quá lớn ta có thể nghe thấy tiếng gõ nhẹ với âm điệu trung bình (thường chỉ phát hiện được khi sử dụng thiết bị nghe tiếng gõ chuyên dụng)

- Đứt đai dẫn động

Hiện nay ngoài việc sử dụng xích để truyền động trục cam (xích cam), trên nhiều mẫu xe mới vẫn sử dụng đai để dẫn động (đai cam) Mặc dù khắc phục được nhược điểm của kiểu dẫn động xích như ồn, rung nhưng tuổi thọ của đai không cao, độ tin cậy thấp

Cần thay đai cam định kỳ sau 8 – 10 vạn km hoặc theo đúng giá trị mà nhà sản xuất quy định Xích cam có tuổi thọ cao hơn, thông thường nên thay khi xe đạt 18 – 20 vạn km

Trang 24

Việc đứt đai cam khi xe đang chạy sẽ làm cong xupáp, gãy cò mổ Đai, xích cam chùng, mòn, rão sẽ làm sai lệch pha phối khí khiến động cơ không phát huy được hết công suất và tiêu tốn nhiều nhiên liệu hơn

- Sai lệch pha phối khí

Trường hợp sai pha phối khí thường chỉ xảy ra khi xích hoặc đai cam đã quá mòn và chùng, trong quá trình sửa chữa người thợ căn chỉnh không chuẩn Biểu hiện của việc pha phối khí bị sai lệch là động cơ yếu, tăng tốc kém ở tốc độ cao, làm việc không ổn định ở tốc độ thấp Thông thường pha phối khí bị chậm đi khi xảy ra sai lệch nên động cơ khó khởi động hoặc không thể khởi động được, khí

xả có màu đen và nhiều muội than

- Cháy bạc trục cam

Toàn bộ cơ cấu phối khí đều cần được bôi trơn (trừ đai cam), đặc biệt là các ổ

đỡ trục cam, vấu cam Tại các vị trí này, vật liệu được gia công để có độ cứng bề mặt rất cao, chống mài mòn tốt nhưng với tốc độ quay bằng 1/2 lần trục khuỷu, lực và mô-men xoắn tác dụng lớn nên chỉ cần thiếu dầu bôi trơn do tắc đường dầu, chất lượng dầu kém hoặc bị lão hóa biến chất sẽ khiến các ổ trục cam bị phá hủy do cháy Đối với các loại ổ trục cam liền, việc bị cháy sẽ khó sửa chữa lại, phải thay mới cả nắp máy

Trang 25

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG QUY PHẠM PHÁP LUẬT TRONG CHẨN

ĐOÁN, BẢO DƯỠNG VÀ SỬA CHỮA Ô TÔ 2.1 Những văn bản và quy định pháp luật về công tác chẩn đoán kỹ thuật

và bảo dưỡng kỹ thuật

- Quyết định số 992/2003/QĐ-BGTVT ngày 09 tháng 4 năm 2003 ban

hành Quy định bảo dưỡng kỹ thuật, sửa chữa ôtô

- Thông tư số 10/2009/TT-BGTVT ngày 24 tháng 6 năm 2009 về kiểm tra

an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ

- Thông tư số 31/2011/TT-BGTVT ngày 15 tháng 04 năm 2011 về quy

định về kiểm tra chất lượng an toàn kĩ thuật và bảo vệ môi trường xe cơ giới nhập khẩu

- Thông tư số 56/2012/TT-BGTVT ngày 27 tháng 12 năm 2012 quy định

về kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ

- Thông tư số 59/2013/TT-BGTVT ngày 30 tháng 12 năm 2013 về quy

định về việc thành lập và hoạt động của trung tâm đăng kiểm xe cơ giới

- Hướng dẫn số 2337/ĐKVN-VAR ngày 25 tháng 06 năm 2014 về một số

điểm trong công tác kiểm tra chất lượng an toàn kĩ thuật và bảo vệ môi trường

xe trở hàng bốn bánh có gắn động cơ trong khai thác sử dụng

- Thông tư số 53/2014/TT-BGTVT ngày 20 tháng 10 năm 2014 quy định

về bảo dưỡng, sủa chữa phương tiện giao thông cơ giới đường bộ

- Thông tư số 70/2015/TT-BGTVT ngày 09 tháng 11 năm 2015 quy định

về kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ

- Thông tư số 51/2016/TT-BGTVT ngày 30 tháng 12 năm 2016 về hướng

dẫn thực hiện nghị định số 63/2016/NĐ-CP của chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm định xe cơ giới

- Nghị định số 63/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 07 năm 2016 quy định về

điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm định xe cơ giới

Trang 26

- Nghị định 116/2017/NĐ-CP ngày 17 tháng 10 năm 2017 về quy định

điều kiện sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu và kinh doanh dịch vụ bảo hành, bảo dưỡng ô tô

2.2 Nội dung về các văn bản và quy định công tác bảo dưỡng kỹ thuật

Bảo dưỡng gồm các công việc: Làm sạch, chẩn đoán, kiểm tra, điều chỉnh, xiết chặt, thay dầu, mỡ, bổ sung nước làm mát, dung dịch ắc quy

Căn cứ vào chu kỳ bảo dưỡng và nội dung công việc Bảo dưỡng kỹ thuật ôtô được chia làm hai cấp:

- Bảo dưỡng hàng ngày (Bảo dưỡng thường xuyên) viết tắt là: BDHN

- Bảo dưỡng định kỳ, viết tắt là: BDĐK

 Bảo dưỡng hàng ngày

Bảo dưỡng hàng ngày do lái xe, phụ xe hoặc công nhân trong trạm bảo dưỡng chịu trách nhiệm và được thực hiện trước hoặc sau khi xe đi hoạt động hàng ngày, cũng như trong thời gian vận hành

 Bảo dưỡng định kỳ

Bảo dưỡng định kỳ do công nhân trong trạm bảo dưỡng chịu trách nhiệm

và được thực hiện sau một kỳ hoạt động của ôtô được xác định bằng quãng đường xe chạy hoặc thời gian khai thác

 Chu kỳ bảo dưỡng định kỳ

1 Chu kỳ bảo dưỡng định kỳ được tính theo quãng đường hoặc thời gian khai thác của ôtô, tuỳ theo định ngạch nào đến trước

2 Bảo dưỡng định kỳ được thực hiện như sau:

a, Đối với những ôtô có hướng dẫn khai thác sử dụng của hãng sản xuất thì chu kỳ bảo dưỡng định kỳ phải tính theo quy định của nhà chế tạo

b Đối với những ôtô không có hướng dẫn khai thác sử dụng thì chu kỳ bảo dưỡng định kỳ phải tính theo quãng đường ôtô chạy hoặc theo thời gian khai thác của ô tô được quy định

Trang 27

Loại ôtô Trạng thái kỹ

Quãng đường (km)

Thời gian (tháng)

3 Đối với ôtô hoạt động ở điều kiện khó khăn (miền núi, miền biển, công trường ) cần sử dụng hệ số 0,8 cho chu kỳ quy định tại khoản 2 điều này

4 Đối với ôtô chuyên dùng và ôtô tải chuyên dùng (ôtô cần cẩu, ôtô chở xăng dầu, ôtô đông lạnh, ôtô chữa cháy, ôtô thang, ôtô cứu hộ ), căn cứ vào đặc tính sử dụng và hướng dẫn của nhà chế tạo để xác định chu kỳ và nội dung công việc bảo dưỡng cho những hệ thống, thiết bị chuyên dùng ngoài những bộ phận của ôtô đã quy định trong văn bản này

5 Đối với ôtô mới hoặc ôtô sau sửa chữa lớn phải thực hiện bảo dưỡng trong thời kỳ chạy rà trơn nhằm nâng cao chất lượng đôi bề mặt ma sát của các chi tiết tiếp xúc động, giảm khả năng hao mòn và hư hỏng của các chi tiết, để nâng cao tuổi thọ tổng thành, hệ thống của ôtô

a, Đối với ôtô mới, phải thực hiện đúng hướng dẫn kỹ thuật và quy trình bảo dưỡng của nhà sản xuất

Trang 28

b, Đối với ôtô sau sửa chữa lớn thời kỳ chạy rà trơn đƣợc qui định là 1500km đầu tiên Trong đó phải tiến hành bảo dƣỡng ở giai đoạn 500km và 1500km

6 Khi ôtô đến chu kỳ quy định của bảo dƣỡng kỹ thuật, phải tiến hành bảo

dƣỡng Phạm vi sai lệch không đƣợc vƣợt quá 5% so với chu kỳ đã ấn định (9)

Trang 29

CHƯƠNG 3 XÂY DỰNG QUY TRÌNH CHẨN ĐOÁN, BẢO DƯỠNG HỆ THÔNG PHÂN PHỐI KHI TRÊN XE TOYATA LAND CUISER 3.1 Các bước căn bản của quá trình chẩn đoán kỹ thuật

Các kỹ năng cơ bản về chẩn đoán kỹ thuật được thực hiện thông qua 5 giai đoạn

Hình 3.1 Các kỹ năng cơ bản về chẩn đoán kỹ thuật

Điều tra trước chẩn đoán liên quan đến việc hỏi người sử dụng về các

tình trạng khi các triệu chứng xuất hiện để tái tạo lại các triệu chứng đó

Ngày đăng: 22/06/2021, 09:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w