1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu trích ly flavonoid và xác định một số đặc tính sinh hóa của dịch chiết lá đu đủ

57 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 1,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • PHẦN 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (8)
    • 1.1. Giới thiệu về cây Đu đủ (8)
      • 1.1.1. Phân loại, nguồn gốc (8)
      • 1.1.2. Phân bố (9)
      • 1.1.3. Đặc tính sinh học của lá Đu đủ (9)
      • 1.1.4. Công dụng của lá Đu đủ trong y dược (10)
    • 1.2. Các hoạt chất có tác dụng sinh học trong lá Đu đủ (11)
      • 1.2.1. Flavonoid (11)
      • 1.2.2. Các hợp chất thuộc nhóm axit hữu cơ (14)
      • 1.2.3. Các hợp chất có hoạt tính sinh học khác (15)
    • 1.3. Các nghiên cứu về chiết xuất các chất có hoạt tính sinh học từ lá Đu đủ (16)
      • 1.3.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới (16)
      • 1.3.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam (0)
  • PHẦN 2. MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (20)
    • 2.1. Mục tiêu nghiên cứu (20)
    • 2.2. Nội dung nghiên cứu (20)
    • 2.3. Vật liệu nghiên cứu (20)
      • 2.3.1. Vật liệu thực vật, vi sinh vật (20)
      • 2.3.2. Môi trường nuôi cấy vi khuẩn sử dụng trong nghiên cứu (21)
      • 2.3.3. Hóa chất và thiết bị (21)
      • 2.3.4. Địa điểm bố trí thí nghiệm (22)
    • 2.4. Phương pháp nghiên cứu (22)
      • 2.4.1. Phương pháp luận (22)
      • 2.4.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể (22)
  • Phần 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (33)
    • 3.1. Kết quả xác định độ ẩm và tạo nguyên liệu bột khô của lá cây Đu đủ (33)
    • 3.2. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố công nghệ đến khả năng trích (34)
      • 3.2.1. Ảnh hưởng của nồng độ Ethanol đến hàm lượng Flavonoid (0)
      • 3.2.2. Ảnh hưởng của nhiệt độ đến hàm lượng Flavonoid (36)
      • 3.2.3. Ảnh hưởng của tỷ lệ nguyên liệu/ dung môi Ethanol đến hàm lượng Flavonoid (36)
      • 3.2.4. Ảnh hưởng của thời gian chiết bằng Ethanol đến hàm lượng Flavonoid 32 3.3. Định tính Flavonoid bằng các phản ứng hóa học đặc trƣng (37)
    • 3.4. Kết quả xác định một số đặc tính sinh hóa trong lá Đu đủ (40)
      • 3.4.1. Xác định hàm lượng axit toàn phần (40)
      • 3.4.2. Xác định hàm lượng đường tổng (41)
      • 3.4.3. Xác định hàm lượng vitamin C (42)
    • 3.5. Kết quả xác định tính kháng vi sinh vật kiểm định của dịch chiết lá Đu đủ (43)
  • Phần 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ (46)
    • 4.1. Kết luận (46)
    • 4.2. Kiến nghị (46)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (47)
  • PHỤ LỤC (51)

Nội dung

TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Giới thiệu về cây Đu đủ

Họ Đu đủ (Caricaceae) trên thế giới bao gồm 4 chi và 45 loài, chủ yếu phân bố ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Tại Việt Nam, họ này có 1 chi và 1 loài duy nhất.

Carica papaya, hay còn gọi là đu đủ, là một loại cây ăn quả được trồng phổ biến ở Việt Nam với nhiều giống như đu đủ ta, đu đủ Mexico, So Lo, Trung Quốc, Thái Lan và Đài Loan Tại Hà Nội, giống đu đủ Đài Loan được trồng rải rác ở các huyện như Gia Lâm, Đông Anh, Sóc Sơn và Thạch Thất Đu đủ nổi bật với giá trị thực phẩm và dinh dưỡng, đồng thời cũng được biết đến trong y học cổ truyền với nhiều tính chất hữu ích Trong những thập kỷ gần đây, đu đủ đã cho thấy sự tiến bộ đáng kể trong nghiên cứu về hoạt động sinh học và ứng dụng dược liệu Các bộ phận của cây đu đủ như lá, hạt, mủ và quả đều có giá trị dược liệu, với thân, lá và quả chứa nhiều mủ, giúp điều trị nhiều bệnh khác nhau.

Mủ từ quả đu đủ chƣa chín có chứa enzyme papain và chymopapain

Bảng 1.1 Phân loại và nguồn gốc cây Đu đủ

Giới ( regnum ) Thực vật (Plantae)

Đu đủ (Carica papaya) là loài duy nhất thuộc chi Đu đủ, thuộc họ Caricaceae hay Papayaceae, có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới Châu Mỹ Đây là cây thân thảo lớn, cao từ 3–10 m, thường không có nhánh Lá của cây có hình chân vịt, cuống dài, đường kính từ 50–70 cm, với khoảng 7 khía Hoa của đu đủ có màu trắng hoặc xanh, với đài nhỏ và vành lớn có năm cánh Quả đu đủ có hình tròn hoặc dài, khi chín sẽ mềm, bên trong chứa nhiều hạt màu nâu hoặc đen, tùy thuộc vào giống.

Cây đu đủ, lần đầu tiên được trồng ở Mexico, đã trở thành loài cây ăn quả nhiệt đới phổ biến tại nhiều khu vực như miền Nam Hoa Kỳ, Mexico, các nước Trung Mỹ và Nam Mỹ, cũng như ở châu Phi, châu Á, châu Đại Dương và tiểu bang Hawaii của Mỹ.

Vào năm 1526, nhà báo Oviedo người Tây Ban Nha đã mô tả lần đầu tiên cây Đủ đu ở bờ biển Panama và Colombia, sau đó cây này được giới thiệu đến Châu Phi, Châu Á và Châu Úc Tại Việt Nam, Đu đủ du nhập qua Philippines và hiện có hai giống truyền thống là Đu đủ thịt đỏ và Đu đủ thịt vàng Ngoài ra, nhiều giống Đu đủ lai F1 mới được phát triển với năng suất và chất lượng quả cao, có màu sắc đa dạng như đỏ, vàng, tím Cây đu đủ là loại cây ăn quả nhiệt đới dễ trồng, có năng suất cao và được nhiều quốc gia khai thác để cung cấp quả tươi cũng như làm nguyên liệu cho các sản phẩm trái cây công nghiệp.

1.1.3 Đặc tính sinh học của lá Đu đủ Đu đủ là cây lá đơn, mọc thành chùm ở ngọn thân Lá lớn có cuống dài phiến rộng 30 – 60 cm, mỏng, mềm, chia thành 7 – 11 thùy và đôi khi các thùy này chia ra làm nhiều thùy nhỏ Lá đu đủ dễ bị gãy, rách

1.1.4 Công dụng của lá Đu đủ trong y dược

Lá Đu đủ non có tác dụng tốt cho người bệnh tim: Lá Đu đủ chứa chất Alkaloid gọi là carpaine thay thế đƣợc chất digitalin trị bệnh tim

Dịch chiết lá Đu đủ điều trị bệnh sốt xuất huyết có hiệu quả: Từ năm

Năm 2002, bệnh sốt xuất huyết Dengue bùng phát mạnh mẽ tại Malaysia, với hơn 20.000 ca nhiễm mỗi năm Phương pháp điều trị truyền thống của Tây y thường không hiệu quả cao, chỉ tập trung vào việc truyền nước, máu và quản lý nhiễm trùng Lá đu đủ có nhiều enzyme giúp bảo vệ hệ tiêu hóa, giảm axit trong ruột và giảm sưng đau do sốt xuất huyết Ngoài ra, lá đu đủ còn hỗ trợ phân hủy gluten, chống ung thư nhờ vào các chất chống oxy hóa, và giúp giảm cơn thèm đường, từ đó cải thiện sức khỏe Với hàm lượng chất xơ cao, lá đu đủ cũng giúp nhuận tràng, trong khi các axit amin có trong lá giúp làm trẻ hóa làn da và ngăn ngừa nếp nhăn Cuối cùng, dinh dưỡng từ lá đu đủ còn tăng cường hệ miễn dịch, bảo vệ cơ thể khỏi các bệnh tim mạch, ung thư, lão hóa, dị ứng và nhiễm trùng dạ dày.

Các hoạt chất có tác dụng sinh học trong lá Đu đủ

Theo nghiên cứu của Theo Adachukwu và cộng sự (2013), lá Đu đủ Carica Papaya L chứa nhiều hợp chất hóa học với hoạt động dược lý phong phú Phân tích cho thấy lá đu đủ có chứa các chất như kiềm, Saponin, Tannin, Glycoside và Flavonoid, cho thấy tiềm năng trị liệu đa dạng của cây Đu đủ.

Lá đu đủ chứa nhiều hợp chất quý giá, bao gồm alkaloid với khung piperidin như carpaine, pseudocarpaine, dehydrocarpaine I, dehydrocarpaine II và choline Ngoài ra, lá đu đủ còn cung cấp vitamin C, E cùng với các nguyên tố khoáng cần thiết như canxi, kali, magiê, kẽm, mangan và sắt.

Lá đu đủ chứa nhiều hợp chất hóa học quan trọng như Alkaloid, bao gồm carpinin và carpain, cùng với Flavonoid như quercetin, myricetin và kaempferol Ngoài ra, lá còn cung cấp nhiều khoáng chất và vitamin thiết yếu như Calcium, sắt, Magiê, Phốt pho, Kali, Natri, kẽm, đồng, Mangan, Thiamin (B1), Beta caroten (tiền vitamin A), Riboflavine (B2), Niacin (B3), Axit Pantothenic (B5), Axit Ascorbic (C) và vitamin E Đặc biệt, Alkaloid carpain trong lá đu đủ có tác dụng làm chậm nhịp tim và diệt amíp.

1.2.1.1 Khái niệm và cấu trúc

Flavonoid là nhóm hợp chất tự nhiên thường gặp trong thực vật, tạo màu cho rất nhiều loại rau, hoa và quả

Flavonoid là hợp chất phenol với cấu trúc cơ bản là 1,3-diphenylpropan, bao gồm hai vòng benzen (vòng A và B) kết nối qua một mạch ba carbon (vòng pyron - vòng C) Hầu hết flavonoid có màu vàng nhạt, trong khi một số loại có màu đỏ, xanh tía hoặc không màu.

Cấu trúc của Flavonoid và các loại Flavonoid:

Hình 1.2 Cấu trúc của các loại Flavonoid

Dựa trên mức độ oxy hóa của mạch 3C và vị trí của gốc aryl (vòng B) liên kết với vòng benzopyrano, flavonoid đƣợc phân loại thành các các nhóm nhƣ:

Flavonoids (2- phenylbenzopyrans): gồm các nhóm phụ Flavan, Flavan 3- ol (catechin), Flavan 4-ol, Flavan 3,4-diol, Anthocyanidin, Flavanone, Flavone, Flavonol, 3-Hydroxy Flavanon, Chalcon, Dihidrochalcon, Aurone

Isoflavonoid (3-benzopyrans) gồm các nhóm phụ: Iso flavan, Iso flavan-4-ol, Isoflavon, Isoflavanon, Rotenoid…Thường gặp nhất là Isoflavon trong cây họ đậu

Neoflavonoid (4- benzopyrans) gồm các nhóm phụ 4-Aryl-chroman, 4- Arylcoumarin, Dalbergion [75]

1.2.1.2 Giá trị sinh học của Flavonoid

• Tác dụng chống oxi hóa:

Chất chống oxi hóa là những hợp chất có khả năng ngăn chặn hoặc trì hoãn quá trình oxi hóa do các gốc tự do gây ra, đồng thời giúp giảm thiểu tình trạng stress oxi hóa.

Stress oxi hóa xảy ra khi có sự mất cân bằng giữa sản xuất gốc tự do và khả năng chống oxi hóa của cơ thể, dẫn đến tổn thương cho các đại phân tử sinh học như enzyme, protein, DNA và lipid Đây là yếu tố chính góp phần vào sự phát triển của các bệnh thoái hóa mãn tính, bao gồm bệnh mạch vành, ung thư và quá trình lão hóa.

Gần đây, các hợp chất Flavonoid đã được xác nhận là những chất chống oxi hóa mạnh mẽ trong ống nghiệm, vượt trội hơn cả vitamin C, vitamin E và carotenoids.

Khả năng chống oxi hóa của Flavonoid có thể đƣợc giải thích dựa vào các đặc điểm cấu trúc phân tử:

Phân tử Flavonoid chứa các nhóm hydroxyl gắn liền với vòng thơm, cho phép chúng nhường hydro và tham gia vào các phản ứng oxi hóa khử, từ đó giúp bắt giữ các gốc tự do.

Các vòng thơm và liên kết bội (C=C, C=O) tạo thành hệ liên hợp, giúp bắt giữ và làm bền các phần tử oxy hoạt động cùng với các gốc tự do.

Chứa nhóm có thể tạo phức chuyển tiếp với các ion kim loại nhƣ catechol…giúp làm giảm quá trình sản sinh ra các phần tử oxi hoạt động [6, 7]

• Tác dụng ức chế vi sinh vật, chống viêm nhiễm:

Nghiên cứu của Đỗ Thị Hoa Viên (2007) cho thấy dịch chiết Flavonoid từ quả mơ có khả năng ức chế sự phát triển của các vi khuẩn như S Aureus, Shigella sonnei, Shigella flexneri và nấm Candida albicans Tương tự, dịch chiết Flavonoid từ cây diếp cá cũng cho thấy hiệu quả ức chế đối với E Coli, P Aeruginosa và B.

Subtilis và S Aureus với giỏ trị MIC lần lƣợt là 100, 200, 200 và 50 àg/ml [23]

Quercetin làm giảm đáng kể tình trạng viêm nhiễm và sự peroxyd lipid gây ra bởi Helicobacter pylori trong niêm mạc dạ dày của chuột bạch [35]

• Tác dụng đối với enzym:

Flavonoid và acid ascorbic đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của enzym oxi hóa - khử, đồng thời flavonoid cũng có khả năng ức chế tác động của hyaluronidase Enzym này làm tăng tính thấm của mao mạch, và khi có quá nhiều, nó có thể gây ra tình trạng xuất huyết dưới da, được y học gọi là bệnh thiếu vitamin P Flavonoid từ hoa hòe là một nguồn cung cấp hữu ích cho sức khỏe.

Rutin, kết hợp với nhiều biệt dược khác, đã chứng minh khả năng làm bền thành mạch, giảm tính giòn và tính thấm của mao mạch Tác dụng này được tăng cường nhờ axit Ascorbic Ngoài ra, các dẫn chất Anthocyanosid không chỉ có tác dụng tái tạo tế bào võng mạc mà còn được chứng minh là có khả năng cải thiện thị lực vào ban đêm.

• Tác dụng đối với các bệnh tim mạch, tiểu đường:

Flavonoid có tác động bảo vệ tim mạch nhờ khả năng ngăn ngừa oxi hóa lipoprotein tỷ trọng thấp, phòng ngừa xơ vữa động mạch, chặn kết tụ huyết khối, điều hòa nhịp tim, và ngăn ngừa bệnh mạch vành cùng nhồi máu cơ tim Nghiên cứu cho thấy Flavonoid đóng vai trò như chất kích thích Insulin và ảnh hưởng đến hoạt động của các enzyme trong quá trình chuyển hóa đường.

• Tác dụng trong phòng chống ung thƣ:

Nghiên cứu về khả năng chống ung thư của các hợp chất Flavonoid đang thu hút sự chú ý từ nhiều tác giả trên thế giới, với các thử nghiệm in vitro và in vivo trên nhiều dòng tế bào ung thư khác nhau Quercetin, một loại Flavonoid, đã được chứng minh có khả năng ức chế sự phát triển của tế bào ung thư tuyến tụy, và việc bổ sung quercetin trong chế độ ăn uống cũng góp phần làm giảm khả năng phát triển của các khối u.

Naringenin và kaempferol-3-O-(2‖, 6‖-di-O-p-trans-coumaroyl) glucoside, chiết xuất từ hoa cây Melastoma malabathricum L., đã được chứng minh có khả năng ức chế sự tăng sinh của dòng tế bào ung thư vú MCF7 với giá trị IC50 lần lượt là 0,28 àM và 1,3 àM.

1.2.2 Các hợp chất thuộc nhóm axit hữu cơ

Trong lá Đu đủ có chứa các axit hữu cơ nhƣ axit Pantothentic, axit Ascorbic, Folate (axit Folic), [1]

Các nghiên cứu về chiết xuất các chất có hoạt tính sinh học từ lá Đu đủ

1.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Nghiên cứu của Ayoola và cộng sự (2002) đã chỉ ra rằng chiết xuất lá đu đủ bằng ethanol có khả năng chống oxy hóa hiệu quả Cụ thể, nồng độ chiết xuất cần thiết để ức chế 50% gốc tự do DPPH (IC50) là 0,58 mg/ml, so với vitamin C có IC50 tương ứng.

Năm 2008, Morimoto và cộng sự đã phát hiện rằng dịch chiết từ các phần khác nhau của lá Đu đủ có khả năng ngăn ngừa và tiêu diệt nhiều loại tế bào ung thư như dạ dày, phổi, tuyến tụy, gan, máu, lymphoma và bệnh bạch cầu Nghiên cứu đã kiểm tra hoạt tính của dịch chiết lá Đu đủ với nồng độ từ 1,25 đến 27 mg/ml, sử dụng 3H-thymidine làm yếu tố đánh dấu, cho thấy tất cả các phần của Đu đủ (rễ, thân, quả) đều có hoạt tính chống ung thư.

Năm 2010, Otsuki và cộng sự đã nghiên cứu tác dụng chống ung thư của dịch chiết lá Đu đủ với nồng độ từ 0,625-20 µg/ml trên các dòng tế bào ung thư khác nhau, bao gồm tế bào khối u rắn và tế bào tạo máu Kết quả cho thấy không có sự khác biệt giữa các dòng tế bào ung thư, cho thấy cơ chế diệt tế bào thông qua việc kích hoạt quá trình tự chết Nghiên cứu chứng minh rằng dịch chiết từ lá Đu đủ làm tăng hàm lượng cytokine, hỗ trợ hệ miễn dịch tấn công tế bào ung thư bằng cách thúc đẩy sự gia tăng các cytokine dạng Th1 như IL-12p40, IL-12p70, INF-γ và TNF-α, có khả năng chống lại khối u Tác giả cũng đã sử dụng màng lọc để tách các thành phần có trọng lượng phân tử khác nhau, xác định rằng các chất có hoạt tính chống ung thư và điều hòa miễn dịch nằm ở phần có trọng lượng phân tử nhỏ hơn 1000.

Nghiên cứu của Bhattacharjee và cộng sự (2011) cùng Suresh và cộng sự (2008) đã chỉ ra rằng lá Đu đủ có hoạt tính kháng khuẩn và kháng nấm đáng kể Cụ thể, các tác giả đã thực hiện chiết xuất lá Đu đủ bằng nước, Chloroform và n-Hexan để đánh giá hiệu quả của chúng.

Ethanol đều có hoạt tính kháng khuẩn, kháng nấm tốt [11, 27]

Nghiên cứu của Rahman và cộng sự (2011) cho thấy dịch chiết từ lá và thân đu đủ bằng Ethanol 95% có khả năng kháng khuẩn đối với vi khuẩn gram âm và gram dương ở nồng độ 5 và 10 mg/ml Kết quả cho thấy chất chiết từ quả có hiệu quả kháng khuẩn tốt hơn so với chất chiết từ thân cây Nồng độ ức chế tối thiểu của lá dao động từ 1250 đến 5000 mg/l, trong khi của thân là từ 1250 đến 10000 mg/l.

Năm 2011, Aysun và cộng sự đã chỉ ra rằng các giống Đu đủ khác nhau có tổng hàm lượng Phenol và hoạt tính chống oxy hóa khác nhau Nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa khả năng chống oxy hóa và tổng hàm lượng phenol trong lá Đu đủ, chứng minh rằng các chất Phenol là nguyên nhân gây ra hoạt tính chống oxy hóa.

Moses Alo và cộng sự (2012) đã chỉ ra rằng dịch chiết lá Đu đủ từ nước lạnh và Ethanol có khả năng ức chế vi khuẩn Salmonella typhi Nghiên cứu từ các nhà khoa học Ấn Độ cho thấy chiết xuất từ lá và thân Đu đủ bằng Ethanol và Ethyl Acetate có hiệu quả kháng vi khuẩn gram âm cao hơn so với gram dương, với nồng độ ức chế tối thiểu từ 50-200 mg/ml Phân tích sơ bộ cho thấy dịch chiết này chứa các hợp chất như alkaloid, tanin, saponin và phenol.

Năm 2012, Kalpna và các đồng nghiệp đã phát hiện ra rằng khi kết hợp chiết xuất từ lá Đu đủ bằng Methanol với kháng sinh, hoạt tính kháng khuẩn tăng cường đáng kể, trong khi chiết xuất này một mình không có khả năng kháng lại các chủng vi khuẩn thử nghiệm.

Nghiên cứu của Okunola và cộng sự (2013) đã chỉ ra rằng dịch chiết từ lá đu đủ tươi và khô bằng nước, Ethanol và Acetone có khả năng kháng khuẩn và nấm Các nồng độ dịch chiết thử nghiệm là 25, 50 và 100 μg/ml cho thấy dịch chiết Ethanol và Acetone có hoạt tính kháng mạnh hơn so với dịch chiết nước Đặc biệt, dịch chiết từ lá khô thể hiện hiệu quả cao đối với cả vi khuẩn gram dương và gram âm, trong khi dịch chiết từ lá tươi chỉ có tác dụng mạnh với vi khuẩn gram âm Hơn nữa, dịch chiết từ lá khô còn có khả năng kháng lại một số vi khuẩn mà kháng sinh không thể ức chế, đồng thời cho thấy hoạt tính kháng khuẩn vượt trội hơn so với hoạt tính kháng nấm.

Năm 2013, một nghiên cứu đã so sánh hoạt tính chống oxy hóa của các bộ phận khác nhau của cây Đu đủ, bao gồm quả chín, quả xanh, hạt và lá non, sử dụng hai tác nhân DPPH và β-carotene để đánh giá Kết quả cho thấy hoạt tính chống oxy hóa giảm dần theo thứ tự: lá non, quả xanh, quả chín và hạt Tuy nhiên, các hoạt chất có tác dụng chống oxy hóa vẫn chưa được phân lập.

Trong y học cổ truyền, mọi bộ phận của cây Đu đủ như lá, vỏ cây, rễ, mủ, hoa và hạt đều được sử dụng để điều trị nhiều loại bệnh Tại Indonesia, người dân đã sử dụng dịch ép từ lá Đu đủ để chữa trị bệnh rốt rét và các bệnh sốt khác.

1.3.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Năm 1999, nghiên cứu của Nguyễn Quốc Khang và Hà Thị Thanh Bình đã chỉ ra rằng Flavonoid chiết xuất từ lá Đu đủ có khả năng kháng khuẩn mạnh mẽ Thí nghiệm được thực hiện với 5 chủng vi khuẩn và 2 chủng nấm gây bệnh, sử dụng nồng độ Flavonoid là 0,4 mg/ml Kết quả cho thấy Flavonoid trong lá Đu đủ có tác dụng kháng khuẩn hiệu quả đối với các vi khuẩn như Escherichia coli, Staphylococcus aureus, Bacillus subtilis, Salmonella typhi T239, Salmonella typhi T241, cùng với nấm Candida albicans và Candida stellaloides.

Nghiên cứu của Phạm Kim Mãn (2001) cho thấy chiết xuất cồn từ lá Đu đủ có khả năng ức chế sự phát triển của u báng do tế bào ung thư Sarcoma TG-180 gây ra ở chuột nhắt trắng, giúp giảm thể tích u, mật độ tế bào ung thư và sự tăng sinh khối u.

Năm 2006, Đỗ Thị Thảo đã nghiên cứu và chỉ ra rằng cặn chiết Methanol từ lá Đu đủ có khả năng gây độc tế bào ung thư phổi với IC50 = 19,2 μg/ml, nhưng không ảnh hưởng đến các dòng tế bào ung thư khác như ung thư biểu mô KB, ung thư vú MCF-7, ung thư máu cấp tính HL-60, ung thư tiền liệt tuyến LNCaP và ung thư gan Hepa1c1c7 Bên cạnh đó, cặn chiết Methanol cũng không gây độc cho tế bào gốc tách từ phôi chuột.

Năm 2007, Hà Thị Bích Ngọc đã áp dụng kỹ thuật HPLC để phân tích các chất carotenoid trong lá đu đủ, với kết quả cho thấy β-Carotene và Luteine chiếm tỷ lệ lần lượt là 57,05% và 11,864% trong tổng số carotenoid, trong khi Lycopene không được xác định.

Năm 2012, Trần Thanh Hà đã phân lập đƣợc 4 chất từ phân đoạn chiết n- Hexan của lá Đu đủ Bao gồm, β- Sitosterol, Daucosterol, Cycloart- 23- ene- 3β,

25 diol (Sterculin A) và Cycloart- 25- ene- 3β,24 (R/S)- diol Trong đó, Sterculin A và Cycloart- 25- ene- 3β,24 (R/S) diol là 2 tritecpen lần đầu tiên phân lập từ lá Đu đủ [31]

MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu này tập trung vào việc tách chiết hợp chất Flavonoid và xác định hàm lượng các chất sinh hóa trong dịch chiết lá Đu đủ, từ đó tạo cơ sở khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo về ứng dụng lá Đu đủ trong công nghệ chế biến thực phẩm và y dược.

Nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích ảnh hưởng của các yếu tố công nghệ đến khả năng trích ly flavonoid từ lá cây đu đủ Cụ thể, nghiên cứu xem xét ảnh hưởng của nồng độ ethanol, nhiệt độ, tỷ lệ nguyên liệu/dung môi ethanol và thời gian chiết bằng ethanol Những yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc tối ưu hóa quy trình trích ly flavonoid, từ đó nâng cao hiệu quả thu nhận các hợp chất có lợi từ lá đu đủ.

Bài viết này tập trung vào việc xác định các đặc tính sinh hóa của dịch chiết lá Đu đủ, bao gồm việc đo hàm lượng axit toàn phần, hàm lượng đường tổng và hàm lượng vitamin C Những thông số này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về giá trị dinh dưỡng của lá Đu đủ mà còn cung cấp thông tin quý báu cho các ứng dụng trong y học và dinh dưỡng.

- Xác định khả năng kháng một số vi sinh vật kiểm định của dịch chiết lá Đu đủ

Vật liệu nghiên cứu

2.3.1 Vật liệu thực vật, vi sinh vật

- Đối tƣợng nghiên cứu: Lá của cây Đu đủ Carica papaya Linn

- Vật liệu thực vật: Sử dụng 3 loại lá (Lá non, lá bánh tẻ, lá già) của những cây Đu đủ trưởng thành, không bị sâu bệnh

Lá Đu được phân loại thành ba loại dựa trên hình thái và màu sắc: lá non có màu xanh cốm và bản mỏng, lá bánh tẻ có màu xanh đậm hơn và bản dày, trong khi lá già có màu xanh đậm, bản dày và cứng.

Lá non Lá bánh tẻ Lá già

Hình 2.1 Các dạng lá của cây Đu đủ

- Vật liệu vi sinh vật: Các chủng vi khuẩn kiểm định do Phòng Công nghệ

Vi sinh-Hóa sinh, Viện CNSH Lâm nghiệp cung cấp, gồm:

2.3.2 Môi trường nuôi cấy vi khuẩn sử dụng trong nghiên cứu

Bảng 2.1 Môi trường LB Môi trường LB

Hòa tan và dẫn nước đến 1000ml với pH= 7,0

2.3.3 Hóa chất và thiết bị

- Các hóa chất đƣợc sử dụng trong nghiên cứu: Là các hóa chất thông dụng nhƣ: NaOH, H2SO4, HCl, Iod 0,001N, KI, Phenolphtalein, Ethanol,

Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng một số hóa chất quan trọng bao gồm dung dịch hồ tinh bột 0,5%, MgSO4, KH2PO4, glucose, pepton, dịch chiết nấm men, axit 3,5-dinitrosalicylic (C7H4N2O7), muối Seignett (KNaC4H4O6.4H2O), phenol (C6H5OH) nóng chảy ở 50°C, natri metabisunfut (Na2S2O5), etyl axetat (CH3COOC2H5), chloroform và n-hexan Tất cả các hóa chất này được sản xuất tại Việt Nam, Trung Quốc, Đức, Pháp và Mỹ.

- Các thiết bị đƣợc sử dụng trong nghiên cứu là các loại máy móc gồm:

+ Tủ sấy + Cân điện tử (AL300) – Mỹ

+ Tủ cấy (Box laminer PII)- Đức + Cân điện tử

+ Tủ ấm (Memmert) - Đức + Máy siêu âm

+ Tủ lạnh + Lò vi sóng

+ Nồi hấp khử trùng (lequenx) – Pháp + Bếp điện/bếp từ

+ Máy đo pH (Accument) – Mỹ + Máy gia nhiệt

Các dụng cụ và thiết bị cần thiết trong phòng thí nghiệm bao gồm ống nghiệm, giá đựng ống nghiệm, đũa thủy tinh, que trang, pipet thường, pipetman, cốc đong, ống đong, bình tam giác với nhiều dung tích khác nhau, đĩa pipet, đèn cồn, giấy thấm, giấy lọc, giấy cân và giấy bạc.

2.3.4 Địa điểm bố trí thí nghiệm

Các thí nghiệm đƣợc tiến hành tại phòng thí nghiệm Công nghệ Vi sinh- Hoá sinh thuộc Viện Công nghệ sinh học Lâm nghiệp, Đại học Lâm nghiệp.

Phương pháp nghiên cứu

- Các nhân tố chỉ tiêu nghiên cứu: phải chia thành các phương pháp nghiên cứu khác nhau

- Các nhân tố không phải chỉ tiêu nghiên cứu: phải đảm bảo tính đồng nhất giữa các phương pháp làm thí nghiệm

- Phải tuân thủ nguyên tắc lặp lại với số lần lặp ≥ 3

- Số mẫu của mỗi công thức thí nghiệm phải đủ lớn

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

2.4.2.1 Xác định độ ẩm trong nguyên liệu lá cây Đu đủ Độ ẩm là lượng nước tự do có trong lá Đu đủ ở các giai đoạn khác nhau (lá bánh tẻ, lá non và lá già), được xác định bằng phương pháp sấy khô

Nguyên lý: Dùng nhiệt làm bay hết hơi nước trong mẫu Cân trọng lượng mẫu trước và sau khi sấy khô, từ đó tính được lượng nước trong mẫu

- Cân 10g lá mỗi loại đã đƣợc rửa sạch để khô ráo, cho vào đĩa đã đƣợc sấy khô đến khối lƣợng không đổi

- Cho đĩa chứa mẫu (lá) vào tủ sấy ở nhiệt độ 80 o C đến khi lá khô (khoảng 24h)

- Lấy đĩa chứa mẫu ra tiến hành cân tính khối lƣợng trên cân phân tích

Cho mẫu vào tủ sấy và lặp lại quá trình cân cho đến khi khối lượng giữa ba lần cân liên tiếp ổn định, với sai số không vượt quá 0,5mg cho mỗi gam ban đầu Khi đạt được điều này, dừng quá trình sấy và ghi lại giá trị khối lượng.

Cách tính độ ẩm: Độ ẩm mỗi mẫu là H =

Trong đó H là độ ẩm (%) mo: khối lượng mẫu trước khi sấy m1 : khối lƣợng mẫu sau khi sấy

2.4.2.2 Tách chiết Flavonoid từ lá cây Đu đủ

Tách chiết Flavonoid gồm các bước được mô tả trong Hình 2.2 xử lý mẫu sấy khô, xay thành bột

Chiết bằng nước cất và Ethanol Đun cách thủy

Chiết bằng nước cất nóng

Chiết bằng Chlorofom (loại tạp)

Cô cạn ở nhiệt độ thấp

Hình 2.1 Quy trình chiết xuất flavonoid toàn phần

Dịch hòa tan cao lá Đu đủ Cao lá Đu đủ

Dịch chiết lá Đu đủ

2.4.2.3.Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố công nghệ đến khả năng trích ly Flavonoid

- Xác định ảnh hưởng của nồng độ Ethanol đến khả năng trích ly:

- Cân 5g lá, cho vào bình nón

- Chiết ở nhiệt độ phòng bằng Ethanol với tỷ lệ nguyên liệu: dung môi là 1:15 ở các nồng độ Ethanol 60%, 80%, 90% trong vòng 24h, ở nhiệt độ 60 o C

- Lọc bỏ bã, lấy dịch chiết

- Cô cạn dịch chiết bằng cách đun cách thủy

- Thêm 30ml nước cất để hòa tan phần cặn bám xung quanh bình, được dung dịch chứa cao lá Đu đủ

- Dùng pipet thêm vào mỗi mẫu 20 ml Chlorofom, lắc đều 15 phút để loại protein và tạp, thực hiện 3 lần Mỗi lần loại bỏ phần màu xanh lắng xuống dưới

Thêm 20 ml Etyl Acetat vào mỗi mẫu để loại bỏ keo và nhựa trong dung dịch cao lá Đu đủ, sau đó lắc đều Cuối cùng, dồn dịch chiết Ethyl Acetate lại và cô cạn.

- Cô cạn dịch chiết ở nhiệt độ thấp bằng phương pháp đun cách thủy đến khi dung môi bay hơi hết, đƣợc cao Flavonoid tổng số

Cân xác định trọng lượng Flavonoid chiết xuất từ các nồng độ Ethanol khác nhau nhằm tìm ra công thức với nồng độ Ethanol tối ưu, giúp đạt hiệu suất cao nhất trong việc chiết suất Flavonoid tổng số.

- Xác định ảnh hưởng của nhiệt độ trong khi trích ly Flavonoid:

Để xác định công thức chiết suất Flavonoid hiệu quả nhất, cần cân nhắc trọng lượng Flavonoid chiết xuất ở các nồng độ khác nhau và sử dụng Ethanol với tỷ lệ nguyên liệu: dung môi là 1:15 Quá trình chiết suất Flavonoid được thực hiện ở ba mức nhiệt độ khác nhau: lạnh (3 o C), nhiệt độ phòng (30 o C) và nhiệt độ nóng (60 o C).

- Xác định ảnh hưởng của tỷ lệ nguyên liệu / dung môi đến khả năng trích ly:

Nghiên cứu này tập trung vào việc sử dụng nồng độ Ethanol và nhiệt độ để đạt hiệu suất trích ly Flavonoid cao nhất Kết quả thí nghiệm cho thấy tỷ lệ giữa nguyên liệu và dung môi có ảnh hưởng đáng kể đến quá trình trích ly.

Khảo sát ở các tỷ lệ nguyên liệu bột lá Đu đủ: dung môi Ethanol là 1/10, 1/15, 1/20

Hàm lượng Flavonoid trích ly được tương ứng với mỗi công thức thí nghiệm đƣợc sử dụng xác định tỷ lệ nguyên liệu / dung môi tối ƣu nhất

- Xác định ảnh hưởng của thời gian chiết bằng Ethanol đến khả năng trích ly:

Nghiên cứu đã khảo sát ảnh hưởng của nồng độ Ethanol, nhiệt độ và tỷ lệ nguyên liệu đến hiệu suất trích ly Flavonoid, đặc biệt là trong thời gian chiết bằng Ethanol Các thời gian chiết được xem xét bao gồm 12h, 24h và 36h, nhằm xác định thời gian tối ưu cho quá trình trích ly Flavonoid.

Hàm lƣợng Flavonoid chiết suất đƣợc là cơ sở cho lựa chọn thời gian trích ly tốt nhất

2.4.2.4 Định tính Flavonoid bằng các phản ứng hóa học đặc trưng

Phản ứng Shinoda đặc trƣng cho các nhóm Flavonoid có nhóm cacbonyl ở vị trí C4 và nối đôi ở vị trí C2 – C3

Để tiến hành thí nghiệm, đầu tiên pha mẫu thử trong Ethanol cho đến khi nhận được dung dịch màu vàng nhạt Sau đó, chia dung dịch này vào hai ống nghiệm: Ống 1 được sử dụng làm ống đối chứng, còn Ống 2 thì cho thêm vài giọt HCl đặc và một vài mảnh Zn, sau đó đun nóng trong nồi cách thủy trong vài phút.

Nếu trong dịch mẫu có Flavonoid thì ống 2 xuất hiện màu đỏ cam, do Flavonoid bị khử khi có sự tham gia của Zn trong môi trường HCl

• Phản ứng với dung dịch kiềm

Pha mẫu thử trong Ethanol để tạo ra dung dịch màu vàng nhạt Chia dung dịch này thành hai ống: ống 1 dùng làm ống đối chứng và ống 2 nhỏ thêm vài giọt dung dịch NaOH.

Nếu trong dịch mẫu có Flavonoid thì ống 2 tạo sản phẩm màu vàng nâu do các nhóm OH của Flavonoid tạo muối kiềm với NaOH

Để tiến hành thí nghiệm, nhỏ dung dịch FeCl3 5% vào ống nghiệm chứa mẫu thử đã được pha loãng bằng Ethanol 96% Kết quả phản ứng dương tính sẽ thể hiện qua sự xuất hiện của màu sắc như lục, tía, lam, xanh đen hoặc đen trong dung dịch.

2.4.2.5 Xác định nồng độ axit toàn phần Độ axit toàn phần (độ chua) đƣợc tạo thành do sự có mặt của tất cả các loại axit có trong lá và có thể định lƣợng đƣợc bằng một dung dịch kiềm chuẩn Các axit có trong lá Đu đủ chủ yếu là axit Malic, axit Ascorbic (vitamin C), axit Pantothenic (vitamin B5), axit Lactic,

Nguyên lý của phương pháp: Dùng một dung dịch kiềm chuẩn (NaOH) để trung hoà hết các axit trong mẫu, với phenolphtalein làm chỉ thị màu

- Thuốc thử phenolphthalein 1% trong cồn

- Cắt mẫu, bỏ những phần gân lá lớn, cân thật chính xác 10g lá Đu đủ

- Dùng dao cát nhỏ mẫu rồi cho vào cối xứ nghiền nát, cho 25 ml nước cất vào mẫu đã nghiền nát rồi lắc đều trong khoảng 10-20 phút

Để tiến hành thí nghiệm, bạn cần dẫn nước trung tính đến 50ml, sau đó lắng để thu 25ml nước ở trên nhằm định lượng Trong quá trình định lượng, hãy thêm 5 giọt thuốc thử phenolphthalein 1% trong cồn vào dịch mẫu.

- Nhỏ NaOH 0,1N từ buret xuống, cho đến khi dịch thử có màu hồng nhạt bền vững

- Tính kết quả: Độ axit toàn phần theo phần trăm (X1) tính bằng công thức: X1=

X1: Hàm lƣợng axit tổng số (%) n: Số ml NaOH 0,1N sử dụng để chuẩn độ 25 ml dịch thử

P: Trọng lƣợng mẫu thử, tính bằng gam

K: Hệ số axit (tính theo axit Malic) bằng 0,0067

2.4.2.6 Xác định hàm lượng đường khử tổng số

Khử toàn bộ đường trong lá đu đủ bằng HCl để chuyển hóa hoàn toàn thành đường khử Sau đó, sử dụng phương pháp DNS để định lượng, từ đó xác định hàm lượng tổng số đường khử có trong lá.

Nguyên tắc của phương pháp DNS:

Cường độ màu của phản ứng giữa đường khử và thuốc thử Dinitrosalicylic (DNS) tỷ lệ thuận với nồng độ đường khử trong một khoảng nhất định Bằng cách sử dụng đồ thị đường chuẩn của glucose tinh khiết với thuốc thử DNS, có thể xác định hàm lượng đường khử trong mẫu nghiên cứu.

Thực hiện thủy phân lá đu đủ tươi bằng dung dịch HCl 3% trong 1 giờ Sau đó, làm lạnh dịch mẫu đến nhiệt độ phòng và trung hòa bằng NaOH trước khi tiến hành phản ứng với thuốc thử DNS để xác định hàm lượng đường khử.

Xác định hàm lượng đường khử bằng phản ứng với thuốc thử DNS:

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Kết quả xác định độ ẩm và tạo nguyên liệu bột khô của lá cây Đu đủ

Độ ẩm là chỉ số quan trọng thể hiện lượng nước trong mẫu lá tươi Đu đủ, và việc sấy khô mẫu giúp xác định độ ẩm thông qua nhiệt độ Độ ẩm cao đồng nghĩa với lượng hơi nước lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và khả năng bảo quản sản phẩm Việc xác định lượng nước trong nguyên liệu là cần thiết để áp dụng phương pháp bảo quản hiệu quả và đánh giá chất lượng nguyên liệu qua độ ẩm của lá Đu đủ Kết quả thí nghiệm không chỉ cung cấp thông tin về độ ẩm mà còn tạo ra nguyên liệu lá khô, sau khi nghiền nhỏ sẽ trở thành bột khô lá Đu đủ cho các thí nghiệm tiếp theo Độ ẩm của lá Đu đủ được trình bày trong Bảng 1 (Phụ lục 02) và Hình 3.1.

Độ ẩm trung bình trong lá đu đủ đạt 79,75%, với lá non có độ ẩm cao nhất là 84,58% và lá già có độ ẩm thấp nhất là 75,023% Điều này cho thấy rằng, trong cùng một loại nguyên liệu thực vật, hàm ẩm cao thường đi kèm với hàm lượng chất khô (chứa thành phần dinh dưỡng) thấp hơn Do đó, lá già sẽ có hàm lượng chất khô cao hơn so với lá non và lá trung bình Hình 3.1 minh họa rõ ràng sự khác biệt về độ ẩm giữa các loại lá đu đủ.

Lá đu đủ, bao gồm lá non, lá bánh tẻ và lá già, rất dễ bị hư hỏng do vi sinh vật và côn trùng phát triển Vì vậy, việc bảo quản lá đu đủ một cách cẩn thận là cần thiết để duy trì chất lượng và sử dụng hiệu quả.

Lá đu đủ sau khi sấy khô và nghiền thành bột mịn sẽ đạt trọng lượng không đổi, tạo ra nguyên liệu chất lượng cho các thí nghiệm tiếp theo.

Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố công nghệ đến khả năng trích

Flavonoid là nhóm hoạt chất quan trọng trong dược liệu, được nghiên cứu nhiều trong những năm gần đây nhờ vào tác dụng tích cực đối với sức khỏe con người Chúng có vai trò bảo vệ, chống oxy hóa, bảo tồn acid ascorbic trong tế bào và ngăn chặn các tác nhân gây hại như vi khuẩn và virus Do đó, việc tách chiết và khai thác Flavonoid từ cây Đu đủ, đặc biệt là lá, là cần thiết để phục vụ cho ngành công nghiệp y dược và đa dạng hóa nguồn nguyên liệu hỗ trợ sức khỏe con người.

3.2.1 Ảnh hưởng của nồng độ Ethanol đến lượng Flavonoid thu được

Dung môi chiết là yếu tố quan trọng trong quá trình chiết xuất hợp chất tự nhiên từ thực vật, ảnh hưởng lớn đến hiệu quả chiết xuất và hoạt tính của các chất chiết Việc lựa chọn dung môi phụ thuộc vào mục đích chiết xuất, tính phân cực của nhóm chất cần chiết, độ phân cực của các thành phần không mong muốn, tổng chi phí, cũng như các vấn đề liên quan đến an toàn và môi trường.

Biểu đồ trong Bảng 2 (Phụ lục 02) và Hình 3.3 minh họa sự ảnh hưởng của nồng độ Ethanol đến hàm lượng Flavonoid ở các giai đoạn phát triển của lá Đu đủ.

Hình 3.3 Ảnh hưởng của nồng độ Ethanol đối với lượng Flavonoid thu đƣợc

Kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu suất trích ly Flavonoid từ lá Đu đủ Non dao động từ 1,346% đến 1,69%, trong khi lá Bánh tẻ có hiệu suất từ 3,062% đến 3,43% và lá Già đạt hiệu suất từ 4,09% đến 4,350% Hiệu suất trích ly Flavonoid tăng khi sử dụng nồng độ Ethanol từ 60% đến 90%, với Ethanol 90% mang lại hiệu suất cao nhất cho cả ba loại lá.

Nồng độ Ethanol tối ưu cho quá trình trích ly Flavonoid từ lá Đu đủ là 90%, với hàm lượng Flavonoid cao nhất được ghi nhận ở lá già, đạt 4,350%.

3.2.2 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến hàm lượng Flavonoid

Hình dưới đây và Bảng 3 (Phụ lục 02) trình bày kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ trích ly Flavonoid:

Hiệu suất trích ly (%) lạnh (4 o C) t o phòng (30 o C) nóng (60 o C)

Hình 3.4 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến hiệu suất trích ly Flavonoid

Kết quả nghiên cứu cho thấy, tách chiết Flavonoid ở nhiệt độ 60°C mang lại hiệu suất cao hơn so với nhiệt độ phòng và 4°C Điều này chứng tỏ rằng nhiệt độ 60°C là tối ưu để loại bỏ tạp chất như béo, dầu, hidrocacbon và chất bột trong mẫu Hiệu suất trích ly Flavonoid cũng tăng khi nhiệt độ chiết xuất được nâng lên từ 4°C.

60 o C, trong đó ở nhiệt độ 60 o C cho hiệu suất trích ly cao nhất ở lá già là 4,460%

Vì vậy nhiệt độ thích hợp để thực hiện quá trình trích ly Flavonoid trong lá Đu đủ là 60 o C

3.2.3 Ảnh hưởng của tỷ lệ nguyên liệu/ dung môi Ethanol đến hàm lượng Flavonoid

Trong quy trình chiết xuất, tỷ lệ bột lá khô Đu đủ với dung môi Ethanol được điều chỉnh thành 1/10, 1/15 và 1/20, trong khi thời gian ngâm vẫn giữ nguyên là 24 giờ.

Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ nguyên liệu/ dung môi Ethanol đƣợc trình bày ở Bảng 4 (Phụ lục 02) và Hình 3.5:

Hình 3.5 Ảnh hưởng của tỷ lệ nguyên liệu/ dung môi Ethanol đến hiệu suất trích ly Flavonoid

Tỷ lệ dung môi ảnh hưởng đến hiệu suất tách chiết flavonoid từ lá đu đủ, với tỷ lệ tối ưu là 1/15, mang lại hiệu suất cao nhất là 1,686% ở lá non Khi tăng tỷ lệ lên 1/20, hiệu suất không tăng đáng kể so với tỷ lệ 1/15 Cụ thể, hiệu suất trích ly đạt 1,874% ở lá non, 3,384% ở lá bánh tẻ và 4,822% ở lá già khi sử dụng phương pháp trích ly ở nhiệt độ 60ºC.

3.2.4 Ảnh hưởng của thời gian chiết bằng Ethanol đến hàm lượng Flavonoid

Việc pha chè thường được ưa chuộng nhờ vào tác dụng chống oxy hóa hiệu quả của nó, tương tự như lá đu đủ Tuy nhiên, nếu trà được ngâm quá lâu, các chất quan trọng sẽ bị tiết ra, dẫn đến quá trình oxy hóa tự nhiên và làm giảm hàm lượng dưỡng chất trong trà Hơn nữa, việc hãm trà trong nước ấm quá lâu có thể tăng số lượng vi sinh vật như vi khuẩn và nấm, gây nguy hiểm cho sức khỏe con người Do đó, nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian chiết trà là rất cần thiết.

Giữ nguyên khối lượng bột lá Đu đủ, thay đổi dung môi chiết và thời gian ngâm ở các mức 12 giờ, 24 giờ và 36 giờ Sau đó, tiến hành lọc và cô cạn để thu hồi.

1:10 1:15 1:20 Tỉ lệ nguyên liệu/ dung môi

Flavonoid và cân khối lƣợng Flavonoid thu nhận đƣợc để xác định tỷ lệ mẫu : dung môi tốt nhất

Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian chiết bằng Ethanolđược trình bày ở Bảng 5 (Phụ lục 02) và Hình 3.6:

Hình 3.6 Ảnh hưởng của thời gian chiết bằng Ethanol đến hiệu suất trích ly

Kết quả từ Bảng 5 và Hình 3.6 cho thấy hàm lượng Flavonoid tăng theo thời gian chiết Cụ thể, khi thời gian chiết kéo dài từ 12h đến 24h, hiệu suất trích ly Flavonoid ở lá Đu đủ non tăng từ 1,564% lên 1,712% Tiếp tục kéo dài thời gian chiết từ 24h đến 36h, hiệu suất này lại tăng từ 1,712% lên 1,984%.

Thời gian chiết từ 12h đến 24h làm tăng hiệu suất trích ly Flavonoid từ 2,842% lên 3,126% ở lá Đu đủ bánh tẻ Khi tiếp tục kéo dài thời gian chiết từ 24h đến 36h, hiệu suất trích ly Flavonoid tiếp tục tăng lên 3,384%.

Thời gian chiết xuất từ 12h đến 24h làm tăng hiệu suất trích ly Flavonoid từ 3,960% lên 4,702% ở lá Đu đủ già Khi kéo dài thời gian chiết xuất từ 24h đến 36h, hiệu suất trích ly Flavonoid tiếp tục tăng từ 4,702% lên 5,002%.

Chiết xuất bằng Ethanol trong 36 giờ mang lại hiệu suất trích ly cao hơn so với thời gian 24 giờ Do đó, lựa chọn thời gian chiết 36 giờ là tối ưu để đạt được hiệu suất trích ly tốt nhất.

3.3 Định tính Flavonoid bằng các phản ứng hóa học đặc trƣng

Sau khi trích ly Flavonoid, chúng tôi thu được cao Flavonoid toàn phần và hòa tan trong Ethanol, tạo ra chế phẩm hòa tan trong Ethanol Tiếp theo, chúng tôi tiến hành các phản ứng đặc trưng để phát hiện nhóm chất Flavonoid.

Kết quả định tính Flavonoid thể hiện ở Bảng 3.1:

Bảng 3.1 Định tính Flavonoid bằng các phản ứng hóa học đặc trƣng

Thuốc thử Shinoda NaOH FeCl3

Màu phản ứng Đỏ cam Nâu vàng Xanh đen a b c

Hình 3.7 Định tính Flavonoid chiết xuất từ lá Đu đủ

Kết quả xác định một số đặc tính sinh hóa trong lá Đu đủ

3.4.1 Xác định hàm lượng axit toàn phần

Lá Đu đủ là loại lá an toàn, không chứa độc tính và có hàm lượng axit hữu cơ cao, đặc biệt là axit Malic, axit Panothenic và vitamin C (axit Ascorbic) Việc xác định tổng hàm lượng axit của ba loại lá Đu đủ non, bánh tẻ và già rất quan trọng cho ngành công nghiệp y dược Điều này mở ra cơ hội sản xuất thực phẩm và trà thảo dược từ lá Đu đủ, nhằm thu nhận các axit hữu cơ có lợi cho sức khỏe.

Kết quả xác định hàm lƣợng axit toàn phần của lá cây Đu đủ đƣợc trình bày ở Bảng 1 (Phụ lục 03), Hình 1 (Phụ lục 03) và Hình 3.8:

Hàm lƣợng axit toàn phần (%)

Hình 3.8 Hàm lƣợng axit toàn phần của lá Đu đủ

Hàm lượng axit toàn phần ở lá đu đủ thay đổi theo các giai đoạn phát triển, dao động từ 0,366% đến 0,544% Cụ thể, lá bánh tẻ có hàm lượng axit cao nhất là 0,544%, trong khi lá già có hàm lượng thấp nhất là 0,366%, và lá non đạt 0,446% Điều này cho thấy hàm lượng axit toàn phần ở lá đu đủ là tương đối thấp.

Đề xuất sử dụng lá Đu đủ non và lá Đu đủ bánh tẻ để thu nhận các axit hữu cơ có ích từ cây Đu đủ.

Lá non Lá bánh tẻ Lá già Loại lá

3.4.2 Xác định hàm lượng đường tổng

Hàm lượng đường trong sản phẩm cao hay thấp có ảnh hưởng lớn đến chất lƣợng và khả năng bảo quản của chúng

Kết quả xác định hàm lượng đường tổng được trình bày như sau:

Hình 3.9 Xác định hàm lượng đường tổng

B: Sau khi cho DNS và pha loãng

Bảng 3.2 Kết quả xác định hàm lượng đường tổng

Tổng thể tích dịch mẫu (ml)

Nồng độ đường tổng trung bình (%w/w)

Lá đu đủ có hàm lượng đường thấp, với 1,867% ở lá non, 2,586% ở lá bánh tẻ và 2,908% ở lá già, điều này thuận lợi cho việc bảo quản dưới dạng bột khô thực phẩm Tuy nhiên, cần chú ý trong việc bảo quản và bổ sung các chất tạo đường Để đảm bảo chất lượng, nên sử dụng lá đu đủ già khi làm bột khô.

3.4.3 Xác định hàm lượng vitamin C

Vitamin C, hay còn gọi là axit Ascorbic, là một chất dinh dưỡng thiết yếu cho các loài linh trưởng bậc cao và một số loài khác, với chức năng chính là sản xuất collagen, một protein quan trọng trong cơ thể Ngoài ra, vitamin C còn hỗ trợ hệ miễn dịch, tham gia vào sản xuất các chất dẫn truyền thần kinh và hormone, tổng hợp carnitine, cũng như hấp thụ và sử dụng các yếu tố dinh dưỡng khác Là một chất chống oxy hóa quan trọng, đu đủ chứa nồng độ vitamin C cao, với 100g đu đủ cung cấp từ 74-80mg vitamin C, và lá đu đủ cũng chứa nhiều vitamin C, góp phần vào khả năng chống oxy hóa của lá.

Kết quả định lƣợng vitamin C đƣợc trình bày ở Bảng 2 (Phụ lục 03) và Hình 3.10:

Hình 3.10 Hàm lƣợng vitamin C trong lá đu đủ

Kết quả trình bày ở trên cho thấy hàm lƣợng vitamin C trong lá Đu

Lá non Lá bánh tẻ Lá già

Loại lá đủ ở các thời kỳ phát triển khác nhau là khác nhau Trong đó hàm lƣợng vitamin

Lá đu đủ có nồng độ vitamin C cao, với hàm lượng đạt 54,912 mg/100g ở lá bánh tẻ, trong khi lá non chứa 40,995 mg/100g và lá già có 46,42 mg/100g.

Vitamin đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển và duy trì hoạt động chức năng của cơ thể con người Tuy nhiên, con người và động vật không thể tự tổng hợp vitamin, mà chủ yếu phải nhận từ thực vật và vi sinh vật.

Nhu cầu vitamin trong cơ thể mặc dù ít nhưng rất cần thiết và phải được cung cấp đầy đủ từ thực phẩm có nguồn gốc động vật, thực vật và vi sinh vật Thiếu vitamin có thể dẫn đến bệnh tật cho cả con người và động vật.

Kết quả xác định tính kháng vi sinh vật kiểm định của dịch chiết lá Đu đủ

Lá đu đủ được sử dụng trong dân gian để điều trị các bệnh như viêm da cơ địa, đau dạ dày và tàn nhang, liên quan đến vi khuẩn gây viêm nhiễm Nghiên cứu đã kiểm tra hoạt tính kháng khuẩn của dịch chiết lá đu đủ với nồng độ 50mg/ml và 5mg/ml trên 5 chủng vi sinh vật khác nhau.

Kết quả nghiên cứu cho thấy dịch chiết từ lá Đu đủ có khả năng kháng vi sinh vật đáng kể, đặc biệt là hiệu quả với các loại vi khuẩn Tuy nhiên, hoạt tính kháng vi sinh vật của lá Đu đủ đối với E.coli và Salmonella lại thấp hơn.

Hoạt tính kháng cao đối với vi khuẩn Bacillus cereus và Shigella

Bảng 3.3 Hoạt tính kháng của một số chủng vi sinh vật kiểm định của dịch chiết lá Đu đủ Chủng vi sinh vật Đường kính vòng kháng (cm)

Hình 3.11 Hoạt tính kháng một số chủng vi sinh vật kiểm định của dịch chiết lá Đu đủ

A: Đường kính vòng kháng vi khuẩn Bacillus cereus

B: Đường kính vòng kháng vi khuẩn E.coli

C: Đường kính vòng kháng vi khuẩn Salmonella

D: Đường kính vòng kháng vi khuẩn Shigella

Theo Bảng 3.3 và Hình 3.11, hoạt tính kháng của các chủng hợp chất Flavonoid có sự khác biệt rõ rệt Trong khi vi khuẩn E coli và Salmonella có tính kháng thấp nhất với đường kính vòng kháng lần lượt là 1,5 cm và 1,2 cm, thì vi khuẩn Bacillus cereus và Shigella lại cho thấy hoạt tính kháng cao nhất với đường kính vòng kháng đạt 2,8 cm và 2,6 cm.

Ngày đăng: 22/06/2021, 09:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ali, Essa, MM & Rahman, MS 2012, Nutritional and medicinal values of papaya (Carica papaya L.). in Natural Products and Their Active Compounds on Disease Prevention. Nova Science Publishers, Inc., pp. 307-324 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Carica papaya
2. Aravind G, Debjit Bhowmik, Duraivel. S., Harish G. (2013) “Traditional use and healing of papaya”. Journal of Medicinal Plants Research, vol. 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Traditional use and healing of papaya”. "Journal of Medicinal Plants Research
4. Tajul AY, Boshra V, (2013), “Papaya - An Innovative Raw Material for Food and Pharmaceutical Processing Industry” Health and the Environment Journal, Vol 4, No.1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Papaya - An Innovative Raw Material for Food and Pharmaceutical Processing Industry” "Health and the Environment Journal
Tác giả: Tajul AY, Boshra V
Năm: 2013
5. Ayoola GA, Coker HAB, Adesegun SA, Adepoju-Bello AA, Obaweya K., Ezennia EC, Atangbayila (2008) “Phytochemical screening and Antioxidant activity of selected medicinal plants used for the treatment of malaria in southwest Nigeria” Tropical Journal of Pharmaceutical Research, 7 (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phytochemical screening and Antioxidant activity of selected medicinal plants used for the treatment of malaria in southwest Nigeria
6. Aysun Ozkan, Hamide gubbuk, Gunes Esma, Ayse Erdogan (2011) “The Antioxidant capacity of different papaya fruit juices (Carica papaya L.) was grown under greenhouse conditions in Turkey” Turkish Journal of Biology, 619-625 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Antioxidant capacity of different papaya fruit juices (Carica papaya L.) was grown under greenhouse conditions in Turkey
7. Dai J, R J Mumper, “Plant Phenolics: Extraction. Analysis and Their Antioxidant and Anticancer Properties” Molecules 2010.15: p. 7313-7352 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Plant Phenolics: Extraction. Analysis and Their Antioxidant and Anticancer Properties
9. Higdon, Jane, Ph.D. (2006). “Vitamin C” Đại học bang Oregon, Trung tâm thông tin vi dinh dƣỡng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vitamin C
Tác giả: Higdon, Jane, Ph.D
Năm: 2006
10. Ikeyi Adachukwu P, Ann O, Eze Faith U, (2013), “phytochemical analysis of paw-paw (carica papaya) leaves”, International journal of life science biotechnology and pharma research, Vol. 2, No. 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: phytochemical analysis of paw-paw ("carica papaya") leaves
Tác giả: Ikeyi Adachukwu P, Ann O, Eze Faith U
Năm: 2013
12. J B Harborne and C.A.Williams, (2000) “Review: Advances in flavonoid research since 1992”. Phytochemistry. 55: p. 481 -504 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Review: Advances in flavonoid research since 1992”. "Phytochemistry
13. Kalpna Rakholiya, Sumitra Chanda (2012) “Invitro interaction of certain antimicrobial agents in combination with plant extracts against some strains of pathogenic bacteria” Asia Pacific Tropical Medicine Journal, 876-880 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Invitro interaction of certain antimicrobial agents in combination with plant extracts against some strains of pathogenic bacteria
14. Maisarah AM, Nurul Amira B., Asmah R. và Fauziah O (2013) “Antioxidant analysis of different parts of Carica papaya” Journal of International Food Research, 20 (3), 1043-1048 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Antioxidant analysis of different parts of Carica papaya” "Journal of International Food Research
15. McCully KS (1998) “Homocysteine, folate, vitamin B6, and cardiovascular disease” The Journal of the American Medical Association.279:392-3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Homocysteine, folate, vitamin B6, and cardiovascular disease
16. Mohamad. F. M. Bukhori, A. N. Rahman, N. Khalid, A. H. Rashid, and M. M. Diah, “The Supercritical fluid extraction of alkaloids from papaya (Carica papaya L . var . Eksotika) leaves” Borneo Journal of Resource Science& Technology. 4(2), pp. 35– 49, 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Supercritical fluid extraction of alkaloids from papaya (Carica papaya L . var . Eksotika) leaves
17. Moses Alo, Ukpai Agwu Eze, Chukwudi Anyim (2012) “Invitro antimicrobial activity of indica magnifera extract, papaya and guava leaves on salmonella typhi isolated” World Journal of Public Health, 1 (1): 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Invitro antimicrobial activity of indica magnifera extract, papaya and guava leaves on salmonella typhi isolated” "World Journal of Public Health
18. “Niacin” PubChem Public Chemical Database”. The PubChem Project. USA: National Center for Biotechnology Information Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niacin” PubChem Public Chemical Database
19. Noriko Otsuki, Nam H. Đằng, Emi Kumagai, Akira Kondo, Satoshi Iwata, Chikao Morimoto (2010) “Carica juice extract of papaya leaves exhibited anti- tumor activity and immune efects” Journal of Ethnopharmacology 127, 760- 767 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Carica juice extract of papaya leaves exhibited anti- tumor activity and immune efects”
21. “Pantothenic Acid”. Linus Pauling Institute at Oregon State University. Micronutrient Information Center Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pantothenic Acid
22. Peterson J J, Beecher G R, Bhagwat S A, Dwyer J T, Gebhardt S E, Haytowitz D B, “Flavanones in grapefruit, lemons, and limes: A compilation and review of the data from the analytical literature” Journal of Food Composition and Analysis, 2006, 19, 74–80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Flavanones in grapefruit, lemons, and limes: A compilation and review of the data from the analytical literature
23. Re R, Pellegrini N, Proteggente A, Pannala A, Yang M, Rice Evans, “Antioxidant activity applying an improved ABTS radical cation decolorization asay”. Free radical biology and medicine. 1999. 26: p.1231 – 1237 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Antioxidant activity applying an improved ABTS radical cation decolorization asay”. "Free radical biology and medicine
24. Rehman Z. U. (2006) “Citrus peel extract – A natural source of antioxidant” Food Chemistry, 99, 450–454 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Citrus peel extract – A natural source of antioxidant” "Food Chemistry

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm