TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Tình hình sử dụng và nghiên cứu máy tiện trên thế giới
Từ xa xưa, con người đã sử dụng đôi tay để tạo ra các vật dụng từ đất sét, gỗ, xương và đá Khi nhu cầu cuộc sống gia tăng, con người bắt đầu chế tạo và sử dụng nhiều vật dụng bằng kim loại Để giảm bớt sức lao động, họ đã phát minh ra các cơ cấu máy móc, dẫn đến sự hình thành ngành chế tạo máy hiện nay Việc sản xuất với quy mô lớn đã trở thành một phần quan trọng trong cuộc sống, phản ánh sự tiến bộ của nhân loại trong công nghệ và sản xuất.
Cuối thế kỷ XIV và đầu thế kỷ XV, máy tiện đạp chân được phát minh, cho phép chuyển động quay tròn của chi tiết gia công nhờ dây thừng kết nối với cần đàn hồi Sự cải tiến này giúp giảm số lượng người điều khiển máy từ hai xuống còn một.
Hình 1.1 Mô hình máy tiện đạp chân
Vào cuối thế kỷ 15 và đầu thế kỷ 16, Leonardo da Vinci, một họa sĩ và kỹ sư tài ba người Ý, đã phát minh ra nhiều cấu trúc cơ bản của máy tiện như trục vít me và bàn dao Ông cũng đặc biệt phác thảo nguyên tắc cho một số máy tiện và máy cắt ren nổi tiếng.
Cuối thế kỷ XVI, kỹ sư người Pháp Jac Beson phát minh ra máy tiện cắt ren hình trụ và ren hình côn Đầu thế kỷ XVII, sức nước được sử dụng làm động lực cho máy công cụ, và bàn chạy dao tự động trở thành một phát minh quan trọng trong sự phát triển của máy tiện Năm 1712, A.K Nartov, thợ cơ khí của Sa hoàng Petr đệ nhất, đã ứng dụng đầu tiên loại bàn dao này ở máy tiện Đến năm 1774, các nhà thiết kế máy công cụ người Nga như JacôBatitreps, L Xôbôkin, A Xurnhin và đặc biệt là Mikhail Lômônôxốp đã có những đóng góp quan trọng trong lĩnh vực chế tạo máy công cụ, bao gồm thiết kế máy tiện hình cầu.
Cuối thế kỷ XVIII, cơ giới hóa gia công kim loại được thúc đẩy nhờ những phát minh của Henry Maudsley, nhà bác học người Anh Ông và các cộng sự đã cải tiến máy tiện hiện có và chế tạo mẫu máy tiện vạn năng mới, góp phần quan trọng vào việc chế tạo nhiều chi tiết máy Sự phát triển này đã có ảnh hưởng tích cực đến ngành chế tạo máy ở Anh thời bấy giờ.
Học trò của H.Mauslay, R.Robert, đã nghiên cứu và hoàn thiện mẫu máy với cơ cấu truyền động tương tự như các máy tiện hiện nay.
Hình 1.2.Mẫu máy tiện của H.Maudslay
Hình 1.3.Mẫu máy tiện của R.Robert
Ngày nay, nước Anh là một trong những quốc gia công nghiệp phát triển hàng đầu trong lĩnh vực chế tạo máy công cụ, với hơn 200 hãng sản xuất và tổng công suất khoảng 60.000 sản phẩm mỗi năm Các loại máy chế tạo chủ yếu bao gồm máy tiện (chiếm 38,2%), máy phay (11,3%), máy mài (15,6%) và máy CNC (9,5%) Nhiều hãng, như COLCHESTER, sản xuất các loại máy tiện với nhiều mã hiệu khác nhau, được xuất khẩu sang nhiều quốc gia trên thế giới.
Ngành chế tạo máy công cụ tại Nga rất phát triển, với sự góp mặt của nhiều hãng chế tạo máy nổi tiếng toàn cầu Một trong những đơn vị hàng đầu là IZEBSKI, có công suất sản xuất lên tới 128.000 thiết bị mỗi năm, chuyên sản xuất nhiều loại máy tiện đa dạng như 1I611P, 1I611, IT42, IZ250ITV, IZ250ITP, 95TC, IZ6U, và ITVM250F3.
Hãng MCPO KRASNƯI PROLETARI sản xuất các loại máy tiện vạn năng với các mã hiệu như: 1K62D, 1K62, MK6056, 1M63, 16K20 (hình 1.5)
Hãng KRAMATORSK chuyên sản xuất máy tiện vạn năng với các mã hiệu như KJ1909, 1A680, 1A670, 1A675, có khả năng tiện phôi với đường kính từ 1400mm đến 1600mm Máy có công suất động cơ 130 HP và tốc độ trục chính từ 2,5 đến 2800 vòng/phút Sản phẩm của hãng đã được xuất khẩu tới hơn 50 quốc gia trên toàn thế giới.
Hình 1.5.Máy tiện mã hiệu 16K20
Cộng hòa Liên bang Đức là một trong những quốc gia hàng đầu trong ngành công nghiệp chế tạo máy, nổi bật với vai trò xuất khẩu máy công cụ Với khoảng 433 hãng sản xuất máy, Đức trung bình sản xuất khoảng 206 nghìn sản phẩm mỗi năm, trong đó máy mài và máy doa chiếm 20,1%, máy tiện CNC 16,2%, máy phay 13,8%, và máy tiện 12,35%.
Từ đầu thế kỷ XIX, ngành công nghiệp Đức đã phát triển mạnh mẽ với nhu cầu cao về máy móc để cơ giới hóa quy trình sản xuất, dẫn đến yêu cầu phải chế tạo máy công cụ có năng suất và chất lượng tốt Để đáp ứng nhu cầu này, công ty Pittler, Ludwiglowe đã nghiên cứu và sản xuất máy tiện Revôle tự động đầu tiên sử dụng phôi phanh Hiện nay, Đức vẫn tiếp tục nghiên cứu và sản xuất máy tiện chất lượng cao, điển hình như hãng OPTIMUM với các mẫu máy tiện vạn năng như OPTI D 320x630, OPTI D 320x630 DPA, và OPTI D 320x920, có đường kính trục chính 38 mm, công suất động cơ 2 HP, và tốc độ trục chính từ 65 đến 1800 vòng/phút.
Hãng PROMA sản xuất các loại máy tiện với mã hiệu SPB400 ROMA, SPB 400 PROMA, SPB550 PROMA, SPA500 PROMA, SPA500P PROMASPA700 PROMA
Máy tiện OPTI D320×920 là một trong những sản phẩm nổi bật tại Nhật Bản, nơi hãng Washino sản xuất các loại máy tiện vạn năng với mã hiệu như LEO-80A, LEO-125A và LE0-19J Những máy này có đường kính trục chính từ 50 đến 54 mm, công suất động cơ 3 HP và tốc độ trục chính từ 50 đến 1500 vòng/phút Bên cạnh đó, hãng TAKISAWA cũng cung cấp các loại máy tiện vạn năng với mã hiệu TLS-130 và TLS-
550, LL-100, LLA-1000, TAC360, TAC800, TAC 510, CTX 300 (hình 1.8) có đường kính trục chính 190 mm, công suất động cơ 3 HP, tốc độ trục chính
Hình1.8.Máy tiện CNC mã hiệu CTX 300
Hãng DEZHOU LONG (Trung Quốc) sản suất các loại máy tiện vạn năng mã hiệu CU580M, CU630/1000, CU630/1500, CU630/2000,
CU630/3000, CU730/1500, CU730/5000, CA 6150B/1000, CA6150B/2000, CA6150B/3000, CW6130B/1500, CW6130/3000…(hình1.9), có đường kính trục chính 50 - 70 mm, công suất động cơ 2.5 – 3.0 HP, tốc độ trục chính từ
Máy tiện vạn năng do hãng ZHENG ZHOU (Trung Quốc) sản xuất có nhiều mã hiệu như FL - 400B, FL - 450B, FL – 500B, FL - 600B, với tốc độ vòng quay từ 70 đến 1400 vòng/phút Các máy này có đường kính trục chính từ 65 đến 80 mm và công suất động cơ từ 6 đến 10 HP, cho phép tốc độ trục chính đạt từ 22 đến 1800 vòng/phút.
Hình1.9.Máy tiện mã hiệuTMM200
Tình hình sản xuất và sử dụng máy tiện ở nhiều quốc gia cho thấy rằng phương pháp gia công chi tiết máy bằng tiện rất phổ biến và được quan tâm sâu sắc Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện ở Nga và các nước có nền công nghiệp phát triển, tập trung vào các hướng nghiên cứu chính liên quan đến công nghệ và ứng dụng của máy tiện.
- Nghiên cứu nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm; -Nghiện cứu hoàn thiện các thông số hình học của dao cắt;
- Nghiên cứu sử dụng các vật liệu mới làm dao cắt;
- Nghiên cứu hoàn thiện chế độ cắt gọt khi gia công các chi tiết…
Một số công trình nghiên cứu điển hình của nước Nga là:
Nghiên cứu của tác giả Anokhina A.H đã chỉ ra rằng việc nâng cao chất lượng bề mặt gia công kim loại khó có thể đạt được bằng cách sử dụng dao cắt làm từ vật liệu sứ có độ cứng 90 HRA Tốc độ cắt tối ưu từ 600 đến 800 m/phút, kết hợp với lượng ăn dao 0.05 - 0.1 mm/vòng và chiều sâu cắt từ 0.15 - 0.25 mm, giúp tăng năng suất đồng thời đảm bảo độ chính xác và chất lượng bề mặt gia công.
Tình hình sử dụng và nghiên cứu máy tiện ở nước ta
Hiện nay, Việt Nam có khoảng 40.000 máy công cụ đang hoạt động, trong đó 30% là máy tiện, đóng vai trò quan trọng trong sản xuất máy móc và thiết bị cho ngành cơ khí Phần lớn máy tiện được sản xuất tại Liên Xô cũ và các nước Đông Âu vào những năm 60-70 của thế kỷ XX, được nhập khẩu dưới dạng viện trợ hoặc vay dài hạn Những máy tiện này nổi bật với độ bền cao, dễ vận hành, sử dụng mạch điện điều khiển bằng rơle và công tắc, cùng với các hộp số và bộ truyền động truyền thống Tuy nhiên, thế hệ máy tiện này thường thiếu hệ thống đo lường tích hợp.
Tại Việt Nam, nhiều loại máy tiện phổ biến được nhập khẩu từ Liên Xô cũ, bao gồm: máy tiện 16K20, 16K20P, và máy tiện 1M63/3000 với đường kính mâm cặp 630 mm, khoảng cách chống tâm 3000 mm, và công suất 14KW Ngoài ra, còn có máy tiện PC3 1020/5000 với đường kính mâm cặp 1020 mm, khoảng cách chống tâm 5000 mm, và công suất 22KW, cùng với máy tiện STANKO 1100/5000 có đường kính mâm cặp 110 mm, khoảng cách chống tâm 5000 mm, và công suất 24KW.
Máy tiện Ý Sui 32, Sui 40, Sui 50 có đường kính mâm cặp từ 150 đến 400 mm, đường kính lỗ trục chính từ 20 đến 50 mm, công suất động cơ từ 4 đến 7,5 Kw, và tốc độ trục chính dao động từ 14 đến 3150 vòng/phút.
Hình 1.11 Máy tiện vạn năng Sui 32
Trong những năm gần đây, máy tiện Đài Loan với mã hiệu DY-410G, DY-480G, DY-510G và FM-1330 đã được nhập khẩu vào Việt Nam Các máy này có đường kính phôi từ 330 mm đến 510 mm, chiều dài chống tâm từ 750 đến 3100 mm, công suất động cơ dao động từ 2.2 đến 5.6 kW, và tốc độ trục chính từ 23 đến 1300 vòng/phút.
Từ thập kỷ 70 của thế kỷ trước, nhà máy cơ khí Hà Nội đã sản xuất máy tiện đầu tiên tại Việt Nam, tiếp tục phát triển các dòng máy tiện như T630, T616, T6M16, T18A với đường kính mâm cặp từ 200 đến 240 mm, đường kính lỗ trục chính từ 30 đến 32 mm, công suất động cơ từ 2.8 đến 4.5 Kw và tốc độ trục chính đạt từ 45 đến 2240 vòng/phút.
Công ty TNHH Minh Toàn tại quận Tân Bình, TP Hồ Chí Minh, chuyên sản xuất máy tiện mang mã hiệu Việt chuẩn như 2m, 4m5, 5m5, với đường kính mâm cặp đạt 240 mm và đường kính lỗ trục chính 100 mm Các máy này có công suất động cơ từ 2.2 Kw và tốc độ trục chính dao động từ 290 đến 600 vòng/phút.
Hình 1.14 Máy tiện vạn năng Việt chuẩn 5m5
Trong những năm gần đây, máy CNC đã trở thành một thế hệ máy công cụ hiện đại với tính năng điều khiển kỹ thuật số, kế thừa ưu điểm của máy truyền thống và sử dụng bộ điều khiển điện tử để tối ưu hóa quá trình điều khiển chuyển động, nâng cao độ chính xác gia công Công nghệ thông tin hỗ trợ thiết kế và lập trình điều khiển cho phép máy CNC gia công các chi tiết phức tạp mà trước đây phải làm thủ công với năng suất và chất lượng thấp Các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam đang dần đầu tư vào thế hệ máy mới này, chủ yếu nhập khẩu từ các quốc gia có nền công nghiệp chế tạo phát triển như Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan Ví dụ, hãng OKUMA (Nhật Bản) cung cấp các máy tiện CNC như GENOS L200, GENOS L250, GENOS L300, GENOS L400 với hệ điều hành FANUC, công suất động cơ 7,5 KW và tốc độ trục chính từ 15 đến 3000 vòng/phút.
Hình1.15.Máy tiện CNC GENOS L200H
Để đáp ứng nhu cầu sản xuất, Việt Nam đã nhập khẩu nhiều loại máy tiện từ các quốc gia khác nhau Việc nghiên cứu và áp dụng hiệu quả máy tiện là cần thiết nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.
Gia công và hạ giá thành sản phẩm là yếu tố quan trọng trong ngành công nghiệp Tuy nhiên, do ảnh hưởng của chiến tranh và kinh phí nghiên cứu hạn chế, nghiên cứu về máy tiện và quá trình gia công kim loại trên máy tiện chỉ được chú trọng trong những năm gần đây tại một số trung tâm nghiên cứu lớn, như các trường đại học và viện nghiên cứu chuyên ngành Hướng nghiên cứu chủ yếu đã được tiến hành trong thời gian qua nhằm cải thiện hiệu quả sản xuất.
Nghiên cứu áp dụng phương pháp gia công mới đó là phương pháp tiện cứng (hard turning)
Khi sản xuất các chi tiết như vòng bi, ổ lăn và vòi phun, quá trình mài thường tốn thời gian và chi phí cao cho dung dịch bôi trơn, đồng thời gây ô nhiễm môi trường Điều này đã thúc đẩy các nhà sản xuất tìm kiếm phương pháp thay thế hiệu quả, trong đó tiện cứng sử dụng dao cắt bằng vật liệu siêu cứng như CBN, PCBN, PCD hoặc gốm tổng hợp đã trở thành lựa chọn ưu việt Phương pháp này cho phép gia công khô mà không cần làm mát, hoàn thành chi tiết trong một lần gá, với độ chính xác đạt IT 5 đến 7 và bề mặt Rz từ 2 đến 4 Tuy nhiên, để áp dụng công nghệ tiện cứng, máy móc, dao và đồ gá cần đảm bảo đủ độ cứng, tốc độ quay trục chính và công suất phù hợp.
Trong nghiên cứu của tác giả Trần Ngọc Giang, mòn và độ bền của dao khi tiện thép 9XC qua tôi đã được phân tích Đề tài đã xác định công thức thể hiện mối quan hệ giữa chế độ cắt và tuổi bền của mảnh dao CBN thông qua hàm hồi quy thực nghiệm, cho phép tối ưu hóa để đạt được tuổi bền lớn nhất Tmax Tuy nhiên, hạn chế của nghiên cứu là kết quả chưa đạt độ tin cậy cao.
18 cậy do mới chỉ nghiên cứu ở một chế độ công nghệ, một kiểu mảnh dao, một loại vật liệu và khoảng độ cứng nhất định
Tác giả Hoàng Minh Phúc trong công trình của mình đã xác định được nhiệt độ tại vùng cắt gọt của dao cắt gắn mảnh hợp kim PCBN khi thực hiện tiện cứng thông qua lý thuyết Tuy nhiên, nghiên cứu này vẫn thiếu các thử nghiệm thực nghiệm để so sánh và kiểm chứng các kết quả lý thuyết đã đưa ra.
Tác giả Hoàng Xuân Tứ đã nghiên cứu ứng dụng phương pháp bôi trơn làm nguội tối thiểu khi tiện tinh thép 9XC có độ cứng từ 55÷60 HRC bằng dao gắn mảnh kim loại cứng CBN Nghiên cứu so sánh giữa bôi trơn làm nguội tối thiểu và gia công khô cho thấy tính ưu việt của phương pháp bôi trơn này qua các chỉ tiêu như chất lượng bề mặt, lượng mòn dao và cơ chế mòn Đặc biệt, dầu thực vật sản xuất trong nước đã được sử dụng để bôi trơn tối thiểu khi tiện cứng thép qua tôi.
Ngoài các công trình đã đề cập, còn nhiều nghiên cứu khác đang được thực hiện tại các trường như Đại học Kỹ thuật Công nghiệp Thái Nguyên, Đại học Lâm Nghiệp, và Đại học Bách khoa Hà Nội.
Nghiên cứu về ảnh hưởng của vận tốc cắt đến cơ chế mòn dụng cụ PCBN khi tiện tinh thép 9XC được thực hiện bởi Nguyễn Thị Thanh Vân (2009) Nguyễn Trọng Anh Tuấn (2009) đã điều tra tác động của loại dung dịch bôi trơn làm nguội tối thiểu đến lực cắt và độ nhám bề mặt khi tiện cứng thép 9XC Ngoài ra, các nghiên cứu như "Tối ưu hoá chế độ cắt" (1992) và "Ảnh hưởng của nhiệt đến chất lượng gia công tiện" của Ngô Ngọc Tân (1995) cũng đã đóng góp quan trọng Phạm Tài Thắng (2005) đã nghiên cứu năng lượng tiêu hao khi tiện thép C45 bằng dụng cụ phủ Titan, trong khi Lê Hồng Thanh (2011) xem xét ảnh hưởng của góc sau, chiều sâu cắt và tốc độ cắt đến chi phí năng lượng riêng và độ nhám bề mặt khi tiện trơn gang trên máy tiện EER1330.
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu
Bài viết này tập trung vào việc xác định mối quan hệ giữa chiều sâu cắt, lượng ăn dao và tốc độ cắt với công suất cắt khi tiện trơn thép C45 trên máy tiện EER-1330 Mục tiêu là tìm ra giá trị hợp lý cho các yếu tố này nhằm đảm bảo công suất cắt tối thiểu trong khi vẫn đạt được năng suất cao.
2.2 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
Do thời gian nghiên cứu có hạn, đề tài giới hạn đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu cụ thể sau:
Máy tiện EER1330, thiết bị gia công vạn năng sản xuất tại Đài Loan, được sử dụng trong nghiên cứu Đây là loại máy tiện phổ biến trong các công ty có quy mô sản xuất vừa và nhỏ tại Việt Nam.
Nội dung nghiên cứu tập trung vào vật liệu phổ biến trong ngành cơ khí, cụ thể là thép C45 Đối với dao tiện, loại dao được chọn là thép hợp kim dụng cụ 9XC, có độ cứng từ 62 đến 64 HRC.
Đề tài nghiên cứu tập trung vào ảnh hưởng của các yếu tố như chiều sâu cắt, lượng ăn dao và tốc độ cắt đến công suất cắt khi tiện trơn thép C45 trên máy tiện EER1330.
Nội dung nghiên cứu lý thuyết cần giải quyết các vấn đề sau:
- Nguyên lý cấu tạo và hoạt động của máy tiện
- Các yếu tố ảnh hưởng đến công suất cắt khi tiện trên máy tiện EER1330
Nghiên cứu thực nghiệm để kiểm nghiệm các kết quả tính theo lý
Bài viết trình bày 21 thuyết và phương pháp xác định công suất cắt khi tiện trơn thép trục Dựa trên các kết quả thu được, chúng tôi sẽ lựa chọn thông số hợp lý và xác định thông số kỹ thuật của máy tiện EER-1330 khi thực hiện tiện trơn thép C45.
Nội dụng nghiên cứu thực nghiệm bao gồm các vấn đề sau:
- Xác định công suất cắt cho một số chế độ cắt khác nhau ứng với loại kim loại là thép C45
- Xác định công suất cắt ứng với các thông số khác nhau của máy tiện EER-1330 khi tiện trơn thép C45
- Xác định công suất cắt khi vận hành EER1330 với các thông số hợp lý của góc cắt chính của dao cắt, lượng ăn dao, tốc độ cắt
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết nhằm xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
Phương pháp kế thừa là cách tiếp cận thông qua việc tổng quan nghiên cứu, nhằm tìm hiểu và thu thập các kết quả nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực đề tài cả ở Việt Nam và trên thế giới.
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm sử dụng qui hoạch thực nghiệm, một phương pháp nghiên cứu mới với vai trò quan trọng của toán học Cơ sở lý thuyết của qui hoạch thực nghiệm dựa trên toán thống kê, tập trung vào hai lĩnh vực chính là phân tích phương sai và phân tích hồi quy.
2.5 Nội dung và phương pháp luận của phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
Nội dung của nghiên cứu thực nghiệm bao gồm việc xác định mục tiêu thực nghiệm, lựa chọn tham số điều khiển cùng với khoảng biến động của chúng, chọn thiết bị đo phù hợp, tiến hành công tác chuẩn bị và thực hiện các thí nghiệm đơn yếu tố cũng như đa yếu tố.
2.5.1 Chọn mục tiêu thực nghiệm
- Mục tiêu của thực nghiệm là công suất cắt
2.5.2 Chọn tham số điều khiển
- Tham số điều khiển được chọn là chiều sâu cắt, lượng ăn dao, tốc độ cắt
- Đo công suất tiêu thụ bằng thiết bị FRUKE 41B do Mỹ sản xuất có độ chính xác
- Đo thời gian bằng đồng hồ bấm giây TIAN FU PC894 với độ chính xác 0,01S
- Đo đường kính bằng thước kẹp có độ chính xác 0,01mm
- Đo tốc độ bằng đồng hồ đo tốc độ mã hiệu HT-3100 do Nhật bản sản xuất có độ chính xác 0,01s
2.5.4.Tiến hành công tác chuẩn bị
Trước khi tiến hành thí nghiệm, cần chuẩn bị kỹ lưỡng bằng cách kiểm tra tình trạng kỹ thuật của máy móc, tra dầu mỡ, chuẩn bị phôi và hiệu chỉnh các công cụ đo Ngoài ra, cần kiểm tra điện thế; nếu không ổn định, không nên thực hiện thí nghiệm.
Tiến hành thí nghiệm thăm dò để xác định qui luật phân bố của đại lượng nghiên cứu, từ đó khái quát hoá thành phân bố lý thuyết gọi là phân bố thực nghiệm Việc xây dựng các phân bố thực nghiệm là nhiệm vụ quan trọng nhằm phát hiện qui luật phân bố khách quan trong tổng thể Để thực hiện điều này, cần sắp xếp các trị số quan sát được theo một trật tự nhất định và thống kê các phần tử trong những khoảng xác định Cuối cùng, để lập phân bố thực nghiệm, cần chia tổ ghép nhóm các trị số thu thập được theo công thức kinh nghiệm của Brooks và Carruther.
Trong đó: a- Số tổ được chia; k- Cự ly tổ; x max , x min - trị số thu thập lớn nhất, bé nhất của đại lượng nghiên cứu
Xác định các đặc trưng của phân bố thực nghiệm:
Sai số trung bình mẫu:
Sai tiêu chuẩn: trường hợp mẫu lớn (n>30):
Phương sai mẫu là bình phương sai tiêu chuẩn: S 2
Phạm vi biến động: R= xmax-xmin (2.7) Độ lệch: Sk= (2.8)
Nếu S k =0, thì phân bố là đối xứng;
Sk>0 thì đỉnh đường cong lệch trái so với số trung bình;
Sk0 thì đỉnh đường cong nhọn so với phân bố chuẩn
Khi Ex30):
Phương sai mẫu là bình phương sai tiêu chuẩn: S 2
Phạm vi biến động: R= xmax-xmin (2.7) Độ lệch: Sk= (2.8)
Nếu S k =0, thì phân bố là đối xứng;
Sk>0 thì đỉnh đường cong lệch trái so với số trung bình;
Sk0 thì đỉnh đường cong nhọn so với phân bố chuẩn
Khi giá trị Ex thì ảnh hưởng của các thông số vào là đáng kể
2.5.6.3 Xác định mô hình thực nghiệm đơn yếu tố để tiến hành các phân tích và dự báo cần thiết
Nhờ vào sự hỗ trợ của máy tính và dữ liệu thu thập, chúng ta có thể xây dựng phương trình tương quan giữa chỉ tiêu đầu ra và các yếu tố đầu vào ảnh hưởng thông qua mô hình hồi quy.
2.5.6.4 Kiểm tra tính tương thích của mô hình hồi quy
Phép kiểm tra này thực chất là so sánh phương sai tuyển chọn tạo
Sự chênh lệch giữa các giá trị hàm tính theo mô hình và giá trị thực nghiệm được đánh giá thông qua phương sai do nhiễu tạo nên, theo tiêu chuẩn Fisher.