Lý do nghiên cứu
Cạnh tranh là yếu tố thiết yếu cho sự tồn tại và phát triển trên thị trường, đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng, nơi áp lực cạnh tranh ngày càng gia tăng Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển kinh tế của Việt Nam, các ngân hàng đang phải đối mặt với nhiều thách thức mới Để thích ứng, các ngân hàng cần tập trung vào phát triển và hoàn thiện hoạt động của mình, đồng thời áp dụng các công cụ hiện đại trong quản lý Xu hướng cạnh tranh đang chuyển từ mức độ nội địa sang toàn cầu, đòi hỏi sự linh hoạt và sáng tạo trong chiến lược kinh doanh.
Ngân hàng bán lẻ đang ngày càng trở thành một phần quan trọng trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng tại Việt Nam Với dân số hơn 90 triệu người, trong đó hơn 50% thuộc độ tuổi lao động nhưng chưa sử dụng nhiều dịch vụ ngân hàng, thị trường này mang lại tiềm năng lớn cho phát triển ngân hàng bán lẻ Để duy trì và mở rộng thị phần, các ngân hàng cần tập trung vào việc cung cấp dịch vụ bán lẻ cho cá nhân, hộ gia đình và doanh nghiệp vừa và nhỏ, những đối tượng đang thiếu hụt dịch vụ tài chính Việc mở rộng hoạt động bán lẻ không chỉ giúp các ngân hàng tiếp cận thị trường lớn hơn mà còn gia tăng hiệu quả kinh tế thông qua doanh thu cao và phân tán rủi ro Mặc dù cần đầu tư ban đầu cho công nghệ và quảng bá, nhưng lợi ích lâu dài từ ngân hàng bán lẻ hứa hẹn sẽ mang lại nguồn thu lớn và giảm thiểu rủi ro, đặc biệt là đối với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi Nhánh Bình Tân (BIDV Bình Tân).
BIDV Bình Tân nhận thức rõ tầm quan trọng của việc phát triển ngân hàng bán lẻ trong bối cảnh kinh tế thị trường mở hiện nay Ngân hàng đã không ngừng đổi mới và tìm kiếm cơ hội để khẳng định vị thế là ngân hàng bán lẻ số 1 tại Việt Nam Trong bối cảnh đó, tác giả chọn đề tài "Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng bán lẻ của ngân hàng TMCP Đầu Tư Và Phát Triển Việt Nam – Chi nhánh Bình Tân đến năm 2025" Nghiên cứu này sẽ cung cấp luận cứ cho các nhà quản lý BIDV Bình Tân trong việc xây dựng các chính sách quản trị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng bán lẻ tại chi nhánh.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát là đề xuất các giải pháp định hướng và khả thi nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng bán lẻ tại BIDV Bình Tân.
+ Hệ thống hóa các lý luận cơ bản về hoạt động NHBL và năng lực cạnh tranh tại các NHTM
+ Phân tích, đánh giá thực trạng NLCT trong hoạt động NHBL của BIDV Bình Tân
+ Đưa ra giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao NLCT trong hoạt động NHBL tại BIDV Bình Tân đến năm 2025.
Câu hỏi nghiên cứu
Để giải quyết các mục tiêu nghiên cứu, luận văn cần trả lời 3 câu hỏi nghiên cứu sau:
Các yếu tố nào tác động đến năng lực cạnh tranh trong hoạt động NHBL? Năng lực cạnh tranh trong hoạt động NHBL của BIDV như thế nào?
Giải pháp nào để nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động NHBL tại BIDV?
ối tượng và phạm vi nghiên cứu
+ Các hoạt động NHBL đang được triển khai tại BIDV Bình Tân từ khi thành lập cho đến nay
Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh (NLCT) trong hoạt động ngân hàng bán lẻ (NHBL) tại BIDV Bình Tân bao gồm chất lượng dịch vụ, công nghệ, và chiến lược marketing BIDV Bình Tân phải đối mặt với sự cạnh tranh từ các ngân hàng khác trong khu vực như Sacombank, Vietinbank, Techcombank, ACB, và MB, điều này đòi hỏi ngân hàng cần cải thiện liên tục để giữ vững vị thế trên thị trường.
Phạm vi nghiên cứu về không gian: Nghiên cứu được thực hiện tại BIDV
Phạm vi nghiên cứu về thời gian:
Số liệu thứ cấp: được thu thập trong giai đoạn 2016 – 30/06/2019
Dữ liệu sơ cấp được thu thập từ kết quả khảo sát trong năm 2019, với đối tượng khảo sát bao gồm khách hàng giao dịch, nhân viên và lãnh đạo quản lý tại doanh nghiệp.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua thảo luận nhóm tập trung với 10 nhân viên và lãnh đạo quản lý tại chi nhánh BIDV Bình Tân, nhằm điều chỉnh và bổ sung thang đo năng lực công tác (NLCT) trong hoạt động ngân hàng bán lẻ (NHBL) cho phù hợp.
Nghiên cứu định lượng được thực hiện thông qua phỏng vấn khách hàng sử dụng dịch vụ tại BIDV Bình Tân, cùng với nhân viên và lãnh đạo chi nhánh, bằng cách sử dụng bảng câu hỏi chi tiết Bảng câu hỏi được thiết kế dựa trên lý thuyết và các mô hình nghiên cứu trước đó để thu thập thông tin cần thiết Độ kết dính của các thành phần thang đo được kiểm tra bằng hệ số Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố EFA Cuối cùng, phương pháp phân tích hồi quy tuyến tính được áp dụng để xác định các nhân tố cấu thành NLCT trong hoạt động NHBL và đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố này.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn khoa học và hệ thống về hoạt động Ngân hàng Bán lẻ (NHBL), đồng thời phân tích năng lực cạnh tranh của BIDV Bình Tân trong lĩnh vực này.
Nghiên cứu đã chỉ ra thực trạng năng lực cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng bán lẻ, bao gồm những kết quả đạt được và các hạn chế cần khắc phục Đồng thời, nghiên cứu cũng đề xuất những giải pháp thiết thực và kịp thời nhằm duy trì và nâng cao năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực này.
Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của đề tài bao gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan
Chương 2 phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh (NLCT) trong hoạt động ngân hàng bán lẻ (NHBL) tại BIDV Bình Tân, nhấn mạnh những điểm mạnh và yếu hiện tại Chương 3 đề xuất các giải pháp triển vọng và kế hoạch thực hiện nhằm nâng cao NLCT trong hoạt động NHBL tại BIDV Bình Tân, tập trung vào việc cải thiện dịch vụ khách hàng, ứng dụng công nghệ và phát triển sản phẩm mới.
Ơ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
Lý thuyết về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng 5 1 Khái niệm về cạnh tranh
1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh
Cạnh tranh là một khái niệm quan trọng trong kinh tế, đặc trưng cho nền kinh tế sản xuất hàng hóa với nhiều cách hiểu khác nhau Theo P.A Samuelson và W.D.Nordhaus (1948), cạnh tranh được định nghĩa là sự kình địch giữa các doanh nghiệp nhằm thu hút khách hàng và chiếm lĩnh thị trường Trong khi đó, Michael Porter (1990) nhấn mạnh rằng cạnh tranh liên quan đến việc giành lấy thị phần và bản chất của nó là tìm kiếm lợi nhuận cao hơn mức trung bình mà doanh nghiệp đang đạt được.
Cạnh tranh là một chủ đề được nhiều học giả nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, hai cách tiếp cận phổ biến nhất hiện nay theo Michael Porter.
Cạnh tranh trong kinh doanh, theo định nghĩa của nhiều nguồn, là quá trình giành lấy thị phần và tìm kiếm lợi nhuận cao hơn mức trung bình Nó được xem là hoạt động tranh đua giữa các nhà sản xuất, thương nhân và doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, chịu ảnh hưởng bởi quan hệ cung - cầu Kết quả của cạnh tranh không chỉ dẫn đến sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành mà còn có thể làm giảm giá cả, tạo ra những điều kiện sản xuất và tiêu thụ thuận lợi hơn cho các bên tham gia.
1.1.2 Khái niệm về năng lực cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, theo Nguyễn Bách Khoa (2004), là sự tích hợp các khả năng và nguồn lực nội tại nhằm duy trì và phát triển thị phần, lợi nhuận cũng như xác định những ưu thế cạnh tranh so với các đối thủ trực tiếp và tiềm tàng trong một thị trường mục tiêu cụ thể.
Năng lực cạnh tranh (NLCT) của doanh nghiệp được hiểu là khả năng giành thắng lợi trong cuộc cạnh tranh trên thị trường tiêu thụ, theo định nghĩa của Từ điển Bách khoa Việt Nam (2014) Một sản phẩm có NLCT sẽ thu hút được nhiều người mua hơn so với các sản phẩm tương tự NLCT phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giá trị sử dụng, chất lượng sản phẩm, điều kiện sản xuất ổn định nhờ vào công nghệ tiên tiến và quy mô sản xuất lớn, từ đó giúp giảm giá thành và giá bán Ngoài ra, yếu tố xã hội như uy tín trên thị trường, quảng cáo và hướng dẫn tiêu dùng cũng đóng vai trò quan trọng Một số nhà sản xuất còn áp dụng hình thức bán hàng trả góp để thúc đẩy tiêu dùng và tăng cường NLCT.
1.1.3 Quan niệm về năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng
Cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng có những đặc điểm chung với cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cung ứng dịch vụ, nhưng cũng có những khác biệt do bản chất của ngân hàng là tổ chức kinh doanh tiền, một loại hàng hóa đặc biệt Trong ngành tài chính ngân hàng, có nhiều khái niệm liên quan đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại.
Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại (NHTM) được định nghĩa bởi Nguyễn Thanh Phong (2010) là khả năng mà ngân hàng tự tạo ra, dựa trên việc duy trì và phát triển những lợi thế vốn có Mục tiêu của năng lực này là củng cố và mở rộng thị phần, gia tăng lợi nhuận, đồng thời giúp ngân hàng có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động bất lợi trong môi trường kinh doanh.
Trong nghiên cứu này, năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại (NHTM) được định nghĩa theo Nguyễn Văn Thụy (2015) là khả năng sử dụng và phối hợp các nguồn lực nhằm duy trì và tạo ra lợi thế so với đối thủ cạnh tranh, đồng thời đạt được các mục tiêu trong môi trường kinh doanh biến đổi.
Lý thuyết về hoạt động ngân hàng bán lẻ
Theo Jean Paul Votron (2007), bán lẻ là một vấn đề quan trọng trong phân phối, bao gồm các hoạt động như tìm hiểu, xúc tiến, nghiên cứu, thử nghiệm và phát triển các kênh phân phối hiện đại, đặc biệt là kinh doanh qua mạng Dịch vụ bán lẻ được chia thành ba lĩnh vực chính: thị trường, các kênh phân phối và dịch vụ, nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng một cách hiệu quả.
Hiện nay, chưa có sự thống nhất trong việc định nghĩa dịch vụ ngân hàng bán lẻ (NHBL), với các khái niệm thường phụ thuộc vào đối tượng khách hàng hoặc loại hình dịch vụ cung ứng Luật các Tổ chức tín dụng Việt Nam năm 2010 và Luật sửa đổi năm 2017 cũng không cung cấp định nghĩa rõ ràng về dịch vụ NHBL, chỉ đề cập đến hoạt động ngân hàng tại Khoản 12, Điều 4 của Luật các Tổ chức tín dụng.
Theo Từ điển Tài chính - Đầu tư - Ngân hàng - Kế toán Anh Việt (1999), dịch vụ ngân hàng bán lẻ (Retail Banking) là các dịch vụ ngân hàng dành cho khách hàng cá nhân, thường có quy mô nhỏ và được thực hiện qua các chi nhánh Điều này khác biệt với dịch vụ ngân hàng bán buôn, vốn phục vụ cho các định chế tài chính và cung cấp dịch vụ với số lượng lớn.
Theo Nguyễn Đại lai (2007) [7] thì:
Dịch vụ NHBL cung cấp tiện ích và tín dụng ngân hàng trực tiếp cho người tiêu dùng, phục vụ cho cả sản xuất và sinh hoạt Đối tượng khách hàng của dịch vụ này rất đa dạng, bao gồm công dân, các ngân hàng nhỏ và vừa, cũng như các dịch vụ ngân hàng phi tín dụng cho các tập đoàn và ngân hàng lớn.
Theo cách hiểu phổ biến, NHBL cung cấp sản phẩm và dịch vụ tài chính chủ yếu cho cá nhân và hộ gia đình.
Từ những định nghĩa đã được nêu bên trên, chúng ta có thể khái quát lại khái niệm về dịch vụ NHBL như sau:
Dịch vụ NHBL cung cấp các dịch vụ ngân hàng và sản phẩm tài chính chủ yếu cho cá nhân, hộ gia đình và doanh nghiệp vừa và nhỏ, góp phần hỗ trợ hoạt động tài chính trong xã hội.
1.2.2 Các sản phẩm dịch vụ ngân hàng bán lẻ
Các sản phẩm dịch vụ ngân hàng bán lẻ bao gồm các hoạt động ngân hàng dành cho cá nhân, hộ gia đình và doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Theo Nguyễn Trọng Tài (2008) [11] thì sản phẩm, dịch vụ NHBL tương đối đa dạng gồm:
- Nhóm sản phẩm huy động
Tài khoản ngân hàng và các dịch vụ đi kèm như trả lương, thanh toán dịch vụ hàng tháng (ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi, ATM, thấu chi, thanh toán tiền điện, nước, điện thoại) đã đóng vai trò quan trọng trong ngành ngân hàng Sự ra đời của tài khoản giao dịch không chỉ nâng cao hiệu quả thanh toán mà còn giúp các giao dịch ngân hàng trở nên nhanh chóng, thuận tiện và an toàn hơn.
Dịch vụ tiết kiệm là một sản phẩm ngân hàng giúp khách hàng tích lũy tài chính và sinh lời trong thời gian dài, từ vài tuần đến nhiều năm Các hình thức tiết kiệm phổ biến bao gồm tiết kiệm không kỳ hạn, có kỳ hạn, và các loại tiết kiệm bằng vàng, USD, hoặc VND.
Dịch vụ quản lý vốn tập trung giúp các doanh nghiệp có nguồn thu từ nhiều tài khoản khác nhau trong cùng hệ thống tự động chuyển số dư vượt mức quy định về tài khoản tập trung Tài khoản này không chỉ tập hợp vốn mà còn sinh lời với lãi suất thấp, tối ưu hóa hiệu quả tài chính cho doanh nghiệp.
- Nhóm sản phẩm đầu tư
Mở tài khoản đầu tư tự động giúp doanh nghiệp tối ưu hóa lợi nhuận từ số dư tài khoản tiền gửi thanh toán Khi số dư vượt quá mức quy định, số tiền dư thừa sẽ tự động chuyển sang tài khoản đầu tư để hưởng lãi suất cao hơn Ngược lại, nếu số dư tài khoản thanh toán thiếu, số tiền sẽ được chuyển từ tài khoản đầu tư về tài khoản thanh toán Dịch vụ này được các doanh nghiệp ưa chuộng vì mang lại lợi ích tài chính rõ rệt.
Quỹ tương hỗ và trợ cấp là lựa chọn đầu tư hấp dẫn cho những ai muốn tối đa hóa lợi nhuận từ tài khoản tiền gửi có lãi suất thấp Nhiều khách hàng đã chuyển hướng sang các sản phẩm đầu tư, đặc biệt là quỹ tương hỗ, nơi có các chương trình đầu tư được quản lý chuyên nghiệp, bao gồm trái phiếu, cổ phiếu và chứng khoán.
- Đối với nhóm sản phẩm cho vay gồm:
Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh quy mô nhỏ nhằm hỗ trợ vốn cho cá nhân, hộ gia đình và doanh nghiệp vừa, nhỏ Để được vay, khách hàng cần có tài sản thế chấp, chứng minh tình hình kinh doanh ổn định và có phương án kinh doanh hiệu quả.
Cho vay tiêu dùng đang trở thành một trong những hình thức tín dụng phát triển nhanh chóng, với nhiều loại hình đa dạng như cho vay mua nhà thế chấp, cho vay không thế chấp (bao gồm cho vay trả góp và trả một lần), cho vay theo thẻ tín dụng và cho vay tín chấp.
- Đối với nhóm sản phẩm thu phí:
+ Dịch vụ ủy thác quản lý tài sản
+ Môi giới đầu tư chứng khoán
- Các loại dịch vụ khác gồm: Chiết khấu thương phiếu và cho vay thương mại, Dịch vụ bảo quản và ký gửi, dịch vụ lữ hành, bảo hiểm
1.2.3 Vai trò của hoạt động ngân hàng bán lẻ
Theo Đào Lê Kiều Oanh (2012), dịch vụ ngân hàng bán lẻ (NHBL) không chỉ mang lại lợi ích cho nhà cung cấp dịch vụ mà còn cho khách hàng, góp phần vào sự phát triển bền vững của toàn xã hội và nền kinh tế Ngành tài chính – ngân hàng, với dịch vụ NHBL là một trong những yếu tố quan trọng, đóng góp tích cực vào sự tăng trưởng kinh tế.
1.2.3.1 Đối với nền kinh tế - xã hội
Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng bán lẻ của NHTM
1.3.1 Các công trình nghiên cứu trước có liên quan
1.3.1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Nghiên cứu của tác giả Thompson, Strickland & Gmable (2007) [50]
Nghiên cứu của Thompson, Strickland & Gmable (2007) đã xác định 10 yếu tố chính cấu thành năng lực cạnh tranh tổng thể của doanh nghiệp, bao gồm: hình ảnh thương hiệu, công nghệ, mạng lưới phân phối, khả năng phát triển, sản phẩm, chi phí sản xuất, dịch vụ khách hàng, nguồn nhân lực, tình hình tài chính và trình độ quảng cáo.
Nghiên cứu của tác giả Aboagye – Debrah (2007) [25]
Về ngữ cảnh nghiên cứu: Tác giả Aboagye – Debrah (2007) thực hiện tình hình cạnh tranh, tăng trưởng và hiệu quả của ngành ngân hàng tại Ghana
Tác giả Aboagye – Debrah (2007) đã áp dụng mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Porter để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thị phần cho vay, huy động vốn và mức độ tập trung thị trường trong ngành ngân hàng Các yếu tố này bao gồm sức mạnh của nhà cung cấp, nguy cơ từ các sản phẩm thay thế, và các rào cản gia nhập thị trường.
(4) Sức mạnh khách hàng; (5) Mức độ cạnh tranh
Aboagye – Debrah (2007) đã áp dụng phương pháp nghiên cứu định tính để đánh giá năng lực cạnh tranh và kết quả kinh doanh của ngành ngân hàng tại Ghana, dựa trên các tiêu chí tài chính.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng sự gia tăng quy mô tài sản ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh (NLCT) và hiệu quả kinh doanh của ngân hàng Tuy nhiên, nghiên cứu này có hạn chế khi chỉ đánh giá NLCT và kết quả kinh doanh dựa trên các tiêu chí tài chính mà không xem xét các nguồn lực khác.
Nghiên cứu của tác giả Arnis Sauka (2015) [28]
Về ngữ cảnh nghiên cứu: Tác giả Arnis Sauka (2015) thực hiện nghiên cứu đo lường NLCT của các công ty ở Latvia
Tác giả Arnis Sauka (2015) đã áp dụng mô hình nghiên cứu của Man et al (2002) và McKelvie & Davidsson (2009) để kiểm định tại thị trường Latvia, xác định 7 nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh cấp công ty Những nhân tố này bao gồm: (1) Năng lực tiếp cận các nguồn lực; (2) Năng lực làm việc của nhân viên; (3) Nguồn lực tài chính; (4) Chiến lược kinh doanh; (5) Tác động của môi trường; (6) Năng lực kinh doanh so với đối thủ; và (7) Sử dụng các mạng lưới thông tin liên lạc.
Về phương pháp nghiên cứu: Arnis Sauka (2015) đã sử dụng phương pháp định lượng thông qua khảo sát 410 đáp viên là các chủ doanh nghiệp tại Latvia
Nghiên cứu đã xác định 7 nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh (NLCT) cấp công ty, bao gồm: năng lực tiếp cận nguồn lực, năng lực làm việc của nhân viên, nguồn lực tài chính, chiến lược kinh doanh, tác động của môi trường, năng lực kinh doanh so với đối thủ, và việc sử dụng các mạng lưới thông tin liên lạc Tuy nhiên, nghiên cứu gặp nhược điểm khi chỉ sử dụng phương pháp thống kê và đưa ra nhận xét dựa trên giá trị trung bình, mà không làm rõ mối quan hệ giữa các yếu tố này với NLCT của ngân hàng Kết quả nghiên cứu được đánh giá trong bối cảnh các công ty tại Latvia mà không phân biệt lĩnh vực hoạt động, do đó có thể hạn chế khi áp dụng vào các quốc gia có nền kinh tế phát triển hoặc các ngành nghề khác.
Nghiên cứu của tác giả H.E Givi, A Ebrahimi, M.B Nasrabadi & H
Các tác giả A Ebrahimi, M.B Nasrabadi và H Safari (2010) đã sử dụng mô hình CFA (Phân tích nhân tố xác nhận) của Joreskog và Sửrbom (1989) để đề xuất một mô hình đo lường năng lực cạnh tranh (NLCT) cho ngân hàng tư nhân và ngân hàng thương mại nhà nước tại Iran.
Theo nghiên cứu của A Ebrahimi, M.B Nasrabadi và H Safari (2010), có năm yếu tố chính ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh (NLCT) của các ngân hàng thương mại (NHTM) tại Iran, bao gồm: năng lực tiếp cận các nguồn lực, năng lực làm việc của nhân viên, nguồn lực tài chính, năng lực về thị phần và marketing, cũng như dịch vụ thanh toán quốc tế.
Các tác giả A Ebrahimi, M.B Nasrabadi và H Safari (2010) đã áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua việc khảo sát giáo viên đại học, khách hàng và chuyên gia ngân hàng tại Iran.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có 5 nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh (NLCT) của các ngân hàng thương mại (NHTM) tại Iran, trong đó nhân tố đầu tiên là năng lực tiếp cận các nguồn lực.
Năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại (NHTM) tại Iran chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, trong đó "năng lực tài chính" được xác định là yếu tố tác động mạnh nhất Bài nghiên cứu đã đề xuất một mô hình đo lường năng lực cạnh tranh, giúp các ngân hàng đánh giá vị trí hiện tại và xây dựng kế hoạch phát triển trong tương lai Các yếu tố chính bao gồm năng lực làm việc của nhân viên, nguồn lực tài chính, năng lực về thị phần và marketing, cũng như dịch vụ thanh toán quốc tế.
Hình 1.1 Kết quả mô hình nghiên cứu của A Ebrahimi, M.B Nasrabadi & H Safari
Nghiên cứu của các tác giả William B Francis Sebastian J A de-Ramon,
In their 2018 study, authors William B Francis, Sebastian J.A de-Ramon, and Michael Straughan examine the competitive capabilities of major banks in the UK.
Mô hình nghiên cứu của các tác giả William B Francis, Sebastian J A de-Ramon và Michael Straughan (2018) tập trung vào mối quan hệ giữa năng lực của ngân hàng và khả năng cạnh tranh của ngân hàng Cụ thể, mô hình này được thể hiện qua công thức: Năng lực của ngân hàng𝑖 , 𝑡 = 𝛼 + 𝛽 Khả năng cạnh tranh𝑡 + Φ𝑋𝑖 , 𝑡 + Θ𝑌𝑡 + 𝜇𝑖 + 𝜀𝑖,𝑡.
Các tác giả William B Francis, Sebastian J A de-Ramon và Michael Straughan (2018) đã áp dụng phương pháp định lượng để nghiên cứu mối quan hệ giữa tính cạnh tranh và năng lực của các ngân hàng thương mại tại Anh, sử dụng dữ liệu bảng từ giai đoạn 1994 đến 2013.
Nghiên cứu chỉ ra rằng năng lực cạnh tranh (NLCT) của các ngân hàng thương mại (NHTM) tại Anh bị ảnh hưởng bởi các yếu tố vĩ mô như GDP, lạm phát và tỷ lệ thất nghiệp, cùng với các yếu tố ngân hàng như chỉ số lãi từ dịch vụ trên tổng thu từ lãi, quy mô ngân hàng và tỷ lệ nợ vay Để nâng cao NLCT, các ngân hàng cần tập trung vào năng lực marketing, giảm lãi suất cho vay, và cải thiện tình hình tài chính Nghiên cứu cũng nhấn mạnh rằng các ngân hàng có năng lực tài chính yếu kém sẽ có NLCT thấp, vì vậy cần tăng cường nguồn vốn và lợi nhuận để cải thiện NLCT.
1.3.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Nghiên cứu của ặng Hữu Mẫn (2010) [2]
Về ngữ cảnh nghiên cứu: Đặng Hữu Mẫn (2010) nghiên cứu đánh giá đúng thực trạng NLCT của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2006 - 2009