1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ tác động của CSR đến sự đổi mới và kết quả hoạt động của doanh nghiệp trường hợp tại các siêu thị

119 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 1,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì những lý do đó, cùng với việc kết hợp lý thuyết khoa học, tác giả quyết định chọn đề tài “Tác động của CSR đến sự đổi mới và kết quả hoạt động của doanh nghiệp: Trường hợp tại c

Trang 1

Tôi xin cam đoan luận văn “TÁC ĐỘNG CỦA CSR ĐẾN SỰ ĐỔI MỚI VÀ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP - TRƯỜNG HỢP TẠI CÁC SIÊU THỊ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH” là do bản thân tôi thực hiện dưới sự

hướng dẫn của Tiến sĩ Nguyễn Thị Bích Châm

Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn hoàn toàn trung thực Nội dung luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào Các tài liệu tham khảo

và trích dẫn đều được chú thích và ghi rõ nguồn gốc

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính pháp lý trong quá trình nghiên cứu khoa học của luận văn này

TP.Hồ Chí Minh, ngày tháng 05 năm 2019

Người thực hiện luận văn

Nguyễn Quỳnh Bảo Ngân

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

TÓM TẮT LUẬN VĂN

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1

1.1 Sự cần thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 5

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 5

1.4 Phương pháp nghiên cứu 6

1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

1.5.1 Đối tượng nghiên cứu và đối tượng khảo sát 6

1.5.2 Phạm vi nghiên cứu 7

1.6 Ý nghĩa khoa học của đề tài 7

1.1 Kết cấu của luận văn 8

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 9

2.1 Các khái niệm nghiên cứu 9

2.1.1 CSR (trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp) 9

2.1.2 Sự đổi mới 11

2.1.3 Kết quả hoạt động của doanh nghiệp 12

2.2 Tổng quan các nghiên cứu trước có liên quan đến vấn đề nghiên cứu 14

2.3 Các đặc điểm hoạt động của siêu thị trên địa bàn TP.HCM 17

Trang 3

2.4.3 Mối quan hệ giữa CSR và kết quả hoạt động của doanh nghiệp 24

2.4.4 Mô hình nghiên cứu 24

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

3.1 Quy trình nghiên cứu 26

3.2 Nghiên cứu định tính 27

3.3 Nghiên cứu định lượng chính thức 30

3.3.1 Chọn mẫu và đối tượng khảo sát 31

3.3.2 Xử lý và phân tích dữ liệu định lượng 32

3.3.2.1 Kiểm tra độ tin cậy của thang đo 32

3.3.2.2 Phân tích nhân tố khám phá (EFA) 32

3.3.2.3 Phân tích nhân tố khẳng định (CFA) 33

3.3.2.4 Kiểm định kết quả mô hình cấu trúc (S.E.M) 33

3.3.2.5 Kiểm định bootstrap 33

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35

4.1 Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu 35

4.2 Kiểm định thang đo thông qua Cronbach’s Alpha 37

4.3 Phân tích nhân tố khám phá (Exploratory Factor Analysis) 40

4.4 Phân tích nhân tố khẳng định (CFA) 45

4.5 Mô hình cấu trúc S.E.M 46

4.6 Kiểm định bootstrap 50

4.7 Thảo luận kết quả nghiên cứu 51

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ CỦA ĐỀ TÀI 55

5.1 Kết luận 55

5.2 Hàm ý quản trị 56

Trang 5

CFA (Confirmatory Factor Analysis): Phân tích nhân tố khẳng định

CR: Độ tin cậy tổng hợp

CSR: trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

EFA (Exploratory Factor Analysis): Phân tích nhân tố khám phá

ER: Trách nhiệm môi trường

FP: Kết quả hoạt động của doanh nghiệp

OI: Sự đổi mới

R&D: nghiên cứu và phát triển

RC: CSR đối với khách hàng

RE: CSR đối với nhân viên

RLC: CSR đối với cộng đồng địa phương

ROA: hệ số thu nhập trên tài sản

RS: CSR đối với nhà cung cấp

Saigon Co.op: Liên hiệp Hợp tác xã Thương mại Thành phố Hồ Chí Minh SEM (Structural Equation Modelling): Mô hình phương trình cấu trúc

Trang 6

Vietnam Report: Công ty cổ phần Báo cáo đánh giá Việt Nam World Bank: Ngân hàng Thế giới

Trang 7

Bảng 2.1 - Thống kê các siêu thị tại TP.HCM 18

Bảng 3.1 – Ý nghĩa tỷ lệ đồng thuận 30

Bảng 3.2 – Thống kê số siêu thị và mẫu khảo sát 31

Bảng 4.1 – Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu 36

Bảng 4.2 – Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha 38

Bảng 4.3 – Kết quả phân tích EFA 41

Bảng 4.4 – Bảng Communalities trong phân tích EFA 41

Bảng 4.5 – Bảng Total Variance Explained trong phân tích EFA 42

Bảng 4.6 – Bảng Pattern Matrix trong phân tích EFA 43

Bảng 4.7 – Độ tin cậy và phương sai trích trong CFA 46

Bảng 4.8 – Bảng Regression Weights trong S.E.M 48

Bảng 4.9 – Bảng Standardized Regression Weights trong S.E.M 49

Bảng 4.10 – Kết quả chính trong kiểm định bootstrap 51

Trang 8

Hình 2.1 - Mô hình nghiên cứu 25 Hình 4.1 – Kết quả về độ phù hợp của mô hình CFA 45 Hình 4.2 – Kết quả mô hình cấu trúc S.E.M 47

Trang 9

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Đề tài được thực hiện trong bối cảnh CSR đóng một vai trò ngày càng quan trọng trong môi trường kinh doanh tại Việt Nam và quốc tế Riêng đối với lĩnh vực kinh doanh siêu thị, nhận thức về CSR đã tạo ra năng lực sáng tạo, góp phần cải thiện kết quả hoạt động và duy trì khả năng phát triển bền vững tại các đơn vị bán lẻ Trong quá trình học tập và làm việc, tác giả có điều kiện quan sát và tìm hiểu về CSR tại các siêu thị trên địa bàn TP.HCM, đồng thời nhận thức rõ tầm quan trọng của yếu tố này đến sự đổi mới cũng như kết quả hoạt động Chính vì những lý do đó, cùng với việc kết hợp lý

thuyết khoa học, tác giả quyết định chọn đề tài “Tác động của CSR đến sự đổi mới và kết quả hoạt động của doanh nghiệp: Trường hợp tại các siêu thị trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh”

Đề tài được thực hiện nhằm đáp ứng các mục tiêu cụ thể như sau:

- Nghiên cứu và đo lường tác động của CSR đến sự đổi mới

- Nghiên cứu và đo lường tác động của CSR đến kết quả hoạt động, một cách trực tiếp và gián tiếp thông qua sự đổi mới

- Đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm nâng cao kết quả hoạt động tại các siêu thị thông qua CSR và sự đổi mới

Để đạt được các mục tiêu trên, đề tài sử dụng phương pháp định tính kết hợp với các

kỹ thuật định lượng Sau khi tham khảo các tài liệu học thuật có liên quan, tác giả phát triển mô hình và giả thuyết nghiên cứu về sự tương tác đồng thời và phức tạp giữa ba khái niệm trên Thang đo và bảng câu hỏi được xây dựng dựa trên nền tảng nghiên cứu của Isabel et al (2017), tuy nhiên có sự điều chỉnh, bổ sung để phù hợp với bối cảnh thực tế tại Việt Nam thông qua quá trình thảo luận nhóm các chuyên gia Sau đó, tác giả vận dụng phối hợp các công cụ định lượng, trên phần mềm SPSS lẫn AMOS nhằm

Trang 10

kiểm định thang đo cũng như kết quả khảo sát Dữ liệu được thu thập thông qua việc điều tra bảng câu hỏi 350 chuyên viên và cán bộ quản lý đang công tác tại các phòng ban chuyên môn, có liên quan đến phát triển chiến lược và CSR

Sau khi vận dụng kết hợp các phương pháp trên, kết quả cho thấy CSR được tạo thành từ cách hành xử với năm đối tượng: nhân viên, nhà cung cấp, khách hàng, cộng đồng địa phương và môi trường Sự đổi mới của đơn vị được thể hiện thông qua việc thường xuyên cập nhật, bày bán các dòng sản phẩm mới; và quy trình nội bộ được thay đổi mới hoặc cải tiến Còn kết quả hoạt động tại các siêu thị được đo lường thông qua các chỉ tiêu tài chính (lợi nhuận, doanh thu) và phi tài chính (dịch vụ, quan hệ và lòng trung thành của khách hàng, môi trường làm việc, lòng trung thành và tinh thần làm việc của nhân viên) Ngoài ra, thông qua các kỹ thuật định lượng, kết quả cho thấy CSR tác động trực tiếp và tích cực đến sự đổi mới và kết quả hoạt động của siêu thị; đồng thời, mối quan hệ giữa CSR và kết quả hoạt động cũng được thể hiện một cách gián tiếp, thông qua nhân tố trung gian là sự đổi mới Do hạn chế về mặt thời gian và nguồn lực, việc thực hiện đề tài vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế nhất định, hi vọng sẽ được khắc phục trong các nghiên cứu tương lai

Thông qua các kết quả kiểm định, đề tài cũng đóng góp một số hàm ý quản trị vào tình hình kinh doanh thực tế tại các siêu thị trên địa bàn TP.HCM như sau:

- Để thiết lập nền tảng CSR, siêu thị cần quan tâm đến cả năm đối tượng: khách hàng, nhân viên, nhà cung cấp, cộng đồng địa phương và môi trường

- Để tạo dựng sự đổi mới có thể thực hiện những hành động: bày bán các dòng sản phẩm mới, độc đáo; cải tiến cấu trúc tổ chức và quy trình nội bộ; đổi mới các chương trình khuyến mãi

- Muốn nâng cao kết quả hoạt động và sự đổi mới có thể thiết lập các chính sách

về CSR

Trang 11

ABSTRACT

The research is carried out in the context that CSR plays an increasingly important role in the business environment in Vietnam and international Particularly for supermarket business, awareness of CSR has created creative capacity, contributing to improving operating results and maintaining the ability to sustainably develop at retail units In the process of studying and working, the author has conditions to observe and learn about CSR at supermarkets in Ho Chi Minh City, and aware of the importance of this factor to innovation as well as performance results

The research is conducted to meet the specific objectives as follows:

- Research and measure the impact of CSR on innovation

- Research and measure the impact of CSR on performance, directly and indirectly through innovation

- Proposing some administrative implications to improve the performance in supermarkets through CSR and innovation

To achieve the above objectives, the thesis uses qualitative methods combined with quantitative techniques After referring to the relevant scholarly documents, the author develops a research model and hypothesis about concurrent and complex interactions between the three concepts above Scale and questionnaire are based on the research of Isabel et al (2017), however, there is an adjustment and supplement to suit the actual context in Vietnam through a group discussion of experts Then, the author used a combination of quantitative tools, on SPSS and AMOS software to test the scale as well as the survey results Data were collected through a questionnaire survey of 350

Trang 12

experts and managers working in specialized departments, related to strategic development and CSR

After applying the combination of the above methods, the results show that CSR is made up of the behavior with five subjects: employees, suppliers, customers, local communities and the environment The innovation of the unit is shown through regular updates and sale of new product lines; and new or improved internal processes The performance in supermarkets are measured through financial indicators (profit, revenue) and non-financial (services, relationships and loyalty of customers, work environment, heart loyalty and working spirit of employees) In addition, through quantitative techniques, the results show that CSR has a direct and positive impact on the innovation and performance of supermarkets; simultaneously, the relationship between CSR and performance is also expressed indirectly, through intermediary factor

is innovation Due to time and resources constraints, this research still has certain limitations, hoping to be overcome in future studies

Through the verified results, the research also contributed some management implications to the actual business situation in supermarkets in Ho Chi Minh City as follows:

- To establish the foundation of CSR, managers need to pay attention to all five objects: customers, employees, suppliers, local communities and the environment

- To create innovation, managers can carry out these actions: selling new and unique product lines; improve organizational structure and internal processes; renovate promotions

- To improve performance and innovation, managers should establish policies on CSR

Trang 13

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI

Trong chương đầu, tác giả trình bày tổng quan những điểm chính như tính cấp thiết của vấn đề từ đó dẫn đến lý do chọn đề tài, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và khảo sát, phạm vi và phương pháp nghiên cứu, kết cấu của luận văn

1.1 Sự cần thiết của đề tài

Trong bối cảnh kinh tế hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp đã nhìn nhận được lợi thế cạnh tranh không chỉ dừng lại ở chất lượng sản phẩm, dịch vụ mà còn được tạo dựng thông qua các hoạt động củng cố hình ảnh và phát triển thương hiệu Các chỉ số kinh tế không còn là thước đo duy nhất để đánh giá kết quả hoạt động cũng như khả năng phát triển bền vững của một công ty Mới đây, Vietnam Report phối hợp cùng các cơ quan báo chí công bố Bảng xếp hạng 500 doanh nghiệp Việt Nam thịnh vượng dựa trên các tiêu chí: hoạt động kinh doanh hiệu quả, khả năng tạo việc làm và CSR Có thể thấy, CSR ngày càng trở nên quan trọng hơn tại môi trường kinh doanh Việt Nam qua hàng loạt vụ việc đáng báo động về trách nhiệm của doanh nghiệp, hậu quả không chỉ dừng lại ở mức độ pháp lý mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến hình ảnh, thương hiệu doanh nghiệp cũng như chôn vùi niềm tin của biết bao người dân Việt Nam

Đồng thời, theo Báo cáo Phát Triển Bền Vững của Nielsen, người tiêu dùng Việt Nam có tinh thần hướng đến xã hội và sự phát triển bền vững cao nhất trong khu vực Đông Nam Á Có đến 86% người tiêu dùng Việt sẵn sàng chi trả cao hơn để mua sản phẩm, dịch vụ từ các công ty có ảnh hưởng tích cực đến xã hội và môi trường, so với 76% người tiêu dùng khu vực Đông Nam Á Kết quả này đã phần nào khẳng định vai trò không thể tranh cãi của CSR đối với hiệu quả hoạt động doanh nghiệp, đặc biệt là tại Việt Nam Tuy nhiên, phần lớn các công ty vẫn còn thờ ơ và chưa nhận thức được những lợi ích và CSR mang lại Các nhà quản lý cho rằng chi phí bỏ ra cho các hoạt

Trang 14

động về CSR sẽ làm giảm lợi nhuận, mà không quan tâm đến việc đây là một trong những nhân tố quyết định đến hiệu quả hoạt động lâu dài của doanh nghiệp

Riêng đối với lĩnh vực kinh doanh siêu thị, trong thời gian vừa qua, hàng loạt tập đoàn hàng đầu thế giới đã liên tục đầu tư vào thị trường trong nước và tạo ra sự lo ngại rất lớn cho ngành bán lẻ nước nhà Trước sự tấn công dồn dập ấy, những “ông lớn” trong nước như Saigon Co.op, Vingroup… đã có rất nhiều nỗ lực trong việc đổi mới hệ thống phân phối, đa dạng hàng hóa, dịch vụ nhằm duy trì thị phần đang nắm giữ Trong bối cảnh mà người tiêu dùng ngày một quan tâm đến CSR, công cuộc đổi mới tại các siêu thị càng hướng tới những sản phẩm, hoạt động thể hiện trách nhiệm với xã hội và môi trường Có thể thấy, nhận thức về CSR đã góp phần tạo ra năng lực và các sáng kiến cải tiến tại các đơn vị bán lẻ, cụ thể là ở địa bàn TP.HCM Sự đổi mới này không chỉ góp phần nâng cao hình ảnh, uy tín, mà còn xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa siêu thị và các đối tượng liên quan, như khách hàng, người lao động, nhà cung cấp… Đây là một trong những nhân tố tích cực cải thiện kết quả hoạt động và duy trì khả năng phát triển bền vững tại các siêu thị

Tuy nhiên, trên thực tế, số lượng các doanh nghiệp Việt Nam áp dụng các chính sách về CSR rất ít, hoặc việc thực hiện chỉ dừng lại ở mức độ tối thiểu, nhằm đáp ứng các yêu cầu bắt buộc của pháp luật Các nhà quản lý cho rằng CSR là trách nhiệm, gây tốn kém chi phí, chứ chưa thấy được những “ngách quyền lợi” mà CSR mang lại như: lòng trung thành và niềm tin, sự yêu quý và tín nhiệm của xã hội, cũng như các hoạt động cải tiến xuất phát từ nhận thức về CSR… Câu hỏi liệu CSR có thực sự nâng cao hiệu quả đổi mới cũng như kết quả hoạt động của doanh nghiệp hay không đã dần trở thành một vấn đề khiến các nhà lãnh đạo trăn trở, do dự trong việc thực thi các chiến lược về CSR trong quy trình kinh doanh hiện tại

Trang 15

Với mong muốn mang lại một kết luận hợp lý cho câu hỏi ấy, đã có không ít học giả thực hiện các bài nghiên cứu liên quan đến CSR, sự đổi mới và kết quả hoạt động của công ty Trong đó, có thể kể đến các nghiên cứu tiêu biểu sau đây:

Để trả lời vấn đề đầu tiên nói đến mối quan hệ giữa CSR và sự đổi mới, có hai nghiên cứu đã được tiến hành tại Ghana và Thái Lan Trong khi nghiên cứu của Mohammed et al (2012) xoay quanh ba yếu tố chính: định hướng thị trường, sự đổi mới và CSR; thì nghiên cứu của Yasushi Ueki et al (2016) lại tập trung vào mối quan

hệ giữa năm nhân tố: CSR, sự đổi mới, định hướng khách hàng, sự đào tạo và kỹ năng nhân viên, tinh thần đồng đội và các hoạt động nhóm tại các công ty vận tải ở Thái

Lan Một trong những kết quả quan trọng được đúc kết từ hai nghiên cứu này là “CSR tác động trực tiếp và tích cực đến sự đổi mới”

Để trả lời câu hỏi thứ hai: liệu CSR có góp phần nâng cao kết quả hoạt động của doanh nghiệp hay không, có ba nghiên cứu tiêu biểu đã được tiến hành Đầu tiên, Riliang Qu (2009) đã tiến hành một cuộc điều tra trong phạm vi các khách sạn đứng đầu tại Trung Quốc về sự tương tác giữa ba yếu tố: định hướng thị trường, CSR và kết quả hoạt động của tổ chức Đến năm 2014, Sayedeh et al tiến hành một cuộc điều tra tại các công ty sản xuất và tiêu dùng ở Iran với mục đích khám phá mối quan hệ giữa CSR và kết quả hoạt động thông qua ba yếu tố: sự hài lòng của khách hàng, danh tiếng

và lợi thế cạnh tranh Cùng thời điểm đó, tại Tây Ban Nha, một nghiên cứu khác cũng được tiến hành bởi Dolores et al đề cập đến mối tương tác giữa ba yếu tố: CSR, kết quả hoạt động và thành công cạnh tranh Điểm tương đồng giữa ba nghiên cứu trên là mối quan hệ trực tiếp và tích cực giữa CSR và kết quả hoạt động của doanh nghiệp được khẳng định thông qua các kết quả kiểm định

Cuối cùng, mối quan hệ phức tạp và đồng thời giữa CSR, sự đổi mới và kết quả hoạt động của doanh nghiệp cũng được giải đáp trong hai bài báo khoa học được thực hiện tại Tây Ban Nha Trong các nghiên cứu gần đây của Isabel et al (2017) và Carmelo et

Trang 16

al (2016) đã đặt ra vấn đề là liệu cả ba yếu tố này có mối quan hệ “tam giác” với nhau hay không Được khảo sát tại các công ty vừa và nhỏ tại Tây Ban Nha, với ba yếu tố chính và ba giả thuyết, các tác giả khẳng định rằng: CSR tác động tích cực đến hoạt động đổi mới và kết quả hoạt động của doanh nghiệp Ngoài ra, sự đổi mới cũng đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa CSR và kết quả hoạt động Tuy nhiên, các kết quả của nghiên cứu có đúng đối với một quốc gia Đông Nam Á, đang phát triển như Việt Nam hay không, với ngành nghề có nhiều đặc thù như kinh doanh siêu thị - bán lẻ hay không, vẫn còn là một câu hỏi lớn

Được đăng tải trên các tạp chí khoa học uy tín, đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về mẫu

và phương pháp nghiên cứu định lượng, các bài nghiên cứu vừa rồi đã cung cấp những nền tảng quan trọng trong cả lý thuyết lẫn thực nghiệm Tuy nhiên, như đã trình bày, các tác giả chỉ thực hiện ở một phạm vi cụ thể về không gian (giới hạn ở quy mô doanh nghiệp, hoặc một khu vực nào đó…), nên kết quả của nghiên cứu chưa mang tính khái quát hóa, đặc biệt là ở một môi trường kinh tế từng bước vươn mình chuyển đổi như Việt Nam; hay trong lĩnh vực mà các doanh nghiệp đang dần dành sự quan tâm cho nhiều cho CSR như ngành thương mại – bán lẻ

Trong quá trình học tập và làm việc, tác giả có điều kiện quan sát và tìm hiểu về CSR tại các siêu thị trên địa bàn TP.HCM, đồng thời nhận thức rõ tầm quan trọng của yếu tố này đến sự đổi mới và kết quả hoạt động Việc thực hiện những chính sách về CSR sẽ giúp các thương hiệu siêu thị gầy dựng mối quan hệ tốt đẹp với các đối tượng liên quan thông qua sự tin yêu của khách hàng, sự hỗ trợ của nhà cung cấp và cộng đồng địa phương Đồng thời, CSR còn thể hiện sự quan tâm của doanh nghiệp đối với đời sống nhân viên cũng góp phần nâng cao năng suất lao động, lòng trung thành và sự gắn bó, từ đó nhân viên hăng say làm việc hơn, đưa ra nhiều sáng kiến đổi mới hơn Trong bối cảnh cạnh tranh tại các siêu thị, những đổi mới trong sản phẩm, dịch vụ và hoạt động, nhất là hướng đến trách nhiệm xã hội, lại càng quan trọng trong việc giữ

Trang 17

chân khách hàng, củng cố thương hiệu để nâng cao hiệu quả kinh doanh hơn bao giờ hết Ngoài ra, do đặc điểm kinh tế nước ta có nhiều điểm khác biệt so với các quốc gia khác: phần lớn các doanh nghiệp hoạt động theo phương thức truyền thống và còn khá thờ ơ với các hoạt động về CSR Liệu các kết quả thực nghiệm từ những nghiên cứu trước đây có đúng cho một quốc gia đang phát triển như Việt Nam, và ở một lĩnh vực đang diễn ra sự cạnh tranh gay gắt như ngành bán lẻ hay không – lại là một vấn đề đáng để chúng ta nghiên cứu Chính vì những lý do đó, cùng với việc kết hợp lý thuyết

từ các tài liệu khoa học, tác giả quyết định chọn đề tài của mình là “Tác động của CSR đến sự đổi mới và kết quả hoạt động của doanh nghiệp: Trường hợp tại các siêu thị trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Bài nghiên cứu được thực hiện nhằm cung cấp bằng chứng thực nghiệm về hàm ý mối quan hệ giữa CSR, sự đổi mới và kết quả hoạt động tại các siêu thị trên địa bàn TP.HCM với các mục tiêu cụ thể như sau:

- Nghiên cứu và đo lường tác động của CSR đến sự đổi mới

- Nghiên cứu và đo lường tác động của CSR đến kết quả hoạt động, một cách trực tiếp và gián tiếp thông qua sự đổi mới

- Dựa vào kết quả nghiên cứu đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm nâng cao kết quả hoạt động tại các siêu thị thông qua CSR và sự đổi mới

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Được hình thành dựa trên nền tảng của mục tiêu nghiên cứu, tác giả đưa ra các câu hỏi nghiên cứu để định hướng cho các giai đoạn nghiên cứu tiếp theo, cụ thể như sau:

- CSR và sự đổi mới được hiểu như thế nào trong các nghiên cứu khoa học và thực tiễn tại các siêu thị trên địa bàn TP.HCM?

Trang 18

- Kết quả hoạt động của doanh nghiệp được đánh giá như thế nào và tại các siêu thị trên địa bàn TP.HCM có những chỉ tiêu gì khác biệt?

- CSR có tác động tích cực đến sự đổi mới tại các siêu thị ở TP.HCM hay không?

- CSR có tác động đến việc nâng cao kết quả hoạt động tại các siêu thị này?

- Sự đổi mới có góp phần nâng cao kết quả hoạt động của các siêu thị trên địa bàn TP.HCM hay không?

- Dựa vào kết quả nghiên cứu, các hàm ý quản trị nào được đề xuất để gia tăng sự đổi mới tại các siêu thị trên địa bàn TP.HCM thông qua CSR trong thực tiễn?

- Các hàm ý quản trị nào có thể được đề xuất nhằm nâng cao kết quả hoạt động của siêu thị trên địa bàn TP.HCM thông qua CSR và sự đổi mới trong thực tiễn?

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được tác giả thực hiện thông qua hai giai đoạn: nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng Đầu tiên, tác giả sử dụng phương pháp thảo luận nhóm gồm bảy chuyên gia nhằm điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện bảng câu hỏi cho phù hợp với tình hình thực tế tại các siêu thị trên địa bàn TP.HCM Nghiên cứu định lượng sử dụng phối hợp các phương pháp thông qua việc khảo sát 350 chuyên viên và cán bộ quản lý dựa trên cơ sở bảng câu hỏi khảo sát, kiểm định thang đo thông qua hệ số Cronbach’s Alpha, phân tích EFA để xác định mức độ quan hệ giữa biến quan sát và các nhân tố cơ

sở, phân tích CFA nhằm kiểm định độ phù hợp của mô hình và thang đo Sau đó, tác giả thực hiện kiểm định SEM để kết luận mối quan hệ giữa các yếu tố và sử dụng bootstrap để kiểm định độ tin cậy của các ước lượng trong mô hình

1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.5.1 Đối tượng nghiên cứu và đối tượng khảo sát

Trang 19

Để làm rõ mục tiêu đã đặt ra, đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm: mối quan hệ giữa CSR và sự đổi mới, mối quan hệ giữa CSR và kết quả hoạt động, mối quan hệ giữa sự đổi mới và kết quả hoạt động tại các siêu thị trên địa bàn TP.HCM

Do hạn chế về mặt thời gian và tính chất đặc trưng của dữ liệu, đối tượng khảo sát của đề tài là các nhà quản lý và chuyên viên các phòng ban có liên quan đang công tác tại các siêu thị

1.5.2 Phạm vi nghiên cứu

Về không gian, đề tài được khảo sát dựa trên 10 siêu thị Co.op Mart, 2 đại siêu thị Co.op Xtra, 1 siêu thị Lotte Mart, 2 siêu thị Vinmart, 1 siêu thị E-mart, 1 siêu thị MM Mega Market và 2 siêu thị/đại siêu thị Big C đang hoạt động trên địa bàn TP.HCM Trong đề tài này, tác giả lựa chọn các siêu thị truyền thống, kinh doanh đa chủng loại hàng hóa vì có tiêu chuẩn về số lượng lao động (98–218 người) phù hợp với đối tượng SMEs (nhân sự từ 100-250 người) trong nghiên cứu gốc của Isabel et al (2017) Các siêu thị chuyên dụng không được lựa chọn vì định biên lao động quá thấp so với tiêu chuẩn tại các SMEs ở các quốc gia châu Âu

Về thời gian, đề tài được thực hiện từ tháng 4/2018 đến tháng 12/2018

1.6 Ý nghĩa khoa học của đề tài

Bài nghiên cứu được thực hiện tại các siêu thị trên địa bàn TP.HCM, do đó, kết quả thực nghiệm sẽ cho một cách nhìn mới về cách thức CSR tác động đến sự đổi mới cũng như kết quả hoạt động trong lĩnh vực này, cụ thể cung cấp các nội dung sau đây:

- Đề xuất mô hình nghiên cứu thể hiện mối quan hệ giữa CSR, sự đổi mới và kết quả hoạt động của các siêu thị

- Cung cấp kết quả thực nghiệm về tác động của CSR đến sự đổi mới cũng như kết quả hoạt động của các siêu thị trên địa bàn TP.HCM

Trang 20

- Đề xuất các hàm ý quản trị cải thiện hiệu suất đổi mới và kết quả hoạt động của siêu thị thông qua việc phát triển CSR của tổ chức

Trong chương đầu, tác giả đã trình bày sơ bộ những điểm chính của đề tài như tính cấp thiết của vấn đề, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, các phương pháp được sử dụng để thu thập và phân tích dữ liệu, kết cấu của luận văn cũng như ý nghĩa khoa học của đề tài Cơ sở lý thuyết làm nền tảng để xây dựng các khái niệm, thang đo, giả thuyết và mô hình nghiên cứu đề xuất sẽ được tác giả trình bày trong chương tiếp theo

1.1 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và các nội dung hỗ trợ, đề tài nghiên cứu bao gồm các chương:

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI, trình bày tổng quan những điểm chính của đề

tài nghiên cứu

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU, trình bày

những lý thuyết nền tảng xây dựng nên mô hình và giả thuyết nghiên cứu của đề tài

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU trình bày cơ sở chọn mẫu và cách

thức thu thập dữ liệu, xây dựng thang đo và bảng câu hỏi khảo sát của đề tài

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, bao gồm việc thống kê mô tả dữ liệu

nghiên cứu và trình bày kết quả kiểm định giả thuyết

CHƯƠNG 5: HÀM Ý QUẢN TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI, đúc kết lại các

kết quả chính và đóng góp trong thực tiễn; đồng thời nêu lên những điểm hạn chế để gợi ý cho hướng nghiên cứu tiếp theo

Trang 21

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Trong chương 2, tác giả sẽ thảo luận ba khái niệm nghiên cứu: CSR, sự đổi mới cũng như kết quả hoạt động của doanh nghiệp được trình bày như thế nào trong các tài liệu khoa học, các nghiên cứu trước có liên quan đến vấn đề, đặc điểm hoạt động của siêu thị trên địa bàn TP.HCM, biện luận để lựa chọn thang đo phù hợp cho đề tài, từ đó phát triển giả thuyết và mô hình nghiên cứu dự kiến

2.1 Các khái niệm nghiên cứu

2.1.1 CSR (trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp)

Trong nhiều thập kỷ qua, rất nhiều nhà nghiên cứu đã dành sự quan tâm đáng kể đến CSR và mỗi học giả đều đưa ra những quan điểm thể hiện cách nhìn nhận riêng của mình Một trong những khái niệm được đông đảo học giả vận dụng là quan điểm của Caroll (1979) Theo đó, CSR là cam kết của doanh nghiệp đối với đạo đức kinh doanh

và đóng góp vào phát triển kinh tế bền vững, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người lao động, cộng đồng địa phương và xã hội Mô hình “kim tự tháp” của ông cho rằng CSR bao gồm bốn trách nhiệm chính: kinh tế (hiệu quả và tăng trưởng); pháp lý (tuân thủ pháp luật và giá trị cơ bản mà xã hội mong đợi); đạo đức (tuân thủ những quy tắc, giá trị được xã hội chấp nhận); tự nguyện (hành vi vượt ra ngoài sự mong đợi của xã hội như quyên góp, ủng hộ từ thiện…) Quan điểm này được xem có tính toàn diện và khả thi cao, được sử dụng làm khuôn khổ tư duy về CSR dưới góc độ của Nhà nước

Đối với người tiêu dùng và cộng đồng xã hội, cũng tồn tại khá nhiều cách tiếp cận

về CSR Gần đây World Bank đã đưa ra khái niệm được xem là khá hoàn chỉnh, rõ ràng dưới góc nhìn của các đối tượng này: “CSR là sự cam kết của doanh nghiệp đóng góp vào việc phát triển kinh tế bền vững, thông qua những hoạt động nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người lao động; cộng đồng và toàn xã hội, theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như phát triển chung của xã hội” Sở dĩ quan điểm này được

Trang 22

đánh giá là khá phù hợp với vai trò khách hàng và xã hội là vì bên cạnh sự phát triển của mình, doanh nghiệp còn cần phải tạo ra lợi ích cho những đối tượng hữu quan khác, đồng thời nhấn mạnh vào việc gia tăng các giá trị của xã hội

Dưới góc độ của doanh nghiệp, có thể kể đến quan điểm về CSR của Hammann và Lindgreen (2009) Theo đó, có năm đối tượng hữu quan mà các hành vi thể hiện trách nhiệm CSR của đơn vị hướng đến bao gồm: nhà cung cấp, khách hàng, người lao động, cộng đồng địa phương và môi trường Tại Việt Nam, một nghiên cứu của Châu Thị Lệ Duyên và đồng sự (2014) cũng định nghĩa CSR hướng đến việc cân bằng lợi ích của năm đối tượng hữu quan này Cùng chung quan điểm ấy, năm 2017, Isabel et al đã phát triển thang đo khá hoàn chỉnh như sau:

Đối với nhân viên, CSR góp phần đảm bảo quyền lợi của người lao động Doanh nghiệp không chỉ hướng đến việc đào tạo những kỹ năng cơ bản cho nhân viên mà còn

hỗ trợ họ phát triển chuyên môn thông qua những khóa học nâng cao khác Bên cạnh

đó, lãnh đạo cần thể hiện sự quan tâm đến những vấn đề mà nhân viên đang gặp nhằm giúp họ đạt được sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống

Ngoài ra, các chiến lược về CSR không thể không chú ý đến đối tượng chính tạo ra doanh thu Muốn tạo dựng mối quan hệ tốt đẹp với người tiêu dùng đầu tiên phải đáp ứng đầy đủ các cam kết về chất lượng Việc thông tin rõ ràng về cách thức sử dụng cũng như những rủi ro của sản phẩm/dịch vụ cũng không kém phần quan trọng nhằm thể hiện trách nhiệm đối với khách hàng Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng cần thực hiện những hành động cần thiết để khách hàng không cảm thấy phiền lòng, cũng như trả lời kịp thời và giải quyết hợp lý những phàn nàn của khách hàng

Đối với nhà cung cấp, các quyết định cần xem xét và đảm bảo quyền lợi của đối tượng này Ngoài ra, họ cũng cần nhận được thông tin kịp thời về những thay đổi trong doanh nghiệp, nếu như sự thay đổi ấy có ảnh hưởng đến họ

Trang 23

CSR còn thể hiện ở việc tổ chức cố gắng, nỗ lực đóng góp vào sự phát triển của địa phương, ví dụ như: hỗ trợ cho các hoạt động văn hóa – thể thao, thực hiện các chương trình giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn

Cuối cùng, trách nhiệm đối với môi trường được xem là một trong những khía cạnh quan trọng nhất của CSR, đặc biệt trong những năm gần đây Doanh nghiệp cần tuân thủ các quy định chung về môi trường cũng như quy định riêng đối với từng ngành nghề, lĩnh vực Ngoài ra, trách nhiệm môi trường cần được nhận thức và thực hành tự nguyện, như việc đầu tư vào các thiết bị tiết kiệm năng lượng; thực hiện các chương trình giảm tiêu thụ điện, nước; thiết kế sản phẩm và bao bì có thể tái sử dụng hoặc tái chế Gần đây, một số công ty còn thực hiện việc kiểm toán môi trường theo định kỳ

Tương tự như lĩnh vực sản xuất, hoạt động kinh doanh của siêu thị cũng trải qua một

chuỗi các mối quan hệ, từ nhà cung cấp đến người lao động, khách hàng, cộng đồng địa phương và môi trường Đối với mỗi đối tượng, yêu cầu về CSR thể hiện ở những khía cạnh và hành động khác nhau Bên cạnh đó, dưới góc độ siêu thị, việc đánh giá các trách nhiệm về pháp lý và đạo đức không rõ ràng, quan điểm này phù hợp hơn với các cơ quan Nhà nước và cộng đồng xã hội Do đó, trong đề tài này, tác giả lựa chọn việc tiếp cận CSR theo định nghĩa của Isabel et al (2017) Theo đó, việc thực hành CSR tại các siêu thị bao gồm các chính sách và hành động cụ thể với các bên liên quan: nhân viên, nhà cung cấp, khách hàng, cộng đồng địa phương và môi trường xã hội Tuy nhiên, các nội dung về CSR theo lý thuyết cũng được điều chỉnh, bổ sung để phù hợp với bối cảnh thực tiễn tại các siêu thị trên địa bàn TP.HCM

2.1.2 Sự đổi mới

Theo Skerlavaj et al (2010), sự đổi mới được định nghĩa là khả năng tiếp cận thay đổi và sẵn sàng đối mặt với những thách thức mới Nó cho phép tổ chức tận dụng năng

Trang 24

lực sáng tạo của lực lượng lao động và do đó đáp ứng tốt hơn với những thay đổi của môi trường (Bergh et al., 2011; Swink & Mabert, 2000)

Theo Calantone et al (2002), Cambra et al (2011), quá trình đổi mới bao gồm việc đón nhận, phổ biến và sử dụng kiến thức mới; thực hiện thành công những ý tưởng mới

và sáng tạo trong tổ chức (Amabile et al., 1996; Hurley & Hult, 1998)

Đối tượng của sự đổi mới có thể là sản phẩm/dịch vụ, công nghệ và quy trình sản xuất, thậm chí là cấu trúc tổ chức và các thủ tục hành chính hiện tại Dù với mục tiêu nào thì sự đổi mới cũng hướng đến việc thích ứng, cải tiến nhằm giúp doanh nghiệp duy trì và nâng cao kết quả hoạt động (Damanpour et al., 2009)

Trong đề tài này, khái niệm về sự đổi mới được vận dụng dựa trên nghiên cứu của Isabel et al (2017) Các tác giả đo lường một số chỉ tiêu của doanh nghiệp như: bày bán sản phẩm/dịch vụ mới hoặc được cải tiến, quy trình nội bộ mới hoặc được cải thiện thường xuyên, các chương trình khuyến mãi và tiếp thị được cải tiến Nếu đa phần câu trả lời là có, thì xem như các hoạt động đổi mới đã thực sự hình thành tại siêu thị

2.1.3 Kết quả hoạt động của doanh nghiệp

Kết quả hoạt động của doanh nghiệp là một trong những biến phụ thuộc được các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều nhất, được định nghĩa là một bộ các chỉ số tài chính và phi tài chính cung cấp thông tin về mức độ đạt được các mục tiêu và kết quả (Lebans & Euske, 2006) Rất nhiều người nghĩ rằng kết quả hoạt động chỉ gắn với các chỉ tiêu đo lường được về tài chính, tuy nhiên khái niệm này còn bao gồm các giá trị vô hình như kiến thức, năng lực và quan hệ với khách hàng, đối tác…

Kết quả hoạt động đã được nghiên cứu rất nhiều trong các bài báo khoa học trước đây (Quinn và Rohrbaugh, 1983; Judge và Douglas, 1998; Aragon et al., 2008) dựa

Trang 25

trên đánh giá so với các công ty khác trong ngành Maltz et al (2003) đề xuất các phép

đo kết quả hoạt động của tổ chức bao gồm các chỉ số tài chính và phi tài chính

Dựa trên những cơ sở ấy, nghiên cứu của Isabel et al (2017) đưa ra ba khía cạnh để đánh giá hoạt động của một tổ chức bao gồm: các chỉ số tài chính cơ bản, dịch vụ khách hàng và sự gắn kết của nhân viên Về mặt tài chính, kết quả hoạt động của doanh nghiệp được đo lường thông qua hai chỉ tiêu: lợi nhuận và lợi tức trên tài sản Theo các học giả kinh tế, lợi nhuận phản ánh hiệu quả của toàn bộ quá trình kinh doanh, là yếu

tố sống còn của doanh nghiệp Doanh nghiệp chỉ tồn tại và phát triển khi nó tạo ra lợi nhuận, bởi nếu nguồn thu không đủ bù đắp chi phí, doanh nghiệp sẽ không có khả năng tiếp tục hoạt động, dẫn đến rủi ro bị đào thải và phá sản Ngoài ra, ROA cũng là thước

đo mức sinh lợi hiệu quả của một công ty, cho biết tài sản và nguồn vốn đầu tư được doanh nghiệp sử dụng hiệu quả như thế nào Dựa trên nền tảng ấy, nghiên cứu của Châu Thị Lệ Duyên và đồng sự (2014) được tiến hành tại Việt Nam cũng đề cập đến kết quả tài chính dựa trên sự tăng trưởng trong mức tiêu thụ hàng hóa (doanh thu) và hiệu quả đầu tư – tài chính (lợi nhuận, ROA)

Bên cạnh các thước đo về tài chính, các chỉ tiêu phi tài chính cũng không kém phần quan trọng Isabel et al (2017) cho rằng khách hàng là một trong những yếu tố quan trọng nhất để khẳng định một doanh nghiệp có thực sự tốt hay không Theo các tác giả,

có ba chỉ tiêu liên quan đến khách hàng để đo lường kết quả hoạt động, bao gồm: dịch

vụ, mối quan hệ và lòng trung thành của khách hàng Bên cạnh đó, nhân viên cũng là một đối tượng không kém phần quan trọng Các chỉ tiêu để đánh giá kết quả kinh doanh của công ty thông qua đối tượng này bao gồm: tỷ lệ thôi việc, môi trường làm việc, lòng trung thành và tinh thần làm việc của nhân viên Nếu tồn tại một mối quan

hệ tốt đẹp giữa doanh nghiệp và người lao động, họ sẽ gắn kết với công ty nhiều hơn, làm việc hăng say, chăm chỉ hơn, năng suất vì thế cũng cao hơn và điều đó dẫn đến sự cải thiện kết quả hoạt động của doanh nghiệp Vì thế, trong đề tài này, tác giả đã chọn

Trang 26

nghiên cứu của Isabel et al (2017) và Châu Thị Lệ Duyên (2014) làm cơ sở phát triển

thang đo của mình

2.2 Tổng quan các nghiên cứu trước có liên quan đến vấn đề nghiên cứu

Trong những năm gần đây, CSR đã trở thành một vấn đề được các nhà lãnh đạo hết sức quan tâm, khi mà các đối tượng hữu quan ngày càng cân nhắc đến đạo đức của doanh nghiệp Tuy nhiên, CSR có thực sự thúc đẩy sự đổi và nâng cao kết quả kinh doanh của đơn vị hay không, luôn là một câu hỏi khiến các nhà lãnh đạo trăn trở cũng như trở thành đề tài nghiên cứu của rất nhiều học giả

Để trả lời vấn đề đầu tiên nói đến mối quan hệ giữa CSR và sự đổi mới, có hai nghiên cứu đã được tiến hành trong thời gian gần đây tại Ghana và Thái Lan Đầu tiên

là nghiên cứu được tiến hành bởi các tác giả Mohammed và Robert vào năm 2012 Đối tượng tham gia khảo sát là 200 nhà quản lý từ các phòng ban của các công ty viễn thông tại Accra Bằng phương pháp định lượng, các tác giả đã chứng minh được tác động tích cực của định hướng thị trường đến kết quả kinh doanh tại các công ty viễn thông Ghana, một cách trực tiếp lẫn gián tiếp thông qua sự đổi mới và CSR Đồng thời,

một trong những kết quả quan trọng được các tác giả nhấn mạnh là “CSR tác động tích cực đến sự đổi mới trong thị trường viễn thông Ghana” Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ dựa

vào thông tin được cung cấp bởi các nhà quản lý và giám đốc điều hành, dẫn đến kết quả chưa được phản ánh khách quan, có phần chịu ảnh hưởng bởi sự đánh giá một chiều của đội ngũ lãnh đạo Ngoài ra, nghiên cứu chỉ tập trung vào các công ty viễn thông ở Ghana, chưa khái quát hóa sang các ngành công nghiệp và quốc gia khác

Ở Thái Lan, vào năm 2016, Yasushi et al thực hiện một cuộc nghiên cứu khác tại

200 công ty vận tải Kết quả nghiên cứu cho thấy định hướng thị trường tác động tích cực đến kết quả hoạt động trực tiếp lẫn gián tiếp thông qua CSR Để CSR đóng vai trò trung gian này, một kết quả quan trọng khác được đúc kết từ nghiên cứu một lần nữa

Trang 27

khẳng định CSR tác động tích cực đến sự đổi mới Tuy nhiên, nghiên cứu còn tồn tại

một hạn chế là quá trình khảo sát còn tồn tại khá nhiều phản hồi không hợp lệ

Để trả lời câu hỏi thứ hai: liệu CSR có góp phần nâng cao kết quả hoạt động của doanh nghiệp hay không, có bốn nghiên cứu tiêu biểu được tiến hành tại một quốc gia châu Âu và ba quốc gia châu Á, trong đó có Việt Nam Đầu tiên, tại Trung Quốc, Riliang Qu đã tiến hành một cuộc điều tra trong phạm vi 600 khách sạn đứng đầu bảng xếp hạng Được đăng trên tạp chí Asia Pacific Journal of Marketing and Logistics (2009), sau khi thu thập và phân tích dữ liệu, tác giả khẳng định: CSR và định hướng

thị trường tác động tích cực đến kết quả hoạt động của tổ chức; đồng thời, CSR cũng đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa định hướng thị trường và kết quả hoạt động Tuy nhiên, nghiên cứu còn tồn tại khá nhiều điểm hạn chế như: mối quan hệ giữa

định hướng thị trường, sự đổi mới và CSR chưa được thể hiện rõ ràng; cách tiếp cận còn chủ quan và kết quả chưa mang tính tổng quát

Đến năm 2014, một nghiên cứu đã được Sayedeh tiến hành với mục đích nhằm khám phá mối quan hệ giữa CSR và kết quả hoạt động của doanh nghiệp Được đăng vào năm 2014 trên tạp chí Journal of Business Research, đối tượng tham gia nghiên cứu bao gồm 205 công ty sản xuất và tiêu dùng ở Iran Thông qua phương pháp tiếp cận định lượng, các tác giả đã khẳng định lợi thế cạnh tranh và danh tiếng đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa CSR và kết quả hoạt động thông qua việc cải thiện

sự hài lòng của khách hàng Ngoài ra, mối quan hệ giữa CSR và kết quả hoạt động của doanh nghiệp là gián tiếp hơn là trực tiếp Những phát hiện của nghiên cứu này là một

trong những kết quả quan trọng khẳng định CSR nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Tuy nhiên, các tác giả cũng nhấn mạnh rằng nghiên cứu chỉ tập trung

vào các ngành công nghiệp sản xuất và tiêu dùng

Một trong những nghiên cứu tiếp theo đề cập đến mối quan hệ giữa CSR và kết quả hoạt động được tiến hành vào năm 2014 và đăng trên tạp chí Journal of Cleaner

Trang 28

Production Được thực hiện bởi Dolores, nghiên cứu kiểm nghiệm sự tương tác giữa

ba yếu tố: CSR, kết quả hoạt động và thành công cạnh tranh Sau khi khảo sát dữ liệu ở

67 công ty lớn và vừa, các học giả kết luận rằng: CSR và kết quả hoạt động tác động tích cực đến sự thành công trong cạnh tranh Đồng thời, một kết quả quan trọng khác

cũng được khẳng định là CSR tác động tích cực và đáng kể đến kết quả hoạt động

Tại Việt Nam, có một nghiên cứu được Lê Phước Hương và Lưu Tiến Thuận tiến hành nhằm tái khẳng định mối quan hệ này vào năm 2017 Được khảo sát tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở ngành dịch vụ, các học giả kết luận rằng CSR tác động tích cực đến kết quả hoạt động về mặt tài chính (mức tăng trưởng tiêu thụ trong kinh doanh, hiệu quả đầu tư – tài chính) lẫn các chỉ số phi tài chính của doanh nghiệp

Cuối cùng, mối quan hệ phức tạp và đồng thời giữa CSR, sự đổi mới và kết quả hoạt động của doanh nghiệp cũng được giải đáp trong hai bài báo khoa học được thực hiện tại Tây Ban Nha Trong một nghiên cứu gần đây của Isabel et al (2017) đã đặt ra vấn

đề là liệu cả ba yếu tố này có mối quan hệ “tam giác” với nhau hay không Được thực hiện dựa trên dữ liệu thu thập từ 522 công ty ở Tây Ban Nha, nghiên cứu được đăng vào năm 2017 trên tạp chí Journal of Cleaner Production Thông qua phương pháp tiếp

cận định lượng, kết quả sau khi kiểm nghiệm cho thấy rằng CSR ở doanh nghiệp vừa

và nhỏ tác động tích cực đến sự đổi mới và kết quả hoạt động của đơn vị Tuy nhiên,

nghiên cứu này vẫn không thể nào tránh khỏi hạn chế về số lượng mẫu khá nhỏ, do đó tính khái quát chưa cao

Một trong những bài báo khoa học khác liên quan trực tiếp nhất đến đề tài có thể kể đến là nghiên cứu được thực hiện bởi Carmelo et al Được khảo sát tại 133 tổ chức vừa

và nhỏ tại Tây Ban Nha, nghiên cứu được đăng trên tạp chí Journal of Cleaner

Production vào năm 2016 Các tác giả khẳng định rằng: CSR tác động tích cực đến hoạt động đổi mới và kết quả hoạt động của doanh nghiệp Ngoài ra, sự đổi mới cũng

đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa CSR và kết quả hoạt động Tuy nhiên,

Trang 29

nghiên cứu chỉ dựa trên sự liên hệ trực tuyến, có thể dẫn đến sự thiếu rõ ràng và trung thực trong kết quả khảo sát Ngoài ra, các tác giả chủ yếu khảo sát đội ngũ quản lý và chỉ tập trung vào một số doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Tây Ban Nha Chính vì thế, liệu các kết quả của nghiên cứu có đúng đối với một quốc gia Đông Nam Á, đang phát triển như Việt Nam hay không, với ngành nghề kinh doanh siêu thị - bán lẻ hay không, vẫn còn là một câu hỏi lớn

2.3 Các đặc điểm hoạt động của siêu thị trên địa bàn TP.HCM

Ngày nay, siêu thị là một loại hình kinh doanh không còn mới mẻ ở nền kinh tế Việt Nam Theo Quy chế siêu thị được Bộ Công Thương ban hành: “Siêu thị là loại hình cửa hàng hiện đại; kinh doanh tồng hợp hoặc chuyên doanh; có cơ cấu chủng loại hàng hoá phong phú, đa dạng, bảo đảm chất lượng; đáp ứng các tiêu chẩn về diện tích kinh doanh, trang bị kỹ thuật và trình độ quản lý, tổ chức kinh doanh; có các phương thức phục vụ văn minh, thuận tiện nhằm thoả mãn nhu cầu mua sắm hàng hóa của khách hàng” Ngoài ra, ngày nay, từ "siêu thị" còn được chỉ những nơi chỉ chuyên kinh doanh một mặt hàng, một chủng loại hàng nào đó, ví dụ: siêu thị điện máy…

Trong đề tài này, tác giả chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu ở các siêu thị truyền thống, nghĩa là các trung tâm hiện đại quy mô lớn, có chủng loại hàng hóa phong phú,

đa dạng, và phương thức phục vụ văn minh Các siêu thị được tiến hành nghiên cứu bao gồm Co.op Mart, Co.op Xtra, Vinmart, Big C, MM Mega Market, SatraMart Đây

là các doanh nghiệp bán lẻ đáp ứng các tiêu chuẩn về diện tích, quy mô nhân viên và sự

đa dạng về chủng loại hàng hóa

Việc lựa chọn các siêu thị trên địa bàn TP.HCM nhằm đảm bảo tính hợp lý của kết quả nghiên cứu Các siêu thị ở thành phố đã hoạt động lâu đời, ổn định, đa dạng các thương hiệu để đảm bảo tính cạnh tranh khi trả lời bảng câu hỏi Đồng thời, TP.HCM

Trang 30

là khu vực có nền kinh tế phát triển, người tiêu dùng cũng như các đối tượng hữu quan khác nhận thức tương đối đầy đủ và rõ ràng về CSR

Ngoài ra, các siêu thị tại TP.HCM có những điểm tương đồng với SMEs ở Tây Ban Nha – đối tượng khảo sát trong nghiên cứu gốc của Isabel et al (2017) Trong bài báo này, các học giả chủ yếu điều tra những đơn vị hoạt động trong lĩnh vực thương mại – dịch vụ (44,4%), với số lượng lao động dao động từ 50 – 250 người để phù hợp với định nghĩa các SMEs tại châu Âu Tác giả tiến hành điều tra thông qua phỏng vấn các chuyên gia nhân sự đang làm việc tại các siêu thị về số lượng lao động vào giữa năm

2018, kết quả thể hiện qua bảng 2.1 như sau:

Bảng 2.1 - Thống kê các siêu thị tại TP.HCM

(Nguồn: tác giả điều tra và tổng hợp)

Có thể thấy, số lượng lao động bình quân của các siêu thị dao động trong khoảng 98 – 218 người, khá phù hợp với các doanh nghiệp SMEs trong lĩnh vực thương mại – dịch vụ mà nghiên cứu của Isabel et al (2017) hướng đến Với những điểm tương đồng

Thương hiệu Số siêu thị Tỷ lệ

Số lao động bình quân

Trang 31

này, cùng với lập luận đã được trình bày trong việc sơ lược các khái niệm nghiên cứu, tác giả đã chọn thang đo của Isabel et al (2017) để phát triển bảng câu hỏi của đề tài

Theo đó, trách nhiệm CSR của siêu thị cũng được thể hiện thông qua hành động với năm đối tượng: nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp, cộng đồng địa phương và môi trường Sau khi thực hiện thủ tục thảo luận nhóm và tính toán tỷ lệ đồng thuận các phát biểu trong thang đo, tác giả đã bổ sung, điều chỉnh để các quan điểm về CSR trong hoạt động siêu thị hợp lý hơn

Do đặc trưng của siêu thị là không tiến hành các hoạt động sản xuất, nên việc thể hiện trách nhiệm đối với môi trường chỉ dừng lại ở việc sử dụng các loại bao bì có thể tái sử dụng, sửa chữa hoặc tái chế Ví dụ, hiện nay, chuỗi siêu thị Co.op Mart và Co.op Xtra đang sử dụng các loại túi thân thiện môi trường, nhằm giảm áp lực đến cộng đồng

từ việc sử dụng túi nilon Bên cạnh đó, việc tuân thủ các quy định về môi trường (hệ thống xử lý rác và chất thải…) là một hành động quan trọng trong các chính sách về CSR Ví dụ, chuỗi siêu thị Co.op Mart đã và đang áp dụng việc phân loại chất thải rắn tại nguồn, nhằm góp phần giảm lượng rác chôn lấp, nâng cao hiệu quả tái sử dụng các nguồn tài nguyên Ngoài ra, với số lượng hàng hóa đa dạng, các siêu thị cần chú trọng vào công tác chọn lọc, bảo đảm việc bày bán các sản phẩm đáp ứng các tiêu chuẩn về sinh thái Cuối cùng, các chính sách và chương trình nhằm giảm tiêu thụ điện, nước cũng là một hành động thể hiện trách nhiệm đối với môi trường

Nói về sự đổi mới, do đặc trưng của siêu thị không phải là công ty sản xuất, nên các hoạt động này không được thể hiện ở việc phát minh ra các sản phẩm/dịch vụ mới hoặc được giới thiệu ra thị trường Thay vào đó, siêu thị có thể đáp ứng nhu cầu và thị hiếu người tiêu dùng thông qua việc thường xuyên cập nhật để bán những dòng sản phẩm mới Ngoài ra, sự đổi mới còn được đo lường thông qua việc cải tiến quy trình nội bộ Các chương trình khuyến mãi và cách thức tiếp thị cũng là một thước đo quan trọng để đánh giá sự đổi mới Đặc trưng của các đơn vị bán lẻ hiện nay là các sản phẩm và hình

Trang 32

thức khuyến mãi thay đổi theo ngày, tối thiểu theo tuần; riêng các đại chương trình khuyến mãi thay đổi theo tháng Để thu hút khách hàng, các chương trình này cần được đổi mới thường xuyên về nội dung lẫn hình thức Ví dụ, bên cạnh việc giảm giá, bán hàng đồng giá, tặng kèm một số sản phẩm, hiện nay chuỗi siêu thị Co.op Mart đã phát triển thêm các phương thức khuyến mãi khác, như “Tích tem đổi quà”, vòng xoay may mắn để tương tác với khách hàng thông qua mạng xã hội như zalo, facebook…

Nếu sự đổi mới trong hoạt động siêu thị có nhiều điểm khác biệt so với các loại hình kinh doanh khác thì kết quả hoạt động lại được thể hiện qua các chỉ tiêu tương tự như các công ty ngoài ngành Để đánh giá kết quả hoạt động siêu thị, có ba khía cạnh cần xem xét: các chỉ số tài chính, dịch vụ khách hàng và sự gắn kết của nhân viên

Về mặt tài chính, nếu các công ty sản xuất thường được đo lường qua lợi nhuận và ROA, thì ở siêu thị, ROA lại được thay thế bằng chỉ tiêu doanh thu Trong giai đoạn hiện nay, tình hình cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các siêu thị trên địa bàn TP.HCM, cũng như cuộc chạy đua về công bố thương hiệu trong lòng người tiêu dùng, dẫn đến mục tiêu mà các nhà lãnh đạo siêu thị quan tâm nhất không phải là lợi tức, mà

là doanh số bán ra Tuy nhiên, song song với doanh thu, lợi nhuận vẫn là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả của toàn bộ quá trình kinh doanh, là yếu tố sống còn của một doanh nghiệp Do đó, để phù hợp với đặc điểm hoạt động của siêu thị, kết quả về tài chính được đánh giá thông qua hai chỉ tiêu cơ bản là hiệu quả tài chính (lợi nhuận) và mức tiêu thụ hàng hóa (doanh thu)

Bên cạnh các thước đo về tài chính, các chỉ tiêu phi tài chính cũng không kém phần quan trọng Đối với khách hàng, có ba chỉ tiêu liên quan để đánh giá hoạt động của siêu thị, bao gồm: dịch vụ khách hàng, mối quan hệ và lòng trung thành của khách hàng Dịch vụ khách hàng được thể hiện thông qua cung cách phục vụ, các chính sách thuận tiện cho khách hàng, cũng như quầy dịch vụ được đặt trước mỗi siêu thị nhằm giải quyết các nhu cầu của khách Mối quan hệ với khách hàng được thể hiện thông qua các

Trang 33

hoạt động chăm sóc khách hàng, các đánh giá định kỳ hoặc đột xuất mà khách hàng phản hồi về siêu thị và phòng ban quản lý Lòng trung thành của khách hàng thể hiện ở tần suất các khách hàng thành viên… mua sắm tại siêu thị, doanh thu bình quân mỗi lần mua, cũng như số lượng khách hàng mới có thẻ thành viên tại siêu thị

Bên cạnh khách hàng, nhân viên cũng là đối tượng không kém phần quan trọng Các chỉ tiêu để đánh giá kết quả kinh doanh bao gồm: tỷ lệ thôi việc, môi trường làm việc, lòng trung thành và tinh thần làm việc của nhân viên Nếu tồn tại một mối quan hệ tốt đẹp giữa siêu thị và người lao động, họ sẽ gắn kết nhiều hơn, làm việc hăng say, chăm chỉ hơn, năng suất vì thế cũng cao hơn và dẫn đến sự cải thiện kết quả hoạt động

2.4 Giả thuyết và mô hình nghiên cứu

2.4.1 Mối quan hệ giữa CSR và sự đổi mới

Trên thế giới, đã có rất nhiều nghiên cứu chứng minh mối quan hệ tích cực giữa CSR và sự đổi mới; tuy nhiên, đa số các nghiên cứu vẫn chưa đi sâu vào việc phân tích bản chất của sự tác động này Gần đây, một số tác giả đã có những lập luận rõ ràng để

lý giải tại sao CSR lại có thể thúc đẩy những hoạt động đổi mới tại doanh nghiệp McWilliams và Siegel (2000) cho rằng việc áp dụng các chiến lược về CSR có thể thúc đẩy việc đầu tư vào R&D, dẫn đến sự đổi mới Phát hiện của MacGregor và Fontrodona (2008) nhấn mạnh rằng CSR sẽ tạo động lực để cải tiến sản phẩm, dịch vụ định hướng giá trị cho xã hội Trong phạm vi các doanh nghiệp vừa và nhỏ, Battaglia et

al (2014) đã tiến hành một cuộc khảo sát 213 công ty châu Âu Kết quả cho thấy mối tương quan mạnh mẽ và tích cực giữa CSR và khả năng cạnh tranh về hai khía cạnh: sự đổi mới và những hiệu suất vô hình Bên cạnh đó, việc áp dụng các chính sách về CSR giúp công ty tạo mối quan hệ gắn bó với các nhân viên có trình độ cao và lãnh đạo (Donate và Guadamillas, 2011) – đây là những đối tượng có khả năng sáng tạo mạnh

mẽ, tạo nên sự đổi mới cho công ty Một môi trường làm việc tốt, người lãnh đạo quan

Trang 34

tâm đến nhân viên, hạnh phúc và chất lượng cuộc sống, đặt niềm tin vào họ, có thể kích thích họ sáng tạo nhiều hơn Khi nhân viên cảm thấy thoải mái, họ sẽ có những quyết định hiệu quả hơn trong việc giải quyết vấn đề, đây là khởi nguồn của những ý tưởng đổi mới (Arundel et al., 2007)

Trong các bài báo khoa học liên quan được trình bày ở trên, có thể sử dụng kết quả của bốn nghiên cứu được tiến hành ở các ngành nghề và quốc gia khác nhau Đầu tiên

là nghiên cứu được thực hiện bởi Isabel et al (2017) với kết quả đã được kiểm chứng

khẳng định rằng: CSR tác động tích cực đến sự đổi mới và kết quả hoạt động của đơn

vị Đồng thời, sự đổi mới cũng đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa CSR và kết quả hoạt động tại các công ty này Điều đó cũng có nghĩa là, CSR tác động tích cực

và trực tiếp đến sự đổi mới

Tương tự như Isabel et al., nghiên của Mohammed và Robert E Hinson cũng đưa ra

những kết luận liên quan đến vấn đề, chứng minh mối quan hệ tích cực và trực tiếp giữa CSR và sự đổi mới trong các công ty viễn thông ở Ghana

Được tiến hành ở một quốc gia và ngành nghề khác, nhưng nghiên cứu của Yasushi Ueki et al cũng có cùng kết luận với hai nghiên cứu trên Các tác giả đã chứng minh mối tương tác chặt chẽ giữa CSR và sự đổi mới tại các công ty vận tải ở Thái Lan

Một nghiên cứu khác được thực hiện bởi Carmelo et al (2016) cũng đề cập đến kết quả tương tự Sau khi khảo sát 133 doanh nghiệp vừa và nhỏ, các tác giả khẳng định CSR tác động tích cực và trực tiếp đến sự đổi mới cũng như kết quả hoạt động

Dựa trên những cơ sở đó, cùng với mong muốn khám phá mối quan hệ giữa hai yếu

tố này tại Việt Nam, tác giả đã thực hiện đề tài và phát triển giả thuyết đầu tiên:

H1: CSR tác động trực tiếp và tích cực đến sự đổi mới tại các siêu thị trên địa bàn TP.HCM

Trang 35

2.4.2 Mối quan hệ giữa sự đổi mới và kết quả hoạt động của doanh nghiệp

Hầu hết các tài liệu học thuật đều khẳng định rằng các hoạt động đổi mới vốn liên quan đến việc cải thiện hiệu suất công ty (Saez-Martinez et al., 2014) Tuy nhiên, các nghiên cứu trong giai đoạn trước vẫn chưa đủ chiều sâu về mối quan hệ này, cụ thể là làm cách nào sự đổi mới có thể tác động đến kết quả kinh doanh của đơn vị

Để lý giải điều đó, một số tác giả đã đưa ra những lập luận rõ ràng, vững chắc Theo Johne và Davies (2000), Otero-Neyra et al (2009), sự đổi mới là cơ sở tạo nên lợi thế cạnh tranh khác biệt của công ty Thông qua đó, chất lượng sản phẩm, dịch vụ được nâng cao, đóng góp đáng kể đến hiệu suất hoạt động cũng như lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp (Garvin, 1987; Forker et al., 1996) Về đổi mới quy trình, các tác giả nhấn mạnh rằng đây là khả năng đặc biệt tạo nên lợi thế cạnh tranh bền vững (Nemetz

và Fry, 1988) Một quy trình được cải tiến sẽ giúp công ty tận dụng tối đa nguồn lực sẵn có, tạo nên những đột phá tích cực, từ đó dẫn đến sự tăng trưởng ổn định (Morone

và Testa, 2008) và hiệu quả cao hơn (Varis và Littunen, 2010; Ar và Baki, 2011)

Trong các bài báo khoa học liên quan đã được trình bày, có thể sử dụng kết quả của

ba nghiên cứu được tiến hành ở hai quốc gia và một lĩnh vực đặc biệt, đầu tiên là nghiên cứu của Isabel et al (2017) Sau khi khảo sát hơn 500 công ty, các tác giả đã đưa ra một trong những kết luận quan trọng chứng minh mối quan hệ trực tiếp giữa sự đổi mới và kết quả hoạt động của doanh nghiệp Được tiến hành trong khoảng thời gian tương tự tại Tây Ban Nha, Carmelo et al cũng nhấn mạnh rằng hoạt động đổi mới có ảnh hưởng đáng kể đến kết quả hoạt động của các công ty Tại Ghana, ở lĩnh vực khác như viễn thông, nghiên cứu trước đó của Mohammed và Robert (2012) cũng đã khám phá được mối quan hệ cùng chiều giữa hai yếu tố này

Dựa trên những cơ sở đó, tác giả đã phát triển giả thuyết nghiên cứu thứ hai:

Trang 36

H2: Sự đổi mới tác động tích cực và trực tiếp đến kết quả hoạt động tại các siêu thị trên địa bàn TP.HCM

2.4.3 Mối quan hệ giữa CSR và kết quả hoạt động của doanh nghiệp

Mối quan hệ giữa CSR và kết quả hoạt động của doanh nghiệp đã nhận được sự chú

ý đáng kể từ các học giả trong ba thập kỷ vừa qua Theo nhận định của các nhà nghiên cứu, thường có một mối tương tác tích cực giữa CSR và hiệu quả tài chính Sự thành công của một tổ chức thường phụ thuộc vào năng lực quản lý mối quan hệ với các bên liên quan Đây chính là công cụ thiết yếu để tạo ra giá trị (Hammann et al., 2009), bởi nhận được sự ủng hộ từ các đối tượng hữu quan, tổ chức sẽ càng có nhiều cơ hội thuận lợi để phát triển kinh doanh Theo Orlitzky et al (2003), CSR là một trong những động lực giúp doanh nghiệp quản lý hiệu quả chuỗi quan hệ với các bên liên quan

Trong các bài báo khoa học liên quan đến vấn đề đã được trình bày, có thể sử dụng kết quả của bốn nghiên cứu được tiến hành ở các vùng lãnh thổ và quy mô doanh nghiệp khác nhau Đầu tiên là hai nghiên cứu được thực hiện tại Tây Ban Nha của Isabel et al.(2017) và Carmelo (2016) Bên cạnh các kết luận khác, các tác giả cũng chứng minh một mối quan hệ có giá trị trong thực nghiệm là: CSR tác động tích cực đến kết quả hoạt động của đơn vị Trước đó, nghiên cứu của Sayedeh (2014) được tiến hành tại Iran và Dolores (2014) được khảo sát tại một số công ty ở châu Âu cũng khẳng định kết quả tương tự Tại Việt Nam, nghiên cứu của Châu Thị Lệ Duyên (2014)

và Lê Phước Hưng (2017) cũng tái khẳng định các kết luận này

Dựa trên những cơ sở đó, tác giả đã phát triển giả thuyết nghiên cứu cuối cùng:

H3: CSR tại các siêu thị trên địa bàn TP.HCM tác động tích cực đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp

2.4.4 Mô hình nghiên cứu

Trang 37

Dựa trên lập luận để xây dựng giả thuyết nghiên cứu, tác giả phát triển thành mô hình nghiên cứu gồm ba yếu tố chính và ba mối quan hệ dạng “tam giác” như hình 2.1:

H3 (+)

H1 (+)

H2 (+)

Hình 2.1 - Mô hình nghiên cứu

(Nguồn: tác giả đề xuất)

Trong chương này, tác giả đã tổng hợp những nghiên cứu trước có liên quan đến ba khái niệm: CSR, sự đổi mới và kết quả hoạt động của doanh nghiệp Cùng với việc trình bày những đặc điểm hoạt động tại các siêu thị trên địa bàn TP.HCM, tác giả đã biện luận để lựa chọn thang đo nghiên cứu phù hợp với bối cảnh thực tế tại các đơn vị này Đó chính là cơ sở để phát triển mô hình và giả thuyết nghiên cứu tương ứng Các phương pháp cụ thể được sử dụng để thu thập và phân tích dữ liệu nghiên cứu sẽ được trình bày ở chương sau

CSR

Sự đổi mới

Kết quả hoạt động của doanh nghiệp

Trang 38

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trong hai chương đầu, tác giả đã giới thiệu những vấn đề tổng quan cũng như cơ sở

lý thuyết và phát triển mô hình nghiên cứu của đề tài Việc thiết kế phương pháp nghiên cứu làm nền tảng để nêu kết quả sẽ được tác giả trình bày ở chương này, bao gồm hai giai đoạn chính: nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng

3.1 Quy trình nghiên cứu

Như đã trình bày, quy trình thực hiện đề tài bao gồm hai giai đoạn chính: nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng, bắt đầu từ việc xác định vấn đề và kết thúc bằng việc trình bày kết quả nghiên cứu, cụ thể bao gồm bảy bước cơ bản sau đây:

- Xác định và làm rõ vấn đề nghiên cứu Tác giả xác định chủ đề nghiên cứu, đánh giá dựa trên các vấn đề cần giải quyết tại các siêu thị Ngoài ra, giai đoạn này còn bao gồm việc xác định mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, lựa chọn phương pháp nghiên cứu thích hợp để thu thập và phân tích dữ liệu cho đề tài

- Thu thập các nghiên cứu và cơ sở lý thuyết có liên quan Giai đoạn này bao gồm việc nghiên cứu các mô hình và kết quả có sẵn, sàng lọc và lựa chọn những lý thuyết phù hợp để làm cơ sở cho việc trình bày đề tài

- Thiết lập mô hình nghiên cứu, biện luận và phát triển các giả thuyết nghiên cứu tương ứng từ cơ sở lý thuyết có sẵn

- Thực hiện, xử lý và phân tích dữ liệu định tính Sau khi tiến hành phỏng vấn một nhóm các chuyên gia, tác giả thống kê, tổng hợp dữ liệu và phân tích kết quả

- Xây dựng thang đo và thiết kế bảng câu hỏi khảo sát chính thức

Trang 39

- Điều tra, thu thập, phân tích dữ liệu Từ thang đo và bảng câu hỏi có sẵn, tác giả tiến hành thu thập dữ liệu từ các đối tượng khảo sát thông qua một quy trình lấy mẫu

có hệ thống Sau đó, tác giả vận dụng kết hợp các phương pháp để xử lý dữ liệu

- Trình bày kết quả nghiên cứu một cách rõ ràng, cụ thể, nêu ý nghĩa khoa học của đề tài trong thực tiễn, đồng thời đề cập đến những hạn chế cơ bản nhằm định hướng cho những nghiên cứu trong tương lai

3.2 Nghiên cứu định tính

Như đã trình bày, nghiên cứu định tính nhằm điều chỉnh những điểm chưa phù hợp

ở thang đo và bảng câu hỏi nghiên cứu Quy trình thực hiện nghiên cứu bao gồm hai giai đoạn cơ bản là chuẩn bị và thực hiện nghiên cứu, cụ thể như sau:

Bước 1: Chuẩn bị nghiên cứu định tính

Tham khảo và sàng lọc cơ sở lý thuyết

Sau khi xác định vấn đề, tác giả tìm kiếm các tài liệu học thuật có liên quan đến ba khái niệm: CSR, sự đổi mới và kết quả hoạt động, được đăng trên tạp chí khoa học xếp hạng Q1, Q2 Các bài báo liên quan đến đề tài và được công bố trong thời gian gần đây (từ năm 2009) sẽ được lựa chọn, làm cơ sở cho việc phát triển mô hình và thang đo

Lựa chọn phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thiện thang đo, tác giả sử dụng phương pháp thảo luận một nhóm 7 chuyên gia tại các siêu thị trên địa bàn TP.HCM Theo Tạp chí Xã hội học (1994), nhóm thảo luận tối ưu sẽ có từ 5 đến 7 người để đáp ứng tốt hơn những khó khăn mà nhóm lớn thường gặp phải Đồng thời, do hạn chế về mặt thời gian và sự đồng thuận tham gia từ các đối tượng khác, tác giả lựa chọn chỉ 7 chuyên gia từ các thương hiệu có số lượng siêu thị nhiều nhất ở TP.HCM (tỷ lệ đại diện 89%) Các chuyên gia sẽ được tham khảo

Trang 40

thang đo gốc từ nghiên cứu của Isabel et al (2017), sau đó trình bày quan điểm của mình về việc giữ nguyên, lược bỏ hay điều chỉnh để phù hợp với bối cảnh thực tế

Đối tượng tham gia

Các đối tượng được lựa chọn tham gia thảo luận là nhà quản lý và chuyên viên đang làm việc tại các phòng ban chuyên môn, đáp ứng đầy đủ các tiêu chí cụ thể như sau:

- Kinh nghiệm làm việc: từ 3 năm trở trong lĩnh vực siêu thị

- Có kiến thức và hiểu biết nhất định về CSR

- Các chuyên gia phải làm việc tại các phòng ban chuyên môn, nắm được tình hình hoạt động tại các siêu thị, cụ thể: Phòng Kế hoạch tổng hợp, Phòng Kinh doanh, Phòng Marketing, Phòng Tài chính

Thông tin về các đối tượng tham gia thảo luận được tác giả liệt kê trong Phụ lục 2 – Thông tin các chuyên gia tham gia thảo luận

Xây dựng dàn bài thảo luận

Để thu thập dữ liệu định tính, tác giả sử dụng dàn bài thảo luận bao gồm bốn phần chính: Phần thứ nhất giới thiệu mục đích và tính chất cuộc nghiên cứu; phần thứ hai nhằm khơi dậy bầu không khí cởi mở để các chuyên gia trình bày quan điểm của mình; phần thứ ba gồm các câu hỏi định hướng cho quá trình thảo luận và cuối cùng là kết thúc Nội dung cụ thể được trình bày chi tiết trong Phụ lục 3 – Dàn bài thảo luận nhóm

Mời thảo luận

Sau khi dự kiến danh sách tham gia, tác giả tiến hành gửi thư mời thảo luận bằng email đến các đối tượng này Thư mời thảo luận nhóm bao gồm các nội dung được tác giả trình bày cụ thể trong Phụ lục 1 – Thư mời tham gia thảo luận nhóm

Bước 2: Thực hiện và xử lý dữ liệu nghiên cứu định tính

Ngày đăng: 22/06/2021, 09:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w