3 hiểu là đời thứ sáu chi 3 * Hà Nguyên Thành VII.2 đời thứ bảy chi 2 Một số qui định chung của dòng họ : + Ngày mùng 10 tháng Chạp hàng năm là ngày Giỗ tổ + Ngày 17 tháng 2 hàng năm là [r]
Trang 1CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc &
GIA PHẢ HỌ HÀ ( XÃ NGHĨA KỲ - HUYỆN TƯ NGHĨA – TỈNH QUẢNG NGÃI )
TỔ ĐỨC BẢO HỘ ĐỐNG LƯƠNG TĂNG QUAN VĂN CHƯƠNG TỬ TÔN TRƯỜNG BÁCH THẾ TIÊN ÂN PHÒ TRÌ TỰ ĐƯỜNG NHƠN BỒI PHÚ QUÝ VINH QUANG VĨNH THIÊN NIÊN
(Hai câu đối tại nhà thờ tổ )
LỜI MỞ ĐẦU
Chim có tổ , người có tông – Một giọt máu đào hơn ao nước lã Đó chính là đạo lý
thiêng liêng của con người Ai cũng có khát vọng tìm về cội nguồn của mình được được sống trong tình thương và sự đùm bọc , nâng đỡ nhau cùng nhau tiến bộ Xuất phát từ đây , tôi –
Hà Ngọc Tiến – đã từ lâu ôm ấp ý định xây dựng cho dòng họ mình một cuốn gia phả với những mục đích :
+ Giúp cho con cháu nhiều thế hệ biết cội nguồn
+ Biết cách xưng hô đúng theo thứ bậc
+ Tránh đặt họ tên trùng nhau
+ Tránh việc nhầm lẫn trong hôn nhân
+ Có ý thức xây dựng dòng họ ngày càng đoàn kết , vững mạnh và phát triển
+ Biết được ngày sinh , ngày mất
+ Biết được nơi an táng và ngày cúng giỗ của từng người
Từ những năm 2000 tôi đã bắt đầu sưu tầm , sưu tra biên soạn và đến năm 2003 tôi đã hoàn thành bản thảo lần thứ nhất , nhưng trong bảo thảo nầy còn nhiều thiếu sót và quá sơ lược Vậy nên tôi lại tiếp tục công việc của mình, đi tìm tung tích sâu xa của dòng họ để viết lại thành bản gia phả này Ở đây, tôi đã sưu tầm tương đối đầy đủ về tên họ của những người trong họ và hệ thống theo từng đời , từng chi , cách viết rất dân dã , dễ đọc dễ hiểu ít dùng từ Hán Việt , cách xưng hô rất trân trọng nhưng không cầu kỳ
Tôi chỉ là người sinh sau , đẻ muộn , những gì tôi chép ra chỉ là nghe người trước kể lại , tất nhiên còn nhiều thiếu sót Những người đang sống và sẽ sống , sẽ kế tục dòng họ viết tiếp gia phả nầy để lưu truyền cho muôn đời Sau khi bản gia phả nầy ra đời , mọi góp ý xin gởi về địa chỉ :
+ Ông Hà Ngọc Trung (4 Có ) – Trưởng tộc – Nhà thờ tổ họ Hà - Xóm An Hòa –
Thôn An Hội Bắc II , Xã Nghĩa Kỳ , huyện T ư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi
+ Hoặc ông Hà Ngọc Tiến – Giáo viên trường THPT Chu Văn An – huyện Tư Nghĩa , Tỉnh
Cầu mong cho anh em trong dòng tộc sum họp ,hòa thuận ngày càng AN KHANG THỊNH VƯỢNG
Tư Nghĩa , ngày 12 tháng 12 năm Nhâm Thìn 2012
Trưởng tôn
Hà Ngọc Tiến
Trang 2KHÁI QUÁT VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA HỌ HÀ
Đầu thế kỷ XX Có 3 anh em họ Hạ từ phương Bắc di cư vào Quảng Ngãi , một người đến định cư tại xã Hành Dũng huyện Nghĩa Hành , một người đến định cư tại xã Nghĩa Trung
, huyện Tư Nghĩa Người anh cả là HẠ CAI MÂN đến định cư tại vùng đất xóm An Hòa ,
thôn An Hội Bắc , Xã Nghĩa Kỳ ,huyện Tư Nghĩa , tỉnh Quảng Ngãi Ban đầu 3 anh em có liên lạc với nhau cùng nhau tảo mộ và ăn chạp tại nhà thờ chính vào ngày 10 tháng chạp âm lịch hàng năm , nhưng sau đó do hoàn cảnh chiến tranh và những người lớn tuổi đã mất nên chi nhánh của hai người kia bị thất lạc , đến nay vẫn chưa liên lạc được Bản gia phả nầy chỉ viết về nhánh của ông Hạ Cai Mân ở An Hòa – An Hội Bắc - Nghĩa Kỳ - Tư Nghĩa
Nếu tính từ đời ông Hạ Cai Mân là đời thứ nhất thì từ đầu thế kỷ XX đến nay họ hà đã trải qua VII đời ,có khoảng hơn 600 người sinh sống chủ yếu ở An Hòa – An Hội Bắc – Nghĩa
Kỳ và một số nơi khác trong huyện Tư Nghĩa và cũng đã có một số người đã di cư vào Nam sống ở Tây Ninh , Sông Bé , Bình Phước , Bà Rịa – Vũng Tàu VV
Nhìn chung , anh em trong dòng tộc hòa thuận , phần đông là sản xuất nông nghiệp , nổi tiếng với nghề rèn , buôn bán nhỏ , công chức nhà nước Sống tập trung chủ yếu ở thôn An Hội Bắc , dọc đường hương lộ từ trường Cao Đẳng nghề Cơ giới đến trường Công An 5 Nhà thờ chính tại xóm An Hòa , cách ngã tư Quốc tế 200 mét về phía Bắc , đã được xây dựng lại vào năm Quý Mùi 2003 Ngày Giỗ tổ của dòng họ là ngày 10 tháng chạp hàng năm
Sau đây là sơ đồ phát triển của các đời và các chi phái :
Nhánh trưởng tộc như sau :
Hạ Cai Mân ( đời thứ I ) Hạ Nờm( đời thứ II ) Hà Hoan ( đời thứ III )
Hà Nai ( đời thứ IV ) Hà Ngọc Trung ( đời thứ V ) Hà Ngọc Tiến ( đời thứ VI )
Hà Ngọc Tân ( đời thứ VII)
Và để cho tiện tra cứu , ghi chép , phân thứ bậc sau nầy , từ đời thứ III ( đời ông Hà Hoan)
họ Hạ đổi thành họ Hà chia thành bảy chi sau
Chi 1: (Chi trưởng tộc) : ông Hà Hoan vợ là bà Võ Thị Thượng sinh hạ ông Hà Nai ( đời
thứ IV ) Hà Ngọc Trung ( đời thứ V ) Hà Ngọc Tiến ( đời thứ VI ) Hà Ngọc Tân ( đời thứ VII)
Văn Quang ( đời thứ V ) Hà Văn Trung ( đời thứ VI ) Hà Nguyên Thành ( đời thứ VII)
Chi 3 : ông Hà Lạc vợ là bà Võ Thị Chiều sinh hạ ông Hà Văn Công ( đời thứ IV ) Hà
Văn Hóa ( đời thứ V ) Hà Văn Nhung ( đời thứ VI ) Hà Văn Chính ( đời thứ VII)
Chi 4 : ông Hà Khâm vợ là bà Phạm Thị Tịch sinh hạ ông Hà Ngọc Lang ( đời thứ IV )
Hà Ngọc Châu ( đời thứ V ) Hà Ngọc Phi ( đời thứ VI )
Chi 5 : Ông Hà Sứ vợ là bà sinh hạ Hà Thị Hùng
Chi 6 : ông Hà Thừa vợ là bà Nguyễn Thị Nhậm sinh hạ ông Hà Ngoc Sĩ ( đời thứ IV )
Hà Ngọc Tín ( đời thứ V ) Hà Ngọc Phát ( đời thứ VI )
Chi 7 : ông Hà Phái vợ là bà sinh hạ ( Sống ở Tây Ninh )
Cách sắp xếp trong bản gia phả nầy theo từng đời , từng chi Đời được kí hiệu bằng chữ số
La Mã I , II , III , IV , V , VI , VII Chi được kí hiệu bằng chữ số Ả Rập 1, 2, 3 ,4 ,5 ,
6 ,7 Trong một đời, người ở chi sau phải gọi người ở chi trước bằng anh Trong một chi,
Trang 3người xếp sau phải gọi người xếp trước bằng anh Có một số chỗ viết tắt cho gọn : Ví dụ :
Hà Ngọc Trung ( V.1) hiểu là đời thứ năm , chi thứ 1 * Hà Văn Nhung ( VI 3) hiểu là đời thứ sáu chi 3 * Hà Nguyên Thành (VII.2) đời thứ bảy chi 2
Một số qui định chung của dòng họ :
+ Ngày mùng 10 tháng Chạp hàng năm là ngày Giỗ tổ
+ Ngày 17 tháng 2 hàng năm là ngày Tế Xuân
+ Khi sinh con cha ( hoặc mẹ ) phải có trách nhiệm về nhà thờ để tra cứu tìm tên cho khỏi trùng lặp để đặt tên con và sau ghi rõ họ tên ngày tháng năm sinh vào gia phả
+ Khi mất người nhà phải về cáo phó ông bà tại nhà thờ và ghi tên ,ngày tháng năm mất , nơi
an táng vào gia phả
+ Khi có người về làm dâu (hoặc rễ) người nhà phải đến nhà thờ để ghi tên vào gia phả
+ 13 giờ chiều ngày mùng 9 tháng chạp âm lịch hàng năm ,tất cả con , cháu trai tập trung tại nhà thờ , đi tảo mộ cho ông bà để ngày mùng 10 lo chạp
+ Khuyến khích những người trong dòng họ khi sinh con nên lót chữ ngọc , nam : Hà Ngọc
Nữ : Hà Thị Ngọc
QUÊ TÔI
Quê tôi ở xóm An Hòa Thôn An Hội Bắc mặn mà yêu thương Trước nhà có một dòng mương Ngã Tư Quốc Tế con đường phân tranh
Gò Ông Cội, hóc Ông Sanh Đồng Giang ,Đồng Bạch vây quanh Rộc Cầu
Đồng Lớn ,Đồng Bé hai đầu Gặp nhau Bầu Lát, Bàu Lăng, Hóc Lầy Rừng Bà Chuyên,Rộc Bà Lang
Bờ đê chắn lũ bên An Tập về
Xa rồi vẫn nhớ Bầu Trê Dốc Bà Bính đó đi về có nhau Còn chăng hỡi vũng Trâu Nằm ? Rầm rì “TÁ,VÍ” vẫn còn âm vang
Xa quê nhưng vẫn nhớ làng Bao tên gọi đó mơ màng năm canh…
( Hà Ngọc Tiến )
PHẦN CỤ THỂ CHI TIẾT VỀ CÁC ĐỜI CÁC CHI
ĐỜI THỨ I :
Trang 4- Ông Hạ Cai Mân chưa rõ năm sinh năm mất , chỉ biết ngày giỗ là ngày 17 tháng 2 âm lịch hàng năm , mộ tại gò Ông Cội( An Hòa ) có vợ là người họ Đinh chưa rõ năm sinh ,năm mất chỉ biết ngày giỗ là ngày 15 tháng 9 âm lịch, mộ tại vườn ông Phu ( An Hòa) Ông bà đã sinh hạ được 6 người con : Hạ Ba – Hạ Nờm – Hạ Xuân – Hạ Thị Thuyên – Hạ Thị Trượng – Hạ Thị Lượng Người con trai cả là Hạ Ba mất sớm ( mộ tại gò ông Kính – cách bờ đạp 200 mét về phía Bắc ) , con gái theo chồng , 2 người con trai lập gia đình sinh con đẻ cháu thành các chi phái sau nầy
ĐỜI THỨ II
- Ông Hạ Nờm chưa rõ năm sinh năm mất , chỉ biết ngày giỗ là ngày 29 tháng 1 âm lịch hàng năm , mộ tại vườn ông 4 Thơ ( An Bình – Đồng Kho) có vợ là bà Nguyễn Thị Giã chưa rõ năm sinh năm ,năm mất chỉ biết ngày giỗ là ngày 13 tháng 6 âm lịch hàng năm , mộ sát với
mộ ông Ông ,bà sinh hạ : Hạ Hoan (Ông Ngôn )– Hạ Thị Hỷ- HạThị Hòa – HạVăn Hiệp( ông Biện ) – HạThị Huyền – Hạ Thị Chuỗi (bà Quảng) – Hạ Văn Lạc ( ông Công ) -Ông Hạ Xuân có vợ là bà Sinh hạ : Hạ Khâm(Ông Chánh ) - Hạ Sứ (Ông Hùng ) - Hạ Thừa (Ông Dương ) – Hạ Phái (Vào sống ở Tây Ninh ) - Hạ Thị Như- Hạ Thị Định – Hạ Thị Thông
- Đến khoảng năm 1930 , do tình hình kinh tế của dòng họ bỗng dưng sa sút , nên các bậc tiền
bối đã triệu tập cuộc họp toàn họ quyết định đổi thành họ Hạ thành họ Hà và phân thành 7
chi phái
ĐỜI THỨ III
( Đổi thành họ Hà và phân thành 7 chi phái ) Chi 1:
+ Ông Hà Hoan ( 1887 – 12/4/1931) mộ tại gò Mốc có vợ là bà Võ Thị Thượng (1890 – 19/3/1973) mộ tại gò Đình , ông bà sinh hạ : Hà Văn Ngôn – Hà Nai (ông Hữu) – Hà Hưu –
Hà Lừa – Hà Thị Ai
Chi 2 :
+Ông Hà Văn Hiệp có vợ là bà Trần Thị Kiệm , ông bà sinh hạ : Hà Biện (Ông Kiểm )–
Hà Thủ Hà Cừu (ông Thoang) – Hà Tý (Ông 6 Tý) – Hà Quang Thái (ông 7 Tỳ ) – Hà Kỳ
-Hà Khôi (Ông 9 Khôi )
Chi 3 :
+ Ông Hà Lạc có vợ là bà Võ Thị Chiều , ông bà sinh hạ : Hà Văn Công ( Ông Văn ) –
Hà Văn Danh – Hà Thị Phú (Mai ) – Hà Thị Mỹ Hà Thị My – Hà Quang Tấn ( Ông 7 Đề )
-Hà Tám
Chi 4 :
+ Ông Hà Khâm có vợ là bà Phạm Thị Tịch ông bà sinh hạ : Hà Thị Chánh – Hà Ngọc Lang ( ông 4 Cảnh )
Chi 5 :
+ Ông Hà Sứ vợ là bà sinh hạ : Hà Thị Hùng
Chi 6 :
Trang 5+ Ông Hà Thừa vợ là bà Nguyễn Thị Nhậm sinh hạ : Hà Thị Dương – Hà Ngọc Ẩn - Hà Ngọc Sĩ (Ông 4 Nông ) - Hà Thị Tấn - Hà Ngọc Tài
Chi 7 :
+ Ông Hà Phái vợ là bà sinh hạ ( Sống ở Tây Ninh )
ĐỜI THỨ IV:
Chi 1 :
+ Ông Hà Nai (1921 – 28/9/2010 ) mộ tại gò Ông Cội ,có vợ là bà Phạm Thị Thưa ( 1922-07/12/2005) mộ tại gò ông Cội sát mộ chồng Ông bà sinh hạ : Hà Thị Hữu – Hà Ngọc Trung (ông 4 Có ) – Hà Văn Lại – Hà Thị Đến – Hà Thị Sương – Hà Miễn – Hà Thị Vinh
Chi 2 :
+ Ông Hà Biện cưới bà Trần Thị Tòa , ông bà sinh hạ : Hà Thị Kiểm –
Hà Văn Quang ( Ông 3 Kiểm ) – Hà Thị Bốn – Hà Thị Năm – Hà Thị Sáu – Hà Văn Bảy –
Hà Văn Tám – Hà Văn Chín
+Ông Hà Cừu có vợ là bà Trần Thị Xọ ông bà sinh hạ : Hà Thoang – Hà Thị Loan-
Hà Ngọc Phụng – Hà Văn Xanh ( Anh)
+ Ông Hà Văn Tý có vợ là bà Lê Thị Bông ,ông bà sinh hạ : Hà Thị Hoa – Hà Thị Hòe –
Hà Văn Dũng ( Thu ) – Hà Thị Sang
+ Ông Hà Quang Thái ( Ông 7 Tỳ ) có vợ là bà Bùi Thị Tư ,ông bà sinh hạ : Hà Thị Liên –
Hà Thị Sương – Hà Thị Lan – Hà Thị Thủy – Hà Thị Kiều – Hà Vinh – Hà Thị Nga
+ Ông Hà Văn Khôi có vợ là bà Nguyễn Thị Nào , ông bà sinh hạ : Hà Văn Thanh –
Hà Văn An – Hà Văn Nhàn – Hà Văn Hoan
Chi 3 :
+ Ông Hà Văn Công có vợ là bà Trần Thị Phi , ông bà sinh hạ : Hà Thị Văn – Hà Văn Hóa –
Hà Văn Lập (4 Xã ) – Hà Thị Hội – Hà Văn An – Hà Văn Nam – Hà Văn Đường –
Hà Văn Quốc – Hà Văn Trưởng
+Ông Hà Quang Tấn (ông 7 Đề ) cưới bà Trịnh Thị Mai , ông bà sinh hạ : Hà Văn Phương ,
Hà Thị Lan – Hà Văn Thu – Hà Văn Đông – Hà Văn Hồng – Hà Văn Hạnh
Chi 4 :
+ Ông Hà Ngọc Lang ( Ông 4 Cảnh ) có vợ là bà Trần Thị Hoa sinh hạ :Hà Thị Hoanh –
Hà Thi Quỳnh - Hà Ngọc Châu – Hà Thị Kim – Hà Thị Thắm , Hà Ngọc Can , và ông
Hà Ngọc Lang có tiếp vợ 2 là bà sinh hạ : Hà Văn Điệp , Hà Thị Nhung
Chi 5 : Bà Hà Thị Hùng bị tàn tật , sau đó mất , táng ở tại vườn ( chi nầy tiệt tự )
Chi 6 :
+ Ông Hà Ngọc Sĩ ( ông 4 Nông ) có vợ là bà Nguyễn Thị Quới , ông bà sinh hạ : Hà Ngọc Tín – Hà Thị Tâm (Đã mất ) – Hà Vô Danh – Hà Ngọc Tình
+ Ông Hà Ngọc Tài có vợ là bà sinh hạ
Chi 7 : Ông Hà Thái sống ở Tây Ninh nên chưa tìm tông tích được
Trang 6
ĐỜI THỨ V
Chi 1 :
+Ông Hà Ngọc Trung (ông 4 Có ) có vợ là bà Lê Thị Nở , ông bà sinh hạ : Hà Ngọc Tiến – Hà Thị Kim Liên (Tư) – Hà Thị Kim Nhung (Xanh) – Hà Thị Kim Khuê – Hà Thị Kim Ngân – Hà Ngọc Khánh – Hà Tuất ( mất khi còn nhỏ - mộ tại gò ông Cội) – Hà Thị Kim Vân
+Ông Hà Miễn có vợ là bà Đặng Thị Công , ông bà sinh hạ : Hà Văn Hải –
Hà Quang Quân – Hà Duy Sơn – Hà Thị Nhanh
Chi 2:
+Ông Hà Văn Quang có vợ là bà Nguyễn Thị Hồng , ông bà sinh hạ : Hà Văn Trung –
Hà Văn Đông – Hà Thị Hải – Hà Văn Minh
+Ông Hà Văn Bảy có vợ là bà Hồ Thị Thanh Nương , ông bà sinh hạ : Hà Thị Thương –
Hà Văn Vũ – Hà Thị Bích Ngọc
+ Ông Hà Văn Tám có vợ là bà Bạch Thị Băng Giang ,ông bà sinh hạ : Hà Đông Tuấn –
Hà Xuân Tuyên
+ Ông Hà Văn Chín có vợ là bà Đoàn Thị Hồng Vân ,ông bà sinh hạ : Hà Thị Vi Linh –
Hà Hồng Sơn
+ Ông Hà Văn Thoang có vợ là bà Nguyễn Thị Hoa ,ông bà sinh hạ : Hà Thị Phượng –
Hà Thanh Liên ( đã mất ) - Hà Thị Thu Thúy – Hà Thanh Tuấn – Hà Thị Thu Yến –
Hà Thị Thu Nhi – Hà Thị Thu Phương
+ Ông Hà Minh Phụng có vợ là bà Mau ,ông bà sinh hạ : Hà Minh Thi –
Hà Thị Thu – Hà Thị Hoanh
+ Ông Hà Văn Anh ( Xanh ) có vợ là bà Nguyễn Thị Thúy Linh ,ông bà sinh hạ :
Hà Thị Yến Nhi – Hà Thị Mỹ Hạnh – Hà Thị Thu Hiền + Ông Hà Văn Dũng ( Ông Thu 6 Tý ) có vợ là bà Nguyễn THị Hiếu , ông bà sinh hạ :
Hà Thị Bích Hạnh – Hà Như Thùy – Hà Vi Trâm
+ Ông Hà Vinh có vợ là bà Nguyễn Thị Khải : ông bà sinh hạ :
Hà Thị Phây Phây –Hà Thị Sô Ny
+Ông Hà Văn Thanh có vợ là bà Hương , ông bà sinh hạ :
Hà Duy Tuấn – Hà Duy Vũ
+ Ông Hà Văn An có vợ là bà Võ Thị Thiện ,ông bà sinh hạ : Hà Văn Tân ,Hà Văn Xuân ,
Hà Văn Nhật
+ Ông Hà Văn Nhàn có vợ là bà Phạm Thị Hòa ,ông bà sinh hạ :
Hà Thị Thuận – Hà Thị Vi
+ Ông Hà Văn Hoan có vợ là bà Lan , ông bà sinh hạ : Hà Huỳnh Son ,
Chi 3
+ Ông Hà Văn Hóa có vợ là bà Phạm Thị Thọ , ông bà sinh hạ : Hà Văn Nhung –
Hà Văn Hành – Hà Văn Hương – Hà Văn Tốt + Ông Hà Văn Lập ( 4 Xã ) có vợ là bà Bùi Thị Sự ,ông bà sinh hạ : Hà Thị Lệ Thủy –
Trang 7Hà Hữu Lợi – Hà Hữu Thạch – Hà Thị Thúy Huệ - Hà Thị Thúy Đào + Ông Hà Văn An có vợ là bà Hồi , ông bà sinh hạ : Hà Văn Tiên- Hà Bé Sa + Ông Hà Văn Đường có vợ là bà Lý , ông bà sinh hạ Hà Văn Đạt –
Hà Thị Châu – Hà Văn Mai ( Gia đình ông Đường chuyển vào sống ở Bình Phước ) + Ông Hà Văn Quốc có vợ là bà Sơn , ông bà sinh hạ :
Hà Văn Tùng
+ Ông Hà Văn Trưởng ( mất năm 30 tuổi , chưa có vợ , mộ tại nghĩa địa Nghĩa Kỳ ) + Ông Hà Văn Phương có vợ là bà Nguyễn Thị sinh , ông bà sinh hạ : Hà Văn Tây – Hà Thị Nhân – Hà Thị Lên – Hà Thị Thu Thành + Ông Hà Văn Thu có vợ là bà Bùi Thị Liêm , ông bà sinh hạ : Hà Thị Thanh Hoàng – Hà Quang Huy + Ông Hà Văn Hồng có vợ là bà Phạm Thị Bình , ông bà sinh hạ : Hà Phan Quang Hào + Ông Hà Văn Đông có vợ là bà Nguyễn Thị Dũng , ông bà sinh hạ : Hà Thị Tình - Hà Văn Huynh – Hà Thị Yến – Hà Văn Lâm – Hà Thị Nguyên + Ông Hà Văn Hạnh
Chi 4 + Ông Hà Ngọc Châu có vợ là bà Nguyễn Thị Nga ,ông bà sinh hạ : Hà Ngọc Phi – Hà Thị Phượng – Hà Ngọc Phúc + Ông Hà Ngọc Can ( mất khi chưa có vợ ) + Ông Hà Ngọc Điệp
Chi 5 : Tiệt tự Chi 6: + Ông Hà Ngọc Tín có vợ là bà Nguyễn Thị Hoa , ông bà sinh hạ : Hà Ngọc Phát – Hà Thị Ngọc Vân – Hà Ngọc Thuận + Ông Hà Ngọc Tình
Chi 7 : Đang sống ở Tây Ninh nên chưa tìm được
ĐỜI THỨ VI
Chi 1 :
+ Ông Hà Ngọc Tiến sinh ngày 12/12/1968 có vợ là bà Tân Thị Bích Khuê sinh ngày 1/1/1973 , ông bà sinh hạ : Hà Tân Mỹ Tuấn ( mất ngày 26/7/1999 – mộ tại gò Ông Cội ) ,
Hà Thị Ngọc Trâm ( Sinh ngày 14/11/1999) - Hà Thị Ngọc Trinh ( Sinh ngày 20/8/2001) –
Hà Ngọc Tân ( sinh ngày 10/12/2004) , Hà Tân Ngọc ( Sinh ngày 28/9/2006)
Trang 8+ Ông Hà Ngọc Khánh có vợ là bà Tống Thị An , ông bà sinh hạ : Hà Ngọc Anh Khoa – Hà Ngọc Thanh Kiều
+ Ông Hà Văn Hải có vợ là bà Tạ Thị Tuyết Anh , ông bà sinh hạ : Hà Thị Phương Uyên
-
+ Ông Hà Quang Quân có vợ là bà Nguyễn Thị Thanh Ca , ông bà sinh hạ : Hà Quang Vũ
+ Ông Hà Duy Sơn
Chi 2 : + Ông Hà Văn Trung có vợ là bà Nguyễn Thị Thanh Thủy ,ông bà sinh hạ : Hà Thị Thanh Thùy – Hà Thị Minh Thư – Hà Nguyên Thành + Ông Hà Văn Đông ( Con 3 Kiểm ) có vợ là bà Phan Thị Minh Châu , ông bà sinh hạ : Hà Văn Huy – Hà Thị Hoàng + Ông Hà Văn Minh có vợ là bà Nguyễn Thị Hoanh , ông bà sinh hạ : Hà Nguyên Kha
+ Ông Hà Thanh Tuấn có vợ là bà Lê Thị Bích Thủy ,ông bà sinh hạ : Hà Tấn Duy – Hà Tấn Tú + Ông Hà Minh Thi :
+ Ông Hà Duy Tuấn( Con Ông Thanh – Chín Khôi ) :
+ Ông Hà Duy Vũ
+Ông Hà Văn Tân ( con ông An – Chín Khôi )
+ Ông Hà Văn Xuân
+ Ông Hà Văn Nhật
+ Ông Hà Huỳnh Son
Chi 3:
+ Ông Hà văn Nhung có vợ là bà Võ Thị Thắng ,ông bà sinh hạ : Hà Văn Chính –
Hà Văn Thức
( Gia đình ông Nhung đang sống ở Bình Phước )
Trang 9+ Ông Hà Văn Hành có vợ là bà Thương , ông bà sinh hạ :
Hà Văn Nguyên ,
+ Ông Hà Văn Hương có vợ là bà Phú , ông bà sinh hạ : Hà Văn Lâm +
+ Ông Hà Hữu Lợi
+ Ông Hà Hữu Thạch
+Ông Hà Văn Tiên
+ Ông Hà văn Đạt
+ Ông Hà Văn Mai :
+ Hà Văn Tùng:
+Ông Hà Văn Tây :
+ Ông Hà Quang Huy :
+ Ông Hà Văn Huynh :
+ Ông Hà Phan Quang Hào :
Chi 4 : + Hà Ngọc Phi
Chi 6 : + Hà Ngọc Phát
Trang 10+ Hà Ngọc
Thuận
ĐỜI THỨ VII Chi 1: + Hà Ngọc Tân
+ Hà Tân Ngọc
+ Hà Ngọc Anh Khoa
+
+ Hà Quang Vũ
+
+
+
Chi 2: + Hà Nguyên Thành
+ Hà Văn Huy
+ Hà Nguyễn Kha
+Hà Tấn Duy
+ Hà Tấn Tú
Chi 3 : + Hà Văn Chính
+ Hà Văn Thức
+ Hà Văn Nguyên
+ Hà Văn Lâm
Chi 4