1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

sáng kiến kinh nghiệm dự thi MN 08

41 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 1,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày nay, có rất nhiều phương pháp giáo dục mới cho trẻ trong đó có phương pháp Glenn Doman, phương pháp này giúp sẽ phát triển toàn diện về cả thể chất, kích thích trí thông minh, trí t

Trang 2

THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN

1 Tên sáng kiến: “Một số biện pháp ứng dụng phương pháp Glenn Doman nhằm mở rộng vốn từ cho trẻ 5-6 tuổi tại trường mầm non”

Trình độ chuyên môn: Đại học Sư Phạm Mầm Non

Chức vụ công tác: Giáo viên

Nơi làm việc: Trường mầm non Thống Nhất

Điện thoại: 0374146608

Tỷ lệ đóng góp tạo ra sáng kiến: 100%

5 Đơn vị áp dụng sáng kiến

Tên đơn vị: Trường mầm non Thống Nhất

Địa chỉ: Số 127- Đường Nguyễn Đức Thuận - P.Thống Nhất –

TP Nam Định

Trang 3

BÁO CÁO SÁNG KIẾN

Một số biện pháp ứng dụng phương pháp Glenn Doman nhằm mở rộng vốn từ cho trẻ 5-6 tuổi tại trường mầm non”

I ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN

Giáo dục Mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân Việc chăm sóc tốt cho trẻ lứa tuổi mầm non sẽ góp phần tạo nền móng vững chắc cho sự phát triển toàn diện của trẻ Cùng với sự phát triển của xã hội, giáo dục mầm non ngày càng khẳng định được vai trò to lớn của mình trong xã hội Ý thức được tầm quan trọng của giáo dục mầm non đối với sự phát triển trong những năm đầu đời của trẻ nhà nước ta ngày càng chú trọng và đẩy mạnh phát triển giáo dục mầm non

Ngôn ngữ là thành tựu lớn nhất của con người nó là phương tiện giao tiếp quan trọng của con người trong xã hội Hơn thế ngôn ngữ là công cụ để chúng ta tư duy, là chìa khóa vạn năng thông minh nhất để chúng ta mở kho tàng tri thức.Nhờ

có ngôn ngữ con người có thể trao đổi cho nhau những kinh nghiệm, hiểu biết; chia

sẻ với nhau những nguyện vọng, tình cảm Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non tạo điều kiện cơ hội cho trẻ lĩnh hội những bài học kinh nghiệm lịch sử - xã hội của xã hội loài người Giúp trẻ tích lũy kiến thức, phát triển tư duy, giúp trẻ giao tiếp với mọi người xung quanh, giúp trẻ lĩnh hội, điều chỉnh những giá trị đạo đức chuẩn mực Ngôn ngữ có vai trò rất lớn trong cuộc sống của con người Nhờ có ngôn ngữ

mà con người có thể trao đổi với nhau những hiểu biết, truyền cho nhau những kinh nghiệm, tâm sự với nhau những điều thầm kín

Vốn từ là nền móng để phát triển ngôn ngữ, mà ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển trí tuệ của trẻ Mở rộng vốn từ cho trẻ là một trong những nội dung của phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non Vốn từ của trẻ Mẫu giáo lớn thì đã phát triển hơn các lứa tuổi trước, số lượng từ loại đã tăng lên, trẻ có thể hiểu và sử dụng được một số từ cơ bản vào trong giao tiếp, trẻ đã có thể hiểu

Trang 4

được những câu chuyện dài và phức tạp hơn, thậm chí còn kể lại được vài mẩu chuyện theo đúng trình tự câu chuyện Vốn từ ngữ của trẻ phát triển không ngừng cả

về số lượng lẫn chất lượng và trẻ biết cách sử dụng tốt vốn từ ngữ của mình trong giao tiếp tuy nhiên vẫn chưa hoàn thiện Việc mở rộng vốn từ cho trẻ nhằm làm tăng

số lượng từ trong trường nghĩa tạo điều kiện cho trẻ lựa chọn Nếu vốn từ ít thì khả năng lựa chọn sẽ bị hạn hẹp, hiệu quả dùng từ sẽ giảm, ảnh hưởng đến chất lượng giao tiếp của trẻ Vốn từ của trẻ mẫu giáo bé trẻ nói được khoảng 1200 từ, mẫu giáo nhỡ khoảng 2000 từ nhưng đối với trẻ mẫu giáo lớn thì vốn từ của trẻ phong phú hơn là khoảng 3000 từ Đối với trẻ mấu giáo lớn, vốn từ của trẻ rất đa dạng, trẻ nghe

và nói được rất nhiều từ, hiểu được nhiều từ ngữ, những câu chuyện, câu dố, thuộc các bài thơ, câu chuyện Ở lứa tuổi này, ngôn ngữ của trẻ có tốc độ phát triển nhanh

cả về số lượng lẫn chất lượng, ngôn ngữ phát triển giúp trẻ biết tự hướng sự chú ý của mình vào đối tượng nhất định Tuy nhiên vốn từ của trẻ vẫn còn hạn chế, trẻ chưa hiểu được các nghĩa khác nhau của từ như từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, biểu cảm của từ và trẻ phát âm chưa mạch lạc nhất là các từ khó, có những trẻ hiểu được nghĩa của từ nhưng cũng có nhiều trẻ chưa nắm bắt được hết nghĩa của từ cũng như cách dùng từ ngữ chưa chính xác và không phù hợp với hoàn cảnh khiến giữa các trẻ có sự chênh lệch phát triển không đồng đều Do đó, việc mở rộng vốn từ cho trẻ Mẫu giáo lớn là rất cần thiết để giúp trẻ giao tiếp tốt hơn Ngày nay, có rất nhiều phương pháp giáo dục mới cho trẻ trong đó có phương pháp Glenn Doman, phương pháp này giúp sẽ phát triển toàn diện về cả thể chất, kích thích trí thông minh, trí tuệ cảm xúc và cả năng lực thông qua những bài học về vận động, ngôn ngữ, lượng số

và cả thế giới xung quanh Từ đó, vốn từ của trẻ được mở rộng, ngôn ngữ của trẻ phong phú và đa dạng là những kiến thức cần thiết, những hành trang quan trọng cho trẻ trong suốt chặng đường phía trước

Trang 5

Nhận thức được rõ về ý nghĩa và vai trò to lớn của nội dung nghiên cứu,

tôi đã lựa chọn đề tài: “Một số biện pháp ứng dụng phương pháp Glenn

Doman nhằm mở rộng vốn từ cho trẻ 5-6 tuổi tại trường mầm non”

II MÔ TẢ GIẢI PHÁP KỸ THUẬT

1 Mô tả giải pháp kỹ thuật trước khi tạo ra sáng kiến

* Thực trạng

Trong quá trình triển khai nghiên cứu thực hiện đề tài này, tôi luôn được sự quan tâm của Ban giám hiệu nhà trường và tổ chuyên môn đã có kế hoạch giáo dục từng chủ đề và tôi đã xây dựng kế hoạch với những biện pháp cụ thể để mở rộng vốn từ cho trẻ tại lớp tôi, đây chính là những định hướng giúp tôi thực hiện như: Nhà trường đã trang bị cơ sở vật chất, đồ dùng đồ chơi đầy đủ cho trẻ trong mọi hoạt động và giáo viên trong nhà trường đã được tiếp cận và làm quen với

phương pháp Glenn Doman

Nhưng bên cạnh đó, tôi cũng gặp một số những vấn đề sau:

Về phía trẻ: Khả năng sử dụng ngôn ngữ mạch lạc, tự tin của trẻ còn hạn chế, trẻ chưa biết diễn đạt ngôn ngữ bằng lời một cách linh hoạt, khéo léo Trẻ chưa hiểu được những từ đồng nghĩa, trái nghĩa, từ khó, ý nghĩa của tu từ do đó khi trả lời trẻ còn bị vấp chưa biểu đạt được ý của các từ, sử dụng từ sai ngữ cảnh Vốn từ trẻ còn hạn chế, nghèo nàn chưa phong phú

Về phía giáo viên: Một số giáo viên trẻ tuổi chưa có nhiều kinh nghiệm, vốn

từ chưa phong phú và việc nắm nghĩa các từ của giáo viên còn hạn chế nên giải nghĩa cho trẻ còn chưa sâu Giáo viên sử dụng phương pháp truyền thống, không

có phương pháp đổi mới trong các tiết học, các hình thức dạy học chưa phong phú, chưa chú ý đến sự phát triển vốn từ cho trẻ

Về phía các bậc cha mẹ: Do cha mẹ bị công việc lôi cuốn nên ít có thời gian quan tâm đến con và chưa nắm được đặc điểm phát triển vốn từ của con, nhiều trẻ

Trang 6

còn phát âm sai do ảnh hưởng của người lớn xung quanh

Để đạt được kết quả cao thì việc điều tra thực trạng và việc nhìn lại để đánh giá kết quả của năm trước là vô cùng quan trọng Vì đó là thước đo, từ đó giúp ta điều chỉnh và định hướng được việc làm cần thiết cho năm tới sao cho đạt kết quả tốt hơn

Để làm rõ những khó khăn trên tôi đã tiến hành khảo sát thực trạng tổ chức hoạt động tại trường mầm non Thống Nhất và nhận thấy như sau:

Bảng 2.1 Khảo sát 15 giáo viên mẫu giáo về những năng lực tổ chức hoạt động cho trẻ tại nhóm lớp theo phương pháp GD Glenn Doman của giáo viên

Nhận xét: Qua bảng khảo sát trên ta thấy

Ở tiêu chí 1: Khả năng lựa chọn nội dung và lập kế hoạch tổ chức các hoạt động của giáo viên có 20% đạt loại Tốt, 33% đạt loại khá, 47% đạt loại trung bình

Ở tiêu chí 2: Khả năng Thực hiện hoạt động dựa trên phương pháp GD Glenn Doman có 7% đạt loại Tốt, 20% đạt loại khá, 73% đạt loại trung bình

-> Như vậy có thể thấy năng lực tổ chức các hoạt động cho trẻ tại nhóm lớp

Trang 7

Bảng 2.2 Khảo sát 35 trẻ tại trường Mầm non Thống Nhất

TP Nam Định

Kết quả khảo sát tại trường Mầm Non Thống Nhất

* Nhận xét:

- Tiêu chí 1: Trẻ biết sử dụng vốn từ một cách phong phú, đa dạng và phù hợp

ở mức tốt rất thấp là 9%, mức khá là 20%, mức trung bình là 28%, còn mức kém là 43%

- Tiêu chí 2: Trẻ hiểu được các từ mang tính chất biểu cảm, các từ đồng nghĩa, trái nghĩa, từ khó ở mức tốt rất thấp là 9%, mức khá là 14%, mức trung bình là 23%, còn mức kém là 54%

=> Vì vậy, để mở rộng vốn từ cho trẻ thì phải có nhiều giải pháp hay lôi cuốn

và thu hút trẻ

2 Mô tả biện pháp kỹ thuật sau khi tạo ra sáng kiến

Từ những khó khăn trên tôi đã đưa ra các biện pháp sau:

2.1 Biện pháp 1: Xây dựng kế hoạch tổ chức các hoạt động nhằm mở rộng vốn

từ cho trẻ thông qua phương pháp Glenn Doman

Để trẻ phát triển vốn từ phong phú và đa dạng, ngay từ đầu năm học Tổ chuyên môn và các đồng chí giáo viên đã xây dựng kế hoạch về việc tổ chức các

Trang 8

hoạt động ứng dụng phương pháp Glenn Doman của các khối cho cả năm học Sau

các buổi họp về chuyên môn tôi định được các vẫn đề cốt lõi trong tổ chức thực hiện hoạt động này trong cả năm học như sau:

+ Gợi ý nội dung các bài dạy về các bài học cho trẻ tại nhóm

+ Thời gian thực hiện các hoạt động phân chia theo thời gian trong từng tuần, từng chủ đề

+ Hình thức tổ chức hoạt động sử dụng phương pháp Glenn Doman cho trẻ thông qua các hoạt động hàng ngày

Nhờ có định hướng về các nội dung tổ chức hoạt động ứng dụng phương pháp Glenn Doman trong cả năm học nên tôi có thể luôn chủ động xây dựng được kế hoạch cho từng hoạt động cụ thể để tôi chuẩn bị tốt các bài học cho trẻ

Sau khi xây dựng kế hoạch hoạt động ứng dụng phương pháp Glenn Doman, tôi tiếp tục tổ chức hoạt động học cho trẻ tại lớp của mình Chính việc làm này đã giúp đỡ cho tôi không gặp khó khăn trong việc lựa chọn nội dung bài học cũng như

dễ dàng tích hợp, lồng ghép nội dung của phương pháp Glenn Doman vào các hoạt động trong ngày của trẻ, đồng thời giúp trẻ linh hoạt hơn và phát triển vốn từ cho trẻ

Ví dụ: Kế hoạch tổ chức hoạt động bằng phương pháp Glenn Doman

năm học 2018- 2019

KHUNG CHƯƠNG TRÌNH ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP GLENN DOMAN

Lứa tuổi: Khối mẫu giáo 5-6 tuổi

kiến

Dự kiến địa điểm tổ chức

Tháng

9/2018

- Tìm hiểu về các loại hoa qua thẻ chữ

- Trẻ chơi với các thẻ chữ để gọi tên các loại hoa

Các loại hoa

Trang 9

Tháng

10/2018

- Sự phong phú của các loại quả

- Khám phá các loại quả thông qua thẻ chữ

Các loại quả - Ngoài trời

- Trong lớp học

- Trong các góc hoạt động

- Phương tiện giao thông đường bộ

- Phương tiện giao thông đường thủy

- Phương tiện giao thông đường sắt

- Phương tiện giao thông đường hàng không

Phương tiện giao thông

- Khám phá điều kì diệu của màu sắc Màu sắc

2.2 Biện pháp 2: Ứng dụng phương pháp Glenn Doman trong việc cung cấp vốn từ cho trẻ

Glen Doman là phương pháp dạy con theo cách giáo dục sớm Nhờ phương pháp này, trẻ phát triển trí thông minh tốt, kích thích tiềm năng của mỗi đứa trẻ ngay

từ khi còn nhỏ Cô hãy tạo cho trẻ sự thích thú trong mỗi “giờ học” Với không khí vui vẻ, những tấm thẻ chứa đầy sự mới mẻ, hấp dẫn đối với trẻ và tình yêu thương của cô, trẻ sẽ có tâm lý thoải mái nhất và ghi nhớ một cách tốt nhất

Trang 10

Tôi đã ứng dựng phương pháp Glenn Doman lồng ghép vào các hoạt động học cho các con Phương pháp này tạo hứng khởi và định hướng giúp trẻ thông minh vừa học, vừa chơi, vừa mở trí thông minh, óc sáng tạo, tài năng cho trẻ Trẻ được phát triển một cách tự nhiên “Học mà chơi, chơi mà học” Tôi đã thường xuyên lồng ghép bài học cho các con, trẻ phát triển vốn từ rất nhiều và mang lại hiệu quả cao

Cô cần chuẩn bị các loại thẻ Dot Card (giúp trẻ làm quen với số lượng và phép toán), thẻ Flash Card (giúp trẻ làm quen với mặt chữ và từ vựng), thẻ theo chủ đề (cây cối, con vật, danh xưng, …) giúp bé làm quen với thế giới xung quanh

Để dạy trẻ theo phương pháp này thì cần những nguyên tắc nhất định Cô phải gây hứng thú cho trẻ như bắt đầu 1 trò chơi và học khi trẻ thoải mái nhất và luôn dừng trước khi trẻ muốn dừng Cô cho trẻ học đủ số lần rồi thì trẻ có muốn học thêm cũng không được, hãy để sự hứng thú sang ngày mai Giọng điệu cô phải truyền cảm Cô thực hiện thao tác đưa trẻ thật nhanh để duy trì sự hứng thú, nhưng phải chú ý giữ giọng điệu tự nhiên, truyền cảm, đừng biến thành 1 cái máy và mỗi thẻ chỉ đưa ra dưới một giây Cô thao tác với 5 từ 1, sau khi hết 5 từ, hãy ôm hôn con và khen con thông minh, thật hứng khởi Sau mỗi lần tráo phải thay đổi thứ tự thẻ

Để duy trì hứng thú, tính phù hợp, tôi luôn thiết kế chương trình phù hợp và vui nhộn, không được quá tải và chứa đầy kỳ vọng của cô, nên là những kiến thức gần gũi trong thực tế, nên dạy hàng ngày, lượng tài liệu mới phù hợp nhu cầu của trẻ Cách thức tương tác phải thu hút Cô thường xuyên để ý thái độ và tâm trạng của trẻ khi học Khi tráo thẻ, cô đưa thẻ cao hơn tầm với của trẻ, không mô tả, không tỉ mỉ

và nên chuẩn bị 200 từ đơn trước khi bắt đầu, phải chuẩn bị thẻ thật nhanhCô cần thành thạo thao tác: Cầm thẻ tay trái, đỡ thẻ bằng tay trái và dùng ngón cái giữ 1 bên, 1 ngón còn lại giữ 1 bên, tráo bằng tay phải, tráo từ sau ra trước để nhìn thẻ Nguyên tắc tiếp cận: Bắt đầu từ từ đơn -> từ ghép -> cụm từ -> câu -> sách Khi

Trang 11

tăng từ thì nên dựa vào những từ đã học (từ từ đơn sang từ ghép) Bắt đầu từ các nhóm từ quen thuộc, trong nhóm cũng dạy các từ quen thuộc trước

Ảnh minh họa: Bộ thẻ chữ

Khi trẻ đã học được 200 thẻ từ đơn trở lên thì cô cho trẻ học từ ghép, cô cho ghép các từ đã học với nhau thành các từ ghép, có thể lồng ghép thêm các từ mới Ghép các từ chỉ màu sắc với danh tư như: bưởi vàng, bưởi xanh v.v… Màu sắc: đỏ, tím, xanh da trời, cam, vàng, đen, hồng, trắng, xám, xanh lá cây, nâu, tím nhạt… Các từ trái nghĩa: to - nhỏ, dài - ngắn, béo - gầy, phải - trái, sạch - bẩn, vui vẻ -buồn, bằng phẳng - gồ ghề, rỗng - đầy, đẹp - xấu, tối - sáng… Sau đó, cô cho trẻ đọc các cụm từ (Có 3 cách, nên dùng cả 3): 5 thẻ tên người hoặc động vật + từ đơn + hành động, dùng 1 bảng 15×40 cm để tạo 1 cụm 5 từ, giảm cỡ chữ xuống 5cm, cho xem 3 lần / ngày liên tục trong 5 ngày, sau đó bỏ đi 2, thêm mới 2 Chuyển nhanh vì trẻ sẽ học rất nhanh Làm quyển các cụm từ đơn giản, 5 cụm từ, có hình minh họa ( hình của bé càng tốt), có thể làm cỡ 25cm x 60cm, gấp đôi, chữ cao 5m

Khi trẻ đọc được các cụm từ rồi thì cô nên chuyển ch trẻ đọc các câu Câu hoàn chỉnh hơn: bổ sung trạng từ và tính từ vào các cụm từ bước thứ 3, ví dụ bước 3 là:

“mẹ đang ăn”, thì giờ là “mẹ đang ăn một quả chuối màu vàng” Cỡ chữ bây giờ còn

Trang 12

5 cm Học xong câu có thể cho trẻ chuyển qua đọc sách.Có thể tạo ra các câu lạ Ví dụ: bố đang ôm quả dâu…Việc ghép thành câu sẽ là 1 trò chơi thú vị, đôi khi nghe thật lạ nhưng thật vui Sẽ rất hay nếu từ 50 từ ghép thành thật nhiều câu Có thể dùng thẻ nhỏ hơn, giảm cỡ chữ (2,5cm), tăng số từ, chuyển sang chữ màu đen Cỡ chữ giảm từ từ để trẻ quen

Mỗi ngày tôi cho trẻ xem 5 thẻ bất cứ theo chủ đề Ngày hôm sau tôi bỏ 1 thẻ cũ đi

và thêm 1 thẻ mới vào Với cách dạy này tôi không cần mất nhiều thời gian để soạn thẻ theo chủ đề Khi tôi vận dụng phương pháp này, trẻ hứng thú và học rất nhanh Qua đó, vốn từ của trẻ được mở rộng, ngôn ngữ của trẻ phong phú và đa dạng hơn Phương pháp Glenn Doman khuyến khích trẻ hoạt động học một cách tự nhiên bằng phương pháp áp dụng lồng ghép những từ ngữ như khi trẻ học đọc, học viết, học nhìn nhận và ghi nhớ sự vật thông qua những hình ảnh, hoặc những mảnh bìa hết sức đơn giản Điều này có thể cho thấy rằng vốn từ mà trẻ học được rất quan trọng, nhưng quan trọng hơn nữa đó chính là hiểu được tâm tư tình cảm của trẻ và giúp trẻ yêu thích nó một cách tự nguyện chứ không mang tính chất ép buộc Giáo dục trẻ cần có thời gian cũng như phương pháp hiệu quả và hợp lý, luôn đặt trẻ lên trước tiên để mang đến những điều tốt nhất cho trẻ Bài học này không chỉ giúp trẻ khỏe - thông minh - nhanh nhạy - vui vẻ mà còn rèn luyện cho bé kỹ năng tự học suốt đời, tự thích nghi, phát triển một cách tích cực và nổi trội nhất, giúp trẻ mở rộng vốn từ nhiều hơn

Trang 13

Ảnh minh họa: Trẻ được học tráo thẻ bằng phương pháp Glenn Doman

2.3 Biện pháp 3: Phát triển khả năng nói mạch lạc và sử dụng vốn từ một cách phong phú thông qua hoạt động làm quen với văn học

Phương pháp Glenn Doman được ứng dụng thông qua hoạt động làm quen với

văn học Qua hoạt động này trẻ có thê biết lồng ghép các thẻ chữ thành những câu thơ, đoạn hội thoại trong câu chuyện hoặc trẻ có thể đọc những đoạn truyện ngắn Hoạt động làm quen với văn học gồm các nội dung:

- Đàm thoại

Trò chuyện với trẻ theo câu hỏi: Đây là biện pháp chính hướng dẫn trẻ làm quen với đối tượng nhận thức Giáo viên chuẩn bị một hệ thống câu hỏi để trẻ trả lời Các câu hỏi có tác dụng hướng sự chú ý của trẻ tới đối tượng cần nhận thức, dạy trẻ biết quan sát đối tượng một cách tổng thể cũng như quan sát tỉ mỉ các đặc điểm, tính chất và các mối quan hệ của sự vật, hiện tượng trong thiên nhiên Các câu hỏi cũng đồng thời kích thích trẻ nói, gọi tên hoặc mô tả đối tượng đang quan sát Qua

đó vốn từ của trẻ ngày càng được mở rộng hơn Giáo viên cần chú ý sao cho câu hỏi

đa dạng, buộc trẻ trả lời bằng các từ loại khác nhau như hỏi về tên gọi, đặc điểm tính chất, công dụng, hoạt động,

Trang 14

Ví dụ: Cô có con vật gì đây?

Con gà mái có những bộ phận nào?

Tiếng kêu của con gà mái như thế nào nhỉ?

Thức ăn của gà mái là gì?

Con gà mái có lợi ích gì?

Khi trò chuyện, tôi cũng có thể sử dụng phối hợp một số thủ thuật như nói mẫu, nhắc lại, giảng giải, khen ngợi, cho trẻ sử dụng các thao tác sờ mó, cầm nắm (đối với các vật thật)

Biện pháp sử dụng lời kể của cô giáo: Lời kể của cô giáo dễ gây hứng thú cho trẻ khi quan sát và giúp trẻ tri giác toàn bộ đối tượng, thấy được mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng; điều này làm cho trẻ dần dần hiểu đầy đủ hơn ý nghĩa của từ Lời kể của cô giáo còn tạo ra mẫu mực ngôn ngữ cho trẻ noi theo về giọng nói, ngữ

âm, ngữ điệu, điệu bộ, Yêu cầu lời kể của giáo viên phải rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu đối với trẻ, chủ yếu là mô tả các đặc điểm, tính chất các hành động của đối tượng Lời kể cần logic đầy đủ các phần: mở đầu, mô tả, kết thúc Mở đầu của lời kể là giới thiệu về đối tượng cho trẻ làm quen và sau đó mô tả các chi tiết, các đặc điểm, tính chất của đối tượng Kết thúc lời kể là những nhận xét, đánh giá lời kể của trẻ Giáo viên có thể tiến hành kể trước hoặc sau khi trò chuyện, nó tùy thuộc vào khả năng nhận thức của trẻ và mức độ phức tạp của chủ đề cho trẻ làm quen Để trẻ hứng thú trong bài học tôi đã sử dụng mô hình kết hợp với lời kể giúp trẻ dễ hiểu bài và hăng hái trả lời các câu hỏi của cô, từ đó giúp trẻ nói nhiều hơn phát triển khả năng nói mạch lạc, rèn tính tự tin cho trẻ

Trang 15

Ảnh minh họa: Trẻ quan sát mô hình thông qua truyện “Chú đỗ con”

Cô cho trẻ tự kể những gì trẻ đã được làm quen: Đây là một biện pháp tích cực hóa vốn từ của trẻ Khi trẻ tự kể chuyện, trẻ sẽ gọi tên, kể ra các đặc điểm của các loại hoa quả, con vật và đó là điều kiện để các từ ngữ ở trạng thái bị động chuyển thành chủ động, tích cực

Khi cho trẻ tiếp xúc với các tác phẩm văn học, tôi cần chú ý vận dụng các biện pháp phù hợp để giúp trẻ hiểu nghĩa của từ, nhất là những từ ngữ nghệ thuật Có thể phối hợp vận dụng biện pháp dùng lời kết hợp với biện pháp quan sát Để giải thích cho trẻ hiểu từ trong tác phẩm văn học bằng biện pháp này thì trước hết cần phải chọn

từ có nghĩa cụ thể Có như vậy thì việc sử dụng đồ dùng trực quan kết hợp với lời giải thích mới đạt hiệu quả cao

Ví dụ: Trong bài thơ Hoa kết trái có thể lựa chọn một số từ có nghĩa cụ thể

sau để giải thích:

“Chói chang” trong câu “Hoa lựu chói chang”

“Rung rinh” trong câu “Rung rinh trong gió”

Trang 16

Khi giải thích từ tôi phải đọc cả câu một đến hai lần hay đọc cả đoạn, như vậy từ mới không bị tách khỏi ngữ cảnh và trẻ sẽ cảm nhận tốt hơn Sau đó, tôi phải lựa chọn

đồ dùng trực quan phù hợp với từ đó, kết hợp với lời giải thích để giúp trẻ hiểu nghĩa của từ mà tác giả dùng trong tác phẩm ấy Lời giảng giải của tôi cần phải ngắn gọn, cô đọng, dễ hiểu, hấp dẫn trẻ

Ví dụ: Trong bài thơ Giữa vòng gió thơm

Tôi giải thích từ “khép rủ” trong câu “Cánh màn khép rủ” Tôi cho trẻ quan sát bức tranh vẽ một căn nhà nhỏ có chiếc giường, có người nằm bên trong, màn buông xuống, hai cánh màn khép lại Sau đó cô chỉ vào bức tranh và dùng lời để giải thích cho trẻ hiểu Tác giả đưa từ “khép rủ” vào câu thơ ý muốn nói tới cảnh bà bị

ốm nằm trên giường, không gian cũng trở nên ảm đạm, buồn bã

Việc sử dụng biện pháp này yêu cầu giáo viên phải sử dụng đồ dùng trực quan một cách linh hoạt, sáng tạo, kết hợp với lời giảng giải diễn tả về nghĩa của từ trong văn cảnh đó sẽ giúp trẻ hiểu và cảm nhận từ ngữ nghệ thuật một cách sâu sắc, tạo cho trẻ niềm say mê, hứng thú, tích cực, tìm tòi khám phá thế giới xung quanh

- Giải nghĩa từ bằng cách so sánh, đối chiếu

Giáo viên giải nghĩa của từ mới này bằng cách so sánh với từ khác để thấy được điểm khác nhau về nghĩa của hai từ Từ đó trẻ sẽ khắc sâu hơn nghĩa của các

từ được giáo viên cung cấp

Ví dụ: + Giải nghĩa từ “đồi” bằng cách so sánh “đồi” với “núi”

“Đồi thì thấp hơn núi, sườn thoải hơn”

+ Giải nghĩa từ “ông bà nội” với “ông bà ngoại” bằng cách so sánh,

đối chiếu chúng với nhau:

“ông bà nội là những người sinh ra bố, ông bà ngoại là những người sinh ra mẹ”

- Giải nghĩa từ bằng định nghĩa

Biện pháp dùng lời để định nghĩa khái niệm, nêu lên những nét đặc trưng

Trang 17

các nhà từ điển học vẫn sử dụng trong các từ điển để giải thích Dùng định nghĩa khái niệm giáo viên có thể cung cấp cho trẻ một cách tương đối đầy đủ những nét nghĩa của từ, thấy được cấu trúc nghĩa bên trong của từ

Ảnh minh họa: Cô đàm thoại với trẻ qua tranh ảnh

Biện pháp này đòi hỏi sự tập trung cao của trẻ nhưng có thể sử dụng biện pháp này cũng chưa đạt được hiệu quả cao, trẻ chưa thể hiểu ngay nghĩa của từ khi

cô đưa ra một định nghĩa hay một khái niệm về từ này Do khả năng tư duy của trẻ còn hạn chế, ngược lại biện pháp này cũng giúp cho trẻ bước đầu tiếp cận với những định nghĩa, khái niệm, có tính khoa học, tính khái quát cao Qua sự giải thích dùng lời để định nghĩa, khái niệm dần dần trẻ sẽ hiểu được nghĩa của từ Ngoài ra nó còn nâng cao cho trẻ về trình độ tư duy, phát huy tính tích cực ở trẻ, thúc đẩy sự phát triển nhận thức ở trẻ

Ví dụ: Giải thích từ “cổng chắn” trong câu thơ:

“Hãy nhắc nhở nhau

Đừng ra cổng chắn”

Trang 18

Tôi dùng lời để giải thích một cách khái quát ngắn gọn nhất “cổng chắn” là

một hàng rào ngắn dùng để ngăn cách, che chắn không cho mọi người đi lên đường tàu

Sử dụng biện pháp này để giúp trẻ hiểu nghĩa của từ trong tác phẩm văn học, giáo viên dùng lời của mình để định nghĩa từ Vì thế yêu cầu lời định nghĩa phải chính xác, ngắn gọn, phù hợp với nhận thức và khả năng ngôn ngữ của trẻ Với những từ khó và mới lạ đối với trẻ thì cô cần phải giải thích một cách rõ ràng, rành mạch, tốc độ chậm và phải giải thích cho trẻ nghe lại nhiều lần thì trẻ mới cảm nhận

và hiểu được nghĩa của từ, từ ấy được lưu lại trong trí nhớ, mới trở thành của trẻ Nếu cô chỉ giải thích lướt qua thì trẻ sẽ không nhớ được

- Giải nghĩa từ bằng cách đối chiếu với từ đồng nghĩa, trái nghĩa

Để thực hiện được biện pháp này một cách hiệu quả, cần dựa theo trình tự sau:

Trước hết, giáo viên phải lựa chọn từ trong tác phẩm, những từ được lựa chọn

để giải thích bằng biện pháp này phải là những từ có thể đem ra đối chiếu hoặc so sánh để làm nổi bật nghĩa của từ Sau đó quy những từ cần giảng về những từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa mà trẻ đã biết, có như vậy việc giúp trẻ hiểu nghĩa của từ theo biện pháp này mới hiệu quả

Khi lựa chọn những từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa với từ cần giải thích, giáo viên cần chọn những từ mà trẻ đã biết phù hợp với khả năng lứa tuổi của trẻ Nếu giáo viên dùng những từ mà trẻ chưa biết này để giải thích cho từ chưa biết khác thì trẻ vẫn không thể nắm được nghĩa của từ cần giải thích

Ví dụ: Trong câu chuyện Thỏ và rùa có thể lựa chọn từ “chậm chạp” trong

câu: “ cậu ta vô cùng chậm chạp, vậy thì mình hãy tranh thủ mà nghỉ ngơi chút

đã!” Để giải thích từ này, tôi đưa ra từ trái nghĩa quen thuộc với trẻ như từ “nhanh nhẹn”, cô giải thích để trẻ thấy “chậm chạp” ở đây là đi với tốc độ chậm hơn bình

thường, rất chậm; còn “nhanh nhẹn” là nhanh trong mọi cử chỉ, động tác, bước đi

Trang 19

hoạt bát Giáo viên đưa ra từ trái nghĩa nhằm làm cho từ cần giải thích được nổi bật

và tạo cho trẻ được ấn tượng

Khi sử dụng biện pháp này tôi cần theo dõi phản ứng chung của trẻ trong lớp, nếu trẻ tỏ ra lúng túng thì giáo viên cần chọn từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa quen thuộc hơn để giúp trẻ hiểu Với biện pháp này trẻ sẽ dễ dàng hiểu được nghĩa của từ một cách ngắn gọn, dễ nhớ, dễ gây ấn tượng với trẻ Ngoài việc hiểu được nghĩa của từ bằng tác phẩm trẻ còn hiểu được từ như thế nào là đồng nghĩa hoặc trái nghĩa với nhau Từ đó trẻ có thể sử dụng chúng trong hoạt động lời nói của mình Nhưng muốn biện pháp này đạt hiệu quả cao thì tôi phải biết lựa chọn được từ đồng nghĩa hay trái nghĩa phù hợp với trẻ, phù hợp với ngữ cảnh đó để giải thích cho trẻ hiểu Ngoài ra, phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua các bài đồng dao, ca dao Đồng dao, ca dao như một bức tranh với nhiều màu sắc thể hiện sự phong phú, đa dạng của cuộc sống từ đời sống sinh hoạt vật chất và tinh thần, tình cảm của con người, nó có giá trị về mặt trí tuệ, tình cảm và ngôn ngữ ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành, phát triển nhân cách trẻ

Các bài đồng dao có: 2, 3, 4, 6 chữ…có vần, với lối ngắt nhịp 1-1, 1-2, thường có lối kết cấu vòng tròn, trùng điệp Ngôn ngữ trong đồng dao, ca dao là ngôn ngữ hát,

kể giàu hính nhạc, giàu hình ảnh, có sức tạo hình Nó rất phù hợp với việc rèn cho trẻ phát âm, tích lũy vốn từ, hiểu nghĩa từ, nắm ngữ pháp, lối nói trôi trảy, uyển chuyển

Để phát huy tính tích cực của ngôn ngữ qua các bài đồng dao, ca dao đối với

sự phát triển ngôn ngữ của trẻ thì việc tổ chức các hoạt động cho trẻ đọc thuộc đồng dao, ca dao là rất quan trọng Chính vì vậy mà tôi lồng ghép hoạt động đọc đồng dao, ca dao cho trẻ vào các hoạt động chơi trò chơi dân gian được tổ chức ở các giờ hoạt động ngoài trời, hoạt động đón trả trẻ, hoạt động sau khi ngủ dậy Bên cạnh

Trang 20

việc dạy trẻ đọc thuộc những bài đồng dao, ca dao thì tôi luôn tìm tòi những bài đồng dao, ca dao có nội dung, các bài thuộc sự kiện chủ đề mà trẻ đang học

Qua các bài đồng dao, ca dao tôi thấy được hiệu quả rõ ràng, trẻ hào hứng tham gia trò chơi đọc đồng dao, ca dao và nhớ bài lâu hơn

2.4 Biện pháp 4: Chữa lỗi dùng từ cho trẻ

Giáo viên chú ý chữa lỗi dùng từ cho trẻ mọi lúc, mọi nơi và chú ý cả lỗi phát

âm và lỗi dùng sai nghĩa

Bên cạnh đó có cả nguyên nhân do người lớn phát âm sai nên trẻ bắt chước

theo, đặc biệt là phát âm sai hai phụ âm L và N như: cái nón thành cái lón, lớn lên thành nớn nên, cái lá thành cái ná, con lợn thành con nợn, quả na thành quả la,

Ngoài ra, trẻ còn phát âm sai phụ âm R và D như: cái rổ thành cái dổ, con rùa thành con dùa; phụ âm Tr và Ch như: gà trống thành gà chống; phụ âm S và X như: hoa sen thành hoa xen

Để sửa lỗi phát âm cho trẻ tôi cần phải phát âm mẫu to, rõ ràng, chính xác để trẻ nghe rõ cách đọc Đồng thời tôi phân tích cách phát âm L - N, R – D, S – X, Tr -

Ch cho trẻ hiểu và cho trẻ thực hành phát âm nhiều lần thông qua các hoạt động, qua các bài thơ

2.4.2 Lỗi dùng sai nghĩa

Lỗi dùng sai nghĩa là do trẻ hiểu nhầm nghĩa hoặc không hiểu nghĩa của từ dẫn đến dùng từ sai văn cảnh

Ngày đăng: 22/06/2021, 08:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Văn Lũy (Chủ biên), Đinh Văn Vang (2008), Giáo trình giáo dục mầm non – NXBQG Khác
2. Nguyễn Ánh Tuyết (Chủ biên), Nguyễn Thị Như Mai, Giáo trình phát triển tâm lý trẻ em lứa tuổi mầm non – NXBGD Việt Nam Khác
3. Hoàng Thị Oanh - Phạm Thị Việt - Nguyễn Kim Đức (2005), Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội Khác
4. Đinh Hồng Thái (2013), Phát triển ngôn ngữ tuổi mầm non, NXB Đại học Sư phạm Khác
5. Nguyễn Thị Ánh Tuyết (2005), Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non, NXB Đại học Sư phạm Khác
6. Bộ sách giáo dục sớm và thiên tài – Glenn Doman 7. Bộ thẻ Flashcard theo phương pháp Glenn Doman Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w