Thông tư 30/2014/TT-BGDĐT về đánh gía học sinh tiểu học, môn Đạo đức góp phần hình thành, phát triển cho học sinh các phẩm chất: a Chăm học, chăm làm; tích cực tham gia hoạt động giáo dụ
Trang 1THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1 Tên sáng kiến: “Một số biện pháp dạy học phát triển năng lực nhằm nâng cao chất lượng giáo dục môn Đạo đức lớp 2”
2 Lĩnh vực: Đạo đức (03)/TH
3 Thời gian áp dụng sáng kiến: Từ ngày 25/08/2018 đến 24/07/2020
4 Tác giả:
Trang 2MỤC LỤC
1 Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến 3
2 Mô tả giải pháp sau khi tạo ra sáng kiến 11
2.1 Giải pháp 1: Xác định Nội dung chương trình môn Đạo đức
2.1.1 Chương trình môn Đạo đức 11
2.1.2 Nội dung chương trình môn Đạo đức lớp 2 13
2.2 Giải pháp 2: Xác định mục tiêu bài học phát triển năng lực
2.3 Giải pháp 3: Lựa chọn và vận dụng Phương pháp dạy học
phát triển năng lực môn Đạo đức cho học sinh lớp 2 19
2.4 Giải pháp 4: Xây dựng kế hoạch bài dạy theo dạng bài và tổ
chức hoạt động trải nghiệm phát triển năng lực môn Đạo đức lớp 2 51
2.4.1 Kế hoạch bài dạy theo dạng bài mới 51 2.4.2 Kế hoạch bài dạy theo dạng bài ôn tập 56 2.4.3 Tổ chức hoạt động trải nghiệm 63
2.5 Giải pháp 5: Sử dụng hiệu quả các đồ dùng và thiết bị dạy
Trang 32.6 Giải pháp 6: Dạy đạo đức cho học sinh tích hợp trong các
2.7 Giải pháp 7: Thông qua các hoạt động ngoại khoá để hình
thành cho học sinh các chuẩn mực, và hành vi đạo đức tốt 73 2.8 Giải pháp 8: Phối hợp với phụ huynh học sinh để giáo dục
IV CAM KẾT KHÔNG SAO CHÉP HOẶC VI PHẠM BẢN
Trang 4TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Đảng Cộng sản Việt Nam (2013), Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản,
toàn diện Giáo dục và Đào tạo
2 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Chương trình giáo dục phổ thông môn Giáo dục
công dân, NXB Giáo dục
3 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2017), Chương trình giáo dục phổ thông tổng thế,
http://rgep.moet.gov.vn
4 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018),Dự thảo Chương trình giáo dục phổ thông môn
Giáo dục công dân, http://rgep.moet.gov.vn
5 Nguyễn Hữu Hợp (2010), Giáo trình đạo đức và phương pháp dạy học môn Đạo
đức ở Tiểu học, Nhà xuất bản Đại học Sư Phạm
6 Lưu Thu Thủy (2018), Vở bài tập Đạo đức 2, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
7 Lưu Thu Thủy, Nguyễn Hữu Hợp, Trần Thị Xuân Hương, Trần Thị Tố Oanh,
Hà Nhật Thăng (2010), Sách giáo viên Đạo đức 2, Nhà xuất bản Giáo dục Việt
Trang 6BÁO CÁO SÁNG KIẾN
I ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
Một trong những định hướng cơ bản của việc đổi mới giáo dục là chuyển từ nền giáo dục mang tính hàn lâm, xa rời thực tiễn sang một nền giáo dục chú trọng việc hình thành năng lực hành động, phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học Định hướng quan trọng trong đổi mới PPDH nói chung và đổi mới PPDH ở Tiểu học nói riêng là phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo, phát triển năng lực hành động, năng lực cộng tác làm việc của người học Đó cũng là những xu hướng tất yếu trong cải cách PPDH ở mỗi nhà trường
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động
xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin
và truyền thông trong dạy và học” Để thực hiện tốt mục tiêu về đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và Đào tạo theo Nghị quyết số 29-NQ/TW, cần có nhận thức đúng về bản chất của đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học và một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học theo hướng này
Đổi mới phương pháp dạy học đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc HS học được cái gì đến chỗ quan tâm HS vận dụng được cái gì qua việc học Để đảm bảo được điều đó, phải thực hiện chuyển từ phương pháp dạy học theo lối "truyền thụ một chiều" sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên - học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội Bên cạnh việc học tập những tri
Trang 7thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập tích hợp liên môn nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và phát triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm thông tin ), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy
Có thể chọn lựa một cách linh hoạt các phương pháp chung và phương pháp đặc thù của môn học để thực hiện Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ phương pháp nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc “Học sinh tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức(tự chiếm lĩnh kiến thức) với sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên”
Việc sử dụng phương pháp dạy học gắn chặt với các hình thức tổ chức dạy học Tuỳ theo mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể mà có những hình thức tổ chức thích hợp như: học cá nhân, học nhóm; học trong lớp, học ở ngoài lớp Cần chuẩn bị tốt về phương pháp đối với các giờ thực hành để đảm bảo yêu cầu rèn luyện kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, nâng cao hứng thú cho người học Cần sử dụng đủ và hiệu quả các thiết bị dạy học môn học tối thiểu đã qui định Có thể sử dụng các đồ dùng dạy học tự làm nếu xét thấy cần thiết với nội dung học và phù hợp với đối tượng học sinh Tích cực vận dụng CNTT trong dạy học
Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể coi phát triển năng lực học sinh là một trong những quan điểm nổi bật của việc xây dựng chương trình và tổ chức quá trình dạy học Dạy học phát triển năng lực học sinh là một xu hướng giáo dục tiên tiến trên thế giới Xu hướng dạy học này sẽ thay đổi cách dạy của giáo viên và cách học của học sinh
Qua các năm công tác và giảng dạy tại trường Tiểu học Chu Văn An, tôi đã vận dụng một số phương pháp nhằm phát triển năng lực môn đạo đức lớp 2 cho học sinh để nâng cao chất lượng dạy học Vì vậy, tôi xin mạnh dạn chia sẻ kinh nghiệm của mình với các bạn đồng nghiệp thông qua đề tài:
“Một số biện pháp dạy học phát triển năng lực nhằm nâng cao chất lượng giáo dục môn Đạo đức lớp 2”
Trang 8II MÔ TẢ GIẢI PHÁP
1 Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Dạy học phát triển năng lực môn Đạo đức hình thành, phát triển cho học sinh các phẩm chất chủ yếu: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm
Phẩm chất là những đức tính tốt thể hiện ở thái độ, hành vi ứng xử của con người, cùng với các năng lực tạo nên nhân cách con người
Thông tư 30/2014/TT-BGDĐT về đánh gía học sinh tiểu học, môn Đạo đức góp phần hình thành, phát triển cho học sinh các phẩm chất:
a) Chăm học, chăm làm; tích cực tham gia hoạt động giáo dục;
b) Tự tin, tự trọng, tự chịu trách nhiệm;
c) Trung thực, kỉ luật, đoàn kết;
d) Yêu gia đình, bạn và những người khác; yêu trường, lớp, quê hương, đất nước
Thông tư 22/2016/TT-BGDĐT sửa đổi Thông tư 30/2014/TT-BGDĐT quy định học sinh tiểu học cần được học các phẩm chất:
Chăm học, chăm làm;
Tự tin, trách nhiệm;
Trung thực, kỉ luật;
Đoàn kết, yêu thương
Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể yêu cầu tất cả các môn học và hoạt động giáo dục đều phải góp phần hình thành và phát triển cho học sinh những phẩm chất chủ yếu sau: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm
Môn Đạo đức giữ vai trò chủ đạo trong việc giúp học sinh hình thành phát triển ý thức và hành vi của người học:
+ Giúp học sinh hình thành, phát triển cảm xúc tích cực, ý thức đúng đắn về các chuẩn mực hành vi đạo đức trong quan hệ với bản thân, gia đình, quê hương, cộng đồng, công việc và môi trường xung quanh;
+ Ý thức trách nhiệm với hành vi, hành động của mình;
Trang 9+ Thái độ tự trọng, tự tin vào khả năng của bản thân;
+ Yêu quê hương, gia đình, lòng yêu thương, tôn trọng con người;
+ Đồng tình với cái đúng, cái tốt, không đồng tình với cái sai, cái xấu, cái ác
+ Tính trung thực, chăm học, chăm làm;
Cùng với các môn học khác và hoạt động giáo dục ở Tiểu học, môn Đạo đức góp phần hình thành cho học sinh tiểu học những biểu hiện phẩm chất chung:
(1) Yêu nước:
- Yêu thiên nhiên và có những việc làm thiết thực bảo vệ thiên nhiên
- Yêu quê hương, yêu Tổ quốc, tôn trọng các biểu trưng của đất nước
- Kính trọng, biết ơn người lao động, người có công với quê hương, đất nước; tham gia các hoạt động đền ơn, đáp nghĩa đối với những người có công với quê hương, đất nước
(2) Nhân Ái:
- Yêu quý mọi người: Yêu thương, quan tâm, chăm sóc người thân trong gia đình; Yêu quý bạn bè, thầy cô; quan tâm, động viên, khích lệ bạn bè; Tôn trọng người lớn tuổi; giúp đỡ người già, người ốm yếu, người khuyết tật; nhường nhịn và giúp đỡ em nhỏ; Biết chia sẻ với những bạn có hoàn cảnh khó khăn, các bạn ở vùng sâu, vùng xa, người khuyết tật và đồng bào bị ảnh hưởng của thiên tai
- Tôn trọng sự khác biệt giữa mọi người: Tôn trọng sự khác biệt của bạn bè trong lớp về cách ăn mặc, tính nết và hoàn cảnh gia đình; Không phân biệt đối xử, chia rẽ các bạn; Sẵn sàng tha thứ cho những hành vi có lỗi của bạn
(3) Chăm chỉ:
- Ham học: Đi học đầy đủ, đúng giờ; Thường xuyên hoàn thành nhiệm vụ học tập; Ham học hỏi, thích đọc sách để mở rộng hiểu biết; Có ý thức vận dụng kiến thức, kĩ năng học được ở nhà trường vào đời sống hằng ngày
- Chăm làm: Thường xuyên tham gia các công việc của gia đình vừa sức với bản than; Thường xuyên tham gia các công việc của trường lớp, cộng đồng vừa sức với bản thân
(4) Trung thực:
Trang 10- Thật thà, ngay thẳng trong học tập, lao động và sinh hoạt hằng ngày; mạnh dạn nói lên ý kiến của mình
- Luôn giữ lời hứa; mạnh dạn nhận lỗi, sửa lỗi và bảo vệ cái đúng, cái tốt
- Không tự tiện lấy đồ vật, tiền bạc của người thân, bạn bè, thầy cô và những người khác
- Không đồng tình với các hành vi thiếu trung thực trong học tập và trong cuộc sống
(5) Trách nhiệm:
- Có trách nhiệm với bản thân: Có ý thức giữ gìn vệ sinh, rèn luyện thân thể, chăm sóc sức khoẻ; Có ý thức sinh hoạt nền nếp;
- Có trách nhiệm với gia đình: Có ý thức bảo quản, giữ gìn đồ dùng cá nhân
và gia đình; Không bỏ thừa đồ ăn, thức uống; Có ý thức tiết kiệm tiền bạc, điện nước trong gia đình
- Có trách nhiệm với nhà trường và xã hội: Tự giác thực hiện nghiêm túc nội quy của nhà trường và các quy định, quy ước của tập thể; giữ vệ sinh chung; bảo vệ của công; Không gây mất trật tự, cãi nhau, đánh nhau; Nhắc nhở bạn bè chấp hành nội quy trường lớp; nhắc nhở người thân chấp hành các quy định, quy ước nơi công cộng; Có trách nhiệm với công việc được giao ở trường, ở lớp; Tích cực tham gia các hoạt động tập thể, hoạt động xã hội phù hợp với lứa tuổi
- Có trách nhiệm với môi trường sống: Có ý thức chăm sóc, bảo vệ cây xanh và các con vật có ích; Có ý thức giữ vệ sinh môi trường, không xả rác bừa bãi; Không đồng tình với những hành vi xâm hại thiên nhiên
1.1.2 Dạy học phát triển năng lực môn Đạo đức hình thành, phát triển cho học sinh các năng lực chung và năng lực đặc thù
Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin,
ý chí, … thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể
Thông tư 30/2014/TT-BGDĐT về đánh gía học sinh tiểu học, môn Đạo
Trang 11đức góp phần hình thành, phát triển cho học sinh các phẩm chất:
Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể môn Giáo Dục công dân, dạy học môn Đạo đức theo định hướng phát triển năng lực phải nhằm mục tiêu góp phần hình thành, phát triển cho học sinh các năng lực sau:
*Năng lực chung: được hình thành, phát triển thông qua tất cả các môn học và hoạt động giáo dục: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo;
(1) Năng lực tự chủ và tự học:
- Tự lực: Tự làm được những việc của mình ở nhà và ở trường theo sự phân công, hướng dẫn
- Tự khẳng định và bảo vệ quyền, nhu cầu chính đáng: Có ý thức về quyền
và mong muốn của bản thân; bước đầu biết cách trình bày và thực hiện một số quyền lợi và nhu cầu chính đáng
- Nhận biết và bày tỏ được tình cảm, cảm xúc của bản thân; biết chia sẻ tình cảm, cảm xúc của bản thân với người khác;
- Hoà nhã với mọi người; không nói hoặc làm những điều xúc phạm người khác;
- Thực hiện đúng kế hoạch học tập, lao động; không mải chơi, làm ảnh hưởng đến việc học và các việc khác
– Tìm được những cách giải quyết khác nhau cho cùng một vấn đề
Thực hiện được các nhiệm vụ khác nhau với những yêu cầu khác nhau
- Bộc lộ được sở thích, khả năng của bản thân
- Biết tên, hoạt động chính và vai trò của một số nghề nghiệp; liên hệ được những hiểu biết đó với nghề nghiệp của người thân trong gia đình
Trang 12- Có ý thức tổng kết và trình bày được những điều đã học
- Nhận ra và sửa chữa sai sót trong bài kiểm tra qua lời nhận xét của thầy
cô
- Có ý thức học hỏi thầy cô, bạn bè và người khác để củng cố và mở rộng hiểu biết
- Có ý thức học tập và làm theo những gương người tốt
(2) Năng lực giao tiếp và hợp tác
– Nhận ra được ý nghĩa của giao tiếp trong việc đáp ứng các nhu cầu của bản thân
– Tiếp nhận được những văn bản về đời sống, tự nhiên và xã hội có sử dụng ngôn ngữ kết hợp với hình ảnh như truyện tranh, bài viết đơn giản
– Bước đầu biết sử dụng ngôn ngữ kết hợp với hình ảnh, cử chỉ để trình bày thông tin và ý tưởng
– Tập trung chú ý khi giao tiếp; nhận ra được thái độ của đối tượng giao tiếp
- Nhận biết được một số đặc điểm nổi bật của các thành viên trong nhóm để
đề xuất phương án phân công công việc phù hợp
- Biết cố gắng hoàn thành phần việc mình được phân công và chia sẻ giúp
đỡ thành viên khác cùng hoàn thành việc được phân công
- Báo cáo được kết quả thực hiện nhiệm vụ của cả nhóm; tự nhận xét được
ưu điểm, thiếu sót của bản thân theo hướng dẫn của thầy cô
- Có hiểu biết ban đầu về một số nước trong khu vực và trên thế giới
Trang 13- Biết tham gia một số hoạt động hội nhập quốc tế theo hướng dẫn của nhà trường
(3) Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
- Biết xác định và làm rõ thông tin, ý tưởng mới đối với bản thân từ các nguồn tài liệu cho sẵn theo hướng dẫn
- Biết thu nhận thông tin từ tình huống, nhận ra những vấn đề đơn giản và đặt được câu hỏi
- Dựa trên hiểu biết đã có, biết hình thành ý tưởng mới đối với bản thân và
dự đoán được kết quả khi thực hiện
- Nêu được cách thức giải quyết vấn đề đơn giản theo hướng dẫn
- Nhận xét được ý nghĩa của các hoạt động
- Nêu được thắc mắc về sự vật, hiện tượng xung quanh; không e ngại nêu ý kiến cá nhân trước các thông tin khác nhau về sự vật, hiện tượng; sẵn sàng thay đổi khi nhận ra sai sót
* Năng lực đặc thù được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định: năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực khoa học, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm
mĩ, năng lực thể chất Năng lực đặc thù được hình thành và phát triển cho học sinh thông qua môn đạo đức là:
(1) Năng lực phát triển bản thân:
- Nhận biết và bày tỏ được tình cảm, cảm xúc và hành vi của bản thân; biết chia sẻ tình cảm, cảm xúc của bản thân với người khác;
- Tự lập kế hoạch và thực hiện đúng kế hoạch học tập, lao động; không mải chơi, làm ảnh hưởng đến việc học và các việc khác
- Nhận biết được một số điểm mạnh, điểm yếu của bản thân; có thái độ tích cực khắc phục điểm yếu của bản thân theo sự hướng dẫn của thầy, cô giáo và người thân;
- Tự làm các công việc của mình ở nhà và ở trường theo sự phân công, hướng dẫn; Tự chăm sóc, tự bảo vệ bản thân
(2) Năng lực điều chình hành vi:
Trang 14- Nhận biết được đúng- sai, tốt – xấu, thiện – ác của một số hành vi đạo đức
và hành vi pháp luật thường gặp trong cuộc sống hàng ngày so với chuẩn mực đạo đức
- Bước đầu biết điều chỉnh cảm xúc, hành vi, thói quen của bản thân theo
sự hướng dẫn của gia đình, thầy, cô giáo phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội; nội quy trường học, luật lệ nơi công cộng
- Nhận biết và thực hiện một số hành vi cần thiết và phù hợp để bảo vệ bản thân và duy trì mối quan hệ hòa hợp với người khác
- Bước đầu nhận biết những bất đồng giữa bản thân và người khác, biết một
số cách đơn giản hòa giải bất đồng giữa bản thân và bản bè
- Nhận biết và thực hiện quyền, bổn phận của bản thân phù hợp lứa tuổi trong các quan hệ gia đình, bạn bè, nhà trường, cộng đồng và môi trường sống (3) Năng lực tìm hiểu và tham gia các hoạt động xã hội:
- Quan sát và phân biệt được các hiện tượng đơn giản trong xã hội mà học sinh thường gặp
- Tự tìm hiểu về gia đình, dòng họ, địa phương; bước đầu khám phá các vấn
đề trong đời sống xã hội hàng ngày
- Biết tiết kiệm và sử dụng tiền hợp lí
- Nhận biết và tích cực tham gia các hình thức hoạt động phù hợp với lứa tuổi thể hiện lòng yêu quê hương, Tổ quốc, yêu hòa bình; lòng yêu thương con người; Đức tính chăm chỉ, trung thực và trách nhiệm với gia đình, nhà trường, cộng đồng và môi trường sống
Mục tiêu chung của môn Đạo đức là hình thành, phát triển cho học sinh các phẩm chất chủ yếu: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm và các năng lực: phát triển bản thân, điều chỉnh hành vi, tìm hiểu và tham gia các hoạt động kinh tế - xã hội phù hợp với lứa tuổi Thực hiện các mục tiêu chung đó, môn học giúp các em có hành vi và thói quen ứng xử phù hợp chuẩn mực đạo đức và quy định của pháp luật, có kĩ năng sống để học tập, làm việc và sẵn sàng thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ của công dân tương lai trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ tổ quốc và hội nhập quốc tế
Trang 151.2 Cơ sở thực tiễn
Năm học 2018-2019 và năm học 2019-2020, tôi được phân công chủ nhiệm
và giảng dạy lớp 2 trường Tiểu học Chu Văn An Khi nhận sự phân công của nhà trường, tôi nhận thấy có những thuận lợi và khó khăn sau:
* Thuận lợi:
- Trường học được xây dựng rộng rãi khang trang Lớp học có đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng dạy học, có hệ thống máy tính, máy chiếu và có các góc hỗ trợ phục vụ cho các hoạt động học tập của học sinh
- Được Ban giám hiệu nhà trường và đặc biệt là Phòng Giáo dục sự quan tâm, chỉ đạo sát sao về chuyên môn của để dạy tốt môn Đạo đức trong nhà trường
Tổ, khối chuyên môn sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học đều đặn, nghiêm túc, có tinh thần xây dựng cao
- Bản thân giáo viên trẻ, năng động, nhiệt tình, có trình độ giáo viên đạt chuẩn, có ý thức tự học hỏi bồi dưỡng
- Phụ huynh quan tâm đến việc học của con, trang bị đầy đủ đồ dùng cần thiết phục vụ cho việc học tập của con em mình
- Học sinh rất hứng thú với môn Đạo đức vì môn học gắn với thực tiễn, qua môn học các em có thể liên hệ và vận dụng thực tế Các em đặc biệt thích thú các hoạt động của môn học như đóng vai, trò chơi, kể chuyện, … Các em lại được học tập theo mô hình trường học mới VNEN nên luôn chủ động trong mọi hoạt động học tập, đặc biệt là trong việc hình thành và vận dụng các kiến thức, kỹ năng
đã học
- Học sinh phần lớn ngoan ngoãn, kính thầy yêu bạn
* Khó khăn:
- Do đặc điểm lứa tuổi, học sinh còn hiếu động, thích "bắt chước" nhưng các
em chưa biết lựa chọn hành vi đạo đức đúng nên các em bắt chước cả cái xấu, trái với chuẩn mực hành vi đạo đức một cách không chủ ý Chính vì vậy những chuẩn mực hành vi đạo đức giáo dục trẻ cần được uốn nắn và hình thành ngay từ những lớp đầu cấp Tiểu học, nhất là lớp 2
Trang 16- Phương tiện đồ dùng dạy học còn ít Vở bài tập đạo đức có rất nhiều tranh ảnh nhưng hình ảnh còn đơn điệu, chưa sinh động nên học sinh khó nhận biết, hình thành kiến thức
- Một số giáo viên chưa coi trọng môn đạo đức, còn coi đây là môn học ít giờ nên khi dạy học đạo đức một số giáo viên chưa nhiệt tình, ít khi tổ chức các hoạt động như: trò chơi, sắm vai, thảo luận, vì sợ mất thời gian Dẫn đến học sinh thụ động và bị áp đặt khi lĩnh hội kiến thức, nên hiệu quả của tiết đạo đức chưa cao
- Giáo viên ngại sử dụng đồ dùng dạy học khiến học sinh chưa thích thú với môn học
Với kinh nghiệm của mình trong những năm công tác, nhiều năm được giảng dạy môn Đạo đức cùng với lòng yêu nghề, luôn mong muốn đem đến cho các con có những chuẩn mực hành vi đạo đức để vận dụng vào cuộc sống, tôi đã tìm cách để phát huy những điều kiện thuận lợi sẵn có và đề ra những biện pháp khắc phục những khó khăn
2 Mô tả giải pháp sau khi tạo ra sáng kiến:
2.1 Giải pháp 1: Xác định Nội dung chương trình môn Đạo đức lớp 2
2.1.1 Chương trình môn Đạo đức
Chương trình môn Đạo đức là một văn bản pháp quy do Bộ Giáo dục và đào tạo ban hành để tổ chức việc dạy học môn học này, trong đó quy định rõ:
- Những mục tiêu môn Đạo đức
- Nội dung môn Đạo đức gồm các bài từ lớp 1 đến lớp 5
- Giải thích, hướng dẫn chương trình
Chương trình mới môn Đạo đức là một bộ phận của Chương trình Tiểu học mới được Bộ Giáo dục và đào tạo ban hành ngày 05 tháng 05 năm 2006 Do đó ngoài những nét đặc trưng của riêng chương trình môn Đạo đức có nhiều yếu tố liên quan, phục thuộc chương trình Tiểu học nói chung Cụ thể, môn Đạo đức:
- Là một trong những môn học ở Tiểu học góp phần đáng kể vào việc thực hiện mục tiêu giáo dục Tiểu học
Trang 17- Có nội dung và phương pháp phù hợp với yêu cầu về nôi dung và phương pháp giáo dục Tiểu học
- Chịu sự chi phối của kế hoạch giáo dục ở Tiểu học
- Đảm bảo những yêu cầu cơ bản cần đạt đối với học sinh Tiểu học
Theo quan niệm mới về chương trình giáo dục, chương trình một môn học là
sự cụ thể hóa mục tiêu giáo dục tiểu học bằng một kế hoạch hành động mang tính chất như một công cụ chỉ đạo hành động cho giáo viên chương trình này là chương trình khung áp dụng cho cả nước nhưng đồng thời lại được vận dụng một cách linh hoạt theo đặc điểm từng vùng, đặc điểm học sinh Cho nên, khi tổ chức quá trình dạy học môn Đạo đức ở từng vùng, từng địa phương, từng trường, giáo viên cần căn cứ vào điều kiện cụ thể của mình để lựa chọn nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức thích hợp để đạt những mục tiêu đề ra
Chương trình môn Đạo đức có ý nghĩa quan trọng vì nó là căn cứ để:
- Soạn thảo trình độ chuẩn về đạo đức của học sinh Tiểu học: Trình độ chuẩn này bao gồm hệ thống tri thức, kĩ năng, hành vi và thai độ liên quan đến những chuẩn mực hành vi theo chương trình quy định mà mỗi học sinh cần đạt sau khi học môn Đạo đức
- Biên soạn sách giáo khoa, vở bài tập, sách giáo viên môn Đạo đức: Những tài liệu này được biên soạn nhằm phục vụ, hỗ trợ đắc lực cho việc dạy và học môn Đạo đức của giáo viên và học sinh
- Tổ chức việc thực hiện việc dạy học môn Đạo đức: chương trình môn Đạo đức được coi là pháp lệnh, do đó, trong quá trình dạy học môn Đạo đức, giáo viên phải tôn trọng chương trình, đặc biệt là: đảm bảo mục tiêu, giữ nguyên tên bài và tuân thủ thời gian dành cho môn Đạo đức Ngoài ra, tuy chương trình không bắt buộc giáo viên phải cứng nhắc áp dụng hoàn toàn theo nội dung, phương pháp được gợi ý trong sách giáo khoa, vở bài tập, sách giáo viên, nhưng phải thực hiện, lựa chọn, vận dung theo định hướng chung của chương trình
- Chỉ đạo, thanh tra các hoạt động giáo dục ở các nhà trường, hoạt động này
có tác dụng đảm bảo cho việc dạy học của người giáo viên thực hiện theo chương
Trang 18trình do Bộ Giáo dục và đào tạo đã quy định Từ đó góp phần nâng cao chất lượng
và hiệu quả dạy học môn Đạo đức
2.1.2 Nội dung chương trình môn Đạo đức lớp 2
Để đạt được mục tiêu giáo dục Tiểu học đề ra, cần có hệ thống các môn học khác nhau một trong những căn cứ quan trọng nhất trong việc xây dựng chương trình môn Đạo đức là mục tiêu giáo dục Tiểu học
Mục tiêu giáo dục Tiểu học là “nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ
và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học Trung học sơ sở” (theo Điều 27 của Luật Giáo dục, 2005)
Như vậy, theo mục tiêu này thì chương trình môn Đạo đức phải:
- Tạo được những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức cho học sinh Tiểu học: điều này đòi hỏi các chuẩn mực hành vi trong chương trình phải là những chuẩn mực cơ bản, vừa sức, phản ánh các mối quan hệ thường gặp của các em Đồng thời, chúng cũng tạo điều kiện cho học sinh Tiểu học phát triển đạo đức của mình qua việc mở rộng các mối quan hệ khác nhau
- Chuẩn bị thiết thực cho học sinh Tiểu học học tiếp trung học cơ sở Vì vậy, các chuẩn mực hành vi đạo đức ở tiểu học phải góp phần hình thành ở các em hệ thống tri thức về các chuẩn mực đạo đức cơ bản, thái độ học tập tích cực, kĩ năng
và thói quen hoạt động tập thể, cư xử đúng đắn với những người xung quanh, tính năng động, sáng tạo trong các công việc khác nhau
Nội dung chương trình môn Đạo đức lớp 2 bao gồm 14 bài bắt buộc và 1 bài
do địa phương tự chọn sao cho phù hợp với điều kiện thực tế của mình (về an toàn giao thông, bảo vệ môi trường, phòng chống các tệ nạn xã hội, ) tương ứng với
14 chuẩn mực hành vi đạo đức cần thiết, phù hợp với lứa tuổi trong các mối quan
hệ của các em với bản thân, với gia đình, nhà trường, cộng đồng xã hội và môi trường tự nhiên:
- Quan hệ với bản thân:
+ Sống gọn gàng, ngăn nắp, đúng giờ giấc (Học tập sinh hoạt đúng giờ; Gọn gàng ngăn nắp)
Trang 19+ Khi có lỗi, biết xấu hổ, nhận lỗi và sửa lỗi (Biết nhận lỗi và sửa lỗi)
- Quan hệ với người khác
+ Thật thà, không tham của rơi (Trả lại của rơi)
+ Đoàn kết với bạn bè (Quan tâm, giúp đỡ bạn)
+ Lễ độ, lịch sự khi nói lời yêu cầu, đề nghị; khi nhận và gọi điện thoại; khi đến nhà người khác (Biết nói lời yêu cầu đề nghị; Lịch sự khi nhận và gọi điện thoại; Lịch sự khi đến nhà người khác)
+ Cảm thông và giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn bằng những việc làm phù hợp với khả năng (Giúp đỡ người khuyết tật)
- Quan hệ với công việc:
+ Tự giác tham gia làm việc nhà phù hợp với khả năng (Chăm làm việc nhà)
+ Chăm chỉ học tập (Chăm chỉ học tập)
+ Giữ gìn vệ sinh trường lớp (Giữ gìn trường lớp sạch đẹp)
- Quan hệ với cộng đồng, đất nước, nhân loại
+ Yêu quý những người xung quanh, yêu quê hương đất nước
+ Yêu hòa bình, ghét chiến tranh
- Quan hệ với môi trường tự nhiên
+ Tôn trọng, quy định về trật tự, vệ sinh nơi công cộng (Giữ trật tự, vệ sinh nơi công cộng)
+ Yêu quý và bảo vệ loài vật có ích (Bảo vệ loài vật có ích)
Trong đó: 14 bài x 2 tiết = 28 tiết + 3 tiết dành cho địa phương + 4 tiết để ôn tập và kiểm tra Tổng là 35 tiết/35 tuần
Hiện nay, giáo dục quyền trẻ em đang được đưa vào môn Đạo đức nói chung
và môn Đạo đức lớp 2 nói riêng Có một số bài được tích hợp nội dung này như
"Học tập, sinh hoạt đúng giờ", "Biết nhận lỗi và sửa lỗi", "Gọn gàng, ngăn nắp",
"Chăm làm việc nhà",
Ví dụ: Ở bài "Học tập, sinh hoạt đúng giờ" với những nội dung về quyền trẻ
em được lồng ghép như: Quyền được học tập, được đảm bảo sức khoẻ, quyền được tham gia xã hội thời gian biểu của bản thân
Trang 20Chương trình môn đạo đức quan tâm đến 3 mặt: Trang bị kiến thức; Bồi dưỡng tình cảm, thái độ; Hình thành kĩ năng, hành vi đạo đức (đặc biệt coi trọng việc hình thành kĩ năng và hành vi đạo đức cho học sinh)
Thông qua các bài đạo đức ở lớp 2, chương trình còn nhằm từng bước hình thành cho nọc sinh một số kĩ năng sống cơ bản như: kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng giải quyết vấn đề,
2.2 Giải pháp 2: Xác định mục tiêu bài học phát triển năng lực học sinh môn đạo đức lớp 2
Mục tiêu dạy học phát triển năng lực không chỉ là kiến thức, kĩ năng, thái độ
mà quan trọng hơn là cách thức học sinh đi từ kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm đã
có đến những kết quả đó Dạy học phát triển năng lực coi trọng quá trình học sinh trải nghiệm, khám phá, vận dụng kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm vào thực tế cuộc sống,… Trong quá trình đó học sinh luôn tư duy cao độ để đạt kết quả là những kiến thức, kĩ năng, thái độ theo bài học quy định
Mục tiêu bài học phát triển năng lực môn Đạo đức chính là yêu cầu cần đạt
về phẩm chất và năng lực Từ mục tiêu chung về phẩm chất năng lực, giáo viên cần xác định được các yêu cầu cần đạt riêng cho từng phẩm chất, năng lực ở từng bài học cụ thể
Trong dạy học phát triển năng lực, yêu cầu cần đạt về phẩm chất năng lực là
cơ sở để lựa chọn nội dung, phương pháp, tài liệu dạy học, hình thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh, là cơ sở để đánh giá chất lượng, hiệu quả của hoạt động dạy học
Ví dụ 1: Bài 1: “Học tập, sinh hoạt đúng giờ”
Về phẩm chất: Bài học góp phần bồi dưỡng đức tính chăm chỉ, tinh thần trách nhiệm:
+ Nêu được các biểu hiện hoặc việc làm cụ thể của việc học tập, sinh hoạt đúng giờ
+ Nêu được một số lợi ích của việc học tập, sinh hoạt đúng giờ và tác hại của việc học tập, sinh hoạt không đúng giờ
Trang 21+ Thể hiện sự đồng tình với các bạn biết học tập, sinh hoạt đúng giờ và không đồng tình với các bạn học tập, sinh hoạt không đúng giờ
Về năng lực:
+ Năng lực chung: Bài học góp phần giáo dục học sinh năng lực tự chủ và tự học: Thực hiện đúng kế hoạch học tập, lao động, không mải chơi, làm ảnh hưởng đến việc học và các việc khác
+ Năng lực đặc thù: Bài học góp phần giáo dục học sinh năng lực phát triển bản thân: Lập được thời gian biểu hàng ngày của bản thân và thực hiện đúng thời gian biểu đó
Ví dụ 2: Bài 2: Biết nhận lỗi và sửa lỗi
- Về phẩm chất: Bài học góp phần bồi dưỡng đức tính dũng cảm, trung thực,
có tinh thần trách nhiệm với các việc làm của bản thân:
+ Hiểu khi có lỗi thì nên nhận lỗi và sửa lỗi để mau tiến bộ và được mọi người yêu quý Như thế mới là người dũng cảm, trung thực
+ Thể hiện sự đồng tình, ủng hộ, cảm phục các bạn biết nhận lỗi và sửa lỗi
và không đồng tình với các bạn không biết nhận lỗi và sửa lỗi
- Về năng lực:
+ Năng lực chung: Bài học góp phần giáo dục học sinh năng lực tự chủ và tự học: nhận biết và điều chỉnh hành vi, thái độ của bản thân Năng lực giao tiếp và hợp tác: học sinh làm việc nhóm
+ Năng lực đặc thù: Bài học góp phần giáo dục học sinh năng lực điều chỉnh hành vi: Học sinh biết tự nhận lỗi và sửa lỗi khi có lỗi, biết nhắc bạn nhận và sửa lỗi
Ví dụ 3: Bài 3: Gọn gàng và ngăn nắp
- Về phẩm chất
+ Biết được biểu hiện của việc gọn gàng, ngăn nắp Phân biệt được gọn gàng, ngăn nắp với chưa gọn gàng, ngăn nắp
+ Biết lợi ích của việc sống gọn gàng, ngăn nắp
+ Có thái độ vui vẻ khi sắp xếp đồ dùng gọn gàng, ngăn nắp và cảm thấy yêu mến những người gọn gàng, ngăn nắp
Trang 22+ Hình thành thói quen gọn gàng cho bản thân như: mặc quần áo gọn gàng, dọn đồ chơi khi chơi xong, bỏ rác vào thùng rác, biết sắp xếp đồ dùng học tập, đồ chơi, đồ đạc trong nhà,… một cách gọn gàng, ngăn nắp
Ví dụ 4: Bài 7: Giữ gìn trường lớp sạch sẽ
- Về phẩm chất: Bài học góp phần bồi dưỡng cho học sinh phẩm chất trách nhiệm:
+ Nêu được lợi ích của việc giữ gìn trường lớp sạch đẹp
+ Nêu được ít nhất 3-5 việc cần làm và không nên làm để gìn trường lớp sạch đẹp
+ Hiểu giữ gìn trường lớp sạch đẹp là trách nhiệm của học sinh
+ Thể hiện thái độ đồng tình, ủng hộ các hoạt động, việc làm giữ gìn trường lớp sạch đẹp và không đồng tình với các hành vi phá hoại, vứt rác bừa bãi
Ví dụ 5: Bài 8: Giữ gìn trật tự, vệ sinh nơi công cộng
- Về phẩm chất: Bài học góp phần bồi dưỡng cho học sinh phẩm chất trách nhiệm với môi trường sống:
+ Nhận thức được vai trò của môi trường sống đối với con người
Trang 23+ Có ý thức bảo vệ môi trường sống, phê phán những hành vi gây ô nhiễm môi trường
+ Có hiểu biết về môi trường sống, từ đó có ý thức và hành động bảo vệ môi trường
+ Biết cách bảo vệ môi trường bằng các việc làm cụ thể, phù hợp
- Về năng lực: Bài học góp phần hình thành và phát triển các năng lực sau: + Năng lực chung: Bài học góp phần giáo dục học sinh năng lực tự chủ và tự học: nhận biết và điều chỉnh hành vi, thái độ của bản thân Năng lực giao tiếp và hợp tác: học sinh làm việc nhóm
+ Năng lực đặc thù: Năng lực điều chỉnh hành vi đạo đức: Nhận xét, đánh giá được hành vi, thái độ của bản thân và người khác về ý thức bảo vệ môi trường sống Năng lực tìm hiểu và tham gia hoạt động kinh tế - xã hội: tuyên truyền và vận động gia đình, bạn bè bảo vệ môi trường sống; biết tìm kiếm thông tin khoa học về tự nhiên và xây dựng ý tưởng bảo vệ môi trường; biết sử dụng vật liệu tái chế để bảo vệ môi trường; biết trồng và chăm sóc cây xanh, bỏ rác đúng nơi quy định, phân loại rác, …
Ví dụ 6: Bài 11: Lịch sự khi nhận và gọi điện thoại
- Về phẩm chất: Bài học góp phần bồi dưỡng cho học sinh ý thức làm người lịch sự:
+ Nêu được một số yêu cầu tối thiểu khi nhận và gọi điện thoại Ví dụ: Biết chào hỏi và tự giới thiệu; nói năng rõ ràng, lễ phép, ngắn gọn; nhấc và đặt điện thoại nhẹ nhàng
+ Thể hiện thái độ đồng tình, ủng hộ những người biết nhận và gọi điện thoại lịch sự, nhẹ nhàng và không đồng tình với những người không lịch sự khi nhận và gọi điện thoại
Về năng lực:
+ Năng lực chung: Bài học góp phần giáo dục học sinh năng lực giao tiếp: biết sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp và có thái độ lịch sự với người được giao tiếp Biết xử lí một số tình huống đơn giản, thường gặp khi nhận và gọi điện thoại
Trang 24+ Năng lực đặc thù: Bài học góp phần hình thành, phát triển cho học sinh năng lực điều chỉnh hành vi: thực hiện các việc làm cụ thể thể hiện lịch sự khi nhận
và gọi điện thoại: chào hỏi và tự giới thiệu; nói năng rõ ràng, lễ phép, ngắn gọn; nhấc và đặt điện thoại nhẹ nhàng
Ví dụ 7: Bài 13: Giúp đỡ người khuyết tật
- Về phẩm chất: Bài học góp phần bồi dưỡng cho học sinh lòng nhân ái + Nêu được một số hành động, việc làm phù hợp để giúp đỡ người khuyết tật
+ Hiểu mọi người đều cần phải hỗ trợ, giúp đỡ, đối xử bình đẳng với người khuyết tật
+ Thể hiện thái độ cảm thông, không phân biệt đối xử và tham gia giúp đỡ bạn khuyết tật trong lớp, trong trường và ở cộng đồng phù hợp với khả năng và không đồng tình với những người không biết cảm thông, phân biệt đối xử và không tham gia giúp đỡ bạn khuyết tật trong lớp, trong trường và ở cộng đồng
- Về năng lực:
+ Năng lực chung: Bài học góp phần giáo dục học sinh năng lực giao tiếp và năng lực giải quyết vấn đề: giữ gìn tình bạn, biết sử dụng ngôn ngữ, cử chỉ để giao tiếp
+ Năng lực đặc thù: Bài học góp phần hình thành, phát triển cho học sinh năng lực điều chỉnh hành vi và năng lực tìm hiểu và tham gia các hoạt động xã hội: thực hiện các việc làm cụ thể để hỗ trợ, giúp đỡ, đối xử bình đẳng với người khuyết tật
2.3 Giải pháp 3: Lựa chọn và vận dụng Phương pháp dạy học phát triển năng lực môn Đạo đức cho học sinh lớp 2
Phương pháp dạy học môn Đạo đức ở Tiểu học là cách thức, con đường hoạt động thống nhất giữa giáo viên và học sinh dưới tác động chủ đạo của giáo viên, với vai trò tích cực, tự giác của học sinh nhằm giải quyết các nhiệm vụ, đạt được những mục tiêu tương ứng của môn học này
Trang 25Để đạt được mục đích trên, chúng ta phải giải quyết 3 nhiệm vụ của môn học này là:
- Giáo dục ý thức đạo đức
- Giáo dục thái độ, tình cảm đạo đức
- Giáo dục hành vi, thói quen đạo đức
Mỗi phương pháp đều có những ưu - nhược điểm riêng, vì vậy trong thực tiễn dạy học môn Đạo đức, giáo viên có thể lựa chọn kết hợp vận dụng nhiều phương pháp khác nhau để phù hợp với từng bài học khác nhau như: kể chuyện, đàm thoại, giảng giải, thảo luận nhóm, tổ chức làm việc cá nhân, tập luyện theo mẫu hành vi, tổ chức trò chơi, tổ chức điều tra, rèn luyện, báo cáo,…
2.3.1 Phương pháp kể chuyện
Kể chuyện là phương pháp dùng lời nói, cử chỉ, điệu bộ để miêu tả diễn biến câu chuyện, để thuật lại truyện kể đạo đức nhằm giúp học sinh nắm được nội dung
và từ đó rút ra bài học đạo đức cần thiết
Trong dạy học đạo đức, phương pháp kể chuyện thường được sử dụng để giới thiệu cho học sinh những mẫu hành vi đạo đức để các em phận tích và rút ra kết luận cần thiết cho việc nhận biết biểu hiện của chuẩn mực hành vi đạo đức, sự cần thiết thực hiện chuẩn mực hành vi đạo đức hoặc cách thực hiện chuẩn mực hành vi đạo đức Do đó nó thường được tiến hành ở đầu tiết 1 sau kiểm tra bài cũ Trong thực tế kể chuyện được kết hợp với trình bày trực quan
Nội dung các câu chuyện phải sát với chủ đề bài học, kể về cách ứng xử của nhân vật (có thể là danh nhân, là người lớn, là bạn cùng lứa tuổi hoặc loài vật đã được nhân cách hóa) trong các tình huống đạo đức cụ thể Truyện vừa mô tả và khẳng định cách ứng xử của nhân vật là đúng/ đẹp (hoặc là sai/xấu) vừa làm cho học sinh thể nghiệm niềm vui sướng, hạnh phúc (hay khó chịu, khổ đau) của người được đối xử đúng (hoặc sai) Từ đó giáo viên hướng dẫn học sinh nhận biết biểu hiện của chuẩn mực hành vi đạo đúc và rút ra bài học cần noi theo hay cần tránh những thái độ, hành vi của các nhân vật trong truyện
Truyện kể được lấy từ nhiều nguồn khác nhau: sách, báo, thực tế cuộc sống,… Truyện có thể do các em học sinh tự viết hoặc sưu tầm Khi lựa chọn
Trang 26truyện để kể giáo viên cần chú ý dung lượng câu chuyện cho phù hợp với thời lượng phân bố của hoạt động dạy học Trước khi kể giáo viên cần giới thiệu khái quát câu chuyện nằm định hướng chú ý của học sinh Việc kể chuyện cần diễn cảm, kết hợp cử chỉ, điệu bộ với sử dụng đồ dùng trực quan Ngôn ngữ kể chuyện phải trong sang, dễ hiểu, giàu hình ảnh, tự nhiên, sinh động, nên sử dụng những từ ngữ quen thuộc hàng ngày sao cho câu chuyện dí dỏm, gây cảm xúc mạnh Người
kể chuyện cần nhập vai, cử chỉ phù hợp Giáo viên nên yêu cầu học sinh kể lại truyện kết hợp phương pháp đàm thoại hoặc thảo luận nhóm,… để học sinh nắm vững biểu tượng và chuẩn mực hành vi đạo đức
Ví dụ 1: Khi dạy bài 2: “Biết nhận lỗi và sửa lỗi” có thể vận dụng phương
pháp này để kể cho học sinh nghe truyện kể “Cái bình hoa” với nội dung như sau:
Hồi ấy, Vô – va mới lên 8 tuổi, hay đùa nghịch Một hôm Vô – va theo mẹ đến nhà cô Ở nhà cô có rất nhiều trẻ cùng Vô – va chơi đùa vui vẻ Vô – va vô ý
xô vào bàn, làm lọ hoa thủy tinh rơi xuống đất
Khi nghe tiếng “choang” cô chạy vào Thấy lọ đã vỡ, cô hỏi các cháu:
- Cháu nào đánh vỡ lọ hoa?
Các cháu đều nói:
- Không phải cháu! Không phải cháu!
Ba tháng trôi qua, không ai còn nhớ đến chuyện cái lo hoa vỡ Một đêm, thấy Vô – va vẫn còn thao thức, mẹ liền hỏi:
- Sao con chưa ngủ?
Vô – va òa lên khóc và kể hết chuyện cho mẹ nghe Mẹ an ủi Vô – va:
- Ngày mai, con viết thư và nhận lỗi với cô Cô sẽ tha thứ cho
Mấy ngày sau, Vô – va nhận được thư của cô viết: Biết tự nhận lỗi, cháu là một đứa bé ngoan”
(Phỏng theo Kể chuyện Lê – nin) Giáo viên kể chuyện với kết cục mở và đặt câu hỏi cho học sinh sau khi kể chuyện để các em tìm hiểu biểu hiện của việc biết tự nhận lỗi như sau:
1 Nếu Vô – va không nhận lỗi thì điều gì sẽ xảy ra?
2 Các em đoán xem Vô – va đã nghĩ gì và làm gì sau đó?
Trang 27Giáo viên kể nốt đoạn cuối câu chuyện và đặt câu hỏi:
3 Qua câu chuyện, em thấy cần làm gì sau khi mắc lỗi?
4 Nhận lỗi và sửa lỗi đem lại tác dụng gì?
Ví dụ 2: Khi dạy bài Thực hành kĩ năng cuối kì II
Giáo viên kể chuyện: “Bài học của khỉ con” và đặt câu hỏi cho học sinh sau
khi kể chuyện để các em biết:
+ Phải lễ phép, kính trọng người lớn
+ Khi nhờ người khác giúp đỡ, phải nhẹ nhàng, lễ phép
+ Phải nói lời cảm ơn khi nhận được sự giúp đỡ của người khác
+ Khi mắc lỗi, phải nói lời xin lỗi và sửa sai
Câu chuyện Bài học của khỉ con
Bài học của khỉ con
Đêm rằm có khác, trăng sáng vằng vặc, soi rõ từng lối mòn trong rừng Tất cả muông thú tung tăng múa hát, chỉ riêng heo con và khỉ con
rủ nhau lên núi chơi
Suốt tối, hai bạn chạy nhảy thỏa thích, hái hoa, hái quả, vui đùa Khi đã thấm mệt, cả hai mới nghĩ đến chuyện quay về Nhưng, hỡi ôi, tìm mãi mà không thấy đường xuống Nhìn thấy chị bướm, khỉ con hỏi:
- Đường xuống núi đi thế nào?
Chị bướm nghe thấy tiếng hỏi trống không, bực mình lắm, chau mày ngoảnh
đi, miệng lẩm bẩm: "Con nhà ai không biết nữa, chẳng lễ phép chút nào!"
Lần mò mãi, hai chú cũng xuống được núi Khi tới bờ sông, khỉ con nhìn thấy dưới sông có một anh hà mã, bèn gọi to:
- Này anh bạn xấu xí kia, mau đưa bọn tôi qua sông
Hà mã thấy khỉ con không biết phép lịch sự là gì thì giận lắm, bèn quay đầu
đi, giả bộ như không nghe thấy
Trang 28Heo con đi sau, vội chạy tới, cúi lưng, khoanh tay chào lễ phép:
- Chúng em chào anh hà mã! Anh có thể đưa bọn em qua đoạn sông này được không ạ?
Nghe câu nói lễ phép, hà mã vui vẻ trả lời:
- Được, được, anh sẽ đưa ngay
Heo con vui sướng, nhảy cẫng lên:
- Chúng em cám ơn anh nhiều lắm!
Khi đến bờ bên kia, hà mã vẫn còn giận khỉ con Biết vậy, heo nói thầm vào tai khỉ: "Vừa nãy cậu đã nói trống không với anh hà mã Vậy mà anh ấy vẫn giúp đưa bọn mình qua sông Cậu nên xin lỗi anh ấy đi, như thế mới là người lịch sự"
Nghe heo con nói có lý, khỉ ta từ từ tiến tới trước mặt anh hà mã, giọng lí nhí:
- Anh hà mã ơi, cám ơn anh đã giúp đỡ bọn em! Em biết lỗi của em rồi Em xin anh tha lỗi ạ!
Nghe khỉ con nói, hà mã như được cởi tấm lòng, ân cần nói với khỉ con:
- Em biết nhận lỗi là rất tốt, em phải học heo con, biết lễ phép và lịch sự nhé Bây giờ hai em về nhà đi Cẩn thận kẻo vướng dây rừng nhé!
Nghe lời ân cần của anh hà mã, khỉ con cảm động quá Nó cảm ơn anh hà mã rối rít và tự rút ra bài học quý
2.3.2 Phương pháp thảo luận nhóm
Thảo luận nhóm là phương pháp được sử dụng rộng rãi nhằm giúp học sinh tham gia một cách chủ động vào quá trình học tập, tạo cơ hội cho học sinh có thể chia sẽ kinh nghiệm, ý kiến hay để giải quyết một vấn đề đạo đức nào đó
Phương pháp thảo luận nhóm giúp trẻ dễ hòa nhập vào cộng đồng nhóm, tạo cho các em sự tự tin, hứng thú trong học tập, lĩnh hội tri thức một cách tự nhiên, bền vững Rèn luyện cho học sinh một số kĩ năng: biết lắng nghe, phê phán, tự nhận thức, làm cho các em mạnh dạn hơn
Trang 29Trước khi tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm, giáo viên cần giới thiệu chủ
đề hoặc vẫn đề cần thảo luận, nêu ra các câu hỏi liên quan đến chủ đề Giáo viên có thể bắt đầu cuộc thảo luận bằng một câu chuyện hoặc một bức tranh hay một video Trong khi học sinh thảo luận giáo viên cần dộng viên, quan sát, giúp đỡ, khích lệ kịp thời để các em thi đua lành mạnh, không chê bai ý kiến đóng góp của học sinh
Sau thảo luận, các nhóm cử đại diện trình bày kết quả thảo luận trước lớp, cả lớp bổ sung
Giáo viên khích lệ, biểu dương các học sinh, nhóm tích cực thảo luận và kết luận vấn đề
Vấn đề thảo luận phải thiết thực, gắn với chủ đề bài học, gần gũi với kinhh nghiệm sống của học sinh Câu hỏi thảo luận phải ngắn gọn, dễ hiểu, vừa sức Số lượng mỗi nhóm không nên quá đông
Học sinh đang thảo luận nhóm
Trang 30Ví dụ: Khi dạy bài 6: “Quan tâm, giúp đỡ bạn” (Bài tập 4) – GV tổ chức cho
HS thảo luận về cách thực hiện chuẩn mực hành vi quan tâm giúp đỡ bạn bè bằng những việc làm phù hợp với khả năng với câu hỏi Những hành động, việc làm phù hợp nào thể hiện sự quan tâm, giúp đỡ bạn?
Để trả lời câu hỏi này GV chia HS vào 6 nhóm Mỗi nhóm sẽ nhận được một phiếu bài tập, các bạn trong cùng 1 nhóm sẽ phải đồng lòng, thảo luận thật nhanh để thực hiện yêu cầu trong phiếu
a, Bạn học yếu
b, Bạn bị khuyết tật
c, Bạn bị ốm, phải nghỉ học nhiều ngày
d, Nhà bạn nghèo, không có tiền mua
Trang 31Phương pháp tổ chức trò chơi là tổ chức cho học sinh thực hiện những thao tác, hành động phù hợp với bài học đạo đức thông qua trò chơi nào đó
* Ý nghĩa của phương pháp trò chơi trong dạy học môn Đạo đức:
Học sinh Tiểu học có nhu cầu vui chơi rất lớn Việc tổ chức trò chơi là góp phần thỏa mãn nhu cầu đó của trẻ Do đó, trò chơi đặc biệt là trò chơi sắm vai được đưa vào dạy học môn Đạo đức Nó làm cho không khí học tập trở nên sôi nổi, sinh động nên các em hứng thú với học tập hơn Qua việc tham gia trò chơi, học sinh thực hiện được những thao tác hành động đạo đức một cách nhẹ nhàng, tự nhiên, thoải mái Từ đó, các em có thể tự tin vận dụng chúng vào thực tiễn cuộc sống của mình Bên cạnh đó, việc tổ chức trò chơi còn tăng cường giáo dục mối quan hệ đạo đức mang tính nhân ái giữa các em, rèn luyện cho học sinh sự bạo dạn, tự tin trước đám đông, giáo dục tinh thần ham học hỏi Mang lại niềm vui nhận thức, phát huy tính tích cực, chủ động của các em trong học tập
Trong dạy học môn Đạo đức, trò chơi có thể được vận dụng ở cả 2 tiết với nhiều loại trò chơi khác nhau để học sinh rút ra bài học đạo đức (hình thành tri thức) hay để thực hành (hình thành kĩ năng )
* Các bước tiến hành phương pháp tổ chức trò chơi
a, Bước chuẩn bị
Trong quá trình chuẩn bị, giáo viên yêu cầu:
- Thiết kế trò chơi: Căn cứ vào yêu cầu giáo dục của bài đạo đức, khả năng
và kinh nghiệm của học sinh, phương tiện vật chất cần thiết để xây dựng trò chơi cho phù hợp Đối với trò chơi, thông thường giáo viên cần làm rõ: tên trò chơi, nội dung trò chơi, cách chơi, cách phân thắng - bại, còn đối với trò chơi sắm vai thì cần xác định được: tên trò chơi, các nhận vật, tình huống xảy ra,
- Dự kiến những học sinh tham gia trò chơi: Trong trường hợp cần thiết, nên
dự kiến trước những học sinh tham gia, thực hiện trò chơi
- Chuẩn bị phương tiện phục vụ trò chơi: tùy tính chất, nội dung trò chơi, có thể cần chuẩn bị những phương tiện nhất định để nâng cao hiệu quả của trò chơi
- Ngoài ra, giáo viên cần dự kiến khả năng thực hiện của học sinh, thời gian dành cho trò chơi, những học sinh làm trọng tài,
Trang 32b, Bước tiến hành:
- Giáo viên giúp học sinh nắm vững trò chơi như: tên trò chơi, nội dung, cách chơi, cách phân thắng - bại,
- Các em thảo luận với nhau về thực hiện trò chơi
- Một nhóm học sinh thực hiện trò chơi, những em khác có thể tiếp tục thực hiện trò chơi (Đối với trò chơi sắm vai thì phải có cách giải quyết khác )
c, Bước tổng kết, đánh giá:
- Giáo viên hướng dẫn học sinh đánh giá việc thực hiện trò chơi: Trò chơi có thực hiện đúng quy tắc không, có phù hợp bài học đạo đức không, có thể rút ra được điều gì qua trò chơi này
- Giáo viên nhận xét, đánh giá chung và tuyên bố nhóm (hay cá nhân thắng cuộc nếu có)
*Các yêu cầu sư phạm đối với việc tổ chức trò chơi:
- Nội dung trò chơi phải phù hợp với bài học đạo đức, vừa sức với học sinh Tiểu học, phản ánh cuộc sống thực, thường gặp, có thể vận dụng vào thực tế, tránh những nội dung trò chơi giả tạo do xa lạ với thực tế hàng ngày của các em
- Nên có những cơ sở vật chất, phương tiện cần thiết để nâng cao hiệu quả trò chơi
- Không nên tổ chức tập dượt trước trò chơi cho học sinh
- Cần tạo điều kiện cho đông đỏa học sinh tham gia trò chơi, đặc biệt chú ý đến những em học sinh nhút nhát, không nên chỉ chọn những em mạnh dạn tham gia trò chơi
- Tránh những hiện tượng như: nóng vội, muốn học sinh đóng được vai như diễn viên, thái độ cầu toàn muón mọi việc diễn ra trơn tru ngay lập tức
* Các trò chơi trong dạy học môn Đạo đức lớp 2:
Trò chơi 1: “Em là phóng viên nhỏ”
(Bài tập 3– Bài Học tập sinh hoạt đúng giờ)
Mục tiêu: Giúp HS biết các công việc cụ thể cần làm và thời gian thực hiện
để học tập và sinh hoạt đúng giờ
Trang 33Cách tiến hành:
1 - Nhóm trưởng (NT) yêu cầu các bạn đọc cá nhân yêu cầu và thực hiện nhanh ra nháp
- Nhóm trưởng cho các bạn phỏng vấn nhau theo cặp
- Nhóm trưởng làm phóng viên phỏng vấn các bạn trong nhóm
NT: Xin chào các bạn tôi là phóng viên nhỏ Bạn có thể cho tôi biết:
+ Buổi sáng bạn làm những việc gì?
+ Buổi trưa bạn làm những việc gì?
+ Buổi chiều bạn làm những việc gì?
+ Buổi tối bạn làm những việc gì?
+ Bạn đã thực hiện đúng giờ những việc nào trong 3 việc: Đi học - Đi ngủ -
Tự học
NT: Mời các bạn nhận xét về những việc mà các bạn làm vào từng thời điểm
đã hợp lí chưa
*GV quan sát các nhóm làm việc và giúp đỡ
2 Trưởng ban học tập (TBHT) chia sẻ trước lớp
- TBHT: Tớ xin tự giới thiệu, mình là phóng viên nhỏ đến từ đài 2A, mình muốn phỏng vấn các bạn về việc học tập và sinh hoạt đúng giờ Tớ mời bạn TBHT sẽ mời 2, 3 bạn lên phỏng vấn, sau đó sẽ đặt các câu hỏi để các bạn khác cùng tranh luận xem bạn đó đã thực hiện học tập và sinh hoạt phù hợp và đúng giờ hay chưa?
3 GV nhận xét trong (nếu cần) và sau khi kết thúc trò chơi
4 GV kết luận: Chúng ta cần sắp xếp thời gian hợp lí để học tập, vui chơi, làm việc nhà giúp gia đình và nghỉ ngơi
Trang 34Học sinh chơi trò chơi: “Em là phóng viên nhỏ”
Trò chơi 2: “Ai đúng - Ai sai”
(Bài tập 4- Bài Học tập sinh hoạt đúng giờ)
Mục tiêu: Tạo cơ hội để HS được bày tỏ ý kiến, thái độ của mình về lợi ích của việc thực hiện học tập và sinh hoạt đúng giờ
a Trẻ em không cần học tập, sinh hoạt đúng giờ
b Học tập đúng giờ giúp em học mau tiến bộ
c Cùng một lúc em có thể vừa học, vừa chơi
d Sinh hoạt đúng giờ có lợi cho sức khoẻ
Trang 35- Sau mỗi ý kiến, nhóm nào muốn trả lời sẽ giơ thẻ Nhóm giơ thẻ trước được trả lời trước, nếu đúng được 5 điểm nếu trả lời sai nhóm khác được quyền trả lời Nhóm thắng cuộc là nhóm ghi được nhiều điểm nhất
- GV nhận xét kết quả làm việc của các nhóm
d Sinh hoạt đúng giờ có lợi cho sức khoẻ là ý kiến đúng
Kết luận: Học tập và sinh hoạt đúng giờ có lợi cho sức khoẻ và việc học tập của bản thân
Trò chơi 3: “Hái hoa dân chủ”
(Bài tập 4 - Bài Gọn gàng, ngăn nắp)
Trò chơi được thực hiện thường xuyên trong các bài học môn Đạo đức, nhóm nào có các thành viên trả lời đúng sẽ được nhận luôn bông hoa đó và cứ 5 bông hoa thì được quy đổi thành 1 lá cờ thi đua (7 lá cờ thi đua nhóm đó sẽ được thưởng)
Mục tiêu: Giúp học sinh biết xử lí các tình huống để thấy được gọn gàng, ngăn nắp thì cần phải làm như thế nào
Trang 36được cách ứng xử tốt trong thời gian 2 phút thì bạn được nhận bông hoa đó, nếu ứng xử chưa tốt thì bông hoa đó sẽ dành cho nhóm khác có cách ứng xử phù hợp hơn Các bạn đã nắm được luật chơi chưa Cô giáo và các nhóm khác sẽ làm giám khảo Chúng ta bắt đầu trò chơi nhé
- Tình huống 1: Nga vừa ăn cơm xong chưa kịp dọn mâm bát thì bạn rủ đi chơi (HS: Tớ sẽ nói với bạn “Đợi mình dọn xong mâm cơm, xin phép bố mẹ đã rồi mình cùng đi nhé”)
- Tình huống 2: Nhà sắp có khách, mẹ nhắc Nga quét nhà trong khi bạn muốn xem phim hoạt hình (HS: Tớ sẽ làm theo lời mẹ và nói với mẹ “Con quét xong nhà, mẹ cho con xem phim hoạt hình nhé”)
- Tình huống 3: Ở lớp bán trú, Nga được phân công xếp gọn chiếu sau khi ngủ dậy nhưng bạn thấy bạn ấy không làm.(HS: Tớ sẽ nhắc bạn “Nam ơi, bạn được phân công xếp chiếu sau khi ngủ dậy đấy, bạn làm đi không bị phạt, mình sẽ cùng làm với bạn nhé”)
- Tình huống 4: Bố mẹ xếp cho bạn một góc học tập ở nhà nhưng mọi người trong gia đình thường để đồ dùng lên bàn học của Nga (HS: Tớ sẽ nói với mọi người trong gia đình không được để đồ dùng lên bàn của tớ vì như thế là chưa gọn gàng ngăn nắp
- Tình huống 5: Bạn sang nhà bạn Nga chơi, thấy sách vở, quần áo, giày dép,
đồ chơi,… bạn để lung tung, mỗi chỗ một thứ (HS: Tớ sẽ nhắc bạn nhở bạn Nga cất gọn gàng sách vở, quần áo, giày dép, đồ chơi vào đúng vị trí đã quy định để lúc cần có thể lấy được luôn, không mất công tìm”)
- Tình huống 6: Nga nói với bạn “Nhà tớ rộng lắm đồ chơi để đâu cũng được.” (HS: Tớ sẽ nói với Nga “Nhà bạn rộng nhưng nếu không để đồ gọn gàng thì cũng thành nhà chật mà gọn gàng, ngăn nắp làm cho nhà cửa thêm sạch sẽ
2 TBHT cho các bạn tham gia trò chơi
3 GV cùng các nhóm nhận xét, thảo luận về cách ứng xử sau đó quyết định
4 GV kết luận: Các cách ứng xử của các em cho thấy các em đã biết thế nào
là gọn gàng, ngăn nắp, biết nhắc nhở người khác cùng thực hiện Không chỉ ở bài học mà trong cuộc sống chúng ta cũng cần phải làm như vậy nhé
Trang 37Trò chơi 4: “Đoán xem tôi đang làm gì?”
(Bài tập 3 - Bài Chăm làm việc nhà)
Mục tiêu: Giúp HS biết được một số việc nhà phù hợp với khả năng
+ Lượt 2: Hai đội đổi vị trí chơi cho nhau
+ Lượt 3: lại quay về đội 1 làm hành động (chơi khoảng 6 lượt)
Đội thắng cuộc là đội ghi được nhiều điểm nhất
- TBHT tổ chức cho HS chơi thử
- TBHT cử ra ban giám khảo và cùng ban giám khảo giám sát hai đội chơi
- Giáo viên nhận xét học sinh chơi và trao phần thưởng cho các đội chơi
- Giáo viên kết luận: Chúng ta nên làm những việc phù hợp với khả năng của mình
Trò chơi 5: “Ai nhanh hơn?”
(Bài 5: Chăm chỉ học tập)
Mục tiêu: Giúp HS củng cố lại những kiến thức, những hành vi đạo đức về việc chăm chỉ học tập
Cách tiến hành
Phương tiện: Các tấm bìa có ghi nhận xét hay kể về 1 bạn
1 GV nêu luật chơi: Khi cô đưa tấm biển có ghi nhận xét về 1 bạn, bạn nào nhận ra nhanh nhất các biểu hiện về việc chăm chỉ học tập hay chưa chăm chỉ học tập thì dơ tay trả lời Nếu trả lời đúng bạn sẽ được nhận 1 phần kẹo bánh Nếu sai bạn khác có quyền trả lời thay
Nội dung tấm bìa:
Trang 38- Tấm 1: Hà là một học sinh giỏi của lớp vì bạn luôn cố gắng tự hoàn thành bài tập được giao và tự giác học bài, làm bài mà không cần ai nhắc nhở
- Tấm 2: Minh nói với bố mẹ “Nếu con được cô khen trong vở bố mẹ phải thưởng cho con đấy nhé!”
- Tấm 3: Hoa là một bạn hơi nhút nhát nhưng Hoa luôn được mọi người yêu mến và tiến bộ trong học tập vì bạn rất chăm chỉ học, giúp đỡ các bạn trong lớp
- Tấm 4: Bình ngồi nói chuyện với các bạn, bình bảo “Các bạn chỉ cần chăm học bài, làm bài khi sắp thi thôi”
2 GV tổ chức cho HS chơi
3 GV cho các bạn nhận xét, tranh luận, trao phần thưởng
4 GV kết luận: Qua trò chơi, chúng ta đã nhớ được những biểu hiện của chăm chỉ học tập và lợi ích của việc chăm chỉ học tập Chúng ta cũng cần phải thực hiện ngay điều này nhé
Trò chơi 6: “Nối dây cho bong bóng”
(Bài tập 5 - Bài Giữ gìn trường lớp sạch đẹp)
Mục tiêu: Giúp học sinh biết thực hiện giữ gìn trường lớp sạch đẹp bằng những việc làm cụ thể
Cách tiến hành: Phương tiện: 2 Tấm bìa đã có sẵn hình quả bóng, trên đó có ghi các việc để giữ gìn trường lớp sạch đẹp và các việc chưa giữ gìn trường lớp sạch đẹp, phấn
Trực nhật lớp
Vẽ bậy lên tường Lao động
sân
trường
Không vứt rác bừa bãi
Tưới cây
Trồng cây, trồng hoa
Lau cửa lớp
Giữ gìn trường lớp sạch đẹp
Trang 391 GV nêu luật chơi: Để thực hiện hoạt động 5 chúng ta cùng chơi trò “Nối dây cho bong bóng” Chúng ta chia nhóm như sau: 2 Đội chơi, mỗi đội 3 bạn Mỗi nhóm chọn 1 thành viên tham gia trò chơi, Đội 1: nhóm 1, 2, 3 - Đội 2: Nhóm 4, 5,
6 Chúng ta sẽ chơi theo hình thức tiếp sức Trong thời gian 1phút, các em hãy lên nối dây vào quả bóng sao cho đúng với yêu cầu đề bài đó là nối dây vào những quả bóng phù hợp với nội dung bên trong hình chữ nhật Đội nào xong trước và đúng, đội đó thắng
2 GV tổ chức trò chơi, HS chơi sôi nổi, hào hứng, các bạn khác cổ vũ
3 GV cùng các bạn nhận xét và đưa ra quyết định xem đội nào thắng thì cộng điểm
- GV lấy thêm ý kiến của các bạn khác ở dưới lớp về các hoạt động, việc làm giữ gìn trường lớp sạch đẹp
4 GV kết luận: Bằng những việc làm cụ thể và nhỏ, chúng ta đã góp phần vào việc giữ gìn trường lớp sạch đẹp Hàng ngày các em cố gắng thực hiện tốt những việc làm trên
Trò chơi 7: “Ứng xử văn minh”
(Bài tập 3- Bài Giữ trật tự, vệ sinh nơi công cộng)
Mục tiêu: Giúp HS hiểu được lợi ích và những việc cần làm để giử gìn trật
tự, vệ sinh nơi công cộng
- GV nhận xét kết quả làm việc của các nhóm
- GV chốt câu trả lời đúng:
Kết luận:
Trang 40+ Nơi công cộng đem lại nhiều lợi ích cho mọi người
+ Giữ trật tự vệ sinh nơi công cộng làm cho môi trường thêm sạch sẽ, trong lành, góp phần giảm thiểu các chi phí (có liên quan đến năng lượng) cho việc bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khỏe con người
Trò chơi 8: “Em tập làm quản lí”
(Bài tập 6 - Bài 8: Giữ trật tự, vệ sinh nơi công cộn)
Mục tiêu: - Nêu được những việc cần làm phù hợp với lứa tuổi để giữ trật tự,
vệ sinh nơi công cộng
- Hiểu được lợi ích của việc giữ trật tự, vệ sinh nơi công cộng Cách tiến hành
Phương tiện: Mũ quản lí, phần thưởng cho nhóm làm quản lí tốt
1 GV nêu luật chơi: Để thực hiện hoạt động 6, chúng ta cùng nhau chơi trò
“Em tập làm quản lí” nhé Ban giám khảo sẽ là chủ tịch, phó chủ tịch Hội đồng tự quản và cô Trong thời gian 5 phút các nhóm sẽ thảo luận, thực hiện yêu cầu của tình huống và ghi kết quả ra bảng nhóm
Tình huống như sau: Khi vào tham quan Viện Bảo tàng, chúng ta thường thấy có một bảng nội quy được đặt ngay cửa vào Nếu em là người quản lí ở đó,
em sẽ đưa ra bảng nội quy như thế nào để mọi người biết giữ gìn trật tự, vệ sinh nơi công cộng
2 Trò chơi bắt đầu
Nhóm trưởng cho các bạn thảo luận, nêu ý kiến cá nhân, sau đó tổng hợp các
ý kiến và thống nhất kết quả.Nhóm trưởng cử thư kí ghi lại kết quả thảo luận, cử người lên đóng vai làm quản lí
3 Hết thời gian, đại diện của các nhóm mang bảng lên trình bày với vai trò quản lí Viện Bảo tàng
Ví dụ: - Xin chào các bạn! Tôi là quản lí Viện Bảo tàng Để khách tham
quan có ý thức giữ gìn trật tự, vệ sinh, tôi xin đưa ra bảng nội quy như sau:
BẢNG NỘI QUY KHI THAM QUAN VIỆN BẢO TÀNG
1 Không được vứt rác bừa bãi, cần bỏ rác đúng nơi quy định
2 Không được chạm vào đồ vật trưng bày trong bảo tàng