PHỤ LỤC DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT Viết tắt Viết đầy đủ ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á CFCC Hội đồng chứng chỉ rừng Trung Quốc CITES Công ước buôn bán động vật hoang dã CLLNQG Ch
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, luận văn: “Đánh giá thử nghiệm Bộ tiêu chuẩn Quản lý rừng bền vững Quốc gia theo tiêu chuẩn FSC quốc tế tại Công ty Lâm nghiệp và Dịch vụ Hương Sơn, tĩnh Hà Tĩnh” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số
liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào
Nếu công trình nghiên cứu của tôi trùng lập với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã công bố, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và tuân thủ kết luận đánh giá luận văn của Hội đồng khoa học
Hà nội, ngày 6 tháng 6 năm 2017 Tác giả luận văn
Vũ Thị Trang
Trang 2
LỜI CẢM ƠN
Luận văn: ”Đánh giá thử nghiệm Bộ tiêu chuẩn Quản lý rừng bền vững Quốc gia theo tiêu chuẩn FSC quốc tế tại Công ty Lâm nghiệp và Dịch vụ Hương Sơn, tĩnh Hà Tĩnh” được hoàn thành tại Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam theo
chương trình đào tạo Cao học Lâm sinh, chuyên ngành Lâm học khoá 23 (2015 – 2017)
Để hoàn thành luận văn này, tác giả xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Khoa lâm học, Phòng Sau đại học và các thầy cô giáo đã hỗ trợ và tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tác giả xin chân thành cám ơn lãnh đạo Vụ Quản lý sản xuất Lâm nghiệp – Tổng cục Lâm nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn
Trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành luận văn, tác giả đã được sự giúp
đỡ, hướng dẫn, giảng dạy tận tình của thầy giáo hướng dẫn PGS.TS Bùi Thế Đồi Qua đây, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất
Trong quá trình thực hiện việc thu thập số liệu ngoài thực địa, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp và Dịch vụ Hương Sơn, Dự án ForCES (Tổ chức SNV Việt Nam) và Tổ công tác Quản lý rừng bền vững Tổng cục Lâm nghiệp Qua đây, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn
Mặc dù có nhiều cố gắng để hoàn thành luận văn, song do mới tiếp cận với công tác nghiên cứu khoa học về quản lý rừng bền vững không thể tránh khỏi những thiếu sót mà bản thân chưa nhận thấy Tác giả rất mong được sự góp ý của quý Thầy, Cô giáo để khóa luận được hoàn chỉnh hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 6 tháng 6 năm 2017
Vũ Thị Trang
Trang 3MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn .ii
Mục lục iii
Danh mục các từ viết tắt v
Danh mục bảng vi
Danh mục hình, đồ thị vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Hệ thống các Bộ tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng trên thế
giới 3
1.2 Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng ở Việt Nam 13
1.3 Quá trình hình thành Bộ tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững quốc gia theo tiêu
chuẩn FSC 17
1.3.1 Quá trình hình thành nhóm phát triển Bộ tiêu chuẩn 17
1.3.2 Các yêu cầu của quy trình cho sự phát triển và duy trì Bộ Tiêu chuẩn Quản lý rừng bền vững Quốc gia 20
1.3.3 Tiến trình thực hiện và kết quả thực hiện quá trình phát triển Bộ tiêu chuẩn
QLRBV Quốc gia 22
1.4 Thảo luận 24
Chương I: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 27
2.1.1 Mục tiêu tổng quát 27
2.1.2 Mục tiêu cụ thể 27
2.2 Giới hạn nghiên cứu 27
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 27
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu 27
2.3 Nội dung nghiên cứu 27
Trang 42.4 Phương pháp nghiên cứu 28
2.4.1 Quan điểm 28
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 28
2.4.2.1 Phương pháp kế thừa 28
2.4.2.2 Phương pháp điều tra, đánh giá 29
Chương 3: ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 32
3.1 Đặc điểm khu vực nghiên cứu 32
3.1.1 Vị trí địa lý 32
3.1.2 Địa hình 323
3.1.3 Khí hậu 34
3.1.4 Thủy văn 34
3.1.5 Đặc điểm thổ nhưỡng 35
3.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 36
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 38
4.1 Đánh giá hiện trạng tài nguyên rừng của Công ty Lâm nghiệp 38
4.1.1 Hiện trạng tài nguyên rừng .38
4.1.2 Cơ sở khoa học đảm bảo kinh doanh rừng bền vững 41
4.2 Đánh giá sự phù hợp của Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia tại Công ty
LN&DV Hương Sơn 43
4.3 Đánh giá thử nghiệm Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia 47
4.3.1 Đánh giá thử nghiệm các chỉ số thuộc nguyên tắc 7, 8, 10 thuộc nhóm kinh
tế 48
4.3.2 Đánh giá thử nghiệm các chỉ số thuộc nguyên tắc 1, 2, 3, 4 thuộc nhóm xã
hội 51
4.3.3 Đánh giá thử nghiệm các chỉ số thuộc nguyên tắc 5, 6, 9 thuộc nhóm môi
trường 59
KẾT LUẬN, TỒN TẠI, KIẾN NGHỊ 67 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Viết tắt Viết đầy đủ
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
CFCC Hội đồng chứng chỉ rừng Trung Quốc
CITES Công ước buôn bán động vật hoang dã
CLLNQG Chiến lược Lâm nghiệp
FSC Hội đồng quản trị rừng Quốc tế
GTZ Cơ quan hợp tác kỹ thuật Đức
HCVF Rừng có giá trị bảo tồn cao
ITTO Tổ chức gỗ nhiệt đới quốc tế
LN&DV Lâm nghiệp và dịch vụ
MTCC Hệ thống chứng chỉ gỗ Malaysia
QLRBV Quản lý rừng bền vững
NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
PEFC Chương trình chứng nhận hệ thống chứng chỉ rừng TFF Quỹ ủy thác ngành Lâm nghiệp
SNV Tổ chức phát triển Hà Lan
SDG Nhóm phát triển Bộ tiêu chuẩn Quốc gia
SFMI Viện Quản lý rừng bền vững
SGEC Hội đồng hệ sinh thái xanh bền vững Nhật Bản
VNFOREST Tổng cục Lâm nghiệp
UNFCCC Công ước Khung của Liên Hiệp Quốc về Biến đổi khí hậu
Trang 62.1 Đánh giá thử nghiệm và định hướng sửa chữa, thay đổi, bổ
sung chỉ số trong Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia 31 4.1 Thống kê diện tích các loại đất đai, trữ lượng rừng 38
4.3 Tổng hợp đánh giá sự phù hợp của các Chỉ số trong Bộ tiêu
4.4 Kết quả đánh giá thử nghiệm và định hướng sửa chữa, thay
đổi, bổ sung chỉ số cho các tiêu chí thuộc nhóm kinh tế 48
4.5 Kết quả đánh giá thử nghiệm và định hướng sửa chữa, thay
đổi, bổ sung chỉ số cho các tiêu chí thuộc nhóm xã hội 52
4.6 Kết quả đánh giá thử nghiệm và định hướng sửa chữa, thay
đổi, bổ sung chỉ số cho các tiêu chí thuộc nhóm môi trường 60 4.7 Kết quả đánh giá thử nghiệm Bộ tiêu chuẩn 65
Trang 7DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ
1.1 Diện tích rừng cấp chứng chỉ rừng PEFC theo các năm 5
1.2 Tỷ lệ % diện tích rừng được cấp chứng chỉ PEFC trong khu vực 5
1.3 Quy trình phát triển Bộ tiêu chuẩn và tham vấn cộng đồng 21
2.1 Các bước đánh giá thử nghiệm Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia 30
3.1 Bản đồ hành chính Công ty LN&DV Hương Sơn 33
4.2 Đánh giá sự phù hợp của Bộ Tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia 45
4.3 So sánh sự phù hợp của các chỉ số thuộc 3 nhóm kinh tế, xã hội
4.4 Chỉ số đề xuất sửa đổi trong Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia 66
Trang 91 ĐẶT VẤN ĐỀ
Quản lý rừng bền vững (QLRBV) và cấp chứng chỉ rừng (CCR) là một trong những giải pháp quan trọng của ngành lâm nghiệp nước ta và đã được cụ thể hóa trong nhiều văn bản, chính sách pháp luật của Nhà nước Chiến lược Phát triển Lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2020 đã xác định việc quản lý, sử dụng và phát trển rừng bền vững là nền tảng cho phát triển lâm nghiệp Theo đó, mục tiêu của Chiến lược đến năm
2020 được xác định là: thiết lập, quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng bền vững 16,2 triệu ha đất quy hoạch cho lâm nghiệp và có ít nhất 30% diện tích rừng sản xuất được cấp chứng chỉ rừng [19]
Trong những năm qua, kim ngạch xuất khẩu gỗ và lâm sản của Việt Nam liên tục tăng nhanh và đạt mốc 7,2 tỷ USD năm 2015, năm 2016 duy trì đạt 7,308 tỷ USD, đóng góp một phần quan trọng vào GDP của cả nước [23] Tuy nhiên, hoạt động xuất khẩu gỗ và lâm sản nước ta đang đứng trước những thách thức, rào cản rất lớn khi các thị trường xuất khẩu chính của nước ta đều yêu cầu sản phẩm gỗ phải có chứng chỉ, được kiểm soát nguồn gốc, xuất xứ từ rừng được quản lý bền vững Vì vậy, quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng là một đòi hỏi khách quan đồng thời là một xu hướng chung của các nước trên thế giới nhằm đảm bảo sản xuất, kinh doanh và sử dụng rừng lâu dài, liên tục, qua đó gắn kết bảo tồn rừng với phát triển kinh tế, xã hội, môi trường Hiện nay, quản lý rừng bền vững đã trở thành một trong những chủ đề được quan tâm bởi cộng đồng Quốc tế Các nước Bắc Âu, Châu Á - Thái Bình Dương đã đi đầu trong lĩnh vực này và có nhiều thành tựu trong quản lý Trên thế giới đã có nhiều
bộ tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững cấp quốc gia (Canada, Thụy Điểm, Malaysia, Indonesia, v.v ) và cấp quốc tế của tiền trình Helsinki, tiến trình Montreal Hội đồng quản trị rừng (FSC) và tổ chức gỗ nhiệt đới (ITTO) đã xây dựng bộ tiêu chuẩn “Những nguyên tắc, tiêu chí và chỉ số quản lý rừng đã được công nhận và áp dụng ở nhiều nước trên thế giới và các tổ chức cấp chứng chỉ rừng đều sử dụng Bộ tiêu chuẩn này để đánh giá việc quản lý và công nhận chứng chỉ rừng Theo số liệu thống kê về chứng chỉ rừng theo FSC trên thế giới, tính đến ngày 30 tháng 3 năm 2017 đã có 82 quốc gia với
Trang 10195,094 triệu ha rừng được cấp chứng chỉ, trong đó gồm: 1.475 chứng chỉ FM/CoC và 32.057 chứng chỉ CoC [33]
Tuy nhiên, việc triển khai quản lý rừng bền vững và cấp chứng chỉ rừng ở nước
ta còn khá chậm và khó có thể đạt được các mục tiêu đề ra nếu không có các giải pháp phù hợp và kịp thời Tính đến hết Tháng 3/2017, toàn quốc có 228.927 ha do FSC cấp, trong đó: rừng tự nhiên 86.156 ha, rừng trồng 142.771 ha, chiếm khoảng 2,05% diện tích rừng sản xuất
Một trong những nguyên nhân dẫn đến việc chưa đạt mục tiêu đặt ra là Việt Nam chưa có Bộ tiêu chuẩn quốc gia phù hợp với điều kiện ở Việt Nam mà vẫn hài hòa với tiêu chuẩn quốc tế FSC, không những tạo điều kiện cho chủ rừng dễ dàng thực hiện các nguyên tắc về QLRBV thuận lợi, với chi phí thấp hơn, mà các sản phẩm gỗ từ nguyên liệu của các khu rừng đạt chứng chỉ sẽ được mua với gia cao hơn và được đã số các thị trường chính trên thế giới chấp nhận Chính vì vậy, trong giai đoạn từ năm 2012 đến nay Tổng cục Lâm nghiệp đã thúc đẩy mạnh mẽ việc phát triển Bộ tiêu chuẩn quốc gia theo tiêu chuẩn FSC quốc tế, đến nay đã hoàn thành đến Dự thảo số 03 Tuy nhiên,
để Bộ tiêu chuẩn có thể áp dụng vào thực tế điều kiện của Việt Nam, đảm bảo tính khả thi áp dụng trong nước, trước khi đề nghị Tổ chức FSC công nhận, việc đánh giá thử
Bộ tiêu chuẩn đối với một số chủ rừng và loại hình rừng khác nhau, từ đó xác định những bất cập để điều chỉnh cho phù hợp là rất cần thiết, mang tính quyết định đến sự thành công của việc triển khai quản lý rừng bền vững và cấp chứng chỉ rừng ở nước ta
Xuất phát từ những vấn đề đó tôi thực hiện “Đánh giá thử nghiệm Bộ tiêu chuẩn Quản lý rừng bền vững Quốc gia theo tiêu chuẩn FSC quốc tế tại Công ty Lâm nghiệp và dịch vụ Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh” triển khai nhằm góp phần xác định
được các chỉ số chưa phù hợp, hài hòa giữa bộ tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững quốc gia với bộ tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững của FSC
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Hệ thống các Bộ tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng trên thế giới
Để thực hiện quản lý rừng bền vững, năm 1992 lần đầu tiên Tổ chức gỗ nhiệt đới quốc tế (ITTO) đề ra những tiêu chí cho quản lý rừng nhiệt đới Những năm sau đó vấn đề quản lý rừng bền vững được quan tâm và thảo luận ở diễn đàn trên khắp thế giới, dẫn đến việc thành lập một loạt các tổ chức quốc tế và quốc gia khuyến khích quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng như Hội tiêu chuẩn Canada (CSA, 1993, quốc gia), Hội đồng quản trị rừng (Forest Stewardship Council – FSC, 1994, quốc tế), Sáng kiến lâm nghiệp bền vững (SFI, 1994, Bắc Mỹ), The Programme for the Endorsement of Forest Certification – PEFC năm 1999, Tổ chức nhãn sinh thái Indonesia (LEI, 1998, quốc gia), Hội đồng chứng chỉ gỗ Malaysia (Malaysian Timber Certification Scheme – MTCS, 1998, quốc gia), Chứng chỉ rừng Chi Lê (CertforChile,
1999, quốc gia), và Chương trình phê duyệt các quy trình chứng chỉ rừng (PEFC, 1999, Châu Âu) (Nguyễn Thị Thu Phương, 2016) [11]
Tại hội nghị Helsinki -1993, 38 nước ở Châu Âu đã xác định 6 tiêu chuẩn, 28 chỉ tiêu quản lý rừng bền vững cho rừng Địa Trung Hải, rừng Ôn đới và rừng Bắc
Âu Tại đại hội Montreal, 12 nước thành viên đã đồng ý thiết lập 7 tiêu chuẩn và 67 chỉ tiêu để quản lý rừng Bắc Mỹ Ở vùng khô hạn Châu Phi, 27 nước liên quan thống nhất 7 tiêu chuẩn, 47 chỉ tiêu quản lý rừng bền vững tại cuộc họp chuyên gia UNEP/FAO tổ chức ở Narrobi Kenya năm 1995 Tại cuộc họp chuyên gia FAO/CCAD, các chuyên gia từ 7 nước CCAD đã xác định 8 tiêu chuẩn và 52 chỉ tiêu ở cấp quốc gia, 4 tiêu chuẩn và 40 chỉ tiêu ở cấp vùng cho quản lý rừng bền vững để các nước xem xét (Nguyễn Tuấn Hưng, 2013) [5]
Tiêu chí và chỉ số là những công cụ có thể được sử dụng để khái quát, đánh giá và thực hiện quản lý rừng bền vững Các tiêu chí xác định và mô tả các yếu tố cần thiết, cũng như một tập hợp các điều kiện, quy trình, theo đó quản lý rừng bền vững có thể được đánh giá Chỉ số định kỳ đã cho thấy sự chỉ đạo của sự thay đổi
Trang 12đối với từng tiêu chuẩn Từ các tiêu chuẩn chung, mỗi quốc gia lại có các tiêu chí riêng về quản lý rừng bền vững cấp quốc gia riêng Ở cấp độ đơn vị quản lý, người
ta nỗ lực hướng vào phát triển các tiêu chuẩn địa phương về các chỉ số quản lý rừng bền vững Trung tâm Nghiên cứu Lâm nghiệp Quốc tế, mô hình Mạng lưới Rừng Quốc tế và các nhà nghiên cứu tại Đại học British Columbia đã phát triển một số công cụ và kỹ thuật để giúp các cộng đồng phát triển các tiêu chuẩn địa phương của mình và các chỉ số Các tiêu chí và chỉ số cũng là cơ sở của chương trình cấp chứng chỉ rừng của bên thứ ba như các tiêu chuẩn của Canada tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững
Năm 1999 các chủ rừng ở Châu Âu đã thành lập ra Chương trình chứng nhận chứng chỉ rừng Châu Âu (PEFC) PEFC là tổ chức phi chính phủ, hoạt động dựa trên việc công nhận và chứng thực cho CCR quốc gia thành viên Hiện nay, PEFC
là hệ thống chứng chỉ rừng lớn nhất thế giới, bao gồm 43 quốc gia thành viên và hợp tác với các tổ chức quốc tế liên quan như các tổ chức xã hội dân sự, các doanh nghiệp, cơ quan chính phủ và các cơ quan liên chính phủ PEFC sử dụng cách tiếp cận từ dưới lên, nghĩa là dựa trên hệ thống chứng chỉ rừng của các quốc gia thành viên PEFC là hệ thống chứng chỉ phù hợp với nhiều đối tượng khác nhau, bao gồm các công ty lâm nghiệp, các doanh nghiệp chế biến, đặc biệt là các chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng thông qua việc áp dụng chứng chỉ theo nhóm hoặc theo vùng Đến tháng 3/2017, có trên 300 triệu ha rừng được PEFC chứng nhận với trên 750.000 chủ rừng và có trên 18.800 công ty được chứng nhận chuỗi hành trình sản phẩm (CoC) Diện tích rừng được cấp chứng chỉ theo PEFC tăng nhanh, chỉ trong 17 năm 1999 là 0 ha, đến nay đạt 301,6 triệu ha rừng được cấp chứng chỉ (chi tiết tại hình 1.1) Các nước sử dụng chứng chỉ PEFC cao nhất ở Canada với 131,1 triệu ha, tiếp đến là Hoa Kỳ với 333,25 triệu ha, Australia với 26,6 triệu ha Ở Châu Á, các nước sử dụng hệ thống chứng chỉ PEFC gồm Nhật Bản, Trung Quốc, Malaysia, Indonexia và một số nước đang xây dựng như Hàn Quốc, Thái Lan, Lào [14]
Trang 13Hình 1.1 Diện tích rừng cấp chứng chỉ rừng PEFC theo các năm
Nguồn: https://www.pefc.org/
Diện tích rừng đạt Chứng chỉ rừng PEFC trong khu cao nhất thuộc khu vực Bắc Mỹ chiếm 54%, khu vực Châu Âu chiếm 31%, khu vực Châu Á chiếm 4% (chi tiết tại hình 1.2)
Nguồn: https://www.pefc.org/
Trang 14Để thực trở thành thành viên chính thức của Chương trình chứng nhận chứng chỉ rừng Châu Âu (PEFC), các quốc gia cần phải đáp ứng 2 điều kiện sau: 1) Có tổ chức bộ máy về chứng chỉ rừng quốc gia do cơ quan có thẩm quyền thành lập Tổ chức này là tổ chức có tư cách pháp nhân và là đầu mối của quốc gia về chứng chỉ rừng (gọi tắt là National Governing Body – NGB) Tổ chức này có thể là nhà nước,
tư nhân hoặc dân sự - xã hội và do quốc gia tự quyết định 2) Có Bộ tiêu chuẩn quốc gia về QLRBV và các quy trình, thủ tục đánh giá cấp chứng chỉ rừng đáp ứng được các nguyên tắc của PEFC và được thông qua theo các quy định luật pháp của quốc gia Tổ chức bộ máy về chứng chỉ rừng quốc gia điều hành toàn bộ các hoạt động của quốc gia liên quan đến thực hiện các chiến lược, kế hoạch của quốc gia về chứng chỉ rừng và là đầu mối liên hệ với PEFC quốc tế Để hài hòa chứng chỉ quốc gia với PEFC thì cơ quan đầu mối quốc gia (NGB) phải là thành viên của PEFC để
có thể yêu cầu PEFC chứng thực cho hệ thống CCR quốc gia NGB là các tổ chức
có tư cách pháp nhân, có mục tiêu triển khai chứng chỉ rừng PEFC và có sự hỗ trợ
từ chủ rừng hoặc cơ quan quản lý lâm nghiệp quốc gia Các NGB có thể là các tổ chức phi lợi nhuận, các hiệp hội, các viện nghiên cứu hoặc cơ quan chính phủ NGB
sẽ ủy quyền cho bên thứ 3 (là các tổ chức trong nước có đủ năng lực) tiến hành đánh giá cấp chứng chi rừng Việc quản lý, vận hành, giám sát và cấp chứng chỉ hoàn toàn do hệ thống chứng chỉ rừng quốc gia chủ động, PEFC chỉ thu phí thành viên của NGB (khoảng 400 triệu đồng/năm) và phí đánh giá cấp chứng chỉ (khoảng
800 đồng/ha) Về thị trường, gỗ có chứng chỉ PEFC được thừa nhận rộng rãi trên khắp thế giới như: được công nhận bởi chính sách mua sắm gỗ của các nước Bỉ, Anh, Đan Mạch, Hà Lan, Phần Lan, Pháp, Đức, Nhật Bản và Thụy Sỹ; được khuyến cáo trong Hướng dẫn Xanh về Mua sắm công của Ủy ban Châu Âu; Hội đồng Xây dựng Xanh ở Úc, Italy và Singapo, Mỹ,…[14]
Tháng 10 năm 1993, cuộc họp sáng lập FSC với 130 thành viên đến từ 26 quốc gia diễn ra tại Toronto (Canada) đã bầu ra Hội đồng Quản trị FSC đầu tiên Tiếp đó vào năm 1994 các thành viên sáng lập phê duyệt các nguyên tắc và tiêu chí FSC cùng quy định về hệ thống tổ chức FSC hoạt động dựa trên hội đồng chứng chỉ
Trang 15và các thành viên (là các tổ chức, cá nhân tự nguyện tham gia) Từ đó tới nay FSC đã trải qua quá trình phát triển mạnh mẽ với hệ thống chứng chỉ quản lý rừng bền vững
có uy tín trên thế giới FSC là tổ chức uy tín nhất và chứng chỉ FSC được mọi thị trường chấp nhận, kể cả Bắc Mỹ, và Tây Âu (Phan Đăng An, 2012) [1] FSC cấp chứng chỉ QLRBV cho các đối tượng là rừng ôn đới, nhiệt đới, rừng tự nhiên, rừng trồng và đang mở rộng ra rừng sản xuất lâm sản ngoài gỗ Tổ chức này có trụ sở chính đặt tại thành phố Bonn (Đức) và có cấu trúc quản trị duy nhất dựa trên các nguyên tắc sự tham gia, dân chủ và công bằng FSC có đại diện tại hơn 82 quốc gia [31] Thành viên FSC được chia thành nhóm xã hội, nhóm môi trường và nhóm kinh tế, mỗi nhóm lại được chia ra thành nhóm Bắc (các nước công nghiệp) và nhóm Nam (các nước đang phát triển) Bất kỳ ai hỗ trợ cải thiện quản lý rừng trên thế giới đều có thể trở thành thành viên của FSC Hội đồng quản trị rừng quốc tế (FSC) đề xuất 10 nguyên tắc và 56 tiêu chí quản lý rừng Uỷ ban phát triển bền vững (CSD) cũng đề nghị các chỉ thị rừng bền vững Tổ chức các tiêu chuẩn quốc tế (ISO) và hội tiêu chuẩn Canada (CSA) đã đưa ra hệ thống quản lý ngành lâm nghiệp - tiêu chuẩn ISO 14000 FSC xây dựng tiêu chuẩn QLRBV và ủy quyền cho bên thứ 3 đánh giá cấp CCR Hiện nay có 15 tổ chức quốc tế được FSC ủy quyền đánh giá và cấp CCR Việc đánh giá, cấp chứng chỉ tuân theo quy định của FSC, các quốc gia hầu như không có vai trò gì trong quá trình đánh giá và cấp CCR
Theo Christopher Upton và Stephen Bass (1996), hầu hết các tiêu chuẩn quản lý rừng do các tổ chức quốc tế đưa ra đều được chấp nhận ở mức cao Trong
đó các tiêu chuẩn của FSC được coi là sát thực và có khả năng ứng dụng rộng rãi hơn cả [29] Tuy nhiên, cho đến nay tình hình quản lý rừng bền vững trên thế giới vẫn chưa được cải thiện đáng kể, nhiều khu rừng vẫn đứng trước nguy cơ bị tàn phá nghiêm trọng Đã có 82 nước được cấp chứng chỉ QLRBV cho 1.479 khu rừng (đơn
vị QLR) và diện tích 195.094.757 ha [33]
Năm 2010 hơn 125 triệu ha rừng của hơn 80 quốc gia được chứng nhận đạt các tiêu chuẩn của FSC, với gần 16.000 chứng chỉ CoC Canada đang dẫn đầu thế giới với hơn 23 triệu ha rừng có chứng chỉ, sau đó đến Nga hơn 21 triệu ha rừng
Trang 16Ước tính giá trị của sản phẩm dán nhãn FSC đạt trên 20 tỷ USD (2008) Diện tích rừng được FSC cấp chứng chỉ chủ yếu tại Châu Âu (47%), Bắc Mỹ (35%), sau đó là Nam Mỹ (11%), trong đó Châu Á, Châu Phi và Châu Đại Dương tổng chỉ được 7% Tuy nhiên trong tương lai, Châu Á, Châu Phi và Châu Đại Dương sẽ là khu vực rộng lớn đề FSC đánh giá cấp CCR [33]
Đến tháng 3/2017, đã có 195.094.757 ha đạt chứng chỉ FSC của trên 82 quốc gia trên thế giới Tổng diện tích rừng được cấp chứng chỉ FSC của Vùng Châu Á 8.299.189 ha với 14 nước tham gia và đạt số chứng chỉ được cấp toàn khu vực là
235 chứng chỉ, trong đó: đứng đầu là Indonesia 2.751.122 ha, tiếp đến Thổ Nhĩ Kỳ
có 2.350.078 ha, Trung Quốc 894.869 ha, Malaysia 676.150 ha, Ấn Độ 505.630 ha, Việt Nam 228.927 ha, các nước khác trong khu vực 1.787.282 ha (chi tiết tại bảng 1.1) [33]
Bảng 1.1: Diện tích rừng đạt chứng chỉ FSC khu vực Châu Á đến tháng 3/2017
TT Quốc gia Diện tích (ha) Tỷ lệ % Tổng số giấy chứng nhận
Trang 17Trong tổng số hơn 195 triệu ha rừng được cấp chứng chỉ FSC thì phần lớn thuộc về các nước phát triển tại Bắc Mỹ và Châu Âu, các nước đang phát triển chỉ chiếm một số lượng rất nhỏ Cụ thể: Châu Âu và Châu Mỹ diện tích đạt chứng chỉ FSC cao nhất, đạt lần lượt là 93,6 triệu ha (48,15%) và 69 triệu ha (35,52%) Vùng Châu Á có diện tích rừng đạt chứng chỉ rất thấp 8,3 triệu ha (4,27%) (chi tiết tại bảng 1.2)
Trang 18Bảng 1.2: Diện tích rừng đạt chứng chỉ FSC trên thế giới đến tháng 3/2017
Nguồn FSC 3/2017
Bỏ qua quan niệm rào cản thương mại, các nước thành viên ASEAN đều cần bảo vệ rừng nước mình và đều cần bán sản phẩm đồ gỗ vào các thị trường quốc tế với giá bán cao Vì đây là nhu cầu cấp bách, khách quan, nên trong các năm 1995-
2000 ASEAN đã hoàn thành dự thảo bộ tiêu chuẩn QLRBV cho mình vào năm
2000 tại thành phố Hồ Chí Minh và được phê duyệt tại Hội nghị Bộ trưởng Nông - Lâm nghiệp Phnom-penk 2001 Song, do Bộ tiêu chuẩn QLRBV của ASEAN soạn thảo theo 7 tiêu chí của ITTO, nên gặp khó khăn khi xin cấp chứng chỉ của tổ chức FSC Tuy vậy nên các nước có nền lâm nghiệp mạnh trong ASEAN như: Indonesia (Kim ngạch xuất khẩu gỗ 5-5,5 tỷ USD/năm), Malaysia (4,7-5 tỷ USD/năm), sau đó đến Philippines, Thailand đều được cấp chứng chỉ QLRBV của FSC (theo 10 nguyên tắc của FSC) trong các năm 2002-2005, tuy rằng diện tích được cấp còn hạn chế
Tổ chức Lembaga Ekolanbel Indonesia (LEI) được thành lập năm 1994 là một tổ chức không được chính thức công nhận bởi FSC vì LEI không phải là cơ
Trang 19quan cấp chứng chỉ, song LEI là một cơ quan thừa nhận một cách chính thức các cơ quan cấp chứng chỉ ở Indonesia Hiện nay đơn vị này đã cung cấp 5 chứng chỉ đối với 885.000 ha rừng tự nhiên và 1 chứng chỉ đối với 159.000 ha rừng trồng [20] ` Năm 1997, Ngân hàng Thế giới và Quỹ Bảo tồn Động vật Hoang dã Thế giới (WWF) công bố chương trình hợp tác với mục tiêu đưa 200 triệu ha rừng được quản
lý sản xuất gỗ vào chương trình “Quản lý bền vững được cấp chứng chỉ độc lập” vào năm 2005 Kết quả đạt được mục tiêu với 31.8 triệu ha (16% mục tiêu), trong
đó chỉ có 1/3 ở các khu rừng nhiệt đới
Năm 2005, Hội đồng chứng nhận gỗ Malaysia (MTCS) sử dụng tiêu chuẩn của Malaysia và các tiêu chí cho chứng chỉ quản lý rừng bao gồm 9 quy tắc, 47 tiêu chuẩn và 6 tiêu chí MTCS có 10 thành viên, chỉ hoạt động trong phạm vi lãnh thổ Malaysia với diện tích rừng được chứng nhận là 4,8 triệu ha MTCS sử dụng phương pháp theo từng giai đoạn khi ngày càng nhiều thách thức lớn trong quản lý các khu rừng nhiệt đới phức tạp Ban đầu, tiêu chuẩn được sử dụng để đánh giá các đơn vị quản lý rừng cho các mục tiêu chứng chỉ, các tiêu chí, các hoạt động và các tiêu chuẩn phục vụ cho chứng chỉ quản lý rừng, dựa theo tiêu chuẩn của ITTO năm
1998 và những tiêu chí của quản lý rừng bền vững [20]
Mô hình chứng chỉ rừng quốc gia của Trung quốc đã thành công khi họ nội địa hóa chứng chỉ rừng trong nước với giá trị quốc tế bằng cách hợp tác với PEFC Hội đồng chứng chỉ rừng Trung Quốc (CFCC) được thành lập Việc xây dựng các tiêu chuẩn chứng nhận bắt đầu năm 2001, hoàn thành năm 2004 và ban hành năm
2007 (do học viện Lâm nghiệp Trung Quốc xây dựng) Để chứng chỉ rừng quốc gia được quốc tế công nhận thì CFCC cũng dựa vào sự hợp tác với PEFC Năm 2011, CFCC trở thành thành viên của PEFC và năm 2014 PEFC đã chứng thực hệ thống chứng chỉ rừng quốc gia của Trung Quốc Tính đến tháng 9/2015, đã có 18 đơn vị/tổ chức trong nước của Trung Quốc được cấp phép đánh giá và đã cấp chứng chỉ được cho 5,3 triệu ha rừng Do việc quản lý chứng chỉ do quốc gia chủ động nên hiện nay Trung Quốc còn phát triển tiêu chuẩn và cấp chứng chỉ cho LSNG, tre nứa, dịch vụ môi trường rừng [24]
Trang 20Hệ thống chứng chỉ rừng Nhật Bản theo PEFC, sau khi đệ trình Hội đồng hệ sinh thái Xanh bền vững Nhật Bản (SGEC) hồi đầu năm 2014 SGEC đã gia nhập PEFC vào tháng 11/2014, là hệ thống chứng chỉ rừng lớn nhất Nhật Bản Được thành lập vào năm 2003, SGEC tập trung thúc đẩy quản lý rừng bền vững và cung cấp chứng chỉ rừng đặc biệt cho khoảng 2,5 triệu doanh nghiệp nhỏ và hộ gia đình SGEC là một hệ thống chứng chỉ rừng Nhật Bản thông qua sự công nhận của PEFC
Trong tất cả các mô hình chứng chỉ rừng tại các quốc gia thì mô hình chứng chỉ rừng quốc gia của Malaysia được xem là một trong những mô hình chứng chỉ rừng thành công trong khu vực và trên thế giới Để đáp ứng nhu cầu chứng chỉ rừng trong nước cho gỗ xuất khẩu, hội đồng chứng chỉ gỗ Malaysia (MTCS) được thành lập năm 1999 nhằm xây dựng và vận hành đề án chứng chỉ gỗ của Malaysia một cách độc lập Ban đầu, MTCS đã làm việc với FSC để hợp tác, xong không thành công do cách tiếp cận của FSC từ trên xuống và không công nhận MTCS Sau đó MTCS đã hợp tác với PEFC và trở thành thành viên của PEFC năm 2002 Năm
2008, MTCS nộp hồ sơ chứng thực cho PEFC và năm 2009, PEFC đã chứng thực
hệ thống chứng chỉ rừng Malaysia, từ đó các chứng chỉ rừng quốc gia của Malaysia
đã có giá trị là chứng chỉ rừng quôc tế được cộng đồng quốc tế công nhận [48] Hiện nay MTCS đang sử dụng tiêu chuẩn của Malaysia và các tiêu chí cho chứng chỉ quản lý rừng bao gồm 9 quy tắc, 47 tiêu chuẩn và 6 tiêu chí và đã giao quyền đánh giá, cấp chứng chỉ cho 2 công ty/tổ chức đánh giá trong nước Tính đến năm
2015, đã có khoảng 4,6 triệu ha rừng ở Malaysia được cấp chứng chỉ rừng quốc gia, trong khi chỉ có khoảng 1 triệu ha rừng được cấp chứng chỉ FSC Về thị trường sản phẩm, các sản phẩm gỗ của Malaysia khi được gắn nhãn mác chứng chỉ rừng quốc gia (hài hòa với PEFC) đã vươn ra tất cả các thị trường khó tính trên toàn thế giới Chứng chỉ được công nhận bởi chính sách mua sắm gỗ của các nước Bỉ, Anh, Đan Mạch, Hà Lan, Phần Lan, Pháp, Đức, Nhật Bản và Thụy Sỹ; được khuyến cáo trong Hướng dẫn Xanh về Mua sắm công của Ủy ban Châu Âu; Hội đồng Xây dựng Xanh
ở Úc, Italy và Singapo, Mỹ,… Trong sự hợp tác này, chứng chỉ rừng Malaysia vẫn
Trang 21giữ được bản sắc riêng của mình (tuân theo pháp luật, điều kiện kinh tế, xã hội Malaysia) trong khi vẫn đạt được sự công nhận của cộng đồng quốc tế
1.2 Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng ở Việt Nam
Khái niệm “bền vững” được thế giới bắt đầu sử dụng từ những năm đầu thế
kỷ 18 để chỉ lượng gỗ lấy ra khỏi rừng không vượt quá lượng gỗ mà rừng có thể sinh ra, tạo tiền đề cho quản lý rừng bền vững sau này thì ở Việt Nam mãi đến cuối thế kỷ 20 mới dùng khái niệm “Điều chế rừng” để quản lý, kinh doanh lâm nghiệp với hy vọng sản lượng rừng được duy trì ở những lần khai thác tiếp theo Phương án điều chế rừng của Việt Nam lần đầu tiên được áp dụng cho lâm trường Mã Đà (Đồng Nai) với sự trợ giúp của chuyên gia nước ngoài (Dự án VIE/82/002 do UNDP/FAO trợ giúp) Nhiệm vụ chính là xây dựng một mẫu phương án tiêu chuẩn; hướng dẫn lập kế hoạch điều chế và đưa ra những đề xuất cho việc điều chế rừng lâm trường Mã Đà [2]
Từ năm 1993 đến tới nay, nhờ nỗ lực to lớn của nhà nước và nhân dân thông qua các chương trình lớn như: 327, 661, trên 2 triệu ha rừng đã được phục hồi Song
đó mới là con số về số lượng, nếu rừng không được quản lý bền vững thì việc mất rừng sẽ song song diễn ra với qúa trình phục hồi rừng, và chất lượng rừng cũng như các chức năng phòng hộ môi trường, xoá đói giảm nghèo cũng không thể phát huy được Chiến lược lâm nghiệp quốc gia (LNQG) giai đoạn 2006-2020 đang được xây dựng và sẽ được thực hiện từ đầu năm 2006, trong 3 chương trình phát triển ưu tiên của chiến lược LNQG (2006-2020) thì chương trình QLRBV là chương trình thứ nhất Để QLRBV trước hết cần tạo ra các điều kiện cần và đủ về rừng, về pháp luật,
và về xã hội, thị trường, trước hết cần xác định được một lâm phận ổn định không chỉ trên quy hoạch, trên bản đồ, mà phải cả trên thực địa của cả nước và từng khu rừng
Các chương trình trồng rừng chỉ có ý nghĩa nếu như diện tích rừng hiện có được quản lý bảo vệ tốt, vì vậy tháng 2/1998 một hội thảo quốc gia để xây dựng chương trình QLRBV được Bộ NN&PTNT, tổ chức FSC quốc tế, tổ chức WWF Đông Dương và đại sứ quán Hà Lan đồng tổ chức tại thành phố HCM Tại hội thảo
Trang 22này đã thành lập Tổ công tác quốc gia về QLRBV và CCR (viết tắt là NWG) Tổ công tác này đã chủ động soạn thảo cho Việt Nam bộ tiêu chuẩn QLRBV trên cơ sở các khái niệm QLRBV của ITTO, hiệp ước Helsinki và các nguyên tắc, tiêu chí của FSC quốc tế, một hệ thống gồm 10 tiêu chuẩn, 56 tiêu chí và các chỉ số cho mỗi tiêu chí cho QLRBV ở Việt Nam đã được xây dựng (bản dự thảo 9c) QLRBV và CCR
là cách áp dụng đặc thù cho ngành lâm nghiệp Theo Nguyễn Ngọc Lung (2008) [7], chứng chỉ rừng là hệ quả cuối cùng của Quản lý rừng bền vững, vì nếu Quản lý rừng chưa đạt được các tiêu chuẩn bền vững thì không có Chứng chỉ rừng
Trong thời gian qua, được sự tài trợ của Đại sứ quán Hà Lan, dự án REFAS, FSC quốc tế, quỹ FORD, chương trình lâm nghiệp GIZ, một phong trào QLRBV được phát động và một số công việc cần thiết ban đầu đó được tiến hành như sau:
- Cùng với ASEAN dự thảo bộ tiêu chuẩn QLRBV theo 7 tiêu chí của ITTO,
tổ công tác cũng đã chủ động soạn thảo cho Việt Nam bộ tiêu chuẩn QLRBV theo
10 nguyên tắc của FSC, đã hoàn tất vào năm 2007
- Tổ chức tuyên truyền giới thiệu cho các cán bộ lâm nghiệp từ cấp quản lý ở Trung ương, các Cục, Vụ, Viện, Trường, Sở, Chi cục, bằng hội thảo quốc gia, hội thảo vùng, tỉnh, qua báo chí, truyền hình, truyền thanh, giảng dậy cho sinh viên, cao học Khảo sát và tập huấn cho mọi loại chủ rừng (lâm trường, ban quản lý, công
ty, trang trại) Tới nay khái niệm chứng chỉ rừng và QLRBV đã không còn xa lạ trong quản lý, đào tạo, sản xuất lâm nghiệp, nhất là khi nó trở thành 1 trong 3 chương trình phát triển trọng điểm của chiến lược lâm nghiệp quốc gia
- Xây dựng mạng lưới các chủ rừng tự nguyện tăng cường năng lực quản lý rừng bền vững và phân công giữa tổ công tác quốc gia với WWF và TFT đối với các mô hình tốt trong mạng lưới hiện nay, đó là: Các công ty lâm nghiệp: Long Đại (Quảng Bình), Hương Sơn (Hà Tĩnh), Công ty Lâm nghiệp Hoà Bình; các lâm trường Con Cuông (Nghệ An), Hà Nừng và Sơ Pai (Gia Lai) và Xí nghiệp trồng rừng tư nhân Đỗ Thập (Yên Bái) Hiện nay, việc thử nghiệm của các tổ chức hỗ trợ khác như WWF, TFT, GIZ Mới đây, nhiều doanh nghiệp chế biến gỗ nổi tiếng
Trang 23(Trường Thành, IKEA, Hải Vương) muốn trồng rừng bền vững để chủ động tự túc một phần nguyên liệu gỗ có chứng chỉ [18]
Từ tháng 6/2006 Viện QLRBV và CCR (viết tắt là SFMI) đã được thành lập nhằm tăng cường năng lực thực hiện quá trình QLRBV ở Việt Nam, và thu hút mọi
sự hỗ trợ quốc tế, trước hết là cầu nối giữa các chủ thể QLRBV Việt Nam với FSC Việt Nam thường xuyên thắt chặt quan hệ quốc tế bằng cách tham gia các hội nghị, hội thảo chuyên đề và theo vùng của FSC, tham gia các hoạt động và hội nghị cấp chuyên gia, cấp ASOF về QLRBV & CCR của khối ASEAN Việt Nam thường xuyên thắt chặt quan hệ quốc tế bằng cách tham gia các hội nghị, hội thảo chuyên
đề và theo vùng của FSC, tham gia các hoạt động và hội nghị cấp chuyên gia, cấp ASOF về QLRBV & CCR của khối ASEAN Năm 2006 nước ta mới có 10.000 ha rừng trồng đạt tiêu chuẩn QLRBV và được cấp chứng chỉ rừng FSC [24] Năm
2008, SFMI đã thực hiện đánh giá rừng độc lập về quản lý rừng trồng của mô hình chứng chỉ rừng “theo nhóm” của huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái Ở đây, các hộ trồng rừng cùng góp chung diện tích rừng trồng hợp thành Chi hội trồng rừng Yên Bái và xin cấp CCR Qua đánh giá, kết quả cho thấy: các hộ trồng rừng thuộc Chi hội đã đáp ứng được các tiêu chuẩn QLRBV của Việt Nam
Trong những năm 2008 - 2010, Viện Quản lý rừng bền vững và CCR đã hỗ trợ Tổng Công ty Giấy Bãi Bằng Việt Nam đánh giá QLRBV cho 11 công ty lâm nghiệp để tiến tới được FSC chứng chỉ rừng theo nhóm Đến năm 2011 FSC đã ủy quyền cho Smart Wood bước đầu tiến hành đánh giá rừng, chuỗi hành trình sản phẩm (FM/CoC) cho 02 công ty lâm nghiệp: CTLN Đoan Hùng và Xuân Đài thuộc Tổng Công ty giấy Việt Nam, sau đó kết nạp dần các công ty khác thực hiện CCR theo nhóm Theo thông báo ban đầu của Smart Wood, hai CTLN Đoan Hùng và Xuân Đài về cơ bản đã đáp ứng được 10 nguyên tắc QLRBV và 09 yêu cầu của quản lý chuỗi hành trình sản phẩm và sắp tới được FSC cấp chứng chỉ rừng [6] Năm 2010, lần đầu tại Việt Nam, một nhóm các hộ trồng rừng quy mô nhỏ
đã được Hội đồng Quản lý rừng (FSC) cấp chứng nhận quản lý rừng đạt tiêu chuẩn quốc tế bền vững về mặt môi trường, có lợi cho xã hội và mang lại lợi ích kinh tế
Trang 24Nhóm trồng rừng này gồm 118 hộ sinh sống tại năm thôn thuộc hai huyện Gio Linh
và Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị Theo đó, diện tích rừng Keo được cấp chứng chỉ của nhóm là 317 ha Hỗ trợ xin cấp chứng chỉ là một hoạt động của dự án: “Quản lý rừng và kinh doanh lâm sản bền vững” của Quỹ quốc tế về Bảo vệ thiên nhiên (WWF) Dự án nhằm kết nối thị trường giữa các khu rừng ở Việt Nam và các công
ty quốc tế có chính sách thu mua thông qua việc cấp chứng chỉ FSC Bên cạnh lợi ích kinh tế, các hộ dân còn được hoàn thiện kỹ năng quản lý rừng Trong khi đó, đa dạng sinh học tại các khu vực được bảo vệ được chú trọng, các hộ dân cũng được khuyến khích trồng cây bản địa nhằm giảm tác động xấu đến môi trường và tăng khả năng chống chịu sâu bệnh
Thực hiện văn bản số 455/TTg-NN ngày 20/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ ngày 20/4/2005 chỉ đạo việc thí điểm xây dựng mô hình Công ty Lâm nghiệp thực hiện quản lý rừng bền vững, đến nay đã có 10 Phương án được phê duyệt và triển khai thực hiện, cụ thể như sau:
- Công ty Lâm nghiệp Đại Thành, Thị trấn Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông (thực hiện năm 2008);
- Công ty Lâm nghiệp Long Đại (Chi nhánh Lâm trường Trường Sơn), tỉnh Quảng Bình (thực hiện năm 2009);
- Công ty Lâm nghiệp Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk (thực hiện năm 2009);
- Công ty Lâm nghiệp M’Đrăk, tỉnh Đắk Lắk (thực hiện năm 2009);
- Công ty Lâm nghiệp Đắk Tô, tỉnh Kon Tum (thực hiện năm 2009);
- Công ty Lâm nghiệp Ninh Sơn tỉnh Ninh Thuận (thực hiện năm 2009)
- Công ty Lâm nghiệp và Dịch vụ Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh (thực hiện năm 2011);
- Công ty Lâm nghiệp Đắk N’Tao, tỉnh Đắk Nông (thực hiện năm 2011);
- Công ty Lâm nghiệp Sơ Pai và Hà Nừng tỉnh Gia Lai (cùng thực hiện năm 2011);
Đến nay, đã có 4/10 mô hình QLRBV đạt chứng chỉ Trong đó diện tích đạt chứng chỉ quản lý rừng bền vững FSC toàn phần lên 84.535,8 ha: Công ty Lâm
Trang 25nghiệp Đắk Tô (15.755,4 ha, cấp năm 2014); Chi nhánh Lâm trường Trường Sơn
(31.483,2 ha, cấp năm 2015); Công ty Lâm nghiệp Đại Thành (17.551,6 ha, cấp
năm 2015) và Công ty Lâm nghiệp Hương Sơn (19.745,6 ha)
Tính đến đầu năm 3/2017, cả nước mới có khoảng 224 nghìn ha rừng được cấp
chứng chỉ và toàn bộ số chứng chỉ này đều là chứng chỉ FSC, trong đó diện tích rừng tự
nhiên là 86.156 ha, rừng trồng 138.317 ha chiếm khoảng 2,05 % diện tích rừng sản
xuất (chủ yếu là của Tổng công ty lâm nghiệp, Tổng công ty giấy, doanh nghiệp tư
nhân) Chi tiết tại phụ lục 01 [22] Đây là thách thức không nhỏ cho các doanh nghiệp
xuất khẩu gỗ và người trồng rừng ở nước ta cũng như việc thực thi kế hoạch tái cơ cấu
ngành lâm nghiệp thông qua nâng cao giá trị sản xuất từ xuất khẩu gỗ Tuy nhiên điều
này cũng mở ra cơ hội lớn khi gỗ có CCR có giá bán cao hơn khoảng 20 - 30% so với
gỗ không có CCR [13]
Để đáp ứng cho việc chuyển đổi quản lý rừng mang tính đột phá như trên, Tổng
cục Lâm nghiệp đã xây dựng và trình Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban
hành hàng loạt các chính sách và kế hoạch hành động giai đoạn 2015-2020, cụ thể
như: Thông tư số 38/2014/TT-BNNPTNTngày 3/11/2014 Hướng dẫn về Phương án
Quản lý rừng bền vững; Quyết định số 2810/QĐ-BNN-TCLN ngày 16/7/2015 của Bộ
NN&PTNT Phê duyệt kế hoạch hành động về quản lý rừng bền vững và chứng chỉ
rừng giai đoạn 2015-2020; Quyết định 83/QĐ-BNN-TCLN ngày 12/01/2016 Phê
duyệt Đề án thực hiện Quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng giai đoạn 2016-2020
Đặc biệt, hiện nay Tổng cục Lâm nghiệp đã triển khai thành lập Ban chỉ đạo thực hiện
quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng giai đoạn 2016 – 2020 tiến tới thành lập Văn
phòng Chứng chỉ rừng Quốc gia Đồng thời phát triển song song 2 bộ tiêu chuẩn
QLRBV Quốc gia theo cả FSC và FEFC
1.3 Quá trình hình thành Bộ tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững quốc gia theo
tiêu chuẩn FSC
1.3.1 Quá trình hình thành Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia
Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia được xây dựng tuân thủ theo các nguyên tắc
có sự tham gia của các bên liên quan một cách công khai và minh bạch Các bước
Trang 26xây dựng và công bố Bộ tiêu chuẩn cũng tuân theo quy định về quy trình thiết lập tiêu chuẩn của Chương trình chứng nhận hệ thống chứng chỉ rừng FSC, để được chấp nhận rộng rãi của thị trường trong nước và quốc tế
Bộ tiêu chuẩn được hình thành qua 2 giai đoạn chính như sau:
* Giai đoạn 1: Xây dựng bộ Nguyên tắc QLRBV của Việt Nam (1998-2014)
+ Tháng 2/1998, Hội thảo quốc gia về QLRBV được Bộ NN&PTNT tổ chức tại TP Hồ Chí Minh với sự hỗ trợ từ tổ chức FSC quốc tế, WWF Đông Dương và đại sứ quán Hà Lan Tại hội thảo này đã thành lập Tổ công tác quốc gia về QLRBV
và CCR (viết tắt là NWG) với 10 thành viên để thực hiện quá trình này
+ Năm 2004, NWG đưa ra dự thảo lần thứ 8 với 10 tiêu chuẩn, 56 tiêu chí và
143 chỉ số (chỉ ở dạng dự thảo, chưa được công bố)
+ Đến năm 2006, NWG đã tăng lên 43 thành viên và được chuyển thành tổ chức NGO theo quy chế thành viên FSC, lấy tên là (tên viết tắt tiếng Anh là SFMI), trực thuộc Hội Khoa học Kỹ thuật Lâm nghiệp Việt Nam Tổ công tác này đã tiến hành xây dựng bộ tiêu chuẩn quốc gia về QLRBV (Tiêu chuẩn FSC Việt Nam) Bản
dự thảo bộ tiêu chuẩn này tuân theo các nguyên tắc do FSC hướng dẫn và phê duyệt phù hợp chính sách quản lý rừng của Việt Nam
+ Năm 2007, bản dự thảo 9c được NWG hoàn thiện trên cơ sở Bộ tiêu chuẩn của FSC quốc tế, với sự tham gia góp ý của nhiều nhà quản lý và kinh doanh lâm nghiệp trong nước và quốc tế để vừa đảm bảo được những tiêu chuẩn quốc tế, vừa phù hợp với điều kiện thực tế ở Việt Nam Tên bộ tiêu chuẩn là: Bộ tiêu chuẩn quốc gia về QLRBV (tuy nhiên chưa được công bố trong bất cứ văn bản chính thức nào của cơ quan quản lý nhà nước cũng như các tổ chức chứng chỉ rừng)
+ Năm 2013 - 2014 Tổng cục Lâm nghiệp phối hợp quỹ TFF đã thực hiện dự
án “Xây dựng chính sách Quản lý rừng bền vững và thúc đẩy Chứng chỉ rừng tại Việt Nam” Với sự tư vấn của Viện SFMI và trường Đại học lâm nghiệp, bộ Nguyên tắc Quản lý rừng bền vững Việt Nam đã được xây dựng trên cơ sở kết hợp
bộ tiêu chuẩn phiên bản 9c và hài hòa hóa 5 bộ tiêu chuẩn tạm thời của 5 tổ chức Quốc tế (do FSC ủy quyền) đang áp dụng ở Việt Nam là SGS (Thụy Sỹ),
Trang 27Smartwood/Rainforest Alliance (Hoa Kỳ), GFA (CHLB Đức), Woodmark (Anh) và Control Union Certification (Nam Phi) Bộ nguyên tắc này được ban hành dưới dạng phụ lục của Thông tư số 38/2014/TT-BNNPTNT ngày 3/11/2014 của Bộ NN&PTNT Hướng dẫn về phương án QLRBV, với 10 nguyên tắc, 51 tiêu chí và
151 chỉ số
Mặc dù Bộ tiêu chuẩn QLRBV Việt Nam được xây dựng dưới dạng văn bản quy phạm pháp luật tại Thông tư số 38/2014/TT-BNNPTNT và được kết hợp giữa, hài hòa hóa với 5 bộ tiêu chuẩn tạm thời của tổ chức Quốc tế do FSC ủy quyền nhưng Bộ tiêu chuẩn này không được FSC quốc tế công nhận Bộ tiêu chuẩn chỉ đáp ứng được về mặt quản lý nhà nước mà chưa đáp ứng được yêu cầu hội nhập tức
là chưa được thị trường thế giới công nhận
* Giai đoạn 2: Xây dựng, phát triển và hài hòa hóa Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia theo tiêu chuẩn FSC quốc tế phiên bản V5.0
Năm 2013, Tổng cục Lâm nghiệp đã thành lập Nhóm phát triển Bộ tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững quốc gia (SDG Việt Nam), với sự tham gia của 12 thành viên từ các bên liên quan tham gia (chi tiết tại phụ lục 02) Từ ngày 3-6/4/2013 Việt Nam cũng đã cử 3 thành viên tham dự Hội thảo về xây dựng Bộ nguyên tắc QLRBV vùng (IGIs), được tổ chức tại Malaysia, đây là thời điểm bắt đầu triển khai xây dựng Bộ tiêu chuẩn QLRBV quốc gia
Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia theo tiêu chuẩn FSC dựa trên Bộ tiêu chuẩn V5.0 của FSC được xây dựng nhằm xác định các nguyên tắc và tiêu chí còn thiếu, hoặc chưa phù hợp cần thiết phải điều chỉnh để hài hòa phù hợp với điều kiện Việt Nam và tiêu chuẩn QLRBV quốc tế Vấn đề nghiên cứu xây dựng Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia sẽ được tiếp cận từ các bộ tiêu chuẩn đã lựa chọn Các tiêu chuẩn, tiêu chí và chỉ số đề xuất phải xuất phát từ hiện trạng của các hoạt động quản
lý rừng cũng như thực tiễn cấp Chứng chỉ rừng trong các khu vực lâm nghiệp ở Việt Nam trong thời gian qua Thông qua từ thực tiễn của hoạt động cấp chứng chỉ rừng
ở Việt Nam trong những năm qua, thấy được các điểm mạnh, điểm thuận lợi, hiệu quả cũng như những khó khăn, bất cập hạn chế khi triển khai chính sách quản lý
Trang 28rừng bền vững trên thực địa Trên cơ sở mục tiêu Quản lý rừng bền vững hướng tới cấp Chứng chỉ rừng, bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia phải đưa ra những đề xuất về nguyên tắc, tiêu chí và các chỉ số cụ thể cho Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia (Bộ tiêu chuẩn FSC Việt Nam)
Chúng ta thực hiện kế hoạch phát triển bộ tiêu chuẩn dựa trên nguyên tắc bao gồm việc chấp nhận, không chấp nhận, chỉnh sửa các chỉ số để hoàn chỉnh các thiếu sót và phù hợp Việt Nam
1.3.2 Các yêu cầu của quy trình cho sự phát triển và duy trì Bộ Tiêu chuẩn Quản
lý rừng bền vững Quốc gia
Bộ tiêu chuẩn thể hiện được tính đại diện, cân bằng về lợi ích của các bên liên quan trong quy trình phát triển Bộ tiêu chuẩn Bộ Tiêu chuẩn Quản lý rừng bền vững Quốc gia chỉ nhận được công nhận nếu:
- Được đăng ký với FSC;
- Được xây dựng phù hợp với các yêu cầu quy định trong tài liệu bản đề xuất;
- Phù hợp với các yêu cầu của tất cả các tài liệu FSC liên quan đến cấu trúc
và nội dung của “Bộ Tiêu chuẩn Quản lý rừng bền vững Quốc gia”
(FSC-STD-60-002 V1-0) (Bộ chỉ số Quốc tế)
* Các bước thực hiện phát triển Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia
1) Đề xuất phát triển Bộ Tiêu chuẩn Quản lý rừng bền vững Đề xuất được thực hiện theo mẫu FSC-TPT-60-007 (V2-2) EN;
2) Thông báo chính thức về bộ tiêu chuẩn mới đang được phát triển trên mạng lưới của FSC
3) Thành lập Nhóm Phát triển Bộ Tiêu chuẩn, xây dựng điều khoản tham chiếu và Kế hoạch phát triển Bộ tiêu chuẩn
4) Chuẩn bị bản dự thảo và tham vấn
Trang 29Hình 1.3 Quy trình phát triển Bộ tiêu chuẩn và tham vấn cộng đồng
5) Dự thảo Bộ tiêu chuẩn trình nộp để ra quyết định:
- Bản dự thảo tiền phê duyệt;
- Báo cáo SDG (10 - 15 trang);
- Tóm tắt biên bản họp của SDG (1 - 2 trang)
6) Xem xét và sửa đổi Bộ Tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia
- Văn phòng FSC khu vực châu Á Thái Bình Dương, phòng chính sách và tiêu chuẩn đánh giá bộ tiêu chuẩn
- Bao gồm hỗ trợ kỹ thuật và quản lý hành chính và xây dựng báo cáo đánh giá
- Ban Chính sách và Tiêu chuẩn FSC đánh giá bộ tiêu chuẩn
- Bao gồm việc ra quyết định khi phê duyệt, chấp thuận với những sửa đổi nhỏ hoặc bác bỏ dự thảo bộ tiêu chuẩn
7) Khiếu nại
- Khiếu nại liên quan đến nội dung của bộ tiêu chuẩn đã được phê duyệt được trả lời bằng cách giải thích:
+ Tại sao không bao gồm các quan điểm cụ thể,
+ Quan điểm này có thể được sửa đổi như thế nào trong tương lai
- Nhóm SDG sẽ trả lời những khiếu nại liên quan đến các vấn đề về thủ tục trình duyệt
Trang 30- Nếu người khiếu nại không hài lòng với giải thích của nhóm SDG, các khiếu nại sẽ được giải quyết thông qua Quy trình Giải quyết tranh chấp của FSC a) Sau khi Bộ Tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia được hoàn thành và FSC công nhận sẽ được đưa vào sử dụng là Bộ tiêu chuẩn đánh giá duy nhất tại Việt Nam b) Lưu giữ bao gồm:
- Văn bản đề nghị phát triển bộ tiêu chuẩn và tên và vị trí của các thành viên SDG và các thành viên của Diễn đàn tư vấn;
- Báo cáo SDG và ý kiến nhận được trong quá trình tham vấn cộng đồng;
- Mô tả lộ trình từ thủ tục quy định và hành động được thực hiện đối với lộ trình này;
- Quyết định của FSC về các yêu cầu của bộ tiêu chuẩn v.v
1.3.3 Tiến trình thực hiện và kết quả thực hiện quá trình phát triển Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia
Hiện tại nhóm phát triển Bộ tiêu chuẩn SDG đã thực hiện xong đến bước thứ
11 trong tiến trình phát triển Bộ tiêu chuẩn Hiện đang triển khai bước công việc
12-13 chi tiết trong bảng 1.3
Bảng 1.3 Tiến trình thực hiện và kết quả quá trình phát triển Bộ tiêu chuẩn
TT Hoạt động Thời gian Chịu trách nhiệm Kết quả đạt được
1
Xây dựng kế hoạch phát
triển bộ tiêu chuẩn quản lý
rừng Quốc gia theo FSC
12/2012 và
rà soát lại năm 2015
ForCES, VNFOREST
Đề xuất được FSC phê duyệt 5/2015
2 Thiết lập và tập huấn cho
FSC, SDG, ForCES
Các thành viên nhóm được tập huấn về tiến trình, yêu cầu phát triển
Bộ tiêu chuẩn
Trang 31IGIs tiếng Việt, bản thảo đầu tiên Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia đƣợc biên soạn
4
Biên soạn bản số 1 Bộ tiêu
chuẩn FSC quốc gia
Thông qua các cuộc họp
của nhóm SDG để thống
nhất
9-11.2015
ForCES, tƣ vấn SDG, VNFOREST
Bản thảo 01 đƣợc thống nhất, đƣa ra tham vấn rộng rãi
5
Tổ chức hội thảo tham vấn
rộng rãi 02 hội thảo Tháng
12 2015 và tháng 2 2016
T12 2015 T2 2016
GIZ, ForCES VNFOREST
Tham vấn rộng rãi bản
01 trong 60 ngày Biên bản tham vấn, góp
ý kiến
6
Rà soát và tổng hợp ý kiến,
biên soạn bản 02 Bộ tiêu
chuẩn, chuẩn bị đƣa ra xin
Bản 02 Bộ tiêu chuẩn đƣa ra tham vấn lần 02
Hợp đồng đánh giá thử nghiệm với đơn vị đánh giá và kế hoạch đánh giá
Báo cáo đánh giá thử nghiệm bộ tiêu chuẩn
9 Biên soạn bản số 3 bộ tiêu
chuẩn
10-12/
2016
ForCES, FSC, SDG, WWF
Bản 03 Bộ tiêu chuẩn thống nhất với SDG
10
Tham vấn rộng rãi, bao
gồm 01 hội thảo do GIZ tài
GIZ, FSC, ForCES
Biên bản tham vấn, các góp ý
11
Biên soạn bản cuối và các
báo cáo cần thiêt để trình 1-3/2017
ForCES, FSC, SDG, VNFOREST
Bản cuối Bộ tiêu chuẩn Các báo cáo và tài liệu
12 Họp SDG để thống nhất
Bản cuối Bộ tiêu chuẩn 3/2017
ForCES, FSC, SDG, VNFOREST
Các tài liệu đƣợc đƣa ra SDG thống nhất
Trang 3213 Gửi FSC phê duyệt/công
SDG, FSC, VNFOREST
Hồ sơ gửi FSC phê duyệt
14
Theo dõi tiến trình và giải
trình với FSC phê duyệt
(FSC), SDG, VNFOREST, GIZ, WWF…
Liên hệ với FSC và giải trình các câu hỏi đề nghị chỉnh sửa FSC
15 Giới thiệu SDG và các tài
liệu hướng dẫn 9-12/ 2017
(FSC), SDG, VNFOREST, GIZ, WWF…
Các tài liệu giới thiệu về
bộ tiêu chuẩn
Từ bảng 1.3 cho thấy việc thực hiện và phát triển Bộ tiêu chuẩn được thực hiện qua rất nhiều nội dung công việc theo yêu cầu tổ chức FSC và được tham vấn rộng rãi nhiều lần nhằm hài hòa hóa bộ tiêu chuẩn một cách tối ưu nhất để phù hợp điều kiện thực tế của Việt Nam Việc đánh giá thử nghiệm Bộ tiêu chuẩn là một nội dung lớn, bắt buộc của việc phát triển Bộ tiêu chuẩn nhằm đánh giá những khoảng trống của các chỉ số để phù hợp với Việt Nam Trong tất cả các nội dung của việc phát triển Bộ tiêu chuẩn có sự tham gia của rất nhiều các đối tượng khác nhau, bao gồm: Cơ quan quản lý Nhà nước, các tổ chức phi chính phủ, các đối tượng chủ rừng, các chuyên gia trong nước và quốc tế, các bên liên quan như: Hội phụ nữ Việt Nam, Ủy ban dân tộc, Hội nông dân… cho thấy Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia đã cân bằng được lợi ích của các bên liên quan để đưa ra Bộ tiêu chuẩn đánh giá CCR phù hợp nhất với Việt Nam
1.4 Thảo luận
Quản lý rừng bền vững và phát triển nguồn tài nguyên rừng mục tiêu cơ bản được xác định trong Chiến lược Phát triển Lâm nghiệp Quốc gia đến năm 2020 Tuy nhiên, cho đến nay, diện tích rừng có chứng chỉ quản lý rừng bền vững theo phụ lục 02 là quá thấp so mục tiêu 1,8 triệu ha, việc đạt được mục tiêu là cực kỳ khó khăn, nếu không muốn nói là không thể Có thể xác định một số nguyên nhân chính như sau:
- Hiện nay Việt Nam chưa ban hành được Bộ tiêu chuẩn quốc gia về quản lý rừng bền vững Mặc dù đã ban hành nhiều chính sách nhằm tăng cường, thúc đẩy
Trang 33các hoạt động về quản lý rừng bền vững, tuy nhiên việc xây dựng phương án quản
lý rừng bền vững Việt Nam chưa được quốc tế công nhận Các hoạt động có liên quan đến quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng mới chỉ dừng lại ở mức độ thí điểm và thông thường đều có sự hỗ trợ từ các dự án tài trợ từ các tổ chức nước ngoài
- Về bộ máy tổ chức, hệ thống chứng chỉ rừng: Hiện nay Việt Nam chưa xây dựng được hệ thống tổ chức chứng chỉ rừng; chưa có cơ quan quản lý tiêu chuẩn về chứng chỉ rừng; chưa xây dựng được hệ thống các tổ chức đánh giá trong nước Bất cập này hiện nay đang được Bộ Nông nghiệp và PTNT triển khai, tuy nhiên dự kiến đến 2018 mới thành lập được văn phòng quản lý chứng chỉ rừng
- Về nguồn nhân lực: Đội ngũ cán bộ, chuyên gia trong nước về QLRBV và chứng chỉ rừng còn mỏng và yếu, đặc biệt là thiếu hụt đội ngũ kiểm toán viên trong nước đạt chuẩn quốc tế
- Chi phí của việc đánh giá để cấp chứng chỉ khá cao, và không phải tất cả các chủ rừng muốn có chứng chỉ đều có thể có nguồn lực để làm chuyện này Chi chí đánh giá để cấp chứng chỉ rất khác nhau, điều này phụ thuộc vào tình trạng rừng, diện tích, các yếu tố địa hình khác [7]
- Về đất đai, để có chứng chỉ, đòi hỏi chủ rừng phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp, hay nói cách khác là sổ đỏ Tuy nhiên, cho đến nay hầu hết các chủ rừng là tổ chức chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Điều này do một số nguyên nhân, trong đó phổ biến nhất bao gồm mâu thuẫn về danh giới giữa chủ rừng và người dân địa phương Mặt khác, diện tích đất giao cho các hộ dân rất manh muốn, nhỏ lẻ nên việc khuyến khích các hộ dân tạo thành nhóm hộ chứng chỉ rừng rất khó nếu không hình thành được các chuỗi liên kết trong lâm nghiệp
Các tồn tại và hạn chế nêu trên cần được khắc phục trong quá trình triển khai
tổ chức QLRBV và cấp chứng chỉ rừng ở Việt Nam, cần được giải quyết một cách đồng bộ, hệ thống trong thời gian tới Một số vấn đề cấp bách cần phải thực hiện ngay như:
Trang 34- Hoàn thiện cơ chế, chính sách; xây dựng hệ thống cấp chứng chỉ rừng; xây dựng Bộ tiêu chuẩn Việt Nam về QLRBV Quốc gia cho Hệ thống chứng chỉ rừng Việt Nam; đào tạo nguồn nhân lực và nâng cao nhận thức các bên liên quan
- Ban hành Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia với mục tiêu của sẽ được FSC công nhận Do đó, việc xác định được các nguyên tắc và tiêu chí và chỉ số của Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia còn thiếu, hoặc chưa phù hợp cần thiết phải điều chỉnh
để hài hòa với bộ tiêu chuẩn FSC quốc tế là rất cần thiết
Nhìn chung về lý luận cũng như thực tiễn quản lý rừng bền vững ở Việt Nam vẫn còn khá mới mẻ, còn có nhiều khoảng trống cần khắc phục, đặc biệt việc xây dựng Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia Do vậy, Việt Nam không thể không làm, đặc biệt trong bối cảnh ngành gỗ chế biến xuất khẩu của Việt Nam đang tham gia rất sâu vào sân chơi quốc tế Gỗ có chứng chỉ sẽ đáp ứng được các yêu cầu về mặt pháp lý đối với các sản phẩm gỗ của Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Mỹ (theo Luật Lacey sửa đổi) và Châu Âu (theo Chương trình hành động Tăng cường thực thi Luật lâm nghiệp, Quản trị rừng và Thương mại Lâm sản – FLEGT và Quy định
về gỗ của EU) Trong tương lai, Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia theo FSC sẽ là một mắt xích quan trọng về sự thay đổi về chính sách, tạo cơ hội cho việc mở rộng diện tích rừng được cấp chứng chỉ
Trang 35Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu tổng quát
Góp phần xây dựng Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia hài hòa hóa với Bộ tiêu chuẩn QLRBV của FSC, nhằm thúc đẩy việc cấp chứng chỉ rừng ở Việt Nam đáp ứng các yêu cầu của thị trường trong nước và thế giới, góp phần nâng cao giá trị gia tăng cho ngành Lâm nghiệp
2.1.2 Mục tiêu cụ thể
Đánh giá thử nghiệm Bộ tiêu chuẩn QLRVB Quốc gia nhằm xác định các chỉ số chưa phù hợp của bộ tiêu chuẩn góp phần hài hòa hóa giữa Bộ tiêu chuẩn QLRVB Quốc gia với bộ tiêu chuẩn QLRBV FSC quốc tế
2.2 Giới hạn nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia được áp dụng cho rừng tự nhiên đang thực hiện quản lý rừng bền vững ở Việt Nam
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung đánh giá thử nghiệm tại Công ty Lâm nghiệp và dịch vụ Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh
2.3 Nội dung nghiên cứu
+ Đánh giá hiện trạng tài nguyên rừng của Công ty Lâm nghiệp và dịch vụ Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh
+ Đánh giá sự phù hợp của Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia
+ Đánh giá việc thử nghiệm Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia
Nội dung này nhằm xác định các chỉ số chưa phù hợp và đề xuất chỉnh sửa nhằm hài hoà hoá Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia để phù hợp với điều kiện Việt Nam nhưng vẫn đảm bảo yêu cầu của FSC
Trang 362.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Quan điểm
Việt Nam về cơ bản nhất trí với quan niệm về quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rửng của ITTO (Tổ chức gỗ nhiệt đới quốc tế) Hiện nay, Việt Nam đã xây dựng Bộ tiêu chuẩn QLRBV với mục tiêu là tài nguyên rừng Việt Nam được quản lý bảo vệ theo nhận thức mới và Bộ tiêu chuẩn này hài hòa hóa với Bộ tiêu chuẩn FSC phiên bản V5.0
Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia được Nhóm phát triển bộ tiêu chuẩn quốc gia Việt Nam biên soạn trên cơ sở điều chỉnh bổ sung những chỉ số về quản lý rừng của FSC, có sử dụng những ý kiến đóng góp của các nhà quản lý, sản xuất lâm nghiệp trong nước và quốc tế Nhằm xây dựng Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia vừa đảm bảo những tiêu chuẩn FSC quốc tế, vừa phù hợp với điều kiện thực tế ở Việt Nam và dự kiến được Tổ chức quản trị rừng (FSC) thông qua vào cuối năm 2017
Do những tiêu chuẩn, tiêu chí và chỉ số dùng áp dụng chung cho toàn quốc, đồng thời phải phù hợp với tiêu chuẩn chung quốc tế nên việc áp dụng Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia không thể phù hợp hoàn toàn với mọi trường hợp và mọi điều kiện ở từng địa phương Khi áp dụng những tiêu chuẩn, tiêu chí và chỉ số cần có sự mềm dẻo trong một phạm vi nhất định, phù hợp với các yêu cầu của FSC và phù hợp điều kiện thực tế tại Việt Nam
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
2.4.2.1 Phương pháp kế thừa
Phương pháp kế thừa được sử dụng tập trung vào tổng hợp và phân tích các tài liệu đã có liên quan đến vấn đề nghiên cứu để từ đó rút ra kết luận cho vấn đề nghiên cứu Các tài liệu kế thừa sử dụng cho phân tích gồm:
- Các tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội
- Tài liệu về hiện trạng tài nguyên rừng
- Các tài liệu, báo cáo kết quả quá trình thực hiện các hoạt động quả lý rừng của Công ty LN&DV Hương Sơn
Trang 37- Các tài liệu về phương án quản lý rừng bền vững giai đoạn 2016 – 2050 của Công ty LN&DV Hương Sơn
- Kế thừa có chọn lọc các tài liệu thứ cấp khác có liên quan
2.4.2.2 Phương pháp điều tra, đánh giá
a) Phương pháp đánh giá sự phù hợp của Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia tại Công ty Lâm nghiệp và Dịch vụ Hương Sơn
Sự phù hợp của Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia theo tiêu chuẩn FSC phiên bản V2.0 được điều tra đánh giá trên cơ sở điều tra trực tiếp cán bộ công nhân viên trong Công ty Lâm nghiệp và Dịch vụ Hương Sơn theo hệ thống 10 nguyên tắc, 70 tiêu chí và 205 chỉ số của Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia (chi tiết tại phụ lục 03) Tổng số phiếu điều tra là 20 phiếu
Phương pháp điều tra là điều tra có chọn lọc các đối tượng đại diện, điển hình liên quan đến hoạt động quản lý rừng, nhằm cung cấp thông tin có chất lượng
Cụ thể, Hiện nay đội ngũ cán bộ công nhân viên của công ty LN&DV Hương Sơn hiện có 147 người, trong đó hoạt động có các hoạt động Lâm nghiệp, chăn nuôi, dịch vụ khác (làm ghạch) Số cán bộ công nhân viên hoạt động trong lĩnh vực Lâm nghiệp là 75 người và căn cứ vào 75 người này để tiến hành phát phiếu điều tra, bao gồm :
+ Lãnh đạo 3 người: chọn 1 người để phát phiếu điều tra;
+ Phòng kế toán 9 người: chọn 2 người để phát phiếu điều tra;
+ Phòng tổ chức hành chính 8 người: chọn 2 người để phát phiếu điều tra; + Phòng Quản lý bảo vệ rừng có 40 người: chọn 11 người để phát phiếu điều tra;
+ Phòng điều tra thiết kế có 15 người: chọn 4 người để phát phiếu điều tra Thông qua phiếu điều tra sẽ đánh giá được các chỉ số rất phù hợp, phù hợp, phù hợp thấp khó thực hiên và không phù hợp
Trang 38b) Phương pháp đánh giá việc thử nghiệm Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia
Hình 2.1: Các bước đánh giá thử nghiệm Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia
Các bước tiến hành đánh giá cụ thể:
- Bước 1: Đánh giá tài liệu trong phòng
Đề nghị chủ rừng cho xem những tài liệu, sổ sách liên quan đến quản lý rừng như bản kế hoạch sản xuất kinh doanh, bản đồ chi tiết các khu rừng và các hoạt động, các văn bản hướng dẫn bảo vệ phát triển rừng và các văn bản pháp luật khác, các tài liệu hướng dẫn kiểm tra đánh giá, các hợp đồng khai thác, hợp đồng lao động, các tài liệu về đào tạo, sử dụng lao động địa phương, các chứng từ nộp các khoản lệ phí, thuế, các báo cáo v.v
hài hòa hóa Bộ tiêu chuẩn
Đề xuất giải pháp/minh chứng
Đề xuất chỉnh sửa các chỉ số sau đánh giá thử nghiệm
Kết luận đề xuất chỉnh sửa
Bộ tiêu chuẩn
Bộ tiêu chuẩn tham chiếu
Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia theo tiêu chuẩn FSC phiên bản
V2.0
Trang 39- Bước 3: Trao đổi phỏng vấn
Tiến hành trao đổi phỏng vấn với cán bộ, công nhân viên của Công ty để tiến hành đánh giá thử nghiệm dựa trên các nguyên tắc, tiêu chí, chỉ số trong Bộ tiêu chuẩn xem khả năng thích ứng của công ty có đáp ứng được các yêu cầu để đánh giá Công ty sẽ cung cấp các minh chứng, bằng chứng theo từng tiêu chí, chỉ số để đánh giá sự phù hợp và không phù hợp của các tiêu chí, chỉ số đó Từ đó đưa ra ý kiến đề xuất nhằm hài hòa hóa các tiêu chí và chỉ số trong bộ tiêu chuẩn quốc gia giúp Công ty có thể thực hiện được phương án QLRBV theo Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia
- Bước 4: Xác định các tiêu chí và chỉ số không phù hợp điều kiện Việt Nam
Bảng 2.1: Đ ánh giá thử nghiệm và định hướng sửa chữa, thay đổi, bổ sung
chỉ số trong Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia
TT Nguyên tắc Tiêu chí
Các chỉ
số chưa phù hợp
Số liệu sẽ được xử lý bằng các phần mềm Exel, thống kê phiếu đánh giá và
vẽ biểu đồ để xác định mức độ phù hợp của Bộ tiêu chuẩn QLRBV quốc gia
Trang 40Chương 3 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm khu vực nghiên cứu
3.1.1 Vị trí địa lý
Công ty Lâm nghiệp Hương Sơn nằm ở phía tây huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, nằm trong danh giới của 5 xã: Sơn Hồng, Sơn Tây, Sơn Kim 1, Sơn Kim 2 và Thị trấn Tây Sơn.Công ty Lâm nghiệp Hương Sơn cách Thành phố Hà Tĩnh 90 km, cảng vũng ánh 110 km về phía Tây, cách cửa khẩu Cầu Treo 18 km về phía đông Tuyến đường Quốc lộ 8A, một trong những tuyến đường quan trọng nối liền Quốc
lộ 1A với nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào, chạy qua địa bàn Công ty tạo điều kiện thuận lợi về vận chuyển lâm sản và trao đổi hàng hoá
- Phía Nam có gần 4 km đường ranh giới giáp Vườn Quốc gia Vũ Quang;
- Phía Bắc có khoảng 6 km đường ranh giới giáp huyện Thanh Chương tỉnh Nghệ An