1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái và giải pháp bảo tồn loài vượn đen má vàng (nomascus gabriellae thomas, 1909) tại khu bảo tồn thiên nhiên nam nung tỉnh đắk nông​

88 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 2,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (11)
    • 1.1. Một số đặc điểm về Linh trưởng ở Việt Nam (11)
      • 1.1.1. Phân loại học thú linh trưởng ở Việt Nam (11)
      • 1.1.2. Họ vượn - Hylobatidae (11)
      • 1.1.3. Một số đặc điểm giống Nomascus (13)
    • 1.2. Phân bố của thú Linh trưởng Việt Nam (15)
      • 1.2.1. Phân bố thú Linh trưởng (15)
      • 1.2.2. Phân bố của giống Nomascus (18)
    • 1.3. Một số đặc điểm Vượn đen má vàng – Nomascus gabriellae (19)
      • 1.3.1. Phân loại học (19)
      • 1.3.2. Đặc điểm hình thái (20)
      • 1.3.3. Đặc điểm sinh học và sinh thái của VĐMV (20)
  • Chương 2. MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (22)
    • 2.1. Mục tiêu nghiên cứu (22)
      • 2.1.1. Mục tiêu tổng quát (22)
      • 2.1.2. Mục tiêu cụ thể (22)
    • 2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (22)
      • 2.2.1. Đối tượng nghiên cứu (22)
      • 2.2.2. Phạm vi nghiên cứu (22)
      • 2.2.3. Thời gian nghiên cứu (22)
    • 2.3. Nội dung nghiên cứu (22)
    • 2.4. Phương pháp nghiên cứu (23)
      • 2.4.1. Phương pháp kế thừa tài liệu (23)
      • 2.4.2. Phương pháp phỏng vấn (23)
      • 2.4.3. Phương pháp điều tra thực địa (23)
      • 2.4.4. Phương pháp xử lý số liệu (29)
  • Chương 3. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU (30)
    • 3.1. Điều kiện tự nhiên (30)
      • 3.1.1. Vị trí địa lý (30)
      • 3.1.2. Diện tích (30)
      • 3.1.3. Địa hình, địa thế (31)
      • 3.1.4. Địa chất, đất đai (32)
      • 3.1.5. Khí hậu, thuỷ văn (34)
      • 3.1.6. Tài nguyên động thực vật (36)
    • 3.2. Khái quát về đặc điểm kinh tế xã hội (37)
  • Chương 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (39)
    • 4.1. Hiện trạng và phân bố của loài VĐMV (39)
    • 4.2. Đặc điểm sinh cảnh của Vượn đen má vàng tại khu vực nghiên cứu (40)
      • 4.2.1. Thành phần các loài thực vật bậc cao tại khu vực nghiên cứu (44)
      • 4.2.2. Đặc điểm cấu trúc tổ thành rừng trong khu vực VĐMV phân bố (45)
      • 4.2.3. Cấu trúc tầng thứ và độ tàn che của rừng (49)
    • 4.3. Các mối đe dọa đến loài và sinh cảnh VĐMV (53)
      • 4.3.1. Săn bắt (54)
      • 4.3.2. Khai thác gỗ (56)
      • 4.3.3. Cháy rừng (56)
      • 4.3.4. Lối mòn trong rừng (đi lại săn bắn, khai thác gỗ và thu hái lâm sản) (57)
      • 4.3.5. Khai thác lâm sản ngoài gỗ (57)
      • 4.3.6. Chăn thả gia súc (57)
      • 4.3.7. Chặt cây trồng cà phê, cao su và nương rẫy (58)
    • 4.4. Một số giải pháp bảo tồn loài và sinh cảnh VĐMV tại Khu bảo tồn thiên nhiên (58)
      • 4.4.1. Nâng cao năng lực quản lý và thực thi pháp luật trong việc quản lý bảo vệ rừng (58)
      • 4.4.2. Nâng cao đời sống nhân dân xung quanh KBT (61)
      • 4.4.3. Nâng cao nhận thức cộng đồng (63)
      • 4.4.4. Chương trình nghiên cứu khoa học, phục vụ bảo tồn (64)
    • 1. Kết luận (65)
    • 2. Tồn tại (65)
    • 3. Kiến nghị (66)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (67)
  • PHỤ LỤC (21)

Nội dung

TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Một số đặc điểm về Linh trưởng ở Việt Nam

1.1.1 Phân loại học thú linh trưởng ở Việt Nam

Theo phân loại của Brandon - Jone và cộng sự (2004), khu hệ thú Linh trưởng tại Việt Nam bao gồm 24 loài và phân loài thuộc 3 họ: họ Cu li (Loridae), họ Khỉ (Cercopithecidae) và họ Vượn (Hylobatidae).

Theo hệ thống phân loại học phân tử các loài linh trưởng Đông Dương

(Christian, 2007) [31] thì Khu hệ thú linh trưởng ở Việt Nam có 25 loài và phân loài thuộc 3 họ: Họ cu li – Loridae, họ khỉ - Cercopithecidae, họ Vượn – Hylobatidae

Trong phần này, đề tài sẽ tập trung mô tả phân loại học và khu phân bố của họ

Các loài Vượn gộp chung thành họ Vượn (Hylobatidae) được gọi là khỉ giả nhân nhỏ, phân bố trên toàn bộ các vùng rừng mưa nhiệt đới ở Đông Nam Á [4, 15,

Các loài vượn sống hoàn toàn trên cây, chủ yếu ăn quả, với lối vận động đặc trưng là sự đu tay Hành vi treo thân độc đáo và tư thế đứng thẳng thường xuyên cho thấy sự chuyên hóa cao độ của chúng đối với môi trường sống và chế độ ăn hàng ngày.

Các nghiên cứu trước đây về phân loại vượn chia thành hai nhóm gồm

Symphalangus và Hylobates là hai nhóm vượn với những khác biệt rõ rệt Nhóm Symphalangus nặng hơn, có giọng hót sâu hơn, cổ họng bên ngoài và màng chân giữa các ngón 2 và 3 Nghiên cứu di truyền học cùng với các đặc điểm giải phẫu xương sọ và âm thanh đã giúp phân loại vượn thành các giống, trong đó Symphalangus có bộ nhiễm sắc thể 2n = 50 và giống Nomascus có bộ nhiễm sắc thể 2n = 52.

Bunopithecus có 2n = 38 và giống Hylobates có 2n = 44 [1] (Bảng 1.1)

Bảng 1.1: Các loài thuộc họ Hylobatidae

Số lượng bộ nhiễm sắc thể

Loài và phân loài Vùng phân bố

Bunopithecus 38 Hoolock hoolock Assam, Banglades,

H agilis albibarbis Phía đông Borneo

H muelleri abbotti Tây bắc Borneo

Symphalangus 50 S syndactylus Bán đảo Malay

N concolor Bắc Việt Nam, Yunan

N gabriellae Nam Việt Nam, Bắc Lào,

N.leucogenys Lào, Bắc Việt Nam, Nam

N l Siki Trung Lào, miền trung

Nguồn (Geissmann và cộng sự, 2000)

1.1.3 Một số đặc điểm giống Nomascus

Vượn mào hoang dã có trọng lượng trung bình từ 7 đến 8 kg, tương đương với giống Bunopithecus (7 kg), lớn hơn giống Hylobates (khoảng 5 kg) nhưng nhỏ hơn giống Symphalangus (khoảng 11 kg) Đặc điểm sọ của chúng bao gồm trán cao và tròn, cùng với các cạnh trên ổ mắt phẳng.

Bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội của loài này là 2n = 52 Đặc điểm hình thái nổi bật với túm lông trên đầu dựng đứng, đặc biệt phát triển ở con đực tạo thành mào, trong khi con cái có đám lông đen trên đầu tương phản với lông màu nhạt xung quanh Sự lưỡng sắc giới tính rõ rệt ở cá thể trưởng thành: con đực thường có lông màu đen, có thể có hoặc không có mảng lông má sáng, trong khi con cái có lông màu vàng nhạt, vàng da cam hoặc be nhạt, thường có mảng lông chẩm đen và có thể có lông bụng tối Màu sắc lông thay đổi theo quá trình phát triển: con non có lông màu đen giống con đực trưởng thành, và khi đến tuổi trưởng thành sinh dục (khoảng 5 - 8 năm), con cái sẽ thay đổi màu lông lần thứ hai sang màu sáng đặc trưng.

Phân loại học phân tử giống Nomascus

Theo nghiên cứu của Theo Roos Christian và cộng sự năm 2007, phân loại học phân tử dựa trên trình tự gen cytochrome b ty thể đã được thực hiện trên 64 cá thể vượn và một cá thể Hylobates lar làm đối chứng, trong đó có 44 dạng khác nhau Sự khác biệt giữa các cặp cá thể dao động từ 0,1% đến 8,2%, với sự khác biệt lớn nhất giữa hai loài N nasutus và N hainanus đạt 6,8%.

Bảng 1.2: Tỉ lệ sai khác giữa các cặp nucleotit giữa các loàithuộc giống Nomascus

Theo công bố năm 2010, các nhà khoa học Đức và Việt Nam đã phát hiện một loài vượn mới mang tên vượn mào đen má hung Trung bộ N.anamensis.

Dựa trên các dữ liệu về các cặp loài khác nhau và mối quan hệ phát sinh chủng loại, các loài N nasutus, N hainanus, N concolor, N gabriellae, và N leucogenys đã được công nhận là các loài riêng biệt.

Dựa trên sơ đồ phát sinh chủng loại của giống Nomascus như trên thì loài

N.concolor được coi là loài đơn

Hình 1.1: Sơ đồ mối quan hệ chủng loại phát sinh giữa các loài vượn giống

Phân bố của thú Linh trưởng Việt Nam

1.2.1 Phân bố thú Linh trưởng

Việt Nam là một trong những trung tâm đa dạng sinh học nhờ vào địa hình và khí hậu đặc trưng, tạo ra sự phân hóa tự nhiên theo độ cao với các vùng núi thấp, trung bình và cao Các vành đai Á nhiệt đới và ôn đới xuất hiện ở độ cao từ 500m đến 1400m, hình thành các kiểu rừng và loài thực vật đa dạng Địa hình chia cắt kết hợp với khí hậu đã tạo nên các vùng thức ăn và nơi ở cho thú Linh trưởng Dãy Bạch Mã - Hải Vân đóng vai trò như một rào cản tự nhiên, ngăn cách sự phân bố của nhiều loài động thực vật, trong đó phía Nam có Khỉ đuôi dài và VĐMV, còn phía Bắc có các loài Voọc và Voọc mũi hếch.

Voọc mông trắng (Trachypithecus francoisi delacouri), Khỉ mốc (Macaca assamensis) [7] Bảng 1.3 đã thể hiện sự phân bố thú Linh trưởng Việt Nam

Bảng 1.3: Vùng phân bố thú Linh trưởng

TT Tên loài Tên khoa học Vùng phân bố

1 Cu li lớn Nycticebus coucang (Boddaer,

Thừa Thiên Huế trở ra Bắc

2 Cu li nhỏ Nycticebus pygmaeus (Boddaer,

Từ Bắc vào đến Bình Phước

3 Khỉ cộc Macaca artoides (Geoffroy,

Từ Bắc vào Nam nhưng không gặp ở đảo, kể cả quần đảo gần bờ

TT Tên loài Tên khoa học Vùng phân bố

4 Khỉ mốc Macaca assamensis (M'Clelland,

Phân bố phía từ Bắc đến Quảng Bình

5 Khỉ đuôi lợn Macaca nemestrina

Từ Bắc đến Tây Nguyên và vùng Đông Nam Bộ (Bình Phước)

6 Khỉ vàng Macaca mulatta (Zimmermann,

Phân bố từ phía Bắc đến Gia Lai

7 Khỉ đuôi dài Macaca fascicularis fascicularis(

8 Khỉ đuôi dài côn đảo

Bà tỉnh Bà Rịa Vũng Tầu

9 Voọc xám Trachypithecus phayrei (Blyth,

Vùng Tây Bắc và Bắc Trung Bộ

10 Voọc bạc gecman Trachypithecus cristatus germani

Tây Nguyên và Đông Nam Bộ

11 Voọc bạc Trachypithecus cristatus margarita(Elliot, 1909)

Tây Nguyên và Đông Nam Bộ

12 Voọc má trắng Trachypithecus francoisi francoisi

Vùng phân bố hẹp ở Đông Bắc

13 Voọc đầu trắng Trachypithecus francoisi poliocephalusTrouesart, 1911

14 Voọc mông trắng Trachypithecus francoisi delacouri Osgood, 1932

Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa

15 Voọc gáy trắng Trachypithecus francoisi Bắc Trung Bộ nay

TT Tên loài Tên khoa học Vùng phân bố hatinhensis Dao, 1970 chỉ còn ở Phong

16 Voọc đen tuyền Trachypithecus francoisi ebenus

17 Voọc mũi hếch Rhinopithecus avunculus

Bắc Cạn, Tuyên Quang, Yên Bái,

18 Chà vá chân nâu Pygathrix nemaeus nemaeus

Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng và Đắk Lắk

19 Chà vá chân đen Pygathrix nemaeus gripes Milne-

Vùng phân bố loài này từ 11 0 22' N đến 14 0 29' N Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng, Đồng Nai, Bình Phước

20 Chà vá chân xám Pygathrix nemaeus cinerea Tilo nadler, 1997

21 Vượn đen hải nam Nomascus nasutus sso(?)

22 Vượn đen tuyền Nomascus concolor concolor

Vùng phân bố nằm giữa sông Hồng và sông Đà cùng một số tỉnh Sơn La, Yên Bái

23 Vượn đen má Nomascus leucogenys neucogenys Lai Châu, Sơn La,

TT Tên loài Tên khoa học Vùng phân bố trắng (Ogilby, 1840) Hòa Bình, Thanh

24 Vượn đen siki Nomascus leucogenys siki

Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Thừa Thiên Huế

25 Vượn đen má vàng(má hung)

Kon Tum, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai

(Nguồn: Phạm Nhật, 2002) 1.2.2 Phân bố của giống Nomascus

Vượn mào – Nomascus chỉ phân bố tại Đông Dương, bao gồm Việt Nam, Lào, phía đông Campuchia và Tây - Nam Trung Quốc (tỉnh Vân Nam và đảo Hải Nam) Sông Mê Kông là ranh giới phía tây của vùng phân bố của chúng, ngăn cách chúng với giống Hylobates Hiện nay, khu vực phân bố của vượn mào đã bị chia cắt mạnh mẽ, chỉ còn lại những mảnh rừng nhỏ, biệt lập và ít nhiều còn nguyên sinh.

Vượn đen tuyền (N concolor) phân bố chủ yếu tại miền Trung và miền Tây tỉnh Vân Nam, Trung Quốc Tại Bắc Lào, có khoảng 9 đàn vượn sống trong khu vực rộng khoảng 20km² thung lũng Nam Kan, tỉnh Bokeo Ở Việt Nam, loài này được tìm thấy giữa sông Hồng và sông Đà, với các mẫu vật được thu thập ở Lào Cai, Yên Bái và Sơn La.

Theo nghiên cứu của Lê Trọng Đạt và cộng sự năm 2006, số lượng quần thể vượn đen tuyền ở Sơn La và Yên Bái đang suy giảm đáng kể, từ 39 nhóm với 91 cá thể vào năm 2000-2001 xuống còn 25 nhóm với 68 cá thể vào năm 2006.

Vượn má trắng (N leucogenys) có vùng phân bố rộng rãi tại Trung Quốc, từ miền cực Nam tỉnh Vân Nam đến phía đông sông Hắc Long Giang Tại Lào, loài này xuất hiện ở nửa bắc của đất nước, với sông Mê Kông làm giới hạn phía Tây Ở Việt Nam, vượn má trắng phân bố ở các tỉnh miền Tây-Bắc, kéo dài đến phía Tây sông Đà, và giới hạn phía Nam của chúng là phía nam sông Cả (Nghệ An).

Vượn má trắng siki (N siki) chủ yếu phân bố ở phía bắc miền Trung Việt Nam và miền Trung Lào, với sông Mêkông là ranh giới phía Tây Tại Việt Nam, giới hạn phân bố của loài này ở hạ lưu sông Cả, trong khi giới hạn phía Nam vẫn chưa được xác định.

Vượn mào đen má hung Trung bộ (N annamensis) là một loài vượn mới được phát hiện vào năm 2010, thuộc chi vượn mào đen Nomascus và họ Vượn Hylobatidae Loài này có những đặc điểm âm thanh gọi bầy và cảnh báo kẻ thù rất đặc trưng, khác biệt so với các loài vượn mào má sáng màu Vượn mào đen má hung phân bố chủ yếu ở Nam Lào, Nam Việt Nam và Đông-Bắc Campuchia, nhưng ranh giới phân bố của loài vẫn chưa được xác định rõ.

Vượn đen má vàng (N gabriellae) phân bố chủ yếu ở Nam Lào, Nam Việt Nam và đông-bắc Campuchia Ranh giới phân bố của loài này chưa được xác định rõ, nhưng có khả năng phía bắc của chúng nằm trong các tỉnh Quảng Nam, Kon Tum, Gia Lai, Bình Định, Phú Yên và Đắk Lắk Gần đây, loài này đã được phát hiện tại Khu Bảo tồn Nam Nung - Đắk Nông và Vườn quốc gia Bù Gia Mập - Bình Phước, với khoảng 400 cá thể được ghi nhận.

Một số đặc điểm Vượn đen má vàng – Nomascus gabriellae

Tên thường gọi: Vượn má vàng

Tên khoa học: Nomascus gabriellaeThomas, 1909

Geissmann đã phân loại tất cả vượn mào thuộc giống Hylobates, cụ thể là "H concolor", trong đó vượn đen má vàng được xem là một phân loài mang tên "H concolor gabriellae" Tuy nhiên, dựa trên đặc điểm tiếng hót và các yếu tố khác, vượn đen má vàng đã được đề xuất là một loài riêng biệt Phân tích phân tử gần đây cho thấy khoảng cách giữa các giống phụ vượn lớn hơn cả khoảng cách giữa tinh tinh và con người, dẫn đến việc công nhận bốn giống phụ vượn như các giống đầy đủ Tên khoa học đã được điều chỉnh từ "Hylobates concolor gabriellae" thành "Nomascus gabriellae" Vượn đen má vàng hiện phân bố ở miền Nam Lào, miền Nam Việt Nam và Đông Campuchia.

1.3.2 Đặc điểm hình thái Đặc điểm nhận biết: Bô ̣ lông của con đực trưởng thành có màu đen, má có mầu vàng nhạt hoặc cam nhạt Con đực cũng có một nhóm các sợi lông dựng đứng (đỉnh) trên đầu, do đó giống Nomascus có tên gọi là "Vượn mào" Các cá thể cái trưởng thành của VĐMV có bô ̣ lông màu vàng sáng nhạt hoặc màu da cam với một bản vá màu đen trên đầu Con non mới sinh của Vượn đen má vàng có bộ lông màu vàng tươi sáng Màu sắc của bộ lông sẽ thay đổi vào khoảng cuối năm của năm đầu tiên, chuyển gần như hoàn toàn từ màu vàng sang màu đen trừ hai bên má vẫn màu vàng Vượn đực trưởng thành có bộ lông màu đen của chúng và hai bên má vẫn màu vàng

1.3.3 Đặc điểm sinh học và sinh thái của VĐMV

Vượn đen má vàng vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ trong tự nhiên và chủ yếu di chuyển kiếm ăn trên cây vào ban ngày, thích nghi dưới tán rừng, ngủ và nằm trên cây Chúng sống trong sinh cảnh rừng già trên đỉnh núi cao, thường ở các khu rừng có nhiều cây cao to, không sống ở rừng thưa hay tre nứa Vượn đen má vàng sống theo nhóm nhỏ từ hai đến ba cá thể, mỗi nhóm có khu vực riêng và hoạt động tích cực ban ngày, hót vào buổi sáng Chúng nghỉ ngơi trên các ngọn cây vào buổi trưa và ban đêm Loài vượn này được xem là chỉ thị của hệ sinh thái, do đó chúng đóng vai trò quan trọng trong các dự án bảo tồn.

Loài này được tìm thấy trong rừng nhiệt đới thường xanh (Eames & Robson,

Vượn đen má vàng sinh sống tại miền Nam Lào, miền Nam Việt Nam và Đông Campuchia, và chúng thường xuất hiện trong các khu rừng vùng đất thấp.

 Tình trạng và bảo tồn

- Sách đỏ Việt Nam phần I Động vật: Loài này bị suy giảm đến nguy cấp được xếp phân hạng EN A1c,d C2a

- Phụ lục IBNghị định 32/2006/NĐ- CP, ngày 30 tháng 3 năm 2006 về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm

- Danh lục đỏ thế giới (IUCN, 2012): Nguy cấp ENA2cd

- Công ước CITES: Phụ lục I

Mối đe dọa lớn nhất đối với loài hiện nay là săn bắn (Rawson, 2011), theo sau đó là sự suy thoái và mất sinh cảnh do các hoạt động canh tác nông nghiệp cùng với khai thác gỗ hợp pháp và trái phép (Duckworth et al).

1995, 1999; Eames & Robson, năm 1993; Geissmann, 1995b; Geissmannet al.,

Loài này hiện không được bảo vệ hiệu quả ở bất kỳ đâu, bao gồm cả các khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia (Geissmann, 1995b; Geissmann et al, 2000).

MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mục tiêu nghiên cứu

Góp phần bảo tồn quần thể Vượn đen má vàng (Nomascu gabriellae) và đa dang sinh học tại Khu BTTN Nam Nung

Xác định được tình trạng bảo tồn và phân bố của quần thể VĐMV tại KBTTN Nam Nung

Các đặc điểm sinh cảnh của Vườn Dã Ngoại Vườn Quốc Gia Nam Nung đã được xác định rõ ràng Đồng thời, cũng đã đề xuất các giải pháp hiệu quả để quản lý và bảo tồn quần thể VĐMV tại khu bảo tồn thiên nhiên này.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Là loài Vượn đen má vàng và sinh cảnh của chúng tại Khu BTTN Nam Nung, Đắk Nông

Vùng lõi Khu BTTN Nam Nung, Đắk Nông

Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 9/2012 đến tháng 4/2013

Nội dung nghiên cứu

1 Nghiên cứu hiện trạng và phân bố của loài VĐMV

2 Nghiên cứu một số đặc điểm của sinh cảnh VĐMV

3 Nghiên cứu các mối đe dọa đến loài và sinh cảnh VĐMV

4 Nghiên cứu đề xuất các giải pháp bảo tồn loài và sinh cảnh VĐMV

Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp kế thừa tài liệu Đề tài đã tiến hành thu thập tất cả các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu Sau đó tiến hành rà soát, đánh giá và kế thừa có chọn lọc các thông tin Các tài liệu thu thập bao gồm:

- Bản đồ quy hoạch sử dụng đất, bản đồ Quy hoạch rừng đặc dụng, bản đồ hành chính

- Luận chứng kinh tế kỹ thuật thành lập khu rừng đặc dụng

- Các luận chứng điều chỉnh Quy hoạch

- Báo cáo về đa dạng sinh học

- Báo cáo về dân sinh- kinh tế -xã hội; An ninh – quốc phòng

- Các nghiên cứu, dự án thực hiện trong KBT

- Các báo cáo, bài báo khoa học liên quan đến đối tượng nghiên cứu

- Các văn bản pháp lý và chính sách

Mục đích của phương pháp này là thu thập thông tin sơ bộ về hiện trạng, phân bố và các mối đe dọa đến loài Vượn đen má vàng cùng sinh cảnh của chúng Thông tin này sẽ hỗ trợ trong việc thiết kế các hoạt động điều tra thực địa Đối tượng phỏng vấn bao gồm 20 người, trong đó có 8 cán bộ kiểm lâm và 12 thợ săn, những người có kinh nghiệm đi rừng tại địa phương Các thông tin thu thập được liên quan đến hiện trạng, phân bố, mối đe dọa đối với loài và sinh cảnh VĐMV, cũng như tình hình quản lý và bảo tồn tại khu bảo tồn Kết quả phỏng vấn được ghi lại theo mẫu biểu chuẩn đã chuẩn bị sẵn.

2.4.3 Phương pháp điều tra thực địa

Phương pháp điều tra số lượng đàn Vượn trong KBT được thực hiện qua 20 điểm nghe, mỗi điểm được lặp lại 3 lần và cách nhau từ 1,5-2km tùy theo địa hình Các điểm nghe được chọn là đỉnh núi trong khu vực nghiên cứu, giúp người nghe phát hiện tiếng hót của đàn vượn Thời gian điều tra diễn ra từ 5h00 đến 9h00 sáng, với việc xác định đàn vượn dựa trên góc phương vị và khoảng cách từ điểm nghe.

Số lượng cá thể được quan sát trực tiếp và phân tích qua tiếng hót của con đực, cái Các thông tin được ghi vào mẫu biểu (Phụ lục 1,2)

Phương pháp tính diện tích vùng điều tra

Diện tích vùng điều tra được xác định bằng tổng diện tích các sinh cảnh phân bố của Vượn, được tính theo từng trạng thái rừng trong khu bảo tồn Việc tính toán này được thực hiện thông qua phần mềm MapInfo 10.5.

 Phương pháp phân loại sinh cảnh và điều tra các đặc điểm lâm học

Sinh cảnh sống của Vượn được xác định qua quan sát trực tiếp hoặc gián tiếp qua tiếng hót, với tất cả các điểm quan sát được ghi lại tọa độ GPS và chuyển tải lên bản đồ Đề tài thiết lập các ô tiêu chuẩn kích thước 20x50m, ngẫu nhiên và ba ô cho mỗi sinh cảnh sống Trong các ô tiêu chuẩn, các cây có đường kính D≥ 6cm sẽ được đo đếm các chỉ tiêu như D1.3, Hvn và độ tàn che Phân loại sinh cảnh sống của VĐMV dựa trên hệ thống phân loại rừng của Loeschau.

Phân loại trạng thái rừng : Hệ thống phân được chia ra 4 loại như sau:

1 Loại I: Đất không có rừng, đây là nhóm không có rừng hoặc hiện tại chưa thành rừng, chỉ có trảng cỏ, trảng cây bụi hay tre nứa mọc rải rác, độ che phủ dưới 30%, tuỳ theo hiện trạng mà nhóm này được chia thành 3 kiểu trạng thái phụ:

- Kiểu I A : Trảng cỏ: trạng thái này được đặc trưng bởi lớp thực bì, cỏ lau lách

- Kiểu I B : Trảng cây bụi: nó đặc trưng bởi lớp thực bì là cây bụi và một số cây thân gỗ nhỏ, tre nứa mọc rải rác

Kiểu I C là một loại cây bụi có sự hiện diện của cây gỗ rải rác tái sinh Trong trạng thái này, số lượng cây gỗ tái sinh có chiều cao trên 1m đạt từ 1000 cây/ha trở lên, trong khi số lượng cây gỗ có đường kính lớn hơn 6cm lại rất ít.

2 Loại II: Đất rừng non phục hồi sau nương rẫy hoặc sau khai thác trắng, kiểu rừng này là rừng cây gỗ có đường kính nhỏ, nó có thể chia thành 2 kiểu phụ:

Rừng cây tiên phong phục hồi sau nương rẫy thuộc kiểu II A, đặc trưng bởi lớp cây ưa sáng, mọc nhanh, thường có độ tuổi đồng đều và cấu trúc một tầng Đường kính cây thường nhỏ hơn 10cm, với tổng trữ lượng cây rừng chỉ đạt dưới 10m²/ha, và trữ lượng gỗ chưa có hoặc rất nhỏ, khoảng 25-30m³.

Kiểu II B là trạng thái rừng cây tiên phong phục hồi sau khai thác kiệt, chủ yếu bao gồm các cây non ưa sáng Thành phần loài trong rừng này phức tạp và không đồng đều về tuổi, do sự ưu thế của các loài cây không rõ ràng Mặc dù có thể còn sót lại một số cây lớn, nhưng trữ lượng của chúng không đáng kể Đường kính cây cao phổ biến không quá 20cm, với tổng diện tích mặt cắt ngang (G) lớn hơn 10m²/ha và trữ lượng từ 30 đến 60m³.

3 Loại III: Rừng thứ sinh qua khai thác chọn, đây kiểu rừng đã bị tác động khai phá của con người ở nhiều mức độ khác nhau làm cho kết cấu rừng có sự thay đổi Tuỳ theo mức độ tác động, khả năng tái sinh và cung cấp lâm sản mà có thể phân loại khác nhau:

Rừng thứ sinh kiểu III A là những khu rừng nghèo đã trải qua quá trình khai thác chọn kiệt và hiện đang trong giai đoạn phục hồi Trong trạng thái này, khả năng khai thác bị hạn chế, cấu trúc rừng bị phá vỡ hoàn toàn hoặc thay đổi cơ bản Trạng thái này có thể được chia thành một số kiểu phụ khác nhau.

Kiểu phụ III A1 là rừng mới qua khai thác chọn kiệt, với tán rừng bị phá vỡ thành từng mảng lớn Tầng trên chỉ còn sót lại một số cây cao có phẩm chất kém, trong khi nhiều dây leo, bụi dậm và tre nứa đang xâm lấn Độ tàn che của rừng rất thấp, với chỉ số S0,3, tổng diện tích mặt cắt ngang G401m là nhỏ hơn1000 cây/ha)

- IIIA2-2: là trạng thái đủ tái sinh với mật độ >1000 cây/ha

+ Kiểu phụ III A3 : Rừng đã có quá trình phục hồi tốt (rừng giàu) Độ tàn che của rừng S>0,5, G16-21m 2 /ha, GD>40120m 3

- Kiểu III B: Rừng khai thác ít, trữ lượng rừng còn cao, chia làm 2 kiểu phụ: + Kiểu phụ III B1 : Rừng có độ tàn che S>0,5, G&m 2 /ha, GD>402- 5m 2 /ha,M>250m 3

+ Kiểu phụ III B2 : Rừng có độ tàn che S>0,5, G&-30 m 2 /ha, GD>402- 5m 2 /ha, trữ lượng>250m 3 /ha

4 Loại IV: Rừng nguyên sinh hoặc thứ sinh phục hồi tốt, ít bị tác động, trữ và sản lượng cao, có độ tàn che S>0,6, G>30 m 2 /ha, GD>40>5m 2 /ha

Xác định tổ thành tầng cây cao

Xác định công thức tổ thành tầng cây cao và cây tái sinh theo phương pháp của Nguyễn Hữu Hiếu

- Tính số lượng cá thể bình quân của loài theo công thức sau:

Trong đó: X là số cá thể trung bình mỗi loài

N là tổng số cá thể điều tra

A là số loài điều tra được

Chọn những loài có số cây điều tra lớn hơn XTB để tham gia vào công thức tổ thành

- Xác định tỷ lệ phần trăm cho từng loài:

Trong đó: ni là tổng số cây của loài i

 ni là tổng số cây của các loài tham gia vào công thức tổ thành

- Viết công thức tổ thành: Xác định hệ số tổ thành như sau: Ki = k

Sau đó tiến hành viết công thức tổ thành cho từng trạng thái rừng theo nguyên tắc:

+ Những loài nào có hệ số tổ thành Ki lớn thì viết trước

Các loài có hệ số tổ thành Ki ≥ 1 sẽ được ghi rõ hệ số Ki, trong khi các loài có hệ số Ki < 1 sẽ được thay thế bằng dấu cộng (+) nếu Ki ≥ 0.5 và dấu trừ (-) nếu Ki < 0.5.

Xác định độ tàn che

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

Điều kiện tự nhiên

Khu BTTN Nam Nung tọa lạc tại trung tâm tỉnh Đắk Nông, bao gồm các xã Quảng Sơn (huyện Đắk Glong), Đắk Hòa (huyện Đắk Song) và các xã Đức Xuyên, Nam Nung (huyện Krông Nô) Khu vực này có tọa độ địa lý thuận lợi, góp phần vào sự phát triển bền vững của tỉnh.

Từ 12 o 12 ' đến 12 o 20 ' vĩ độ Bắc

Phía Bắc giáp phần đất còn lại của xã Nam Nung

Phía Đông giáp phần đất còn lại của xã Đức Xuyên

Phía Nam giáp phần đất còn lại của xã Quảng Sơn

Phía Tây giáp phần đất còn lại của xã Đắk Hòa

Vùng đệm của Khu bảo tồn Nam Nung có diện tích 9.037 ha, trải dài qua các xã Nam Nung và Đức Xuyên thuộc huyện Krông Nô, cùng với xã Quảng Sơn thuộc huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông.

Khu BTTN Nam Nung có tổng diện tích 20.156 ha, trong đó diện tích quản lý trực tiếp là 10.849 ha Khu bảo vệ nghiêm ngặt chiếm 6.156 ha, khu phục hồi sinh thái là 4.693 ha, và không có diện tích dành cho khu hành chính dịch vụ.

Vùng đệm có diện tích 9.037 ha (Chưa có hoạt động quản lý của KBT vì đang chịu sự quản lý và là hiện trường sản xuất của các CTLN)

Hình 3.1: Khu BTTN Nam Nung, huyên Krong Nô, tỉnh Đăk Nông

Khu Bảo tồn Thiên nhiên Nam Nung có địa hình đa dạng từ núi thấp đến trung bình, với độ cao giảm dần từ đỉnh Nam Jer Bri (1.578m) xuống các vùng xung quanh Nơi thấp nhất là suối Đắk Pri, chỉ cao khoảng 600m so với mặt biển Dãy núi Nam Nung có nhiều đỉnh trên 1.400m, với độ dốc biến động từ 10° đến 35° Sườn phía Đông Bắc ít dốc và khô hơn so với sườn phía Tây Nam ẩm ướt Địa hình phân cắt đã tạo ra hai kiểu rừng nhiệt đới và á nhiệt đới núi thấp đặc trưng cho khu vực này.

- Đá mẹ cấu tạo nên lập địa KBTTN Nam Nung gồm: Đá mácma axít (Granit, gneiss, bazan, syenite, Sa thạch khối ) và đá phiến thạch sét (Đá Sét)

Đá mácma axít, bao gồm các loại đá như Granit, gneiss, syenite và sa thạch khối, có hàm lượng silic cao Do đó, sản phẩm phong hóa chủ yếu là các hạt cát.

Đá Bazan và Đá sét (phiến thạch sét) có thành phần cấu tạo chủ yếu là cấp hạt sét, chiếm tỷ lệ lớn, dẫn đến sản phẩm phong hoá chủ yếu là cấp hạt mịn với nhiều hạt sét.

Mẫu chất trong lập địa khu BTTN bao gồm ba loại chính: tàn tích, sườn tích và một phần nhỏ lũ tích Mẫu chất tàn tích vẫn giữ nhiều đặc tính của đá mẹ, trong khi mẫu chất lũ tích và sườn tích đã trải qua sự biến đổi do tác động của nước, nhiệt độ, sinh vật và thời gian, dẫn đến tính chất khác biệt so với đá gốc Điều này đã tạo ra các vùng quặng Bô xít dưới thảm rừng phía nam khu BTTN.

Quá trình laterit hóa chỉ diễn ra trong điều kiện nhiệt đới trên nền đá silicat như granit, gneiss, bazan, syenite và đá sét Sự hình thành bauxite yêu cầu điều kiện phong hóa mạnh mẽ hơn so với quá trình hình thành laterit sắt, cùng với điều kiện thủy văn thoát nước tốt để hòa tan và rửa trôi kaolinite, tạo thành tầng lắng đọng gibbsit Đới chứa hàm lượng nhôm cao nhất thường nằm ngay dưới lớp mũ sắt, với dạng tồn tại chủ yếu của hydroxit nhôm trong bauxit laterit là gibbsit Tại Việt Nam, bauxit Tây Nguyên được hình thành theo phương thức này trên nền đá bazan.

KBTTN có các nhóm đất chính sau:

Đất Feralít mùn vàng nhạt thường xuất hiện trên các vùng núi cao, đặc biệt là ở độ cao trên 1000m Đặc điểm nổi bật của loại đất này là có tầng thảm mục dày, quá trình Feralít diễn ra không điển hình và quá trình mùn hoá diễn ra mạnh mẽ Nguyên nhân chính dẫn đến những đặc điểm này là do điều kiện khí hậu ở độ cao trung bình, nơi nhiệt độ thấp và độ ẩm cao.

+ Đất feralít đỏ vàng hay vàng đỏ phát triển trên đá Granit, gneiss, syenite,

Sa thạch khối, núi thấp (dưới 1000m)

Màu sắc đất rực rỡ, với khoáng sét Kaolinit bị rửa trôi nhiều và thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình Đất chứa ít khoáng vật nguyên sinh, chủ yếu là thạch anh, có phản ứng chua với tỉ số SiO2/R2O3 ≤ 2,0 và Fe2O3 > Al2O3, trong khi nhôm tự do không thiếu Chất hữu cơ phân giải mạnh, với axit fulvic chiếm ưu thế hơn axit humic Tại các khu vực còn rừng, tỉ lệ mùn khá cao, trong khi nơi mới mất rừng có tỉ lệ mùn trung bình Đất nghèo dinh dưỡng, đặc biệt là Lân và Kali, chủ yếu phân bố trên sườn núi Nam Jer Bri và đỉnh dông dãy núi Nam Nung.

+ Đất feralít đỏ vàng hay vàng đỏ phát triển trên đá Sa thạch, đá Sét (Phiến thạch sét), núi thấp (dưới 1000m)

Màu sắc đất ở khu vực này rất rực rỡ, chủ yếu là khoáng sét Kaolinit, với thành phần cơ giới từ trung bình đến nặng Đất ít chứa khoáng vật nguyên sinh, ngoại trừ thạch anh bền Đặc điểm nổi bật là đất có phản ứng chua, với tỉ số SiO2/R2O3 ≤ 2,0 và Fe2O3 = Al2O3, đồng thời nhôm tự do không thiếu Chất hữu cơ trong đất phân giải mạnh, nơi có rừng có tỉ lệ mùn cao, trong khi nơi mất rừng có tỉ lệ mùn trung bình và thấp Đất phân bố chủ yếu trên sườn Bắc và Đông Bắc dãy núi Nam Nung cũng như đỉnh các dông núi phụ, thuộc địa phận xã Nam Nung, Đức Xuyên.

Đất đỏ nâu và đỏ vàng phát triển trên đá Bazan ở vùng đồi núi thấp dưới 1000m, với quá trình laterít hóa đặc trưng tạo ra tầng khoáng sản bauxit laterit Tỉ số SiO2/R2O3 nhỏ hơn 2,0, trong khi Fe2O3 thấp hơn Al2O3 và có nhiều nhôm tự do Dưới lớp đất mặt dày 1-9m thường có tầng quặng bauxit laterit dày, với gibbsit là thành phần chính Ở những nơi có rửa trôi mạnh, tầng bauxit có thể nông và lộ ra mặt đất, dẫn đến sự phát triển kém của cây cối Đất đỏ Bazan có thành phần khoáng sét chủ yếu là Kaolinít, với cơ giới từ đất thịt trung bình đến đất thịt nặng, màu sắc từ đỏ nâu đến đỏ vàng, và chất hữu cơ phân giải mạnh cùng axít fulvic.

Axit humic là thành phần quan trọng trong đất đỏ Bazan, nơi có phản ứng chua với pHKCl từ 3,8 đến 4,5 Đất này có hàm lượng mùn tổng số thấp, trong khi hàm lượng đạm tổng số ở tầng mặt đạt mức trung bình Tuy nhiên, hàm lượng lân và kali tổng số chỉ ở mức trung bình đến thấp, cùng với đó là hàm lượng các yếu tố dễ tiêu cũng ở mức thấp Đất đỏ Bazan chủ yếu phân bố ở phía Nam KBT, thuộc địa phận xã Quảng Sơn.

+ Tổ hợp đất thung lũng vùng thấp

Tổ hợp đất thung lũng là loại đất nhỏ và rải rác, bao gồm đất dốc tụ chân núi, đất do lũ tích và đất từ các sản phẩm hỗn hợp dồn tích tại các vùng trũng Chúng thường phân bố theo đám và dải hẹp ven khe suối trong các thung lũng hẹp hoặc chân núi Đặc điểm của tổ hợp đất này là có thành phần cơ giới nhẹ, chủ yếu là đất cát pha, thịt nhẹ, với màu xám hoặc vàng nhạt, chứa nhiều sỏi sạn và các cấp hạt thô như cát, sỏi và đá vụn.

Khí hậu KBTTN Nam Nung là khí hậu nhiệt đới ẩm với hai mùa rõ rệt Mùa khô kéo dài từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau, trong đó tháng 12 và tháng 1 là thời điểm khô hạn, với lượng mưa chỉ chiếm 13-15% tổng lượng mưa hàng năm Ngược lại, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 11 chiếm tới 90% tổng lượng mưa, tập trung chủ yếu vào các tháng 6, 7 và 8 Hàng năm có hai tháng chuyển mùa đáng chú ý.

Khái quát về đặc điểm kinh tế xã hội

Vùng đệm Khu Bảo tồn Thiên nhiên Nam Nung có diện tích 9.307 ha, trải dài qua ba xã: Quảng Sơn (huyện Đắk Glong) và các xã Đức Xuyên, Nam Nung (huyện Krông Nô) Dân số trong khu vực này ban đầu chỉ có 356 người thuộc dân tộc M'Nông, nhưng đến năm 2011, con số đã tăng lên hàng ngàn người với sự đa dạng về dân tộc, bao gồm M'Nông, Mường, Thái, H'Mông, Kinh, cùng với công nhân từ các công ty lâm nghiệp và bộ đội.

Mặc dù đất lâm nghiệp chiếm diện tích lớn trong vùng đệm, nhưng chủ yếu do các công ty lâm nghiệp quản lý và khai thác Người dân có thu nhập từ hoạt động nông-lâm nghiệp rất thấp do thiếu vốn và đất đai đã bị sang nhượng hoặc cầm cố Với nguồn thu nhập chính hạn chế, họ phụ thuộc vào việc thu hái lâm sản từ các rừng sản xuất của các công ty lâm nghiệp và khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) để đảm bảo cuộc sống.

Trước đây, khu bảo tồn thiên nhiên không có dân cư sinh sống, dẫn đến áp lực từ người dân địa phương chủ yếu là từ bên ngoài xâm lấn vào Các hoạt động như lấn đất rừng để trồng cà phê, cao su, săn bắn động vật, khai thác lâm sản trái phép và cháy rừng đã đe dọa đến đa dạng sinh học trong khu vực Việc khai thác lâm sản trái phép và săn bắn động vật diễn ra thường xuyên, gây nhiều khó khăn cho công tác bảo vệ tại khu bảo tồn thiên nhiên Nam Nung.

Tập quán sản xuất đốt rừng để làm nương rẫy, khai thác lâm sản tùy tiện và chăn thả gia súc tự do đang gây khó khăn cho quá trình phục hồi hệ sinh thái rừng Thiếu các biện pháp như trồng rừng lấy củi, trồng cây thuốc quý quanh nhà và giám sát chăn thả gia súc đã ảnh hưởng trực tiếp đến tài nguyên thực vật khu BTTN, làm tăng tốc độ cạn kiệt nguồn tài nguyên sinh vật, đặc biệt là các loài gỗ quý, động vật và cây dược liệu quý trong khu vực này.

Gần đây, người dân đã nhận thức được tầm quan trọng của việc phát triển trang trại và trồng rừng kinh tế như cà phê, cao su, bời lời, cùng với chăn nuôi bò để nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống vật chất, tinh thần Do đó, cần có sự hướng dẫn và đầu tư hợp lý trong việc trồng rừng kinh tế, cũng như quy hoạch khu vực chăn thả gia súc theo hướng thâm canh, nhằm đạt năng suất cao cho cộng đồng.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Hiện trạng và phân bố của loài VĐMV

Theo kết quả điều tra, trong tổng số 20 điểm nghe tại KBT, có 14 điểm phát hiện được các đàn Vượn qua tiếng hót, xác định ít nhất 21 đàn VĐMV Trong đó, 2 đàn được ghi nhận từ thông tin của người dân địa phương và cán bộ điều tra rừng Nếu áp dụng hệ số điều chỉnh 0.63 từ nghiên cứu trước đó, số lượng đàn Vượn thực tế trong khu vực sẽ khoảng 33 đàn Diện tích phân bố của các đàn Vượn là khoảng 6,500ha, tương ứng với mật độ 0.51 đàn/km², thấp hơn so với kết quả điều tra tại KBT Kon Cha Răng với 0.66 đàn/km².

Bảng 4.1: Số lượng đàn Vượn đen má vàng tại KBTTN Nam Nung

Số lượng ngày điều tra

Diện tích điều tra (ha)

Phía Nam và trung tâm

Theo bảng 4.1, phần lớn các đàn Vượn tập trung chủ yếu tại khu vực Quảng Sơn, cùng với các khu vực phía Nam và trung tâm KBT, Đắk Môn và Nam Nung, như thể hiện trong hình 4.1 Đề tài không ghi nhận bất kỳ đàn Vượn nào ngoài những khu vực này.

Vượn nào ở khu vực Nậm Nia và Đức Xuyên, mặc dù nỗ lực điều tra là tương tự so với các khu vực khác trong KBT

Hai đàn Vượn đã được phát hiện bên ngoài KBT, cụ thể là ở vùng đệm gần khu vực Quảng Sơn Kết quả cho thấy đàn Vượn chủ yếu phân bố ở các khu rừng ít bị tác động trong KBT, trong khi các khu vực như Đức Xuyên và Nậm Nia có dấu hiệu bị tác động nhiều hơn.

Đặc điểm sinh cảnh của Vượn đen má vàng tại khu vực nghiên cứu

Kết quả điều tra cho thấy rừng tự nhiên KBTTN Nam Nung bao gồm hai kiểu rừng chính, dựa trên tiêu chuẩn phân loại thảm thực vật của tiến sĩ Thái Văn.

Trừng): Rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp và rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới

 Kiểu Rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp

Kiểu Rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp có 2 kiểu phụ lớn:

- Kiểu phụ Rừng kín thường xanh ẩm cây lá rộng á nhiệt đới núi thấp

- Kiểu phụ Rừng kín thường xanh ẩm cây lá rộng xen cây lá kim á nhiệt đới núi thấp

Kiểu rừng này được phân bố ở độ cao từ 1.000 m đến 1.578 m, chiếm khoảng 50% diện tích rừng trong khu vực Nó tập trung chủ yếu quanh các đỉnh cao như Nam Jer Bri, Đỉnh chóp nón (1.458m) và trên đỉnh dông núi Nam Nung, nằm ở ranh giới các xã Quảng Sơn, Nam Nung và Đức Xuyên.

Thực vật trong khu vực này từng rất đa dạng, với các khu rừng chưa khai thác có cấu trúc tầng rõ rệt và cây lớn Tuy nhiên, những khu vực đã khai thác lại để lại ít cây lớn, chủ yếu là cây nhỏ và cấu trúc rừng bị thay đổi Một số loài cây tiêu biểu cho kiểu rừng á nhiệt đới núi thấp bao gồm Đỗ quyên, Việt quất (Ericaceae), Chò xót, Súm chè, Chè lông (Theaceae), và các loài thuộc họ Re (Lauraceae) như Lòng trứng, Trứng gà Ngoài ra, còn có các loài Dẻ (Fagaceae), Giổi, Mỡ, Vàng tâm (Magnoliaceae), cùng nhiều loài cây nhiệt đới khác như Sến mật lá mềm, Sến đất (Sapotaceae), và các loài thuộc họ Dầu (Dipterocarpaceae), Na (Annonaceae), Anacardiaceae, Meliaceae Các họ thực vật khác như Euphorbiaceae, Altingiaceae, Fabaceae, Araliaceae, và Rosaceae cũng góp mặt trong hệ sinh thái phong phú này, đặc biệt là ở các đỉnh cao với nhiều loài Vầu đắng, Sặt.

Le của họ Tre (Bambusoideae) là cây bản địa chủ yếu của khu hệ thực vật Bắc Việt Nam và Nam Trung Hoa Trong kiểu rừng này, các loài có nguồn gốc á nhiệt đới từ Hymalaya và Ấn-Miến thuộc bộ Tùng Bách có sự phân bố hạn chế.

Tầng tán rừng bao gồm các lớp như Tầng tán trên (A1), Tầng tán chính (A2), Tầng tán dưới (A3), Tầng cây bụi (B) và Tầng thảm tươi (C) Các trạng thái rừng trong kiểu rừng á nhiệt đới núi thấp rất đa dạng và phong phú.

Theo phân loại của Loschaus, rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới trên núi đất có các kiểu phụ nhân tác gồm IB, IC, IIA, IIB, IIIA1, IIIA2 và IIIA3 Tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên Nam Nung, quan sát cho thấy có các trạng thái IA, IB, IC, IIA, IIB, IIIA1, IIIA2, IIIA3, cùng với một số trạng thái IVA theo đám.

 Kiểu Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới

Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới phân bố chủ yếu ở độ cao dưới 1000m, nhưng nhờ vào độ dốc, hướng phơi và vị trí gần xích đạo, nó có thể phát triển đến độ cao 1100m Loại rừng này chiếm gần 50% diện tích của khu bảo tồn.

Kiểu Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới có 2 kiểu phụ lớn:

- Kiểu phụ Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới cây lá rộng

- Kiểu phụ Rừng kín thường xanh mưa ẩm cây lá rộng xen cây nửa rụng lá mùa khô chủ yếu là cây họ Dầu (Rừng bán khộp)

Rừng Tây Nguyên và Miền Trung sở hữu nhiều loài thực vật đặc trưng, bao gồm các cây thuộc họ Dầu như Dầu nước, Sao đen, Sao xanh, và các loài cây khác như Đa, Sung, Vả thuộc họ Dâu tằm Ngoài ra, họ Phong lan có nhiều loài như lan Kim tuyến và Hoàng thảo, trong khi họ Điều bao gồm Sấu và Sơn Các loài cây như Vàng kiêng và Gáo thuộc họ Cà phê, còn Dáng hương và Trắc thuộc họ Đậu Họ Vang có Muồng và Lim xẹt, trong khi họ Trinh nữ bao gồm Đái bò và Bản xe Những loài cây như Trám đen và Trám trắng thuộc họ Trám, và họ Bồ hòn có Nhãn và Bồ hòn Cuối cùng, họ Máu chó và họ Bứa cũng có nhiều loài đa dạng như Máu chó lá to và Nụ.

Xoan (Meliaceae); Ươi, Sảng họ Trôm (Sterculiaceae); Nhội, Vạng trứng, Mọ họ Thầu dầu (Euphorbiaceae); Bưởi Bung, Thôi Chanh họ Cam quýt (Rutaceae);

Cọ, Đùng đình, và Lá nón thuộc họ Cau dừa (Arecaceae); Trầu bà, Ráy, và Thiên niên kiện thuộc họ Ráy (Araceae); Sa nhân, Sẹ, và Nghệ thuộc họ Gừng (Zingiberaceae); Dây Đàn hương thuộc họ Đàn hương (Santalaceae); Đại cán và Tầm gửi thuộc họ Tầm gửi (Loranthaceae); Cẩm cang và Thổ phục linh thuộc họ Cẩm cang (Smilacaceae); và Củ nâu cũng là một loài thực vật quan trọng trong hệ thực vật này.

Củ mài họ Củ nâu (Dioscoreaceae); Lồ ô, Sặt, Vầu đặc họ phụ Tre trúc (Bambusoideae); Mắc niễng thuộc họ Sến (Sapotaceae), và một số họ khác nữa

Trong kiểu rừng này, thực vật chủ yếu bao gồm cây bản địa và cây có nguồn gốc từ khu hệ thực vật Bắc Việt Nam, Nam Trung Hoa, Mã Lai - Indonesia và Ấn - Miến.

Kết cấu tầng thứ của rừng á nhiệt đới núi thấp điển hình ở nơi ít bị phá hoại thường có 3 tầng:

- Một tầng cây gỗ có 2 tầng phụ (A1, A2,)

- Một tầng cây bụi thưa (B)

Tầng cây cỏ và quyết thực vật (C) bao gồm nhiều loại thực vật khác nhau, trong đó có các loài dây leo, thực vật phụ sinh và kí sinh, cũng như tre nứa, mặc dù một số thực vật không xác định được tầng thứ.

Tầng tán rừng có hai tầng phụ chính: A1+A2 và A3

 Các trạng thái rừng trong kiểu rừng nhiệt đới núi thấp

Theo phân loại của Loschaus, kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới bao gồm các trạng thái IB, IC, IIA, IIB, IIIA1, IIIA2, IIIA3 Khu nghiên cứu có hai kiểu rừng chính: rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp (độ cao >1.000m) và rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới (độ cao

Ngày đăng: 22/06/2021, 06:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2005), Báo cáo diễn biến Môi trường Việt Nam năm 2005, Đa dạng sinh học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo diễn biến Môi trường Việt Nam năm 2005, Đa dạng sinh học
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2005
3. Nguyễn Thế Cường (2011), Nghiên cứu đặc điểm sinh thái của loài Vượn Cao Vít (Nomascus nasutus Kunckel d’Herculais, 1884) làm cơ sở cho việc phục hồi sinh cảnh tại Khu Bảo tồn loài và sinh cảnh Vượn Cao Vít, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng, Luận văn thạc sỹ Khoa học Lâm nghiệp, Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm sinh thái của loài Vượn Cao Vít (Nomascus nasutus "Kunckel d’Herculais, 1884) "làm cơ sở cho việc phục hồi sinh cảnh tại Khu Bảo tồn loài và sinh cảnh Vượn Cao Vít, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng
Tác giả: Nguyễn Thế Cường
Năm: 2011
4. Geissmann, Nguyễn Xuân Đặng, Lormée, N. &amp; Momberg, F.(2000), Đánh giá hiện trạng bảo tồn linh trưởng Việt Nam, Phần 1: Các loài Vượn. Chương trình Đông Dương, tổ chức động thực vật hoang dã Quốc tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiện trạng bảo tồn linh trưởng Việt Nam
Tác giả: Geissmann, Nguyễn Xuân Đặng, Lormée, N. &amp; Momberg, F
Năm: 2000
5. Đặng Huy Huỳnh, Nguyễn Văn Sáng, Hoàng Minh, Trương Văn Lã, Hồ Thu Cúc, 1997, Bảo vệ và phát triển lâu bền nguồn tài nguyên động vật rừng Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ và phát triển lâu bền nguồn tài nguyên động vật rừng Việt Nam
Nhà XB: NXB Giáo dục
6. GS.TSKH. Đặng Huy Huỳnh và các cộng sự (2007), Sách đỏ Việt Nam phần I, Động vật, NXB Khoa học tự nhiên và công nghệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách đỏ Việt Nam phần I, Động vật
Tác giả: GS.TSKH. Đặng Huy Huỳnh và các cộng sự
Nhà XB: NXB Khoa học tự nhiên và công nghệ
Năm: 2007
7. Đỗ Quang Huy, Nguyễn Hoàng Nghĩa, Đồng Thanh Hải, Nguyễn Đắc Mạnh (2009), Đa dạng sinh học, NXB nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng sinh học
Tác giả: Đỗ Quang Huy, Nguyễn Hoàng Nghĩa, Đồng Thanh Hải, Nguyễn Đắc Mạnh
Nhà XB: NXB nông nghiệp
Năm: 2009
8. Phạm Nhật, Đỗ Tước, Trần Quốc Bảo, Phạm Mộng Giao, Vũ Ngọc Thành và Lê Xuân Cảnh (1998), Phân bố và tình trạng linh trưởng của Việt Nam. Kỷ yếu hội thảo về kế hoạch hành động bảo tồn các loài linh trưởng Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân bố và tình trạng linh trưởng của Việt Nam. Kỷ yếu hội thảo về kế hoạch hành động bảo tồn các loài linh trưởng Việt Nam
Tác giả: Phạm Nhật, Đỗ Tước, Trần Quốc Bảo, Phạm Mộng Giao, Vũ Ngọc Thành và Lê Xuân Cảnh
Năm: 1998
10. Quỹ Quốc tế về bảo vệ thiên nhiên – WWF chương trình Đông Dương (2003), Sổ tay hướng dẫn điều tra và giám sát đa dạng sinh học, Nxb Giao thông Vận tải, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay hướng dẫn điều tra và giám sát đa dạng sinh họ
Tác giả: Quỹ Quốc tế về bảo vệ thiên nhiên – WWF chương trình Đông Dương
Nhà XB: Nxb Giao thông Vận tải
Năm: 2003
11. Đào Văn Tiến(1985), Khảo sát thú Miền Bắc Việt Nam. NXB Khoa học kỹ thuật- Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát thú Miền Bắc Việt Nam
Tác giả: Đào Văn Tiến
Nhà XB: NXB Khoa học kỹ thuật- Hà Nội
Năm: 1985
12. Đào Văn Tiến (1983), “Bắc Đông Dương vượn (Hylobates concolor) (động vật linh trưởng: Hylobatidae) ở miền Bắc Việt Nam”, Tạp chí của con người tiến hóa (số12), Trang 367-372 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bắc Đông Dương vượn (Hylobates concolor) (động vật linh trưởng: Hylobatidae) ở miền Bắc Việt Nam”, "Tạp chí của con người tiến hóa
Tác giả: Đào Văn Tiến
Năm: 1983
13. FFI (2000), Sổ tay điều tra thực địa linh trưởng, Chương trình Đông Dương, Tổ chức động thực vật hoang dã Quốc tế, Hà Nội, Việt Nam.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay điều tra thực địa linh trưởng
Tác giả: FFI
Năm: 2000
14. Brandon-Jones D, Eudey A. A., Geissmann T., Groves C.P., Melnick D.J., Morales J. C., Shekelle M., Stewart C. B. (2004), Asian Primate Classification, International Journal of Primatology, Vol. 25, No. 1, February 2004 : pp. 97- 164 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Asian Primate Classification
Tác giả: Brandon-Jones D, Eudey A. A., Geissmann T., Groves C.P., Melnick D.J., Morales J. C., Shekelle M., Stewart C. B
Năm: 2004
15. Corbet, G. B. and Hill, J. E. (1992), The Mammals of the Indomalayan Region: A Systematic Review. Natural History Museum Publications, Oxford University Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Mammals of the Indomalayan Region: A Systematic Review
Tác giả: Corbet, G. B. and Hill, J. E
Năm: 1992
18. Geissmann, T. (2007), “Status reassessment of the gibbons: Results of the Asian Primate Red List Workshop 2006”, Gibbon Journal Nr.3 – April 2007, Gibbon Conservation Alliance, Zurich, Switzerland, pp.5-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Status reassessment of the gibbons: Results of the Asian Primate Red List Workshop 2006”
Tác giả: Geissmann, T
Năm: 2007
21. Geissmann, T. (1994), “Gibbon systematic and species identification”, International Zoo News, Vol. 42, No. 8 (1995): 467-501 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Gibbon systematic and species identification”
Tác giả: Geissmann, T. (1994), “Gibbon systematic and species identification”, International Zoo News, Vol. 42, No. 8
Năm: 1995
25. Groves C. P. (2001), Primate Taxonomy, Smitsonian Institution press, Washington an London, 350p Sách, tạp chí
Tiêu đề: Primate Taxonomy
Tác giả: Groves C. P
Năm: 2001
28. Le Trong Dat, Pengfei, F., Lu, Y., Nguyen The Cuong, Le Huu Oanh and Kempinski, J. (2007), Cencus report for The global Cao Vit Gibbon population in Trung Khanh District, Cao Bang Province, Viet Nam and Jingxi County, Guangxi Province, People’s Republic of China. FFI Vietnam and China Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cencus report for The global Cao Vit Gibbon population in Trung Khanh District, Cao Bang Province, Viet Nam and Jingxi County, Guangxi Province
Tác giả: Le Trong Dat, Pengfei, F., Lu, Y., Nguyen The Cuong, Le Huu Oanh and Kempinski, J
Năm: 2007
29. Leighton, D.R. (1987), Gibbons: Territoriality and monogamy. In Smuts, B.B., Cheney, D.L., Seyfarth, R.M., Wrangham, R.W., and Struhsaker, T.T. (eds.), Primate societies, University of Chicago Press, Chicago and London, pp. 135-145 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gibbons: Territoriality and monogamy. In Smuts, B.B., Cheney, D.L., Seyfarth, R.M., Wrangham, R.W., and Struhsaker, T.T. (eds.), Primate societies
Tác giả: Leighton, D.R
Năm: 1987
30. Merker, B. &amp; Cox, C. (1999), Development of the female great call in Hylobates gabriellae: A case study, Folia Primatologica 70: 97-106 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Development of the female great call in Hylobates gabriellae: A case study
Tác giả: Merker, B. &amp; Cox, C
Năm: 1999
31. Pham Nhat, Le Xuan Canh (1997), Report on preliminary results of survey on Hainan Gibbon (Hylobates concolor hainanus). Forestry College-Institute of Ecology and Biological Resources-Primate Conservation Incorporated: 15pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Report on preliminary results of survey on Hainan Gibbon (Hylobates concolor hainanus)
Tác giả: Pham Nhat, Le Xuan Canh
Năm: 1997

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w