1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu thực trạng, đề xuất biện pháp bảo tồn và phát triển cây xanh đường phố quận hoàn kiếm thành phố hà nội​

143 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 143
Dung lượng 3,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (14)
    • 1.1. Nghiên cứu bảo tồn và phát triển hệ thống cây xanh đô thị trên thế giới (14)
      • 1.1.1. Thời kỳ trung đại (14)
      • 1.1.2. Thời kỳ cận đại (15)
      • 1.1.3. Thời kỳ hiện đại (16)
    • 1.2. Nghiên cứu bảo tồn và phát triển hệ thống cây xanh đô thị ở Việt Nam (18)
      • 1.2.1. Thời kỳ phong kiến (18)
      • 1.2.2. Thời kỳ Pháp thuộc (1858-1945) (19)
      • 1.2.3. Thời kỳ từ năm 1945 đến nay (21)
    • 1.3. Bảo tồn và phát triển cây xanh đô thị trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội (23)
  • Chương 2 MỤC TIÊU – ĐỐI TƯỢNG – NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (25)
    • 2.1. Mục tiêu nghiên cứu (25)
      • 2.1.1. Mục tiêu tổng quát (25)
      • 2.1.2. Mục tiêu cụ thể (25)
    • 2.2. Đối tƣợng, phạm vi và giới hạn nghiên cứu (25)
      • 2.2.1. Đối tƣợng nghiên cứu (0)
      • 2.2.2. Phạm vi nghiên cứu (25)
    • 2.3. Nội dung nghiên cứu (25)
      • 2.3.1. Nghiên cứu hiện trạng hệ thống cây xanh đường phố khu vực quận Hoàn Kiếm (25)
      • 2.3.2. Đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển hệ thống cây xanh đường phố trên địa bàn nghiên cứu (25)
    • 2.4. Phương pháp nghiên cứu (26)
      • 2.4.1. Phương pháp ngoại nghiệp (26)
      • 2.4.2. Công tác nội nghiệp (27)
  • Chương 3 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN KHU VỰC NGHIÊN CỨU (28)
    • 3.1. Điều kiện tự nhiên (28)
      • 3.1.1. Vị trí địa lý (28)
      • 3.1.2. Địa hình (28)
      • 3.1.3. Khí hậu (29)
      • 3.1.4. Thổ nhƣỡng (0)
      • 3.1.5. Độ ẩm không khí (31)
      • 3.1.6. Thủy văn (31)
    • 3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội (32)
      • 3.2.1. Diện tích và dân số (32)
      • 3.2.2. Điều kiện kinh tế - xã hội (32)
      • 3.2.3. Lịch sử hình thành và phát triển (33)
      • 3.2.4. Cảnh quan thiên nhiên (34)
  • Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (35)
    • 4.1. Hiện trạng hệ thống cây xanh đường phố khu vực quận Hoàn Kiếm (35)
      • 4.1.1. Hiện trạng thành phần loài cây xanh đường phố quận Hoàn Kiếm (35)
      • 4.1.2. Hiện trạng cây xanh đường phố trên các khu vực của quận Hoàn Kiếm (38)
      • 4.2.1. Các căn cứ làm cơ sở đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển cây xanh đường phố trên địa bàn quận Hoàn Kiếm (91)
      • 4.2.2. Giải pháp bảo tồn các cá thể cây cổ thụ và cây quý hiếm (94)
      • 4.2.3. Đề xuất giải pháp phát triển cây xanh đường phố địa bàn quận Hoàn Kiếm (96)

Nội dung

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu bảo tồn và phát triển hệ thống cây xanh đô thị trên thế giới

Quá trình đô thị hóa toàn cầu đang gia tăng mạnh mẽ, với khoảng 45% dân số thế giới sống ở các thành phố vào giữa năm 1990, dự kiến tăng lên 51% vào năm 2000 và 65% vào năm 2025, theo số liệu của Liên Hiệp Quốc (1991) Tuy nhiên, sự phát triển đô thị nhanh chóng có thể gây mất cân bằng hệ sinh thái và ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển bền vững Cây xanh đô thị đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra môi trường sống tốt, và sự tham gia của cộng đồng là yếu tố then chốt để quản lý và phát triển hệ thống cây xanh này Nghiên cứu về bảo tồn và phát triển cây xanh đô thị đã trải qua nhiều giai đoạn khác nhau trên thế giới.

Trong xã hội phong kiến, các công trình kiến trúc và tôn giáo được kết hợp với cây xanh, tạo nên không gian sống hài hòa Đến thế kỷ IX, hệ thống đô thị phát triển với ba loại hình chính: đô thị tôn giáo, đô thị quân sự và đô thị thương mại Đặc biệt, không gian xanh trở nên đa dạng hơn với sự xuất hiện của các khu vực công cộng như quảng trường và cung điện.

Công tác trồng cây xanh dọc theo các tuyến đường bắt đầu có từ khoảng thế kỉ

Vào khoảng X trước Công nguyên, nhằm mục đích quân sự, cây cối đã được trồng dọc tuyến đường nối Kolkata, Ấn Độ đến Afghanistan, nằm ở chân dãy Himalaya Cây được sắp xếp thành ba hàng, với một hàng chính giữa và hai hàng bên Thời kỳ đó, tuyến đường này còn được gọi là "Grand Trunk Road" hay "Đường Cây Lớn".

Vào giữa thế kỉ VIII trước Công nguyên, tại vùng Lưỡng Hà (Mesopotamia), việc xây dựng cung điện đã dẫn đến việc trồng các hàng cây Tùng và Bách Italia theo hình thức đối xứng dọc các tuyến đường trong khu vực Đây được coi là mốc lịch sử quan trọng trong việc phát triển cây xanh đường phố ở các quốc gia châu Âu.

Từ thế kỉ VII trước Công nguyên đến thế kỉ IV Công nguyên, cây Ngô đồng Pháp được trồng hai bên các đường dạo trước sân vận động và quảng trường trước đền thờ trong thời kỳ Hi Lạp cổ đại Trong khi đó, các tuyến đường chính ở khu thành cổ La Mã chủ yếu trồng Bách Italia Từ thế kỉ V đến thế kỉ XIV, nhiều quốc gia châu Âu cũng đã lựa chọn Bách Italia để trồng trên các tuyến đường hành lễ.

Sau thời kỳ văn hóa phục hưng ở châu Âu, công tác trồng cây đường phố đã phát triển nhanh chóng Năm 1552, vua Henri 2 của Pháp đã ban hành pháp lệnh khuyến khích người dân trồng cây trên các tuyến đường chính và quốc lộ Cùng thời điểm, Đế chế Áo – Hung cũng triển khai kế hoạch trồng cây Ngô đồng Pháp dọc các tuyến đường chính nhằm bổ sung nguồn gỗ cho hoạt động quân sự.

Chủ nghĩa tư bản từ thế kỷ 17 đã thúc đẩy sự phát triển đô thị quy mô lớn, dẫn đến sự chú trọng trong nghiên cứu đô thị học và lý luận về cây xanh đô thị Năm 1647, Đức đã trồng 4-6 hàng cây bóng mát hai bên tuyến đại lộ tại thành phố Beclin, mô hình này sau đó được Pháp áp dụng để xây dựng đường Boulvars ở Paris Tại Anh, năm 1652, công viên St.Jame's Park ở London được thiết kế với các đường dạo bóng mát dài khoảng 1 km, trồng 4-6 hàng cây Ngô đồng Pháp để phục vụ Nữ Hoàng Mô hình đường cây bóng mát này sau đó đã trở thành phổ biến trong các đô thị Anh.

Nước Anh đã có nhiều đóng góp quan trọng trong nghiên cứu cây xanh đô thị Jame Lyte lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ “Nhà trồng cây” vào năm 1578 trong cuốn Dodens Đến năm 1618, William Lawson đã viết chi tiết về việc chăm sóc cây trồng đô thị trong tác phẩm “Vườn và vườn giống mới” Năm 1662, John Evelyn đã đề cập đến các lĩnh vực cây trồng, bao gồm cây lâm nghiệp và cây cảnh, trong cuốn sách Sylva, nơi ông nhấn mạnh tầm quan trọng của nghiên cứu cây trồng đường phố.

Năm 1825, Chính phủ Pháp đã ban hành pháp lệnh yêu cầu trồng cây xanh bóng mát trên các tuyến đường phố, tạo nền tảng cho việc xây dựng quy phạm kỹ thuật liên quan đến tuyển chọn cây trồng, kiểm nghiệm chất lượng cây giống, cũng như cắt tỉa và duy trì cây xanh trong các đô thị.

Vào năm 1858, kiến trúc sư Georges E.H Smann đã thiết kế tuyến đường bóng mát Champs Elysees tại thành phố Senna, tạo nên mẫu đường điển hình của thời kỳ cận đại, ảnh hưởng mạnh mẽ đến mô hình đường bóng mát ở Mỹ và châu Âu Đến năm 1872, kiến trúc sư Pierre Charles L.Enfant đã áp dụng các mẫu đường bóng mát của Pháp để thiết kế tại Washington, trong đó thực hiện thử nghiệm 30 loài cây và lựa chọn 12 loài cây phù hợp nhất cho việc trồng đường phố.

Cuộc cách mạng khoa học và kỹ thuật vào cuối thế kỷ 19 đã thúc đẩy sản xuất và làm gia tăng dân số đô thị Sự phát triển của cuộc sống công nghiệp hóa đã tạo ra nhu cầu cao về nghỉ ngơi và giải trí cho cư dân thành phố, buộc các nhà quản lý đô thị phải xem xét việc xây dựng nhiều không gian xanh hơn Việc thiết kế cần được mở rộng không chỉ trong nội đô mà còn ra ngoài khu vực ngoại ô, nơi còn nhiều đất đai dồi dào.

Châu Âu có lịch sử phong phú về thiết kế mảng xanh và quản lý cây xanh, nhưng lâm nghiệp đô thị chỉ được nghiên cứu chính thức như một lĩnh vực khoa học tại Vương quốc Anh vào thập niên 1980 Jorgensen đã giới thiệu khái niệm lâm nghiệp đô thị tại Đại học Toronto vào năm 1965, nhấn mạnh rằng lâm nghiệp đô thị không chỉ liên quan đến cây xanh trong thành phố hay quản lý cây cá thể, mà còn bao gồm việc quản lý cây xanh trong toàn bộ khu vực ảnh hưởng và sử dụng bởi cư dân đô thị.

Hiến chương lâm nghiệp phối hợp định nghĩa lâm nghiệp đô thị là việc trồng, bảo vệ và quản trị cây xanh trong các khu vực đô thị và nông thôn Tại Mỹ, diện tích phủ xanh dao động từ 55% ở Baton Rouge đến 1% ở Lancaster, với cây xanh đường phố chiếm 10% tổng số cây trong đô thị Thành phố Chicago nổi bật với khoảng 3,1 triệu cây xanh, trong đó 10% là cây xanh đường phố, đóng góp 24% vào tổng diện tích phủ xanh Ở Liên Xô cũ, công tác phát triển cây đường phố đạt nhiều thành tựu, đặc biệt sau cách mạng tháng 10, với sự kết hợp giữa các đường bóng mát và dải rừng phòng hộ, tạo thành hành lang xanh Tại Matxcova, số lượng đường bóng mát đã tăng từ 40 tuyến vào năm 1957 lên 100 tuyến vào năm 1973, góp phần bảo vệ và cải thiện môi trường đô thị.

Trong các nghiên cứu của L.B Lunx, A.C Xalatyn, L.X Dalexcaia và nhiều nhà nghiên cứu khác, đã xác định tỷ trọng cây xanh đường phố thích hợp và đề ra nguyên tắc thiết kế cây xanh Những kết quả này đã được áp dụng tại Liên Xô, Đức, Mỹ, Anh và Pháp Ở châu Á, Trung Quốc là nước có lịch sử trồng cây đường phố lâu đời nhất, với nghiên cứu của Wang Hao cho thấy việc trồng cây đã bắt đầu cách đây khoảng 3500 năm Nhật Bản cũng có lịch sử phát triển cây xanh đường phố từ đầu thế kỷ 17, đặc biệt là thành phố Sendai, nơi các lãnh chúa khuyến khích người dân trồng cây trong sân nhà và ngoài đường phố Dù bị tàn phá sau Thế chiến thứ hai, Sendai vẫn được gọi là "Thành phố của cây xanh" nhờ nỗ lực phục hồi cây xanh của cộng đồng.

Hệ thống cây xanh đường phố không chỉ tạo cảnh quan và bóng mát mà còn có nhiều lợi ích quan trọng khác, bao gồm việc giảm nhiệt độ không khí, ngăn chặn gió, và tăng độ ẩm, từ đó tác động tích cực đến chu kỳ tuần hoàn nước Cây xanh cung cấp khí ôxy, giảm lượng khí carbon, hạn chế tiếng ồn và ô nhiễm không khí, hấp thu các chất phóng xạ, đồng thời giảm nồng độ bụi và lượng vi khuẩn trong không khí.

Nghiên cứu bảo tồn và phát triển hệ thống cây xanh đô thị ở Việt Nam

Công tác trồng cây xanh ở đô thị đã có lịch sử hàng trăm năm, thể hiện sự quan tâm của cha ông trong việc xây dựng các công trình kiến trúc Mặc dù tài liệu lịch sử không còn nhiều, nhưng những thành quả từ việc trồng cây xanh vẫn tồn tại đến nay, như các đình, đền, chùa và lăng tẩm, góp phần thể hiện truyền thống và bản sắc dân tộc Việt Nam Đặc biệt, tại thành phố Huế, thời kỳ Triều Nguyễn đã chú trọng trồng cây xanh trên các con đường và trong các vườn nhà, tạo nên nét đặc trưng riêng cho vùng đất này.

Trong giai đoạn 1925-1935, Hà Nội được người Pháp phát triển thành một trong ba thành phố đẹp nhất châu Á, bên cạnh Tokyo và Thượng Hải Các kiến trúc sư Pháp đã mang đến những ý tưởng đổi mới và chọn Hà Nội làm nơi thử nghiệm cho mô hình “Thành phố – Vườn cây” Khu vườn Bách Thảo, được quy hoạch xây dựng từ năm 1896, là một phần quan trọng trong dự án này.

Từ năm 1884, Hà Nội đã bắt đầu có những bản thiết kế đường phố đầu tiên do các kỹ sư công chính thực hiện, góp phần thay đổi diện mạo của kinh thành sau nhiều biến cố lịch sử, khi chỉ còn lại làng quê với những ngôi nhà mái tranh và đường đất.

Cây Phượng vĩ là loại cây đầu tiên được trồng theo chỉ dẫn tại Hà Nội, trên phố Tràng Tiền – Hàng Khay, cùng với việc làm vỉa hè và xây nhà gạch theo quy hoạch Tuy nhiên, do tiếng ồn từ muỗi và ve sầu vào mùa hè, loại cây này đã nhanh chóng bị thay thế Để tìm kiếm các loại cây và hoa phù hợp hơn cho đô thị, vào năm 1888, người Pháp đã thành lập “Jardin d’essai” (Vườn thí nghiệm thực vật) rộng 33ha, thường được gọi là vườn Bách Thảo.

Vườn được chia thành hai khu vực: khu cao bên đường Hoàng Hoa Thám, nơi có cây cối và thú nuôi, phục vụ cho việc đi dạo và giải trí; và khu thấp bên đường Thụy Khuê, được gọi là vườn ươm Laforge, nơi ươm trồng các giống cây bản địa cũng như giống cây nhập khẩu từ Châu Phi và Châu Âu.

Năm 1902, Thành phố đã bắt đầu việc treo biển tên phố và đánh số nhà, tiếp theo vào năm 1903, quy định rằng cây xanh chỉ được trồng trên các phố có vỉa hè rộng hơn 3 mét, với tiêu chí đảm bảo bóng mát, mỹ quan và không gây hại Những người phá hoại cây sẽ bị phạt tiền và phải trồng lại đúng giống cây đó Chính quyền đã cho lát vỉa hè và trồng cây lấy bóng mát ở các phố lớn, bắt đầu với cây Xà cừ, nhưng sau đó phát hiện ra rằng cây này có nhược điểm như không chịu được đất trũng và dễ đổ khi mưa bão Ngược lại, các giống cây bản địa như Sấu, Sao đen, Cơm nguội và Sữa đỏ lại có nhiều ưu điểm vượt trội, bao gồm rễ cọc, tán gọn và khả năng chống gió tốt.

Các nhà thực vật khuyến khích trồng Xà cừ với số lượng hạn chế tại những khu vực xa công trình để tạo bóng mát Mỗi phố trong thành phố được quy định trồng một loài cây riêng, nhằm tạo nên kiến trúc phong cảnh độc đáo Ở các phố phía nam hồ Gươm, như Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo và Lê Thánh Tông, chỉ trồng cây Sấu, trong khi phố Lý Thường Kiệt trồng Cơm nguội và nửa trên phố Lò Đúc trồng cây Sao đen Các vườn hoa như Lý Thái Tổ trồng Sưa, còn vườn hoa Lênin và vườn Cửa Nam trồng Cọ Châu Phi và Muồng Cây Sấu có ưu điểm là phát triển chậm nhưng lá đẹp và chỉ rụng vào một mùa, tạo nên cảnh quan thơ mộng khi hoa rụng trắng vỉa hè với hương thơm dịu dàng Quả sấu cũng được sử dụng làm thức ăn và nước giải khát.

Hình 1.1 Hàng cây trên phố Lý Thường Kiệt 1983

(Triển lãm “ Nơi mảnh đất hóa tâm hồn “ của John Ramsden- HN 2014)

Cây Sao đen với rễ cọc và dáng thẳng tắp mang vẻ đẹp khỏe khoắn, trong khi cây Cơm nguội thể hiện sự chân chất và Cọ Châu Phi vươn cao, biểu tượng cho khát vọng tự do Hoàng lan mang đến sự sang trọng và gần gũi, trong khi cây hoa Sữa được trồng để khử mùi hôi từ nhà vệ sinh, tạo nên hương thơm lãng mạn nhưng cũng có thể trở thành nỗi khó chịu nếu ngửi thường xuyên, đồng thời thu hút muỗi và sâu bọ Nghiên cứu cho thấy việc trồng cây Sấu xen kẽ có thể giúp trung hòa mùi hương của hoa Sữa (theo Trần Huy Ánh - Một thời “thành phố trong vườn cây” của Hà Nội - VietNamNet ngày 21/03/2015).

1.2.3 Thời kỳ từ năm 1945 đến nay

Nghiên cứu lâm nghiệp đô thị đã được chú trọng trong vài chục năm qua, đặc biệt sau ngày miền Bắc được giải phóng, với nhiều tuyến đường mới và hệ thống cây xanh được xây dựng Trung ương Đảng và Chính phủ, đặc biệt là Hồ Chủ Tịch, đã quan tâm đến công tác trồng cây xanh, ban hành nhiều nghị quyết và chỉ thị nhằm thúc đẩy hoạt động này trên toàn quốc Tuy nhiên, trong bối cảnh chiến tranh tàn phá, công tác cây xanh gặp nhiều khó khăn, dẫn đến sự phát triển không đồng đều giữa các đô thị Những nơi nhận thức được lợi ích của cây xanh như Hà Nội và Hải Phòng đã có phong trào trồng cây và bảo vệ cây xanh hiệu quả, trong khi nhiều nơi khác thiếu kế hoạch và tổ chức chuyên trách Mặc dù còn tồn tại những vấn đề trong việc trồng cây không đúng tiêu chuẩn, nhưng những nỗ lực ban đầu đã mang lại kết quả tích cực, với nhiều cây bóng mát và cây cảnh được trồng, góp phần tăng diện tích cây xanh đô thị và bảo vệ môi trường sống.

Tính đến năm 1954, Hà Nội có 1.512 cây Sấu, chiếm tới 60% trong tổng số cây xanh ở bốn quận nội thành: Ba Đình, Hoàn Kiếm, Hai Bà Trƣng và Đống Đa

Song có một điều khó hiểu là cây Xà cừ có nhiều nhƣợc điểm lại đƣợc trồng khá phổ biến sau 1954

Trận bão lớn năm 1967 và 1969 đã cho thấy rằng cây Xà cừ và Phượng là những loại cây chủ yếu bị đổ Cuối thời bao cấp, do lo ngại về sâu bên trong thân cây Cơm nguội, nhiều cây đã bị chặt để thay thế bằng cây Phượng Mặc dù cây Phượng gắn liền với nhiều kỷ niệm đẹp của học trò, nhưng nó lại rất giòn và dễ gãy trong mùa mưa bão, gây nguy hiểm cho người đi đường và phương tiện giao thông.

Cây xanh đường phố là một biểu tượng đẹp của Hà Nội, nhưng để duy trì danh tiếng này, thành phố cần tiếp tục thực hiện nhiều công việc còn dang dở nhằm phát triển câu chuyện "Thành phố cây xanh".

Sau ngày giải phóng Sài Gòn năm 1975, thành phố Hồ Chí Minh có khoảng 8.000 cây xanh đường phố, chủ yếu tập trung ở quận 1, 3 và 5 Công tác chăm sóc và trồng mới cây xanh được thực hiện hàng năm, tuy nhiên, trong thập niên đầu sau 1975, tỷ lệ cây sống và phát triển tốt rất thấp do cây trồng có kích thước nhỏ và sức sống kém Chỉ một số dải cây xanh ở khu vực nội thành, đặc biệt là các tuyến đường lớn ở quận 1 và 3, phát triển tốt và tạo bóng mát cho người đi bộ.

Từ những năm 1990, kế hoạch trồng mới cây xanh đã chuyển hướng tập trung vào chất lượng thay vì số lượng, với quy cách cây lớn hơn để hỗ trợ sự sinh trưởng và phát triển, đồng thời hạn chế tác động tiêu cực đến cây xanh Tuy nhiên, theo thống kê mới nhất, diện tích công viên và cây xanh trên địa bàn thành phố đã giảm gần 50% so với năm 1998, chỉ còn khoảng 535 héc ta Tại Huế, cây xanh được trồng tại các địa điểm công cộng như công viên, đường phố và ven sông, góp phần tạo nên nét đặc trưng của thành phố Danh mục thực vật quý hiếm ở Thừa Thiên Huế ghi nhận 43 loài, trong đó nhiều loài như Chò chỉ, Kim Giao và Pơ mu đang được trồng làm cây bóng mát.

Nhiều nghiên cứu và bài viết về quy hoạch xây dựng đô thị, phát triển cây xanh, quản lý môi trường đô thị, và kiến trúc cảnh quan đã được công bố bởi các tác giả như Hàn Tất Ngạn, Phạm Kim Giao, Nguyễn Thị Thanh Thủy, Trần Hợp, Nguyễn Thế Bá, và Chế Đình Lý.

Nhà Nước đã ban hành nhiều văn bản như Nghị định 64/2010/NĐ-CP, Thông tư 20/2005/TT-BXD và Quyết định 19/2010/QĐ-UBND của UBND thành phố Hà Nội nhằm quản lý và bảo tồn hệ thống cây xanh đô thị Những quy định này không chỉ phục vụ cho công tác quản lý cây xanh tại Hà Nội mà còn góp phần phát triển hệ thống cây xanh trên toàn quốc.

Bảo tồn và phát triển cây xanh đô thị trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội

Để xây dựng thành phố Hà Nội xanh, sạch, đẹp và hiện đại, việc quy hoạch và phát triển đồng bộ hệ thống cây xanh đô thị là nhiệm vụ quan trọng Các loài cây xanh, cây bóng mát đã cải thiện môi trường và làm đẹp đường phố trong nhiều năm qua Tuy nhiên, hệ thống cây xanh hiện tại vẫn còn tồn tại một số vấn đề cần được đánh giá một cách khoa học và thực tiễn Cần bảo tồn và phát triển những loài cây có giá trị, đồng thời loại bỏ các loài cây có tác động xấu đến môi trường, thay thế bằng những cây mới phù hợp.

Trong 12 quận nội thành, quận Hoàn Kiếm đã có hệ thống cây bóng mát với số lượng lớn và phát triển tương đối ổn định đặc biệt trên các tuyến phố cổ, phố cũ Tuy nhiên trong quá trình phát triển, chất lƣợng của hệ thống cây xanh đang giảm dần do chịu tác động từ các yếu tố tự nhiên và con người Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển của xã hội, do ý thức của người dân nhiều cây cổ thụ trước cửa nhà do cản trở đến kinh doanh, buôn bán đã bị xâm hại làm cây bị chết Ngoài ra, trên nhiều tuyến đường phố người dân tự phát trồng nhiều loài cây không thuộc chủng loại cây đô thị cũng nhƣ không theo quy hoạch Nhiều cây trong quá trình phát triển chịu các tác động khách quan hoặc chủ quan làm thân cong, nghiêng, chết ngọn, sâu mục ở thân, gốc làm cây bị đổ gẫy trong mùa mƣa bão, một số cây già cỗi không phát huy hiệu quả về cảnh quan đô thị, tác dụng về môi trường, tiềm tàng mối nguy hiểm khi bị đổ, gẫy Để có đƣợc hệ thống cây xanh đạt chuẩn, đáp ứng đƣợc các yêu cầu cho sự phát triển bền vững riêng của quận Hoàn Kiếm và Thủ đô Hà Nội cần có các giải pháp bảo tồn và phát triển đồng bộ gắn với quy hoạch để phát huy đƣợc hiệu quả của hệ thống cây xanh đô thị trước mắt và lâu dài Đây là nhiệm vụ quan trọng cần được quan tâm của toàn xã hội gồm Nhà nước, các cơ quan, đoàn thể, tổ chức và người dân.

MỤC TIÊU – ĐỐI TƯỢNG – NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mục tiêu nghiên cứu

Đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững hệ thống cây xanh đường phố tại quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, nhằm nâng cao chất lượng môi trường sống và tạo cảnh quan đô thị thân thiện.

- Đánh giá được hiện trạng cây xanh trên toàn bộ các tuyến đường phố của quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội

Đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát triển hệ thống cây xanh trên các tuyến đường chính, nhằm đảm bảo tính phù hợp với điều kiện môi trường và cảnh quan của khu vực nghiên cứu.

Đối tƣợng, phạm vi và giới hạn nghiên cứu

Hệ thống cây trồng bóng mát và cây cổ thụ trên đường phố của quận Hoàn Kiếm

2.2.2 Phạm vi nghiên cứu: Đề tài thực hiện nghiên cứu hệ thống cây xanh của 152 tuyến phố, thuộc địa bàn

18 phường, trong đó khu phố cổ: 76 tuyến; khu phố cũ: 71 tuyến và khu vực phố ngoài đê: 5 tuyến.

Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Nghiên cứu hiện trạng hệ thống cây xanh đường phố khu vực quận Hoàn Kiếm

2.3.1.1 Đánh giá hiện trạng cây xanh đường phố khu vực phố cổ

2.3.1.2 Đánh giá hiện trạng cây xanh đường phố khu vực phố cũ

2.3.1.3 Đánh giá hiện trạng cây xanh đường phố khu vực phố ngoài đê

2.3.2 Đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển hệ thống cây xanh đường phố trên địa bàn nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

- Các văn bản có liên quan

- Các tài liệu kết quả nghiên cứu hệ thống cây xanh đường phố quận Hoàn Kiếm

- Các số liệu thống kê hệ thống cây xanh đường phố quận Hoàn Kiếm

- Các sơ đồ, bản đồ hiện trạng hệ thống cây xanh đường phố quận Hoàn Kiếm

2.4.1.2 Phương pháp điều tra hiện trạng

Điều tra và ghi chép hệ thống cây xanh đường phố bao gồm 76 tuyến ở khu phố cổ, 71 tuyến ở khu phố cũ và 5 tuyến ở khu phố mới ngoài đê.

- Đo đếm cụ thể và tổng hợp vào phiếu: Khảo sát hiện trạng cây xanh đường phố Nội dung đo đếm ghi chép gồm:

+ Loài cây: gồm tên thường gọi và tên địa phương

+ Đơn vị quản lý: Công ty, cơ quan, gia đình

+ Sở hữu: Nhà nước, tập thể, tư nhân

+ Số nhà: kèm theo tên, phố, đường

+ Đường kính thân cây ở độ cao 1,3m

+ Chiều cao cây: Chiều cao vút ngọn

+ Chiều cao dưới cành: Chiều cao tới chỗ phân cành lớn nhất

- Đánh giá chất lượng cho cây đường phố: tạo bóng mát, cảnh quan, chịu cắt tỉa, ít đổ gẫy, mức độ sinh trưởng, phát triển

Hình thức phối trí và thiết kế cây trồng bao gồm việc điều tra khoảng cách giữa các cây, lựa chọn phương pháp trồng trên dải đất hoặc theo hố, cũng như quyết định trồng đan xen, trồng lẫn, hoặc theo hàng và theo khóm.

Cây xanh đóng vai trò quan trọng trong mối quan hệ với con người, động vật và các cơ sở hạ tầng kỹ thuật như giao thông, điện nước và nhà cửa Việc phỏng vấn giúp thu thập ý kiến đánh giá về tác động của cây xanh đến môi trường sống và chất lượng cuộc sống Sự tương tác giữa cây xanh và các yếu tố xung quanh không chỉ tạo ra không gian sống trong lành mà còn hỗ trợ sự phát triển bền vững của đô thị.

Trong quá trình điều tra hệ thống cây xanh, chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn người dân và các chuyên gia, tập trung vào những nội dung chính liên quan đến tình trạng cây xanh và ý kiến cộng đồng.

- Vai trò cây xanh trong cảnh quan đô thị

- Ảnh hưởng của hoạt động sống con người tới sinh trưởng, phát triển cây xanh

- Mong muốn, nguyện vọng người dân về vấn đề cây xanh đường phố

- Vai trò của người dân trong bảo vệ, duy trì cây xanh

- Phỏng vấn các nhà quản lý và chuyên môn về công tác quản lý cây xanh đô thị và định hướng lựa chọn loài cây trồng…

Để nâng cao chất lượng phân tích và đánh giá, cần tìm đọc và nghiên cứu các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu Việc này giúp bổ sung thông tin và luận cứ, từ đó hỗ trợ hiệu quả trong việc xây dựng các phương án đề xuất.

- Các số liệu điều tra đƣợc tổng hợp vào máy tính và đƣợc xử lý phân tích bằng phần mềm Excel

- Phân tích đánh giá đánh giá hiện trạng cây xanh đô thị ở khu vực nghiên cứu: + Theo Phường và đường phố

+ Theo các loài cây và cấp đường kính

+ Tổng hợp đánh giá chất lƣợng cây gồm 3 cấp: Tốt (T), Trung bình (TB) và Kém (K)

Để bảo tồn và phát triển hệ thống cây xanh đô thị tại quận Hoàn Kiếm, cần tham khảo các tài liệu liên quan và đề xuất những nhóm giải pháp hiệu quả Việc này không chỉ giúp cải thiện môi trường sống mà còn nâng cao chất lượng không khí và tạo cảnh quan xanh đẹp cho khu vực.

ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN KHU VỰC NGHIÊN CỨU

Điều kiện tự nhiên

Quận Hoàn Kiếm nằm ở trung tâm của Thủ đô Hà Nội có tọa độ địa lý:

- Từ 21 0 01' đến 21 0 02' vĩ độ Bắc

- Từ 105 0 51' đến 105 0 52' kinh độ Đông Ranh giới giáp:

- Phía Tây giáp quận Đống Đa

- Phía Tây Bắc giáp quận Ba Đình và quận Đống Đa

- Phía Nam giáp quận Hai Bà Trƣng

- Dọc từ phía Bắc xuống phía Nam là sông Hồng

Quận Hoàn Kiếm, nằm ở phía Đông giáp sông Hồng và đối diện với Quận Long Biên, bao gồm 18 phường: Chương Dương, Cửa Đông, Cửa Nam, Đồng Xuân, Hàng Bạc, Hàng Bài, Hàng Bồ, Hàng Bông, Hàng Buồm, Hàng Đào, Hàng Gai, Hàng Mã, Hàng Trống, Lý Thái Tổ, Phan Chu Trinh, Phúc Tân, Tràng Tiền, và Trần Hưng Đạo Quận này có tổng diện tích là 5,287 km².

Quận Hoàn Kiếm có địa hình tương đối bằng phẳng, với độ cao dao động từ 6,5m đến 11,0m Khu vực này thoải dần từ Đông sang Tây và từ Bắc xuống Nam Qua nhiều năm xây dựng, địa hình đã được bồi nền nhân tạo cao thêm 1-2m so với mức độ tự nhiên ban đầu.

Diện tích đất chưa sử dụng tại quận chỉ khoảng 0,4 ha ở phường Chương Dương, chủ yếu nằm trong hành lang thoát lũ, khó có khả năng khai thác Điều này cho thấy tình hình sử dụng đất của quận rất hiệu quả, nhưng cũng đặt ra thách thức trong việc phát triển các dự án kinh tế - xã hội trong tương lai.

Quận Hoàn Kiếm chiếm 21,26% diện tích tự nhiên là mặt nước sông Hồng, mang lại giá trị lớn về cảnh quan và môi trường Tuy nhiên, diện tích này vẫn chưa được khai thác hiệu quả Nếu Chính phủ triển khai các biện pháp tổng thể để chỉnh trị sông Hồng, ý tưởng xây dựng thành phố ven sông sẽ được thực hiện, từ đó khai thác tiềm năng mặt nước sông Hồng nhằm phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của Hoàn Kiếm và toàn thành phố.

Khí hậu Hà Nội đặc trưng cho vùng Bắc Bộ với kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm Mùa hè tại đây nóng bức và có lượng mưa lớn, trong khi mùa đông lại lạnh và khô hơn.

Hà Nội, nằm trong vùng nhiệt đới, nhận lượng bức xạ mặt trời dồi dào quanh năm với tổng bức xạ trung bình đạt 122,8 kcal/cm² và 1641 giờ nắng Nhiệt độ không khí trung bình hàng năm là 23,6ºC, cao nhất vào tháng 6 (29,8ºC) và thấp nhất vào tháng 1 (17,2ºC) Thành phố cũng có độ ẩm cao với 79% và lượng mưa trung bình hàng năm đạt 1.800mm, tương ứng với khoảng 114 ngày mưa mỗi năm.

Quận Hoàn Kiếm, thuộc thành phố Hà Nội, có khí hậu chia thành hai mùa rõ rệt Mùa nóng kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10 với nhiệt độ cao nhất trung bình đạt 38°C và mưa nhiều nhất từ tháng 7 đến tháng 9 Trong khi đó, mùa lạnh diễn ra từ tháng 11 đến tháng 3, với nhiệt độ trung bình thấp nhất từ 8°C đến 10°C Độ ẩm trung bình hàng năm ở đây đạt 84,5%.

Biểu đồ nhiệt độ không khí trung bình các tháng (ºC)

Biểu đồ lƣợng mƣa trung bình các tháng (mm)

Một nhà khoa học nước ngoài đã nhận định rằng "Vùng Đồng bằng Sông Hồng đã chết ở tuổi vị thành niên" trong quá trình nghiên cứu của mình Hệ thống đê điều hoàn chỉnh, được xây dựng từ xa xưa để trị thủy Sông Hồng, đã che chắn toàn bộ phù sa, khiến chúng bị đẩy ra tận cửa sông Kết quả là, các loại đất trong đê gần như không còn được tiếp tế từ nguồn phù sa tự nhiên.

Phù sa Sông Hồng từ xƣa đã bồi tụ lấp vào vùng trũng giữa núi đƣợc gọi là

Vùng trũng Hà Nội có trầm tích dày, với phù sa mới rất phì nhiêu được bồi tụ tự do trước khi có đê, tạo ra đất cao hơn mực nước biển Đất ở quận Hoàn Kiếm thuộc quy luật chung của Đồng bằng Sông Hồng, chủ yếu là đất trong đê đã mất nguồn bổ sung phù sa tự nhiên Hiện tượng rửa trôi diễn ra theo chiều thẳng đứng, khiến đất trở nên nghèo kiềm và hơi chua, đồng thời ẩm ướt.

"Glây" làm cho tầng đất sét ở dưới có màu xám xanh

Sau một thời gian dài canh tác và bón phân, đất ở quận Hoàn Kiếm đã trải qua nhiều biến đổi, đặc biệt là tình trạng ngập nước và mạch nước ngầm luôn ở mức cao Đất tại đây chủ yếu là đất bồi tụ từ xa xưa, kết hợp với tác động từ các công trình xây dựng, tạo ra nhiều khó khăn trong việc trồng cây xanh bóng mát.

3.1.5 Độ ẩm không khí Độ ẩm tương đối trung bình năm là 79%, biên độ trung bình các năm không lớn, biến động từ 1 - 2%

Tháng thấp nhất vào mùa khô lạnh tới 69%, tháng ẩm nhất vào mùa mƣa nóng có thể tới 85%

Quận Hoàn Kiếm nằm dọc theo Sông Hồng, vì vậy mức nước của con sông này có ảnh hưởng lớn đến các hoạt động của quận Mực nước Sông Hồng thay đổi theo mùa, với mức trung bình hàng năm dao động từ 3,31m đến 4,43m.

Bảng 3.1: Mực nước trung bình Sông Hồng qua các năm Đơn vị: m

Mực nước Sông Hồng đang có xu hướng giảm đều đặn, dẫn đến tình trạng thiếu nước sản xuất trong mùa khô và hè, cùng với sự suy giảm của nguồn nước ngầm Trong những năm gần đây, nhiều khu vực sử dụng nước giếng khoan phải nối dài ống bơm để đảm bảo đủ nước sử dụng.

Mực nước Sông Hồng biến đổi theo mùa, với mức nước trung bình giảm trong mùa khô lạnh, gây khó khăn cho tàu thuyền di chuyển Ngược lại, vào mùa mưa, mực nước có thể đạt đỉnh 7,63m, như ghi nhận vào tháng 7 năm 2006.

Điều kiện kinh tế - xã hội

3.2.1 Diện tích và dân số

- Mật độ dân số: 33.662người/km 2

3.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Quận Hoàn Kiếm sở hữu nhiều đầu mối giao thông quan trọng như đường sắt, đường thuỷ và đường bộ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc kết nối với các quận, tỉnh, thành khác Ưu thế này không chỉ thúc đẩy giao lưu phát triển kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển văn hoá và du lịch, điều mà không phải quận nào cũng có được.

Quận Hoàn Kiếm nổi bật với sự đa dạng các ngành nghề thủ công truyền thống, sản xuất nhiều mặt hàng xuất khẩu có giá trị cao như chạm khắc, kim hoàn, may mặc, thêu, ren, đồ da, và các sản phẩm từ mây tre đan, hoa lụa, hoa giấy Đây cũng là nơi tập trung nhiều Bộ, Sở, Ban, ngành và các cơ quan quản lý Nhà nước, với 10 Bộ trong tổng số 17 Bộ Trung ương hoạt động tại khu vực này.

Hoàn Kiếm, Hà Nội, là trung tâm hành chính và chính trị của thành phố, nơi tập trung nhiều đại sứ quán và nhà riêng của các đại sứ (17 trong số 60 nước có đại sứ quán tại Hà Nội), cùng với các văn phòng đại diện nước ngoài và các cơ quan chính trị, xã hội, tôn giáo.

Quận Hoàn Kiếm nổi bật với chợ Đồng Xuân, trung tâm giao thương hàng hóa quan trọng của khu vực phía Bắc Bên cạnh chợ Đồng Xuân, khu vực này còn có nhiều chợ lớn khác như Hàng Da, Cửa Nam, Hàng Bè và các tuyến phố thương mại sầm uất như Hàng Gai, Hàng Bông, Hàng Ngang, Hàng Đào, thu hút đông đảo người dân và du khách.

Chợ Đồng Xuân là một trung tâm thương mại lớn, đóng vai trò quan trọng trong việc giao lưu hàng hóa khu vực phía Bắc, cùng với các chợ lớn như Hàng Da, Cửa Nam, Hàng Bè và các tuyến phố thương mại sầm uất như Hàng Gai, Hàng Bông, Hàng Ngang, Hàng Đào Khu vực Hoàn Kiếm đã trở thành trung tâm thương mại lớn của Hà Nội, với chợ đêm Đồng Xuân không chỉ góp phần phát triển kinh tế quận mà còn thu hút khách du lịch, thúc đẩy ngành du lịch địa phương Chợ đêm Đồng Xuân, mặc dù còn mới, nếu được phát huy hiệu quả, sẽ khẳng định vị trí trung tâm thương mại của Hoàn Kiếm và thu hút thêm nhiều du khách.

Thời gian gần đây, Quận Hoàn Kiếm đã chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực cho thuê văn phòng nhờ vào vị trí địa lý thuận lợi và sự đầu tư vào các công trình cao ốc nổi tiếng như Hà Nội Tower Nhu cầu của các cơ quan, đơn vị muốn đặt văn phòng tại đây đã thúc đẩy dịch vụ cho thuê văn phòng phát triển, biến Hoàn Kiếm thành khu vực có tiềm năng lớn cho dịch vụ cao cấp Sự phát triển này không chỉ tạo ra bộ mặt mới, văn minh cho quận mà còn khẳng định vị thế trung tâm dịch vụ của Hoàn Kiếm bên cạnh những công trình kiến trúc cổ kính.

Quận Hoàn Kiếm, với hệ thống các trung tâm tài chính và ngân hàng đầu não tập trung, sở hữu tiềm năng phát triển mạnh mẽ trong các giao dịch kinh tế tài chính.

Trong 10 năm tới, quận Hoàn Kiếm sẽ trở thành trung tâm tài chính lớn của Hà Nội nhờ vào việc cải cách chính sách tài chính ngân hàng và sự phát triển của các thành phần kinh tế Đây sẽ là một loại hình dịch vụ cao cấp, dựa trên trí thức và sự tiến bộ của nền kinh tế Với vị trí trung tâm thành phố và vai trò là trung tâm hành chính, chính trị, thương mại và dịch vụ, Hoàn Kiếm có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội.

3.2.3 Lịch sử hình thành và phát triển

Quận Hoàn Kiếm luôn là trung tâm của Hà Nội và của Việt Nam, đƣợc hình thành cách đây gần 1000 năm, có một bề dày lịch sử phát triển

Khu phố cổ Hà Nội, được hình thành từ đầu thế kỷ XIX dưới triều Nguyễn, nổi bật với sự xây dựng của Hoàng Thành và Kinh Thành Nơi đây còn có nhiều công trình văn hóa tâm linh như đình Kim Ngân, chùa Báo Ân, chùa Báo Thiên, đền Vua Lê, đền Ngọc Sơn và đền Bà Triệu, tạo nên một bức tranh văn hóa phong phú và đa dạng.

Từ năm 1886, quận Hoàn Kiếm đã được phát triển theo phong cách châu Âu với hệ thống đường phố hình bàn cờ phía Nam hồ Hoàn Kiếm Giai đoạn này đánh dấu sự chuyển mình trong kiến trúc đô thị, với nhiều công trình mang đậm dấu ấn kiến trúc Pháp, tạo nên vẻ đẹp độc đáo cho khu vực.

Từ năm 1955, đặc biệt sau năm 1975, quận Hoàn Kiếm đã chú trọng vào việc phát triển ra ngoài đê, dẫn đến sự hình thành các khu nhà ở tập thể cho các cơ quan.

Quận Hoàn Kiếm được phân chia rõ ràng theo từng giai đoạn lịch sử, mỗi giai đoạn mang đến những đặc điểm riêng biệt.

Khu phố cổ Hà Nội bao gồm các phường nổi bật như Hàng Bạc, Hàng Bồ, Hàng Đào, Cửa Đông, Hàng Buồm, Hàng Mã, Hàng Gai, Đồng Xuân và một phần của hai phường Lý Thái Đây là những địa điểm mang đậm dấu ấn văn hóa và lịch sử của thủ đô.

- Khu phố cũ: gồm các phường Cửa Nam, Trần Hưng Đạo, Phan Chu Trinh, Tràng Tiền, Lý Thái Tổ, Hàng Bông, Hàng Trống, Hàng Bài

- Khu ngoài đê: gồm 2 phường Phúc Tân và Chương Dương

Quận Hoàn Kiếm nổi bật với bề dày lịch sử và sự tập trung của các khu phố cổ, tạo nên một lợi thế đặc biệt trong việc phát triển dịch vụ, thương mại và du lịch.

Quận Hoàn Kiếm nổi tiếng với Hồ Gươm, được coi là "viên ngọc quý của Thủ đô" và là một di tích lịch sử quan trọng Hồ Gươm có diện tích 130.000 m2 mặt nước và 32.250 m2 cây xanh, tạo nên một cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn giữa lòng Hà Nội Bên cạnh đó, những vườn hoa lớn xung quanh hồ không chỉ làm tăng vẻ đẹp của Thủ đô mà còn góp phần thu hút du lịch sinh thái - văn hoá.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Hiện trạng hệ thống cây xanh đường phố khu vực quận Hoàn Kiếm

4.1.1 Hiện trạng thành phần loài cây xanh đường phố quận Hoàn Kiếm

Kết quả điều tra cây xanh trên 152 tuyến phố tại quận Hoàn Kiếm cho thấy có hơn 7.000 cây thuộc 44 loài và 21 họ thực vật Nhiều loài cây trong số này gắn liền với lịch sử phát triển của Hà Nội, bao gồm Hoa sữa, Cơm nguội, Bàng, Xà cừ, Phượng vĩ, Lộc vừng, Nhội, Si, Sấu, Sưa, và Thàn mát.

2 Họ Bồ hòn Sapindaceae 1 loài

3 Họ Dâu tằm Moraceae 5 loài

9 Họ Ngọc Lan Magnoliaceae 2 loài

11 Họ Long não Lauraceae 1 loài

12 Họ Lộc vừng Lecythidaceae 1 loài

14 Họ Thầu dầu Euphorbiaceae 2 loài

16 Họ trinh nữ Mimosaceae 1 loài

17 Họ Tử vi Lythraeae 1 loài

18 Họ Trúc đào Apocynaceae 1 loài

Thành phần loài, tỉ lệ, tình hình sinh trưởng của một số loài cây chủ yếu trên đường phố quận Hoàn Kiếm được thể hiện trong bảng 4.1

Bảng 4.1: Tổng hợp thành phần loài và tình hình sinh trưởng các loài cây chủ yếu trên đường phố quận Hoàn Kiếm

STT Loài cây Tên khoa học

9 Dâu da Spondias lakonensis 244 3,43 12,42 2,30 3,76 1,23 TB

STT Loài cây Tên khoa học

13 Trứng cá Muntingia calabura 77 1,08 17,60 3,47 6,08 2,74 TB

Cây khác có số lƣợng ít

Hệ thống cây xanh đô thị tại quận Hoàn Kiếm đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển, hình thành từ những thời kỳ lịch sử khác nhau của Thủ đô.

Hà Nội, với sự hình thành và phát triển rõ nét từ cuối thế kỷ 19 trong thời kỳ Pháp thuộc, nổi bật với khu phố cổ chứa đựng nhiều cây cổ thụ lâu năm trên trăm tuổi Những loài cây như Bằng lăng, Bàng, Lim xẹt, Phượng vĩ, Xà cừ, và Sấu đã trở thành biểu tượng xanh truyền thống của thành phố.

Kể từ năm 1954, các khu phố cũ vẫn giữ được đặc trưng của hệ thống cây xanh từ thời Pháp Tuy nhiên, sự phát triển đô thị với các công trình xây dựng và giao thông mạnh mẽ đã ảnh hưởng đến hệ thống cây xanh, dẫn đến sự suy giảm đáng kể về số lượng cây xanh trên các đường phố.

Từ bảng 4.1 cho thấy số lượng loài cây trồng trên các đường phố lớn có tới

44 loài, trong đó 21 loài có số lƣợng lớn, 23 loài còn lại chỉ có 126 cây (1,77%) Những loài cây có số lƣợng lớn nhƣ Bằng lăng (1.178 cây), Xà cừ (1.106 cây), Sấu

Trong số 44 loài cây khảo sát, có 857 cây Lim xẹt, 724 cây Phượng vĩ, 601 cây Bàng, 563 cây Chẹo, 421 cây Hoa sữa và 350 cây Dâu da Những loài cây này thể hiện khả năng thích nghi tốt với điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng hiện tại Bên cạnh đó, một số cây do người dân tự trồng như Dâu da, Trứng cá, Dướng và Vông không nằm trong danh mục cây trồng đô thị, gây lộn xộn và ảnh hưởng đến cảnh quan Trong số 44 loài, có 10 loài cây rụng lá (chiếm 22,72%) và 5 loài có hoa đẹp (chiếm 23,80%) Tuy nhiên, cũng có 7 loài cây không phù hợp để trồng trên đường phố (chiếm 11,36%).

4.1.2 Hiện trạng cây xanh đường phố trên các khu vực của quận Hoàn Kiếm

4.1.2.1 Đánh giá hiện trạng hệ thống cây xanh đường phố khu vực phố cổ

Khu phố cổ Hà Nội bao gồm 76 tuyến phố thuộc 10 phường: Hàng Đào, Hàng Bạc, Hàng Buồm, Hàng Bồ, Hàng Bông, Hàng Gai, Hàng Mã, Đồng Xuân, Cửa Đông, và Lý Thái Tổ, theo quyết định số 70/BXD/KT-QH ngày 30 tháng 3 năm 1995 của Bộ Xây dựng Mặc dù còn nhiều phố cổ nằm ngoài khu vực này, nhưng đây là nơi tập trung nhiều phố cổ nhất và giữ được các đặc trưng văn hóa, vì vậy khu vực theo quy định được bảo tồn và gìn giữ như khu phố cổ chính thức.

Khu phố cổ, được quy hoạch và thiết kế từ thời Pháp, nổi bật với những ngôi nhà kết hợp cửa hàng bán hàng truyền thống Mật độ xây dựng cao với các khu nhà dạng ống và hệ thống đường giao thông nhỏ, hẹp, ngắn theo kiểu ô bàn cờ Vỉa hè hai bên đường có độ rộng khác nhau, tạo nên nét đặc trưng riêng Hiện nay, các tuyến phố cổ đã được Thành phố cải tạo với việc lát đá hè, nâng cao mỹ quan đô thị.

Các tuyến phố có mặt cắt ngang vỉa hè từ 1-2m bao gồm 17 tuyến: Chả Cá, Chợ Gạo, Đào Duy Từ, Đông Thái, Hà Trung, Hàng Cá, Hàng Cân, Hàng Chai, Hàng Giầy, Hàng Quạt, Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Quang Bích, Ngõ Trạm, Nhà Hỏa, Thanh Hà, Tô Tịch, và Yên Thái.

Có 36 tuyến phố có mặt cắt ngang hè từ 2 - 2,5m, bao gồm: Bát Đàn, Bát Sứ, Cầu Đông, Cầu Gỗ, Đinh Liệt, Đồng Xuân, Gầm Cầu, Gia Ngư, Hàng Bè, Hàng Bồ, Hàng Buồm, Hàng Bút, Hàng Chĩnh, Hàng Da, Hàng Đào, Hàng Đậu, Hàng Điếu, Hàng Đồng, Hàng Đường, Hàng Giấy, Hàng Hòm, Hàng Khoai, Hàng Ngang, Hàng Nón, Hàng Phèn, Hàng Rươi, Hàng Thiếc, Hàng Tre, Hàng Vải, Lò Rèn, Lương Ngọc Quyến, Lương Văn Can, Ngõ Gạch, Nguyễn Thiện Thuật, Tạ Hiện, và Thuốc Bắc.

Các tuyến phố có mặt cắt ngang hè 3,0m gồm 16 tuyến phố: Cao Thắng, Hàng Bạc, Hàng Bông, Hàng Chiếu, Hàng Gà, Hàng Gai, Hàng Lược, Hàng Mã, Hàng Mắm, Hàng Mành, Hàng Thùng, Lãn Ông, Mã Mây, Nguyễn Siêu, Nguyễn Thiếp và Ô Quan Chưởng.

- Các tuyến phố có mặt cắt ngang hè trên 3,0m - 4,5m (04 tuyến phố): Đường Thành, Hàng Cót, Hàng Muối, Phùng Hƣng

- Riêng phố Nguyễn Hữu Huân có mặt cắt ngang hè từ 5-6m, phố Cửa Đông có mặt cắt ngang hè rộng 7m

Trên hè phố, có nhiều công trình giao thông và dân sinh như hệ thống điện, điện thoại, cấp thoát nước, cáp thông tin và điện lực Trong quá trình thi công, việc đào bới làm cắt đứt rễ ngang của cây, dẫn đến giảm khả năng hút nước và dinh dưỡng, làm cây dễ đổ trong mùa mưa bão Thêm vào đó, người dân thường cơi nới mái đua, mái vẩy, ban công, đặt biển quảng cáo và sử dụng hè trước nhà cho mục đích kinh doanh, ảnh hưởng đến chất lượng cây xanh hiện có và gây khó khăn trong việc trồng thêm cây Để đánh giá tình trạng hệ thống cây xanh bóng mát tại khu phố cổ, tác giả sẽ nghiên cứu và phân tích một số tuyến phố chính.

Chiều dài tuyến phố là 510 m, mặt cắt ngang hè trung bình 5,5m Trên hè có

91 cây bóng mát thuộc 13 loài cây, trong đó những loài có số lƣợng lớn nhƣ: Chẹo

Trong tổng số cây được khảo sát, cây Chiêu liêu chiếm 26,37% với 24 cây, tiếp theo là cây Xà cừ với 19,78% (18 cây), cây Lim xẹt chiếm 17,58% (16 cây), và cây Bằng lăng chiếm 10,99% (10 cây) Đặc biệt, nhóm cây có kích thước lớn gồm Xà cừ với đường kính 1,3m đạt 73,17 cm, chiều cao trung bình 17,53 m, và đường kính tán 6,62 m, cùng với cây Đa lông.

Tuyến phố có vỉa hè rộng 55 cm, với chiều cao cây là 11 m và đường kính thân cây 6 m Tuy nhiên, nhiều cửa hàng kinh doanh đã lấn chiếm vỉa hè để đậu xe máy và đặt đồ dùng sát gốc cây, gây ảnh hưởng trực tiếp đến sự sinh trưởng của cây.

Bảng 4.2: Hiện trạng cây xanh trên phố Nguyễn Hữu Huân

Hệ thống cây xanh bóng mát tại khu vực được khảo sát cho thấy sự sinh trưởng và phát triển tốt với đa dạng chủng loại, phù hợp cho không gian đường phố và tạo nên cảnh quan kiến trúc đẹp Tuy nhiên, trong tổng chiều dài 510m, có đến 13 loài cây, trong đó 8 loài chỉ có dưới 3 cá thể Để đảm bảo tính đồng nhất cho tuyến phố, cần hướng tới việc phát triển một số loài cây trồng chính trong tương lai.

Tuyến phố có chiều dài 1.350 m và mặt cắt ngang hè trung bình 4,0 m, với 251 cây bóng mát thuộc 14 loài khác nhau Trong đó, cây Sữa chiếm 22,31% (56 cây), Bằng lăng 20,32% (51 cây) và Bàng 18,73% (47 cây) Các cây lớn bao gồm Xà cừ với đường kính 1,3 m là 67,28 cm, chiều cao 12,68 m, và đường kính tán 7,07 m; Đa lông với đường kính 1,3 m là 64,29 cm, chiều cao 8,86 m, và đường kính tán 6,33 m; Si với đường kính 1,3 m là 53,75 cm, chiều cao 8,38 m, và đường kính tán 5,33 m; Bàng với đường kính 1,3 m là 51,91 cm, chiều cao 9,60 m, và đường kính tán 5,71 m Đây là tuyến phố dài nhất trong khu vực phố cổ, với đoạn hè dài khoảng 800 m sát đường tàu và không có nhà dân.

Bảng 4.3: Hiện trạng cây xanh trên phố Phùng Hƣng

Ngày đăng: 22/06/2021, 06:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Xây dựng (2005), Thông tư số 20/2005/TT-BXD ngày 20/12/2005 Hướng dẫn quản lý cây xanh đô thị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 20/2005/TT-BXD ngày 20/12/2005 Hướng dẫn quản lý cây xanh đô thị
Tác giả: Bộ Xây dựng
Năm: 2005
2. Chính phủ Việt Nam (1975), Chỉ thị số 45-TTg ngày 8/3/1975 của Thủ tướng Chính phủ về công tác trồng cây xanh ở các đô thị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 45-TTg ngày 8/3/1975 của Thủ tướng Chính phủ về công tác trồng cây xanh ở các đô thị
Tác giả: Chính phủ Việt Nam
Năm: 1975
3. Chính phủ Việt Nam (2010), Nghị định số 64/NĐ-CP ngày 11/06/2010 của Chính phủ về Quản lý cây xanh đô thị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 64/NĐ-CP ngày 11/06/2010 của Chính phủ về Quản lý cây xanh đô thị
Tác giả: Chính phủ Việt Nam
Năm: 2010
4. Chính phủ Việt Nam (2010), Quyết định số 84/QĐ-TTg ngày 26/07/2011 của Thủ tướng chính phủ về phê duyệt quy hoạch chung xây dựng thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 84/QĐ-TTg ngày 26/07/2011 của Thủ tướng chính phủ về phê duyệt quy hoạch chung xây dựng thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050
Tác giả: Chính phủ Việt Nam
Năm: 2010
5. Chính phủ (1998), Quyết định số 108/1998/QĐ-TTg ngày 20/6/1998 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 108/1998/QĐ-TTg ngày 20/6/1998 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến năm 2020
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1998
6. Ngô Quang Đê (2004), “Cây xanh đô thị hiện trạng và một số giải pháp”, Tạp chí Việt Nam Hương Sắc (Số 8), Tr 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây xanh đô thị hiện trạng và một số giải pháp”, "Tạp chí Việt Nam Hương Sắc
Tác giả: Ngô Quang Đê
Năm: 2004
7. Đặng Văn Hà (2016), Giáo trình thiết kế cảnh quan cây xanh, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình thiết kế cảnh quan cây xanh
Tác giả: Đặng Văn Hà
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 2016
8. Trần Hợp (1998), Cây xanh & cây cảnh Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb. Nông nghiệp, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây xanh & cây cảnh Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Trần Hợp
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 1998
9. Nguyễn Văn Huy (2004), Cây đô thị, Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây đô thị
Tác giả: Nguyễn Văn Huy
Năm: 2004
10. Triệu Văn Hùng (2000), Tên cây rừng Việt Nam, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tên cây rừng Việt Nam
Tác giả: Triệu Văn Hùng
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 2000
11. Chế Đình Lý (1997), Cây xanh phát triển và quản lý trong môi trường đô thị, Nxb. Nông nghiệp, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây xanh phát triển và quản lý trong môi trường đô thị
Tác giả: Chế Đình Lý
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 1997
12. Trần Viết Mĩ (2001), Nghiên cứu cơ sở quy hoạch cây xanh và các loài cây trồng phù hợp quá trình đô thị hoá thành phố Hồ Chí Minh, Luận án tiến sĩ Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cơ sở quy hoạch cây xanh và các loài cây trồng phù hợp quá trình đô thị hoá thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Trần Viết Mĩ
Năm: 2001
13. Đoàn Thu Trang (2003), Tổ chức kiến trúc cảnh quan trong các khu ở của Hà Nội nhằm nâng cao chất lượng môi trường sống đô thị, Luận án tiến sĩ kiến trúc, trường Đại học Xây Dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức kiến trúc cảnh quan trong các khu ở của Hà Nội nhằm nâng cao chất lượng môi trường sống đô thị
Tác giả: Đoàn Thu Trang
Năm: 2003
14. Lê Phương Thảo – Phạm Kim Giao (1980), Cây trồng đô thị tập 1, Nxb. Xây dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây trồng đô thị tập 1
Tác giả: Lê Phương Thảo – Phạm Kim Giao
Nhà XB: Nxb. Xây dựng
Năm: 1980
15. Nguyễn Nghĩa Thìn (2007), Các phương pháp nghiên cứu Thực vật, Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp nghiên cứu Thực vật
Tác giả: Nguyễn Nghĩa Thìn
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia
Năm: 2007
16. Tổng cục Môi trường (2010), Chương trình quan trắc tổng thể môi trường vùng kinh tế trọng điểm phía bắc giai đoạn 2010 – 2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình quan trắc tổng thể môi trường vùng kinh tế trọng điểm phía bắc giai đoạn 2010 – 2015
Tác giả: Tổng cục Môi trường
Năm: 2010
17. Nguyễn Ngọc Tiệp (2012), Nghiên cứu chọn loài cây trồng và giải pháp phát triển cây đường phố cho thành phố Thanh Hóa, Luận văn thạc sỹ khoa học lâm nghiệp, trường Đại học Lâm Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chọn loài cây trồng và giải pháp phát triển cây đường phố cho thành phố Thanh Hóa
Tác giả: Nguyễn Ngọc Tiệp
Năm: 2012
18. UBND Thành phố Hà Nội (2000), Quyết định số 68/2000/QĐ-UB ngày 5/8/2000 về Phê duyệt quy hoạch tổng thể quận Hai Bà Trưng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 68/2000/QĐ-UB ngày 5/8/2000 về Phê duyệt quy hoạch tổng thể quận Hai Bà Trưng đến năm 2020
Tác giả: UBND Thành phố Hà Nội
Năm: 2000
19. UBND thành phố Hà Nội (2010), Quyết định số 19/2010/QĐ-UBND ngày 14/5/2010 về ban hành quy định về quản lý hệ thống cây xanh đô thị, công viên, vườn hoa, vườn thú trên địa bàn thành phố, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 19/2010/QĐ-UBND ngày 14/5/2010 về ban hành quy định về quản lý hệ thống cây xanh đô thị, công viên, vườn hoa, vườn thú trên địa bàn thành phố
Tác giả: UBND thành phố Hà Nội
Năm: 2010
20. UBND thành phố Hà Nội (2013), Kế hoạch số 134/KH-UBND ngày 16/8/2013 về đầu tư phát triển hệ thống cây xanh, công viên, vườn hoa, hồ nước thành phố Hà Nội giai đoạn đến năm 2015, Hà Nội.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch số 134/KH-UBND ngày 16/8/2013 về đầu tư phát triển hệ thống cây xanh, công viên, vườn hoa, hồ nước thành phố Hà Nội giai đoạn đến năm 2015
Tác giả: UBND thành phố Hà Nội
Năm: 2013

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w