1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu nguyên nhân mất rừng và suy thoái rừng làm cơ sở đề xuất giải pháp bảo vệ và phát triển rừng tại tỉnh thanh hóa​

125 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 3,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 1 CHDCND Cộng hòa dân chủ nhân dân 2 CIFOR Trung tâm nghiên cứu rừng quốc tế 14 REDD+ Sáng kiến giảm khí nhà kính do mất, suy thoái rừng; quản lý tài nguyên rừn

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Luận văn được hoàn thành theo khung chương trình đào tạo cao học khóa 21A1.1 Lâm học – Phòng đào tạo sau đại học - Trường Đại học Lâm nghiệp

Nhân dịp này, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Đào Công Khanh và TS Đỗ Anh Tuân là những thầy giáo đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo, động viên tác giả trong suốt quá trình học tập cũng như trong quá trình thực hiện luận văn

Đồng thời, tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn đến Ban giám hiệu Trường Đại học Lâm nghiệp, Phòng đào tạo sau đại học, các thầy cô đã tận tình trang

bị kiến thức chuyên môn trong thời gian tác giả học tập tại trường, các đồng nghiệp cùng thực hiện khảo sát thực địa, các cán bộ tỉnh Thanh Hóa cùng cộng đồng dân cư địa phương tại các huyện Như Xuân, Mường Lát, Lang Chánh đã tạo điều kiện cho tác giả thu thập số liệu, hoàn thành luận văn này

Với tinh thần cầu thị, tác giả mong muốn nhận được ý kiến đóng góp quý báu của quý thầy cô, các nhà khoa học và bạn bè đồng nghiệp để bản luận văn được hoàn thiện hơn

Tôi xin cam đoan các kết quả, số liệu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 30 tháng 11 năm 2015

Tác giả

Trần Hồng Vân

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cảm ơn i

Mục lục ii

Danh mục các từ viết tắt iii

Danh mục các bảng iv

Danh mục các hình vi

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Trên thế giới 3

1.2 Tại Việt Nam 11

1.3 Những kết luận rút ra phục vụ cho nghiên cứu 20

Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

2.1 Mục tiêu nghiên cứu 23

2.1.1 Mục tiêu chung 23

2.1.2 Mục tiêu cụ thể 23

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 23

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 23

2.2.2 Phạm vi nghiên cứu 23

2.3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 24

2.3.1 Nội dung nghiên cứu 24

2.3.2 Phương pháp nghiên cứu 24

Chương 3 ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 28

3.1 Điều kiện tự nhiên 28

Trang 3

3.1.1 Vị trí địa lý, ranh giới, diện tích 28

3.1.2 Địa hình 28

3.1.3 Đất đai 29

3.1.4 Khí hậu 30

3.1.5 Thủy văn 31

3.1.6 Tài nguyên rừng 31

3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội ………33

3.2.1 Dân cư, dân số, dân tộc, lao động 33

3.2.2 Tình hình phát triển kinh tế chung của tỉnh 34

3.2.3 Cơ sở hạ tầng 36

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 38

4.1 Diễn biến hiện trạng tài nguyên rừng tỉnh Thanh Hóa 38

4.1.1 Hiện trạng tài nguyên rừng 38

4.1.2 Diễn biến mất rừng và suy thoái rừng 43

4.2 Nguyên nhân trực tiếp gây mất rừng và suy thoái rừng 49

4.2.1 Chuyển đổi rừng tự nhiên sang trồng Cao su, cây công nghiệp và cây lâm nghiệp 50

4.2.2 Chuyển đổi rừng tự nhiên sang trồng cây nông nghiệp 57

4.2.3 Chuyển đổi đất rừng sang xây dựng thủy điện và cơ sở hạ tầng 59 4.2.4 Khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ không bền vững 63

4.2.5 Cháy rừng 67

4.2.6 Thiên tai, sâu bệnh 68

4.2.7 Khai thác khoáng sản 69

4.3 Nguyên nhân gián tiếp gây mất rừng và suy thoái rừng 70

4.3.1 Chính sách 70

4.3.2 Năng lực các cấp quản lý rừng thấp 72

4.3.3 Số lượng và chất lượng cán bộ có chuyên môn thấp 73

Trang 4

4.3.4 Nhận thức của cộng đồng liên quan đến rừng chưa đầy đủ 73

4.3.5 Thiếu kinh phí bảo vệ và phát triển rừng 74

4.3.6 Đặc điểm văn hóa- xã hội 75

4.4 Đề xuất các nhóm giải pháp hạn chế các nguyên nhân mất rừng và suy thoái rừng tại tỉnh Thanh Hóa 75

4.4.1 Giải pháp về chính sách 75

4.4.2 Rà soát và nâng cao năng lực các bên liên quan 77

4.4.3 Nâng cao quyền hạn & trách nhiệm của chủ rừng, cộng đồng 79

4.4.4.Nghiên cứu khoa học và ứng dụng khoa học công nghệ trong điều tra giám sát tài nguyên rừng, quản lý, bảo vệ và phát triển rừng 80

KẾT LUẬN, TỒN TẠI, KHUYẾN NGHỊ 90

1 Kết luận……….90

2 Tồn tại ……… 90

3 Khuyến nghị ……… ……… 91 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1 CHDCND Cộng hòa dân chủ nhân dân

2 CIFOR Trung tâm nghiên cứu rừng quốc tế

14 REDD+ Sáng kiến giảm khí nhà kính do mất, suy thoái rừng;

quản lý tài nguyên rừng bền vững; bảo tồn và nâng cao trữ lượng các-bon rừng tại nước đang phát triển

16 RPH ĐN Rừng phòng hộ đầu nguồn

17 UBND Ủy ban nhân dân

18 UNESCO Tổ chức liên hợp quốc về giáo dục, khoa học và văn hóa

19 USAID Cơ quan phát triển quốc tế Mỹ

20 VFD Dự án rừng và đồng bằng Việt Nam

21 VHXH Văn hóa xã hội

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

1.1 Mức độ tác động của cộng đồng địa phương tại khu vực

1.2 Nguyên nhân dẫn đến những tác động bất lợi của cộng

1.3 Tổng hợp nguyên nhân mất rừng và suy thoái rừng trên

4.1 Hiện trạng đất lâm nghiệp tỉnh Thanh Hóa 35

4.2 Kết quả phát triển rừng tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 1998 –

4.3 Diễn biến suy thoái rừng tự nhiên lá rộng thường xanh 44

4.5 Tổng hợp mất rừng do chuyển đổi rừng tự nhiên sang

trồng cây Cao su, cây công nghiệp, lâm nghiệp 47

4.6 Tổng hợp thông tin phỏng vấn nguyên nhân mất rừng và

suy thoái rừng do chuyển sang trồng Cao su 48

4.7 Tổng hợp thông tin phỏng vấn nguyên nhân mất rừng và

suy thoái rừng do chuyển sang trồng cây lâm nghiệp 48

4.8 Kế hoạch trồng rừng mới và cải tạo rừng sản xuất giai

4.9 Tổng hợp thông tin phỏng vấn nguyên nhân mất rừng và

suy thoái rừng do chuyển sang canh tác nương rẫy 55

4.10

Tổng hợp thông tin phỏng vấn nguyên nhân mất rừng và

suy thoái rừng do xây dựng các công trình thủy lợi, thủy

điện

56

Trang 7

TT Tên bảng Trang

4.11 Tổng hợp thông tin phỏng vấn nguyên nhân mất rừng và

suy thoái rừng do xây dựng cơ sở hạ tầng, đô thị hóa 58

4.12

Tổng hợp thông tin phỏng vấn nguyên nhân mất rừng và

suy thoái rừng do khai thác hợp pháp nhưng lạm dụng,

không bền vững

59

4.13 Tổng hợp thông tin phỏng vấn nguyên nhân mất rừng và

suy thoái rừng do khai thác bất hợp pháp 61 4.14 Tỷ lệ các hộ dân khai thác lâm sản ngoài gỗ 62

4.15 Tổng hợp thông tin phỏng vấn nguyên nhân mất rừng và

suy thoái rừng do khai thác khoáng sản 64 4.16 Tóm tắt các nguyên nhân mất rừng và suy thoái rừng, các

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

1.1 Đánh giá mức độ quan trọng của các nguyên nhân gây mất

1.2 Tỷ lệ mức độ ảnh hưởng của các nguyên nhân trực tiếp đến

4.7 Diện tích chuyển đổi các loại rừng theo số liệu dự án VFD 43

4.9 Các giải pháp hạn chế nguyên nhân mất và suy thoái rừng tại

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Biến đổi khí hậu đang là một trong những thách thức lớn trong tiến trình phát triển của Việt Nam Để giảm nhẹ và thích ứng với biến đổi khí hậu cũng như quản lý những rủi ro do thiên tai gây ra, rất cần có sự nỗ lực từ nhiều ngành nhằm làm hạn chế ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến an toàn môi trường, an ninh lương thực, sinh kế và sinh mạng của người dân Biến đổi khí hậu được xem như là hậu quả của việc gia tăng phát thải khí nhà kính từ các nước có nền công nghiệp phát triển, từ đó trở thành thách thức của toàn cầu Việt Nam là một nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình, phát thải khí nhà kính từ công nghiệp, năng lượng, giao thông và sản xuất nông nghiệp

sẽ tăng lên và dự báo trong tương lai, lượng khí thải từ các nguồn này rất lớn Tuy nhiên, sức ép đáng kể nhất gây ra phát thải phải kể đến tình trạng mất rừng và suy thoái rừng, đặc biệt là những khu vực rừng tự nhiên có giá trị đa dạng sinh học cao của Việt Nam Tài nguyên rừng tại Việt Nam đã và vẫn đang có hiện tượng mất và suy thoái tại nhiều nơi, từ đó câu hỏi đặt ra là nguyên nhân tại sao hiện tượng này vẫn xảy ra phổ biến? Câu trả lời cho vấn

đề này cũng chính là cơ sở lý luận cho công tác bảo vệ và phát triển rừng, phục hồi các diện tích rừng đã mất Trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp xúc với rất nhiều cơ hội hướng tới phát triển bền vững, hưởng lợi từ hấp thụ các- bon và dịch vụ hệ sinh thái thì việc bảo vệ, phục hồi và phát triển rừng là chìa khóa cho tăng trưởng kinh tế, đảm bảo cải thiện mức sống của người dân, trong khi đó vẫn đóng góp vào việc giảm phát thải khí toàn cầu và thích ứng với biến đổi khí hậu

Tỉnh Thanh Hóa nằm ở vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam, có tổng diện tích

tự nhiên là 1.113.193 ha với ba vùng địa lý chính là vùng ven biển, đồng bằng

và miền núi, có đường bờ biển dài 102 km Diện tích đất có rừng tại toàn tỉnh Thanh Hóa là 627.444 ha (tương ứng với 56% tổng diện tích tự nhiên), tuy

Trang 10

nhiên trong vòng 5 năm trở lại đây, Thanh Hóa thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai, bão lũ, thủy triều dâng và xâm nhập mặn, gây thiệt hại cả về người và của, phá hủy mùa màng Theo dự đoán, Thanh Hóa sẽ chịu ảnh hưởng mạnh hơn do tác động của biến đổi khí hậu bao gồm việc nóng lên toàn cầu, nước biển dâng và các hiện tượng thời tiết cực đoan [2] Mặc dù hiện tượng phá rừng ở quy mô lớn hầu như không còn xảy ra ở Thanh Hóa và

độ che phủ rừng đã tăng ở hầu hết các huyện trong tỉnh, chất lượng rừng vẫn giảm và vẫn còn hiện tượng săn bắn động vật hoang dã, khai thác không bền vững lâm sản ngoài gỗ và sản phẩm gỗ có giá trị cao, việc mất rừng có thể vẫn diễn ra cục bộ ở nhiều nơi Vì vậy, việc xác định các nguyên nhân gây ra mất rừng và suy thoái rừng, đưa ra các giải pháp gắn với thực tiễn là rất cần thiết

Xuất phát từ vấn đề trên, đề tài: “Nghiên cứu nguyên nhân mất rừng

và suy thoái rừng làm cơ sở đề xuất giải pháp bảo vệ và phát triển rừng tại tỉnh Thanh Hóa” đã được thực hiện trong khuôn khổ một luận văn thạc

sỹ khoa học lâm nghiệp

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Trên thế giới

Việc nghiên cứu về nguyên nhân mất rừng (Deforestation) và suy thoái rừng (Forest degradation) đã được quan tâm rất nhiều bởi các cá nhân, tổ chức khác nhau trên thế giới

Tiêu biểu là các nghiên cứu về nguyên nhân mất rừng và suy thoái rừng tại một số châu lục Sau khi tổng hợp và phân tích nguyên nhân mất rừng tại Châu Phi, Châu Mỹ và Châu Á, nhiều tác giả cho rằng sản xuất nông nghiệp

là nguyên nhân chính gây ra mất rừng Tuy nhiên, ở mỗi địa điểm khác nhau, các kiểu sản xuất nông nghiệp khác nhau đóng vai trò khác nhau trong việc gây ra mất rừng Nông nghiệp hàng hóa đóng vai trò là nguyên nhân quan trọng nhất ở Mỹ Latinh (68%), trong khi đó, ở Châu Phi và Châu Á, nó chiếm chỉ khoảng 35% tỷ lệ mất rừng Nông nghiệp tự cấp tự túc chiếm mức độ ảnh hưởng tương đối giống nhau giữa các châu lục (27 - 40%) Tỷ lệ này có thể giải thích do sự chuyển đổi sang đất nông nghiệp đang ngày càng gia tăng ở

cả các quốc gia nhiệt đới và á nhiệt đới Nhìn chung, sản xuất nông nghiệp ở chiếm khoảng 80% nguyên nhân dẫn đến quá trình mất rừng trên toàn thế giới - được mô tả bằng phương trình đường thẳng trong khoảng những năm

1980 đến 1990 (theo Geist và Lambin (2002))

Khai khoáng là nguyên nhân có mức độ ảnh hưởng ở Châu Phi và Châu

Á lớn hơn so với ở Châu Mỹ La tinh Quá trình đô thị hóa là nguyên nhân quan trọng nhất ở Châu Á De Fries và đồng nghiệp (2010) nhận định rằng sự gia tăng dân số do đô thị hóa ở các nước nhiệt đới có mối quan hệ mật thiết với sự gia tăng áp lực lên các cánh rừng nhiệt đới

Sự khai thác và tận thu gỗ chiếm khoảng hơn 70% nguyên nhân gây suy suy thoái rừng ở Mỹ La tinh và Châu Á Khai thác củi và sản xuất than là

Trang 12

nguyên nhân chính gây ra suy thoái rừng ở Châu Phi, và là nguyên nhân gây tác động ở mức độnhỏ đến trung bình ở Châu Á và Mỹ La tinh Cháy không kiểm soát cũng là nguyên nhân dễ thấy nhất ở Châu Mỹ La tinh [24]

Việc tìm ra tỷ lệ mất rừng và nguyên nhân mất rừng rất quan trọng trong việc giảm thiểu các hoạt động phá rừng, từ đó là cơ hội giảm thải khí nhà kính vào khí quyển

Theo thống kê năm 2009 tại Indonesia, tỉ lệ phá rừng là 2 triệu hecta mỗi năm, bằng khoảng 1/3 tổng số phá rừng trên thế giới, tương đương với lượng 2 tỉ tấn carbon thải vào khí quyển Theo những nhà giao dịch tín dụng trên thị trường carbon thì Indonesia có thể có khả năng giảm phá rừng rất nhiều so với hiện nay

mà không gây ảnh hưởng vào tốc độ phát triển kinh tế và tiết kiệm được từ 1 đến 1,5 tỉ tấn carbon [21]

Việc quản lý yếu kém tài nguyên rừng gây ra những hậu quả nghiêm trọng tại nhiều nước trên thế giới

Tác giả Nguyễn Đức Hiệp (2009) cho rằng sự suy thoái rừng là do quản lý không đúng và yếu kém các rừng được dùng trong sản xuất lấy gỗ Trên thế giới

có khoảng 350 triệu hecta rừng ẩm nhiệt đới được dùng để khai thác gỗ Khoảng 25% các rừng này là do cộng đồng làng xã địa phương hay các dân tộc bản địa quản lý coi sóc Trong các rừng sản xuất, chỉ có một số loại cây được dùng để lấy gỗ do thị trường cần Tuy nhiên, việc chặt hạ nhầm cây bài chặt và làm đổ, gây thiệt hại các cây rừng xung quanh do trình độ yếu kém của công nhân và thiếu bản đồ thiết kế khai thác vẫn xảy ra phổ biến Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy nếu hoạch định hành trình khai thác gỗ thích hợp lý và công nhân được huấn luyện chặt cây ngã đúng hướng thì sẽ tránh khỏi 50% hay hơn nữa sự thiệt hại các cây rừng khác

Cũng theo tác giả này, trong các khảo cứu lâu dài và trên bình diện lớn ở Malayxia, trong các rừng khai thác gỗ không được hoạch định và hướng dẫn tốt

Trang 13

thì mỗi hecta mất đi hơn 100 tấn carbon hấp thụ Sau hơn 30 năm, thời gian có thể trở lại rừng để khai thác lại gỗ ở cùng địa điểm khi rừng phục hồi, thì số lượng carbon tồn trữ ở khu rừng được quản lý khai thác tốt có ít nhất là 30 tấn/hecta cao hơn số lượng carbon ở khu rừng khác Quản lý đúng trong khai thác rừng nhiệt đới hiện nay sẽ giúp chúng ta giữ lại ít nhất 0,16 giga tấn carbon mỗi năm Đây là số lượng carbon rất lớn [21]

Theo tổ chức CIFOR, ở nhiều quốc gia, con người phá rừng nhiệt đới

để chuyển sang đất canh tác cây nông nghiệp, cây công nghiệp va sử dụng cho mục đích khác Điều này xảy ra do nhiều nguyên nhân: thiếu quy hoạch sử dụng đất bền vững, phát triển nông nghiệp, những thay đổi trong quyền sử dụng đất đai, thiếu sự hỗ trợ về kỹ thuật và tài chính, luật thuế chưa phù hợp, các chương trình tái định cư, xây dựng đường xá, khai thác khoáng sản bừa bãi, xây dựng các công trình thủy điện, thủy lợi ít chú ý đến bảo vệ môi trường, sức ép dân số, tham nhũng

Các nhân tố xã hội ảnh hưởng đến tài nguyên rừng ở mức độ khác nhau giữa các quốc gia Chính sách kinh tế vĩ mô, khủng hoảng kinh tế, phát triển cơ sở hạ tầng, tình hình chính trị tại từng nơi, văn hóa bản địa…tất cả đóng vai trò quyết định dẫn đến tỷ lệ mất rừng ở mỗi quốc gia

Ở các nước Đông Nam Á, lợi nhuận thu được từ khai thác gỗ hợp pháp và bất hợp pháp là nguyên nhân mất rừng quan trọng nhất Tỷ lệ mất rừng liên quan trực tiếp với giá cả các nông sản thương mại như cà phê và dầu cọ Ở châu Mỹ La tinh, phần lớn diện tích rừng bị mất đi được chuyển đổi sang đồng cỏ chăn nuôi gia súc để đáp ứng nhu cầu về thịt và sữa Tại các nước Nam Á và Trung Phi, phần lớn diện tích rừng mất đi được chuyển sang trồng cây lương thực, thực phẩm

Để hạn chế mất rừng, CIFOR cũng đưa ra nhiều giải pháp Khi rừng bị xâm hại bởi những đối tượng như người khai thác hoặc các nhà máy lớn thì

Trang 14

rất cần đến sự tham gia trực tiếp của người dân bản địa trong việc quản lý rừng nơi họ sống Giải pháp này mang lại hiệu quả cao trong bảo vệ rừng Chiến lược khác là hạn chế những chính sách quốc gia hay vùng miền nhằm mở rộng các loại hình sử dụng đất khác, như mở đường, chương trình tái định cư và trợ cấp xăng, chất đốt Những đối tượng khai thác tài nguyên rừng cũng cần chủ động giảm tác động xấu đến tài nguyên rừng Họ cần được khuyến khích hạn chế khai thác trắng và sử dụng các kỹ thuật khai thác tác động thấp để đảm bảo duy trì chất lượng rừng cũng như thu nhập lâu dài từ rừng

Vì người dân bản địa là nhân tố quan trọng đằng sau những chuyển biến tích cực của rừng nên các chiến lược cần tập trung giúp họ có được thu nhập cao

và bền vững hơn từ rừng Bao gồm chi trả trực tiếp cho các nỗ lực bảo tồn rừng Mặc dù có nhiều nỗ lực vận động người dân và các chính phủ ra những quyết định loại hình sử dụng đất một cách thích hợp, nhiều cánh rừng nhiệt đới vẫn tiếp tục biến mất Tuy nhiên, mức độ và quy mô của quá trình mất rừng đã được kiểm soát hơn những năm gần đây [26]

Ngày 5/10/ 2010, Liên hợp quốc (LHQ) đã công bố nghiên cứu “Đánh giá tài nguyên rừng toàn cầu” trên 233 nước và khu vực trên thế giới nhằm cảnh báo

đa dạng sinh học rừng đang bị lâm nguy trên phạm vi toàn cầu do tốc độ mất rừng, suy thoái rừng và diện tích rừng nguyên sinh giảm quá nhanh trên thế giới Trong thời gian từ năm 2000-2010, mỗi năm diện tích rừng bị chuyển đổi thành diện tích đất nông nghiệp và các mục đích sử dụng khác, hoặc bị mất do các nguyên nhân tự nhiên đã giảm từ 16 triệu hécta trong những năm 90 của thế

kỷ trước xuống còn 13 triệu hécta Diện tích rừng nguyên sinh toàn cầu với các

hệ sinh thái đa dạng và phong phú nhất về các loài sinh vật, với khoảng 1,4 tỷ hécta, chiếm 36% tổng diện tích rừng toàn cầu, cũng giảm trung bình hàng năm

Trang 15

hơn 40 triệu hécta, với tốc độ 0,4% mỗi năm Khu vực Nam Mỹ bị mất rừng nguyên sinh lớn nhất, sau đó là châu Phi và châu Á

Nghiên cứu trên chỉ rõ các mối đe doạ khác đối với đa dạng sinh học rừng là do việc quản lý rừng không bền vững, biến đổi khí hậu, cháy rừng, thảm hoạ tự nhiên, dịch bệnh, do sự phá hoại của các loài côn trùng và các sinh vật xâm thực LHQ còn cảnh báo hiện trạng săn bắn vì mục tiêu thương mại do nhu cầu tiêu dùng ở các thành phố cũng đang đẩy nhiều loài vật hoang

dã tới nguy cơ tuyệt chủng trong tương lai Tình trạng này sẽ trở nên tồi tệ hơn nếu các nước không thực hiện những biện pháp hiệu quả để ngăn chặn [22]

Theo Gabrielle KissinGer, Martin Herold, Veronique de sy (2012), nguyên nhân trực tiếp được nhắc tới trong báo cáo bao gồm nguyên nhân dẫn đến mất rừng và nguyên nhân dẫn đến suy thoái rừng Sản xuất nông nghiệp hàng hóa và sản xuất nông nghiệp sinh nhai, khai khoáng, phát triển cơ sở hạ tầng, đô thị hóa là nguyên nhân trực tiếp gây mất rừng Những hoạt động như khai thác gỗ, cháy không kiểm soát, chăn thả gia súc trong rừng, và khai thác củi và sản xuất than củi là những nguyên nhân gây suy thoái rừng (Hosonuma

et al., 2012) [24]

Những đánh giá về nguyên nhân gây mất rừng (Hình 1.1a) và suy thoái rừng (Hình 1.1.c) tầm quốc gia đã được đưa ra, nghiên cứu trên 3 châu lục, bao gồm châu Phi, châu Mỹ La Tinh và vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới thuộc châu

Á

Trang 16

a Tỷ lệ phần trăm mức độ

quan trọng của các nguyên

nhân mất rừng

b Tỷ lệ tính theo diện tích thể hiện mức độ quan trọng của các nguyên nhân mất rừng

c Tỷ lệ mức độ quan trọng của các nguyên nhân gây suy thoái rừng

Hình 1.1 Đánh giá mức độ quan trọng của các nguyên nhân gây mất rừng

tại 46 quốc gia

(Nguồn: Hosonuma và cộng sự, 2012)

Cũng theo báo cáo này, nông nghiệp hàng hóa (bao gồm cả chăn nuôi) là nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến mất rừng tại châu Mỹ, liên quan đến 2/3 tổng diện tích rừng đã mất tại đây Ở châu Phi và các quốc gia nhiệt đới, cận nhiệt đới tại châu Á, nông nghiệp hàng hóa dẫn đến khoảng 1/3 diện tích rừng

đã mất và tương đương với tỷ lệ của sản xuất nông nghiệp tự cung tự cấp

Hàng thập kỷ, con người nhìn nhận rằng sự gia tăng số lượng nông dân và điền chủ là nguyên nhân chính ảnh hưởng đến tài nguyên rừng Gần đây, nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng các cá nhân trong lĩnh vực thương mại đóng vai trò lớn hơn trong việc việc chuyển đổi đất rừng để canh tác nông nghiệp Tại nhiều quốc gia,

châu Phi châu

Mỹ La tinh

Cận nhiệt châu Á

châu Phi châu

Mỹ La tinh

Cận nhiệt châu Á

Cận nhiệt châu Á

châu Phi châu

Mỹ La tinh

Trang 17

đặc biệt là khu vực Amazon và Đông Nam Á, nông nghiệp hàng hóa vượt qua nông nghiệp tự cung tự cấp trong tác động làm mất rừng và suy thoái rừng (Boucher và cộng sự, 2011) Ở những quốc gia này, việc các doanh nghiệp nông nghiệp tổng hợptăng cường hoạt động sản xuất sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường quốc tế (chăn nuôi bò, trồng đậu nành và trồng cọ lấy dầu) là nguyên nhân chính dẫn đến mất rừng trước những năm 1990 (Rudel và cộng sự, 2009; Boucher và cộng sự, 2011)

Khai thác củi, sản xuất than củi và chăn thả gia súc manh mún trong rừng là nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến suy thoái rừng tại nhiều nơi của châu Phi Trong khi đó, nhiều nơi ở các quốc gia trên các châu lục khác, suy thoái rừng bị chi phối chủ yếu do khai thác chọn thô gỗ nhằm mục đích thương mại

Báo cáo cũng đưa ra những nguyên nhân gián tiếp gây mất rừng Nguyên nhân gián tiếp bao gồm những ảnh hưởng qua lại của dân số, kinh tế, kỹ thuật - công nghệ, tổ chức và các yếu tố văn hóa xã hội (Geist and Lambin, 2002)

Tăng trưởng kinh tế dựa trên xuất khẩu các hàng hóa thiết yếu và sự gia tăng nhu cầu gỗ và sản phẩm nông sản trên toàn cầu là nguyên nhân chính dẫn đến mất rừng và suy thoái rừng của hệ thống các nước nhiệt đới (Rademaekers và cộng sự, 2010)

Những số liệu viễn thám gần đây, kết hợp với xu hướng phát triển kinh tế và dân số cho thấy sản xuất nông nghiệp nội địa và nông nghiệp xuất khẩu là một trong những nguyên nhân cơ bản gât mất rừng nhiệt đới (DeFries và cộng sự, 2010)

Sự gia tăng dân số có tương quan mật thiết với sự gia tăng nhu cầu về đất sản xuất; gỗ củi; sự tiếp cận dễ dàng với rừng do sự phát triển cơ sở hạ tầng, giao thông; giao khoán đất rừng; sự phát triển của kỹ thuật canh tác và sự gia tăng nhu cầu lâm sản (Rademaekers và cộng sự, 2010)

Trang 18

Sự quản lý yếu kém, tham nhũng, chính sách đất đai bấp bênh, và thiếu quy hoạch giám sát tài nguyên thiên nhiên là những nguyên nhân gián tiếp dẫn đến mất rừng và suy thoái rừng (Rademaekers và cộng sự, 2010)

Một phân tích về các nguyên nhân gián tiếp được thực hiện trên 31 quốc gia REDD+ R-PPs, chỉ ra rằng tại nhiều quốc gia (93% số quốc gia), sự tổ chức và chính sách quản lý các lâm phần còn yếu, vẫn còn chồng chéo, xung đột trong cácchính sách lâm nghiệp, vẫn xảy ra các hoạt động vi phạm pháp luật lâm nghiệp (do việc thực thi pháp luật yếu kém)

Sự gia tăng dân số là nguyên nhân gián tiếp phổ biến tiếp theo (tại 51%

số quốc gia), tiếp đó là do đói nghèo (48%), quyền sở hữu đất không rõ ràng (48%) 41% số quốc gia cho rằng sự tác động của thị trường quốc tế, đặc biệt

là thị trường hàng hóa, giá cả, và sự đầu tư trực tiếp từ nước ngoài là nguyên nhân gián tiếp chủ yếu [23]

Peterson, D.L và cộng sự (trong Price, M.F và Butt, N., 2000) thảo luận

về các nhân tố liên quan đến suy thoái rừng trong đó tập trung phân tích ba nhân tố tự nhiên tác động đến suy thoái rừng ở đầu nguồn là cháy, gió bão và địa mạo Các tác giả cũng thừa nhận rằng các nhân tố khác cũng rất quan trọng nhưng chỉ ảnh hưởng ở quy mô nhỏ trong không gian [7]

Nhìn chung, những phân tích nguyên nhân đã có phổ biến chỉ dựa trên những nghiên cứu trên phạm vi khu vực, vùng lãnh thổ (Geist and Lambin, 2002) hoặc những đánh giá tổng quan về mất rừng trên phạm vi châu lục hay toàn thế giới (DeFries và cộng sự, 2010, Rademaekers và cộng sự, 2010), rất

ít phân tích tập trung vào nguyên nhân mất rừng của từng quốc gia.Mặc dù vậy, một số nguồn tài liệu gần đây có quan tâm đến những quốc gia có những hoạt động sẵn sàng cho REDD+, điều này cho phép chi tiết hơn những đánh giá nguyên nhân mất rừng và suy thoái rừng ở mức độ quốc gia

Trang 19

1.2 Tại Việt Nam

Ở trong nước, đã có rất nhiều nghiên cứu nhằm tìm ra nguyên nhân dẫn đến mất rừng và suy thoái rừng cũng như những mức độ ảnh hưởng của các tác nhân khác nhau đến tài nguyên rừng Nhiều nghiên cứu cũng đưa ra được những giải pháp cụ thể cho từng đối tượng

Theo Donovan D., Rambo A.T, Fox, Lê Trọng Cúc, Trần Hữu Viên (1997)

đã đề cập đến các sản phẩm từ rừng và sức ép của người dân địa phương vào rừng Các tác giả chỉ ra rằng: Diện tích rừng tự nhiên ở miền núi phía Bắc Việt Nam đã giảm sút nghiêm trọng do khai thác gỗ, củi và các lâm sản khác như: Tre, nứa, nấm, cây dược liệu, động vật hoang dã và được xem như là nguồn sinh

kế chủ yếu của người dân miền núi [5]

Theo Phạm Bình Quyền và cộng sự (2002), ở vùng núi phía Bắc, các nguyên nhân trực tiếp và sâu xa làm suy thoái đa dạng sinh học bao gồm: tỷ lệ tăng dân số tự nhiên cao, tập quán canh tác nông nghiệp truyền thống (du canh,

du cư) và săn bắn, sản xuất hiệu quả thấp trong cơ chế quản lý của hợp tác xã nông nghiệp Tất cả các nguyên nhân này đã tác động mạnh mẽ đến đa dạng sinh học, tài nguyên rừng từ trước giữa những năm 1980

Trong khi đó, ở Tây Nguyên và miền Trung Trường Sơn, sự suy thoái đa dạng sinh học, tài nguyên rừng chủ yếu trong thời kỳ đổi mới, nguyên nhân là tỷ

lệ tăng dân số cơ học cao (do di dân trong kế hoạch và di dân tự do), khai thác gỗ phục vụ cho nhu cầu kiến thiết và xuất khẩu cũng như việc xâm lấn rừng mở rộng diện tích trồng cây công nghiệp xuất khẩu (chủ yếu là Cà phê)

Để khắc phục các nguyên nhân này, các tác giả đưa ra các khuyến nghị: kết hợp một cách chặt chẽ công tác bảo vệ với các kế hoạch phát triển kinh tế; quản

lý tốt các khu bảo tồn thiên nhiên, vườn Quốc gia với chiến lược tạo cơ hội phát triển kinh tế và không đối lập với các cộng đồng sống trong các khu vực này…[13]

Trang 20

Cùng một mục đích, nhiều tác giả khác cũng đưa ra giải pháp khác nhau phát triển rừng dựa trên những khó khăn, ưu thế, thách thức, cơ hội riêng của từng địa phương

Theo Trần Ngọc Lân (2002) và các cộng sự, có 3 yếu tố khó khăn trở thành những thách thức đối với sự phát triển vùng đệm Pù Mát là:

- Dân chúng địa phương sẽ không được phép tiếp tục khai thác rừng và

du canh như trước đây

- Sự kém hiệu quả của hình thức quản lý rừng tư nhân và sự suy thoái của quản lý rừng cộng đồng

- Hiện trạng đói nghèo, thu nhập rất thấp của dân địa phương với nguồn thu nhập chủ yếu từ khai thác lâm sản, trồng trọt, chăn nuôi; tỷ lệ tăng dân số cao, trình độ văn hóa còn thấp

Từ đó, các tác giả nhận định muốn phát triển vùng đệm cần dựa trên cơ

sở cộng đồng, dựa vào người dân bản địa có quyền lợi từ rừng, không chỉ nhằm mục đích bảo vệ khu bảo tồn mà còn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội cộng đồng địa phương Giải pháp phát triển bao gồm sự tham gia của cộng đồng địa phương vào quản lý rừng, đa dạng sinh hóa các hình thức quản lý rừng/đất rừng; quản lý bền vững đa dạng sinh học; áp dụng phương thức sử dụng đất dốc bền vững và những chính sách hỗ trợ của nhà nước [9]

Hà Đình Nhật (2002) đúc rút kinh nghiệm tổ chức xây dựng và bảo vệ vườn Quốc gia Yok Đôn thông qua giảm thiểu áp lực của người dân vào vườn Quốc gia Yok Đôn và xóa đói giảm nghèo, nâng cao năng lực cho cộng đồng trên địa bàn đã đề xuất 7 nhóm giải pháp chính bao gồm: Mở mang xây dựng

cơ sở hạ tầng cho các xã vùng đệm, chuyển giao kỹ thuật công nghệ cây trồng, xây dựng vườn ươm cho các hộ đồng bào, xây dựng mô hình trang trại, xây dựng mô hình định canh định cư, khoán quản lý bảo vệ rừng, đưa đồng

Trang 21

bào tiếp cận với du lịch sinh thái và tổ chức giao lưu văn hóa, tập huấn công tác quản lý bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng cho cộng đồng [12] Xác định những mối đe dọa trong công tác bảo tồn hệ sinh thái khu vực Vườn quốc gia Cát Tiên, Tôn Tú Anh (2002) đã đưa ra một số yếu tố: việc mất đi nguồn thu nhập vốn có từ rừng của các hộ nông dân nghèo; việc giao khoán rừng tạo nên sự bỡ ngỡ trong cách làm ăn mới, quỹ đất ngày một hạn hẹp với phương thức canh tác truyền thống dẫn đến sự suy thoái đất và rừng, trong khi đó đời sống kinh tế nghèo đói, mật độ dân số tăng cao, trình độ dân trí thấp, sự hạn chế về vốn đầu tư tài chính; sự khan hiếm về nguồn vốn xã hội, khả năng tiếp cận với những định chế chung về phúc lợi xã hội và liên quan đến sản xuất bị hạn chế…và đây cũng đều là những thách thức đối với cuộc sống người dân vùng đệm, đặc biệt là các dân tộc ít người tại địa phương [1]

Theo báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam 2005, các khu rừng ngập

mặn Việt Nam đang bị suy thoái nghiêm trọng Trong giai đoạn từ 1943 đến

1999, diện tích rừng ngập mặn trên phạm vi toàn quốc đã giảm từ 409.000ha xuống còn 155.000 ha, tương đương với 62%, trước hết do sự tàn phá của chiến tranh, và sau đó là do việc phát triển hàng loạt các vùng nuôi tôm

Một đánh giá nhanh về 19 khu bảo tồn trong Vùng sinh thái dãy Trường Sơn tiến hành vào năm 2004 đã cho thấy rằng trong số 12 loại áp lực đối với

đa dạng sinh học trong 5 năm qua, các áp lực lớn nhất gồm có săn bắt trộm, khai thác quá mức lâm sản ngoài gỗ, khai thác gỗ, nông nghiệp, chăn thả gia súc, và phát triển cơ sở hạ tầng

Cũng theo báo cáo phân tích về việc khai thác gỗ trái phép trên phạm vi

cả nước Những năm 90, chính phủ đã tăng cường kiểm soát khai thác gỗ bằng cách giảm hạn ngạch từ 1,5 triệu xuống 0,35 triệu m3/năm Tuy nhiên, nhu cầu sản phẩm gỗ vẫn gia tăng và gỗ rừng trồng không thể đáp ứng đầy

Trang 22

đủ Khai thác gỗ trái phép vẫn tiếp tục diễn ra ở các vùng mà bảo vệ rừng không hiệu quả Khoảng từ 0,5-2 triệu m3 gỗ đã bị khai thác trái phép hàng năm từ tất cả các loại hình rừng, gồm cả các khu bảo tồn hay “các rừng đặc dụng” Việc khai thác gỗ có thể đã vượt quá 70% mức độ bền vững Việc khai thác gỗ trái phép diễn ra trong tất cả các loại hình rừng và rất khó kiểm soát Phân tích về tác động của phát triển cơ sở hạ tầng gây ra các hiệu ứng phụ không mong muốn, báo cáo cũng đưa ra thống kê: Tổng chiều dài đường giao thông của Việt Nam đã tăng gấp đôi kể từ năm 1990 và một nguồn đầu

tư bổ sung 246 tỉ đồng cho xây dựng đường xá được dự trù từ 2002- 2010 Để đáp ứng nhu cầu gia tăng về điện, tới năm 2010, công suất thủy điện được dự tính tăng gấp đôi Nếu quy hoạch không tốt, có thể gây những tác động to lớn: Gây chia cắt và mất mát sinh cảnh, cải thiện đường dẫn vào các vùng sâu vùng xa dẫn tới tăng khai thác tài nguyên thiên nhiên, tăng áp lực lên các nguồn tài nguyên thiên nhiên do nhập cư và người đến lao động

Khai phá đất nông nghiệp cũng là một trong những áp lực lên đa dạng sinh học, tài nguyên rừng Ở Việt Nam, diện tích đất nông nghiệp đã tăng từ 6,7 triệu ha năm 1990 tới 9,4 ha năm 2002 Tình trạng xâm lấn của đất nông nghiệp đã dẫn tới mất các hệ sinh thái rừng ở các tỉnh phía Bắc và sự mở rộng trồng các cây có giá trị kinh tế đã làm mất rừng ở Tây Nguyên và vùng sinh thái nông nghiệp Đông Nam Bộ Các khu vực đất ngập nước như các vùng đồng cỏ mọc theo mùa cũng bị đe dọa vởi tình trạng chuyển đổi lấy đất trồng lúa

Cháy rừng- chủ yếu là do đốt có chủ ý Năm 2002, hàng loạt các vụ cháy rừng đã phá hủy những diện tích lớn của rừng tràm tại Vườn Quốc gia U Minh Thượng ở đồng bằng sông Cửu Long, làm tăng mối quan tâm của Chính phủ và công luận đối với vấn đề cháy rừng Cháy rừng thường do một số nguyên nhân như đốt lửa khai quang để lấy đất canh tác, thợ săn đốt lửa để

Trang 23

xua đuổi thú và dọn chỗ, cháy do vô ý của người lấy mật ong, công nhân xây dựng và những người sống và làm việc trong rừng Khoảng 6 triệu ha rừng ở Việt Nam được đánh giá là dễ bị cháy Trong khoảng thời gian từ 1992 đến

2002, trung bình có 6.000ha rừng bị mất do cháy rừng hàng năm Cháy rừng đặc biệt phổ biến ở các vùng sinh thái nông nghiệp đồng bằng sông Cửu Long, miền Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và Tây Bắc, vì có một mùa khô ở các vùng này [11]

Trần Thế Liên (2006) khi nghiên cứu về nguyên nhân suy thoái đa dạng sinh học ở các khu rừng đặc dùng vùng Bắc Trung Bộ đã đưa ra các nguyên nhân trực tiếp làm suy thoái đa dạng sinh học ở các khu RĐD vùng Bắc Trung Bộ bao gồm: (1) săn bắt buôn bán ĐVHD bất hợp pháp; (2) khai thác

gỗ và lâm sản ngoài gỗ; (3) tác động của chiến tranh; (4) mở mang đường giao thông, xây dựng cơ sở hạ tầng; (5) thiên tai

Theo đó, nguyên nhân quan trọng, sâu xa nhất gây ra suy giảm đa dạng sinh học là việc săn bắt động vật hoang dã đến cạn kiệt nhằm mục đích thương mại

Sau đó là vấn đề khai thác gỗ Xuất phát từ nhu cầu tại chỗ (gỗ làm nhà,

đồ gia dụng…), gỗ mới chỉ bị khai thác nhẹ, không đáng kể nhưng khi kinh tế thị trường có tác động sâu sắc đến đời sống người dân thì nhu cầu sử dụng các loại gỗ quý tăng lên rất nhanh Điều đó thúc đẩy nạn khai thác gỗ lậu (vì lợi nhuận) làm cho nhiều khu rừng trở nên kiệt quệ, phải trồng lại, làm mất sinh cảnh của rất nhiều loài

Ngoài ra còn do nạn cháy rừng, nguyên nhân dẫn đến cháy rừng chủ yếu

là do ý thức của con người, đặc biệt là việc đặt bếp lửa trong rừng của thợ săn, người đi làm rẫy, đi đốt ong [10]

Ngô Đình Quế và Vũ Tấn Phương (2009) đã thực hiện đề tài “xây dựng các tiêu chí và xác định quy mô hệ thống RPHĐN bị suy thoái nghiêm trọng”

Trang 24

Đề tài đã cung cấp số liệu điều tra đánh giá hiện trạng suy thoái RPHĐN của một số lưu vực như: sông Thạch Hãn ở Quảng Trị, sông Đạ Tẻh ở Lâm Đồng, sông Cầu ở Bắc Cạn Các nghiên cứu cũng đã đi sâu phân tích các nguyên nhân suy thoái rừng nói chung và RPHĐN nói riêng và đã thống nhất cho rằng có 4 nhóm nhân tố chính sau:

1 Khai thác rừng quá mức, đặc biệt là tình trạng khai thác bất hợp pháp không kiểm soát được cả gỗ và các LSNG

2 Sức ép của sự gia tăng dân số và các nhu cầu đa dạng từ rừng, trong

đó đặc biệt được nói đến nhiều là nhu cầu ngày càng tăng của việc chuyển đổi rừng sang các mục đích khác như canh tác nương rẫy; trồng cây công nghiệp (Cà phê, Cao su, Điều, Tiêu,…); xây dựng các công trình thủy điện, thủy lợi, giao thông và đô thị hóa… Riêng ở vùng Tây Nguyên sau cơn sốt phá rừng trồng Cà phê của những năm từ 1980-1995, là phong trào chuyển đổi rừng nghèo kiệt sang trồng Cao su đã làm mất hàng vạn ha rừng tự nhiên

3 Cháy rừng, hạn hán, khô hanh (do tác động của biến đổi khí hậu);

4 Các nhân tố khác bao gồm các sự kiện thiên tai như bão, lụt, sụt lở đất đai và nhân tác như chăn thả và sức ép của nhu cầu địa phương [7]

Cũng nghiên cứu về những tác động của các hoạt động sinh kế của cộng đồng dân cư vùng đệm đến tài nguyên rừng Vườn Quốc Gia Kon Ka Kinh, Gia Lai, Nguyễn Danh và Nguyễn Văn Vũ (2012) nhận định tài nguyên rừng tại đây cũng đang đứng trước sự đe dọa về suy giảm Một trong những nguyên nhân chính là sinh kế của cộng đồng dân cư bên trong và ngoài vùng đệm của Vườn Kết quả nghiên cứu cho thấy có 4 nhóm nguyên nhân chính trong hoạt động sinh kế ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên rừng, đó là: Nhóm nguyên nhân về kinh tế, nhóm nguyên nhân về xã hội, nhóm nguyên nhân về thể chế và quản lý và nhóm nguyên nhân về khoa học kỹ thuật Từ đó, các tác

Trang 25

giả đề xuất các giải pháp dựa trên 4 nhóm nguyên nhân này chủ yếu nhằm giảm thiểu các tác động bất lợi đến tài nguyên rừng [4]

Theo Lã Nguyên Khang và Trần Quang Bảo (2014), việc tìm hiểu các nguyên nhân dẫn đến tăng/giảm rừng tại 8 huyện của tỉnh Điện Biên đã cho thấy độ che phủ rừng của các xã nghiên cứu tăng/giảm chủ yếu do thay đổi diện tích các kiểu trạng thái rừng Diện tích các kiểu trạng thái rừng giảm là rừng trung bình, rừng nghèo và rừng hỗn giao gỗ - tre nứa Các nguyên nhân dẫn đến mất rừng, bao gồm: Nguyên nhân trực tiếp như: đốt nương làm rẫy chiếm 89,22%; rừng tre nứa bị khuy chiếm 5,93%, do cháy rừng chiếm 3,66%

và do chăn thả gia súc chiếm 1,19% (hình 1.2)

Hình 1.2 Tỷ lệ mức độ ảnh hưởng của các nguyên nhân trực tiếp đến

mất rừng theo diện tích rừng bị mất

(Nguồn: Tạp chí nông nghiệp và phát triển nông thôn số 3-2014)

Các nguyên nhân sâu xa (gián tiếp) làm mất rừng: dân số tăng nhanh, di dân, thiếu đất canh tác và do quy hoạch Các nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp có liên hệ với nhau và cùng thúc đẩy việc mất rừng tại các khu vực nghiên cứu [8]

89,22%

5,93% 3,66% 1,19%

Đốt nương làm rẫy Khuy

Cháy rừng Chăn thả gia súc

Trang 26

Đánh giá tác động của cộng đồng địa phương đến rừng đặc dụng vùng Tây Bắc, Vũ Thị Bích Thuận và Trần Thị Mai Sen (2014) cho rằng trong những năm gần đây, rừng tự nhiên khu vực Tây Bắc đang đứng trước nguy cơ

bị suy giảm nghiêm trọng Tình trạng phá rừng làm nương rẫy, khai thác lâm sản một cách quá mức, thiếu sự kiểm soát của các cơ quan chức năng đã dẫn đến những diện tích rừng tự nhiên tại các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn ở khu vực này đang bị mất hoặc bị suy giảm về chất lượng Nguyên nhân của tình trạng này xuất phát từ chính cộng đồng địa phương như đời sống khó khăn, thiếu đất canh tác, thói quen sử dụng tài nguyên rừng…[18]

Bảng 1.1 và Bảng 1.2 cho biết mức độ tác động của cộng đồng địa phương đến tài nguyên rừng và nguyên nhân dẫn đến những tác động này tại khu vực Tây Bắc

Bảng 1.1 Mức độ tác động của cộng đồng địa phương tại khu vực Tây Bắc

(Nguồn: Tạp chí khoa học lâm nghiệp số 02- 2014)

Bảng 1.2 Nguyên nhân dẫn đến những tác động bất lợi của cộng đồng lên

RĐD tại Tây Bắc

Tỷ lệ %

Nguyên nhân

VQG Hoàng Liên

KBT Mường Nhé

KBT Xuân Nha

Bình quân chung Thiếu đất canh tác 76,47 85,11 76,92 79,50 Thiếu lương thực 50,98 85,11 65,38 67,16

Trang 27

Tỷ lệ %

Nguyên nhân

VQG Hoàng Liên

KBT Mường Nhé

KBT Xuân Nha

Bình quân chung Lợi nhuận từ buôn bán gỗ

Thiếu công ăn việc làm 64,71 70,21 55,77 63,56 Đời sống khó khăn 80,39 91,49 86,54 86,14 Nhu cầu về gỗ, củi trong sinh

Do áp lực tăng dân số 52,94 87,23 78,85 73,01

Do chính sách quản lý RĐD

(Nguồn: Tạp chí khoa học lâm nghiệp- số 2-2014)

Theo Lý Thị Thanh Huyền (2014), có 4 nguyên nhân chủ yếu dẫn đến suy thoái, gây mất rừng phòng hộ Bắc Biển Hồ, tỉnh Gia Lai bao gồm: Cháy rừng; chuyển đổi mục đích sử dụng đất; khai thác nguồn lâm sản quá mức cho

phép; tập quán du canh du cư Từ đó, tác giả đưa ra 3 nhóm giải pháp: (1) Nhóm giải pháp về kỹ thuật: Trồng mới rừng phòng hộ, làm giàu rừng, chặt cải thiện cấu trúc rừng, nuôi dưỡng và bảo vệ rừng; (2) Nhóm giải pháp về tổ chức và (3) Nhóm giải pháp về chính sách [6]

Những nghiên cứu tại tỉnh Thanh Hóa

Theo Lê Thế Sự (2013), tại khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, Thanh Hóa, các tác động bất lợi của người dân địa phương vào rừng chủ yếu do các nguyên nhân: Khai thác gỗ, củi; săn bắn động vật rừng; khai thác Lâm sản ngoài gỗ; sử dụng đất rừng để canh tác nương rẫy; chăn thả gia súc trên rừng

và đất rừng Từ đó tác giả đề xuất 10 giải pháp: (1) Phát triển du lịch sinh thái; (2) Bảo vệ nghiêm ngặt vùng lõi, ngăn chặn tích lũy gỗ trong dân; (3)

Trang 28

Xây dựng hệ thống thủy lợi, đường giao thông; (4) sử dụng đất đai bền vững

ở quy mô hộ gia đình và cộng đồng; (5) Quy hoạch vùng chăn thả gia súc và trồng cỏ cho chăn nuôi và nghiên cứu trồng cây thuốc dưới tán rừng trồng; (6) Khuyến khích người dân sử dụng bếp đun tiết kiệm củi; (7) Kêu gọi, xây dựng các dự án hỗ trợ phát triển kinh tế cho người dân sống trong vùng lõi Khu bảo tồn; (8) Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền về bảo vệ rừng; (9) Tìm kiếm thị trường đầu ra cho các sản phẩm cây trồng, vật nuôi của người dân; (10) Hỗ trợ vay tín dụng cho người dân [15]

Theo Nguyễn Đức Hiếu (2013), tài nguyên rừng tại khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa đã bị tác động dưới nhiều hình thức bao gồm: Sử dụng tài nguyên rừng; tác động đến tài nguyên rừng bằng phân hóa học và thuốc bảo vệ thực vật; tác động đến tài nguyên rừng do các nguyên nhân rủi ro Trong đó, sử dụng tài nguyên rừng là hình thức có tác động bất lợi nhất đến tài nguyên rừng và tùy theo từng dân tộc: Mường, Thái, Kinh mà mức độ sử dụng nhiều ít khác nhau cũng như lợi nhuận thu được từ việc sử dụng tài nguyên rừng cũng khác nhau [6]

1.3 Những kết luận rút ra phục vụ cho nghiên cứu

Như vậy, có thể tạm thời tổng hợp những nguyên nhân mất rừng và suy thoái rừng đã được xác định bởi các nghiên cứu đi trước tại bảng 1.3

Bảng 1.3 Tổng hợp nguyên nhân mất rừng và suy thoái rừng trên thế giới

và tại Việt Nam

thực thực phẩm

Tự cung tự cấp Hàng hóa Chăn thả gia súc manh mún hoặc chuyển đổi rừng sang bãi

Trang 29

TT Nhóm

chăn thả gia súc tập trung

2

Khai thác lâm

sản không

bền vững

Khai thác và tận thu gỗ cho mục đích sử dụng

Khai thác gỗ phục vụ xuất khẩu Khai thác củi và sản xuất than Khai thác lâm sản ngoài gỗ

3 Nhu cầu kiến

thiết

Tái định cư

Đô thị hóa Xây dựng đường giao thông

4 Sự tổ chức và

quản lý

Xung đột trong các chính sách Quy hoạch không tốt Năng lực thực thi chính sách yếu Thiếu sự kiểm soát của cơ quan chức năng

Tình hình chính trị Chiến tranh Quyền sở hữu đất không rõ

Tham nhũng Hiệu quả thấp trong sản xuất của cơ chế quản lý của hợp

9 Đặc điểm văn Văn hóa bản địa - Thói quen sử dụng tài nguyên rừng

Trang 30

TT Nhóm

Qua tìm hiểu các nghiên cứu đi trước, tác giả thấy rằng các nguyên nhân mất rừng và suy thoái rừng đã và đang được nghiên cứu dưới nhiều cách phân nhóm khác nhau Một số nghiên cứu đã xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn đã đầy đủ cũng như đã lượng hóa được mức độ ảnh hưởng của các nguyên nhân mất rừng và suy thoái rừng, đề xuất các giải pháp rõ ràng Phần nhiều các nghiên cứu này chủ yếu đi sâu vào mức độ tác động của cộng đồng người dân tới tài nguyên rừng của một số khu vực

Phần lớn các nghiên cứu đã thực hiện phân tích các nguyên nhân nói chung gây ra mất rừng và suy thoái rừng Có rất ít các nghiên cứu đi sâu phân loại các nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp, cũng như phân tích mối liên hệ giữa các nguyên nhân gián tiếp (sâu xa) và nguyên nhân trực tiếp Chủ yếu, các nghiên cứu này chỉ đi sâu vào đánh giá tác động của cộng đồng dân cư trên khía cạnh tập quán canh tác, lợi dụng tài nguyên rừng, còn một số nguyên nhân khách quan khác như thiên tai, khai khoáng, thủy điện… chưa được quan tâm nhiều

Các giải pháp các nghiên cứu đưa ra còn mang tính chất định hướng, chưa giải quyết các mâu thuẫn phát sinh từ thực tế

Các nghiên cứu về mất rừng và suy thoái rừng trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa còn mang tính cục bộ, chưa có nghiên cứu tổng quan hơn trên nhiều huyện tại tỉnh Thanh Hóa

Trang 31

Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu

2.1.1 Mục tiêu chung

Nghiên cứu góp phần đưa ra một số giải pháp phù hợp nhằm hạn chế các nguyên nhân gây mất rừng và suy thoái rừng thông qua phân tích các tác nhân trực tiếp và gián tiếp gây mất rừng và suy thoái rừng tại tỉnh Thanh Hóa

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu

Trên cơ sở mục tiêu đã xác định, đối tượng nghiên cứu bao gồm rừng và đất rừng khu vực nghiên cứu

Trang 32

2.3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Nội dung nghiên cứu

2.3.1.1 Phân tích diễn biến tài nguyên rừng tại tỉnh Thanh Hóa

2.3.1.2 Phân tích nhóm nguyên nhân trực tiếp gây mất rừng và suy thoái rừng 2.3.1.3 Phân tích nhóm nguyên nhân gián tiếp gây mất rừng và suy thoái rừng

2.3.1.5 Đề xuất các nhóm giải pháp bảo vệ và phát triển rừng

2.3.2 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng, bao gồm:

- Thu thập các văn bản, chính sách pháp luật của nhà nước liên quan đến vấn đề nghiên cứu;

- Thu thập các báo cáo của tỉnh, huyện, xã, của ban quản lý các khu bảo tồn trên địa bàn tỉnh về công tác quản lý, bảo vệ, phát triển rừng tại khu bảo tồn;

- Thu thập các tài liệu liên quan đến địa điểm nghiên cứu: Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, quy hoạch đất đai, phát triển kinh tế, xã hội, tình hình giao đất giao rừng và đặc biệt là diễn biến mất rừng và cháy rừng, khai thác gỗ;

- Các báo cáo có liên quan về nguyên nhân mất rừng và suy thoái rừng;

Trang 33

- Thu thập thông tin thông qua Hội thảo tham vấn “Nguyên nhân mất và suy thoái rừng ở tỉnh Thanh Hóa”

Đối tượng áp dụng thực hiện là cán bộ thuộc dự án VFD, cán bộ quản lý thuộc UBND huyện, xã, phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh; kiểm lâm các cấp; cán bộ các ban quản lý rừng và công ty lâm nghiệp, vườn quốc gia và các khu bảo tồn thiên nhiên trên địa bàn tỉnh; các đại diện đơn vị nghiên cứu thuộc ngành lâm nghiệp, các cá nhân có liên quan của 6 xã - 18 thôn nghiên cứu để thu thập các thông tin

Nội dung thảo luận về nguyên nhân mất rừng và suy thoái rừng tại tỉnh Thanh Hóa, các biểu hiện của các nguyên nhân và các chính sách có liên quan

2.3.2.2 Phương pháp chọn địa điểm nghiên cứu

Chọn địa điểm nghiên cứu là công việc được thực hiện trước khi điều tra thu thập số liệu Sau khi khảo sát sơ bộ một số xã, thôn, trao đổi với cán bộ huyện, xã đã đưa ra các nguyên tắc lựa chọn địa điểm nghiên cứu như sau:

- Nguyên tắc chung: Điểm nghiên cứu (xã, thôn) phải là đại diện cho khu vực nghiên cứu

Trang 34

tài nguyên rừng Dân tộc và tập tục văn hóa có thể ảnh hưởng tới việc tiếp nhận các kỹ thuật mới, và tham gia vào các hoạt động phát triển;

+ Các xã, thôn bản được lựa chọn có điều kiện dân sinh kinh tế xã hội, đạt mức trung bình, đại diện cho tình hình dân sinh kinh tế- xã hội tại khu vực nghiên cứu;

+ Xã, thôn được chọn phải đảm bảo có đủ 3 loại hình kinh tế: Hộ thoát nghèo, hộ cận nghèo, hộ nghèo

2.3.2.3 Thu thập thông tin và số liệu hiện trường

Sử dụng phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc với phiếu phỏng vấn/ thu thập thông tin đã được chuẩn bị từ trước để thu thập các thông tin và số liệu

Đề tài tiến hành phỏng vấn thu thập thông tin đối với các đối tượng khác nhau được lựa chọn, bao gồm UBND huyện, UBND xã, Kiểm lâm các cấp, cán bộ chi cục Lâm nghiệp, phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, các Ban quản lý rừng, các công ty lâm nghiệp…các hộ gia đình, các cá nhân có liên quan của 6 xã- 18 thôn nghiên cứu để thu thập các thông tin

- Phỏng vấn cán bộ huyện, xã, thôn tại khu vực nghiên cứu.Nội dung chủ yếu của phiếu phỏng vấn và thu thập thông tin là đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của xã, thôn; lịch sử thay đổi sử dụng đất, thay đổi độ che phủ rừng, nguyên nhân gây ra mất rừng tại địa điểm nghiên cứu; các chính sách của huyện, xã về công tác quản lý bảo vệ rừng, quản lý rừng cộng đồng, mâu thuẫn giữa bảo tồn rừng và đời sống, đề xuất cho công tác bảo vệ rừng…(mẫu phỏng vấn được trình bày tại phụ lục 1a và 1b);

- Phỏng vấn Ban quản lý thôn bản của các cộng đồng nghiên cứu, đây là công việc đầu tiên khi tới thôn bản nhằm tìm hiểu tình hình chung về kinh tế -

xã hội của thôn như: Dân số, mức sống, dân trí, các hình thức sử dụng tài nguyên rừng, diến biễn mất rừng và suy thoái rừng tại thôn, các hỗ trợ từ bên ngoài…(mẫu phỏng vấn được trình bày tại phụ lục 1a);

Trang 35

- Phỏng vấn ban quản lý rừng phòng hộ, công ty lâm nghiệp trên địa bàn nghiên cứu (mẫu phỏng vấn được trình bày tại phụ lục 1c);

- Phỏng vấn hộ gia đình: số hộ phỏng vấn là 5-10 hộ/ thôn với nhiều nhóm hộ thoát nghèo, cận nghèo và nghèo Nội dung chủ yếu của bảng phỏng vấn là tình hình kinh tế hộ, thu nhập, lịch sử thay đổi sử dụng đất, thay đổi độ che phủ rừng, nguyên nhân gây ra mất rừng tại địa điểm nghiên cứu, các hình thức tác động vào rừng, một số hiểu biết về công tác bảo vệ rừng, quản lý rừng cộng đồng, mẫu thuẫn giữa bảo tồn rừng và đời sống, đề xuất cho công tác bảo vệ rừng… (mẫu phỏng vấn được trình bày tại phụ lục 1d)

Tuy nhiên, trong quá trình phỏng vấn, sẽ sử dụng nội dung câu hỏi linh hoạt sao cho phù hợp với điều kiện thực tế

2.3.2.4 Xử lý tổng hợp và phân tích dữ liệu

2.3.2.4.1 Phương pháp thống kê toán học

Số liệu thu thập qua phỏng vấn bán định hướng được xử lý và phân tích định lượng bằng phần mềm Excel Kết quả được thể hiện theo dạng phân tích,

mô tả, bảng và biểu đồ Ngoài ra các kết quả thảo luận, các thông tinh định tính như chính sách, tổ chức cộng đồng, thị trường… được phân tích theo phương pháp định tính

Trang 36

Chương 3 ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1 Vị trí địa lý, ranh giới, diện tích

Thanh Hoá là tỉnh có diện tích tự nhiên 1.110.609 ha, nằm ở cực Bắc vùng Duyên hải Bắc Trung Bộ, nằm ở vị trí từ 19,18o đến 20,40o vĩ độ Bắc; 104,22o đến 106,40o kinh độ Đông Có ranh giới như sau:

- Phía Bắc giáp 3 tỉnh: Ninh Bình, Hoà Bình, Sơn La;

- Phía Nam giáp tỉnh Nghệ An;

- Phía Tây giáp tỉnh Hủa Phăn - CHDCND Lào;

- Phía Đông giáp biển Đông

Vị trí này có lợi thế để phát triển với các vùng trong nước và quốc tế

- Vùng núi và trung du gắn liền với hệ núi cao phía Tây Bắc và hệ núi Trường Sơn phía Nam, bao gồm 11 huyện: Mường Lát, Quan Sơn, Quan Hoá, Bá Thước, Lang Chánh, Ngọc Lặc, Thường Xuân, Như Xuân, Như Thanh, Cẩm Thuỷ, Thạch Thành, có tổng diện tích là 7064,12 km2, chiếm 71,84% diện tích toàn tỉnh Độ cao trung bình vùng núi từ 600-700 m, độ dốc trên 250.Vùng trung du có độ cao trung bình từ 150-200 m, độ dốc từ

150 - 200 chủ yếu là các đồi thấp, đỉnh bằng, sườn thoải Diện tích đất có khả năng lâm nghiệp chiếm 58,2% diện tích tự nhiên toàn tỉnh

Trang 37

- Vùng đồng bằng có diện tích đất tự nhiên đạt 1906.97 km2, chiếm 17,11% diện tích toàn tỉnh bao gồm các huyện: Thọ Xuân, Yên Định, Thiệu Hoá, Đông Sơn, Triệu Sơn, Nông Cống, Vĩnh Lộc, Hà Trung, TP Thanh Hoá và thị xã Bỉm Sơn Vùng nàybằng phẳng, độ cao trung bình từ

5 - 15 m, xen kẽ vùng đất bằng với các đồi thấp và núi đá vôi độc lập Diện tích đất có khả năng lâm nghiệp chiếm 2,2% diện tích tự nhiên toàn tỉnh

- Vùng ven biển gồm 06 huyện, thị xã: huyện Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hóa, Sầm Sơn, Quảng Xương đến Tĩnh Gia Diện tích chiếm 11,05% diện tích tự nhiên toàn tỉnh Địa hình tương đối bằng phẳng, độ cao trung bình 3 - 6 m Diện tích đất có khả năng lâm nghiệp chiếm 2,2% diện tích tự nhiên toàn tỉnh Vùng ven biển có vùng đất rộng để phát triển công nghiệp lọc hóa dầu và cảng sâu ở Tĩnh Gia

3.1.3 Đất đai

Theo kết quả điều tra thổ nhưỡng với phương pháp của FAO- UNESCO, tỉnh Thanh Hoá có 8 nhóm đất chính với 20 loại đất khác nhau

- Nhóm đất cát: Diện tích 20.247 ha, chiếm 1,82% diện tích tự nhiên,

phân bố tập trung ở các huyện ven biển Thích hợp cho nhiều loại cây trồng như hoa màu, cây công nghiệp, cây ăn quả, trồng rừng ven biển và nuôi trồng thủy sản Tuy nhiên trong quá trình canh tác cần tăng cường bón phân cho đất và áp dụng các biện pháp cải tạo đất

- Nhóm đất mặn: Diện tích 21.456 ha, chiếm 1,93% diện tích tự nhiên,

phân bố chủ yếu ở vùng ven biển Thích hợp cho trồng cói, nuôi trồng thuỷ sản và phát triển rừng ngập mặn

- Nhóm đất phù sa: Diện tích 191.216 ha, chiếm 17,2% diện tích tự

nhiên, phân bố chủ yếu ở các vùng đồng bằng, ven biển Thích hợp với nhiều loại cây trồng, nhất là các loại cây ngắn ngày như lương thực, hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày khác

Trang 38

- Nhóm đất glây: Diện tích 2.583 ha, chiếm 0,23% diện tích đất tự nhiên

Hầu hết đất đã bị bạc màu cần được cải tạo đưa vào sản xuất nông lâm nghiệp

- Nhóm đất đen: Diện tích 5.903 ha, chiếm 0,53% diện tích tự nhiên Đất

bị lầy thụt và bùn, cần cải tạo đưa vào sản xuất nông lâm nghiệp

- Nhóm đất xám: Diện tích 717.245 ha, chiếm 64,6% diện tích tự nhiên

toàn tỉnh, phân bố chủ yếu ở vùng trung du miền núi, thuộc các huyện Quan Hoá, Bá Thước, Như Xuân, Thường Xuân, Cẩm Thuỷ, Ngọc Lặc, Thạch Thành, Lang Chánh Thích hợp cho phát triển lâm nghiệp và các cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả như cao su, cà phê, chè, cam, chanh, dứa

- Nhóm đất đỏ: Diện tích 37.829 ha, chiếm 3,4% diện tích tự nhiên, phân

bố ở độ cao trên 700 mét tại các huyện: Quan Hoá, Lang Chánh, Thường Xuân Thích hợp với nhiều loại cây trồng và khoanh nuôi tái sinh rừng Tuy nhiên, do phân bố ở địa hình cao, chia cắt mạnh và dễ bị rửa trôi nên việc khai thác sử dụng gặp nhiều khó khăn và cần có biện pháp bảo vệ đất

- Nhóm đất tầng mỏng: Diện tích 16.537 ha, chiếm 1,49% diện tích đất

tự nhiên, phân bố chủ yếu ở vùng trung du và các dãy núi độc lập ở đồng bằng ven biển như Nông Cống, Thiệu Hoá, Yên Định, Hoằng Hoá, Hà Trung, Hậu Lộc, Tĩnh Gia, Đông Sơn Cần được đầu tư, cải tạo và đưa vào khai thác

- Đất khác: Diện tích 97.610 ha, chiếm 8,79% diện tích tự nhiên toàn

tỉnh, trong đó núi đá vôi là 37.909 ha và ao, hồ, sông suối là 60.701 ha

3.1.4 Khí hậu

Thanh Hoá có khí hậu nhiệt đới gió mùa Nhiệt độ trung bình năm khoảng 230C- 240C, tổng nhiệt độ năm vào khoảng 8.5000C- 8.7000C Độ ẩm trung bình các tháng hàng năm khoảng 85%, phía Nam có độ ẩm cao hơn phía Bắc, khu vực núi cao ẩm ướt hơn và có sương mù Lượng mưa trung bình

Trang 39

năm từ 1.456,6 - 1.762,6 mm, phân bố không đều, mùa mưa (từ tháng V đến tháng X) tập trung tới 80 - 85% lượng mưa cả năm, gây lũ lụt Gió Tây Nam khô nóng từ tháng 4-7, Gió Đông Bắc từ tháng 11-3 Bão thường xuất hiện từ tháng VIII đến tháng X hàng năm, trung bình 2-3 cơn/năm

Thuận lợi: khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều thích hợp cho thực vật sinh trưởng, phát triển nhanh và cũng có nhiều yếu tố bất lợi như thiên tai xảy ra gây thiệt hại lớn cho sản xuất và đời sống

3.1.5 Thủy văn

Thanh Hóa là tỉnh có mạng lưới sông khá dày, có 4 hệ thống sông chính

là sông Hoạt, sông Mã, sông Chu, sông Yên, sông Bạng, với tổng chiều dài 881km, tổng diện tích lưu vực là 39.756 km2, tổng lượng nước trung bình hàng năm 19,52 tỉ m3 Sông suối Thanh Hóa chảy qua nhiều địa hình phức tạp, mật độ lưới sông trung bình khoảng 0,5 - 0,6 Km/Km2, có nhiều vùng có mật độ lưới sông rất cao như vùng sông Âm, sông Mực tới 0,98 - 1,06 Km/Km2 Đây là tiềm năng lớn cho phát triển thủy điện, tuy nhiên có sự biến động lớn giữa các năm và các mùa trong năm về lượng nước mặt cũng như nước ngầm

Toàn tỉnh Thanh Hóa hiện có khoảng 1.760 công trình hồ, đập nhỏ miền núi Mùa khô các hồ đập nhỏ thường thiếu nước do lượng mưa phân bố không đều và chất lượng độ tàn che của rừng chưa cao

3.1.6 Tài nguyên rừng

Rừng của Thanh Hoá chủ yếu là rừng lá rộng với hệ động thực vật khá phong phú, đa dạng về giống loài Về thực vật có các loại gỗ quý như Lát, Pơmu, Trầm hương, Lim, Sến, Vàng tâm…; các loại thuộc họ tre có Luồng, Nứa, Vầu, Giang, Bương, Tre…; ngoài ra còn có Mây, Song, dược liệu, cây chủ thả cánh kiến Tuy nhiên, trong những năm cuối thập kỷ trước do bị khai thác quá mức nên chất lượng rừng giảm sút nghiêm trọng, các loại thực vật

Trang 40

quí hiếm như Lim, Lát chỉ còn rải rác ở một số địa bàn vùng cao, vùng sâu, vùng xa, địa hình hiểm trở và tại các khu bảo tồn, vườn Quốc gia

Về động vật, có thể nói hệ động vật rừng ở Thanh Hóa trước đây rất phong phú, nhưng do trong nhiều năm bị săn bắt bừa bãi nên đã bị giảm sút nhiều Tuy nhiên, hiện nay vẫn thuộc loại phong phú so với nhiều tỉnh khác ở Bắc Bộ Trong một số khu rừng còn xuất hiện Bò rừng, Nai, Hoẵng, Vượn, Khỉ, Lợn rừng và nhiều loại chim, thú, bò sát khác Đặc biệt một số nơi còn

có các loài động vật quý như Hổ, Báo, Gấu, Gà lôi, Công trĩ Riêng ở vườn Quốc gia Bến En hiện còn hệ động vật rất phong phú gồm 162 loài chim, 53 loài thú, 39 loài bò sát , trong đó có nhiều loài quý hiếm không chỉ đối với

Việt Nam mà còn đối với cả thế giới, do vậy cần được bảo vệ nghiêm ngặt

Trữ lượng rừng của Thanh Hoá thuộc loại dưới trung bình, ước tính chỉ khoảng 16,6 triệu m3 gỗ và hơn 900 triệu cây tre nứa Hơn 90% rừng gỗ hiện nay thuộc loại rừng non và rừng nghèo, các loại rừng tre nứa hỗn giao cũng đều ở tình trạng nghèo

Tóm lại, rừng của Thanh Hóa rất phong phú và đa dạng về chủng loại rừng và lâm sản, nhưng chất lượng rừng thấp Do địa hình phức tạp, giao thông cách trở nên công tác quản lý và bảo vệ rừng gặp nhiều khó khăn

Ngày đăng: 22/06/2021, 06:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Trần Thế Liên (2006), “Nguyên nhân suy thoái đa dạng sinh học ở các khu rừng đặc dụng vùng Bắc Trung Bộ”,Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông, (số 01), tr 9-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên nhân suy thoái đa dạng sinh học ở các khu rừng đặc dụng vùng Bắc Trung Bộ”",Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông
Tác giả: Trần Thế Liên
Năm: 2006
14. Quyết định số 3669/QĐ-UBND ngày 17/11/2008 của UBND tỉnh Thanh Hóa về “Phê duyệt dự án trồng mới và cải tạo rừng sản xuất giai đoạn 2008-2015” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phê duyệt dự án trồng mới và cải tạo rừng sản xuất giai đoạn 2008-2015
18. Vũ Thị Bích Thuận, Trần Thị Mai Sen (2014), “Tác động của cộng đồng địa phương đến rừng đặc dụng vùng Tây Bắc”, Tạp chí Khoa học và công nghệ Lâm nghiệp, (số 2), tr 16-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của cộng đồng địa phương đến rừng đặc dụng vùng Tây Bắc”", Tạp chí Khoa học và công nghệ Lâm nghiệp
Tác giả: Vũ Thị Bích Thuận, Trần Thị Mai Sen
Năm: 2014
23. Gabrielle KissinGer, Martin Herold, Veronique de sy (2012), Drivers of deforestation and forest Degradation, Synthesis report for REDD+Policymakers Sách, tạp chí
Tiêu đề: Drivers of deforestation and forest Degradation
Tác giả: Gabrielle KissinGer, Martin Herold, Veronique de sy
Năm: 2012
24. Noriko Hosonuma, Martin Herold, Veronique De Sy, Ruth S De Fries, Maria Brockhaus, Louis Verchot, Arild Angelsen and Erika Romijn (2012), An assessment of deforestation and forest degradation drivers in developing countries, Environmental Research Letters, IOP Publishing House Sách, tạp chí
Tiêu đề: An assessment of deforestation and forest degradation drivers in developing countries
Tác giả: Noriko Hosonuma, Martin Herold, Veronique De Sy, Ruth S De Fries, Maria Brockhaus, Louis Verchot, Arild Angelsen and Erika Romijn
Năm: 2012
11. Ngân hàng thế giới, Sida (2005), Báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam 2005- Đa dạng sinh học Khác
15. Lê Thế Sự (2013), Nghiên cứu tác động của người dân địa phương đến tài nguyên rừng tại khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, Huyện Bá Thước, tỉnh Khác
16. UBND tỉnh Thanh Hóa (2011), Báo cáo kết quả các dự án trồng rừng Khác
17. UBND xã Trí Nang, huyện Lang Chánh (2013), Báo cáo tổng kết tình hình kinh tế xã hội và kế hoạch đến 2020 Khác
25. VFD program (2014), Feasibility Assessment for Emissions Reductions from Land Use in Thanh Hoa province Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w