1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đào tạo nguồn nhân lực ngành công nghệ thông tin tại thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020

107 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đào Tạo Nguồn Nhân Lực Ngành Công Nghệ Thông Tin Tại Thành Phố Hồ Chí Minh Đến Năm 2020
Tác giả Lê Đăng Thơ
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Phú Tụ
Trường học Trường Đại Học Công Nghệ TP. HCM
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2014
Thành phố TP. HỒ CHÍ MINH
Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 2,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (20)
  • 2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài (23)
  • 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài (23)
  • 4. Phương pháp nghiên cứu của luận văn (23)
  • 5. Kết cấu của luận văn (24)
  • CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC (25)
    • 1.1. Khái niệm đào tạo nguồn nhân lực (25)
    • 1.2. Vai trò của đào tạo nguồn nhân lực (26)
    • 1.3. Các phương thức đào tạo nguồn nhân lực CNTT (28)
      • 1.3.1. Phương thức hợp tác đào tạo nguồn nhân lực (28)
      • 1.3.2. Phương thức đào tạo nguồn nhân lực qua nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài tại các công ty đa quốc gia (28)
      • 1.3.3. Phương thức đào tạo nguồn nhân lực thông qua các doanh nghiệp (29)
      • 1.3.4. Phương thức đào tạo nguồn nhân lực thông qua hệ thống đào tạo công lập của Nhà Nước (29)
      • 1.3.5. Phương thức đào tạo nguồn nhân lực thông qua các tổ chức tư nhân hoặc tổ chức phi chính phủ (NGO) (30)
    • 1.4. Kinh nghiệm đào tạo nguồn nhân lực CNTT của một số nước (30)
      • 1.4.1. Đào tạo nguồn nhân lực CNTT của Mỹ (30)
      • 1.4.2. Đào tạo nguồn nhân lực CNTT của Hàn Quốc (31)
      • 1.4.3. Đào tạo nguồn nhân lực CNTT của Ấn Độ (33)
      • 1.4.5. Đánh giá chiến lược đào tạo CNTT của 4 quốc gia: Mỹ, Hàn Quốc, Ấn Độ và Trung Quốc (36)
    • 2.1. Thực trạng đào tạo nguồn nhân lực ngành công nghệ thông tin tại (41)
      • 2.1.1. Quy mô cơ sở đào tạo CNTT tại TP.HCM (41)
        • 2.1.1.1. Tiểu học (41)
        • 2.1.1.2. Trung học cơ sở và trung học phổ thông (41)
        • 2.1.1.3. Trung cấp nghề và Trung tâm đào tạo tin học (42)
        • 2.1.1.4. Cao đẳng – Đại học (42)
        • 2.1.1.5. Cơ quan hành chính Nhà nước, đơn vị sản xuất kinh doanh (44)
      • 2.1.2. Giảng viên và chương trình đào tạo (44)
        • 2.1.2.1. Số lượng và trình độ giảng viên (44)
        • 2.1.2.2. Chương trình đào tạo CNTT phụ thuộc vào (46)
        • 2.1.2.3. Hợp tác quốc tế về đào tạo CNTT (47)
      • 2.1.3. Kết quả đào tạo và phát triển nguồn nhân lực CNTT của các đơn vị đào tạo tại TP.HCM (48)
      • 2.1.4. Hợp tác giữa các doanh nghiệp sử dụng với các đơn vị đào tạo lao động CNTT tại TP.HCM (52)
      • 2.1.5. Đào tạo CNTT của các doanh nghiệp sử dụng nhân lực CNTT (53)
      • 2.1.6. Mức độ hài lòng của doanh nghiệp sử dụng nguồn nhân lực CNTT . 36 2.1.7. Quan hệ cung và cầu lao động CNTT trong đào tạo nguồn nhân lực (55)
      • 2.1.8. Đánh giá khả năng đào tạo nguồn nhân lực CNTT-TT thành phố Hồ Chí Minh (57)
        • 2.1.8.1. Thuận lợi (57)
        • 2.1.8.2. Khó khăn (59)
  • Kết luận (60)
    • 2.2. Thực trạng sử dụng nguồn nhân lực Công Nghệ Thông Tin thành phố Hồ Chí Minh (61)
      • 2.2.1. Nhân lực công nghệ thông tin thành phố Hồ Chí Minh 2010-201242 2.2.2. Thực trạng nhân lực CNTT trong doanh nghiệp CNTT (61)
      • 2.2.3. Thực trạng nhân lực CNTT trong doanh nghiệp ứng dụng CNTT 47 2.2.4. Kết luận về thực trạng nguồn nhân lực CNTT thành phố Hồ Chí Minh (66)
    • 3.1. Quan điểm, mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực CNTT ở thành phố Hồ Chí (69)
      • 3.1.1. Quan điểm đào tạo nguồn nhân lực CNTT ở thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 (69)
      • 3.1.2. Mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực CNTT ở thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 (70)
        • 3.1.2.1. Mục tiêu chung (70)
        • 3.1.2.2. Mục tiêu cụ thể (70)
    • 3.2. Nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực CNTT TP.HCM đến năm 2020 (71)
    • 3.3. Các chính sách, chương trình đào tạo nguồn nhân lực CNTT TP.HCM (72)
      • 3.3.1. Hiệu quả thực hiện một số chính sách liên quan đến đào tạo nguồn nhân lực CNTT –TT (72)
      • 3.3.2. Các chương trình đào tạo nguồn nhân lực CNTT-TT TP.HCM thực hiện trong giai đoạn 2012-2015 (77)
        • 3.3.2.1. Nghiên cứu, đề xuất chính sách hỗ trợ đào tạo, nghiên cứu và phát triển nguồn nhân lực CNTT-TT (77)
        • 3.3.2.2. Chương trình Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực CNTT-TT (77)
        • 3.3.2.3. Chương trình đào tạo tài năng CNTT-TT (78)
        • 3.3.2.4. Chương trình đào tạo nhân lực theo nhu cầu của xã hội (hay xã hội hóa đào tạo, bồi dưỡng nhân lực CNTT-TT) (78)
        • 3.3.2.5. Chương trình hỗ trợ sinh viên (79)
        • 3.3.2.6. Phát huy và mở rộng quy mô hoạt động của Quỹ hỗ trợ phát triển nhân lực CNTT-TT TP.HCM (79)
        • 3.3.2.7. Chương trình đào tạo lãnh đạo Công nghệ thông tin (CIO) và lãnh đạo an toàn thông tin (CSO) (79)
    • 3.4. Các giải pháp đào tạo nguồn nhân lực CNTT TP.HCM đến năm 2020 (80)
      • 3.4.1. Các nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo nguồn nhân lực CNTT-TT (80)
        • 3.4.1.1. Giải pháp từ Nhà nước (80)
        • 3.4.1.2. Giải pháp từ phía Nhà trường (83)
      • 3.4.2. Giải pháp về đổi mới đào tạo nhân lực CNTT (84)
      • 3.4.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực CNTT (85)
      • 3.4.4. Giải pháp nâng cao vai trò hạt nhân và tính năng động sáng tạo của nguồn nhân lực CNTT ở TP.HCM (86)
      • 3.4.5. Giải pháp tăng cường khả năng thông tin và định hướng phát triển đào tạo nguồn nhân lực CNTT ở TP.HCM theo nhu cầu thị trường và xây dựng các tập đoàn CNTT, đi đầu trong sự xây dựng thương hiệu CNTT VN (87)
      • 3.4.6. Giải pháp nâng cao nhận thức của các ngành, các cấp và tăng cường sự quản lý của nhà nước trong đào tạo nguồn nhân lực CNTT (87)
    • 3.5. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo nguồn nhân lực CNTT (88)
      • 3.5.1. Kiến nghị đối với Nhà Nước (88)
      • 3.5.2. Kiến nghị đối với Hiệp hội (90)
      • 3.5.3. Kiến nghị đối với các đơn vị đào tạo CNTT (91)
      • 3.5.4. Kiến nghị đối với các doanh nghiệp (91)
    • 3.6. Kết luận (92)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (93)

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là làm rõ lý luận về đào tạo nguồn nhân lực CNTT, đồng thời phân tích thực trạng và nhu cầu đào tạo nhân lực nhằm đáp ứng sự phát triển nguồn nhân lực CNTT tại TP.HCM Từ đó, luận văn đề xuất và phân tích các giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực CNTT cho thành phố đến năm 2025.

Phương pháp nghiên cứu của luận văn

Tác giả áp dụng nhiều phương pháp nghiên cứu như: ý kiến chuyên gia, phân tích tổng hợp, thống kê mô tả so sánh, kết hợp giữa logic và lịch sử, tổng kết thực tiễn, dự báo, mô hình hóa, cùng với việc kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu đã được công bố.

Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục và mục lục, luận văn gồm 3 chương với kết cấu như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về đào tạo nguồn nhân lực

Chương 2: Thực trạng đào tạo nguồn nhân lực ngành công nghệ thông tin tại thành phố Hồ Chí Minh

Chương 3: Một số giải pháp đào tạo nguồn nhân lực CNTT thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC

Khái niệm đào tạo nguồn nhân lực

Đào tạo là quá trình dạy các kỹ năng thực hành và kiến thức chuyên môn để người học có thể nắm vững và áp dụng vào công việc cụ thể Khái niệm này thường hẹp hơn giáo dục, tập trung vào giai đoạn sau khi người học đạt đến một độ tuổi và trình độ nhất định Có nhiều hình thức đào tạo, bao gồm đào tạo cơ bản, chuyên sâu, chuyên môn, nghề, đào tạo lại, đào tạo từ xa và tự đào tạo Đào tạo nguồn nhân lực nhằm trang bị kiến thức cần thiết cho người lao động, bao gồm kiến thức phổ thông, kiến thức chuyên nghiệp và kiến thức quản lý để họ có khả năng thực hiện công việc hiệu quả.

Đào tạo nguồn nhân lực bao gồm nhiều hình thức khác nhau, từ đào tạo mới cho những người chưa có nghề đến đào tạo lại cho những người cần thay đổi nghề nghiệp Ngoài ra, còn có đào tạo nâng cao trình độ để người lao động có thể đảm nhận những công việc phức tạp hơn Hoạt động đào tạo không chỉ diễn ra nội bộ trong doanh nghiệp mà còn bao gồm các chương trình đào tạo từ bên ngoài như đào tạo sau đại học, ngoại ngữ, tin học, và nâng cao tay nghề Những hoạt động này nhằm bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ và tạo cơ hội cho người lao động học tập, trao đổi kinh nghiệm, cũng như tham gia các khóa đào tạo chuyên sâu và lý luận chính trị, cả trong nước lẫn nước ngoài.

Các doanh nghiệp tiến hành đào tạo và phát triển nguồn nhân lực vì những lý do và tác dụng sau đây:

Để đảm bảo hoạt động trơn tru cho doanh nghiệp, việc chuẩn bị và bổ sung vào những chỗ còn thiếu là rất quan trọng Quá trình này cần diễn ra thường xuyên nhằm khắc phục những thiếu sót và duy trì sự ổn định trong hoạt động.

Để giúp người lao động thích ứng với những trách nhiệm và nhiệm vụ mới do sự thay đổi trong mục tiêu, cơ cấu, luật pháp, chính sách và công nghệ, cần thiết phải chuẩn bị kỹ lưỡng.

Ba là, Để hoàn thiện khả năng người lao động (nhiệm vụ hiện tại cũng như nhiệm vụ tương lai một cách có hiệu quả)

Tác dụng của phát triển và đào tạo nguồn nhân lực còn là:

Trước tiên, Giảm bớt được sự giám sát, vì đối với người lao động được đào tạo, họ là người có thể tự giám sát;

Kế đến, Giảm bớt những tai nạn do những hạn chế của con người hơn là do những hạn chế của trang bị;

Sự ổn định và năng động của doanh nghiệp được nâng cao nhờ vào khả năng duy trì hoạt động hiệu quả ngay cả khi thiếu vắng những nhân sự chủ chốt, nhờ vào nguồn nhân lực dự trữ sẵn có để thay thế.

Vai trò của đào tạo nguồn nhân lực

Đào tạo nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển xã hội và là giải pháp hiệu quả để giảm thiểu thất nghiệp Đầu tư vào giáo dục và đào tạo được xem là một trong những chiến lược chủ chốt cho sự thịnh vượng của đất nước.

Doanh nghiệp đào tạo nguồn nhân lực nhằm đáp ứng yêu cầu công việc và nhu cầu phát triển của tổ chức, góp phần vào sự tồn tại và phát triển bền vững Đây là một hoạt động mang lại lợi nhuận đáng kể cho doanh nghiệp.

Về phía người lao động nó đáp ứng nhu cầu học tập của người lao động, là một trong những yếu tố tạo nên động cơ lao động tốt

Ngày nay, đào tạo được xem là một khoản đầu tư quan trọng vào nguồn nhân lực của tổ chức, với nghiên cứu cho thấy hiệu quả của nhân viên mới được đào tạo có thể tương đương với nhân viên có kinh nghiệm Đào tạo không chỉ tạo ra năng lực hiện tại mà còn cho tương lai của tổ chức Bằng chứng kinh tế ngày càng nhiều cho thấy đầu tư vào đào tạo gắn liền với khả năng sinh lợi lâu dài và bền vững Vì vậy, công tác đào tạo cần được coi trọng và chú ý đúng mức.

Đào tạo nguồn nhân lực là biện pháp quan trọng giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng thích ứng với sự thay đổi của môi trường, từ đó đáp ứng hiệu quả yêu cầu công việc và đảm bảo sự tồn tại cũng như phát triển bền vững của tổ chức.

Đào tạo nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp sở hữu đội ngũ nhân sự chất lượng cao, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh Được xem như một vũ khí chiến lược, đào tạo giúp tổ chức tăng cường vị thế cạnh tranh so với các đối thủ.

Đào tạo nguồn nhân lực là yếu tố then chốt giúp thực hiện chiến lược nhân sự của doanh nghiệp và quốc gia Đối với doanh nghiệp, đào tạo nâng cao năng suất lao động, chất lượng công việc, và giảm sự giám sát cần thiết, đồng thời duy trì tính ổn định và năng động của tổ chức Đào tạo cũng tạo điều kiện cho việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật, từ đó tạo ra lợi thế cạnh tranh Đối với người lao động, đào tạo gắn bó họ với doanh nghiệp, nâng cao tính chuyên nghiệp, và giúp họ thích ứng với công việc hiện tại và tương lai Nó đáp ứng nhu cầu phát triển của người lao động, đồng thời khuyến khích sự sáng tạo trong công việc.

Các phương thức đào tạo nguồn nhân lực CNTT

1.3.1 Phương thức hợp tác đào tạo nguồn nhân lực:

Phương thức hợp tác đào tạo nguồn nhân lực diễn ra thông qua sự phối hợp giữa người sử dụng lao động, người lao động và bên thứ ba như chính phủ hoặc hiệp hội Bên thứ ba tổ chức các chương trình đào tạo, trong đó người lao động đóng góp một phần học phí, còn phần còn lại do người sử dụng lao động chi trả Mục tiêu chính của hình thức hợp tác này là tăng cường sự liên kết và hợp tác giữa các bên liên quan trong việc phát triển nguồn nhân lực.

Hợp tác đào tạo giữa doanh nghiệp, chính phủ và công đoàn có thể gặp khó khăn nếu nhà sử dụng lao động không sẵn sàng đóng góp chi phí cho đào tạo.

Phương thức hợp tác đào tạo được áp dụng ở Đức thông qua chương trình học việc của các công ty và ở Singapore thông qua quỹ SDF (Skills Development Fund) [11]

1.3.2 Phương thức đào tạo nguồn nhân lực qua nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài tại các công ty đa quốc gia

Các công ty đa quốc gia, nhờ vào nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI), được kỳ vọng sẽ thực hiện đào tạo nâng cao kỹ năng cho người lao động và cải tiến công nghệ, nhằm tăng cường năng suất lao động trong doanh nghiệp.

Đào tạo nguồn nhân lực tại các công ty đa quốc gia phụ thuộc vào chiến lược đầu tư, phát triển sản phẩm và chiếm lĩnh thị trường của họ Thông thường, các công ty này không tập trung vào việc đào tạo kỹ năng nâng cao hoặc chuyển giao công nghệ tiên tiến nếu đã được thực hiện ở nơi khác Điều này dẫn đến việc chiến lược đào tạo nguồn nhân lực không tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển quốc gia Ví dụ, phương thức đào tạo này đã thành công trong ngành điện tử ở Malaysia nhưng lại không đạt hiệu quả tương tự trong ngành IT ở Ireland.

1.3.3 Phương thức đào tạo nguồn nhân lực thông qua các doanh nghiệp

Doanh nghiệp thường đào tạo nguồn nhân lực theo nhu cầu riêng để nâng cao năng suất và giảm tỷ lệ chuyển việc Tuy nhiên, vì nhiều kỹ năng IT có thể áp dụng rộng rãi, chiến lược này không khuyến khích đào tạo nguồn nhân lực ở quy mô quốc gia.

Các quốc gia đã áp dụng thành công phương thức đào tạo này gồm Mỹ, Anh và Nhật Bản[11]

1.3.4 Phương thức đào tạo nguồn nhân lực thông qua hệ thống đào tạo công lập của Nhà Nước

Nhà nước triển khai các chương trình đào tạo kỹ năng cần thiết cho ngành công nghiệp trước khi thành lập, đồng thời áp dụng chính sách đào tạo nhằm dẫn dắt và điều phối cung cầu kỹ năng trong môi trường cạnh tranh Tuy nhiên, phương thức đào tạo hiện tại chưa đủ sức thu hút doanh nghiệp tham gia vào quá trình đào tạo nguồn nhân lực.

Phương thức đào tạo nguồn nhân lực qua hệ thống đào tạo công lập của Nhà Nước đã thành công trong việc phát triển ngành kinh tế công nghệ và công nghiệp tại Singapore, cũng như trong lĩnh vực công nghiệp CNTT tại Hàn Quốc.

1.3.5 Phương thức đào tạo nguồn nhân lực thông qua các tổ chức tư nhân hoặc tổ chức phi chính phủ (NGO)

Các tổ chức tư nhân và tổ chức phi chính phủ (NGO) thường triển khai các chương trình đào tạo nghề, nhằm nâng cao kỹ năng và khả năng làm việc cho người lao động.

Các tổ chức phi chính phủ thường hợp tác với doanh nghiệp, chính phủ và các cơ quan quốc tế để thành lập hiệp hội, nhằm hỗ trợ sự phát triển của cả doanh nghiệp và cộng đồng Ngoài ra, các NGO cũng tạo ra môi trường hợp tác khuyến khích doanh nghiệp tham gia tài trợ cho các chương trình giáo dục và đào tạo.

Tuy nhiên phương thức đào tạo này ít tạo ra động lực thúc đẩy doanh nghiệp tham gia đào tạo nguồn nhân lực

Phương thức đào tạo nguồn nhân lực thông qua các tổ chức tư nhân và tổ chức phi chính phủ (NGO) đã được triển khai thành công ở nhiều quốc gia, đặc biệt là Ấn Độ cùng với các nước đang phát triển ở Châu Phi, Châu Á và Mỹ Latinh.

Kinh nghiệm đào tạo nguồn nhân lực CNTT của một số nước

1.4.1 Đào tạo nguồn nhân lực CNTT của Mỹ

Cục Thống kê Lao động của Mỹ đã dự đoán từ năm 1996-2006, Mỹ cần 1,3 triệu lao động CNTT [27] Để giải quyết cho bài toán này, chính phủ

Mỹ đã có các đối sách sau:

Từ năm 1998, Mỹ đã xác định 20 chuyên ngành CNTT chính thức, tạo điều kiện thuận lợi cho người học và nhà tuyển dụng Bên cạnh đó, các chuẩn chương trình đào tạo CNTT được thiết lập, giúp cập nhật nhanh chóng những công nghệ mới nhất.

Hai là, hệ thống đào tạo CNTT của Mỹ đ ư ợ c chia làm hai bộ phận

Hệ thống đào tạo chính quy bao gồm các trường cao đẳng, đại học và viện khoa học, chuyên cung cấp kiến thức cho các kỹ sư CNTT Trong khi đó, hệ thống đào tạo phi chính quy cung cấp các khóa học ngắn hạn và chuyên ngành do các trường học, trung tâm và hiệp hội tổ chức.

Ngành công nghệ thông tin (CNTT) phát triển nhanh chóng và phục vụ đa dạng lĩnh vực, do đó, người Mỹ đã triển khai các chương trình đào tạo lại cho lao động CNTT trong suốt quá trình làm việc Mục tiêu là củng cố và cập nhật công nghệ mới, đồng thời bổ sung kiến thức ngoài lĩnh vực CNTT.

Mỹ không chỉ phát triển hệ thống đào tạo mà còn thu hút lao động CNTT thông qua chính sách nhập khẩu lao động, với gần 60.000 lao động CNTT từ Ấn Độ đến làm việc mỗi năm.

Với chính sách phát triển mạnh mẽ cho ngành CNTT và nguồn nhân lực chất lượng cao, Mỹ hiện đang được công nhận là quốc gia dẫn đầu thế giới về công nghệ thông tin.

1.4.2 Đào tạo nguồn nhân lực CNTT của Hàn Quốc

Vào những năm 1990, ngành công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT&TT) của Hàn Quốc đã có sự phát triển mạnh mẽ, đặc biệt từ năm 1996 đến 1999, khi đóng góp của CNTT&TT vào GDP quốc gia tăng từ 8.1% đến 9.9% Doanh thu hàng năm của ngành này tăng trưởng 14%, trong khi ngành công nghiệp phần mềm phát triển với tốc độ 30% mỗi năm.

Với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin và truyền thông, nhu cầu về nhân lực CNTT tại Việt Nam dự kiến sẽ đạt khoảng 1 triệu lao động vào năm 1998, tăng lên 1,4 triệu vào năm 2003 và gần 2 triệu vào năm 2010.

Hàn Quốc dự báo sẽ xảy ra khủng hoảng nhân lực trong lĩnh vực CNTT từ năm 2000 đến 2004, đặc biệt ngành công nghiệp phần mềm cần hơn 20.000 kỹ sư và hơn 3.000 tiến sĩ.

Biểu đồ 1.1 Biểu đồ dự báo nhân lực ngành CNTT-TT của Hàn Quốc giai đoạn 1998-2010

Nguồn: [37] Để giải quyết bài toán nhân lực CNTT, Hàn Quốc đã có các chính sách sau:

Chính quyền Hàn Quốc đã đầu tư vào việc mở rộng hệ thống đào tạo công nghệ thông tin ở bậc đại học và tiến sĩ, đồng thời hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng cần thiết cho lĩnh vực này.

CNTT, mở rộng quy mô cho các trường đào tạo CNTT

Chính phủ Hàn Quốc đang nỗ lực nâng cao chất lượng đào tạo CNTT bằng cách hỗ trợ xây dựng các chương trình đào tạo tiên tiến, thúc đẩy nghiên cứu và phát triển trong lĩnh vực CNTT, cũng như đào tạo giáo viên CNTT cho hệ thống giáo dục đại học.

Thứ ba, chính quyền hỗ trợ cho việc đào tạo lại lao động CNTT hiện có để tăng năng suất và hiệu quả làm việc của họ

Thứ tư, tuyên truyền về CNTT, hỗ trợ cho việc ứng dụng CNTT trong

Kỹ sư hợp tác máy tính

199820032010 cộng đồng để chuẩn bị các kiến thức CNTT cho cộng đồng nhằm phát triển nguồn nhân lực CNTT lâu dài

Vào thứ năm, cần xây dựng các chương trình phát triển nhân lực công nghệ thông tin (CNTT) và đảm bảo ngân sách dồi dào cho việc đào tạo Đồng thời, cần giao trách nhiệm cho các bên liên quan trong việc triển khai các chương trình này.

Bộ Thông tin-Truyền thông thực hiện

Bảng 1.1 Đầu tư của chính phủ Hàn Quốc cho phát triển nhân lực CNTT Đơn vị tính: tỷ won

Cuối cùng, Hàn Quốc đã kêu gọi đầu tư của xã hội vào công tác phát triển nguồn nhân lực CNTT

Hàn Quốc đã xây dựng chương trình đào tạo CNTT hợp lý nhờ vào những dự báo chính xác, từ đó phát triển nguồn nhân lực mạnh mẽ Nhờ đội ngũ nhân lực này, ngành CNTT của Hàn Quốc đã phát triển mạnh mẽ, góp phần đưa quốc gia trở thành một trong những nước phát triển hàng đầu hiện nay.

1.4.3 Đào tạo nguồn nhân lực CNTT của Ấn Độ

Kể từ thập niên 1990, Ấn Độ đã trở thành một trung tâm cung cấp nguồn nhân lực CNTT chất lượng cao cho toàn cầu Để đạt được điều này, Ấn Độ đã thành lập Hội Doanh nghiệp Dịch vụ và Phần mềm (NASSCOM), có nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển ngành CNTT trong nước.

NASSCOM đã khởi xướng dự án phát triển nguồn nhân lực quốc gia, nhấn mạnh nhu cầu lao động CNTT của Ấn Độ từ các quốc gia như Mỹ, Nhật, Đức và Anh Dự báo từ năm 1999-2008, Ấn Độ cần 2,2 triệu lao động CNTT, trong đó có 1,1 triệu lao động có bằng chính quy, nhưng hệ thống đào tạo chỉ đáp ứng khoảng 1,06 triệu Để đáp ứng nhu cầu này, hệ thống giáo dục và đào tạo CNTT đã được mở rộng với 2.579 đơn vị đào tạo chính quy và 2.300 đơn vị đào tạo phi chính quy Chính phủ Ấn Độ cũng khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân vào hệ thống đào tạo CNTT Đến năm 2008, Ấn Độ đã đào tạo hơn 2 triệu lao động CNTT.

Bảng 1.2 Dự báo nguồn lao động CNTT Ấn Độ được đào tạo đến năm 2008

Trình độ Số lượng (người)

Bên cạnh đó, chính phủ Ấn Độ còn phân rõ trách nhiệm của các cơ quan chức năng trong việc phát triển nguồn nhân lực:

Thứ nhất, Bộ Phát triển nguồn nhân lực có trách nhiệm liên kết các bộ phận có liên quan trong hệ thống giáo dục để đào tạo CNTT

Thứ hai, Bộ CNTT có trách nhiệm liên kết các doanh nghiệp với nhà trường trong việc đào tạo CNTT

Hội đồng Giáo dục công nghệ có nhiệm vụ hợp tác với các ban ngành nhằm phát triển chương trình đào tạo và đảm bảo chất lượng đào tạo trong lĩnh vực công nghệ thông tin.

Cuối cùng, các trường có trách nhiệm quản lý chương trình đào tạo CNTT tại trường theo đúng định hướng của chính phủ

Thực trạng đào tạo nguồn nhân lực ngành công nghệ thông tin tại

2.1.1 Quy mô cơ sở đào tạo CNTT tại TP.HCM

Tính đến thời điểm hiện tại, trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh có 479 trường tiểu học, trong đó có 443 trường được trang bị máy tính cá nhân [15]

Chương trình giảng dạy tin học ở tiểu học được triển khai từ năm học 2008-2009 với hai hình thức: dạy tăng cường cho lớp 1-2 và dạy tự chọn cho lớp 3-4-5, với 2 tiết/tuần, sử dụng sách giáo khoa “Cùng học Tin học” Mục tiêu chương trình là cung cấp kiến thức cơ bản về tin học và ứng dụng trong đời sống, giúp học sinh sử dụng máy tính trong học tập và giải trí Tuy nhiên, việc đầu tư phòng máy tính và trang thiết bị còn phụ thuộc vào ngân sách địa phương và sự đóng góp của phụ huynh, dẫn đến sự không đồng đều trong thực hiện chương trình Mặt khác, môn học không bắt buộc nên chưa nhận được sự đầu tư đầy đủ từ chính quyền và sự quan tâm của phụ huynh, với nhiều ý kiến cho rằng chương trình chưa phát huy được tư duy sáng tạo của trẻ Đội ngũ giáo viên dạy tin học chủ yếu là giáo viên kiêm nhiệm, có trình độ tối thiểu là trung cấp tin học.

2.1.1.2 Trung học cơ sở và trung học phổ thông

Hiện nay, thành phố có 249 trường trung học cơ sở, trong đó 100% đã đưa tin học thành môn tự chọn bên cạnh chương trình chính khóa Đối với 118 trường phổ thông cơ sở, 100% đã đưa tin học thành môn học bắt buộc Điều này tạo nền tảng vững chắc cho việc hình thành đội ngũ nhân lực trong tương lai, giúp học sinh tiếp cận với công nghệ thông tin trước khi bước vào thị trường lao động.

2.1.1.3 Trung cấp nghề và Trung tâm đào tạo tin học:

Các trường Trung học nghề và các Trung tâm tin học đã đóng góp phần không nhỏ đến việc phổ cập tin học cho lao động toàn thành phố

Bảng 2.1 Khả năng đào tạo hàng năm của trường trung học nghề và các trung tâm tin học tại TP.HCM

Bậc đào tạo Số đơn vị

Khả năng đào tạo hàng năm

Trung học nghề và các trung tâm tin học 200 200.000 lao động ứng dụng CNTT trong công việc

Nguồn: Theo tính toán của tác giả [15]

Trên địa bàn thành phố, có hơn 30 trường Trung cấp đào tạo nghề CNTT và hơn 170 Trung tâm cung cấp các chương trình tin học từ sơ cấp đến trung cấp, bao gồm các trình độ A, B, C và các nghề như kỹ thuật viên, lập trình viên.

Mỗi đơn vị đào tạo có khả năng huấn luyện tối thiểu 100 học viên, do đó hàng năm, các trung tâm này có thể cung cấp hơn 200.000 lao động có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong công việc.

Các trường cao đẳng và đại học đóng vai trò quan trọng trong việc đào tạo nguồn nhân lực CNTT chất lượng cao cho thành phố Nguồn nhân lực này không chỉ thiết yếu cho ngành công nghệ thông tin mà còn có ảnh hưởng lớn đến mọi lĩnh vực trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của toàn thành phố.

Bảng 2.2 Khả năng đào tạo hàng năm của các trường Cao Đẳng – Đại học đào tạo CNTT tại TPHCM

Bậc đào tạo Số đơn vị

(trường) Khả năng đào tạo hàng năm

Trên đại học 3 115 Đại học 24 10.000

Nguồn: Theo tính toán của tác giả [15 ]

Thành phố Hồ Chí Minh hiện có 24 trường đại học và 22 trường cao đẳng đào tạo 23 chuyên ngành công nghệ thông tin (CNTT), với khả năng cung cấp 16.000 nhân lực CNTT mỗi năm Hàng năm, các cơ sở giáo dục này có thể cung cấp cho thành phố hơn 8.000 chuyên viên CNTT có trình độ cao đẳng trở lên.

Thành phố hiện có ba trường đại học đào tạo chuyên ngành Công nghệ Thông tin ở bậc sau đại học, với chỉ tiêu tuyển sinh hàng năm tăng 30% Các trường này hàng năm cung cấp cho thành phố hơn 100 thạc sĩ và khoảng 15 tiến sĩ chuyên ngành CNTT.

Với 23 chuyên ngành đào tạo về CNTT ở bậc đại học và cao đẳng, cơ cấu ngành nghề đào tạo CNTT được đánh giá là tương đối đa dạng phong phú và về cơ bản phù hợp với nhu cầu phát triển nhanh chóng của thực tiễn

Bảng 2.3 Cơ cấu ngành nghề đào tạo CNTT ở TP.HCM

1 Khoa học máy tính 11 Tin học

2 Kỹ thuật máy tính 12 Tin Sư phạm

3 Công nghệ phần mềm 13 Tin học Công nghiệp

4 Mạng máy tính 14 Tin học xây dựng

5 Hệ thống thông tin 15 Tin học DN

5.1 Hệ thống thông tin Kinh tế 16 Tin học Kế toán

5.2 Hệ thống thông tin Quản lý 17 Tin học Quản lý

5.3 An toàn thông tin 18 Đồ họa

5.4 Thương mại điện tử 19 Tin học Tài chính – Kinh tế

6 Viễn thông – Điện tử 20 Tin học trắc địa

7 Viễn thông – Tin học 21 Tin học mỏ

8 Tin học Ứng dụng 22 Toán – Tin học Ứng dụng

9 Lý – Tin 23 Thống kê – Tin học

Thành ủy và Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã triển khai Chương trình đào tạo Thạc sỹ và Tiến sỹ nhằm phát triển nguồn cán bộ công chức trẻ thành những nhà quản lý có trình độ, đặc biệt ưu tiên ngành Công nghệ Thông tin (CNTT) để phục vụ cho sự phát triển của thành phố.

2.1.1.5 Cơ quan hành chính Nhà nước, đơn vị sản xuất kinh doanh

Hàng năm, Sở Nội vụ và Sở Thông tin và Truyền thông tổ chức các lớp đào tạo công nghệ thông tin (CNTT) nhằm nâng cao kỹ năng CNTT cho cán bộ, công chức trong quản lý nhà nước.

Sở Nội vụ thành phố thường xuyên tổ chức các khóa đào tạo nâng cao kỹ năng tin học cho chuyên viên và cán bộ tại các quận, huyện, sở và ban ngành, từ trình độ A đến trình độ B.

Sở Thông tin và Truyền thông sẽ tổ chức các chương trình đào tạo nhằm nâng cao kiến thức về quản lý hệ thống thông tin và an toàn an ninh thông tin cho cán bộ phụ trách CNTT tại các quận, huyện, sở và ban ngành trong thành phố, dựa trên trình độ nhân lực hiện tại.

2.1.2 Giảng viên và chương trình đào tạo

2.1.2.1 Số lượng và trình độ giảng viên

Với 80 đơn vị đào tạo tham gia khảo sát, trong đó có sự tham gia của các trường thuộc khối ĐHQG (ĐH KHTN, ĐH Bách Khoa, ĐH CNTT, …), đơn vị đào tạo CNTT uy tín (trung tâm NIIT, Nhất Nghệ, Kovit, Sibme,…) đã cho kết quả:

Tác giả đã tổng hợp kết quả khảo sát từ 80 đơn vị đào tạo, làm rõ số lượng, loại hình và bậc đào tạo nhân lực CNTT, được trình bày qua bảng biểu 2.4.

Bảng 2.4 Số lượng trường đào tạo CNTT theo loại hình đào tạo và bậc đào tạo

Chính qui 37 Sau đại học 6

Liên kết đào tạo 9 Cao Đẳng 23

Phi chính qui 9 Trung cấp 17

Nguồn: Theo tính toán của tác giả [11]

Tổng số lượng các loại hình và bậc đào tạo vượt quá số đơn vị đào tạo được khảo sát, vì mỗi trường có khả năng cung cấp nhiều loại hình và bậc đào tạo khác nhau.

Ngày đăng: 21/06/2021, 23:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Kim Dung (2005, tái bản lần thứ tư), Quản trị nguồn nhân lực, Nhà xuất bản Thống kê, TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị nguồn nhân lực
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
2. Ngô Trương Hoàng Thy, Jonh Mckenzie, Trần Phương Trình ( 2006). Đào tạo nguồn nhân lực làm sao để khỏi “ném tiền qua cửa sổ”, Nxb Trẻ, Hồ Chí Minh 3. Nguyễn Hữu Dũng, Sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực con người ở Việt Nam, Nxb Lao động-Xã hội, Hà nội 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo nguồn nhân lực làm sao để khỏi “ném tiền qua cửa sổ”", Nxb Trẻ, Hồ Chí Minh 3. Nguyễn Hữu Dũng, "Sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực con người ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb Trẻ
4. Phạm Minh Hạc, Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
5. Tô Chí Thành (2004), Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin khu vực Châu á - Thái Bình Dương, Nxb bưu điện, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin khu vực Châu á - Thái Bình Dương
Tác giả: Tô Chí Thành
Nhà XB: Nxb bưu điện
Năm: 2004
6. TS.Ngô Gia Lưu-ThS.Nguyễn Thị Thanh Liên, Phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin chất lượng cao ở Thành Phố Hồ Chí Minh, Tạp chí phát triển nhân lực 05/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin chất lượng cao ở Thành Phố Hồ Chí Minh
7. Trần Văn Quý, Cao Hào Thi (2009). Các yếu tố ảnh hưởng tới việc chọn trường đại học của học sinh phổ thông trung học. Tạp chí Khoa học và Phát triển công nghệ. Tập 12, số 15, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các yếu tố ảnh hưởng tới việc chọn trường đại học của học sinh phổ thông trung học
Tác giả: Trần Văn Quý, Cao Hào Thi
Năm: 2009
10. Bộ Khoa Học và Công Nghệ - Trung tâm thông tin khoa học và công nghệ quốc gia, (2005). Phát triển nhân lực khoa học và công nghệ ở các nước Asean, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nhân lực khoa học và công nghệ ở các nước Asean
Tác giả: Bộ Khoa Học và Công Nghệ - Trung tâm thông tin khoa học và công nghệ quốc gia
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2005
12. Đỗ Thị Ngọc Ánh, (2008). Đào tạo nguồn nhân lực CNTT ở Việt Nam. Luận văn thạc sĩ ngành Kinh tế chính trị Đại Học Kinh Tế TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo nguồn nhân lực CNTT ở Việt Nam
Tác giả: Đỗ Thị Ngọc Ánh
Năm: 2008
13. Nguyễn Hoàng Nhiên (2008). Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực CNTT của TP.HCM đến năm 2020. Luận văn thạc sĩ ngành Kinh tế phát triển Đại Học Kinh Tế TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực CNTT của TP.HCM đến năm 2020
Tác giả: Nguyễn Hoàng Nhiên
Năm: 2008
17. Anh Duy, Philipines qua mặt Ấn Độ về dịch vụ tin học, Tuổi trẻ 12-07-2013 Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Philipines qua mặt Ấn Độ về dịch vụ tin học
23. Cutts, Q.I., Brown, M.I., Kemp, L. and Matheson, C. (2007). Enthusing and Informing Potential Computer Science Students and their Teachers. Comp. Sci.Education (ERIC Document Reproduction Service No. ED367411) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Enthusing and Informing Potential Computer Science Students and their Teachers. Comp. Sci
Tác giả: Cutts, Q.I., Brown, M.I., Kemp, L. and Matheson, C
Năm: 2007
24. David Begg, Stanley Fischer & Rudiger Dornbusch, Kinh tế học Tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học Tập 1
Nhà XB: Nxb Giáo dục
25. Drummond, S. (2009). Investigating the Impact of Entry Qualifications on Student Performance in Computing Programes at Undergraduate Level.Doctoral Thesis, Durham University Sách, tạp chí
Tiêu đề: Investigating the Impact of Entry Qualifications on Student Performance in Computing Programes at Undergraduate Level
Tác giả: Drummond, S
Năm: 2009
28. Nadler & Nadler; “The Handbook of human resource development”1-3; NewYork: John Wiley, 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “The Handbook of human resource development”1-3
34. Yoshihara Kunio, “Asia per capita: why national incomes differ in East Asia”, Publisher: RoutledgeCurzon; March 30, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Asia per capita: why national incomes differ in East Asia”
36. ILO, “Foreign direct investment spillovers, absorptive capacities and human cappital development: evidence from Argentina”, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Foreign direct investment spillovers, absorptive capacities and human cappital development: evidence from Argentina
11. Bộ Thông tin và Truyền thông - Ủy Ban Nhân Dân TP.HCM, (19/12/2012). Hội Thảo Đào Tạo Nghiên Cứu và Phát Triển Nguồn Nhân Lực Công Nghệ Thông Tin – Truyền Thông Giai Đoạn 2013-2015 Khác
18. AAhad M. Osman-Gani-Nanyang Technological University, Singapore, (2004). Human Capital Development in Singapore: An Analysis of National Policy Perspectives Khác
19. Adeyemi O.Ogunade – University of Rhode Island, (2011). Human Capital Investment in The Development World: an Analysis of Praxis Khác
20. Ashish Arora, Surendra K. – NBER Working Paper 16167, (2010). Human Capital and the Indian Software Industry Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w