Luật GD, Chương trình GDMN quy định mục tiêu của GDMN nhằm phát triển toàn diện trẻ em về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ
Trang 1NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN
BỒI DƯỠNG TRÍ TUỆ CẢM XÚC TRONG HOẠT ĐỘNG NGHỀ NGHIỆP
CHO GIÁO VIÊN MẦM NON
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Hà Nội - 2021
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN
BỒI DƯỠNG TRÍ TUỆ CẢM XÚC TRONG HOẠT ĐỘNG NGHỀ NGHIỆP
CHO GIÁO VIÊN MẦM NON
Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non
Mã số: 9.14.01.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS Nguyễn Thị Như Mai
TS Đinh Văn Vang
Hà Nội - 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu được trình bày trong Luận án là trung thực, khách quan và chưa từng được công bố ở bất kì một công trình nào khác
Tác giả luận án
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc nhất, em xin trân trọng cảm ơn:
PGS.TS Nguyễn Thị Như Mai và TS Đinh Văn Vang đã tận tình giúp đỡ, trực tiếp
hướng dẫn em trong suốt quá trình học tập nghiên cứu để hoàn thành Luận án này
Em xin trân trọng cảm ơn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, các quý Thầy, Cô, cán bộ Khoa Giáo dục Mầm non, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã giảng dạy, hướng dẫn và giúp đỡ em trong quá trình học tập và nghiên cứu
Em xin trân trọng cảm ơn các đồng chí lãnh đạo và chuyên viên Vụ Giáo dục Mầm non, Bộ Giáo dục và Đào tạo; lãnh đạo, cán bộ quản lý Sở Giáo dục và Đào tạo, Phòng Giáo dục và Đào tạo các quận, huyện và giáo viên các trường mầm non trên địa bàn Thành phố Hà Nội đã hỗ trợ giúp đỡ, tư vấn, cung cấp số liệu, tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình thực hiện Luận án này
Em xin trân trọng cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã quan tâm, động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận án
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận án
Trang 5DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể, đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 3
7 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 4
8 Luận điểm bảo vệ 6
9 Đóng góp mới của luận án 6
10 Cấu trúc của luận án 6
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ BỒI DƯỠNG TRÍ TUỆ CẢM XÚC TRONG HOẠT ĐỘNG NGHỀ NGHIỆP CHO GIÁO VIÊN MẦM NON 7
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 7
1.1.1 Những nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc 7
1.1.2 Những nghiên cứu về bồi dưỡng trí tuệ cảm xúc 10
1.2 Trí tuệ cảm xúc 16
1.2.1 Khái niệm trí tuệ cảm xúc 16
1.2.2 Cấu trúc trí tuệ cảm xúc 21
1.2.3 Vai trò của trí tuệ cảm xúc 26
1.2.4 Các phương pháp đo lường trí tuệ cảm xúc 28
1.3 Hoạt động nghề nghiệp và trí tuệ cảm xúc trong hoạt động nghề nghiệp của giáo viên mầm non 30
1.3.1 Hoạt động nghề nghiệp của giáo viên mầm non 30
1.3.2 Trí tuệ cảm xúc trong hoạt động nghề nghiệp của giáo viên mầm non 39
1.4 Hoạt động bồi dưỡng trí tuệ cảm xúc trong hoạt động nghề nghiệp cho giáo viên mầm non 41
1.4.1 Khái niệm bồi dưỡng trí tuệ cảm xúc và biện pháp bồi dưỡng trí tuệ cảm xúc trong hoạt động nghề nghiệp cho giáo viên mầm non 41
1.4.2 Ý nghĩa của việc bồi dưỡng trí tuệ cảm xúc trong hoạt động nghề nghiệp cho giáo viên mầm non 42
Trang 71.4.3 Nội dung bồi dưỡng trí tuệ cảm xúc trong hoạt động nghề nghiệp cho giáo viên
mầm non 43
1.4.4 Phương pháp bồi dưỡng trí tuệ cảm xúc trong hoạt động nghề nghiệp cho giáo viên mầm non 44
1.4.5 Hình thức bồi dưỡng trí tuệ cảm xúc trong hoạt động nghề nghiệp cho giáo viên mầm non 46
1.4.6 Quy trình bồi dưỡng trí tuệ cảm xúc trong hoạt động nghề nghiệp cho giáo viên mầm non 48
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc và bồi dưỡng trí tuệ cảm xúc trong hoạt động nghề nghiệp của giáo viên mầm non 50
1.5.1 Những yếu tố chủ quan 50
1.5.2 Những yếu tố khách quan 51
Kết luận Chương 1 54
Chương 2 THỰC TRẠNG BỒI DƯỠNG TRÍ TUỆ CẢM XÚC TRONG HOẠT ĐỘNG NGHỀ NGHIỆP CHO GIÁO VIÊN MẦM NON 55
2.1 Khái quát về khảo sát thực trạng 55
2.1.1 Mục đích khảo sát 55
2.1.2 Khách thể khảo sát 55
2.1.3 Địa bàn khảo sát: tại 04 quận nội thành TP Hà Nội là Cầu Giấy, Bắc Từ Liêm, Đống Đa, Hai Bà Trưng và 02 huyện ngoại thành là huyện Ba Vì và Ứng Hoà 55
2.1.4 Nội dung khảo sát 55
2.1.5 Phương pháp khảo sát 56
2.1.6 Kĩ thuật và công cụ đánh giá kết quả khảo sát 56
2.2 Phân tích kết quả khảo sát thực trạng 63
2.2.1 Thực trạng mức trí tuệ cảm xúc của giáo viên mầm non 63
2.2.2 Thực trạng bồi dưỡng trí tuệ cảm xúc trong hoạt động nghề nghiệp cho giáo viên mầm non 79
2.2.3 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến sự nảy sinh cảm xúc của giáo viên mầm non trong hoạt động nghề nghiệp 88
2.2.4 Thực trạng kết quả bồi dưỡng trí tuệ cảm xúc trong hoạt động nghề nghiệp của giáo viên mầm non qua một số trường hợp nghiên cứu điển hình 91
2.2.5 Thực trạng cảm giác thoải mái và sự tham gia của trẻ trong các hoạt động ở trường mầm non 95
Trang 82.2.6 Đánh giá chung về thực trạng bồi dưỡng trí tuệ cảm xúc trong hoạt động nghề nghiệp
cho giáo viên mầm non 98
Kết luận chương 2 99
Chương 3 BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG TRÍ TUỆ CẢM XÚC TRONG HOẠT ĐỘNG NGHỀ NGHIỆP CHO GIÁO VIÊN MẦM NON 100
3.1 Nguyên tắc xây dựng biện pháp bồi dưỡng trí tuệ cảm xúc trong hoạt động nghề nghiệp cho giáo viên mầm non 100
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính phù hợp với sự phát triển cảm xúc của con người 100
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính toàn diện 100
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa và phát triển 101
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn và khả thi 101
3.2 Biện pháp bồi dưỡng trí tuệ cảm xúc trong hoạt động nghề nghiệp cho giáo viên mầm non 102
3.2.1 Nhóm biện pháp chuẩn bị bồi dưỡng trí tuệ cảm xúc trong hoạt động nghề nghiệp cho giáo viên mầm non 102
3.2.2 Nhóm biện pháp thực hiện bồi dưỡng trí tuệ cảm xúc trong hoạt động nghề nghiệp cho giáo viên mầm non 104
3.2.3 Nhóm biện pháp đánh giá và tiếp tục bồi dưỡng trí tuệ cảm xúc trong hoạt động hướng nghiệp cho giáo viên mầm non 116
3.3 Mối quan hệ giữa các nhóm biện pháp 125
3.4 Đánh giá của giáo viên về các biện pháp bồi dưỡng trí tuệ cảm xúc trong hoạt động nghề nghiệp cho giáo viên mầm non 127
3.5 Thực nghiệm sư phạm 128
3.5.1 Khái quát thực nghiệm sư phạm 128
3.5.2 Kết quả và phân tích kết quả thực nghiệm 132
3.5.3 Kết luận chung về thực nghiệm 146
Kết luận chương 3 147
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 148 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KH ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Một số trắc nghiệm TTCX phổ biến 29
Bảng 2.1 Phân bố khách thể nghiên cứu trực tiếp 55
Bảng 2.2 TTCX trong HĐNN của GVMN qua thang đo bài tập tình huống 60
Bảng 2.3 Mức TTCX của GVMN qua thang đo MSCEIT-97 63
Bảng 2.4 Thực trạng mức EQ của GVMN 64
Bảng 2.4.1 Tương quan điểm thành phần của thang đo MSCEIT của GVMN (Theo thâm niên công tác) 66
Bảng 2.4.2 Tương quan điểm thành phần của thang đo MSCEIT của GVMN (Theo trình độ đào tạo) 67
Bảng 2.4.3 Tương quan điểm thành phần của thang đo MSCEIT của GVMN(Theo loại hình trường) 69
Bảng 2.5 Điểm trung bình mức TTCX trong HĐNN của GVMN 70
Bảng 2.6 Mức TTCX trong HĐNN của GVMN trong HĐNN 71
Bảng 2.7 Mối tương quan về mức TTCX giữa các mối quan hệ nghề nghiệp của GVMN 72
Bảng 2.8 Cách nhận biết CX và hỗ trợ người khác trong quá trình CS - GD trẻ 74
Bảng 2.9 Năng lực nhận biết những CX tích cực nảy sinh trong quá trình CS - GD trẻ 76 Bảng 2.10 Năng lực nhận biết những CX tiêu cực nảy sinh trong quá trình CS - GD trẻ 76 Bảng 2.11 Mức độ sử dụng các biện pháp giải toả CX tiêu cực và phát triển cảm xúc tích cực của GVMN trong quá trình CS - GD trẻ em 78
Bảng 2.12 Đánh giá về mục tiêu bồi dưỡng TTCX 79
Bảng 2.13 Đánh giá về nội dung bồi dưỡng TTCX 80
Bảng 2.14 Đánh giá về các hình thức bồi dưỡng TTCX 84
Bảng 2.15 Đánh giá về các phương pháp bồi dưỡng TTCX 84
Bảng 2.16 Thực trạng các điều kiện hỗ trợ GVMN giải toả CX tiêu cực, phát triển CX tích cực nảy sinh trong HĐNN của BGH nhà trường 85
Bảng 2.17 Đề xuất của GVMN về điều kiện duy trì và nâng cao TTCX trong HĐNN 86 Bảng 2.18 Đánh giá của GV về các yếu tố ảnh hưởng đến sự nảy sinh CX trong HĐNN của GVMN 89
Bảng 2.19 Mức độ cảm giác thoải mái của trẻ trong các hoạt động giáo dục 95
Bảng 2.20 Mức độ tham gia của trẻ trong các hoạt động giáo dục 96
Bảng 2.21 Mức độ cảm giác thoải mái và sự tham gia của trẻ trong các hoạt động giáo dục 97
Bảng 3.1 Đánh giá về các biện pháp bồi dưỡng TTCX 127
Trang 10DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Mô hình TTCX (năm 1990) của P.Salovey và Mayer [83;34] 22
Biểu đồ 2.1 Thực trạng mức EQ của GVMN 65
Biểu đồ 2.2 Mức TTCX của GVMN trong HĐNN 71
Biểu đồ 2.3 Mức độ cảm giác thoải mái của trẻ trong các hoạt động giáo dục 96
Biểu đồ 2.4 Mức độ tham gia của trẻ trong các hoạt động giáo dục 97
Sơ đồ 3.1 Biện pháp tổ chức BD TTCX trong HĐNN cho GVMN 126
Biểu đồ 3.1: Mức TTCX trong HĐNN của GVMN nhóm TN và nhóm ĐC trước TN (Toàn bộ 25 BTTH) 132
Biểu đồ 3.2 So sánh kết quả sau TN của hai nhóm TN và ĐC của 2 trường tham gia NC (Toàn bộ 25 bài tập) 134
Biểu đồ 3.3 So sánh kết quả của nhóm TN của 2 trường về tác động ảnh hưởng từ nội dung và biện pháp nâng cao TTCX (Toàn bộ 25 BTTH) 137 Biểu đồ 3.4 Đánh giá của GVMN về hiệu quả các nhóm BP BD TTCX cho GVMN 140
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vấn đề trí tuệ và việc đo lường trí tuệ đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu (NC) trên cả bình diện lí luận và thực tiễn Những thành tựu thu được trong việc NC về trí tuệ cũng đã làm thay đổi quan niệm về trí tuệ Trí tuệ từ chỗ chỉ được hiểu là trí thông minh thì ngày nay đã được hiểu bao gồm nhiều loại khác nhau trong đó có trí thông minh, trí tuệ cảm xúc (TTCX) và trí sáng tạo, trí tuệ xã hội
TTCX được NC chính thức từ những năm 1990 và thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về TTCX Hiểu một cách chung nhất, TTCX là loại hình trí tuệ thể hiện năng lực của chủ thể đối với các vấn đề có liên quan đến CX Với những năng lực đó, TTCX giúp con người nhận biết, sử dụng và kiểm soát được CX của bản thân và của người khác, từ đó giúp chủ thể giải quyết tốt các tình huống giao tiếp ứng xử đang diễn ra trong cuộc sống Theo đánh giá của các nhà khoa học, TTCX được xem là nhân tố dự đoán tốt cho sự thành công hay thất bại đối với những lĩnh vực công việc có liên quan đến con người Các NC không chỉ khẳng định sự tồn tại của TTCX mà còn đi đến một kết luận rất quan trọng: TTCX có tương quan thuận với tuổi tác và kinh nghiệm sống, tức là có thể cải thiện TTCX bằng con đường luyện tập Do vậy nhiều nhà khoa học đã XD chương trình bồi dưỡng (BD) TTCX cho con người nói chung và cho giáo viên (GV), như Chương trình SEL (Social Emotional Learning): BD CX xã hội của Elias, Zins và cộng sự; Chương trình phát triển TTCX của Hiệp hội quản lí Hoa Kì (American Management Association), của Đại học
Sydney (University of Sydney); Chương trình đào tạo TTCX cho GV tại Israel của Dolev và Leshem (2016)
Ở Việt Nam, các công trình NC về TTCX và BD TTCX cho GV mới được triển khai trong những năm gần đây và cũng chưa nhiều Những NC chủ yếu tập trung vào GV cấp tiểu học, trung học cơ sở và sinh viên đại học, đề tài NC TTCX của GVMN và BD TTCX trong hoạt động nghề nghiệp (HĐNN) cho GVMN còn ít được nghiên cứu Các công trình
NC khoa học về vấn đề này đều có điểm chung đó là khẳng định vị trí, vai trò của trí tuệ CX như là một trong những kĩ năng XH cần thiết, là yếu tố ảnh hưởng lớn đến sự thành công của mỗi cá nhân trong cuộc sống Điều này càng quan trọng đối với GVMN, những người chăm sóc, GD trẻ MN và có những đóng góp quan trọng cho giai đoạn đầu của sự hình thành nhân cách trẻ
Giáo dục Việt Nam đứng trước yêu cầu đổi mới nhằm đào tạo ra thế hệ công dân đáp ứng các xu thế phát triển chung toàn cầu Thực hiện Chương trình nghị sự của Liên Hợp quốc về Phát triển bền vững 2030, Chính phủ đã giao Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì và phối hợp với các bộ, cơ quan ngang Bộ thực hiện một số mục tiêu quan trọng, trong đó, cấp học Mầm non thực hiện mục tiêu 4.2: “Đến năm 2030, đảm bảo tất cả các trẻ em gái và trai được tiếp cận với phát triển, chăm sóc giai đoạn trẻ thơ và GDMN có chất lượng để sẵn sàng bước vào cấp Tiểu học” [30]
Trang 12Từ mục tiêu nói trên, Chính phủ phê duyệt hai Đề án Phát triển toàn diện trẻ em [8] và Phát triển GDMN giai đoạn 2016 -2025 [9] với mục tiêu bảo đảm cho trẻ em được phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tinh thần; được bình đẳng tiếp cận với các dịch vụ hỗ trợ chăm sóc phát triển toàn diện theo độ tuổi nhằm thực hiện các quyền trẻ
em, góp phần phát triển nguồn nhân lực quốc gia
Luật GD, Chương trình GDMN quy định mục tiêu của GDMN nhằm phát triển toàn diện trẻ em về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp một [37]; hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm sinh lí, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kĩ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm
ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời [5] Như vậy, GDMN giữ vai trò quan trọng trong việc đặt nền móng cho sự phát triển nhân cách, phát hiện và tạo cơ hội để trẻ phát triển năng lực cá nhân Giáo dục không chỉ dừng lại ở việc trang bị kiến thức mà còn trang bị cho trẻ các kĩ năng và thái
độ ứng xử đúng đắn để lĩnh hội và chiếm lĩnh tri thức, để an toàn khỏe mạnh, để chia
sẻ và hợp tác vì một cộng đồng cùng chung sống và cùng phát triển bền vững
Để đáp ứng được yêu cầu của xã hội, thời đại trong công tác CS - GD trẻ em Việt Nam, những năm gần đây, cấp học MN được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm, chất lượng CS - GD trẻ ngày càng được nâng cao Số lượng và chất lượng đội ngũ GVMN cũng ngày càng được hoàn thiện Nhiều GVMN tận tụy, yêu thương, hết lòng vì trẻ
em Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận GVMN và người trông giữ trẻ vi phạm đạo đức nhà giáo, bạo hành, ngược đãi trẻ với nhiều mức độ và hành động khác nhau Những hành động đó đã bị dư luận XH lên án mạnh mẽ Xét từ góc độ xã hội, các hiện tượng
đó một phần do nguyên nhân như: do áp lực công việc, sự thiếu hiểu biết về nghề, thiếu tình yêu đối với trẻ em của người CS - GD trẻ, nhưng đặc biệt phải kể đến khả năng kiểm soát CX và làm chủ bản thân còn nhiều hạn chế…
GVMN là người làm nhiệm vụ CS - GD trẻ em trong trường MN, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập Công việc của GVMN có nhiều áp lực nặng nề như số trẻ trong một nhóm, lớp đông, thời gian làm việc nhiều, cường độ làm việc cao, việc đảm bảo an toàn cho trẻ, các mối quan hệ, giao tiếp đa dạng và nhạy cảm Cùng với những kiến thức chuyên môn, sự hiểu biết xã hội, GVMN rất cần có năng lực TTCX để nâng cao hiệu quả
CS - GD trẻ em Việc BD TTCX cho GV MN cần được thực hiện thống nhất giữa các yếu tố: nhận thức, thái độ, hành vi với các biện pháp BD TTCX phù hợp với xu thế GD hiện đại, đem lại hiệu quả thiết thực trong quá trình đổi mới GD ở nước ta hiện nay
Xuất phát từ những cơ sở lí luận và thực tiễn trên, đề tài “Bồi dưỡng trí tuệ cảm xúc
trong hoạt động nghề nghiệp cho giáo viên mầm non” được lựa chọn nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở NC lí luận và thực tiễn về BD năng lực nghề nghiệp cho GVMN, luận
án đề xuất một số biện pháp BD TTCX trong HĐNN cho GVMN, góp phần nâng cao chất lượng CS - GD trẻ em cho GVMN
Trang 133 Khách thể, đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Quá trình BD TTCX trong HĐNN cho GVMN
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp BD TTCX trong HĐNN cho GVMN
4 Giả thuyết khoa học
TTCX của GVMN còn nhiều hạn chế nhất là các năng lực hiểu, kiểm soát và điều chỉnh CX, điều đó do nhiều nguyên nhân, trong đó các biện pháp BD TTCX cho GVMN chưa phù hợp là nguyên nhân cơ bản
Nếu xây dựng được các biện pháp BD TTCX tác động trực tiếp đến nhận thức,
kĩ năng phân tích, kiểm soát và bộc lộ CX, giúp GV giải tỏa áp lực, kiểm soát tốt CX bản thân và người khác, có hành vi phù hợp với chuẩn mực văn hóa, đạo đức nghề nghiệp thì TTCX trong HĐNN của GVMN sẽ được nâng cao
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Tổng quan và NC lí luận về BD TTCX trong HĐNN cho GVMN
5.2 Đánh giá thực trạng BD TTCX trong HĐNN cho GVMN, các yếu tố ảnh
hưởng đến BD TTCX trong HĐNN cho GVMN
5.3 Xây dựng các biện pháp BD TTCX trong HĐNN cho GVMN và thực
nghiệm SP nhằm khẳng định hiệu quả, tính khả thi của các biện pháp BD TTCX trong HĐNN cho GVMN đã xây dựng
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
6.1 Về đối tượng nghiên cứu
TTCX của GVMN được biểu hiện trong nhiều hoạt động (HĐ) ở trường MN (Xây dựng môi trường giáo dục; tổ chức các HĐ nuôi dưỡng, CS - GD trẻ em; HĐ vì cộng đồng, ) Trong luận án này, chúng tôi đi sâu NC TTCX trong HĐNN của GVMN (TTCX của GVMN trong mối quan hệ tương tác với trẻ em, với đồng nghiệp và với phụ huynh trong quá trình nuôi dưỡng, CS - GD trẻ em) và xây dựng các biện pháp BD TTCX trong HĐNN cho GVMN
6.2 Về khách thể và địa bàn nghiên cứu
* Khách thể và địa bàn khảo sát thực trạng: Khảo sát 410 GVMN trên địa bàn
Hà Nội với 3 nội dung sau:
- Mức độ TTCX của GVMN thông qua trắc nghiệm MSCEIT-1997;
- Năng lực xử lí các tình huống SP liên quan đến CX trong HĐNN của GVMN thông qua bài tập đo nghiệm;
- Thực trạng BD và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động BD TTCX trong HĐNN
cho GVMN
* Khách thể và địa bàn thực nghiệm:
Triển khai TN trên 80 GVMN (trong đó có 40 GVMN trường MN công lập và 40
GV trường MN ngoài công lập) địa bàn TP Hà Nội
Trang 147 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
7.1.2 Tiếp cận hoạt động
Vận dụng lí thuyết HĐ vào việc NC TTCX và BD TTCX trong HĐNN cho GVMN TTCX của GV được biểu hiện trong quá trình nuôi dưỡng, CS - GD trẻ em ở trường MN BD TTCX trong HĐNN cho GVMN được tiếp cận theo hướng thực hành, trải nghiệm trong thực tế nuôi dưỡng, CS - GD trẻ em
7.1.3 Tiếp cận hệ thống
Xem xét việc BD TTCX mang tính hệ thống từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp; từ việc nâng cao nhận thức TTCX cho GV đến việc tổ chức trải nghiệm vận dụng những hiểu biết về TTCX vào thực tiễn nuôi dưỡng, CS - GD trẻ em nhằm củng cố, mở rộng tri thức, hình thành kĩ năng, phát triển năng lực TTCX trong HĐNN cho GV
7.2 Phương pháp nghiên cứu
7.2.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
Nhằm xây dựng cơ sở lí luận về BD TTCX trong HĐNN cho GVMN, với các phương pháp:
a Phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa các công trình
NC, các tài liệu chuyên môn
b So sánh, đánh giá các xu hướng đã NC có liên quan đến đề tài luận án
7.2.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
a Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến của một số chuyên gia về các vấn
đề liên quan đến nội dung và biện pháp BD TTCX trong HĐNN cho GVMN đã xây dựng, xem xét sự phù hợp và tính khả thi của các biện pháp
Trang 15b Phương pháp trắc nghiệm
- Sử dụng trắc nghiệm MSCEIT của J Mayer, P Salovey, D Caruso xây dựng
và được các nhà tâm lí học Việt Nam thích ứng, Việt hóa (trong đề tài KX 05-06) để
đo mức TTCX của GVMN
- Xây dựng bài tập tình huống (BTTH) liên quan đến HĐNN của GVMN nhằm
đo TTCX của GVMN qua năng lực giải quyết vấn đề của họ; đo những thay đổi TTCX trong HĐNN của họ sau những tác động thực nghiệm
- Đo mức độ cảm giác thoải mái và sự tham gia trên 60 trẻ MN theo thang Leuven của Tổ chức GD Việt Bỉ - VVOB được Bộ GDĐT thẩm định và đưa vào sử dụng
c Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Khảo sát về biểu hiện TTCX của GVMN trong quá trình tổ chức các hoạt động
CS - GD trẻ;
- Khảo sát về thực trạng BD TTCX cho GVMN, các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động BD TTCX cho GVMN
d Phương pháp quan sát:
- Quan sát những biểu hiện TTCX trong HĐNN của GVMN khi tổ chức các hoạt
động CS - GD cho trẻ MN, khi giao tiếp với phụ huynh, với đồng nghiệp và những thay đổi TTCX trong HĐNN của GV khi có những tác động thực nghiệm
- Quan sát mức độ cảm giác thoải mái và mức độ tham gia tích cực của trẻ vào những hoạt động giáo dục GV tổ chức cho trẻ ở trường mầm non
đ Phương pháp phỏng vấn:
- Phỏng vấn trực tiếp GV, CBQL để có thêm thông tin về mức TTCX của GVMN được bộc lộ trong quá trình tổ chức các hoạt động CS - GD trẻ MN
- Phỏng vấn CBQL, GVMN về thực trạng công tác BD TTCX trong HĐNN cho GVMN
e Phương pháp phân tích kết quả xử lí các bài tập tình huống: Dựa trên kết quả
xử lí tình huống sư phạm (SP) của GV, CBQL để đánh giá TTCX của họ
g Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm SP nhằm kiểm tra
mức độ phù hợp, độ tin cậy và tính khả thi của các biện pháp BD TTCX trong HĐNN cho GVMN do đề tài luận án xây dựng nhằm rút ra những định hướng SP cải thiện TTCX trong HĐNN cho đội ngũ GVMN
h Phương pháp nghiên cứu trường hợp: Lựa chọn NC sâu một số trường hợp
nhằm đánh giá kết quả tác động của các biện pháp BD TTCX trong HĐNN cho GVMN trên một số đối tượng điển hình
7.2.3 Phương pháp xử lí số liệu: Sử dụng một số công thức thống kê toán học
với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS 22.0 để xử lí các số liệu thu được từ việc khảo sát
thực trạng và tổ chức thực nghiệm sư phạm
Trang 168 Luận điểm bảo vệ
8.1 TTCX là một dạng trí tuệ có vai trò quan trọng trong cuộc sống và nghề
nghiệp của mỗi cá nhân TTCX trong HĐNN của GVMN bao gồm các thành phần: năng lực nhận biết CX, năng lực sử dụng CX, năng lực hiểu CX và năng lực kiểm soát, điều chỉnh CX Các năng lực này có mối quan hệ mật thiết với nhau thúc đẩy hoặc kìm hãm thái độ, hành vi của GVMN trong HĐNN
8.2 HĐNN của GVMN chịu nhiều áp lực: đối tượng GD của họ là trẻ em dưới 6
tuổi rất hiếu động trong khi ý thức, hiểu biết về cuộc sống còn rất hạn chế; thời gian làm việc kéo dài hơn 8 tiếng/ngày; rồi áp lực từ phụ huynh, xã hội, nên họ dễ có những CX tiêu cực nảy sinh trong HĐNN (quát mắng, đánh đập trẻ, to tiếng với phụ huynh, đồng nghiệp, ) khi không có năng lực TTCX tốt
8.3 Việc BD TTCX trong HĐNN cho GVMN có hiệu quả khi xây dựng được
các biện pháp BD tác động trực tiếp đến năng lực nhận biết CX, năng lực sử dụng CX, năng lực hiểu CX và năng lực kiểm soát, điều chỉnh CX phù hợp với chuẩn mực văn hóa, đạo đức nghề nghiệp của GVMN
9 Đóng góp mới của luận án
số yếu tố ảnh hưởng đến BD TTCX trong HĐNN cho GVMN
- Luận án đề xuất một số biện pháp BD TTCX trong HĐNN cho GVMN và một
số định hướng SP áp dụng những biện pháp này cho các cơ sở GDMN, cơ sở đào tạo GVMN, góp phần nâng cao hiệu quả BD thường xuyên cho GVMN, rèn luyện NVSP
ở các cơ sở đào tạo GVMN
- Các biện pháp được kiểm chứng qua thực nghiệm SP là tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác đào tạo, BD và triển khai ở thực tế cho CBQL nói chung, cho GVMN nói riêng, cho sinh viên chuyên ngành GDMN, cũng như những ai quan tâm tới vấn đề TTCX trong HĐNN của GVMN
10 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận về BD trí tuệ CX trong HĐNN cho GV mầm non
Chương 2 Thực trạng BD trí tuệ CX trong HĐNN cho GV mầm non
Chương 3 Biện pháp BD trí tuệ CX trong HĐNN cho GV mầm non
Trang 17Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ BỒI DƯỠNG TRÍ TUỆ CẢM XÚC
TRONG HOẠT ĐỘNG NGHỀ NGHIỆP CHO GIÁO VIÊN MẦM NON 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Những nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc
TTCX là một hướng NC mới về trí tuệ được rất nhiều nhà KH quan tâm trong những năm gần đây Trong giai đoạn đầu, cũng như một số thuật ngữ trí tuệ khác, như trí tuệ xã hội, trí tuệ thành công, trí tuệ đa dạng … thì thuật ngữ TTCX được các nhà NC
đề cập đến như một dạng trí tuệ và có vai trò quan trọng đối với đời sống con người Vào những năm 1900, mặc dù các định nghĩa truyền thống về trí tuệ nhấn mạnh tới yếu tố nhận thức như trí nhớ và khả năng giải quyết vấn đề, nhiều nhà KH đã bắt đầu nhận ra tầm quan trọng của khía cạnh “ngoài nhận thức” Năm 1920, Edward Thorndike, Nhà tâm lí học Mĩ đã viết về “trí tuệ xã hội” Ông là một trong những người đầu tiên tìm cách nhận dạng TTCX, ông đã sử dụng khái niệm "hiểu biết xã hội" để miêu tả kĩ năng hiểu và QL người khác Theo ông, trí tuệ XH là năng lực hiểu và kiểm soát mà một cá nhân dùng để hành động một cách khôn ngoan, sáng suốt, một khả năng hòa hợp của chủ thể với những người xung quanh trong các mối quan hệ của con người [76]
Năm 1937, Robert Thorndike và Saul Stern xem xét những cố gắng đo lường của E Thorndike đưa ra Họ nhận diện được ba khu vực khác kề cận với trí tuệ XH có thể liên quan đến nó và thường lầm lẫn với nó, đó là thái độ cá nhân đối với xã hội, sự hiểu biết XH
và mức độ điều chỉnh XH của cá nhân Tuy nhiên, sau một thời gian NC R Thorndike và S Stern kết luận rằng, những cố gắng đo lường năng lực ứng xử với mọi người đã ít nhiều thất bại Điều này có thể là do trí tuệ XH là một phức hợp gồm một số các năng lực khác nhau hoặc một phức hợp của một số lớn các thói quen và thái độ XH cụ thể
David Wechsler, nhà Tâm lí học Mĩ năm 1940 đã đề cập đến yếu tố “phi nhận thức” trong trí thông minh chung của con người, ông gọi là yếu tố tình cảm, yếu tố nhân cách và yếu tố XH Hơn thế nữa, ông đã đề xuất rằng những yếu tố “phi nhận thức” là rất cần thiết cho dự đoán khả năng thành công của con người trong cuộc sống
Ông cho rằng yếu tố “phi nhận thức” có thể được thừa nhận là thành tố của trí tuệ nói chung [77] Theo ông thành tố CX đóng vai trò thiết yếu đối với các thành tựu cá nhân, hạnh phúc và thành công trong cuộc sống
R.W Leeper, nhà Tâm lí học Mĩ, năm 1948 đã PT khái niệm tư duy CX và cho rằng yếu tố này là một thành phần của tư duy logic Năm 1955, Albert Ellis đưa ra một liệu pháp tâm lí hình thành những hành vi CX có ý thức cho con người Phương pháp này giúp con người kiểm soát CX của họ một cách có ý thức và mang tính logic Đây
là một trong những đóng góp khá cơ bản và quan trọng
Từ những NC ban đầu này, hàng loạt những NC về TTCX được triển khai với các quan điểm khác nhau Cùng với thời gian, các nhà NC đã đưa ra cách nhìn mới về TTCX Có thể khái quát các NC liên quan đến TTCX thành các hướng tiếp cận sau:
1.1.1.1 Hướng tiếp cận trí tuệ cảm xúc theo mô hình đa trí tuệ
Trang 18Theo hướng này, TTCX được xem là một dạng trí thông minh (trí thông minh CX) của con người Đại diện cho hướng tiếp cận này phải kể đến H Gardner, H Hatch, R Sternberg,…Theo H Gardner (1975) trí thông minh (intelligence) là “khả năng giải quyết các vấn đề hoặc đưa ra những sản phẩm mới có giá trị trong một hay nhiều nền văn hóa khác nhau” (Gardner&Hatch, 1989) Trí thông minh cũng không
thể chỉ được đo lường duy nhất qua chỉ số IQ Năm 1983, trong cuốn Những cơ cấu của nhận thức (Frames of Mind), ông đã công bố các NC lí thuyết về sự đa dạng của
trí thông minh (Theory of Multiple Intelligences) Những dạng trí tuệ khác nhau đó là:
Trí tuệ ngôn ngữ, Trí tuệ lôgic- toán học, Trí tuệ âm nhạc, Trí tuệ không gian, Trí tuệ vận động - cơ thể, Trí tuệ tự nhiên Đặc biệt, ông đã đến cập đến hai loại trí thông minh gắn với TTCX là trí tuệ về bản thân (Intrapersonal Intelligence) - hiểu mình bao
gồm những năng lực đánh giá các CX của bản thân mình, năng lực phân biệt giữa các
CX ấy và đưa chúng vào hướng dẫn hành vi và trí tuệ về người khác (Interpersonal Intelligence) - hiểu về người khác bao gồm những năng lực nhận thức rõ ràng và đáp
ứng lại các tâm trạng, khí chất, động cơ và các mong muốn của người khác một cách
thích hợp H.Gardner cho rằng trí tuệ về bản thân và trí tuệ về người khác cũng quan
trọng không kém gì dạng trí thông minh theo cách hiểu truyền thống được đo bằng các test đo IQ (dùng để đo trí tuệ logic-toán và trí tuệ ngôn ngữ) [63]
R Sternberg (1984) đã xây dựng thuyết ba nhân tố của trí tuệ (Triachic theory of
intelligence) Thuyết này cho rằng có ba loại trí tuệ khác nhau: Trí tuệ phân tích, Trí tuệ sáng tạo và Trí tuệ ngữ cảnh Một người nào đó có thể xuất sắc trong một loại trí
tuệ này mà không xuất sắc trong hai loại kia Mỗi loại trí tuệ trên đều có thể được tăng cường nhờ sự luyện tập đặc biệt (Robert Sternberg, 1986) Năm 1995, R Sternberg đề cập đến “Trí tuệ thành công - Successful intelligence” Đây là loại trí tuệ thể hiện khả năng thích nghi, PT và lựa chọn các điều kiện, hoàn cảnh để hoàn thành những mục đích của mình và XH cùng nền văn hóa nơi cá nhân đó sống Loại trí tuệ này được thể
hiện ở ba khả năng chính: phân tích, sáng tạo và óc thực tế [74]
Ở Việt Nam giai đoạn này, thuật ngữ “TTCX” đã được quan tâm, song số lượng các công trình NC về nó chưa nhiều
Năm 1997, thuật ngữ “TTCX” được chính thức đề cập tới tại một xêmina của các nhà NC thuộc Chương trình khoa học cấp nhà nước KX-07 do Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm Tác giả đã đề nghị các nhà tâm lí học Việt Nam khởi xướng, NC vấn đề TTCX
cả trên bình diện lí luận và thực tiễn Kể từ đó, một số nhà khoa học Việt Nam như: Lê Đức Phúc, Trần Trọng Thủy, Nguyễn Huy Tú, Nguyễn Công Khanh, bắt đầu đi sâu NC Thuật ngữ “TTCX” lần đầu tiên được Nguyễn Huy Tú đăng trên Tạp chí Tâm lí học,
số 6, tháng 12 năm 2000 với nhan đề: “TTCX - bản chất và phương pháp chẩn đoán”
Thuật ngữ “TTCX” được Nguyễn Huy Tú thích ứng từ thuật ngữ “Emotional intelligence” trong tiếng Anh và thuật ngữ “Emotionale ntelligenz” trong tiếng Đức [39] Trong bài báo, ông đã đề cập đến bản chất, khái niệm TTCX, các phương pháp NC, đo
Trang 19lường yếu tố tâm lí này; đến các quan niệm về trí tuệ và khẳng định TTCX là một thành tố
quan trọng trong cấu trúc trí tuệ của con người Trong bài báo “TTCX và sự thành công của nhà quản lí lãnh đạo”, đăng trên Tạp chí Thông tin KHGD, tháng 1/2003, Nguyễn
Huy Tú đề cập đến vai trò của TTCX trong hoạt động lãnh đạo quản lí [40]
Như vậy theo mô hình đa trí tuệ, TTCX là một thành tố quan trọng trong cấu trúc trí tuệ của con người, gắn với trí tuệ về bản thân và trí tuệ về người khác (H Gardner), trí tuệ thành công - trí tuệ thể hiện khả năng thích nghi, phát triển và lựa chọn các điều kiện, hoàn cảnh để hoàn thành những mục đích của mình và XH cùng nền văn hóa nơi
cá nhân đó sống
1.1.1.2 Hướng tiếp cận trí tuệ cảm xúc theo mô hình hỗn hợp
Đại diện cho hướng này là Reuven Bar - On và Daniel Goleman Năm 1980 R Bar - On, đề xuất một mô hình tiên phong về năng lực CX Năm 1985, Reuven Bar -
On là người đầu tiên đưa ra thuật ngữ “Chỉ số CX” EQ (Emotional intelligence Quotient) trong luận án tiến sĩ và xuất bản tập EQ-i (Emotional Quotient Inventory), trắc nghiệm đầu tiên về TTCX Theo ông, trí thông minh thể hiện thông qua một tập hợp các năng lực chung, các năng lực cụ thể và các kĩ năng [47]
Đến năm 1997, R Bar - On xem xét TTCX trong phạm vi lí thuyết nhân cách và đưa ra mô hình Well – being làm sáng tỏ hơn về TTCX Ồng cho rằng: TTCX là một
tổ hợp các năng lực phi nhận thức và những kĩ năng chi phối năng lực của cá nhân nhằm đương đầu có hiệu quả với những đòi hỏi và sức ép từ môi trường [48] R Bar-
On là người đầu tiên dùng bảng kê EQ-i để đo lường TTCX Cũng theo cách tiếp cận này, Goleman cho rằng các năng lực được gọi là TTCX, gồm: tự kiềm chế, kiểm soát, nhiệt tình, kiên trì và năng lực động cơ hóa bản thân (tự thúc đẩy mình) [14]
Các nhà khoa học khác như: K.V Petrides và A Furnham cũng có quan niệm TTCX là một tập hợp năng lực tự nhận thức có liên quan đến xúc cảm được đặt ở mức
độ thấp hơn nhân cách, đồng thời đưa ra một mô hình về TTCX, mô hình này được gọi
là mô hình đặc điểm, bao gồm 04 nhân tố: Hạnh phúc; Tự kiểm soát; Tính nhạy cảm; Tính hòa đồng với 15 khía cạnh biểu hiện khác nhau [70]
Như vậy theo mô hình hỗn hợp, TTCX là một tổ hợp các năng lực phi nhận thức và những kĩ năng chi phối năng lực của cá nhân nhằm đương đầu có hiệu quả với những đòi hỏi
và sức ép từ môi trường (R Bar – On) với các năng lực thành phần như: năng lực tự kiềm chế, kiểm soát, nhiệt tình, kiên trì và năng lực động cơ hóa bản thân (Daniel Goleman)
1.1.1.3 Hướng tiếp cận TTCX theo mô hình thuần năng lực
Đại diện cho hướng tiếp cận này là Jonh Mayer và Peter Salovey Theo họ TTCX là một dạng của trí tuệ XH có liên quan đến khả năng điều khiển tình cảm,
CX của bản thân và của những người khác; khả năng phân biệt chúng và sử dụng những thông tin này để hướng dẫn suy nghĩ, hành động của con người [72]
Đến năm 1997 J Mayer và P Salovey đưa ra quan niệm về TTCX là năng lực nhận biết, bày tỏ CX, hòa CX vào suy nghĩ, hiểu, suy luận với CX, điều khiển,
Trang 20kiểm soát CX của mình và của người khác [67], định nghĩa đã được thừa nhận rộng rãi trong giới học thuật Như vậy, TTCX gắn liền với cách thức cá nhân lí luận về
CX và nó bao hàm bốn khả năng: nhận biết, vận dụng, hiểu và điều chỉnh CX Dựa trên định nghĩa này, mô hình TTCX thuần năng lực được xây dựng và được gọi là mô hình EI 97 Kể từ đó, các mô hình khác được thiết lập, nhưng mô hình của Salovey và Mayer vẫn là mô hình về TTCX ổn định, được chấp nhận nhất
Năm 2008, Nguyễn Minh Anh đã bảo vệ luận án tiến sĩ tại Liên bang Nga
về Đặc điểm tâm lí của sự hình thành TTCX ở trẻ mẫu giáo lớn (trên cơ sở trẻ
Nga và trẻ Việt Nam) Tác giả đã chứng minh được sự tương quan giữa đặc điểm hình thành TTCX của trẻ mẫu giáo lớn với đặc điểm văn hóa cũng như ảnh hưởng này lên quá trình hình thành TTCX và đưa ra những phương cách hình thành TTCX ở trẻ mẫu giáo lớn… [1]
NC thực tiễn đầu tiên ở Việt Nam về TTCX là đề tài cấp Nhà nước, mã số KX 05 -
06 do Trần Kiều làm chủ nhiệm đã xác định TTCX là một trong ba thành tố của trí tuệ, gồm trí thông minh, TTCX và trí sáng tạo Trong đề tài này, các tác giả Trần Trọng Thủy,
Lê Đức Phúc, Nguyễn Huy Tú, Nguyễn Công Khanh đã tiến hành thích ứng bộ công cụ MSCEIT (Mayer Salovey Caruso Emotional Intelligence Test) và sử dụng bộ công cụ này
để đo lường các chỉ số TTCX trên 3741 học sinh phổ thông, sinh viên, người lao động trẻ Việt Nam đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [29]
Dựa trên bộ công cụ MSCEIT đã được NC thích ứng, một số đề tài luận án tiến sĩ được triển khai: Nguyễn Thị Dung (2008) với đề tài “TTCX của GV chủ nhiệm lớp trường trung học cơ sở” [11]; Dương Thị Hoàng Yến (2010) với đề tài “Trí tuệ cảm xúc của giáo viên Tiểu học” [45]; Phan Trọng Nam (2012) với đề tài luận án “TTCX của sinh viên đại học” [32]; Nguyễn Thị Thanh Tâm (2012) với đề tài “TTCX của cán
bộ chủ chốt cấp cơ sở trong giao tiếp công vụ” [38]… Trên cơ sở đánh giá thực trạng TTCX của giáo viên, học sinh, sinh viên, CBQL giáo dục,… những NC này đề xuất một số biện pháp rèn luyện nâng cao TTCX cho các đối tượng trên
Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau về TTCX, nhưng về cơ bản, các tác giả nhất trí xem TTCX liên quan tới những năng lực nhận biết và điều khiển các CX của mình và của người khác, điểm khác nhau quan trọng nhất giữa họ là xem TTCX theo kiểu thuần nhất các năng lực trí tuệ hay là hỗn hợp các năng lực trí tuệ với các năng lực không phải là trí tuệ Tiếp cận TTCX theo mô hình thuần năng lực là cách tiếp cận được chấp nhận rộng rãi trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.2 Những nghiên cứu về bồi dưỡng trí tuệ cảm xúc
Cũng như NC TTCX, NC BD TTCX cũng có nhiều cách tiếp cận Có thể hệ thống hóa thành ba hướng NC chính sau:
Trang 211.1.2.1 Hướng nghiên cứu về bồi dưỡng trí tuệ cảm xúc theo mô hình thuần năng lực
Dựa trên mô hình TTCX thuần năng lực, D Caruso và các cộng sự XD một quy trình PT TTCX gồm bốn giai đoạn gắn liền với bốn thành tố trí tuệ tạo nên TTCX của mỗi cá nhân cụ thể như sau:
Bước 1: Nhận thức chính xác về CX – Kết hợp những dữ kiện sẵn có
Nội dung của bước này đòi hỏi người được luyện tập không chỉ có ý thức về
CX mà có được năng lực dựa trên sự nhận thức CX của bản thân cũng như của người
khác hay của môi trường XH nói chung Trong nhận thức về người khác, cá nhân lúc này cần dựa trên việc quan sát tinh tế mọi biểu hiện của con người bao gồm: nét mặt, ngôn ngữ, sắc thái giọng nói, cả những biểu hiện phi ngôn ngữ,… và phải nhận ra
được sự khác biệt giữa sự biểu lộ những CX có thực và sự biểu lộ CX một cách miễn
cưỡng, giả tạo, đóng kịch
Bước 2: Sử dụng CX để đẩy mạnh khả năng tư duy
Nội dung của bước này là sử dụng CX để đẩy mạnh năng lực tư duy Từ những
CX được nhận thức một cách chính xác nhờ năng lực quan sát, người được luyện tập
liên hệ tình huống hiện tại với những kinh nghiệm CX đã có của bản thân để tìm ra tình huống tương tự mình đã trải qua, nhờ vậy người được luyện tập hiểu rõ những CX thật đang diễn ra ở bản thân hay người cùng giao tiếp Khi đó, người được luyện tập đã tạo ra được một viễn cảnh CX chung và đã tiến một bước để hiểu sâu sắc về CX đang diễn ra và nguyên nhân làm nảy sinh CX đó, để có thể tìm ra một quyết định đúng đắn
và dễ dàng được chấp nhận
Như vậy, bên cạnh vai trò của CX trong việc ra quyết định, năng lực CX này còn cho phép người được luyện tập tạo ra viễn cảnh CX chung với những người khác, cảm nhận được những gì người khác đang cảm nhận, thấu cảm với người khác và nhìn nhận thế giới thông qua con mắt của họ
Bước 3: Hiểu rõ nguyên nhân và sự phát triển của CX - Trả lời câu hỏi “Cái gì
sẽ xảy ra nếu ”
Việc tìm ra viễn cảnh CX chung chưa cho phép người được luyện tập tìm ra cách giải quyết vấn đề mà nó đỏi hỏi người luyện tập phải lập luận để tìm ra nguyên nhân thật sự đã dẫn đến việc nảy sinh CX này Người được luyện tập cần phải có sự hiểu biết thật sự về lĩnh vực CX để hiểu: CX hiện tại ảnh hưởng đến hành vi của cá nhân như thế nào? Nếu cứ để CX này tự do PT trong bối cảnh hiện tại thì nó sẽ phát triển thành CX nào? Và với sự phát triển của CX mới hình thành thì cá nhân sẽ hành động như thế nào? Trả lời được ba câu hỏi này, người được luyện tập đã thể hiện bản thân
có năng lực lí giải nguyên nhân và sự phát triển CX
Bước 4: Kiểm soát CX để đạt được những kết luận logic về mặt trí tuệ - Những quyết định chiến lược cơ bản trong CX và lập luận
Yêu cầu này là khó khăn nhưng người được luyện tập hoàn toàn có thể kiểm soát được những CX của bản thân cũng như của người khác một cách có chủ định Nắm được quy luật này và nhận thức chính xác về dữ kiện của những CX trong bối cảnh cụ
Trang 22thể, sử dụng tất cả những dữ kiện đã có của mình để lập luận logic nhằm đề ra được một quyết định chính xác về việc kiểm soát sự phát triển của những CX hiện tại, biến
CX tiêu cực thành CX tích cực để cá nhân có được hành vi hiệu quả
Bốn bước này được sử dụng như một hình thức phương pháp luận giải quyết vấn
đề, mà trước hết người được luyện tập cần nhận thức được CX; cho phép CX này định hướng và ảnh hướng trực tiếp đến tư duy; cố gắng để hiểu nguyên nhân của CX đó và viễn cảnh “cái gì sẽ xảy ra nếu cứ để CX này tự do phát triển; cuối cùng cần kiểm soát, điều chỉnh CX để luôn sẵn có những thông tin chứa đựng trong những CX này và kết hợp chúng thành một quyết định chiến lược
Quá trình rèn luyện TTCX theo quy trình bốn bước trên đòi hỏi người được luyện tập phải xác định được mục tiêu rèn luyện, tích cực phát triển vốn kinh nghiệm
CX của bản thân và kiên trì thực hành trong các tình huống tương tác đa dạng với người khác trong cuộc sống hằng ngày
Như vậy BD TTCX cho con người theo mô hình thuần năng lực hướng vào những tác động làm thay đổi, điều chỉnh bốn thành tố năng lực TTCX của cá nhân (nhận biết CX, sử dụng CX, hiểu CX và kiểm soát, điều chỉnh CX)
1.1.2.2 Hướng NC BD TTCX dựa vào kĩ năng giao tiếp xã hội
Đại diện cho hướng BD này phải kể đến Elias, Zins và cộng sự Trong Chương trình SEL (Social Emotional Learning): BD CX xã hội, được xuất hiện từ năm 1997
trong NC của Elias, Zins và cộng sự là chương trình phát triển, trong đó người lớn và trẻ
em lĩnh hội năng lực nhận biết và QL CX, ra quyết định mang tính trách nhiệm, thiết lập mối quan hệ tích cực với người khác và trở thành những cá thể khoẻ mạnh và hiệu quả Chương trình này bao gồm việc BD một nhóm các năng lực nhận thức, CX, hành vi cốt lõi mang lại sự phát triển tích cực ở trẻ em
Chương trình SEL được XD dựa trên nền tảng thuyết Học tập từ XH của Bandura, mô
hình phát triển XH của Hawkins và Weis, thuyết hành vi vấn đề của Jessor và thuyết hành động có lập luận của Fishbein và Ajzen Một chương trình SEL thường phát triển các năng lực sau:
i) Ý thức về bản thân và người khác (Ý thức CX: năng lực tri giác và gọi tên CX
một cách chính xác; điều tiết, điều khiển CX; nhìn rộng vấn đề: tri giác vấn đề của người khác một cách bao quát; phân tích chuẩn mực xã hội: đánh giá một cách phản biện những thông điệp XH, văn hóa và truyền thống quy định chuẩn mực XH và hành
vi cá nhân);
ii) Thái độ và giá trị tích cực (Cảm giác tích cực về bản thân: cảm giác lạc quan
và tự tin khi đối mặt với những thử thách hằng ngày; tinh thần trách nhiệm: mong muốn phát huy hành vi an toàn, khỏe mạnh và có đạo đức; sự ân cần: mong muốn trở nên công bằng, chính trực, nhân đạo và thông cảm; tôn trọng người khác: mong muốn chấp nhận, trân trọng các cá nhân và nhóm, đánh giá cao quyền con người);
Trang 23iii) Trách nhiệm trong việc ra quyết định (Xác định vấn đề: năng lực xác định
tình huống đòi hỏi sự giải quyết hay quyết định và đánh giá nguy cơ, chướng ngại và nguồn lực; xác lập mục tiêu một cách linh hoạt, tích cực và thực tế; giải quyết vấn đề: năng lực PT những hướng giải quyết tích cực và hiệu quả của vấn đề);
iv) Kĩ năng giao tiếp (Giao tiếp bình đẳng: năng lực giao tiếp với người khác bằng
ngôn ngữ và phi ngôn ngữ để nhận thông điệp một cách chính xác; giao tiếp biểu cảm: năng lực khơi gợi và duy trì những cuộc hội thoại, thể hiện ý nghĩ và CX một cách rõ ràng (có lời và không lời) và thông báo cho người khác biết mình hiểu những gì);
v) Kĩ năng XH (Hợp tác: năng lực thay phiên nhau và chia sẻ những công việc theo
cặp hay trong nhóm; thương lượng: giải quyết xung đột một cách êm thấm, sau khi đã
có cân nhắc cảm giác và quan điểm của những người khác; từ chối: nói không và kiên quyết với những phát biểu từ chối một cách rõ ràng, tránh những tình huống có thể bị áp lực, và trì hoãn hành động trong những tình huống áp lực cho đến khi thực sự sẵn sàng
để giải quyết; tìm kiếm sự giúp đỡ: xác định nhu cầu cần hỗ trợ và tiếp cận những nguồn
lực khả thi và phù hợp)
Ở nhiều quốc gia trên thế giới, nhiều chương trình nhằm nâng cao kĩ năng CX và
XH đã được phát triển (Bond & Manser, 2009) Ví dụ, Thúc đẩy các chiến lược tư duy thay thế (PATHS) là một chương trình được thiết kế để giảm bớt sự gây hấn và các
vấn đề về hành vi không mong muốn khác thông qua việc tăng cường năng lực tình
cảm XH ở trẻ em - học sinh trường MN và tiểu học (Greenberg, 2006)
Tại Việt Nam, năm 2008, Nguyễn Thị Dung trong luận án tiến sĩ với đề tài
“TTCX của GV chủ nhiệm lớp trường trung học cơ sở” đã khẳng định vai trò của TTCX đối với hoạt động chủ nhiệm lớp và có thể nâng cao TTCX cho GV chủ nhiệm bằng biện pháp cơ bản là tăng cường nhận thức và tác động hồi tưởng [11] Năm 2010, Đào Thị Oanh, Trường ĐHSP Hà Nội đã NC đề tài TTCX và việc
GD TTCX cho học sinh THCS trong gia đình và nhà trường hiện nay Đề tài đã đánh giá thực trạng mức độ TTCX của học sinh THCS và xây dựng chương trình rèn luyện nâng cao TTCX cho học sinh THCS, đề tài còn đề xuất một số kiến nghị đối với các nhà QL giáo dục, nhà trường phổ thông THCS, cha mẹ trẻ học sinh về một số biện pháp nhằm giúp phát triển một số kĩ năng xúc cảm - XH qua đó góp phần nâng cao chất lượng GD toàn diện cho học sinh [35]
Như vậy hướng NC bồi dưỡng TTCX cho con người dựa vào kĩ năng giao tiếp
XH hướng vào những tác động làm thay đổi ý thức CX và kĩ năng giao tiếp XH trong quá trình giao tiếp ứng xử xã hội
1.1.2.3 Hướng NC BD TTCX theo hướng trải nghiệm và nâng cao khả năng kiểm soát CX và phát triển CX tích cực
Những người theo hướng này có thể kể đến SE Rivers, D Pool, P Qualter,
SE Rivers (2013) đã XD một chương trình BD các kĩ năng CX được gọi là RULER Cách tiếp cận RULER được áp dụng từ mẫu giáo, tiểu học đến trung học cơ sở và bao
Trang 24gồm các GV, nhà lãnh đạo trường học, nhân viên và sinh viên Trong cách tiếp cận này, năm kĩ năng CX được đưa vào mục tiêu để phát triển: Nhận thức CX; hiểu biết
CX ban đầu và kết quả của CX; thể hiện CX một cách thích hợp; điều chỉnh CX theo một cách có ý thức và kiểm soát CX theo cách có định hướng Ví dụ, NC TN của D Pool và P Qualter (2012) đã khảo sát tác động của một chương trình giảng dạy về cải thiện mức độ TTCX và khả năng tự CX của mình đối với sinh viên đại học trong nhiều lĩnh vực khác nhau Họ đã thiết kế một chương trình can thiệp kéo dài trong 11 tuần theo mô hình Mayer Salovey theo 4 nhánh của TTCX nhằm giải quyết nhận thức về
CX, sử dụng CX, hiểu biết CX và quản lí CX Chương trình bao gồm một loạt các hoạt động như bài giảng, đóng vai và đi thăm trường học Kết quả cho thấy một sự cải thiện đáng kể trong việc hiểu CX và quản lí CX Trong một NC mới đây của Saklofske, Nordstokke và Vesely (2014), một chương trình BD về TTCX kéo dài 5 tuần đã được thực hiện cho các GV trước khi đi làm việc có hiệu quả trong việc PT tình cảm và các yếu tố tâm lí có liên quan đến nghề nghiệp Các NC và chương trình BD cũng cho thấy: các chỉ số CX đã được tìm thấy có tương quan đáng kể với các kĩ năng giải quyết vấn đề
Chương trình PT TTCX của Hiệp hội quản lí Hoa Kì với các nội dung:
i) Mở rộng ý thức của cá nhân về TTCX; ii) Ứng dụng TTCX trong giao tiếp nhằm xây dựng và duy trì các mối quan hệ; iii) Thực hành kĩ năng lắng nghe để hình thành
và duy trì sự thấu cảm; iv) PT TTCX để quản lí căng thẳng và củng cố khả năng phục hồi; v) Hợp tác khỏe mạnh nhờ vào TTCX; vi) Thể hiện thái độ hợp tác trong công việc thông qua ứng dụng TTCX [46]
Chương trình PT TTCX của Đại học Sydney với các nội dung: i) Giới thiệu TTCX:
khái niệm, mô hình và các năng lực; ii) Hiểu CX của bản thân: định nghĩa, các mức độ, nhận biết CX “tích cực” và “tiêu cực”; iii) Kiểm soát, điều chỉnh CX của bản thân: mối liên hệ giữa CX, tư duy và hành vi, các kĩ thuật quản lí CX; iv) Nhận biết CX của người khác: các kĩ thuật để nhận biết, thể hiện sự thấu cảm với người khác; v) Kết nối với người khác: ứng dụng TTCX trong công việc và ở công sở, xây dựng mối quan hệ khỏe mạnh với đồng nghiệp, cấp trên và khách hàng, các phương pháp làm việc nhóm hiệu quả [75]
Chương trình đào tạo TTCX cho GV tại Israel Dolev và Leshem (2016) NC ảnh
hưởng chương trình đào tạo TTCX lấy GV làm trung tâm Chương trình này được thực hiện trong vòng 2 năm, tại một trường trung học cơ sở ở Bắc Israel và là chương trình
duy nhất đào tạo TTCX cho GV tại Israel (năm 2016) [59]
Trang 25Nội dung của chương trình đào tạo TTCX cho GV bao gồm: những nền tảng học thuyết và kinh nghiệm về TTCX, các năng lực của TTCX dựa trên mô hình của Bar-
On về TTCX, mối liên hệ giữa TTCX và GD, cách thức để phát triển TTCX trong GD, khám phá bản thân GV và học sinh qua TTCX Song song, 10 buổi huấn luyện cá nhân (1 giờ/buổi) được diễn ra, tập trung vào việc phát triển các năng lực của TTCX cho mỗi GV và đưa ra các cách thức để mỗi GV hoàn thành các mục tiêu nghề nghiệp và
cá nhân
Ở Việt Nam các NC về TTCX và phát triển TTCX chủ yếu là dành cho GV cấp tiểu học, trung học cơ sở, sinh viên đại học và hướng đến việc thực hành và rèn luyện TTCX như:
Dương Thị Hoàng Yến (2010), đã khảo sát trên TTCX 363 GV tiểu học trên địa bàn Thành phố Hà Nội, từ đó tác giả sử dụng 3 biện pháp theo 4 con đường khác nhau
là tăng cường nhận thức; tạo động cơ; tác động hồi tưởng và tác động hiện thời nhằm nâng cao năng lực TTCX GV tiểu học [45]
Phan Trọng Nam (2012) với đề tài luận án “TTCX của sinh viên đại học”, đã khảo sát mức độ TTCX của 1408 sinh viên các trường Đại học SP Hà Nội, Huế, Đồng Tháp với 3 biện pháp với 4 phương án tác động (1) Chỉ sử dụng duy nhất biện pháp tác động tăng cường nhận thức - tạo động cơ; (2) Sử dụng hai biện pháp tác động theo trình tự, trước hết sử dụng biện pháp tăng cường nhận thức - tạo động cơ, sau đó sử dụng biện pháp tác động hồi tưởng; (3) Sử dụng hai biện pháp tác động theo trình tự, trước hết sử dụng biện pháp tăng cường nhận thức - tạo động cơ, sau đó sử dụng biện pháp tác động hiện thời; (4) Sử dụng ba biện pháp tác động theo trình tự, trước hết sử dụng biện pháp tăng cường nhận thức - tạo động cơ sau đó sử dụng biện pháp tác động hồi tưởng và cuối cùng là sử dụng biện pháp tác động hiện thời góp phần nâng cao mức độ TTCX cho sinh viên Đại học SP [32]
Năm 2012, Nguyễn Thị Thanh Tâm trên cơ sở NC lí luận về thực trạng, đã thiết
kế và tiến hành thực nghiệm quy trình, cách thức tác động nhằm nâng cao TTCX trong giao tiếp công vụ cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở bao gồm cung cấp kiến thức lí thuyết và hướng dẫn thực hành, dành thời gian để nghiệm thể vận dụng lí thuyết, thực hành kĩ năng; tạo cơ hội chia sẻ kinh nghiệm vận dụng lí thuyết nâng cao TTCX với thực tiễn … Quy trình, cách thức tác động mà luận án xây dựng phù hợp với cán
bộ chủ chốt cấp cơ sở đã được thử nghiệm và khẳng định là có tác dụng nâng cao năng lực TTCX của họ [38]
Lê Thị Thanh Huyền (2019), Tạp chí KH Trường ĐHSP TPHCM - đã tìm hiểu
về yếu tố có khả năng dự báo cho những thay đổi của kĩ năng kiểm soát, điều chỉnh
CX của GVMN tại TPHCM, từ đó gợi ý cho việc xây dựng những biện pháp tác động giúp GVMN nâng cao kĩ năng quản lí CX, trong đó có chú ý đến biện pháp nâng cao nhận thức của GVMN, cải thiện môi trường làm việc và mối quan hệ của GV với đồng nghiệp, với lãnh đạo nhà trường [24]
Trang 26Lê Thị Mỹ Dung (2019), Tài liệu BD thăng hạng GVMN đã phân tích sâu về các
kĩ năng kiểm soát, điều chỉnh CX của GVMN, các yếu tố ảnh hưởng đến kĩ năng kiểm soát, điều chỉnh CX của GVMN và rèn luyện kĩ năng kiểm soát, điều chỉnh CX bản thân cho GVMN Trong đó chú trọng việc rèn luyện kĩ năng nhận diện CX bản thân và kiểm soát CX bản thân cho GVMN đảm bảo thực hiện nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc và GD trẻ ở cơ sở GD MN đạt chất lượng tốt [10]
Như vậy những NC BD TTCX theo hướng trải nghiệm và nâng cao khả năng kiểm soát CX tiêu cực, lan tỏa CX tích cực cho con người hướng vào việc xây dựng chương trình BD mang tính thực hành, trải nghiệm thực tiễn cuộc sống Người được BD một mặt được tiếp cận với những kiến thức về các năng lực thành phần của TTCX (theo mô hình thuần năng lực) vừa được thực hành, trải nghiệm thực tế để hình thành kĩ năng, phát triển năng lực TTCX
Có thể khẳng định TTCX và bồi dưỡng TTCX là những vấn đề phức tạp, được các nhà khoa học tiếp cận theo nhiều khác nhau, song đều xoay quanh hai hướng: hoặc tiếp cận theo mô hình hỗn hợp hoặc mô hình thuần năng lực Trong đó tiếp cận TTCX theo mô hình thuần năng lực được nhiều nhà nghiên cứu chấp thuận hơn
Nghiên cứu bồi dưỡng TTCX theo mô hình thuần năng lực cũng có nhiều phương thức khác nhau: hướng vào việc làm thay đổi, điều chỉnh bốn thành tố của năng lực TTCX cá nhân; hướng vào việc thực hành, trải nghiệm để nâng cao khả năng kiểm soát CX và phát triển CX tích cực cho cá nhân, Các nghiên cứu BD TTCX chủ yếu hướng vào GV phổ thông, cán bộ QL, học sinh phổ thông, sinh viên các trường đại học Chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống về việc BD TTCX trong HĐNN cho GVMN - một nghề có nhiều áp lực, nếu GVMN không được
BD TTCX sẽ khó kiểm soát được những CX tiêu cực trong HĐNN Để lấp khoảng trống này, chúng tôi cho rằng việc nghiên cứu các biện pháp BD TTCX trong HĐNN cho GVMN là việc làm cần thiết, nhất là trong xã hội hiện đại
Những biện pháp BD TTCX trong HĐNN cho GVMN trong luận án này sẽ được xây dựng theo hướng NC BD TTCX theo hướng trải nghiệm và nâng cao khả năng kiểm soát
CX tiêu cực, nuôi dưỡng, PT và lan tỏa CX tích cực trong HĐNN cho GVMN
1.2 Trí tuệ cảm xúc
1.2.1 Khái niệm trí tuệ cảm xúc
1.2.1.1 Khái niệm trí tuệ
Trí tuệ là một lĩnh vực mà trong khoa học và ngay cả sinh hoạt hằng ngày có rất nhiều tên gọi khác nhau: trí tuệ, trí thông minh, trí lực, trí khôn … Những thuật ngữ này có những sắc thái riêng và dùng trong các văn cảnh xác định
Trong Tâm lí học, có nhiều định nghĩa khác nhau về trí tuệ, nhưng tựu trung lại thuật ngữ này thường được định nghĩa theo ba góc độ sau:
+ Trí tuệ là năng lực học tập (N.D Levitov, V.V.Bogoxlovxki)
+ Trí tuệ là năng lực tư duy trừu tượng (X.L Rubinstein, N.A Menchinxcaia)
Trang 27Có thể nói, nhóm quan niệm thứ nhất và thứ hai đã đồng nhất trí tuệ với năng lực nhận thức và giải quyết các vấn đề mang tính phức tạp
+ Trí tuệ là năng lực thích ứng, thích nghi với sự thay đổi của hoàn cảnh (D.Wechsler, R.Sternberg, H.Gardner)
Đây là quan niệm phổ biến nhất trong tâm lí học được nhiều nhà NC thừa nhận Đại diện cho nhóm quan niệm này có thể kể ra một số nhà NC như: V.M Blaykhe, L.Ph Burolachuc (1978), F Raynal, A Rieuneur (1997) N Sillamy (1997), tiêu biểu
là R.Sternberg coi: "Trí tuệ là sự thích ứng có mục đích, sự lựa chọn và định hướng với môi trường thực tiễn liên quan đến cuộc sống của một cả nhân” [74, tr 7],
D.Wechsler xem trí tuệ là năng lực chung của nhân cách, được thể hiện trong hoạt động có mục đích, trong sự phán đoán và thông hiểu một cách đúng đắn, trong sự làm cho môi trường thích nghi với những năng lực của mình [77, tr 72]
Từ vài thập kỉ cuối thế kỉ XX cho đến nay, xu thế chủ đạo trong NC trí tuệ là phát triển các lí thuyết đa trí tuệ, xem xét trí tuệ một cách đầy đủ, rộng hơn từ các góc độ sinh lí, tâm lí, XH và văn hoá Hướng NC này đã mở rộng giới hạn khả năng của hoạt động trí tuệ Trí tuệ được hiểu như là một hiện tượng tâm lí mang bản chất
xã hội, tiêu biểu như một số nhà NC như: D Wechsler (1956), D Hofstadter (1971), R Sternberg, H Gardner (1984) … đã khẳng định trí tuệ là kết quả tương tác của con người với môi trường sống, đồng thời là tiền đề cho sự tương tác ấy Chúng tôi cũng đồng quan điểm với cách tiếp cận thứ ba về khái niệm trí tuệ, bởi
vì khi chúng ta quan niệm trí tuệ là năng lực thích ứng với bối cảnh một cách có mục đích đã không làm hẹp đi phạm trù trí tuệ Để có thể thích ứng tốt với sự thay đổi của hoàn cảnh luôn luôn đòi hỏi con người phải có khả năng học hỏi cái mới một cách hiệu quả, nắm được bản chất của vấn đề, cá nhân phải có khả năng tư duy trừu tượng Như vậy, cách tiếp cận thứ ba bao hàm được cả hai cách tiếp cận đầu và không tách rời việc xem xét thuộc tính trí tuệ của con người với việc giúp con người tồn tại, phát triển tốt
hơn trong cuộc sống thực
Ở Việt Nam, theo Từ điển tiếng Việt, trí tuệ là những suy nghĩ, tư duy của con người, bao gồm những khả năng tưởng tượng, ghi nhớ, phê phán, lí luận, thu nhận tri thức có thể tiến lên tới phát minh khoa học, sáng tạo nghệ thuật Trí khôn: khả năng suy nghĩ và hiểu biết; trí năng: năng lực hiểu biết, suy nghĩ; trí lực: năng lực trí tuệ; trí thông minh: có hai nghĩa (1) Có trí lực tốt, hiểu nhanh, tiếp thu nhanh; (2) Nhanh trí và khôn khéo, tài tình trong cách ứng đáp, đối phó
Theo Nguyễn Khắc Viện (1991), có sự khác nhau giữa trí khôn và trí tuệ Trí khôn là khả năng hành động thích nghi với những biến động của hoàn cảnh, thiên về hành động Trí tuệ cũng là khả năng thích nghi nhưng thiên về tư duy trừu tượng [44] Theo nhóm tác giả NC đề tài KX 05-06 trí tuệ là một thuộc tính của nhân cách có tính độc lập tương đối, có cấu trúc phức hợp, đa tầng, đa diện Đó là tổ hợp các năng lực nhận thức và năng lực nhận cảm, điều khiển CX của cá nhân, được hình thành và
Trang 28phát triển trong hoạt động, chịu sự quy định của điều kiện văn hoá - xã hội, đảm bảo cho sự tương tác phù hợp với hiện thực, cho sự cải tạo có mục đích hiện thực ấy nhằm đạt được các mục đích quan trọng trong cuộc sống của con người [29]
Nhìn chung, các quan niệm trên đây về trí tuệ không loại trừ lẫn nhau Sự khác nhau trong quan niệm về trí tuệ là do mỗi tác giả có cách nhìn khác nhau trong việc lựa chọn dấu hiệu quan trọng nhất của trí tuệ Như vậy, có thể nói rằng, không một định nghĩa nào trong
số các định nghĩa trên có thể bao hàm hết những khả năng của trí tuệ con người [28]
Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau về trí tuệ, nhưng các nhà tâm lí học đều thống nhất rằng:
(1) Trí tuệ là những thuộc tính nhận thức tương đối độc lập của nhân cách mà cốt lõi là năng lực tư duy trừu tượng;
(2) Trí tuệ được hình thành và biểu hiện trong hoạt động;
(3) Trí tuệ chịu sự chế ước và sự quy định của điều kiện văn hóa, lịch sử;
(4) Trí tuệ có chức năng chủ yếu là đảm bảo sự tác động qua lại phù hợp với môi trường xung quanh
Cho đến nay nội hàm khái niệm trí tuệ đã có nhiều thay đổi, trí tuệ theo quan niệm mới không đơn thuần chỉ là trí thông minh mà bao hàm các loại trí tuệ thành phần như: trí thông minh, TTCX và trí sáng tạo [41] Trong quá trình NC đề tài luận
án “BD TTCX trong HĐNN cho GVMN” chúng tôi tiếp cận TTCX của GVMN theo quan niệm mới, xem TTCX của GVMN là một dạng trí tuệ
Từ những quan niệm trên đây, chúng tôi cho rằng: Trí tuệ là năng lực tổng thể
- năng lực chung của cá nhân để hành động có mục đích, để suy nghĩ hợp lí, để ứng phó có hiệu quả với môi trường của mình hoặc để sáng tạo ra cái mới, cải biến môi trường một cách có mục đích Về bản chất, trí tuệ là một cấu trúc phức hợp, đa
diện, có tính độc lập tương đối, ổn định nhưng không tĩnh tại mà phát triển nhờ sự trải nghiệm của cá nhân qua sự tương tác giữa các tố chất sinh học với môi trường
sống, hoạt động và giao tiếp của cá nhân
1.2.1.2 Khái niệm cảm xúc
Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về CX, tùy theo góc độ tiếp cận của nhà nghiên cứu
X.L Rubinstein cho rằng: “Về mặt nội dung, các CX được xác định bởi các mối quan hệ của con người, bởi tập quán và thói quen trong từng hoàn cảnh xã hội, tư tưởng của nó” [45, tr 28]
Nhóm tác giả J Mayer, P Salovey, D Caruso quan niệm: “CX là một hệ thống các đáp lại của cơ thể giúp điều phối những thay đổi về sinh lí, tri giác, kinh nghiệm, nhận thức và các thay đổi khác thành những trải nghiệm mạch lạc về tâm trạng và tình cảm, chẳng hạn như hạnh phúc, tức giận, buồn chán, ngạc nhiên…” [39, tr 39] Carroll E.Izard cho rằng: “CX có ba yếu tố đặc trưng bao gồm: Cảm giác được thể nghiệm hay là được ý thức về CX; các quá trình diễn ra trong các hệ thần kinh, nội tiết, hô hấp, tiêu hóa và các hệ khác của cơ thể; các phức hợp biểu cảm CX được quan sát, đặc biệt là những phức hợp phản ánh trên bộ mặt” [7, tr 17]
Trang 29Theo Frijda N.H (2000), trong cuốn “Sổ tay về CX” (Hand book of Emotions), CX được hiểu là một HĐ tiến hóa của sinh vật, nhằm đáp lại những tình huống khó khăn, gay
go mà chủ thể nhận thấy (a preceived predicament), bao gồm sự kết hợp hài hòa giữa những phản ứng tâm - sinh lí, những cảm nhận chủ quan và HĐ nhận thức có liên quan [62, tr 63] Trong cuốn Tâm lí học của C.Wade và D.R.Detterman (1986), CX được xem là một trạng thái đánh thức, khuấy động (a state of arousal) liên quan đến những thay đổi
về cơ thể và vẻ mặt, sự hoạt hóa của não, sự đánh giá kinh nghiệm, cảm nhận chủ quan
và hướng tới hành động, chịu sự quy định của những nguyên tắc văn hóa [78, tr 286] Các nhà tâm lí học Việt Nam cũng có nhiều quan niệm khác nhau về CX:
Theo Vũ Dũng: “CX - sự phản ánh tâm lí về mặt ý nghĩa sống động của các hiện tượng và hoàn cảnh, tức mối quan hệ giữa các thuộc tính khách quan của chúng với nhu cầu của chủ thể, dưới hình thức những rung động trực tiếp Trong quá trình tiến hóa, CX xuất hiện như một phương tiện cho phép cơ thể sống có khả năng đánh giá ý nghĩa sinh học của các trạng thái cơ thể và tác động ngoại cảnh Xét về nguồn gốc, CX
là một hình thức của kinh nghiệm loài Dựa vào CX, cá thể tiến hành những hành động cần thiết mà đôi khi tính hữu ích của chúng không ý thức” [12, tr 30]
Nguyễn Huy Tú quan niệm: “Xúc cảm của con người là những rung động khác
nhau của chúng ta nảy sinh do sự thỏa mãn hay không thỏa mãn những nhu cầu nào
đó, do sự phù hợp hay không phù hợp của các biến cố, hoàn cảnh cũng như trạng thái bên trong cơ thể với mong muốn, hứng thú, khuynh hướng, niềm tin và thói quen của chúng ta” [39, tr 38]
Theo Phạm Minh Hạc:“CX là một quá trình tâm lí, có tính nhất thời, phụ thuộc
vào tình huống, đa dạng, luôn luôn ở trạng thái hiện thực, thực hiện chức năng sinh vật (giúp cơ thể định hướng và thích nghi với môi trường bên ngoài với tư cách là một cá thể), gắn liền với phản xạ không điều kiện, với bản năng” [42, tr 145]
Tuy có những quan niệm khác nhau về CX, nhưng các nhà KH đều thống nhất những đặc trưng sau khi nói về CX ở con người:
(1) CX ở con người là một hiện tượng tâm lí phản ánh ý nghĩa của mối quan hệ giữa sự vật, hiện tượng với nhu cầu của chủ thể
(2) CX là một quá trình tâm lí diễn ra đồng thời với các quá trình thay đổi khác biệt
rất rõ trong hệ thần kinh, hệ cơ mặt, hệ nội tiết, hệ hô hấp và các hệ khác của cơ thể
(3) CX của con người rất phong phú, mang bản chất xã hội, có những CX mang tính bản năng và có những CX chịu sự ảnh hưởng của môi trường văn hóa, của quá trình nhận thức
(4) CX ở người là kết quả của sự tiến hóa lâu dài trong giới sinh vật, là phương thức giúp con người thích nghi với các biến cố của môi trường, là tiền đề chuẩn bị cho một phản ứng hành vi tương ứng
Từ những quan niệm trên đây chúng tôi cho rằng: CX của con người là một quá trình tâm lí phản ứng lại các kích thích tác động vào chủ thể bằng những sắc thái rung động phản ánh sự thỏa mãn hay không thỏa mãn nhu cầu nào đó, sự phù hợp hay
Trang 30không phù hợp của các tương tác, tình huống cũng như trạng thái bên trong cơ thể với mong muốn, hứng thú, niềm tin và thói quen của chủ thể
1.2.1.3 Khái niệm về trí tuệ cảm xúc
a Trí tuệ CX là gì?
Năm 1990, TTCX chính thức trở thành một khái niệm trong NC học thuật, được đưa
ra bởi J Mayer và P Salovey: TTCX là một dạng của trí tuệ XH có liên quan đến khả năng điều khiển tình cảm, CX của bản thân và của những người khác; khả năng phân biệt chúng và sử dụng những thông tin này để hướng dẫn suy nghĩ, hành động của con người [72] Đến năm 1997, J Mayer và P Salovey chỉnh sửa và đưa ra quan niệm về TTCX như sau: TTCX là năng lực nhận biết, bày tỏ CX, hòa CX vào suy nghĩ, để hiểu, suy luận về CX, kiểm soát, điều chỉnh CX của mình và của người khác [67]
Mayer, Caruso và Salovey (1999) định nghĩa theo cách khác: TTCX - đề cập đến năng lực nhận biết ý nghĩa của CX và quan hệ của chúng, trên cơ sở đó tìm nguyên nhân và cách giải quyết vấn đề TTCX liên quan đến năng lực nhận thức các CX, đánh giá các cảm nhận liên quan đến CX, hiểu rõ thông tin của các CX đó và kiểm soát, điều chỉnh chúng [66]
Chúng tôi đồng quan điểm với Mayer và Salovey và sử dụng khái niệm TTCX
hai ông đưa ra năm 1997: TTCX là năng lực nhận biết và bày tỏ CX, hoà CX vào suy nghĩ để hiểu, suy luận về CX và để kiểm soát, điều chỉnh CX của mình và của người khác làm khái niệm công cụ để nghiên cứu
b Bản chất của trí tuệ cảm xúc
TTCX là một phức hợp bao gồm nhiều năng lực khác nhau liên quan đến lĩnh vực CX TTCX được cấu thành bởi bốn năng lực cơ bản: năng lực nhận biết CX, năng lực sử dụng CX, năng lực hiểu CX và năng lực kiểm soát CX Các năng lực thành phần của TTCX không tồn tại một cách tách biệt mà luôn tồn tại trong mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau Trong các năng lực của TTCX, năng lực nhận biết CX ở bản thân và những người xung quanh là năng lực đầu tiên - năng lực nền tảng Năng lực này có vai trò rất quan trọng thể hiện ở chỗ: chủ thể không thể hiểu được CX cũng như
sử dụng CX để thúc đẩy hành động hay kiểm soát CX để phục vụ tối đa cho các lợi ích của cuộc sống nếu như không thể nhận biết được các CX một cách chính xác
TTCX có biên độ rộng hơn trí thông minh và dễ thay đổi hơn trí thông minh Đến nay, nhiều người vẫn thừa nhận rằng chỉ số thông minh cao cho phép những người này
có được sự thành công lớn khi theo học ở nhà trường, chứ nó không đảm bảo một cách chắc chắn là sẽ có được sự thành công trong cuộc đời [15]
Những người có chỉ số thông minh cao được xem là những người có năng lực tốt trong các lĩnh vực ngôn ngữ, toán học và tư duy trừu tượng Tất cả những năng lực này được xem là những năng lực ổn định trong mỗi con người, để thay đổi nó là điều rất khó [25] Ngược lại, TTCX của mỗi người có thể thay đổi nhờ luyện tập Tính chất này đã mở ra một cơ hội mới vô cùng quan trọng đối với mỗi người, con người có thể tích cực luyện tập để thay đổi TTCX của mình, tạo tiền đề cho sự thành công trong cuộc sống Điều này, hết sức quan trọng đối với những người làm việc trong các lĩnh
Trang 31vực công việc có nhiều mối quan hệ người - người trong quá trình công tác
TTCX cho phép chúng ta có thể tiên đoán chính xác sự thành công của mỗi người trong đường đời của họ Những năng lực về TTCX sẽ giúp mỗi người luôn luôn giữ được trạng thái cân bằng trong tâm lí, từ đó dễ dàng có được những ứng xử nhẹ nhàng đối với những người xung quanh và phù hợp với bối cảnh Do vậy, họ có thể dễ dàng đưa ra những quyết định sáng suốt trong những tình huống, hoàn cảnh khác nhau, trong sự sáng suốt và mang đậm màu sắc lí tính
1.2.2 Cấu trúc trí tuệ cảm xúc
1.2.2.1 Cấu trúc trí tuệ cảm xúc theo mô hình hỗn hợp
Tiếp cận TTCX theo xu hướng này có một số tác giả tiêu biểu như: R Bar - On,
D Goleman, R Boyatzis, K.V Petrides, A Furnham
* Cấu trúc TTCX theo mô hình của Reuven Bar-On
Reuven Bar - On tiếp cận TTCX theo mô hình pha trộn, sử dụng những thang mục tự tường thuật để đánh giá TTCX Theo đó, TTCX là trí thông minh thể hiện qua một tập hợp các năng lực chung, các năng lực cụ thể và các kĩ năng… đặc trưng cho
sự tích lũy những hiểu biết được dùng để đương đầu với những yêu cầu và sức ép từ môi trường một cách hiệu quả, ảnh hưởng đến khả năng thành công của cá nhân trong cuộc sống Dựa trên cách tiếp cận này ông đưa ra Bảng kiểm chỉ số CX, có tên gọi là Emotional Quotient Inventory (viết tắt EQ-i) Ngày nay, 133 điểm trong EQ-i của Bar-
On được sử dụng rộng rãi nhất trong việc đo lường TTCX bằng tự báo cáo
Theo ông, đặc điểm nhân cách được xem là cái là quyết định sự thành công trong cuộc sống nằm ngoài trí tuệ nhận thức, gồm 5 lĩnh vực với 15 yếu tố bao quát về mặt
chức năng phù hợp với cuộc sống, bao gồm: Năng lực nhận diện và làm chủ CX của mình/Hiểu mình; Năng lực nhận diện và điều khiển CX liên cá nhân/Hiểu người khác; Năng lực thích ứng; Kiểm soát stress; Tâm trạng chung/Tính khí [50]
* Cấu trúc TTCX theo mô hình của Daniel Goleman
Daniel Goleman cho rằng: mọi quan niệm về bản chất con người mà bỏ qua quyền năng của các CX thì đều thiếu sáng suốt Cuộc sống của chúng ta được quyết định bởi hai thứ trí tuệ ấy, TTCX cũng quan trọng như IQ Trên thực tế không có TTCX thì trí tuệ lí trí không thể hoạt động một cách thích đáng D Goleman đã NC và đưa ra mô hình về TTCX theo lí thuyết hiệu quả thực hiện công việc Ông xác định
“mô hình TTCX dựa trên lí thuyết này có thể ứng dụng trực tiếp vào khu vực - hiệu quả quản lí và hoàn thành công việc, đặc biệt trong dự đoán mức độ tối ưu việc thực hiện công việc từ người bán hàng đến công việc của người quản lí” [17, tr 76]
Mô hình TTCX của Goleman (1998) xem cấu trúc của TTCX như một mảng mở rộng của các năng lực và kĩ năng thúc đẩy hiệu quả quản lí, được đo lường bằng sự đánh giá đa cấp độ Hình thành và tích hợp từ rất nhiều NC, Goleman (1998) đã trình bày mô hình với số lượng các khía cạnh của các nhân tố không như nhau Các nhân tố được sắp xếp ở tầng bậc càng cao thì càng chứa đựng trong đó nhiều khía cạnh hơn
TTCX gồm 25 năng lực được dàn trải trong 5 nhóm [51], đó là:
(1) “Tự ý thức” bao gồm ý thức CX, tự đánh giá chính xác bản thân, sự tự tin; (2) “Tự điều chỉnh” bao gồm tự kiểm soát, tin cậy, tận tâm, thích nghi và đổi mới;
Trang 32(3) “Tự tạo động cơ” bao gồm thành tựu, cam kết, sáng kiến và lạc quan;
(4) “Thấu cảm” bao gồm thấu hiểu người khác, phát triển người khác, định hướng phục vụ, phát huy sự đa dạng và nhận thức chính trị;
(5) “Các kĩ năng xã hội” bao gồm sự ảnh hưởng, giao tiếp, quản lí mâu thuẫn, lãnh đạo, tác nhân thay đổi, xây dựng sự gắn kết, hợp tác và các năng lực đồng đội
* Cấu trúc TTCX theo mô hình của K.V Petrides và A Furnham
Theo K.V Petrides và A Furnham: “TTCX là một tập hợp năng lực tự nhận thức
có liên quan đến CX được đặt ở mức độ thấp hơn nhân cách” đồng thời đưa ra một
mô hình TTCX, được gọi là mô hình đặc điểm, bao gồm 04 nhân tố: hạnh phúc; tự kiểm soát; tính nhạy cảm; tính hòa đồng với 15 khía cạnh biểu hiện khác nhau [70]
1.2.2.2 Cấu trúc trí tuệ cảm xúc theo mô hình thuần năng lực của Jonh Mayer và Peter Salovey
Salovey và Mayer đã đề xuất một mô hình TTCX bao gồm bốn nhánh có tính khái quát toàn diện về TTCX phải bao gồm trong nó sự đo lường “khả năng hiểu biết, suy nghĩ về CX, tình cảm”, một năng lực không thấy có ở các mô hình chỉ giản đơn tập trung vào sự nhận biết và điều khiển tình cảm một cách đơn thuần
Sơ đồ 1.1: Mô hình TTCX (năm 1990) của P.Salovey và Mayer [72, tr 34]
Lập kế
hoạch linh
hoạt
Suy nghĩ sáng tạo
Hướng sự tập trung chú ý
Đánh giá và biểu hiện cảm xúc
Nhận thức hành vi phi ngôn ngữ Sự thấu cảm
Trang 33Mô hình của hai tác giả này đã nhấn mạnh đến mặt nhận thức Dựa trên mô hình TTCX năm 1990, hai ông đã xây dựng trắc nghiệm đo lường TTCX gọi là MEIS (Multifactor Emotional Intelligence Scale)
Sau mô hình EI90, đến năm 1997 J Mayer và P Salovey tiếp tục công bố mô hình TTCX được chỉnh sửa và tinh lọc, các tác giả đã đưa ra quan niệm về TTCX như
sau: “TTCX là năng lực nhận biết, bày tỏ CX, hòa CX vào suy nghĩ, hiểu, suy luận với
CX, kiểm soát, điều chỉnh CX của mình và của người khác” [67]
Dựa trên định nghĩa này, mô hình TTCX thuần năng lực được xây dựng và được gọi là mô hình EI 97 Kể từ đó, nhiều mô hình khác được thiết lập, nhưng mô hình của Salovey và Mayer vẫn là mô hình TTCX ổn định, được chấp nhận nhất
Theo mô hình EI97, TTCX được xem là một tổ hợp gồm bốn năng lực liên quan đến
CX được trải ra từ kĩ năng cơ bản đến kĩ năng phức tạp, được mô tả cụ thể như sau:
(1) Nhận biết các CX gồm một phức hợp các kĩ năng cho phép cá nhân biết cách
cảm nhận, thấu hiểu và biểu lộ các CX Các năng lực cụ thể bao gồm nhận dạng những
CX của mình và của người khác, bày tỏ CX của mình và phân biệt được những dạng
CX mà người khác
(2) Sử dụng CX để hỗ trợ, thúc đẩy tư duy, nhóm năng lực này cho phép con
người điều tiết CX của mình trong các quá trình nhận thức khác nhau; nhận thức được rằng những thay đổi tâm trạng có thể dẫn đến sự xem xét những quan điểm thay thế và hiểu rằng sự thay đổi trạng thái CX và cách nhìn có thể khuyến khích nảy sinh các loại năng lực giải quyết vấn đề khác nhau
(3) Hiểu các CX và quy luật của CX: Hiểu biết về nguyên nhân và tiến trình phát
triển CX, thể hiện năng lực đánh giá CX của người khác, của cá nhân và sự thấu hiểu
mà họ có được từ việc quan sát cảm nhận của người khác
(4) Kiểm soát, điều chỉnh CX, nhóm năng lực này xem xét sự điều chỉnh CX trong chính mỗi cá nhân và những người khác: kiểm soát, tự điều chỉnh các CX của bản thân,
sắp xếp các CX nhằm hỗ trợ một mục tiêu XH nào đó, điều chỉnh CX của người khác Khi đánh giá về mô hình EI97, J Mayer và các cộng sự cho rằng mô hình EI97 thỏa mãn những tiêu chí quan trọng để xếp vào các cấu trúc trí tuệ, gồm tiêu chí khái niệm, tương quan và phát triển Dựa trên mô hình này, J.Mayer, P.Salovey cùng D.Caruso phát triển, chỉnh sửa thang đo MEIS, loại bỏ những item có độ tin cậy thấp, rút gọn số lượng item để hình thành trắc nghiệm đo lường TTCX phiên bản 2 gọi là MSCEIT (năm 2002) [68]
MSCEIT được giới học thuật đánh giá cao bởi các công bố của các nhóm NC độc lập cũng như của chính các tác giả M Zeidners, G Matthews, R D.Roberts là nhóm nhà NC phản biện đối với các mô hình TTCX cũng đã thừa nhận “mô hình thuần năng lực EI97 của
J Mayer và P Salovey đang chiếm ưu thế” [80] Kết quả đạt được của J Mayer và P
Salovey cũng là hướng tiếp tục NC và phát triển cho các nhà khoa học sau này
Trang 34Nhận biết, đánh giá và biểu lộ cảm xúc
Năng lực thể hiện
CX chính xác, và thể hiện những nhu cầu liên quan đến CX đó
Năng lực phân biệt
sự biểu hiện CX chân thật hay không chân thật, chính xác hay không chính xác
và ghi nhớ có liên quan đến cảm giác
Những giao động tâm trạng CX làm một người thay đổi
từ lạc quan sang bi quan, thúc đẩy việc xem xét các cách nhìn nhận khác nhau
Tình trạng CX tác động đến cách giải quyết những vấn đề
cụ thể, chẳng hạn như khi hạnh phúc thì thúc đẩy suy luận logic và sáng tạo
Tạo điều kiện cảm xúc cho suy nghĩ
Hiểu và phân tích CX; sử dụng những tri thức cảm xúc
Điều chỉnh CX một cách có suy nghĩ nhằm tăng cường sự phát triển CX và trí tuệ
Sơ đồ 1.2: Mô hình trí tuệ cảm xúc EI 97 của J Mayer và P Salovey [67, tr 37]
TRÍ TUỆ CẢM XÚC
Năng lực thấu hiểu những cảm xúc phức tạp,
CX yêu ghét đồng thời hoặc những CX pha trộn chẳng hạn như sự kinh sợ
là kết hợp của nỗi sợ hãi
và ngạc nhiên
Năng lực nhận thức được những chuyển đổi CX có thể xảy ra, chẳng hạn như sự chuyển đổi từ giận dữ sang thỏa mãn, hoặc từ giận dữ sang xấu hổ
Năng lực điều chỉnh
CX liên quan tới bản thân và những người khác một cách có suy nghĩ, chẳng hạn nhận thức được những CX
đó rõ ràng, đặc trưng,
có sức ảnh hưởng hoặc hợp lí
Năng lực kiểm soát CX của bản thân và người khác bằng cách điều chỉnh CX tiêu cực và thúc đẩy CX dễ chịu mà không cần kìm nén hay thổi phồng những thông tin mà nó biểu đạt
Trang 35Như vậy, mặc dù TTCX là một vấn đề mới được NC, song trên thế giới đã có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này Trong đó phải kể đến ba đại diện tiêu biểu sau:
- Reuven Bar - On (1997) với mô hình hỗn hợp bằng cách hòa trộn vào TTCX
những đặc tính phi năng lực, cách tiếp cận TTCX dưới góc độ nhân cách
- Daniel Goleman (2003) với lí thuyết hiệu quả thực hiện công việc, trong đó đưa ra kiểu
mô hình hỗn hợp, mô hình TTCX bao gồm các năng lực tâm lí và các phẩm chất nhân cách
- John Mayer và Peter Salovey với mô hình thuần năng lực, chú ý đến bản chất
cốt lõi của khái niệm TTCX là sự tương tác giữa các CX và ý nghĩ giúp chủ thể thích ứng tốt hơn với tình huống cuộc sống, duy trì và PT các quan hệ XH
TTCX ở góc độ chung nhất liên quan tới những năng lực nhận biết và vận hành các CX của mình và của người khác Bốn chiều cạnh của TTCX: tự biết mình, tự quản, nhận biết các quan hệ XH và quản lí, kiểm soát các quan hệ được tất cả các lí
thuyết TTCX chấp nhận nhưng lại biểu đạt dưới các tên gọi (thuật ngữ) khác nhau Sau khi NC các cách tiếp cận, so sánh ba mô hình TTCX nêu trên, chúng tôi lựa chọn cách tiếp cận TTCX thuần năng lực của J Mayer và P Salovey, một mô hình TTCX được chấp nhận rộng rãi trên thế giới và ở Việt Nam Do đó luận án sử dụng khái niệm TTCX
theo cách định nghĩa của J Mayer và P Salovey năm 1997: “TTCX là năng lực nhận biết, bày tỏ CX, hòa CX vào ý nghĩ, hiểu và suy luận với CX, kiểm soát, điều chỉnh CX của bản thân và của người khác” Về cấu trúc của TTCX, luận án sử dụng mô hình cấu trúc TTCX
gồm bốn nhóm năng lực như Mayer và Salovey đề xuất trong mô hình EI 1997
* Mô hình TTCX thuần năng lực đáp ứng cảc tiêu chuẩn để xếp vào hệ thống các trí tuệ của con người
Mayer và Salovey đã dựa vào ba tiêu chuẩn quan trọng (tiêu chuẩn khái niệm, tiêu chuẩn về sự tương quan, tiêu chuẩn phát triển) để khẳng định mô hình TTCX thuần
năng lực đáp ứng các tiêu chuẩn để xếp vào hệ thống các trí tuệ của con người [73]
- Tiêu chuẩn khái niệm (Conceptual criterion): Các tác giả này khẳng định
TTCX bao gồm một loạt những năng lực trí tuệ liên quan với nhau về mặt khái niệm,
đó là sự nhận dạng (tri giác, so sánh) và suy luận (tư duy, tìm ra mối quan hệ) về CX
- Tiêu chuẩn về sự tương quan: Mayer và cộng sự chứng minh rằng TTCX là một
tập hợp những thành tố năng lực trí tuệ liên quan khá mật thiết với nhau và tương quan
với các trí tuệ khác ở một mức độ vừa phải (r <0,3)
- Tiêu chuẩn về sự phát triển: Việc thao tác hóa khái niệm TTCX thành mô hình EI
97 của Mayer và Salovey dự đoán rằng cấp độ TTCX của một cá nhân sẽ tăng theo lứa
tuổi và kinh nghiệm cá nhân Trong bài báo "TTCX đáp ứng tiêu chuẩn truyền thống về một dạng trí tuệ ” (1999) Mayer và Salovey cho rằng: sử dụng MSCEIT (thiết kế dựa trên
cơ sở mô hình EI 1997) để đo TTCX cho thấy điểm EI tăng lên theo lứa tuổi [66]
Như vậy, khái niệm, cấu trúc TTCX thuần năng lực do Mayer và Salovey đề xuất đã
và đang chứng tỏ sức thuyết phục của nó về một dạng trí tuệ quan trọng trong cơ cấu trí tuệ của con người [26] Vì vậy luận án sử dụng mô hình TTCX thuần năng lực của Mayer
và Salovey để xây dựng khung lí thuyết BD TTCX trong HĐNN cho GVMN
Trang 361.2.3 Vai trò của trí tuệ cảm xúc
- Vai trò của TTCX trong hoạt động cá nhân
Daniel Goleman cho rằng năng lực CX sẽ cho biết mức độ chúng ta chuyển các tiềm năng thành các năng lực cần thiết cho công việc Mặt khác, sự tin cậy là một năng lực dựa trên sự tự điều chỉnh hay kiểm soát tốt CX Tuy nhiên, các năng lực CX tồn tại theo nhóm, mỗi nhóm dựa trên một điểm chung dưới sự điều chỉnh của TTCX Các năng lực này đóng vai trò quyết định trong việc một người có thể học các kĩ năng cần thiết để thành công trong công việc hay không [64] Ví dụ như một người thiếu các kĩ năng về mặt XH thì họ sẽ không có khả năng thuyết phục hay khuyến khích người khác, lãnh đạo một nhóm hay can thiệp để có sự thay đổi Hoặc khi họ thiếu sự tự nhận thức thì họ sẽ lãng quên những điểm yếu và thiếu tự tin về những điểm mạnh của bản thân Theo Bernard Law, một chuyên gia huấn luyện TTCX thì năng lực kiểm soát, điều chỉnh CX giúp chúng ta đưa ra những quyết định sáng suốt hơn và để cải thiện các mối quan hệ của chúng ta đối với mọi người Tất cả chúng ta đều có CX - bởi vì chúng ta đều là con người [55]
- Vai trò của TTCX trong hoạt động của nhóm
TTCX rất quan trọng đối với mô hình làm việc theo nhóm Theo NC của Rice (1999) đã NC 26 nhóm nhân viên giải đáp khách hàng làm việc trong trung tâm dịch
vụ tài chính của một công ty bảo hiểm lớn Bà nhận thấy nhóm nào có chỉ số TTCX trung bình cao hơn sẽ nhận được đánh giá công việc tốt hơn từ lãnh đạo, đặc biệt với ngành dịch vụ khách hàng [71]
NC của P.N Lopes và những người khác (2005) NC TTCX của 91 sinh viên làm việc cho một dự án kéo dài 10 tuần theo từng nhóm nhỏ Kết quả cho thấy cá nhân có năng lực kiểm soát, điều chỉnh CX tốt hơn sẽ thấy hài lòng hơn với mỗi thành viên của nhóm và với cả nhóm, và họ cũng nhận được sự ủng hộ của XH nhiều hơn
Còn NC của P J Jordan và đồng nghiệp (2002) về các nhóm có TTCX cao và thấp kết luận rằng, nhóm có TTCX thấp cuối cùng vẫn đạt được mức kết quả công việc bằng nhóm có TTCX cao Tuy nhiên, điều đáng chú ý nhất là những nhóm có TTCX cao sẽ bắt đầu thực hiện dự án với tính hiệu quả cao hơn, còn nhóm có TTCX thấp phải mất vài tuần mới có thể bắt kịp
- Vai trò của TTCX trong công tác quản lí
Trong những năm gần đây, đã có nhiều suy đoán về mối quan hệ của TTCX với những khía cạnh của năng lực quản lí, nhưng chúng đều không dựa trên những NC chính thức (M Ashkanasy, 1998; D Caruso 2004) Hiện nay, đã có những dữ kiện bổ sung có thể giúp chúng ta làm sáng tỏ mối quan hệ giữa TTCX và năng lực quản lí, gồm nắm và chuyển giao quyền quản lí, đánh giá tiềm năng quản lí, các cấp quản lí thấp và cao, ý thức quản lí [54]
Trong một NC dài hạn của C.S Daus & A Harris (2003) đối với sinh viên, sự nắm vững và chuyển giao quyền QL dường như liên quan đến các mặt của TTCX [58]
Trang 37Ngoài ra, các nhà NC cũng tìm thấy những kết quả tương tự đối với các giám đốc
ở Nam Phi NC của C Coetzee & P Schaap trên 100 giám đốc cho thấy sự chuyển giao quyền lực có liên quan đến tổng thể TTCX, còn sự quản lí chính sách tự do kinh doanh thì ít nhiều liên quan đến một trong các năng lực TTCX là sử dụng CX (C Coetzee & P Schaap) Quan trọng là mối quan hệ này vẫn còn đủ mạnh ngay khi đã kiểm soát được đặc điểm nhân cách và năng lực ngôn ngữ Một NC về các nhà điều hành cho thấy người nào ghi được điểm số EQ cao hơn sẽ đạt được những thành tựu rực rỡ hơn trong công việc và được cấp dưới cũng như cấp trên trực tiếp đánh giá là những nhà quản lí hiệu quả hơn những đồng nghiệp có EQ thấp hơn [16]
- Vai trò của TTCX trong công tác GD
GD là một lĩnh vực hoạt động XH mang tính đặc thù nhằm đào tạo thế hệ trẻ thành những con người có nhân cách phát triển toàn diện Khi hoạt động trong lĩnh vực GD,
GV phải thực hiện nhiều công việc khác nhau, phải tham gia vào nhiều mối quan hệ người - người đa dạng, phong phú: quan hệ giữa GV với HS, giữa GV với CBQL giáo dục, GV với GV, GV với các bậc phụ huynh, giữa GV với các tổ chức xã hội, cộng đồng [21] Mỗi công việc, mỗi mối quan hệ này có những yêu cầu, đòi hỏi riêng về năng lực chuyên môn và năng lực giao tiếp ứng xử đối với người GV Và chính sự đa dạng trong hoạt động và sự đa dạng trong quan hệ giao tiếp đã tạo ra những áp lực nhất định đối với GV [60] Nhờ có TTCX GV nhận dạng được CX của mình, của người khác; thấu cảm với những CX của người khác trong quá trình giao lưu, giao tiếp Trên
cơ sở đó kiểm soát, điều tiết CX của mình và của người khác sao cho phù hợp với hoàn cảnh, tình huống thực tiễn nhằm hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao, đáp ứng lòng mong đợi của xã hội
Từ sự phân tích trên đã cho thấy, TTCX đã và đang được áp dụng vào nhiều lĩnh vực khác nhau của cuộc sống Những kết quả trên đã cho thấy hiệu quả đáng kể của TTCX đối với đời sống của con người trong thời đại hiện nay
- Vai trò của BD TTCX đối với HĐNN của GVMN
Đối với hoạt động CS - GD trẻ em của GVMN, TTCX đặc biệt quan trọng và có ảnh hưởng lớn tới việc tổ chức các hoạt động GD theo hai chiều hướng: thúc đẩy hiệu quả quá trình GD hoặc làm hạn chế hiệu quả của quá trình đó GVMN, ngoài những yêu cầu bắt buộc về trình độ chuyên môn, cần phải có năng lực thuộc về TTCX (nhận biết, bày tỏ CX; hiểu và làm chủ CX; hòa suy nghĩ vào CX, điều chỉnh CX…)
Với vai trò là người tổ chức thực hiện nhiệm vụ CS - GD trẻ em MN, GVMN tiến hành lập kế hoạch CS - GD trẻ; xây dựng môi trường GD; tạo cơ hội cho trẻ hoạt động tích cực; quan sát, điều chỉnh các mối quan hệ của trẻ; đánh giá kết quả CS - GD trẻ, trên cơ sở
đó lập kế hoạch cho chu kì GD tiếp theo [5] Để làm được điều đó, GVMN phải có TTCX phát triển
Trang 38Người GV được BD TTCX sẽ nhận biết và làm chủ CX của bản thân, nhận biết được CX của trẻ, của phụ huynh, của đồng nghiệp, từ đó có các hành vi, cử chỉ, việc làm, lời nói thích hợp Việc nhận biết các CX của bản thân và của trẻ rất quan trọng trong tổ chức các hoạt động GD trẻ Khi nhận biết tốt các CX của bản thân, người GV
sẽ ý thức trước được hành động do CX nào gây nên và từ đó đưa ra các định hướng để điều chỉnh hành vi của mình Đồng hành với việc nhận biết CX của bản thân, GVMN còn nhận biết, hiểu và đồng cảm với CX của trẻ Một GV nhận diện tốt các CX của trẻ
sẽ không chỉ trở thành người bạn của trẻ, giúp trẻ dễ chia sẻ và từ đó còn tìm các biện pháp kích thích trẻ hoạt động tích cực Sự thông minh, tinh tế trong xử lí các CX của bản thân sẽ giúp GV hoàn thành nhiệm vụ là người hướng dẫn, người tổ chức, là điểm tựa, thang đỡ cho trẻ trong quá trình GD
Trong hoạt động GD của GVMN còn có các mối quan hệ với các đồng nghiệp, với phụ huynh Sự kết hợp giữa gia đình, nhà trường và XH sẽ làm cho kết quả của quá trình GD tốt hơn Vì vậy, một GVMN có TTCX cao sẽ tạo lập mối quan hệ tốt giữa ba nhân tố trên, giúp cho quá trình GD đạt hiệu quả tốt nhất Có thể nói, một người GV xử lí tốt các mối quan hệ với đầy đủ các năng lực TTCX sẽ thực hiện tốt trách nhiệm của mình trong công tác CS - GD trẻ Ngược lại, GVMN thiếu các năng lực của TTCX thì sẽ làm giảm hiệu quả công việc Nếu GVMN không nhận diện tốt các CX của bản thân, nhất là những CX tiêu cực, sẽ không ý thức được các hành động tương ứng với các CX đó thì khi tổ chức các hoạt động GD, khó có thể lường trước được những tình huống không mong đợi xảy ra như trẻ không tập trung, trẻ nghịch ngợm, trẻ phá quấy đó là những nguyên nhân dẫn tới các CX tiêu cực như buồn, tức giận, không làm chủ được CX, GV rất dễ có những hành động không mang tính sư phạm: quát mắng, trừng phạt, đánh, hay có những hành vi ứng xử quá mức đối với trẻ GVMN là người tổ chức, hướng dẫn, giúp đỡ trẻ trong quá trình tham gia các hoạt động ở trường mầm non Họ là người mẹ hiền thứ hai, là cầu nối trẻ với thế giới xung quanh Trong đó, BD TTCX có ảnh hưởng lớn tới hiệu quả của công tác
tổ chức các hoạt động GD của GVMN
1.2.4 Các phương pháp đo lường trí tuệ cảm xúc
Nội dung đo lường của các trắc nghiệm TTCX hiện nay là rất khác nhau Để giúp lựa chọn trắc nghiệm TTCX thích hợp đã có một bảng so sánh các loại trắc nghiệm khác nhau dựa trên những cách tiếp cận đo lường khác nhau là: năng lực, tự đánh giá
và người khác đánh giá (xem bảng 1.1)
Trang 39Bảng 1.1 Một số trắc nghiệm TTCX phổ biến
Cách tiếp cận:
Năng lực thực hiện Cách tiếp cận: Tự đánh giá
Cách tiếp cận: Người khác đánh giá
MEIS & MSCEIT
(Mayer, Salovey &
Caruso, 1997)
Bar-On EQ-i
(Bar-On, 1997)
EQ-Map (Cooper, 1996/1997)
ECI (Boyatzls, Goleman
& Hay/McBer, 1999) Nội dung đo lường:
Tự nhận biết CX của mình, tự khẳng định, tự trọng, tự hiện thực hoá và độc lập
Quan hệ vởi người khác:
Đồng cảm, quan hệ liên nhân cách, trách nhiệm xã hội
Kiểm soát, quản lí stress:
Giải quyết vấn đề, đánh giá đúng thực tiễn, mềm dẻo, linh hoạt trong tư duy
Khả năng thích ứng:
Chịu đựng stress, kiểm soát xung tính
Tâm trạng chung:
Hạnh phúc, lạc quan
Nội dung đo lường:
Môi trường hiện tại:
Sức ép trong đời sống
và mức độ hài lòng của cá nhân
Hiểu biết về CX:
Tự nhận biết CX của mình, bày tỏ CX và nhận biết CX ở người khác
Các năng lực:
Tính mục đích, sáng tạo, linh hoạt, quan hệ với người khác và giải quyết bất đồng một cách tích cực
Các giá trị và thái độ:
Tầm nhìn, tình thương, trực giác, lòng tin, uy lực cá nhân và tự hòa nhập
Kết quả:
Sức khoẻ chung, chất lượng cuộc sống, chỉ
số quan hệ và sự hoàn thành công việc một cách tối ưu
Nội dung đo lường:
Tự nhận biết mình:
Nhận biết CX của mình, đánh giá mình chính xác, tự tin
Các kĩ năng xã hội:
GD người khác, năng lực lãnh đạo, tạo ảnh hưởng, giao tiếp, tạo xúc tác để thay đổi, kiểm soát, quản lí xung đột, xây dựng các mối quan hệ, tinh thần đồng đội và sự hợp tác
Nguồn: Nguyễn Công Khanh, 2005 [27]
Trắc nghiệm thứ nhất được thiết kế theo kiểu phép đo năng lực là trắc nghiệm TTCX đa nhân tố MEIS (Multifactor Emotional Intelligence Scale) (1997) Phiên bản
được chỉnh sửa sau đó là MSCEIT (Mayer, Salovey và Caruso Emotional Intelligence Test) của Mayer, Salovey & Caruso (2002) [68] Trắc nghiệm này đo lường TTCX liên quan đến quá trình xử lí thông tin và suy luận về CX Phép đo này đo lường bốn
Trang 40thành tố: năng lực nhận biết về CX, năng lực sử dụng CX để thúc đẩy tư duy, năng lực hiểu rõ CX và năng lực điều khiển, kiểm soát CX: Nhận biết về CX, sử dụng CX để thúc đẩy tư duy, hiểu rõ CX, điều khiển, kiểm soát CX
Trắc nghiệm thứ hai được thiết kế theo kiểu tự đánh giá là EQ-I (Emotional
Quotient Inventory) của Bar-On [49] Trắc nghiệm này được thiết kế để đo lường một loạt các năng lực không liên quan đến nhận thức
Trắc nghiệm thứ ba cũng được thiết kế theo kiểu tự đánh giá là EQ Map của
Cooper (1996 -1997) Phép đo này phân chia TTCX thành 5 thành tố là môi trường hiện tại, hiểu biết về CX, các năng lực của TTCX, các giá trị và thái độ, kết quả
Trắc nghiệm thứ tư được thiết kế theo kiểu tự đánh giá và người khác đánh giá là trắc nghiệm ECI (Emotional Competency Inventory) của Boyatzis và cộng sự (1999)
Trắc nghiệm ECI đo bốn khía cạnh của TTCX: Tự nhận biết mình, tự kiểm soát, làm chủ bản thân, nhận biết các quan hệ xã hội, các kĩ năng xã hội:
Những năng lực trên đây được đo bằng cách đề nghị người cung cấp thông tin đánh giá và đề nghị chính nghiệm thể tự đánh giá về mình
Như vậy ta thấy có nhiều bộ trắc nghiệm đo lường TTCX Để đánh giá sự phù hợp của
các phép đo TTCX chúng ta cần phải dựa trên bản chất khái niệm TTCX Theo Mayer, Salovey và Caruso (2002), một số lớn các test dưới cái tên TTCX nhưng đều đo lường nhân cách chứ không phải đo riêng yếu tố TTCX Mỗi test đều có giá trị hữu ích nhất định của
nó Nhưng MSCEIT được nhiều nhà tâm lí học kiểm chứng và thừa nhận là bộ test đo lường TTCX phản ánh đúng nội hàm khái niệm TTCX và có độ tin cậy cao nhất [68]
Tuy nhiên, thang đo MSCEIT chỉ dừng lại ở mức độ phản ánh những năng lực TTCX của một cá nhân, hay một nhóm nào đó một cách chung nhất, có tính chất đại cương, chưa phản ánh những năng lực đó biểu hiện trong HĐNN, hay trong cuộc sống
Vì vậy, đề tài chọn lựa và vận dụng thang đo MSCEIT để xây dựng một bộ công cụ đánh giá năng lực TTCX của GVMN trong quá trình CS - GD trẻ em, gồm: Bảng hỏi
và bài tập đo nghiệm thông qua các tình huống SP …
1.3 Hoạt động nghề nghiệp và trí tuệ cảm xúc trong hoạt động nghề nghiệp của giáo viên mầm non
1.3.1 Hoạt động nghề nghiệp của giáo viên mầm non
1.3.1.1 Khái niệm nghề và nghề giáo viên mầm non
Nghề hay nghề nghiệp, theo Từ điển tiếng Việt, là công việc chuyên làm do XH phân công, như nghề GV, nghề trồng trọt…[36]
Theo đó, nghề GVMN là nghề làm nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc và GD trẻ em dưới 6 tuổi Nhờ được đào tạo, GVMN có được những tri thức về sự phát triển thể chất, tâm sinh lí trẻ em; về phương pháp nuôi dưỡng, CS và GD trẻ em; về những kĩ năng nhất định để thực hiện nhiệm vụ CS - GD trẻ em dưới 6 tuổi, đáp ứng nhu cầu
XH về phát triển con người mới trong xu hướng hội nhập và toàn cầu hóa