5 CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LÃI SUẤT VÀ KHÁI QUÁT NỘI DUNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ LÃI SUẤT TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM 1.1 Những vấn đề lý lu
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT -
PHẠM THỊ NGOAN
PHÁP LUẬT VỀ LÃI SUẤT TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH: LUẬT KINH DOANH
Hệ đào tạo: Chính quy Khóa: QH-2013-L
Hà Nội, 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT -
PHẠM THỊ NGOAN
PHÁP LUẬT VỀ LÃI SUẤT TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH: LUẬT KINH DOANH
Hệ đào tạo: Chính quy Khóa: QH-2013-L
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS Nguyễn Thị Lan Hương
Hà Nội, 2017
Trang 3
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là khóa luận tốt nghiệp của chính bản thân tôi,
khóa luận được TS Nguyễn Thị Lan Hương hướng dẫn khoa học Các số liệu nêu trong khóa luận này là trung thực Các thông tin tham khảo đều được dẫn nguồn cụ thể
TÁC GIẢ KHÓA LUẬN
Phạm Thị Ngoan
Trang 4Mục Lục
Trang Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LÃI SUẤT VÀ KHÁI QUÁT NỘI DUNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ LÃI SUẤT TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM 5
1.1 Những vấn đề lý luận về lãi suất 5
1.1.1 Khái niệm về lãi suất 5
1.1.2 Phân loại lãi suất 6
1.1.3 Cơ chế điều hành lãi suất của Ngân hàng Trung ương 9
1.2 Khái quát pháp luật về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại 11
1.2.1 Nguyên tắc điều chỉnh pháp luật về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại 11
1.2.2 Nội dung pháp luật điều chỉnh về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại 15
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ LÃI SUẤT TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM 19
2.1 Quy định pháp luật về lãi suất đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại 19
2.1.1 Quy định về lãi suất trong hoạt động huy động vốn và hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại 19
2.1.2 Quy định về lãi suất trong hoạt động điều hành chính sách tiền tệ 30
2.2 Ưu điểm và hạn chế trong các quy định hiện hành về lãi suất đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại 35
2.3.1 Hoạt động cho vay của các NHTM 35
2.3.2 Hoạt động huy động vốn của các ngân hàng thương mại 38
Trang 52.3 Một số hành vi vi phạm quy định về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại và chế tài xử lý 40 2.3.1 Một số hành vi vi phạm quy định về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại 40 2.3.2 Chế tài xử lý 44 CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ LÃI SUẤT TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM 49 3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại ở Việt Nam 49 3.2 Các kiến nghị cụ thể 50 3.2.1 Quy định nguyên tắc xác định lãi suất trong Luật NHNN và Luật các tổ chức tín dụng 50 3.2.2 Quy định về giới hạn lãi suất tiền gửi 52 3.2.3 Đảm bảo tính hợp lý trong mối quan hệ giữa các mức lãi suất điều hành của Ngân hàng Nhà nước 53 3.2.4 Tăng cường kiểm tra, giám sát thực hiện quy định về lãi suất 55 KẾT LUẬN 57
Trang 6Danh mục các chữ viết tắt
Ngân hàng thương mại NHTM Ngân hàng Trung ương NHTW Ngân hàng Nhà nước NHNN
Trang 71
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lãi suất không chỉ là công cụ thiết yếu và nhạy cảm trong việc điều hành chính sách tiền tệ của mỗi quốc gia, mà lãi suất còn thể hiện là giá cả của việc sử dụng vốn của hoạt động tín dụng Sự biến động của lãi suất sẽ tác động đến quá trình sản xuất, đầu tư, tiêu dùng và tiết kiệm của cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung
Trong giai đoạn hiện nay, khi hầu hết các nền kinh tế trên thế giới đều hướng về mô hình kinh tế thị trường thì vai trò của lãi suất ngày càng nổi bật, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của nền kinh tế Chính vì những ảnh hưởng của lãi suất trong đời sống hàng ngày của mỗi quốc gia mà đa số các nước đều tìm cách sử dụng pháp luật để tác động vào lãi suất bằng những cách khác nhau để đạt được mục tiêu quản lý của mình Điều này cho thấy việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với lãi suất nói chung và lãi suất trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại (NHTM) nói riêng là điều cần thiết và không thể phủ nhận Ở Việt Nam, vấn đề lãi suất đã được Nhà nước quy định trong các văn bản pháp luật Trải qua thời gian, các quy định về lãi suất đã được điều chỉnh để phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đáp ứng được những nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của nền kinh tế trong từng thời kỳ Do tầm quan trọng cũng như ảnh hưởng của lãi suất đến nền kinh tế, đặc biệt lãi suất ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của NHTM, việc điều hành lãi suất thông qua các quy định của pháp luật cũng không tránh khỏi những hạn chế trong thực tiễn áp dụng do vậy nghiên cứu đề tài liên quan đến lãi suất là cần thiết Xuất phát từ những vấn đề mang tính
thời sự của lãi suất, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Quy định pháp luật về lãi
suất trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại ở Việt Nam”
để làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Trang 82
Trên cơ sở hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản và thông qua việc phân tích đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM ở Việt Nam, thực tiễn áp dụng các quy định đó trong hoạt động kinh doanh của NHTM để chỉ ra những ưu điểm cũng như những tồn tại, hạn chế cần phải khắc phục việc áp dụng các quy định về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM; từ đó đưa ra một số định hướng nhằm hoàn thiện pháp luật về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM
ở Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Khóa luận tập trung nghiên cứu và đánh giá các quy định hiện hành về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM ở Việt Nam NHTM được thực hiện rất nhiều các hoạt động ngân hàng khác nhau nhưng chủ yếu và đặc trưng nhất vẫn là hoạt động huy động vốn và cho vay, trong hoạt động đó vai trò của lãi suất huy động và lãi suất cho vay là rất quan trọng Khóa luận văn
đi sâu vào phân tích các quy định liên quan đến lãi suất huy động và lãi suất cho vay của NHTM, quy định về các lãi suất mà Ngân hàng Trung ương (NHTW) sử dụng để thực thi chính sách tiền tệ có ảnh hưởng gián tiếp đến lãi suất huy động vốn và lãi suất cho vay của NHTM, các quy định liên quan đến thanh tra, giám sát tuân thủ quy định về lãi suất Thực tiễn áp dụng các quy định về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM những điểm tích cực
và hạn chế từ thực tiễn áp dụng pháp luật, trên cơ sở đó nêu ra hướng hoàn thiện pháp luật về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM tại Việt
Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp khoa học được sử dụng trong toàn bộ khóa luận là phương pháp luận, chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
để đánh giá khách quan, toàn diện thực trạng các quy định của pháp luật về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM Ngoài ra, để hoàn thành mục
Trang 93
đích nghiên cứu, khóa luận cũng sử dụng nhiều phương pháp cụ thể như: phương pháp hệ thống, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp luật học so sánh, phương pháp lịch sử để làm rõ các luận điểm nghiên cứu trong
đề tài
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Khóa luận đã cập đến các vấn đề lý luận, thực tiễn của pháp luật về lãi suất trong hoạt động của các tổ chức tín dụng mà chủ yếu là của NHTM, mà đặc trưng là lãi suất huy động vốn và lãi suất cho vay NHTM là một doanh nghiệp kinh doanh đặc thù, không chỉ thực hiện hoạt động kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc điều hành chính sách tiền tệ của NHTW Vì vậy, cần thiết ban hành cơ sở pháp lý an toàn để điều chỉnh lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM
Khóa luận được nghiên cứu trong bối cảnh đã có nhiều văn bản luật về ngân hàng được ban hành Cụ thể là Luật NHNN năm 2010, Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và cùng với các chính sách tiền tệ được thay đổi liên tục Khóa luận đã đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM, cũng như điều hành lãi suất thay đổi cho phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội của đất nước
Cụ thể:
Thứ nhất, làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về lãi suất, khái niệm, phân loại lãi suất cũng như cơ chế điều hành lãi suất của Ngân hàng Trung ương (NHTW); nguyên tắc điều chỉnh, nội dung pháp luật về lãi suất
Thứ hai là phân tích, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM, quá trình áp dụng các quy định này trong thực tiễn có phù hợp hay không Những ưu điểm đã đạt được khi áp dụng các quy định của pháp luật, cũng như các quy định này có bất cập gì khi thực hiện trên thực tế không đem lại hiệu quả như mong muốn
Trang 104
Thứ ba là sau khi đã nghiên cứu về lý luận cũng như thực trạng pháp luật về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM kết hợp với thực tế các NHTM đã áp dụng lãi suất trong hoạt động kinh doanh của mình như thế nào,
để có thể tìm ra cơ sở định hướng cho việc khắc phục những bất cập của các quy định này đồng thời tiếp tục xây dựng pháp luật về lãi suất cho phù hợp với thời kỳ phát triển của đất nước
6 Bố cục của khóa luận
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Khóa luận gồm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về lãi suất và khái quát nội dung điều
chỉnh pháp luật về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại ở Việt Nam
Chương 2: Thực trạng pháp luật về lãi suất trong hoạt động kinh doanh
của ngân hàng thương mại ở Việt Nam Chương 3: Định hướng và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lãi
suất trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại ở Việt Nam
Trang 115
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LÃI SUẤT VÀ KHÁI QUÁT NỘI DUNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ LÃI SUẤT TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM
1.1 Những vấn đề lý luận về lãi suất
1.1.1 Khái niệm về lãi suất
Một trong những đặc trưng của hoạt động tín dụng là sau một thời gian nhất định người đi vay vốn phải hoàn trả cho người cho vay một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu Lãi suất phản ánh mối quan hệ giữa chủ thể sử dụng vốn (người vay vốn) với chủ thể sở hữu vốn (người cho vay) theo nguyên tắc hoàn trả có kỳ hạn kèm theo lãi ở thị trường vốn ở một thời điểm nhất định Nhà kinh tế học Marshall (1890) trong tác phẩm “Principles of Economis” (Những nguyên lý kinh tế học) đã viết: “Lãi suất chỉ giá phải trả cho việc sử dụng vốn trên một thị trường bất kỳ1”
Khi nhìn nhận ở các khía cạnh khác nhau, nhìn chung khái niệm lãi suất tương đối thống nhất và không có quá nhiều khác biệt
Dưới góc độ kinh tế, lãi suất tín dụng là tỷ lệ phần trăm giữa tổng số lợi tức thu được và tổng số tiền cho vay trong một khoảng thời gian nhất định (ngày, tuần, tháng, quý, năm…)2; hay là giá cả của quyền được sử dụng vốn vay trong một khoảng thời gian nhất định mà người sử dụng phải trả cho người sở hữu nó
Theo Từ điển Luật học: Lãi suất là tỷ lệ phần trăm tính trên vốn đầu tư
để xác định lãi của người đầu tư3
Như vậy, có thể hiểu một cách chung nhất lãi suất là giá cả của khoản
vay được tính trên tỷ lệ phần trăm (%) giữa số tiền phải trả so với khoản
1 GS.TS Lê Văn Tư (2004), Tiền tệ, ngân hàng, thị trường tài chính, NXB Tài chính, Hà Nội, tr.407
2 Học viện tài chính (2014), Giáo trình tài chính - tiền tệ, NXB Tài chính, Hà Nội, tr 121
3 Bộ Tư pháp, Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, NXB Từ điển Bách Khoa và NXB
Tư pháp, Hà Nội, tr.452-453
Trang 126
tiền vay và được xác định trong một khoảng thời gian nhất định (thường được tính theo ngày, tháng, quý, năm)
1.1.2 Phân loại lãi suất
Hiện nay, có nhiều tiêu chí để phân loại lãi suất Dưới góc độ luật học, lãi suất tín dụng ngân hàng được phân loại dựa trên các căn cứ chủ yếu sau:
- Căn cứ vào loại hình tín dụng
- Căn cứ vào thời hạn tín dụng
- Căn cứ vào mức độ ổn định của lãi suất
- Căn cứ vào thời hạn áp dụng
1.1.2.1 Phân loại theo loại hình tín dụng ngân hàng (phân loại theo chủ
thể tham gia quan hệ tín dụng ngân hàng)
Quan hệ tín dụng ngân hàng bao gồm: quan hệ giữa NHTM với công chúng và doanh nghiệp trong việc cho vay và huy động vốn, trong hoạt động tái cấp vốn của NHTW cho các NHTM và trong quan hệ giữa các NHTM với nhau trong thị trường liên ngân hàng Đối với mỗi quan hệ khác nhau thì có
các loại lãi suất khác nhau mang tính đặc thù riêng:
- Lãi suất huy động: là lãi suất mà các ngân hàng và các tổ chức tín dụng
(TCTD) khác đưa ra khi huy động tiền gửi và là loại lãi suất quy định tỉ
lệ lãi phải trả cho các hình thức nhận tiền gửi của khách hàng
- Lãi suất cho vay: là lãi suất người đi vay phải trả cho ngân hàng do
việc sử dụng vốn vay của ngân hàng; được áp dụng để tính lãi mà khách hàng phải trả cho ngân hàng
- Lãi suất chiết khấu: là lãi suất áp dụng khi ngân hàng cho khách hàng
vay dưới hình thức chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác chưa đến hạn thanh toán và thỏa mãn các điều kiện chiết khấu theo quy định
Trang 137
- Lãi suất tái chiết khấu: là lãi suất cho vay ngắn hạn của NHTW đối
với NHTM và các TCTD khác dưới hình thức chiết khấu lại các giấy tờ
có giá chưa đến thời hạn thanh toán
- Lãi suất tái cấp vốn: là lãi suất cho vay ngắn hạn của NHTW áp dụng
với NHTM và các TCTD khác dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng giữa khách hàng và TCTD
- Lãi suất bình quân liên ngân hàng: là lãi suất được tính bằng trung
bình lãi suất các khoản cho vay trong thời gian ngắn giữa các ngân hàng với nhau Về bản chất đây là lãi suất cho vay giữa các ngân hàng với nhau và hầu như chỉ dựa trên tín chấp, nó phản ánh khá rõ thanh khoản trong ngắn hạn của hệ thống ngân hàng
- Lãi suất cơ bản: Tại mỗi quốc gia sẽ có những quy ước cụ thể khác
nhau về lãi suất cơ bản và với những tên gọi khác nhau nhưng đều chung một bản chất đó là định hướng lãi suất thị trường
Tại Việt Nam, lãi suất cơ bản là lãi suất chỉ áp dụng đối với đồng Việt Nam, do NHNN công bố, làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh
1.1.2.2 Phân loại thời hạn áp dụng lãi suất trong hợp đồng tín dụng
Dù cho vay ở hình thức nào thì ngân hàng đều đưa ra mức lãi suất trong hạn và lãi suất quá hạn để xác định nghĩa vụ trả lãi của khách hàng vay,
- Lãi suất trong hạn: không được quy định cụ thể về khái niệm trong
văn bản pháp luật nhưng có thể hiểu là tỷ lệ nhất định mà bên vay phải trả cho bên cho vay tính trên số tiền đã vay tương ứng với thời hạn mà các bên đã thỏa thuận
- Lãi suất quá hạn: chỉ phát sinh khi tồn tại khoản nợ quá hạn, là tỷ lệ
phần trăm tính trên nợ gốc mà bên vay phải trả cho bên cho vay tương ứng với thời gian chậm trả Lãi suất quá hạn thường cao hơn lãi suất
Trang 148
đúng hạn do được áp dụng đối với người vay vi phạm nghĩa vụ về thời hạn Sau thời hạn mà bên vay không trả hoặc trả không đủ số tiền vay thì bên cho vay có quyền tính lãi dựa trên lãi suất quá hạn theo đúng như thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật
1.1.2.3 Phân loại theo mức độ ổn định của lãi suất
Khi thỏa thuận lãi suất trong hạn, các bên có thể thỏa thuận lãi suất cố định hoặc lãi suất thả nổi để áp dụng trong hợp đồng tín dụng
- Lãi suất cố định: là lãi suất cho vay được ấn định một mức cụ thể trong
hợp đồng vay vốn tín dụng Theo đó, lãi suất cho vay sẽ không thay đổi trong suốt thời gian vay vốn tại ngân hàng, bất chấp những biến động lãi suất trên thị trường Thông thường lãi suất cố định được áp dụng trong
trường hợp lãi suất thị trường tương đối ổn định
- Lãi suất thả nổi (lãi suất điều chỉnh) là lãi suất cho vay được điều chỉnh
theo định kỳ, do vậy nó thay đổi theo thời gian Mức điều chỉnh và kỳ điều chỉnh lãi suất sẽ theo thỏa thuận giữa khách vay và ngân hàng (không được trái với quy định của pháp luật) và được ghi rõ trên hợp đồng vay vốn Lãi suất thả nổi được điều chỉnh theo lãi suất tham chiếu hoặc theo chỉ số lạm phát nên nó không cố định trong suốt thời hạn vay Thông thường, kỳ điều chỉnh lãi suất là 3 hoặc 6 tháng/lần, một số ngân
hàng điều chỉnh 1 năm/lần Lãi suất thả nổi thường được áp dụng trong
các thời kỳ lãi suất thị trường biến động nhiều, khó dự đoán chính xác
chiều hướng cũng như mức độ biến động lãi suất
1.1.2.4 Phân loại theo thời hạn tín dụng
Căn cứ vào thời hạn tín dụng, lãi suất được chia thành lãi suất ngắn hạn, lãi suất trung hạn và lãi suất dài hạn
- Lãi suất ngắn hạn: là lãi suất áp dụng với khoản tín dụng ngắn hạn có
thời gian không quá 1 năm
Trang 159
- Lãi suất trung hạn: là lãi suất áp dụng với khoản tín dụng trung hạn
có thời gian từ 1 năm đến 5 năm
- Lãi suất dài hạn: là lãi suất áp dụng với khoản tín dụng dài hạn có thời
gian từ 5 năm trở lên
1.1.3 Cơ chế điều hành lãi suất của Ngân hàng Trung ương
1.1.5.1 Khái niệm và nội dung cơ chế điều hành lãi suất
Cơ chế điều hành lãi suất của NHTW là tổng thể những chủ trương, chính sách và giải pháp cụ thể của NHTW nhằm kiểm soát và điều tiết lãi suất trên thị trường tiền tệ, tín dụng trong từng thời kỳ nhất định4 Điều hành lãi suất của NHTW có thể được thực hiện theo ba hướng: điều hành lãi suất trực tiếp, điều hành lãi suất gián tiếp và điều hành lãi suất kết hợp giữa trực tiếp và gián tiếp.5
Cơ chế can thiệp trực tiếp là việc NHTW quản lý thống nhất lãi suất
đối với nền kinh tế, thông qua các hình thức quản lý lãi suất của các NHTM đối với nền kinh tế, quy định mức lãi suất cho vay tối đa hoặc tiền gửi tối thiểu của các tổ chức tín dụng đối với nền kinh tế Trong phạm vi lãi suất được phép, các NHTM được quyền ấn định mức lãi suất kinh doanh phù hợp Khi có các thay đổi về kinh tế vĩ mô, NHTW có thể xem xét để điều chỉnh giới hạn lãi suất tối đa ở mức hợp lý
Theo cách thức điều hành lãi suất, cơ chế điều hành trực tiếp gồm: cơ chế ấn định lãi suất (NHTW công bố tất cả các loại lãi suất, các NHTM đều phải thực hiện một cách tuyệt đối) và cơ chế khống chế lãi suất (NHTW quy định mức lãi suất tối đa và mức lãi suất tối thiểu tạo nên khung lãi suất giới hạn trần lãi suất và sàn lãi suất để các NHTM ấn định lãi suất kinh doanh)
4 Vũ Văn Long (2003), Hoàn thiện cơ chế lãi suất tín dụng ngân hàng ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ
Kinh tế, Học viện tài chính, tr.6-8, Hà Nội
5 PGS.TS Nguyễn Đắc Hưng (2015), “Thành công điều hành chính sách tiền tệ nhìn từ góc độ công
cụ lãi suất”, Tạp chí Ngân hàng, Số 1-2015, Tr.16-21, Hà Nội
Trang 1610
Cơ chế can thiệp gián tiếp (cơ chế tự do hóa lãi suất): Thông qua cơ
chế tái cấp vốn (chiết khấu, tái chiết khấu,…) NHTW vẫn thực hiện quản lý gián tiếp lãi suất kinh doanh của NHTM đối với nền kinh tế
Cơ chế này được thực hiện theo hai nguyên tắc: NHTW chỉ công bố các mức lãi suất áp dụng đối với các khoản cho vay tái chiết khấu hoặc cho vay cầm cố các chứng từ có giá của mình đối với các tổ chức tín dụng Các mức lãi suất tiền gửi và cho vay cụ thể theo từng kỳ hạn, từng đối tượng của các NHTM đối với nền kinh tế sẽ do tổ chức tín dụng tự ấn định, dựa trên cơ
sở cung - cầu về vốn và sự cạnh tranh trên thị trường, từ đó hình thành nên các mức lãi suất phản ánh đúng yêu cầu của thị trường
Khi muốn điều chỉnh lãi suất kinh doanh của NHTM đối với nền kinh
tế, phù hợp với mục tiêu của chính sách tiền tệ trong từng giai đoạn, NHTW
sẽ thực hiện thông qua việc điều chỉnh lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay cầm cố chứng từ có giá của mình đối với các NHTM, từ đó tác động đến lãi suất kinh doanh của NHTM đối với các chủ thể trong nền kinh tế
1.1.5.2 Kinh nghiệm điều hành lãi suất của Ngân hàng Trung ương của
một số nước
Nghiên cứu kinh nghiệm điều hành lãi suất của NHTW châu Âu (ECB), Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED), NHTW Trung Quốc, NHTW Nhật Bản, có thể rút ra một số bài học:
Một là, việc điều hành lãi suất được thực hiện theo hai cơ chế: điều hành trực tiếp và điều hành gián tiếp, khi hệ thống tài chính càng phát triển thì
cơ chế điều hành lãi suất trực tiếp sẽ được thay thế bằng cơ chế điều hành gián tiếp
Hai là, NHTW các nước vẫn công bố lãi suất chủ đạo của mình, làm định hướng cho thị trường tiền tệ6
6Ths Nguyễn Cao Hoàng (2014), “Bàn thêm về điều hành lãi suất đối với thị trường tiền tệ”, Tạp
chí Ngân hàng, số 4-2014, Hà Nội
Trang 1711
Đối với các hoạt động liên quan đến vai trò của NHTW, các mức lãi suất phổ biến được công bố và nền kinh tế quan tâm là lãi suất chiết khấu (như ở Mỹ, Nhật…), lãi suất Repo (như ở Anh,…) hoặc lãi suất can thiệp (Pháp – thời kỳ trước năm 2001)
Các mức lãi suất của NHTM áp dụng đối với nền kinh tế mang tính quản lý trực tiếp của NHTW như khung lãi suất, trần lãi suất, lãi suất tiền gửi tối thiểu,… đã từng được thực hiện ở các nước Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, Việt Nam
Các mức lãi suất thị trường mang tính tham khảo (lãi suất cơ bản): lãi suất quỹ dự trữ liên bang của Mỹ (FFR), lãi suất liên ngân hàng thị trường London (LIBOR), lãi suất liên ngân hàng thị trường Singapore (SIBOR),…
1.2 Khái quát pháp luật về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại
1.2.1 Nguyên tắc điều chỉnh pháp luật về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là một trong các tổ chức tài chính trung gian quan trọng nhất của nền kinh tế, là “cầu nối” giữa người dư thừa về vốn và người có nhu cầu về vốn Ngân hàng thương mại thực hiện hoạt động kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận Nhưng bên cạnh đó Ngân hàng thương mại cũng thực hiện chức năng của mình trong việc điều hành chính sách tiền tệ của NHTW để đảm bảo an toàn cho hệ thống ngân hàng cũng như thực thi các mục tiêu mà NHTW hướng tới để ổn định lạm phát, tăng trưởng kinh tế Lãi suất là một trong những yếu tố không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh của NHTM, chính vì vậy mà NHTM đã thực hiện nhiều biện pháp, chính sách
về lãi suất để thu hút khách hàng Để đảm bảo an toàn cho hoạt động của hệ thống ngân hàng, quyền lợi của cá nhân, tổ chức kinh tế thì vai trò quản lý và điều tiết của Nhà nước về lãi suất là không thể thiếu được Nhà nước thực hiện vai trò này thông qua công cụ là pháp luật Pháp luật phải kịp thời phản
Trang 1812
ánh, ghi nhận và điều chỉnh lãi suất sao cho phù hợp với tình hình phát triển của nền kinh tế, mục tiêu của chính sách tiền tệ cũng như đảm bảo quyền lợi của các chủ thể trong nền kinh tế Do ảnh hưởng của lãi suất và vai trò của nó đến nền kinh tế nói chung và hoạt động của các NHTM nói riêng là rất lớn nên việc điều chỉnh bằng pháp luật về lãi suất cũng dựa trên những nguyên tắc nhất định
1.2.1.1 Nguyên tắc đảm bảo quyền tự chủ kinh doanh
Trong nền kinh tế thị trường, quyền tự chủ và tự do trong kinh doanh của các chủ thể được pháp luật tôn trọng và bảo vệ Tự chủ kinh doanh được hiểu là việc các chủ thể hoạt động ngân hàng tự mình đưa ra các quyết định, nhân danh chính bản thân mình để thực hiện các hành vi vi phạm pháp lý trong khuôn khổ pháp luật và tự chịu trách nhiệm về những hành vi đó7
Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 đã quy định khá cụ thể về việc đảm bảo môi trường cạnh tranh bình đẳng cho các TCTD: TCTD có quyền tự chủ trong hoạt động kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của mình Không một tổ chức cá nhân nào được can thiệp trái pháp luật vào quyền
tự chủ kinh doanh của TCTD, TCTD có quyền từ chối yêu cầu cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ khác nếu thấy không cần thiết, không có hiệu quả, không phù hợp với pháp luật8
Lãi suất là một trong những yếu tố chủ chốt trong việc hình thành lên giá cả của các sản phẩm dịch vụ mà ngân hàng cung ứng cho các khách hàng Với việc chuyển sang điều hành lãi suất theo cơ chế thị trường, pháp luật đã cho phép ngân hàng có quyền tự mình quyết định giá cả của các sản phẩm, dịch vụ do mình cung cấp cho thị trường Điều đó thể hiện ở việc ngân hàng
có quyền tự do thỏa thuận với khách hàng về lãi suất; Ngân hàng có quyền tự chủ trong việc quyết định mức lãi suất đối với từng khách hàng, áp dụng các
Trang 1913
mức lãi suất khác nhau đối với các khách hàng khác nhau trong các hợp đồng tín dụng Việc áp dụng các mức lãi suất này dựa trên mức độ cung-cầu về vốn, mức độ tín nhiệm của ngân hàng đối với khách hàng
Như vậy, suy cho cùng, đảm bảo quyền tự chủ trong việc quyết định lãi suất áp dụng trong các sản phẩm, dịch vụ mà ngân hàng cung ứng cho khách hàng cũng chính là đảm bảo quyền tự do kinh doanh của ngân hàng Quyền tự
do kinh doanh được pháp luật tôn trọng và bảo vệ vì nếu không có sự đảm bảo này thì bản thân các ngân hàng khó có thể tồn tại và phát triển
1.2.1.2 Nguyên tắc đảm bảo thực thi chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ là một công cụ chính sách quan trọng mà Chính phủ các nước cũng như Việt Nam sử dụng để điều tiết kinh tế Với những đặc thù
về cơ chế, thể chế và sự phát triển của thị trường ở các mức độ khác nhau, từng quốc gia có thể sử dụng linh hoạt các công cụ để đạt được mục tiêu đặt
ra của chính sách Luật NHNN năm 2010, đã xác định khuôn khổ chính sách tiền tệ, trong đó có đề cập đến việc quyết định sử dụng các công cụ, biện pháp
để thực hiện mục tiêu mà chính sách tiền tệ đề ra
Trong nền kinh tế thị trường, lãi suất và sự biến động về lãi suất đã ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình sản xuất, đầu tư, kinh doanh… của các chủ thể của nền kinh tế Bên cạnh đó, lãi suất còn có mối quan hệ chặt chẽ đối với lạm phát, tỷ giá hối đoái Lãi suất có vai trò tích cực trong việc phát triển kinh
tế - xã hội của một quốc gia Tuy vậy, bên cạnh vai trò tích cực, lãi suất cũng
có những mặt trái của nó Để hạn chế những tác động không mong muốn do biến động của lãi suất trên thị trường tín dụng và thị trường liên ngân hàng đối với chỉ tiêu lạm phát và tăng trưởng kinh tế; vai trò điều tiết quản lý của Nhà nước là quyết định Do vậy, với vai trò là một trong những công cụ đắc lực của Nhà nước trong việc điều hành chính sách tiền tệ, lãi suất cần phải đảm bảo sự điều hành quản lý của nhà nước để thực hiện các mục tiêu của
Trang 2014
chính sách tiền tệ Đây cũng chính là nguyên tắc đặc thù của khung pháp lý trong hoạt động của thị trường nói chung và thị trường tín dụng nói riêng
1.2.1.3 Nguyên tắc đảm bảo công bằng, công khai, minh bạch
Lãi suất vừa là giá của đồng tiền cho vay nhưng đồng thời nó cũng là cái giá cho rủi ro của bên cho vay Lãi suất là một trong những yếu tố quyết định trong quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng, do vậy cần phải đảm bảo được mức lãi suất hợp lý để hai bên cùng có lợi Trong quan hệ tín dụng, khách hàng luôn ở vị thế yếu hơn so với ngân hàng; khi lãi suất huy động cao ngân hàng cho vay với lãi suất cao nhưng khi lãi suất giảm thì mức lãi suất cho vay của ngân hàng áp dụng đối với khách hàng lại giảm rất chậm thậm chí không giảm Điều này là không công bằng đối với người đi vay Do vậy quy định lãi suất cần đảm bảo được sự công bằng giữa khách hàng và ngân hàng, bảo vệ quyền lợi của người đi vay
Xuất phát từ những ảnh hưởng quan trọng mà lãi suất tác động đến nền kinh tế nói chung và hoạt động của ngân hàng nói riêng, do đó mà các quy định về lãi suất cần phải đảm bảo tính công khai minh bạch Bên cạnh việc NHNN sẽ chủ động thông tin để người dân biết về tình hình lãi suất, các văn bản pháp luật, quyết định của NHNN về các mức lãi suất khác nhau, chủ trương, quyết định điều hành của Thống đốc NHNN về lãi suất; thì người dân cũng có quyền được thông tin, tiếp cận về chính sách lãi suất, quyết định lãi suất của NHTW trong từng thời kỳ, mức lãi suất mà các ngân hàng áp dụng
để kinh doanh Hiện tại các ngân hàng đều định kỳ cập nhật khung lãi suất cho vay trong nội bộ hệ thống, bao gồm các thông tin về lãi suất cho vay áp dụng theo từng sản phẩm ứng với từng loại tài sản đảm bảo và xếp hạng tín dụng của khách hàng Tuy nhiên, những thông tin như vậy hiếm khi được truyền đạt đến khách hàng, do đó có nhiều trường hợp khi khung lãi suất đã được điều chỉnh nhưng do khách hàng không biết nên các chi nhánh vẫn không điều chỉnh lãi suất cho khách hàng Do vậy lãi suất cần được công khai minh bạch hóa, đảm bảo quyền lợi của khách hàng, tránh được những tiêu cực
Trang 211.2.2 Nội dung pháp luật điều chỉnh về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại
Xuất phát từ tầm quan trọng của lãi suất đối với hoạt động kinh doanh của NHTM cũng như đối với nền kinh tế, vì vậy cần có những quy định của pháp luật điều chỉnh lãi suất trong hoạt động này Thông qua các quy định của pháp luật về lãi suất, Nhà nước có thể thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội Cùng với việc đưa
ra quy định và sử dụng linh hoạt công cụ về lãi suất, kết hợp với các công cụ khác như tỷ lệ dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở… Nhà nước sẽ tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động huy động vốn, hoạt động cho vay của NHTM bằng cách tạo ra các điều kiện thuận lợi hoặc hạn chế việc huy động vốn, cho vay của NHTM để phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế, ổn định lạm phát Đồng thời, thông qua việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với lãi suất, Nhà nước có thể kiểm soát được tình hình hoạt động kinh doanh của NHTM, từ đó có những biện pháp xử lý kịp thời, đảm bảo an toàn của hệ thống ngân hàng
Hiện nay pháp luật có khá nhiều quy định liên quan đến lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM, nhưng các quy định này lại nằm rải rác trong nhiều văn bản khác nhau Văn bản quy phạm có hiệu lực cao nhất hiện nay quy định vấn đề này chính là Luật các TCTD năm 2010, Luật NHNN năm 2010, Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2015 Ngoài ra NHNN còn ban hành một số văn bản pháp quy có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến lãi suất
Trang 2216
như: Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng; Thông tư số 06/2014/TT-NHNN ngày 17/03/2014 quy định mức lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng đô la Mỹ của tổ chức cá nhân tại tổ chức tín dụng; Thông tư số 07/2014/TT-NHNN ngày 17/03/2014 quy định về lãi suất đối với tiền gửi bằng đồng Việt Nam của tổ chức, cá nhân tại tổ chức tín dụng; Thông tư số 08/2014/TT-NHNN ngày 17/03/2014 quy định lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng đồng Việt Nam của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng vay để đáp ứng nhu cầu vốn phục
vụ một số lĩnh vực, ngành kinh tế; Thông tư số 18/2015/TT-NHNN ngày 22/10/2015 quy định về tái cấp vốn trên cơ sở trái phiếu đặc biệt của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC); Quyết định số 2619/QĐ-NHNN ngày 05/11/2010 về mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam; Quyết định số 2589/QĐ-NHNN ngày 17/12/2015 về mức lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng đô la Mỹ của tổ chức cá nhân tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo quy định tại Thông tư số 06/2014/TT-NHNN ngày 17 tháng 3 năm 2014; Quyết định số 2173/QĐ-NHNN ngày 28/10/2014 về mức lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng đồng Việt Nam của tổ chức, cá nhân tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo quy định tại Thông tư số 07/2014/TT-NHNN ngày 17 tháng 3 năm 2014; Quyết định số 496/QĐ-NHNN ngày 17/03/2014 về lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng
và cho vay bù đắp thiếu hụt trong thanh toán bù trừ của NHNN Việt Nam đối với các ngân hàng
Như vậy các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành quy định về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM là tương đối đầy đủ, cụ thể hóa được các nội dung cơ bản sau:
- Quy định về lãi suất trong hoạt động huy động vốn và hoạt động cho vay của NHTM Đây là quy định hết sức quan trọng để NHTM tiến hành các
Trang 2317
hoạt động huy động vốn và cho vay Các NHTM đưa ra mức lãi suất kinh doanh và lãi suất điều hòa vốn nội bộ trong toàn hệ thống của mình trên
cơ sở tuân thủ lãi suất chỉ đạo của NHTW
- Quy định về lãi suất trong hoạt động quản lý điều hành chính sách tiền tệ của Nhà nước Xuất phát từ tầm quan trọng của lãi suất trong quản lý, điều hành chính sách tiền tệ của một quốc gia cần có chính sách lãi suất hợp lý, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế cũng như các mục tiêu của chính sách tiền tệ
- Các quy định thanh tra, giám sát, tuân thủ quy định về lãi suất Lãi suất không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của NHTM mà nó còn ảnh hưởng đến quyền lợi của khách hàng trong quan hệ tín dụng với NHTM nói riêng và đối với hệ thống ngân hàng cũng như nền kinh tế nói chung
Do vậy Nhà nước cần có cơ chế kiểm tra giám sát tuân thủ quy định về lãi suất đồng thời cần có các chế tài, biện pháp xử lý kịp thời các hành vi vi phạm để đảm bảo sự ổn định của nền kinh tế, quyền lợi của các chủ thể tham gia quan hệ tín dụng, đảm bảo an toàn cho hệ thống ngân hàng
Về cơ bản, Nhà nước đã thiết lập một hành lang pháp lý tương đối đầy
đủ và thông thoáng tạo cơ sở cho các NHTM tiến hành hoạt động kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật Đồng thời pháp luật cũng hướng tới bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, người đi vay, đáp ứng được nhu cầu gửi tiền và vay vốn của họ Tạo cơ sở pháp lý cho NHNN thực hiện chức năng điều hành chính sách tiền tệ, quản lý giám sát hoạt động ngân hàng nói chung và lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM nói riêng vốn là một trong những yếu
tố quan trọng trong hoạt động kinh doanh của NHTM
Kết luận chương 1
Chương 1 của Khóa luận đã tập trung nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận về lãi suất và pháp luật về lãi suất trong hoạt động tín dụng của NHTM: làm rõ khái niệm lãi suất; phân loại lãi suất theo các tiêu chí khác nhau trong
Trang 24tiền đề nghiên cứu những nội dung sau của Khóa luận
Trang 2519
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ LÃI SUẤT TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM
2.1 Quy định pháp luật về lãi suất đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại
2.1.1 Quy định về lãi suất trong hoạt động huy động vốn và hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh trong đó “tiền tệ” là hàng hóa Lãi suất với vai trò giá cả của tiền tệ luôn đóng vai trò trung tâm và
là một nội dung quan trọng của hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng Đối với hoạt động huy động vốn và cho vay của NHTM, vấn đề lãi suất
và cơ chế điều hành lãi suất luôn có tác động chi phối rất lớn, ảnh hưởng đến chính sách cho vay và huy động vốn của NHTM Căn cứ vào từng loại chính sách của NHTW, NHTM đưa ra mức lãi suất kinh doanh và mức lãi suất điều hòa vốn nội bộ trong toàn hệ thống của mình trên cơ sở tuân thủ lãi suất chỉ đạo của NHTW Lãi suất huy động và lãi suất cho vay là hai công cụ quan trọng mà các ngân hàng dùng để nâng cao thế mạnh tài chính của mình, góp phần vào ổn định và phát triển nền kinh tế Thông qua việc can thiệp vào lãi suất cho vay và lãi suất huy động vốn của NHTM, NHTW có thể thực hiện các mục tiêu của chính sách tiền tệ, ổn định lạm phát tỷ giá Quy định về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM phụ thuộc vào cơ chế lãi suất của NHTW
2.1.1.1 Quy định về lãi suất trong hoạt động huy động vốn của ngân hàng
thương mại
Sau khi luật NHNN và Luật Các tổ chức tín dụng có hiệu lực vào năm
1998, NHNN Việt Nam đã áp dụng cơ chế lãi suất trần để điều chỉnh lãi suất kinh doanh của các NHTM Bước đầu, các NHTM đã có quyền tự chủ quyết định lãi suất huy động trên cơ sở cung – cầu vốn thị trường Bên cạnh đó,
Trang 2620
NHNN cũng công bố mức lãi suất cơ bản để các NHTM tham khảo để ấn định lãi suất kinh doanh trên thị trường
Năm 2006, thời điểm BLDS 2005 có hiệu lực với điều khoản quy định
về lãi suất hợp đồng vay tài sản: “Lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do NHNN công bố với loại cho vay tương ứng”9
Quy định này trên thực tế đã gây ra những xáo trộn rất lớn đối với việc điều hành cơ chế lãi suất của NHNN, các NHTM hoang mang, hàng loạt các hợp đồng vay tiền liên quan đến các ngân hàng có khả năng bị xem là vô hiệu lực vì vi phạm điều khoản về lãi suất Quy định về trần lãi suất cho vay trong BLDS không chỉ áp dụng cho các quan hệ dân sự thuần túy mà áp dụng cả cho các hợp đồng vay trong “kinh doanh, thương mại, lao động” Điều đó có nghĩa, xét từ góc độ văn bản, lãi suất trần cho vay được áp dụng cho tất cả các hợp đồng vay; hợp đồng giữa tổ chức tín dụng và cá nhân hay doanh nghiệp cũng chịu sự chi phối của các quy định này Không chỉ vậy, quy định về lãi suất đã gây ra những cách hiểu và cách tính toán mức lãi suất cho vay tối đa của BLDS năm 2005 khác nhau: giá trị 150% là của phần vượt quá so với lãi suất cơ bản (mức lãi suất thỏa thuận tối đa được phép = lãi suất cơ bản + lãi suất cơ bản x 150%) hay là tỷ lệ so sánh thuần túy giữa mức lãi suất thỏa thuận với lãi suất cơ bản trong giới hạn luật định là 150% (mức lãi suất thỏa thuận tối đa được phép = lãi suất cơ bản x 150%)10 Trong khi đó hợp đồng tín dụng cũng được coi là hợp đồng vay tài sản theo quy định của BLDS năm
200511 Bên cạnh đó với cách quy định như vậy, có thể hiểu rằng đây chỉ là điều cấm chứ không có chế tài: Bộ luật cấm thỏa thuận lãi vượt qua một mức nào đó chứ không nêu chế tài khi thỏa thuận vượt quá mức cho phép Trong thực tế, hợp đồng không vô hiệu mà chỉ có điều khoản về lãi là không có giá
9 Khoản 1 Điều 476 BLDS năm 2005
10 LS Đỗ Hồng Thái (2006), “Hiểu như thế nào về quy định: Lãi suất cho vay do các bên thỏa thuận nhưng
không vượt quá 150% của lãi suất cơ bản?”, Tạp chí Ngân hàng, số 13, tr.18-19, Hà Nội
11 Nguyễn Phương Linh (2006), “Cần sửa đổi quy định về lãi suất vay trong Bộ luật Dân sự năm 2005”, Tạp
chí Ngân hàng, số 23, tr.21-25, Hà Nội
Trang 2721
trị pháp lý và cần phải tính lại lãi Do không có chế tài dân sự cụ thể, nên việc tính lại lãi suất không thực sự thống nhất trong thực tiễn pháp lý12 Trước tình hình đó, NHNN không có câu trả lời cho hàng loạt các vướng mắc nảy sinh
Sau hàng loạt những yêu cầu và kiến nghị, hai năm sau, với ý kiến của
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa XII và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, NHNN đã xây dựng cơ chế điều hành lãi suất cơ bản trình Thường trực Chính phủ xem xét, nhất trí tại văn bản số 3168/VPCP-KTTH ngày 16/5/2008 về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản của Văn phòng Chính phủ Trên cơ sở đó, Thống đốc NHNN đã ban hành Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN ngày 16/5/2008 về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản bằng Đồng Việt Nam Cụ thể, văn bản này quy định: “Các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh (lãi suất huy động, lãi suất cho vay) bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng không vượt quá 150% của lãi suất cơ bản
do NHNN Việt Nam công bố để áp dụng trong từng thời kỳ Định kỳ hàng tháng, NHNN Việt Nam công bố lãi suất cơ bản Trong trường hợp cần thiết, NHNN Việt Nam công bố điều chỉnh kịp thời lãi suất cơ bản”13
Văn bản này về cơ bản thiết lập lại sự thống nhất về đường lối điều chỉnh lãi suất cơ bản của hệ thống pháp luật tài chính ngân hàng và BLDS năm 2005 Nhìn một cách tổng thể, sau một thời gian áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận, chúng ta lại quay về với cơ chế lãi suất trần, tuy được thể hiện bằng một phương thức hiện đại hơn Tuy nhiên Quyết định số 16/2008 chỉ giải quyết tạm thời trước mắt những khó khăn trong giai đoạn lạm phát trong nước có dấu hiệu gia tăng Vì thiếu tính định hướng chiến lược cho nên các quy định về lãi suất huy động và lãi suất cho vay không phù hợp với các đối tượng khách hàng và các TCTD có mức độ tín nhiệm khác nhau Lãi suất trần
12 PGS.TS Đỗ Văn Đại (2010), “Lãi suất cho vay: Kinh nghiệm nước ngoài và hướng sửa đổi Bộ luật Dân sự”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Số 2-2010
13 Khoản 1 Điều 1 Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN ngày16/5/2008 về cơ chế điều hành lãi suất
cơ bản bằng đồng Việt Nam
Trang 2822
không vượt quá 150% lãi suất cơ bản đã tạo ra sự bất bình đẳng khi NHNN chỉ quy định một mức lãi suất cơ bản với các thời hạn tín dụng khác nhau
Năm 2010, Luật NHNN và Luật các tổ chức tín dụng được ban hành đã
có những thay đổi quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng Trên cơ sở Luật các TCTD, NHNN đã có những điều chỉnh linh hoạt lãi suất huy động của NHTM bằng việc ban hành hàng loạt Thông tư cũng như Quyết định điều chỉnh mức lãi suất huy động vốn bằng đồng Việt Nam và mức lãi suất huy động vốn bằng đồng đô la Mỹ đối với các hình thức gửi tiền
Từ năm 2010 đến nay, NHNN đã ban hành cơ chế điều hành lãi suất thỏa thuận song song với cơ chế mức trần lãi suất huy động vốn
- Lãi suất huy động vốn bằng đồng Việt Nam
Từ việc quy định mức lãi suất trần đối với tiền gửi bằng đồng Việt Nam dưới mọi hình thức, NHNN đã dần tạo sự chủ động linh hoạt cho các NHTM trên cơ sở cung- cầu vốn trên thị trường khi áp dụng mức lãi suất tối
đa với các hình thức khác nhau Hiện nay NHNN vẫn tiếp tục giảm mức lãi suất huy động vốn tối đa bằng đồng Việt Nam đối với hình thức gửi tiền không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 6 tháng Đối với lãi suất tiền gửi bằng đồng Việt Nam có kỳ hạn lớn hơn 6 tháng, NHNN cho phép NHTM và khách hàng được thỏa thuận với nhau Điều này chứng tỏ NHNN đã từng bước xóa bỏ cơ chế trần lãi suất huy động, hướng tới cơ chế lãi suất thỏa thuận để phù hợp với nhu cầu cung-cầu về vốn trên thị trường, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế và phù hợp với thông lệ quốc tế Tuy nhiên việc gỡ bỏ cơ chế trần lãi suất vẫn được NHNN thực hiện một cách thận trọng để không gây ra những tác động xấu đến nền kinh tế
- Lãi suất đối với tiền gửi bằng đô la Mỹ
Để tiếp tục thực hiện các giải pháp đồng bộ nhằm thực hiện chủ trương chống đô la hóa của Chính phủ, chuyển từ quan hệ huy động – cho vay bằng
Trang 2923
ngoại tệ sang quan hệ mua – bán bằng ngoại tệ, NHNN cũng đã có những điều chỉnh về mức lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng đô la Mỹ theo hướng giảm dần Hiện nay, NHNN quy định mức lãi suất tối đa bằng đô la Mỹ đối với các hình thức gửi tiền không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác của tổ chức (trừ tổ chức tín dụng) và cá nhân ở mức 0%/năm
2.1.1.2 Quy định về lãi suất trong hoạt động cho vay của ngân hàng
thương mại
Lãi suất cho vay là một trong những yếu tố quan trọng trong hoạt động cho vay của NHTM Việc quyết định lãi suất cho vay sẽ phải dựa trên các thông số về mức độ kỳ vọng sinh lời của NHTM, rủi ro tín dụng và tỷ lệ an toàn vốn
Từ cuối năm 2001, các NHTM thực hiện cho vay theo cơ chế lãi suất thỏa thuận theo Quyết định số 546/2002/QĐ-NHNN ngày 30/2/2002 và Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 30/11/2001
“1.Lãi suất cho vay được hoàn toàn thả nổi theo nguyên tắc tự do thỏa thuận giữa bên đi vay và NHTM Mức lãi suất cho vay do tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận phù hợp với quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
2.Mức lãi suất áp dụng đối với khoản nợ gốc quá hạn do tổ chức tín dụng ấn định vầ thoả thuận với khách hàng trong hợp đồng tín dụng nhưng không vượt quá 150% lãi suất cho vay áp dụng trong thời hạn cho vay đã được ký kết hoặc điều chỉnh trong hợp đồng tín dụng.”14
Quy định lãi suất cho vay theo cơ chế điều hành lãi suất cơ bản
Đến năm 2006, cũng giống như lãi suất huy động vốn, khi BLDS năm
2005 được ban hành, lãi suất cho vay đã bị giới hạn Theo quy định tại Quyết
14 Điều 11 Quy chế cho vay của Tổ chức tín dụng đối với khách hàng (Ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước)
Trang 3024
định số 16/2008/QĐ-NHNN thì lãi suất cho vay do các bên thỏa thuận nhưng không vượt quá 150% lãi suất cơ bản do NHNN công bố đối với các loại cho vay tương ứng Tuy nhiên đối với khoản vay bằng đô la Mỹ mà doanh nghiệp
đề nghị vay vốn ngân hàng để nhập khẩu các mặt hàng thiết yếu để mua máy móc, thiết bị để sản xuất các mặt hàng phục vụ xuất khẩu, các ngân hàng vẫn
có quyền thỏa thuận lãi suất cho vay bằng đô la Mỹ đối với khách hàng dựa trên cơ sở lãi suất thị trường quốc tế và cung-cầu vốn tín dụng bằng ngoại tệ ở trong nước do mức lãi suất cơ bản chỉ áp dụng với đồng Việt Nam
Liên quan đến lãi suất quá hạn, BLDS năm 2005 và Quy chế cho vay ban hành kèm theo Quyết định 1627 đã quy định không thống nhất Theo quy định tại Khoản 5 Điều 474 của BLDS năm 2005 thì trường hợp không trả được hoặc trả không đầy đủ nợ đến hạn, khách hàng vay phải trả cho ngân hàng khoản tiền lãi bằng lãi trong hạn cộng với lãi quá hạn Lãi trong hạn được tính trên dư nợ gốc thực tế và theo lãi suất cho vay trong hạn được quy định trong hợp đồng tín dụng Lãi quá hạn được tính trên dư nợ gốc thực tế quá hạn và theo lãi suất cơ bản do NHNN công bố với tương ứng với thời hạn cho vay tại thời điểm trả nợ Trong khi đó Quy chế cho vay ban hành kèm theo Quyết định số 1627 không phân chia lãi suất áp dụng đối với khoản nợ gốc thực tế quá hạn bao gồm lãi suất trong hạn và lãi suất quá hạn như quy định nói trên của BLDS mà cho phép khách hàng tự thỏa thuận nhưng không vượt quá lãi suất cho trong hạn Điều này đã gây ra những cách hiểu khác nhau về cách tính lãi nợ quá hạn, dẫn đến những tranh chấp phát sinh giữa khách hàng và ngân hàng Trên thực tế xét xử, Tòa án cũng không có được sự thống nhất về cách tính lãi nợ quá hạn này
Quy định về lãi suất cho vay theo cơ chế lãi suất thỏa thuận
Thông tư số 07/2010/TT-NHNN quy định về cho vay bằng đồng Việt Nam theo lãi suất thỏa thuận của TCTD đối với khách hàng được ban hành ngày 26/02/2010, theo đó, quy định TCTD cho vay bằng đồng Việt Nam theo lãi suất thỏa thuận đối với khách hàng phù hợp với quy định của pháp luật
Trang 31vụ, đầu tư phát triển và đời sống có hiệu quả15” Như vậy, câu hỏi đặt ra là liệu đối với các dự án, phương án “không có hiệu quả” hoặc không tính được hiệu quả thì lãi suất sẽ được tính như thế nào hay vẫn phải thực hiện chế độ trần lãi suất cho vay quy định tại Điều 476 BLDS năm 2005? Thêm vào đó, Thông tư số 12/2010/TT-NHNN cũng chưa giải thích tiêu chí cho việc đánh giá một dự án, phương án sản xuất, kinh doanh là có hiệu quả hay không có hiệu quả Đây được coi là một trong những bất cập của pháp luật khi quy định
về lãi suất cho vay theo cơ chế thỏa thuận
Luật các TCTD năm 2010 được thông qua ngày 16/6/2010 quy định TCTD và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD theo quy định của pháp luật Tuy nhiên trong trường hợp ngân hàng có diễn biến bất thường, để đảm bảo an toàn hệ thống TCTD, NHNN có quyền quy định cơ chế xác định phí, lãi suất trong hoạt động kinh doanh của TCTD Từ đó cho thấy pháp luật trao cho các TCTD và khách hàng vay vốn quyền thỏa thuận lãi suất trong hợp đồng tín dụng nhưng NHNN vẫn đóng vai trò kiểm soát hoạt động kinh doanh của NHTM
Ngày 24/11/2015, BLDS năm 2015 được ban hành trong đó có những thay đổi quan trọng trong quy định về lãi suất trong hợp đồng vay tài sản đã gây ra những tranh cãi xung quanh quy định về lãi suất trong Luật các TCTD khi quy định về lãi suất trong BLDS năm 2015 và Luật các TCTD năm 2010
có sự “vênh” nhau
15 Điều 1 Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14 tháng 4 năm 2010 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận;
Trang 3226
Luật các tổ chức tín dụng đã đưa ra một điều khoản riêng quy định về phí và lãi suất trong hoạt động kinh doanh của tất cả các loại hình TCTD Theo đó, TCTD và khách hàng được thỏa thuận về mức lãi suất trong hoạt động cho vay Như vậy, trong điều kiện bình thường lãi suất trong hoạt động ngân hàng sẽ thực hiện theo cơ chế tự thỏa thuận Tuy nhiên cụm từ “theo quy định của pháp luật” trong Khoản 2 Điều 91 Luật các TCTD đã gây ra những cách hiểu khác nhau khi so sánh với quy định mới về lãi suất tại BLDS năm
2015: “Các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác”16
Với quy định về lãi suất trong Luật các TCTD, đã đặt ra câu hỏi liệu lãi suất áp dụng trong hoạt động ngân hàng có chịu sự điều chỉnh của BLDS, trong đó có quy định về trần lãi suất cho vay? Trong khi đó, BLDS năm 2015 không quy định trực tiếp việc loại trừ áp dụng trần lãi suất cho vay đối với hoạt động ngân hàng mà chỉ loại trừ trong trường hợp “luật khác có liên quan
có quy định khác” mà luật khác ở đây được hiểu là pháp luật chuyên ngành
Về mặt bản chất, hợp đồng vay tài sản cũng như hợp đồng tín dụng là một loại giao dịch dân sự Do đó, việc điều chỉnh quan hệ này phải bảo đảm tuân thủ quy định trong BLDS, theo đó các bên trong hợp đồng vay có thỏa thuận về lãi suất nhưng không được vượt quá mức lãi suất giới hạn luật định Việc quy định trần lãi suất giúp Nhà nước có thể điều tiết thị trường vay trong trường hợp cần có sự ổn định của kinh tế - xã hội, định hướng chuẩn mực ứng
xử trong các quan hệ cho vay, thực hiện chính sách cấm hoặc hạn chế việc cho vay nặng lãi
Tuy nhiên để bảo đảm không biến lãi suất trần trở thành công cụ pháp
lý để hành chính hóa quan hệ dân sự, bảo đảm tính linh hoạt phù hợp với các quan hệ vay tài sản đa dạng, có thể được sửa đổi, bổ sung kịp thời để đáp ứng
16 Khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015
Trang 33Như vậy, trong trường hợp luật có liên quan quy định khác về lãi suất thì sẽ áp dụng lãi suất đó cho quan hệ vay thuộc phạm vi điều chỉnh của luật khác có liên quan Quy định này còn được hiểu không chỉ dành riêng cho quan hệ tín dụng của các NHTM mà còn có thể áp dụng cho loại vay đặc thù vay khác như vay chính sách xã hội, vay đầu tư phát triển, v.v nếu Nhà nước xét thấy cần điều chỉnh các quan hệ vay này bằng cơ chế lãi suất riêng Điều
đó có nghĩa là nếu Luật các TCTD năm 2010 có cơ chế lãi suất trần riêng cho các hợp đồng tín dụng thì các TCTD sẽ áp dụng theo quy định của Luật các TCTD năm 2010
Tuy nhiên, theo tinh thần quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các TCTD hiện hành, thực tiễn cho thấy chưa thực sự áp dụng một cơ chế lãi suất riêng cho các hợp đồng tín dụng, mặc dù xét về mục đích chính sách pháp luật thì quy định này là mong muốn của nhà làm luật Nhưng xét về mặt kỹ thuật lập pháp quy định này đã và đang dẫn đến những cách hiểu khác nhau, kể cả trong công tác xét xử của Tòa án và điều đó không có lợi cho các chủ thể trong hợp đồng tín dụng trước những rủi ro pháp lý có thể xảy ra trong thi hành pháp luật Khoản 2 Điều 91 cho phép TCTD và khách hàng thỏa thuận
về lãi suất trong hợp đồng tín dụng trong giới hạn “theo quy định của pháp luật” Cụm từ này khiến các TCTD, khách hàng có quan hệ tín dụng với TCTD và các cơ quan chức năng thực thi pháp luật lúng túng không biết nên theo pháp luật tín dụng ngân hàng (không áp dụng trần lãi suất cho vay) hay
17 Phạm Thị Hồng Đào, “Lãi suất theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 và kiến nghị”, Bộ Tư
pháp, xem thêm tại http://www.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2074
Trang 3428
theo pháp luật dân sự (áp dụng trần lãi suất cho vay) Vì “theo quy định của pháp luật” tức là vẫn có thể hiểu phải theo quy định của BLDS, trường hợp NHNN ban hành thông tư, quyết định có quy định riêng về lãi suất khác với quy định của BLDS thì đâu là quy định ưu tiên áp dụng? Hiện nay, các ngân hàng đều cho rằng, việc doanh nghiệp vay tiền ngân hàng là các khoản vay thương mại, chứ không phải là khoản vay dân sự Thực tế, việc tính lãi suất cho vay thương mại này không do BLDS điều chỉnh mà do hướng dẫn ngành dọc của ngân hàng điều chỉnh18 Vì không có sự thống nhất và rõ ràng về nguồn luật điều chỉnh nên chưa có căn cứ để khẳng định, quy định trên có ảnh hưởng tới việc điều chỉnh lãi suất vay ngân hàng Từ đó, rất nhiều tranh chấp liên quan đến vấn đề này, khi xét xử Tòa án đã căn cứ vào lãi suất quy định trong BLDS để giải quyết
Ngày 30/12/2016, NHNN Việt Nam đã ban hành Thông tư số 39/2016/TT-NHNN (Thông tư 39) quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng Thông tư này
có hiệu lực từ ngày 15/3/2017 đã giải quyết được những mâu thuẫn, tranh cãi xung quanh vấn đề lãi suất cho vay được quy định BLDS năm 2015 và quy định tại Điều 91 Luật các TCTD năm 2010 cũng như các bất cập nảy sinh trong quá trình áp dụng các Thông tư, Quyết định về lãi suất của NHNN trước
đó như sau:
Một là, TCTD và khách hàng thỏa thuận về lãi suất cho vay theo cung
cầu vốn thị trường, nhu cầu vay vốn và mức độ tín nhiệm của khách hàng, trừ trường hợp cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam thì lãi suất thỏa thuận không vượt quá mức lãi suất cho vay tối đa do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quyết định trong từng thời kỳ nhằm đáp ứng một số nhu cầu vốn Như vậy, quy định về trần lãi suất chỉ áp dụng đối với trường hợp cho
18 Đầu tư Chứng khoán (2016), “Luật Dân sự mới bỏ ngỏ lãi suất ngân hàng”, xem thêm tại
http://tinnhanhchungkhoan.vn/phap-luat/luat-dan-su-moi-bo-ngo-lai-suat-ngan-hang-165216.html
Trang 3529
vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam thuộc các lĩnh vực ưu tiên quy định tại Thông tư 39
Hai là, Thông tư 39 bổ sung quy định về nghĩa vụ trả lãi cho tiền lãi
chậm trả, cụ thể: Trường hợp khách hàng không trả đúng hạn tiền lãi, thì phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất do TCTD và khách hàng thỏa thuận nhưng không vượt quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả
Ba là, Thông tư 39 cũng quy định trường hợp khoản nợ vay bị chuyển
nợ quá hạn, thì khách hàng phải trả lãi trên phần dư nợ gốc bị quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả; lãi suất áp dụng do các bên thỏa thuận nhưng không vượt quá 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn
Bốn là, thỏa thuận cho vay giữa TCTD và khách hàng phải có nội dung
thỏa thuận về mức lãi suất cho vay và phương pháp tính lãi đối với khoản vay Trường hợp mức lãi suất cho vay không quy đổi theo tỷ lệ %/năm và/hoặc không áp dụng phương pháp tính lãi theo số dư nợ cho vay thực tế, thời gian duy trì số dư nợ gốc thực tế đó, thì trong thỏa thuận cho vay phải có nội dung
về mức lãi suất quy đổi theo tỷ lệ %/năm (1 năm là 365 ngày) tính theo số dư
nợ cho vay thực tế và thời gian duy trì số dư nợ cho vay thực tế đó
Năm là, trường hợp áp dụng lãi suất cho vay điều chỉnh, tổ chức tín
dụng và khách hàng phải thỏa thuận nguyên tắc và các yếu tố để xác định lãi suất điều chỉnh, thời điểm điều chỉnh lãi suất cho vay Trường hợp căn cứ các yếu tố để xác định lãi suất điều chỉnh dẫn đến có nhiều mức lãi suất cho vay khác, thì tổ chức tín dụng áp dụng mức lãi suất cho vay thấp nhất
Như vậy hiện tại, lãi suất cho vay trong hoạt động kinh doanh của NHTM sẽ không chịu sự điều chỉnh của BLDS 2015 về trần lãi suất cho vay
Do đó các NHTM được cho vay theo lãi suất thỏa thuận không có trần lãi suất