Tính cấp thiết của đề tài
Ô nhiễm môi trường đang trở thành mối quan tâm lớn của cộng đồng, với tác động tiêu cực rõ rệt đến biến đổi khí hậu, gây thiệt hại cho nền kinh tế Việt Nam từ 1,5-3% GDP và 780 triệu USD hàng năm trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe Kinh nghiệm từ các nước phát triển chỉ ra rằng phát triển kinh tế mà không chú trọng đến môi trường sẽ dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp và chi phí xử lý ô nhiễm cao hơn đầu tư kiểm soát ô nhiễm Ô nhiễm môi trường còn gây ra nhiều hệ lụy, bao gồm ô nhiễm thực phẩm, trong khi thực phẩm chế biến không đảm bảo sẽ tạo ra tác động xấu đến môi trường Ngành chế biến thực phẩm tại các làng nghề đã phát triển mạnh mẽ, đóng góp vào sự phát triển kinh tế địa phương và nâng cao đời sống nông dân Tuy nhiên, sự phát triển này cũng dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường đáng báo động tại nhiều làng nghề.
Vệ sinh an toàn thực phẩm đang trở thành mối quan tâm hàng đầu trong xã hội hiện nay Nhiều vụ việc liên quan đến thực phẩm không đảm bảo chất lượng như bún chứa hàn the, nông sản có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật vượt mức cho phép, và thịt gia súc, gia cầm không an toàn đã làm dấy lên lo ngại trong cộng đồng.
Ô nhiễm môi trường đang gây thiệt hại từ 1,5% đến 3% GDP, và tình trạng thực phẩm ôi thiu được chế biến lại để bán cho người dân ngày càng gia tăng Trong bối cảnh hội nhập, nghề chế biến thực phẩm truyền thống tại các thành phố lớn như Hà Nội đang phát triển mạnh mẽ, nhưng sự phát triển này thiếu quy hoạch đã dẫn đến ô nhiễm nghiêm trọng tại các làng nghề Mặc dù Nhà nước đã đầu tư và hỗ trợ cho sản xuất thực phẩm, nhưng môi trường sống bị ảnh hưởng xấu, khiến người dân có nguy cơ cao mắc các bệnh liên quan đến ô nhiễm.
Thực phẩm chế biến trong môi trường ô nhiễm và bằng phương thức không đảm bảo đang trở thành nỗi lo lớn cho người tiêu dùng Các vụ việc liên quan đến thực phẩm bẩn và việc xả thải không kiểm soát từ các làng nghề đã thu hút sự chú ý của báo chí, làm dấy lên lo ngại về an toàn thực phẩm trong cộng đồng Mối quan tâm về thực phẩm bẩn ngày càng gia tăng và đã trở thành vấn đề cấp bách được Quốc hội chú ý.
Trước tình trạng ô nhiễm môi trường (ÔNMT) và thực phẩm bẩn gia tăng, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã chủ trì cuộc họp yêu cầu các cơ quan chức năng tập trung giải quyết vấn đề an toàn thực phẩm Sự phát triển không kiểm soát của công nghệ và các phương thức sản xuất đã dẫn đến sự biến chất về lương tâm của người sản xuất, gây ra thờ ơ trong việc áp dụng các biện pháp sản xuất an toàn Điều này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người tiêu dùng mà còn gây tổn hại nghiêm trọng đến môi trường, bao gồm đất, nước và không khí tại các khu vực làng nghề Để hiểu rõ hơn về tình hình môi trường tại các làng nghề chế biến thực phẩm, chúng tôi đã chọn đề tài “Pháp luật”.
Nghiên cứu về bảo vệ môi trường tại các làng nghề chế biến thực phẩm ở Hà Nội nhằm cung cấp thông tin chi tiết về thực trạng môi trường trong khu vực này Đề tài cũng đưa ra một số giải pháp cụ thể để hạn chế ô nhiễm, góp phần phát triển môi trường bền vững cho các làng nghề.
Tình hình nghiên cứu
Liên quan đến quy định pháp luật về bảo vệ môi trường và làng nghề, nhiều công trình nghiên cứu đã được thực hiện Một trong những nghiên cứu tiêu biểu ở cấp nhà nước là đánh giá sự tham gia của các tổ chức quần chúng trong bảo vệ môi trường làng nghề, đặc biệt là trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn, với ví dụ cụ thể là làng nghề giấy Phong Khê.
Trần Yêm; Nguyễn Thị Hà; Nguyễn Thị Ánh Tuyết; Nguyễn Đức Tùng, ĐHKHTN,
Luận án tiến sĩ "Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường do các hoạt động của làng nghề gây ra tại Việt Nam hiện nay" của TS Lê Kim Nguyệt (2015) là một nghiên cứu chuyên sâu về kiểm soát ô nhiễm tại các làng nghề Việt Nam từ góc độ pháp luật Nghiên cứu này đề xuất các kiến nghị nhằm ổn định đời sống người dân và đảm bảo phát triển bền vững cho làng nghề Nó giúp các cơ quan chính quyền, đoàn thể và người dân nhận diện rõ ràng về pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường hiện nay, đồng thời phân tích và đưa ra các tiêu chí khoa học cần thiết để Nhà nước xây dựng và hoàn thiện chính sách kiểm soát ô nhiễm Mặc dù đề tài không mới, nhưng nghiên cứu này mang lại cái nhìn tổng quát và sâu sắc hơn về pháp luật kiểm soát ô nhiễm tại các làng nghề, một lĩnh vực ít được khai thác.
Dưới một cách tiếp cận và nghiên cứu khác, theo TS Ngô Trà Mai (2009) :
Hoạt động sản xuất phân tán, công nghệ thủ công lạc hậu và quản lý kém là những nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường (ÔNMT) và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe cộng đồng tại làng nghề tái chế kim loại Phùng Xá và làng nghề sơn mài Duyên Thái Quy hoạch bảo vệ môi trường (BVMT) cho các làng nghề, bao gồm quy hoạch điểm công nghiệp và quy hoạch phân tán, được nghiên cứu điển hình tại Phùng Xá và Duyên Thái, là công cụ hiệu quả để thúc đẩy sản xuất và bảo vệ môi trường tại các làng nghề này.
Trong Luận án tiến sĩ của ông Vũ Tuấn Hiệp (2007), đề xuất giải pháp tổng hợp xử lý ô nhiễm nhằm bảo vệ môi trường và phát triển bền vững cho làng nghề chế biến tinh bột sắn tại Cát Quế - Hoài Đức - Hà Tây, ông nhấn mạnh rằng tăng trưởng kinh tế qua mở rộng sản xuất mà không đầu tư vào công nghệ xử lý chất thải sẽ dẫn đến ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn đến sức khỏe và đời sống của người dân Ông cũng chỉ ra rằng tình trạng ô nhiễm môi trường tại các làng nghề khác nhau tùy thuộc vào công nghệ sản xuất của từng nơi Ngoài ra, trong lĩnh vực nghiên cứu thạc sĩ, có nhiều đề tài về môi trường làng nghề, trong đó nổi bật là luận văn đánh giá hiện trạng môi trường và thực hiện chính sách pháp luật về bảo vệ môi trường tại một số tỉnh Bắc Bộ.
Luận văn ThS Môi trường trong phát triển bền vững của Trần Duy Khánh (Trung tâm nghiên cứu tài nguyên và môi trường, 2012) nhấn mạnh rằng các quy định về bảo vệ môi trường (BVMT) còn thiếu sót trong việc nghiên cứu môi trường làng nghề ở một số tỉnh Bắc Bộ.
Sự "đứng ngoài" trong các làng nghề đã dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sức khỏe và đời sống của người dân nông thôn không chỉ trong khu vực sản xuất mà còn lan ra các vùng lân cận Hệ quả của ô nhiễm môi trường (ÔNMT) đã gây ra nhiều xung đột, làm xáo trộn nghiêm trọng đời sống xã hội tại các khu vực nông thôn.
Bà Nguyễn Thị Huế trong luận văn về hiện trạng môi trường làng nghề nấu rượu Vân Hà đã chỉ ra rằng các làng nghề thường sử dụng lao động phụ và mặt bằng sản xuất tại nhà, dẫn đến tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng với phế thải, nước thải và tiếng ồn vượt mức cho phép Hạn chế về vốn và kỹ thuật khiến nhiều làng nghề chưa có dự án xử lý chất thải hiệu quả, gây ra sự xuống cấp môi trường Hầu hết các cơ sở sản xuất chỉ chú trọng đến kinh doanh mà không quan tâm đến bảo vệ môi trường, trong khi diện tích sản xuất ngày càng hạn hẹp, vượt quá khả năng chịu đựng của môi trường Khảo sát cho thấy nhiều hộ gia đình sử dụng chính nhà ở làm xưởng sản xuất, ngoại trừ HTX Vân Hương với cơ sở hạ tầng kiên cố Công nghệ sản xuất lạc hậu và thiết bị cũ cũng góp phần làm gia tăng ô nhiễm môi trường.
Một số luận văn thạc sĩ đáng chú ý khác bao gồm nghiên cứu về vai trò của cộng đồng dân cư trong việc hạn chế và khắc phục ô nhiễm môi trường làng nghề tại tỉnh Nam Định, do Vũ Thị Hồng Loan thực hiện Nghiên cứu này tập trung vào việc xác định ảnh hưởng của cộng đồng đối với môi trường và đề xuất các giải pháp bền vững để cải thiện tình trạng ô nhiễm.
Nghiên cứu về ô nhiễm môi trường tại các làng nghề ở Việt Nam đã được thực hiện qua nhiều luận văn như: "Nghiên cứu vấn đề môi trường của làng nghề chế biến chè và đề xuất biện pháp giảm thiểu ô nhiễm" của Trần Thế Long (2013) và "Vai trò của cộng đồng dân cư trong việc hạn chế và khắc phục ô nhiễm môi trường làng nghề" của Vũ Thị Hồng Loan và Phạm Xuân Hằng (2015) Các nghiên cứu này không chỉ chỉ ra tình trạng ô nhiễm mà còn đề xuất chính sách công nghệ nhằm hạn chế xung đột giữa các làng nghề và cộng đồng cư dân, như trong trường hợp tại Làng Phú Đô.
Bài luận của Huỳnh Thị Dung và Trịnh Ngọc Thạch (2015) tại ĐHKHXH&NV tập trung vào việc đánh giá hiện trạng môi trường tại một số làng nghề chế biến thủy hải sản ở tỉnh Nghệ An Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Phương cũng góp phần làm rõ vấn đề này, nhằm nâng cao nhận thức về tác động của hoạt động chế biến thủy hải sản đến môi trường.
Mạnh Khải và Trần Văn Quy (2014) đã thực hiện luận văn ThS Khoa học môi trường và BVMT tại ĐHKHTN, trong đó đánh giá hiện trạng môi trường đất và nước tại một số làng nghề ở tỉnh Bắc Ninh Nghiên cứu này không chỉ chỉ ra mức độ ô nhiễm mà còn đề xuất các giải pháp hiệu quả nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại các khu vực này.
Thắm (2012) đã nghiên cứu về khoa học môi trường và bảo vệ môi trường, trong khi Nguyễn Ngọc Thụy (2009) phân tích chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ tại các làng nghề ở Hải Dương Bên cạnh đó, quy hoạch môi trường tại làng nghề Tề Lỗ, huyện Yên cũng là một vấn đề quan trọng cần được xem xét.
Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc, là địa điểm nghiên cứu của Đinh Thị Quỳnh Lâm trong luận văn ThS Khoa học Môi trường và BVMT, Trung tâm nghiên cứu tài nguyên và môi trường năm 2007 Nhiều khóa luận tốt nghiệp đã được thực hiện ở cấp độ nghiên cứu thấp hơn, tập trung vào vấn đề môi trường và pháp luật bảo vệ môi trường tại các làng nghề, trong đó có việc tìm hiểu môi trường du lịch tại làng cốm Bát.
Tràng (Gia Lâm – Hà Nội) là nơi nghiên cứu của Trần Thị Thu Hà từ Trường Đại học Văn hóa Hà Nội vào năm 2010, tập trung vào môi trường làng nghề đá mỹ nghệ tại xã Ninh Vân, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình do Nguyễn Thị Thanh Huế, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, thực hiện năm 2013 Ngoài ra, nghiên cứu của Nguyễn về hiện trạng và giải pháp quản lý môi trường nước thải tại làng nghề đúc đồng Quảng Bố, xã Quảng Phú, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh cũng được đề cập.
Thị Tuyến, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, 2014;…
Số lượng nghiên cứu về môi trường làng nghề và pháp luật bảo vệ môi trường (BVMT) là khá nhiều, nhưng các công trình liên quan đến vệ sinh an toàn thực phẩm kết hợp với môi trường làng nghề và pháp luật BVMT vẫn còn hạn chế và thiếu tính tổng quát Việc kết hợp hai vấn đề quan trọng này giúp mở ra một khía cạnh mới về "môi trường làng nghề chế biến thực phẩm" Do đó, tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu về "môi trường làng nghề chế biến thực phẩm" và dựa vào phân tích khoa học pháp lý để nâng cao hiểu biết của chúng ta về môi trường và pháp luật BVMT tại Việt Nam.
Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu những quy định pháp luật Việt Nam về BVMT
Ô nhiễm môi trường (ÔNMT) tại một số khu vực làng nghề chế biến thực phẩm ở Hà Nội đang trở thành vấn đề nghiêm trọng Để giảm thiểu ÔNMT, cần đưa ra các giải pháp hiệu quả nhằm cải thiện chất lượng môi trường tại các làng nghề này Việc áp dụng các biện pháp bảo vệ môi trường sẽ giúp bảo đảm sự phát triển bền vững cho ngành chế biến thực phẩm và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
- Đề xuất một số biện pháp nhằm giảm thiểu ÔNMT nâng cao hiệu quả quá trình quản lý môi trường tại khu vực làng nghề
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập, tổng hợp và phân tích tài liệu, số liệu là quá trình nghiên cứu và thu thập tất cả các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu, bao gồm các quy định và tiêu chuẩn môi trường nhằm phục vụ cho các mục đích khác nhau.
Phương pháp phân tích tổng hợp là một kỹ thuật quan trọng trong quá trình thực hiện và hoàn thiện luận văn Kết quả thu được từ các số liệu hồi cứu, điều tra và khảo sát thực địa sẽ được diễn giải, phân tích và thảo luận một cách chi tiết, giúp nâng cao chất lượng nghiên cứu.
- Phương pháp phân tích tài liệu có sẵn (Phân tích số liệu thứ cấp)
Trong nghiên cứu này, chúng tôi phân tích tài liệu liên quan đến môi trường, bao gồm sách, tạp chí nghiên cứu và các công trình nghiên cứu khác Mục tiêu là nhận diện thực trạng và xung đột môi trường hiện nay Ngoài ra, tác giả tham khảo đề tài, luận văn và số liệu thống kê liên quan để hỗ trợ quá trình nghiên cứu và đánh giá kết quả nghiên cứu thực nghiệm.
Phương pháp quan sát thực địa là công cụ quan trọng giúp người nghiên cứu có cái nhìn thực tế về đối tượng nghiên cứu, đồng thời kiểm tra tính chính xác của tài liệu và số liệu đã thu thập Vì khu vực nghiên cứu rộng lớn, chúng tôi chỉ có thể khảo sát một số điểm điển hình để đưa ra nhận xét chung về tình trạng ô nhiễm và các ảnh hưởng môi trường khác nhau trong toàn vùng.
Các phương pháp thống kê hiện đại sẽ được áp dụng để xử lý dữ liệu liên quan đến kinh tế - xã hội, môi trường và y tế, nhằm phục vụ cho việc phân tích và đánh giá sức khỏe môi trường tại địa phương.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Khóa luận đã tổng hợp và đánh giá tình hình môi trường tại các làng nghề, đặc biệt là trong lĩnh vực chế biến thực phẩm ở Việt Nam.
Khóa luận đã phân tích mức độ ô nhiễm môi trường (ÔNMT) tại các làng nghề, làm rõ nguyên nhân và tác động tiêu cực của ÔNMT đến sức khỏe con người cũng như sự phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội Đồng thời, nghiên cứu cũng đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật bảo vệ môi trường (BVMT) tại các làng nghề, đặc biệt là các làng nghề chế biến thực phẩm ở Hà Nội hiện nay.
Để hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo vệ môi trường (BVMT) tại các làng nghề chế biến thực phẩm, cần đề xuất một số giải pháp phù hợp với thực tiễn hiện nay Những giải pháp này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả quản lý môi trường mà còn đảm bảo sự phát triển bền vững cho các làng nghề, đồng thời bảo vệ sức khỏe cộng đồng và tài nguyên thiên nhiên.
Kết cấu khóa luận
Khóa luận bao gồm phần mở đầu, kết luận, danh mục các từ viết tắt và tài liệu tham khảo Nội dung chính của khóa luận được chia thành ba chương.
Chương I: Một số vấn đề lý luận về BVMT, pháp luật
BVMT tại khu vực làng nghề chế biến thực phẩm
Chương II: Quy định pháp luật Việt Nam về BVMT, thực trạng tại một số làng nghề chế biến thực phẩm tại Hà Nội
Chương III: Một số đề xuất hoàn thiện pháp luật BVMT
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG, PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
Một số khái niệm
Môi trường là khái niệm rộng, được định nghĩa đa dạng, đặc biệt sau hội nghị Stockholm 1972 Theo Tuyên ngôn của UNESCO năm 1981, môi trường bao gồm "tất cả các hệ thống tự nhiên và nhân tạo xung quanh con người, nơi con người sinh sống và khai thác tài nguyên để đáp ứng nhu cầu của mình."
Quyển "Môi trường và tài nguyên Việt Nam" của NXB Khoa học và kỹ thuật định nghĩa môi trường là một không gian có thể mang ý nghĩa xã hội đặc trưng cho một thời kỳ hay xã hội nhất định Bên cạnh đó, R.G Sharme (1988) cung cấp một định nghĩa ngắn gọn hơn, cho rằng môi trường là tất cả những gì bao quanh con người.
Trong cuốn sách “Pháp luật quốc tế và Việt Nam về môi trường với việc bảo vệ quyền con người”, khái niệm "môi trường" được định nghĩa là toàn bộ điều kiện tự nhiên, xã hội và văn hóa ảnh hưởng đến cuộc sống của cá nhân hoặc cộng đồng Từ "environment" trong tiếng Anh có nguồn gốc từ tiếng Pháp "environner", mang nghĩa bao quanh một điểm nào đó Do đó, vấn đề môi trường không chỉ bao gồm các yếu tố tự nhiên mà còn liên quan đến các vấn đề xã hội như tắc nghẽn giao thông và tội phạm.
Môi trường và tài nguyên Việt Nam, do Nguyễn Ngọc Sinh và các tác giả khác biên soạn, xuất bản năm 1984, đề cập đến các yếu tố như ô nhiễm và tiếng ồn Về mặt địa lý, môi trường có thể được hiểu là một khu vực cụ thể hoặc toàn bộ hành tinh của chúng ta.
Môi trường được định nghĩa trong Từ điển tiếng Việt là toàn bộ các điều kiện tự nhiên và xã hội mà con người hoặc sinh vật tồn tại và phát triển, đồng thời có mối quan hệ với nhau.
Theo Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, môi trường được định nghĩa là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật Thành phần của môi trường bao gồm đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật và các hình thái vật chất khác.
Chúng ta có thể hiểu các thành tố của môi trường bao gồm:
Tài nguyên thiên nhiên bao gồm cả sinh vật và phi sinh vật như không khí, nước, đất, động vật và thực vật, cùng với sự tương tác giữa các yếu tố này.
- Những tài sản là một phần của di sản văn hóa;
- Các đặc điểm khía cạnh của cảnh quan
Tất cả các thành tố môi trường đều tương tác và phụ thuộc lẫn nhau, do đó, bất kỳ sự thay đổi hay tổn hại nào ở một thành tố sẽ nhanh chóng ảnh hưởng đến các thành tố khác Hệ quả này có thể gây ra những tác động lớn và không lường trước được đối với môi trường sống và các sinh vật trên Trái Đất, đặc biệt là con người.
1.1.2 Pháp luật bảo vệ môi trường
Luật môi trường, được công nhận như một ngành luật độc lập, là tập hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội giữa các chủ thể trong quá trình khai thác, sử dụng hoặc tác động đến các thành phần của môi trường.
3 Trang 42, Pháp luật quốc tế và Việt Nam về môi trường với việc bảo vệ quyền con người, TS Mai Hải Đăng, NXB Tư Pháp, 2015
4 , Từ điển Tiếng Việt, Viện ngôn ngữ học, NXB Đà Nẵng, 2004
5 Luật BVMT 2014, NXB Lao Động , Hà Nội, 2014
Hệ thống pháp luật Việt Nam có nhiều quy định liên quan đến bảo vệ môi trường (BVMT), thể hiện sự quan tâm của các nhà quản lý và làm luật trong những năm gần đây Các văn bản pháp luật đã xử lý hài hòa các quan hệ BVMT với luật chuyên ngành, tạo ra tính khả thi cao Đối tượng điều chỉnh của pháp luật môi trường bao gồm các quan hệ xã hội liên quan đến bảo vệ và cải thiện môi trường, ngăn chặn các hậu quả xấu từ con người và thiên nhiên, cũng như khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên Nhà nước đã ban hành hệ thống văn bản pháp luật quy định nghĩa vụ BVMT để bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường trong sạch và phát triển bền vững.
1.1.3 Nguồn pháp luật về bảo vệ môi trường
Pháp luật về bảo vệ môi trường (BVMT) tại Việt Nam hiện nay chịu sự điều chỉnh của nhiều quy tắc và tiêu chuẩn quốc tế, bao gồm cả Luật môi trường quốc tế Luật BVMT các làng nghề cũng nằm trong khuôn khổ này Nguồn gốc của Luật BVMT Việt Nam bao gồm các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, quy định về nguyên tắc được các bên tranh chấp thừa nhận, tập quán pháp lý trong nước, nguyên tắc chung của luật quốc tế, án lệ, cũng như pháp luật của các quốc gia liên quan và nghị quyết của các tổ chức quốc tế mà Việt Nam tham gia.
Điều ước quốc tế là thỏa thuận giữa các quốc gia nhằm xác định, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của họ Một trong những nguồn quan trọng nhất của Luật môi trường Việt Nam là các điều ước quốc tế (ĐƯQT) Việt Nam đã ký kết nhiều ĐƯQT, trong đó có những điều ước quy định khung pháp lý chung cho việc giải quyết ô nhiễm môi trường (ÔNMT) và những điều ước khác đưa ra quy định cụ thể liên quan đến vấn đề này.
Việt Nam tham gia nhiều điều ước quốc tế quan trọng về bảo vệ môi trường, bao gồm Công ước Chicago về hàng không dân dụng quốc tế (1944), Hiệp ước về Khoảng không ngoài vũ trụ (1967), và Công ước về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế (RAMSAR, 1971) Ngoài ra, Việt Nam cũng ký kết Nghị định thư bổ sung RAMSAR (1982), Công ước liên quan đến Bảo vệ các di sản văn hoá và tự nhiên (1982), và Công ước MARPOL về ngăn ngừa ô nhiễm do tàu biển (1991) Các cam kết khác bao gồm Công ước của Liên Hợp Quốc về sự biến đổi môi trường (1980), Công ước về Luật biển (1994), và Công ước Basel về kiểm soát chất thải độc hại (1995) Đặc biệt, Việt Nam cũng tham gia Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu (1992) và Công ước về Đa dạng sinh học (1992), thể hiện cam kết mạnh mẽ của quốc gia trong việc bảo vệ môi trường toàn cầu.
Việt Nam không chỉ tham gia vào các điều ước quốc tế đa phương mà còn ký kết các điều ước quốc tế song phương nhằm bảo vệ môi trường, điển hình là Hiệp định tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự, gia đình và hình sự với Công hòa nhân dân Bungari vào ngày 01/10/1979.
Tập quán quốc tế là các quy tắc ứng xử được một số quốc gia thiết lập trong quan hệ quốc tế và dần được nhiều quốc gia khác chấp nhận như một quy phạm pháp luật Tuy nhiên, không phải tất cả các tập quán quốc tế đều được công nhận là nguồn luật bởi các quốc gia, mà một số chỉ áp dụng trong mối quan hệ giữa hai hoặc một nhóm quốc gia Tại Việt Nam, pháp luật hiện hành công nhận tập quán quốc tế và tập quán Việt Nam là nguồn của pháp luật về bảo vệ môi trường, với điều kiện việc áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.
QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG, THỰC TRẠNG TẠI MỘT SỐ LÀNG NGHỀ CHẾ BIẾN THỰC PHẨM TẠI HÀ NỘI
Quy định pháp luật về bảo vệ môi trường
2.1.1 Bảo vệ môi trường các làng nghề
Hệ thống chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường (BVMT) tại Việt Nam đã được xây dựng một cách đầy đủ và toàn diện Hiến pháp CHXHCN Việt Nam năm 2013 đã dành chương II để đề cập đến quyền con người, bao gồm cả quyền liên quan đến môi trường Đặc biệt, Hiến pháp 2013 lần đầu tiên quy định rõ ràng về quyền con người trong lĩnh vực môi trường, với Điều 43 nêu rõ các quyền này.
Mọi người có quyền sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường Hiến pháp quy định các điều kiện để thực hiện quyền về môi trường, đồng thời nhấn mạnh quyền tiếp cận thông tin liên quan đến môi trường Cụ thể, công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội và biểu tình, với việc thực hiện các quyền này được quy định bởi pháp luật (Điều 25).
Để cụ thể hóa các quy định về quyền con người liên quan đến môi trường trong Hiến pháp 2013, Quốc hội đã thông qua Luật Bảo vệ Môi trường tại kỳ họp thứ 7.
Năm 2014, Luật Bảo vệ Môi trường đã được ban hành, quy định về các hoạt động bảo vệ môi trường, chính sách, biện pháp và nguồn lực cần thiết Luật này cũng xác định quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân trong việc bảo vệ môi trường (Điều 1) Bên cạnh đó, Luật Bảo vệ Môi trường 2014 còn có sự phối hợp với các luật khác như Luật Đất đai 2013, Luật Tài nguyên nước 2012, và Luật Đa dạng sinh học 2008 để đảm bảo tính đồng bộ trong quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.
Chính phủ đã ban hành các văn bản dưới luật dựa trên các quy định pháp luật nhằm cụ thể hóa và tích hợp bảo vệ môi trường trong các làng nghề.
Vào ngày 28 tháng 11 năm 2013, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, trong đó nhấn mạnh sự quan trọng của các chương trình kinh tế - xã hội như Chiến lược Bảo vệ Môi trường quốc gia năm 2003, Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam, và Chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn đến năm 2003.
Việt Nam không chỉ ban hành các văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường (BVMT) mà còn áp dụng các điều ước quốc tế liên quan để làm nền tảng cho việc xây dựng và thực thi các quy định pháp luật Điều này giúp nâng cao hiệu quả trong công tác BVMT.
Cho tới thời điểm hiện tại, Quy định của pháp luật Việt Nam về BVMT bao trùm chủ yếu lên các vấn đề lớn sau:
Quy hoạch làng nghề gắn liền với bảo vệ môi trường (BVMT) là cần thiết để phát triển bền vững Theo Nghị quyết trung ương Đảng khóa IX, cần có quy hoạch tổng thể và định hướng rõ ràng, bao gồm quản lý và cập nhật thông tin kịp thời Việc quy hoạch các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội và phát triển khu dân cư là rất quan trọng để gìn giữ bản sắc dân tộc Đầu tư từ Nhà nước cho các dự án quy hoạch và nâng cấp làng nghề trọng điểm là cấp bách, cùng với việc thực hiện các quy phạm pháp luật liên quan như Luật Xây dựng và Nghị định số 18/2015/NĐ-CP về quy hoạch BVMT và đánh giá tác động môi trường.
Tại quyết định số 577/QĐ – TTg ngày 11/4/2013 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt đề án tổng thể BVMT làng nghề đến năm 2020 và định hướng đến năm
2030, một trong các giải pháp thực hiện quy hoạch đã được đưa ra, đó là triển khai
Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) đã đề ra các biện pháp nhằm đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn trong giai đoạn 2001-2010 Các giải pháp cụ thể bao gồm quy hoạch lại sản xuất và chuyển đổi ngành nghề, đồng thời di dời vào các khu, cụm công nghiệp tập trung để nâng cao hiệu quả sản xuất.
Chỉ thị số 28/2007/CT-BNN 13 của Bộ NN&PTNT nhấn mạnh việc phát triển ngành nghề nông thôn và phòng chống ô nhiễm môi trường làng nghề Tại Hà Nội, UBND TP đã ban hành quyết định 14/QĐ-UBND phê duyệt quy hoạch phát triển nghề, làng nghề đến năm 2020, với tầm nhìn đến năm 2030 Quy hoạch này ưu tiên phát triển các nghề truyền thống như thủ công mỹ nghệ, chế biến lâm sản, dệt lụa, thêu, gốm sứ, và da giầy Đồng thời, thành phố cũng định hướng phát triển các ngành nghề phục vụ sản xuất công nghiệp như dệt may và cơ khí.
UBND TP Hà Nội đã ban hành “Kế hoạch thực hiện công tác bảo vệ môi trường làng nghề trên địa bàn Hà Nội, giai đoạn 2016-2020” nhằm cải thiện tình hình môi trường tại các làng nghề trong thành phố.
2016 UBND TP cũng phê duyệt thêm “Đề án BVMT trên thành phố Hà Nội đến năm
2020 định hướng đến năm 2030”, phê duyệt quy hoạch các khu công nghiệp, cụm công nghiệp thành phố hà nội định hướng đến năm 2030 và xem xét đưa điều kiện
Chỉ thị 28/2007/CT-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, ban hành ngày 18/04/2007, nhằm thúc đẩy thực hiện quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn và tăng cường công tác phòng chống ô nhiễm môi trường tại các làng nghề Chỉ thị này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển bền vững trong ngành nông thôn, đồng thời khuyến khích các biện pháp bảo vệ môi trường để đảm bảo sức khỏe cộng đồng và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên.
14 Quyết định 14/QĐ-UBND năm 2013 phê duyệt Quy hoạch phát triển nghề, làng nghề Thành phố Hà Nội đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, UBND TP Hà Nội, 02/01/2013.
BVMT được quy định là tiêu chí bắt buộc trong việc công nhận các làng nghề UBND
TP Hà Nội còn ban hành Chương trình số 154/UBND-CT về việc phát triển làng nghề kết hợp du lịch trong giai đoạn 2012-2015
Hiện nay, việc xây dựng và quản lý dữ liệu thông tin về môi trường, đặc biệt là trong lĩnh vực môi trường làng nghề, vẫn chưa được quy định chi tiết trong các văn bản pháp luật, ngoại trừ Luật Bảo vệ Môi trường 2014.
Thông tin môi trường bao gồm số liệu và dữ liệu về thành phần môi trường, các tác động đến môi trường, chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường (BVMT), cùng với các hoạt động bảo vệ môi trường Hiện tại, chỉ có Bộ Tài nguyên và Môi trường, các bộ ngành và cơ quan quản lý địa phương mới có quyền thu thập và quản lý thông tin môi trường, đồng thời tích hợp với cơ sở dữ liệu quốc gia Cụ thể, Điều 129 của Luật BVMT quy định về việc thu thập và quản lý thông tin môi trường.
Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) sẽ chủ trì và phối hợp với các bộ, ngành cùng địa phương trong việc thu thập, quản lý thông tin về môi trường, đồng thời xây dựng cơ sở dữ liệu môi trường quốc gia.
Thực trạng môi trường và áp dụng pháp luật bảo vệ môi trường tại một số làng nghề chế biến thực phẩm tại Hà Nội
Một là, về hiện trạng môi trường làng nghề: Theo Báo cáo môi trường quốc gia
Từ năm 2008, ô nhiễm môi trường tại các làng nghề đã làm gia tăng số người mắc bệnh trong số những người lao động và cư dân tại chính các làng nghề này Tỷ lệ người mắc bệnh đang có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây.
Môi trường tại các làng nghề đang xấu đi, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng, gây ra nhiều căn bệnh liên quan đến ô nhiễm nước, không khí và các nguồn ô nhiễm khác Tại các khu vực chế biến thực phẩm, người dân thường mắc các bệnh ngoài da và viêm niêm mạc như nấm kẽ, nấm móng, và viêm chân tóc Trong khi đó, các làng nghề dệt nhuộm và thuộc da lại ghi nhận nhiều trường hợp mắc bệnh hô hấp, tiêu hóa và thần kinh.
Bài viết của TS Phạm Văn Beo, Trưởng Bộ môn Luật Tư pháp tại Khoa Luật – Đại học Cần Thơ, đã trình bày 23 cấu thành tội phạm liên quan đến các tội phạm về môi trường Nội dung này được đăng trên Báo Thiên Nhiên vào ngày 29/10/2015, nhằm nâng cao nhận thức về các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
Báo cáo môi trường quốc gia 2008 cho thấy rằng người dân ở các làng nghề Việt Nam, đặc biệt là những người làm trong ngành xây dựng, khai thác đá và tái chế phế liệu, đang phải đối mặt với nhiều vấn đề sức khỏe nghiêm trọng Các bệnh hô hấp, tiêu hóa, phụ khoa, và mắt là phổ biến, trong khi tỷ lệ mắc bệnh ung thư ở làng tái chế phế liệu cũng cao Đáng chú ý, tỷ lệ người mắc bệnh trong độ tuổi lao động đang có xu hướng gia tăng Ở những làng nghề ô nhiễm nghiêm trọng, tuổi thọ trung bình của người dân thấp hơn từ 5 đến 10 năm so với các làng không có nghề nghiệp này, và có thể giảm tới 10 năm so với tuổi thọ trung bình toàn quốc.
Nghiên cứu và khảo sát từ nhiều công trình cho thấy sự phân bố các làng nghề tại Việt Nam không đồng đều Mật độ và phân bố không đồng nhất của các làng nghề truyền thống ở các vùng miền trên toàn quốc phản ánh những đặc trưng văn hóa và xã hội của dân tộc.
Tính đến ngày 31 tháng 3 năm 2014, cả nước có 4.487 làng nghề và làng có nghề, trong đó 1.534 làng nghề đã được công nhận Các làng nghề chủ yếu tập trung ở miền Bắc và vùng nông thôn, nơi đang chịu ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa Mặc dù nhiều khu vực nông thôn đã chuyển mình thành đô thị, nhưng vẫn duy trì sản xuất văn hóa truyền thống, dẫn đến những "lỗ hổng" trong chính sách phát triển và khung pháp lý quản lý làng nghề Sự phân bố không đồng đều này, đặc biệt tại các tỉnh đồng bằng sông Hồng, nơi có diện tích chật hẹp và mật độ dân cư cao, đã làm gia tăng hậu quả ô nhiễm môi trường (ÔNMT) Tuy nhiên, không phải tất cả các làng nghề đều gây ô nhiễm, mức độ tác động đến môi trường phụ thuộc vào loại hình sản xuất và đặc điểm từng vùng miền.
Bài viết đề cập đến 25 BVMT làng nghề, nhấn mạnh sự cần thiết huy động sự tham gia của các tổ chức chính trị - xã hội trong việc bảo vệ môi trường Phạm Trọng Duy từ Cục Kiểm soát ô nhiễm, Tổng cục môi trường, đã chỉ ra rằng các vấn đề môi trường liên quan đến làng nghề bao gồm ô nhiễm đất, nước, không khí và tiếng ồn.
Tính đến năm 2011, Việt Nam có 3.355 làng nghề, trong đó tình trạng ô nhiễm môi trường (ÔNMT) đang rất nghiêm trọng Tại các làng nghề chế biến nông sản và thực phẩm, hàm lượng COD, BOD5, NH4+ và coliform vượt quá quy chuẩn từ hàng chục đến hàng trăm lần Hơn nữa, hầu hết các làng nghề đều có nồng độ bụi và khí SO2 vượt mức cho phép, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng và môi trường.
STT Thông số Đơn vị
4 Amoni(tính theo Nitơ) mg/l
Ô nhiễm môi trường đang gia tăng và có nguy cơ vượt quá khả năng chịu đựng của các hệ sinh thái, theo thông tin từ Thông tấn xã Việt Nam Tình trạng này đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe của môi trường và sự sống của các loài sinh vật Cần có những biện pháp khẩn cấp để giảm thiểu ô nhiễm và bảo vệ hệ sinh thái.
Bảng Quy chuẩn chất lượng nước mặt 27
Tại các làng nghề, tình trạng ô nhiễm môi trường diễn ra nghiêm trọng do khí thải, nước thải và chất thải rắn chưa được xử lý xả thẳng ra môi trường, ảnh hưởng đến chất lượng không khí và nguồn nước Ý thức bảo vệ môi trường của người dân ở đây còn hạn chế, trong khi các hộ sản xuất phân tán trong khu dân cư và sử dụng đất ở cho sản xuất với quy mô nhỏ, dẫn đến nhiều khó khăn trong công tác bảo vệ môi trường.
Ô nhiễm môi trường tại các làng nghề có những đặc điểm đáng chú ý: Thứ nhất, ô nhiễm diễn ra phân tán trong khu vực như thôn, làng, xã, do quy mô sản xuất nhỏ và xen kẽ với khu dân cư, khiến việc kiểm soát và quy hoạch trở nên phức tạp Thứ hai, ô nhiễm mang tính đặc thù liên quan đến hoạt động sản xuất, mùa vụ và loại hình sản phẩm, có tác động trực tiếp đến môi trường nước, không khí và đất Cuối cùng, mức độ ô nhiễm cao trong khu vực sản xuất ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người lao động, đặc biệt khi họ sinh hoạt ngay tại nơi làm việc, do sự cộng hưởng từ nhiều nguồn ô nhiễm trong khu vực.
Kết quả xét nghiệm nước thải tại các làng nghề của Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (Đại học Bách Khoa Hà Nội) cho thấy 100% mẫu nước đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép, với cả nước ngầm và nước mặt đều có dấu hiệu ô nhiễm nghiêm trọng.
27 Tr 4, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt, QCVN: 2008 – BTNMT, Bộ TN&MT,
28 Bài viết Ô nhiễm làng nghề bủa vây Hà Nội, Phúc Lập, Báo Nông nghiệp Việt Nam, 08/04/2015
Ô nhiễm nước thải có thể phân loại theo đặc trưng chất gây ô nhiễm của từng loại hình sản xuất, đặc biệt là ở các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi và giết mổ Những ngành này tiêu tốn lượng nước lớn, dẫn đến nước thải chứa nhiều chất hữu cơ, dễ phân hủy sinh học và có mức độ ô nhiễm cao Hàm lượng chất ô nhiễm trong nước thải thường vượt quy chuẩn Việt Nam (QCVN) hàng chục lần, đặc biệt là từ quy trình lọc tách bã trong sản xuất tinh bột từ sắn và dong giềng, với độ pH thấp và chỉ số nhu cầu ôxy sinh hóa (BOD5) cùng nhu cầu ôxy hóa học (COD) vượt mức cho phép.
Ô nhiễm chất vô cơ và hóa chất tại các làng nghề như dệt nhuộm, thủ công mỹ nghệ, và tái chế giấy chủ yếu do quy trình sản xuất sử dụng nhiều nước và hóa chất Nước thải từ dệt nhuộm chứa các tạp chất tự nhiên như chất bẩn, sáp, và hợp chất chứa nitơ, cùng với hóa chất như NaOH, H2SO4, HCL, và thuốc nhuộm Khoảng 10-30% lượng thuốc nhuộm và hóa chất sử dụng bị thải ra ngoài, làm cho nước thải có độ màu cao, có nơi lên tới 13.000 (Pt-Co) Ngoài ra, ô nhiễm kim loại nặng và dầu thải từ các làng nghề mạ và tái chế kim loại cũng là vấn đề nghiêm trọng, với quá trình mạ bạc tạo ra muối thủy ngân xyanua và các tạp chất khác vượt quy chuẩn từ 1,5 đến 10 lần.
Ô nhiễm môi trường không khí tại các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm đang trở thành vấn đề nghiêm trọng do sự phân hủy của các hợp chất hữu cơ trong chất thải rắn và nước thải Quá trình này thải ra nhiều khí độc hại như SO2, NO2, H2S, NH3, CH4 và các loại khí ô nhiễm khác, gây mùi tanh khó chịu, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của người dân Điển hình như làng Bún Phú Đô ở Hà Nội và làng Bún Vũ Hội tại Thái Bình đang phải đối mặt với tình trạng này.
Kết quả đạt được và một số tồn tại
Một là, về các kết quả đạt được
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) về bảo vệ môi trường (BVMT) cho làng nghề đang dần được hoàn thiện, với nhiều quy định liên quan đã được ban hành Các văn bản pháp luật về BVMT nói chung và các quy định riêng cho quản lý, quy hoạch tại các làng nghề đã tương đối đầy đủ Đặc biệt, nhiều địa phương đã chú trọng phát triển bền vững cho làng nghề thông qua việc ban hành các văn bản hỗ trợ.
Chính phủ và các Bộ, địa phương đã chú trọng công tác chỉ đạo và điều hành trong việc bảo vệ môi trường (BVMT) tại các khu vực làng nghề chế biến thực phẩm Nhiều văn bản chỉ đạo và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về BVMT đã được ban hành, đồng thời cũng có các hoạt động tuyên truyền và phổ biến chính sách này nhằm nâng cao nhận thức về BVMT trong cộng đồng làng nghề.
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường (BVMT) cho các làng nghề đã được xây dựng tương đối đầy đủ, với nhiều quy định riêng về quy hoạch và quản lý BVMT Đặc biệt, các địa phương cũng đã ban hành nhiều văn bản nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của làng nghề.
Công tác chỉ đạo và điều hành đối với hoạt động của làng nghề đã nhận được sự quan tâm từ Chính phủ, các Bộ và địa phương Nhiều văn bản chỉ đạo và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường (BVMT) tại các làng nghề đã được ban hành, cùng với việc tuyên truyền và phổ biến các chính sách này nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng.
Hai là, về một số tồn tại
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường (BVMT) tại Việt Nam tương đối đầy đủ, nhưng nhiều quy định thiếu tính khả thi cho các làng nghề, dẫn đến hạn chế trong việc thực thi pháp luật của chính quyền địa phương Sự chồng chéo giữa các văn bản luật gây khó khăn trong áp dụng, mặc dù các quy định đã thể hiện được tính khái quát cho hầu hết các vấn đề của BVMT, nhưng vẫn còn tồn tại nhiều thiếu sót.
Quy hoạch làng nghề hiện đang được cải thiện theo kế hoạch đã được ban hành, nhưng vẫn cần kết nối các vùng để tạo ra mảng liên kết cộng đồng và các vùng sản xuất chuyên canh có giá trị cao Sự bùng nổ đô thị nhanh chóng đi kèm với các đề xuất quy hoạch làng nghề mới, nhưng thiếu chiến lược tổng quát và bền vững Hơn nữa, việc thiếu cơ sở pháp lý đồng bộ và quản lý xây dựng hiệu quả đã dẫn đến sự mai một giá trị quỹ đất đô thị và phá vỡ nhiều giá trị văn hóa tại các vùng.
Hiện nay, các kế hoạch quy hoạch làng nghề chưa kết hợp chặt chẽ với các tổ chức chuyên ngành để đánh giá và nhận diện đầy đủ giá trị của quỹ di sản làng nghề Việc thiếu hụt các tổ chức này dẫn đến công tác quy hoạch chưa được thực hiện một cách thống nhất và toàn diện Quy hoạch các làng cần được xem xét cẩn trọng, bắt đầu từ việc điều tra, phân loại và xác định các đặc thù của từng làng, cũng như những giá trị văn hóa cần bảo tồn Cần xác định các khu vực cần cải tạo, giải tỏa và xây dựng lại để phát triển, từ đó nghiên cứu khả năng xử lý không gian một cách hiệu quả.
Hiện nay, do chưa có quy định cụ thể về mẫu thông tin dữ liệu môi trường tại Việt Nam, các cơ quan chức năng phải tổng hợp và phân tích dữ liệu từ nhiều quốc gia khác Thông tin về môi trường bao gồm các yếu tố như tên lớp thông tin, tỷ lệ, lưới chiếu, phương pháp xây dựng, dữ liệu sử dụng, ngày hoàn thành, người xây dựng, người biên tập, nơi lưu trữ và thông tin liên hệ để chia sẻ dữ liệu Những thông tin này được tổ chức thành bảng và xây dựng thành công cụ để xem dữ liệu trong hệ thống cơ sở dữ liệu.
Hiện nay, cơ chế quản lý hệ thống quan trắc môi trường chủ yếu dựa vào báo cáo gửi đến các cơ quan có thẩm quyền, trong khi việc thu thập và quản lý thông tin về tài nguyên đất và nước còn phân tán và thiếu sự nhất quán Các dữ liệu từ các cơ quan khác nhau chưa được trao đổi hiệu quả, dẫn đến tình trạng thiếu cơ chế chia sẻ thông tin và quy định về lưu trữ, khai thác dữ liệu Thông tin môi trường hiện đang phân tán, chồng chéo và chưa được chuẩn hóa, mặc dù có giá trị sử dụng cao Do đó, cần ưu tiên xây dựng và chuẩn hóa dữ liệu, đặc biệt là thông tin về môi trường liên quan đến các nhóm làng nghề và khu công nghiệp, nhằm tạo ra một hệ thống thông tin dữ liệu thống nhất và hiệu quả.
Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và lập kế hoạch bảo vệ môi trường (BVMT) tại các làng nghề đang ngày càng được cải thiện với các quy định pháp luật ngày càng chặt chẽ và khả thi Hệ thống quy định về ĐTM ở Việt Nam đã có sự phát triển, thích ứng tốt với những thay đổi trong xã hội hiện nay.
Cơ sở dữ liệu về tài nguyên và môi trường biển tại tỉnh Thanh Hóa, đặc biệt trong các khu kinh tế, vẫn còn yếu kém và thiếu sót Các văn bản pháp luật phân tán, không tập trung và quy định chồng chéo gây khó khăn cho việc thực thi Đặc thù của từng khu vực như khu công nghiệp, nông thôn, làng nghề và khu vực kinh tế yêu cầu cách áp dụng ĐTM phù hợp, nhưng điều này vẫn chưa được thực hiện hiệu quả Hơn nữa, sự xa rời giữa các quy định pháp luật và thực tế khiến ĐTM chỉ mang tính hình thức, chưa thực sự phát huy hiệu quả trong hoạt động đầu tư.
Các quy chuẩn kỹ thuật môi trường hiện nay đang chậm được cập nhật và đổi mới, chủ yếu do nguồn lực hạn chế và sự thay đổi trong phân cấp quản lý, dẫn đến việc kéo dài thời gian biên soạn và công bố Nội dung của các quy chuẩn này không còn phù hợp với yêu cầu thực tế, một số tiêu chuẩn không thể áp dụng trong điều kiện kinh tế-kỹ thuật hiện tại Hơn nữa, giữa các văn bản quy định còn tồn tại sự chồng chéo, mâu thuẫn và thiếu tính đồng bộ, chưa đạt được sự đồng thuận giữa các bên liên quan.
Việc ban hành tiêu chuẩn và quy chuẩn riêng cho các ngành đặc thù đã tạo ra sự không công bằng cho các cơ sở sản xuất ở những làng nghề khác nhau Nhiều quy chuẩn này chủ yếu dựa vào tiêu chuẩn nước ngoài, chưa phù hợp với điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của từng vùng miền tại Việt Nam Nội dung quy chuẩn kỹ thuật môi trường chưa đáp ứng yêu cầu và thiếu sự đồng thuận từ các bên liên quan như cơ quan quản lý, hộ sản xuất, doanh nghiệp, người tiêu dùng và các nhà khoa học Tại các làng nghề, người lao động ngại thay đổi thói quen và chủ yếu dựa vào kinh nghiệm truyền nghề, trong khi việc áp dụng công nghệ mới gặp khó khăn do thiếu tài liệu kiểm soát và kiểm tra.
Thực trạng áp dụng pháp luật bảo vệ môi trường (BVMT) tại các làng nghề chế biến thực phẩm hiện nay cho thấy nhiều vấn đề còn tồn tại và chưa được giải quyết Công tác BVMT tại một số làng nghề không đạt hiệu quả như mong đợi, dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của người lao động và cộng đồng dân cư.
Trong bài viết “Thực trạng thực thi pháp luật BVMT tại các làng nghề ở Việt Nam” của TS Lê Kim Nguyệt, vấn đề thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường (BVMT) tại các làng nghề được đánh giá là rất khó khăn, yêu cầu sự kết hợp đồng bộ nhiều yếu tố như tuyên truyền giáo dục, nâng cao ý thức tự giác, và quản lý nhà nước hiệu quả Hiện có khoảng 60 văn bản pháp luật liên quan đến BVMT, cho thấy sự chặt chẽ trong quy định pháp lý Luật BVMT năm 2005, với Điều 38 quy định riêng về BVMT làng nghề, là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất, nhưng việc triển khai thực hiện vẫn cần các quy định cụ thể, và điều này chỉ mới được chú trọng gần đây.
Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật bảo vệ môi trường
Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ môi trường (BVMT) đã trở thành vấn đề được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm Thời gian qua, công tác BVMT ở Việt Nam đã có nhiều chuyển biến tích cực, với hệ thống chính sách và thể chế ngày càng hoàn thiện, nâng cao hiệu quả trong việc bảo vệ môi trường Ý thức BVMT của người dân cũng được cải thiện rõ rệt, cùng với những thành tựu đáng kể trong công tác bảo tồn thiên nhiên và bảo vệ đa dạng sinh học.
Môi trường nước ta đang xuống cấp nhanh chóng, thể hiện qua hiện tượng xói mòn đất, suy giảm chất lượng nguồn nước, ô nhiễm không khí tại các khu đô thị và làng nghề, cũng như gia tăng chất thải độc hại Đa dạng sinh học bị đe dọa nghiêm trọng, trong khi điều kiện vệ sinh môi trường và cung cấp nước sạch không được đảm bảo ở nhiều nơi Sự phát triển công nghiệp hóa, đô thị hóa và gia tăng dân số đã tạo ra áp lực lớn lên tài nguyên và môi trường, đặc biệt khi khoảng cách giàu nghèo ngày càng tăng và thiên tai diễn biến phức tạp Trước tình hình này, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 41-NQ/TW nhằm bảo vệ môi trường trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, với các mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể.
BVMT là vấn đề sống còn của nhân loại, đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm sức khỏe và chất lượng cuộc sống của người dân Nó không chỉ góp phần phát triển kinh tế - xã hội mà còn ổn định chính trị, an ninh quốc gia và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước.
Bảo vệ môi trường (BVMT) không chỉ là mục tiêu mà còn là nội dung cốt lõi của phát triển bền vững, cần được tích hợp vào các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của từng ngành và địa phương Cần khắc phục tư tưởng chỉ tập trung vào phát triển kinh tế - xã hội mà xem nhẹ BVMT Đầu tư cho BVMT chính là đầu tư cho sự phát triển bền vững.
BVMT là quyền lợi và nghĩa vụ của tổ chức, gia đình và mỗi cá nhân, thể hiện nếp sống văn hóa và đạo đức Đây là tiêu chí quan trọng của xã hội văn minh, đồng thời phản ánh truyền thống yêu thiên nhiên và sống hài hòa với môi trường của cha ông ta.
BVMT là nhiệm vụ phức tạp và cấp bách, đòi hỏi sự lãnh đạo chặt chẽ từ các cấp uỷ đảng, quản lý thống nhất của Nhà nước, cùng với sự tham gia tích cực của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.
Bảo vệ môi trường không chỉ là trách nhiệm của mỗi cá nhân mà còn là nghĩa vụ của toàn xã hội Sự suy giảm chất lượng môi trường đang đe dọa cơ hội sống trong một môi trường sạch sẽ cho thế hệ tương lai Do đó, việc đặt bảo vệ môi trường lên hàng đầu là cần thiết, và để chuyển hóa những mối quan tâm thành hành động thực tế, việc đầu tiên cần thực hiện là hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường.
Pháp luật về bảo vệ môi trường tại Việt Nam đã chú trọng đến tính hội nhập và sự biến đổi nhanh chóng của nền kinh tế - xã hội, nhằm tương thích với sự phát triển của đất nước Sự tham gia vào các tổ chức quốc tế lớn đã tạo ra những thay đổi quan trọng trong đời sống văn hóa, kinh tế và pháp luật, buộc Việt Nam phải điều chỉnh để được công nhận là thành viên của cộng đồng thế giới và hưởng các quyền lợi ưu việt Gần đây, Việt Nam đã ký kết Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP), thể hiện cam kết trong việc hội nhập quốc tế.
Vào ngày 15 tháng 11 năm 2004, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 41-NQ/TW về bảo vệ môi trường trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đến ngày 4 tháng 2 năm 2016, Việt Nam chính thức gia nhập Hiệp định TPP với 11 nước thành viên, và hiệp định này sẽ có hiệu lực vào năm tới.
Năm 2018 đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong hội nhập kinh tế khu vực với việc thiết lập các chuẩn mực của TPP, nhằm thúc đẩy thương mại và đầu tư tự do giữa 12 quốc gia thành viên Đây là hiệp định thương mại tự do đa phương đầu tiên bao gồm chương về môi trường trong các cam kết, khẳng định vai trò quan trọng của môi trường trong hoạt động thương mại và sự đóng góp của thương mại cho phát triển bền vững.
Việc ký kết Hiệp định TPP mang lại nhiều cơ hội cho Việt Nam trong việc cải thiện môi trường và phát triển bền vững Tự do hóa thương mại hàng hóa và dịch vụ môi trường sẽ giúp giảm ô nhiễm với chi phí thấp, tạo thêm cơ hội kinh doanh và việc làm Chuyển đổi sang nền kinh tế các bon thấp sẽ dễ dàng hơn nhờ thúc đẩy năng lượng sạch và hiệu quả năng lượng Đồng thời, bảo tồn đa dạng sinh học và ngăn chặn buôn bán động thực vật quý hiếm sẽ được chú trọng hơn Cộng đồng và các tổ chức NGOs sẽ có vai trò quan trọng trong việc tham gia ngăn chặn thương mại kém bền vững Việt Nam cũng sẽ có tiếng nói trong các hoạt động thúc đẩy thương mại bền vững thông qua vị trí Chủ tịch Ủy ban môi trường TPP Cuối cùng, Việt Nam sẽ được hưởng lợi ích từ các tài trợ cho các hoạt động thương mại bền vững nhờ sự hỗ trợ từ các nước phát triển trong khối.
Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) là một thỏa thuận thương mại tự do được ký kết giữa 12 quốc gia vào ngày 4 tháng 2.
2016 tại Auckland, New Zealand sau 5 năm đàm phán với mục đích hội nhập các nền kinh tế thuộc khu vực châu Á-Thái Bình Dương
Hệ thống văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường (BVMT) tuy phong phú nhưng còn chồng chéo và thiếu chính xác, dẫn đến khó khăn trong việc áp dụng và thực thi pháp luật Việc hoàn thiện pháp luật BVMT là cần thiết và cần được quan tâm thường xuyên, nhằm đảm bảo pháp luật Việt Nam về BVMT trở thành chỗ dựa pháp lý vững chắc và đáng tin cậy trong công tác bảo vệ môi trường sạch sẽ, đặc biệt trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế.
Một số đề xuất và kiến nghị
Trước sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ và tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu, chúng ta cần nghiêm túc nhìn nhận vấn đề môi trường và đưa nó vào ưu tiên hàng đầu trong cuộc sống cá nhân Giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường không thể diễn ra ngay lập tức, nhưng chúng ta có thể bắt đầu bằng cách đề xuất các giải pháp từ góc độ con người, khoa học công nghệ và pháp lý Tuy nhiên, trước khi đưa ra các giải pháp, cần xem xét những rào cản và thách thức mà chúng ta đang đối mặt, đồng thời đưa ra những ý kiến khách quan và hợp lý để thích ứng với những thay đổi hiện tại và trong tương lai.
Cần hoàn thiện khung pháp lý cho các làng nghề, vì hệ thống pháp luật và chính sách bảo vệ môi trường hiện tại đã tương đối đầy đủ nhưng chưa rõ ràng trong việc áp dụng cho các đối tượng khác nhau Mặc dù có 23 quy chuẩn quốc gia được ban hành, nhưng chúng không thực sự khả thi cho các cơ sở sản xuất làng nghề Hơn nữa, nhiều địa phương vẫn quá chú trọng vào phát triển kinh tế mà bỏ qua trách nhiệm bảo vệ môi trường.
Để phát triển bền vững các làng nghề, cần ban hành các chính sách hỗ trợ tài chính, đào tạo nhân lực và lộ trình xóa bỏ ô nhiễm môi trường Mỗi nhóm làng nghề có đặc trưng riêng, do đó cần chú trọng đến quy hoạch, vấn đề xã hội và môi trường tương ứng Chính sách phát triển phù hợp sẽ giúp cải thiện và bảo vệ môi trường một cách có trật tự, tạo ra hệ thống môi trường sạch đẹp, gìn giữ bản sắc văn hóa truyền thống, thu hút du lịch và thân thiện với cộng đồng.
Chúng ta cần thiết lập quy chế cụ thể để xây dựng và quản lý dữ liệu môi trường cho các làng nghề, bao gồm quy định về cung cấp, cập nhật, khai thác và bảo trì cơ sở dữ liệu tài nguyên và môi trường quốc gia Cần có quy trình kỹ thuật để xây dựng danh mục cơ sở dữ liệu tài nguyên và môi trường liên quan đến làng nghề, cũng như quy chế cho việc lập, thực hiện, kiểm tra và nghiệm thu sản phẩm trong các dự án ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường Hơn nữa, cần thiết lập quy chế thẩm định và khuyến nghị sử dụng các sản phẩm phần mềm ứng dụng trong ngành tài nguyên và môi trường đối với môi trường làng nghề.
Cần thiết lập quy định cụ thể và thực tế về tiêu chuẩn kỹ thuật cũng như các giải pháp khả thi cho các làng nghề, đặc biệt là những làng gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Các quy chuẩn và tiêu chuẩn môi trường phải được xây dựng riêng cho từng nhóm làng nghề, đồng thời phải phù hợp với công nghệ tiên tiến trên thế giới Hệ thống tiêu chuẩn môi trường quốc gia cho làng nghề cần đồng bộ với các tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế Đặc biệt, các quy chuẩn này phải đáp ứng nhu cầu của cộng đồng dân cư xung quanh, dựa trên tầm quan trọng và tính cấp thiết ở từng giai đoạn phát triển Cuối cùng, quy chuẩn và tiêu chuẩn môi trường cần được cập nhật thường xuyên để đảm bảo tính hiệu quả.
49 Bài viết Thực thi pháp luật tại các làng nghề: Còn nhiều bất cập, Trung Hiếu, Báo Mới,ngày
09/11/2011 hợp với điều kiện kinh tế – xã hội
Việc biên soạn quy chuẩn và tiêu chuẩn môi trường cho làng nghề cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa các cơ quan có thẩm quyền, nhà nghiên cứu và cộng đồng dân cư để đảm bảo tính minh bạch và được chấp nhận rộng rãi Đồng thời, xã hội hóa công tác xây dựng quy chuẩn là rất cần thiết, với sự tham gia tích cực từ các hiệp hội hộ sản xuất tại làng nghề Người lao động và các hộ sản xuất cũng cần đóng vai trò quan trọng trong quá trình này để xây dựng các tiêu chuẩn phù hợp và hiệu quả.
Bảo vệ môi trường (BVMT) và quyền sống trong môi trường trong lành là vấn đề toàn cầu, đòi hỏi sự kết hợp giữa phát huy nội lực và hợp tác quốc tế Các quốc gia cần chủ động tham gia các hoạt động hợp tác quốc tế về BVMT, thực hiện đầy đủ các công ước đã ký kết, và tăng cường chuyển giao công nghệ sản xuất sạch Việc tìm kiếm sự giúp đỡ quốc tế trong BVMT toàn cầu, tham gia các diễn đàn và hoạt động phát triển bền vững là rất quan trọng, đặc biệt trong kiểm soát khí thải, hạn chế ô nhiễm hóa chất và chất thải nguy hại Cần nội luật hóa các quy định của công ước quốc tế, đặc biệt là liên quan đến bồi thường thiệt hại, để cùng nhau ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo tồn Trái đất - ngôi nhà chung của nhân loại.
Ô nhiễm môi trường (ÔNMT) không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe con người mà còn gây tổn thất nghiêm trọng cho hệ sinh thái, văn hóa, xã hội và kinh tế Khi xã hội phát triển, nhu cầu khai thác tài nguyên gia tăng, dẫn đến những thiệt hại đáng kể trong sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và du lịch ÔNMT đất, đặc biệt do việc sử dụng không đúng cách phân bón và thuốc bảo vệ thực vật, đã làm giảm khả năng hấp thụ của cây trồng, gây ra tình trạng tồn dư trong nông sản và thực phẩm, ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe cộng đồng và phát triển kinh tế bền vững.
Ô nhiễm môi trường không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe con người mà còn làm mất kế sinh nhai của người dân sống trong khu vực ô nhiễm Nguồn nước mặt, như sông, hồ, kênh, là yếu tố chính trong sản xuất nông nghiệp, và khi chất lượng nước bị suy giảm, hoạt động canh tác ở nông thôn sẽ bị thiệt hại nghiêm trọng Sản lượng nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nuôi cá bè, đã giảm sút do ô nhiễm nước, dẫn đến nhiều vụ cá chết hàng loạt ở Vũng Tàu, Quảng Ngãi, Đà Nẵng, ảnh hưởng đến thu nhập của hàng trăm hộ dân Hiện tượng cá chết hàng loạt tại vùng biển Vũng Áng đang gây lo ngại, và trách nhiệm có thể thuộc về việc xả thải không qua xử lý của tập đoàn Formosa Vụ việc này đặt ra hai vấn đề cần được xem xét và giải quyết.
Để xử lý ô nhiễm môi trường, cần xác định rõ người và tổ chức chịu trách nhiệm cho hành vi gây tổn thất Ô nhiễm môi trường thường xảy ra do nhiều cá nhân gây ra trong thời gian dài, nên việc quy trách nhiệm cho các cá thể này không phải là điều đơn giản.
Việc xác định trách nhiệm của các cá nhân và tổ chức trong việc đánh giá tổn thất môi trường và con người tại Việt Nam gặp nhiều khó khăn Mặc dù có hơn 30.000 tiến sĩ về môi trường sẵn sàng tham gia, nhưng hiện chưa có quy định cụ thể về đánh giá tổn thất Trên thế giới, nhiều quốc gia đã xây dựng quy định và áp dụng đến 80 phương pháp đánh giá tổn thất Do đó, việc học hỏi và áp dụng những quy định này vào pháp luật Việt Nam là cần thiết và hợp lý.
Để giải quyết và phòng chống các vấn đề liên quan đến môi trường trong tương lai, cần thiết phải thiết lập các quy định rõ ràng về đánh giá tổn thất môi trường và ảnh hưởng đến con người, nhằm bảo vệ toàn diện hơn cho môi trường và quyền con người liên quan đến môi trường.
Hai là, về việc thực thi pháp luật
Để nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ môi trường (BVMT), cần tăng cường giám sát việc phân bổ, quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước dành cho BVMT, đặc biệt là việc thực hiện chi 1% ngân sách nhà nước cho sự nghiệp này Nhiều địa phương vẫn chưa thực hiện đúng quy định này, mặc dù số tiền này là rất nhỏ Do đó, cần có sự đầu tư trọng điểm, không dàn trải và đảm bảo đúng mục đích Đồng thời, cần nghiên cứu và đa dạng hóa nguồn đầu tư cho BVMT thông qua các chính sách phù hợp.
Để phát triển bền vững, cần có chính sách đầu tư phù hợp, bao gồm hỗ trợ vốn, thuế, công nghệ sản xuất và đào tạo nhân lực Cần thiết lập lộ trình đầu tư nâng cấp hạ tầng cho các làng nghề truyền thống và hỗ trợ tài chính cho các hoạt động bảo vệ môi trường Đồng thời, ưu tiên chuyển giao công nghệ tiên tiến và xây dựng vùng nguyên liệu Chính sách vay vốn từ Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam cũng cần được áp dụng để hỗ trợ di dời và xử lý ô nhiễm tại các làng nghề nghiêm trọng.
Thứ ba, nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả công tác giám sát của Quốc hội,
Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội cùng với Đoàn ĐBQH đã thực hiện chính sách và pháp luật bảo vệ môi trường (BVMT) liên quan đến làng nghề Dựa trên những thực tiễn này, cần kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định chưa thống nhất, mâu thuẫn và chồng chéo, nhằm đảm bảo phù hợp với các luật đã ban hành.