NỘI DUNG
1 Bối cảnh 20 năm phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương
1.1 Điều kiện tự nhiên và những biến chuyển kinh tế- xã hội trong 2 năm tại tỉnh Bình Dương
- Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
Bình Dương là một tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, nằm ở miền Đông Nam Bộ Tỉnh này giáp với Đồng Nai ở phía Đông, Bình Phước ở phía Bắc, Tây Ninh và một phần thành phố Hồ Chí Minh ở phía Tây, và thành phố Hồ Chí Minh cùng một phần tỉnh Đồng Nai ở phía Nam.
Bình Dương là tỉnh có diện tích tự nhiên 2.694,44 km2, chiếm khoảng 0,83% tổng diện tích cả nước và 12% diện tích miền Đông Nam Bộ Tỉnh có địa hình tương đối bằng phẳng, được bao quanh bởi hệ thống sông ngòi, và có đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm với hai mùa rõ rệt.
Sự thay đổi cơ cấu hành chính tại Bình Dương đã dẫn đến sự mở rộng không ngừng của dân số đô thị, từ việc tập trung chủ yếu ở Thủ Dầu Một, đến sự phát triển mạnh mẽ ở các huyện phía Nam và lan dần ra phía Bắc trong hơn một thập niên qua Hiện tại, Bình Dương có 09 đơn vị hành chính cấp huyện, bao gồm thành phố Thủ Dầu Một, các thị xã Dĩ An, Thuận An, Bến Cát, Tân Uyên và các huyện Bàu Bàng, Bắc Tân Uyên, Dầu Tiếng, Phú Giáo, với tổng cộng 91 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó có 48 xã và 41 phường.
02 thị trấn) Dân số trung bình năm 2016 của tỉnh là 2.014.493 người; (Nghị quyết số 136/NQ-CP ngày 29/12/2013 của Chính phủ)
Sự mở rộng đô thị tại tỉnh Bình Dương đã dẫn đến sự thu hẹp đáng kể của khu vực nông thôn, với số lượng xã giảm từ 60 vào năm 2011 xuống còn 48 vào năm 2016, tương ứng với việc giảm 12 xã và 288 thôn, tức giảm 20,7% so với năm 2011 Theo Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2016, toàn tỉnh chỉ còn 122,6 ngàn hộ nông thôn và 267,6 ngàn người trong độ tuổi lao động, giảm 17,2% về số hộ và 15,1% về số người.
BỐI CẢNH KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH BÌNH DƯƠNG, ĐỊA BÀN VÀ MẪU NGHIÊN CỨU
Bối cảnh 20 năm phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương
1.1 Điều kiện tự nhiên và những biến chuyển kinh tế- xã hội trong 2 năm tại tỉnh Bình Dương
- Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
Bình Dương là một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, thuộc miền Đông Nam Bộ Tỉnh này giáp với Đồng Nai ở phía Đông, Bình Phước ở phía Bắc, Tây Ninh và một phần thành phố Hồ Chí Minh ở phía Tây, và thành phố Hồ Chí Minh cùng một phần tỉnh Đồng Nai ở phía Nam.
Bình Dương là tỉnh có diện tích tự nhiên 2.694,44 km2, chiếm khoảng 0,83% tổng diện tích cả nước và khoảng 12% diện tích miền Đông Nam Bộ Tỉnh này có địa hình tương đối bằng phẳng, được bao quanh bởi hệ thống sông ngòi, và có đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm với hai mùa rõ rệt.
Bình Dương đang chứng kiến sự thay đổi trong cơ cấu hành chính và sự phân bố dân số đô thị ngày càng mở rộng Trước đây, dân số chủ yếu tập trung ở Thủ Dầu Một, nhưng trong hơn một thập niên qua, nhờ vào quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa, dân số đô thị đã tăng trưởng mạnh mẽ, đặc biệt là tại các huyện phía Nam và dần lan ra các huyện phía Bắc Hiện tại, Bình Dương có 09 đơn vị hành chính cấp huyện, bao gồm thành phố Thủ Dầu Một, các thị xã Dĩ An, Thuận An, Bến Cát, Tân Uyên và các huyện Bàu Bàng, Bắc Tân Uyên, Dầu Tiếng, Phú Giáo, với tổng cộng 91 đơn vị hành chính cấp xã (48 xã và 41 phường).
02 thị trấn) Dân số trung bình năm 2016 của tỉnh là 2.014.493 người; (Nghị quyết số 136/NQ-CP ngày 29/12/2013 của Chính phủ)
Sự mở rộng đô thị tại tỉnh Bình Dương đã dẫn đến sự thu hẹp đáng kể khu vực nông thôn, với số lượng xã giảm từ 60 vào năm 2011 xuống còn 48 vào năm 2016, tương ứng với việc giảm 12 xã và 288 thôn, giảm 75 thôn, tức là giảm 20,7% so với năm 2011 Theo Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp, thủy sản năm 2016, toàn tỉnh ghi nhận 122,6 ngàn hộ nông thôn và 267,6 ngàn người trong độ tuổi lao động, giảm 17,2% về số hộ và 15,1% về số người.
So với kỳ tổng điều tra năm 2011, số lượng lao động đã tăng lên 38%, tuy nhiên, sự phân bố khu vực công nghiệp hóa và đô thị hóa không đồng đều dẫn đến mất cân đối trong cơ cấu dân số nông thôn và đô thị Khu vực phía Nam của tỉnh, với nhiều khu công nghiệp, có dân số đô thị đông và mật độ dân cư cao, trong khi khu vực phía Bắc vẫn thiếu khu công nghiệp, khiến lực lượng lao động trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ chưa phát triển mạnh.
- Sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế
Bình Dương đã thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế - xã hội với mục tiêu trở thành đô thị loại I và thành phố trực thuộc trung ương trước năm 2020 Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2015 và 2016-2020 tập trung nâng cao chất lượng tăng trưởng, mở rộng quy mô nền kinh tế và đảm bảo phát triển bền vững Đặc biệt, tỉnh ưu tiên phát triển dịch vụ và công nghiệp, đồng thời đẩy mạnh đô thị hóa và đầu tư vào nông nghiệp đô thị, nông nghiệp công nghệ cao Các vấn đề xã hội cũng được giải quyết nhằm nâng cao đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần cho người dân, đồng thời đảm bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.
Trong 20 năm phát triển, Bình Dương đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, đặc biệt là trong cơ cấu kinh tế Từ năm 1997 đến 2015, GDP của tỉnh đã chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và xây dựng, dịch vụ, trong khi tỷ trọng nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm mạnh Cụ thể, đến năm 2015, tỷ trọng công nghiệp và xây dựng tăng 9,6%, dịch vụ tăng 10,5%, trong khi khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm 20,1% so với năm 1997.
Biểu đồ 1: Cơ cấu tổng sản phẩm (GDP) trong các ngành kinh tế) năm 1997 và
Nguồn: CTKBD, Bình Dương 2 năm hình thành và phát triển, 2016
Chính quyền tỉnh Bình định hướng phát triển kinh tế thông qua việc kết hợp chặt chẽ giữa công nghiệp và dịch vụ đô thị, nhằm hướng tới sự hiện đại và bền vững Đồng thời, tỉnh cũng chú trọng thực hiện kế hoạch sản xuất sạch hơn trong lĩnh vực công nghiệp để nâng cao hiệu quả kinh tế và bảo vệ môi trường.
Dương giai đoạn 2016-2020 (CTK tỉnh Bình Dương, 2016)
Ngành sản xuất công nghiệp được xác định là động lực thúc đẩy kinh tế tỉnh Bình Dương Từ năm 1997, tỉnh có 06 khu công nghiệp (KCN) với diện tích quy hoạch 800 ha, chủ yếu nằm ở phía Nam Đến năm 2000, số lượng KCN tăng lên 13, trong đó 07 KCN đã được cấp phép và đi vào hoạt động, với tổng diện tích trên 1.500 ha Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2015 đạt 708.244 tỷ đồng, tăng 7,9 lần so với năm 2000 và 129,8 lần so với năm 1997.
1994) của Tỉnh đạt 217.211 tỷ đồng, tăng gần 55 lần so với năm 1997, bình quân giai đoạn 1997-2015 tăng 24,6%/năm, trong khi mức trung bình của cả nước tăng
10,8%) Chỉ riêng dữ liệu năm 1997 các đơn vị sản xuất kinh doanh trong KCN
Việt Hương đạt 96,6 tỷ đồng, năm 2000 đã tăng lên 437,7 tỷ đồng Các đơn vị trong KCN VSIP I từ 15,8 tỷ đồng năm 1997, tăng lên 860,2 tỷ đồng vào năm
Tính đến năm 2000, các khu công nghiệp (KCN) đang được mở rộng và khai thác hiệu quả, đồng thời xây dựng hạ tầng đồng bộ nhằm phát triển hạ tầng đô thị và dịch vụ chất lượng cao.
Năm 2005, trong 13 KCN đi vào hoạt động, một số KCN đã lấp kín trên 90%
Nông, lâm nghiệp và thủy sản
Công nghiệp và xây dựng
Nông, lâm nghiệp và thủy sản Công nghiệp và xây dựng Dịch vụ
Các thành tựu này phản ánh sự nỗ lực không ngừng của tỉnh ủy và chính quyền Bình Dương trong việc điều chỉnh linh hoạt các kế hoạch phát triển kinh tế theo từng giai đoạn.
Năm 1997, năm khởi đầu sau khi tái lập tỉnh, trên địa bàn Bình Dương có 2.869 cơ sở sản xuất công nghiệp, với 22 doanh nghiệp nhà nước, 02 hợp tác xã,
Tính đến cuối năm 2015, tỉnh Bình Dương có 4.470 doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, tăng gấp 11,6 lần so với năm 1997, cùng với 4.887 hộ kinh doanh cá thể, tăng gấp 1,97 lần Chính sách “trải chiếu hoa mời gọi đầu tư” của Bình Dương, với cơ chế quản lý thông thoáng, đã thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của các đơn vị sản xuất công nghiệp qua từng năm Sự phát triển này được thể hiện rõ qua các kế hoạch 5 năm, với 200 doanh nghiệp tư nhân, 98 công ty TNHH và cổ phần, cùng 63 doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và 2.478 hộ cá thể.
Giai đoạn 1997-2000, sản xuất công nghiệp đã trở thành ngành kinh tế chủ chốt của tỉnh, đóng vai trò là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Trong thời gian này, tốc độ tăng trưởng của sản xuất công nghiệp đạt gấp đôi mức trung bình cả nước và vượt trội hơn so với các vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, với mức tăng bình quân đạt 36,4% mỗi năm, trong khi cả nước chỉ tăng 13,1%.
Hồ Chí Minh tăng 13,4%) (CTK tỉnh Bình Dương, 2016)
- Giai đoạn 2001-2005 bình quân tăng 35,6%/năm (gấp đôi TP Hồ Chí Minh với 15,4%) Năm 2005 đạt mức tăng trưởng gấp 4,6 lần năm 2000
- Giai đoạn 2006- 2010, giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 19,7%/năm
Giai đoạn 2011-2015, tỉnh đã triển khai nhiều chính sách ưu đãi và tăng cường tiếp thị đầu tư vào các ngành công nghiệp kỹ thuật cao, nhằm cơ cấu lại ngành công nghiệp theo hướng nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Điều này đã tạo động lực cho sự phát triển đô thị, dịch vụ và thương mại trên địa bàn, đồng thời nâng cao giá trị sản xuất công nghiệp trong giai đoạn này.
Từ năm 2015, Bình Dương đã ghi nhận mức tăng trưởng bình quân 15,7% mỗi năm (CTK Bình Dương, 2016) Trong suốt 10 năm qua, sự đa dạng hóa sản phẩm và nâng cao chất lượng hàng hóa đã trở thành điểm nổi bật trong ngành sản xuất.
- Về cơ cấu ngành nghề ở khu vực nông thôn, kết quả Tổng điều tra NTNNTS 2016 cho thấy qua 5 năm 2011 - 2016 cơ cấu ngành nghề của hộ nông
Tác động xã hội của quá trình đô thị hóa về phương diện phúc lợi xã hội và an
xã hội và an sinh xã hội
1.1 Chính sách an sinh xã hội và phúc lợi xã hội của nhà nước Việt Nam
Thuật ngữ “chính sách xã hội” lần đầu tiên được sử dụng trong Đại hội ĐCSVN lần VI và được cụ thể hóa trong Cương lĩnh năm 1991, đề cập đến các lĩnh vực như kinh tế, giáo dục, y tế và nhà ở Dự thảo “Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020” xác định nhiệm vụ chính là phát triển hệ thống an sinh xã hội đa dạng, mở rộng và hiệu quả, nhằm tạo cơ hội cho người dân tiếp cận các dịch vụ cơ bản và phúc lợi xã hội một cách bình đẳng.
Chủ trương của Đảng và Nhà nước về phúc lợi xã hội ngày càng cụ thể hơn qua các luật như Luật lao động, Luật bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và các chính sách xã hội Quan điểm về phúc lợi xã hội đã thay đổi từ việc chỉ là trách nhiệm của nhà nước sang việc cho phép tổ chức phi Chính phủ và tư nhân tham gia Đối tượng hưởng lợi không chỉ giới hạn ở người có công, người nghèo và người khuyết tật mà đã mở rộng ra toàn bộ công dân, khẳng định quyền lợi được hưởng phúc lợi để đảm bảo cuộc sống Để thực hiện điều này, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 90 NQ-CP ngày 21/8/1997 và Nghị định số 73 NĐ-CP ngày 19/8/1999 nhằm xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa.
Sự chuyển đổi cơ chế quản lý nhà nước theo tinh thần đổi mới và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã đưa Việt Nam vào con đường phát triển và hội nhập toàn cầu Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa cùng với sự hội nhập quốc tế đã tạo ra những thay đổi toàn diện trong mọi lĩnh vực.
Bình Dương đã thực hiện hiệu quả chủ trương xã hội hóa dịch vụ công và phúc lợi xã hội, góp phần thay đổi quan điểm và thực hành về phúc lợi Địa phương này nổi bật trong việc đa dạng hóa các thành phần kinh tế, không chỉ trong sản xuất mà còn trong các lĩnh vực như y tế, giáo dục và dịch vụ khác, giúp người dân tiếp cận tốt hơn các phúc lợi xã hội Đánh giá hiệu quả thực thi chính sách phúc lợi xã hội là yếu tố quan trọng để xác định tác động xã hội của quá trình phát triển đô thị tại Bình Dương.
1.2 Quan điểm về chính sách xã hội, an sinh và phúc lợi xã hội của Đảng ủy và chính quyền Bình Dương
Trong các văn bản và nghị quyết của Tỉnh ủy, UBND, HĐND tỉnh Bình Dương, thuật ngữ "chính sách xã hội" được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm các yếu tố đảm bảo cuộc sống đầy đủ và no ấm cho người dân Chính sách này không chỉ tập trung vào công tác xóa đói giảm nghèo mà còn hỗ trợ những người có công thông qua các chính sách từ nhà nước và cộng đồng.
Khi phân tích nội dung các Nghị quyết về kế hoạch phát triển KT-XH từ
Từ năm 2012 đến 2016, HĐND tỉnh Bình Dương khóa VIII đã nhấn mạnh mục tiêu an sinh xã hội trong nhiều nghị quyết, với nội dung chủ yếu là "Bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao đời sống nhân dân; tăng cường củng cố quốc phòng-an ninh, ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội" Thuật ngữ an sinh xã hội xuất hiện thường xuyên, ngoại trừ nghị quyết số 49/2011/NQ-HĐND8 ban hành ngày 09 tháng 12 năm 2011, trong đó lần đầu tiên đề cập đến phúc lợi xã hội trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương 2012.
Năm 2012, các chính sách phát triển văn hóa xã hội, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, và đảm bảo an sinh phúc lợi xã hội đã được nhấn mạnh Đồng thời, việc cải cách thủ tục hành chính và giữ vững ổn định chính trị cũng được coi là ưu tiên hàng đầu Mặc dù không có định nghĩa rõ ràng về các tiêu chí phát triển xã hội, nhưng những tiêu chí này đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an sinh và phúc lợi xã hội, đồng thời góp phần vào sự phát triển bền vững của tỉnh Bình Dương.
Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh thể hiện quyết tâm của chính quyền trong việc xác định mục tiêu và lập kế hoạch cụ thể Mục tiêu này nhằm đảm bảo mọi người dân trong tỉnh đều được hưởng lợi từ các phúc lợi xã hội.
Các tiêu chí phản ánh chỉ tiêu cần đạt về chính sách xã hội trong các nghị quyết bao gồm: tạo việc làm cho người lao động, tỷ lệ lao động qua đào tạo, tỷ lệ trường công lập đạt chuẩn quốc gia, tỷ lệ hộ nghèo cần xóa bỏ, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng thể cân nặng, số giường bệnh trên vạn dân, và diện tích nhà ở bình quân đầu người Về khía cạnh môi trường, các chỉ tiêu bao gồm tỷ lệ dân cư nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh, tỷ lệ dân cư đô thị sử dụng nước sạch, tỷ lệ cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng được xử lý, tỷ lệ chất thải rắn được thu gom và xử lý, tỷ lệ chất thải rắn y tế được thu gom, tỷ lệ khu công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn, tỷ lệ che phủ cây công nghiệp và cây lâu năm, cùng tỷ lệ hộ dân sử dụng điện.
Thuật ngữ “phát triển văn hóa - xã hội” đề cập đến các chính sách nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân thông qua việc đầu tư vào cơ sở vật chất và dịch vụ Đồng thời, nó cũng bao gồm các chính sách hỗ trợ cho những đối tượng đã cống hiến cho cách mạng và các nhóm dễ bị tổn thương Theo báo cáo Bình Dương 20 năm xây dựng và phát triển, đầu tư cho lĩnh vực văn hóa - xã hội đã tăng lên, chiếm hơn 20% tổng chi ngân sách tỉnh Những lĩnh vực ưu tiên bao gồm các chương trình xóa đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, và bảo trợ cho bệnh nhân nghèo, mang lại kết quả thiết thực và ý nghĩa nhân văn sâu sắc.
Các chính sách xã hội tại tỉnh Bình Dương được xây dựng với các chỉ tiêu cụ thể và kế hoạch thực hiện rõ ràng, không chỉ dựa vào hệ thống quản lý nhà nước mà còn yêu cầu sự tham gia của các tổ chức chính trị - xã hội Điều này nhằm tận dụng các nguồn lực đa dạng để đạt được mục tiêu phát triển Ví dụ, Nghị quyết về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2016, số 36/2015/NQ-HĐND8, được ban hành vào ngày 11 tháng 12 năm 2015, thể hiện cam kết của HĐND tỉnh Bình Dương trong việc thúc đẩy phát triển bền vững.
Nhiệm vụ và giải pháp để thực hiện kế hoạch xã hội bao gồm việc kêu gọi xã hội hóa đầu tư nhằm xây dựng và hoàn thiện hệ thống chợ, siêu thị và trung tâm thương mại.
Để phát triển kinh tế - xã hội tỉnh, cần quy hoạch 54 chợ và sắp xếp lại các điểm chợ tự phát, đồng thời huy động nhiều nguồn lực trong và ngoài nước để đầu tư vào cơ sở hạ tầng, phát triển đô thị và an sinh xã hội Việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội hiệu quả là rất quan trọng, bao gồm chính sách đền ơn đáp nghĩa và chăm sóc các đối tượng có công cách mạng Ngoài ra, cần tiếp tục thực hiện đề án hỗ trợ nhà ở cho người có công và các chương trình mục tiêu về y tế, chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
Các lĩnh vực văn hóa - xã hội thường được nhắc đến trong các báo cáo và văn bản nghị quyết là:
1 An sinh xã hội, giải quyết việc làm và đào tạo nghề
3 Chăm sóc sức khỏe nhân dân
4 Văn hóa, thể thao, du lịch
5 Thông tin, truyền thông- khoa học, công nghệ Nhƣ vậy, các tiêu chí đƣợc nêu trong chính sách xã hội của tỉnh Bình Dương gần giống với nội hàm của khái niệm phúc lợi xã hội, theo nghĩa rộng nhƣng cũng bao hàm cả ý nghĩa về an sinh xã hội nhƣ trong phần khái niệm đã nêu Các tiêu chí thuộc nội hàm của khái niệm phúc lợi xã hội bao gồm các lĩnh vực nhƣ: giáo dục, y tế, nhà ở, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, các chính sách trợ giúp xã hội (hỗ trợ những tầng lớp nghèo và khó khăn ) và các chính sách cứu trợ xã hội (cứu trợ thiên tai, dịch bệnh )
1.3 Sự thụ hưởng thành quả của việc thực thi các chính sách về phúc lợi xã hội và an sinh xã hội của cư dân tỉnh Bình Dương
Trong những năm qua, tỉnh Bình Dương đã chú trọng đầu tư cho lĩnh vực văn hóa - xã hội, với 20% tổng chi ngân sách hàng năm được phân bổ cho các chương trình quan trọng như xóa đói, giảm nghèo, và chăm sóc Mẹ Việt Nam Anh hùng Các chính sách này bao gồm xây dựng nhà tình nghĩa, hỗ trợ bệnh nhân nghèo và chăm lo đời sống cho công nhân Đặc biệt, chương trình xây dựng nhà ở xã hội đã giúp người có thu nhập thấp và công nhân sở hữu nhà ở, tạo điều kiện cho họ an cư lạc nghiệp.
55 tới giáo dục và đào tạo và y tế, chăm sóc sức khỏe cho người dân đã thu được nhiều kết quả tốt đẹp
Tác động xã hội về mức sống và chất lượng sống của cư dân Bình Dương
còn được giao thêm nhiệm vụ thực hiện việc đảm bảo bảo hiểm y tế cho người dân
Mặc dù chủ trương bảo hiểm xã hội cho người lao động đã được đề ra, nhưng thực tế cho thấy nhiều vấn đề trong việc thực hiện, đặc biệt là việc một số doanh nghiệp cố tình trốn tránh nghĩa vụ này Nghiên cứu của Nguyễn Đức Lộc (2015) chỉ ra rằng trong số 762 người lao động nhập cư được khảo sát, chỉ có 609 người (80,2%) được doanh nghiệp đóng bảo hiểm, tức là còn 133 người (19,8%) không được tham gia Tỷ lệ đóng bảo hiểm cao nhất thuộc về doanh nghiệp liên doanh (93,1%), tiếp theo là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (85,9%) và doanh nghiệp Nhà nước (80,6%), trong khi doanh nghiệp tư nhân có tỷ lệ không được đóng bảo hiểm cao nhất (47,1%) Nguyên nhân chủ yếu do không ký hợp đồng lao động (27%) và chủ doanh nghiệp không chịu đóng bảo hiểm (22,9%) (Nguyễn Đức Lộc, 2015).
Mặc dù chính quyền đã nỗ lực thực hiện bảo hiểm xã hội cho người dân, nhưng các nhóm dân cư vẫn có sự khác biệt về mức sống và cơ hội Do đó, các chính sách cần được quy định cụ thể hơn cho từng nhóm đối tượng, đặc biệt là các nhóm dễ bị tổn thương Hơn nữa, việc kiểm tra và giám sát quá trình thực hiện cần được chú trọng hơn từ phía các nhà quản lý và hệ thống thực thi.
2 Tác động xã hội về mức sống và chất lƣợng sống của cƣ dân Bình Dương
2.1 Sự thay đổi về mức sống dân cư
Bình Dương là tỉnh có mức sống cao hơn cả nước và khu vực Nam Bộ, với thu nhập bình quân đầu người/tháng ngày càng tăng Theo Niên giám thống kê tỉnh Bình Dương năm 2006, thu nhập trung bình của người dân đã tăng từ 2.698.000đ vào năm 2010 lên 3.568.000đ vào năm 2012.
65 cao hơn nữa ở năm 2014 là 3.768.000đ Đến năm 2016 con số này đã tăng lên mức 5.306.000đ
Mức thu nhập bình quân đầu người của các hộ gia đình tại tỉnh Bình Dương đã tăng lên theo thời gian, phản ánh sự phát triển kinh tế đáng tự hào Tuy nhiên, khoảng cách thu nhập giữa các nhóm dân cư nông thôn và thành thị vẫn còn lớn, cho thấy sự chênh lệch rõ rệt Mặc dù mức thu nhập trung bình toàn tỉnh cao, nhưng khoảng cách thu nhập giữa người dân nông thôn và đô thị ngày càng gia tăng.
Từ năm 2010 đến 2016, thu nhập ở đô thị và nông thôn có sự chênh lệch rõ rệt Năm 2010, thu nhập trung bình ở đô thị là 2.896.000đ, trong khi ở nông thôn là 2.773.000đ, với khoảng cách 123.000đ Đến năm 2012, mức chênh lệch giảm xuống còn 19.000đ, nhưng đến năm 2014 và 2016, tình hình đã thay đổi đáng kể, với mức chênh lệch tăng lên gần hai triệu đồng (1.906.000đ) vào năm 2014 và 1.706.000đ vào năm 2016 Sự tăng trưởng này cho thấy người dân đô thị được hưởng lợi nhiều hơn từ chính sách phát triển công nghiệp - dịch vụ của tỉnh Tuy nhiên, nhờ chủ trương chuyển đổi cơ cấu kinh tế tập trung vào phát triển nông thôn, thu nhập của hộ nông thôn cũng tăng lên, làm cho mức chênh lệch năm 2016 trở nên mạnh hơn so với hai năm trước.
Theo số liệu năm 2016, thu nhập bình quân đầu người/tháng của nhóm cao nhất đạt 13.171.000đ, trong khi nhóm thấp nhất chỉ có 5.306.000đ Điều này cho thấy sự chênh lệch thu nhập giữa nhóm hộ nghèo nhất và nhóm giàu nhất là rất lớn.
2010 2012 2014 2016 tổng số Thành thị NÔng thôn
Biểu đồ 11: Thu nhập bình quân đầu người/tháng của các hộ tại Bình Dương
Nguồn: NGTK tỉnh Bình Dương, 2017
Sự gia tăng thu nhập tại Bình Dương đã tạo ra sự phân hóa giàu nghèo rõ rệt giữa cư dân đô thị và nông thôn Dữ liệu thống kê cho thấy, với tốc độ phát triển công nghiệp và đô thị hóa nhanh chóng, khoảng cách giàu nghèo ngày càng gia tăng Cụ thể, năm 2004, chỉ số phân hóa này là 6 lần, tăng lên 7,15 lần vào năm 2010, và duy trì ở mức 6,95 lần vào năm 2012, cũng như 6,98 lần từ năm 2014 đến 2016.
Biểu đồ 12: Thu nhập bìnnh quân đầu người của các hộ trong tỉnh Bình Dương tính theo 5 nhóm thu nhập
Nguồn: NGTK tỉnh Bình Dương 2016
2.2 An sinh xã hội trong lĩnh vực giảm nghèo
Tỉnh Bình Dương không chỉ nâng cao mức sống cho người dân mà còn dẫn đầu trong nỗ lực xóa nghèo theo tiêu chuẩn quốc gia.
Nhóm 1 Nhóm 2 Nhóm 3 Nhóm 4 Nhóm 5
Từ năm 2010, Bình Dương đã không còn hộ nghèo theo tiêu chí Trung ương, đồng thời là một trong những tỉnh đi đầu trong việc nâng mức chuẩn nghèo cao hơn so với quy định của Chính phủ.
Trong giai đoạn 1997-2000, tỉnh Bình Dương đã xác định ngưỡng nghèo với mức thu nhập là 150.000 đồng/người/tháng ở thành thị và 135.000 đồng/người/tháng ở nông thôn Nhờ các chính sách phát triển kinh tế, tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh đã giảm mạnh từ 12,2% vào năm 1997 xuống chỉ còn 2,8% vào năm 2000.
Giai đoạn 2001-2003, ngưỡng nghèo đã được nâng cao, với mức 180.000 đồng/người/tháng ở thành phố và 150.000 đồng/người/tháng ở nông thôn Tỷ lệ hộ nghèo năm 2001 là 3,5%, nhưng đến năm 2003, tỷ lệ này đã giảm đáng kể, chỉ còn 0,9%.
- Còn giai đoạn 2004-2005 (thành thị: 250.000 đồng/người/tháng - nông thôn: 200.000 đồng/người/tháng), từ 1,6% năm 2004, giảm còn 0,56% năm 2005
- Đến giai đoạn 2006-2008 (thành thị: dưới 500.000 đồng/người/tháng - nông thôn: dưới 400.000 đồng/người/tháng), từ 3,26% năm 2006 giảm còn 0,99% năm 2008
Trong giai đoạn 2009-2010, tỷ lệ hộ nghèo tại thành phố giảm từ 3,54% xuống dưới 1,5%, với mức chuẩn nghèo là dưới 780.000 đồng/người/tháng, trong khi ở nông thôn là dưới 600.000 đồng/người/tháng Tiếp theo, từ 2014-2015, chuẩn nghèo mới được áp dụng với mức 1.100.000 đồng/người/tháng cho thành phố và 1.000.000 đồng/người/tháng cho nông thôn, dẫn đến tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 2,58% năm 2011 xuống còn 0,5% năm 2015.
- Từ 2016, Bình Dương đã áp dụng chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2016-
Năm 2020, chuẩn nghèo về thu nhập được xác định là 1.200.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 1.400.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị; chuẩn cận nghèo là 1.600.000 đồng/người/tháng ở nông thôn và 1.000.000 đồng/người/tháng ở thành thị Theo khảo sát năm 2016 của Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh, tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chí của tỉnh chỉ còn 1,32%, trong khi tỷ lệ hộ cận nghèo là 0,97% (CTK Bình Dương, 2016).
Theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam, ngưỡng nghèo được xác định qua các thời kỳ Từ năm 2000 đến 2006, hộ gia đình ở nông thôn miền núi, hải đảo có thu nhập dưới 80.000 đồng/người/tháng; ở nông thôn đồng bằng dưới 100.000 đồng/người/tháng; và ở thành phố dưới 150.000 đồng/người/tháng.
- 2006-2010: hộ ở nông thôn có mức thu nhập dưới 400.000đ/người/tháng; Khu vực thành thị: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/người/tháng
- 2011-2015: hộ ở nông thôn có mức thu nhập dưới 400.000đ/người/tháng; hộ ở thành thị có mức thu nhập dưới 500.000đ/người/tháng (MOLISA, 2010)
Chi tiêu là một tiêu chí quan trọng để đánh giá mức sống của dân cư Kết quả khảo sát cho thấy, so với 10 năm trước, cuộc sống của các hộ gia đình đã cải thiện đáng kể Cụ thể, tỷ lệ hộ gia đình đủ chi tiêu đã tăng từ 71,3% lên 87,8%, trong khi số hộ không đủ chi tiêu giảm từ 28,8% xuống còn 12,2%.
Biểu đồ 13: Tỷ lệ hộ đủ chi tiêu ở thời điểm hiện tại và 10 năm trước
Nguồn: Kết quả khảo sát của đề tài
Tác động xã hội về cơ cấu việc làm và nội dung lao động
Sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế - xã hội tại Bình Dương nhằm xây dựng thành phố này trở thành đô thị loại I, trực thuộc trung ương trước năm 2020 Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2011-2015 và 2016-2020 tập trung vào việc nâng cao chất lượng tăng trưởng, góp phần vào sự phát triển bền vững của địa phương.
Tỷ lệ hộ đủ chi tiêu 10 năm trước so với hiện nay (%)
Tỉnh Bình Dương đã đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế bền vững và hợp lý, ưu tiên phát triển dịch vụ và công nghiệp trong bối cảnh đô thị hóa Giai đoạn 2016-2020, chính quyền tỉnh tập trung phát triển công nghiệp gắn liền với dịch vụ đô thị hiện đại, đồng thời thực hiện kế hoạch sản xuất sạch hơn trong ngành công nghiệp Việc đầu tư vào nông nghiệp đô thị và công nghệ cao cũng được chú trọng nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Từ năm 2010, tỉnh đã triển khai nhiều chính sách ưu đãi nhằm thu hút đầu tư vào các ngành công nghiệp kỹ thuật cao, qua đó nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Khu vực nông thôn chứng kiến sự chuyển dịch tích cực trong cơ cấu ngành nghề, với tỷ trọng nhóm hộ công nghiệp xây dựng và dịch vụ gia tăng, trong khi tỷ trọng nhóm hộ nông lâm thủy sản giảm Cơ cấu trồng trọt và chăn nuôi cũng chuyển dịch theo hướng tăng cường sản phẩm có năng suất và giá trị xuất khẩu Đặc biệt, ngành nông nghiệp đang chuyển mình hướng tới phát triển nông nghiệp đô thị và nông nghiệp kỹ thuật cao gắn với công nghiệp chế biến Các lĩnh vực xây dựng, thương mại, dịch vụ, xuất nhập khẩu và du lịch cũng phát triển mạnh mẽ Chính sách chuyển đổi cơ cấu ngành công nghiệp theo hướng "sạch, không gây ô nhiễm môi trường" đã thu hút lao động có trình độ chuyên môn cao, làm thay đổi đáng kể cơ cấu việc làm của người dân địa phương.
Theo khảo sát, cơ cấu việc làm của người dân Bình Dương phản ánh đúng cơ cấu ngành nghề của tỉnh, với nhóm thương mại – dịch vụ chiếm tỷ lệ cao nhất (28,8% buôn bán và 10,6% dịch vụ) Khoảng 20% người tham gia khảo sát là công nhân trong các doanh nghiệp trong và ngoài nước, trong khi tỷ lệ người làm nông nghiệp chỉ chiếm 5,6%, phù hợp với chủ trương giảm tỷ lệ nông nghiệp Ngoài ra, nhóm làm nội trợ (7,5%) và nhóm đã nghỉ hưu (3,1%) cũng chiếm khoảng 10% trong mẫu khảo sát, cho thấy sự chuyển dịch lao động trong bối cảnh phát triển các khu công nghiệp và đô thị.
Trong nghiên cứu, 5,6% người tham gia là công chức, cho thấy sự gia tăng trong hệ thống hành chính Tỉnh này cũng thu hút nhiều lao động nhập cư, dẫn đến 9,4% người lao động tự do Đồng thời, với chủ trương đa dạng hóa ngành nghề và hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ, 2,5% người dân đã trở thành chủ doanh nghiệp và cơ sở sản xuất.
Kết quả phân tích cơ cấu việc làm của người lao động cho thấy sự chuyển dịch rõ rệt trong cơ cấu ngành sản xuất của tỉnh, với tỷ lệ ngành nông nghiệp giảm dần, trong khi sản xuất công nghiệp và lĩnh vực dịch vụ đang phát triển mạnh mẽ.
Biểu đồ 14: Việc làm chính hiện nay của người dân
Nguồn: Kết quả khảo sát của đề tài
Theo khảo sát, tỷ lệ người tham gia vào các công việc không có tay nghề chiếm 45,9%, trong khi đó, lao động tay nghề thấp cũng chiếm tới 30,3% Những người này thường làm trong lĩnh vực buôn bán, nông nghiệp và lao động tự do Ngược lại, nhóm lao động có tay nghề cao chủ yếu là công chức, chủ doanh nghiệp hoặc tại các cơ sở sản xuất, nhưng chỉ chiếm 20% tổng số mẫu khảo sát.
Cong nhan Nhan vien (Van phong, CS dich vu )
Buon ban Nong nghiep Chu doanh nghiep/Co so KD, san xuat
Nghi Huu Dang di hoc Lao dong tu do That nghiep Cong Chuc Noi tro
Nghề nghiệp người làm chính
Biểu đồ 15: Trình độ tay nghề
Nguồn: Kết quả khảo sát của đề tài
Chính quyền tỉnh Bình Dương hiện đang triển khai nhiều chính sách nhằm thu hút nhân lực có trình độ chuyên môn cao Ngoài ra, tỉnh còn khuyến khích người dân tham gia các trường đào tạo nghề, cao đẳng và đại học Nhiều sinh viên sau khi tốt nghiệp được ưu tiên tuyển dụng vào hệ thống hành chính và các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Trong phân tích về loại hình cơ sở làm việc, hai nhóm chính nổi bật: nhóm đầu tiên là những người làm việc cho gia đình, chiếm 46,3%, và nhóm thứ hai là những người làm việc cho doanh nghiệp, chiếm 34,1% Trong số này, đa số là nhân viên của doanh nghiệp Việt Nam, với 9,4% làm việc cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và 4,1% làm việc tại các doanh nghiệp nước ngoài Ngoài ra, có 8,8% người thuộc hệ thống hành chính, bao gồm quản lý nhà nước, và 1,3% làm việc cho các cơ quan Đảng và tổ chức chính trị-xã hội.
Tỷ lệ Đào tạo tay nghề (%)
Phai co tay nghe cao Chi can biet chut it Khong can tay nghe
Biểu đồ 16: Loại hình cơ sở làm việc của người trả lời
Nguồn: Kết quả khảo sát của đề tài
Theo khảo sát, 78,8% người lao động làm việc tại khu vực đô thị nơi họ sinh sống, chủ yếu ở thành phố Thủ Dầu Một và các thị xã Dĩ An, Thuận An, Tân Uyên Chỉ có 2,8% làm việc tại khu vực đô thị nhưng không phải nơi cư trú Khoảng 15% người làm việc ở khu vực nông thôn của tỉnh Bình Dương, trong khi 2,5% làm việc ở tỉnh khác và một nhóm nhỏ, chiếm 0,9%, là lao động tự do không cố định.
Biểu đồ 17: Địa bàn làm việc của người trả lời
Nguồn: Kết quả khảo sát của đề tài
Co quan quan ly NN
Co quan Dang, Doan the, Hiep hoi
DN co von dau tu nuoc ngoai
Tu lam, lam cho gia dinh
Tai TP.TDM/Thi xa dang o
Tai TP.TDM/Thi xa khong thuoc
BD khong phai noi dang o
O xa, huyen thuoc tinh BD
Tai tinh khac Khong co dinh Địa bàn làm việc (%)
Người lao động tại Bình Dương có thu nhập bình quân tháng khá khác biệt, với 59,7% thuộc nhóm thu nhập thấp nhất (dưới 5 triệu đồng) Nhóm có thu nhập từ 5 triệu đến 10 triệu đồng chiếm 30,9%, trong khi nhóm thu nhập từ 10-15 triệu đồng chỉ chiếm 4,1% và nhóm từ 15 triệu đồng trở lên chiếm 5% So với các tỉnh khác, thu nhập của người lao động Bình Dương cao hơn nhiều.
Bảng 8: Thu nhập trung bình của người trả lời
Không có thu nhập cố định 1 0.3
Nguồn: Kết quả khảo sát của đề tài
Sự động tới các sinh hoạt vật chất trong đời sống hàng ngày
4.1 Nhà ở và đồ dùng lâu bền
Quá trình đô thị hóa tại Bình Dương diễn ra nhanh chóng, đặc biệt trong 10 năm qua, với sự gia tăng đáng kể trong việc xây dựng và nâng cấp nhà ở cho người dân Khảo sát cho thấy, chỉ trong vòng một thập kỷ, cơ hội dân cư đã có những biến chuyển rõ rệt.
Từ năm 2007 đến 2017, thị trường nhà ở tại Việt Nam đã chứng kiến sự chuyển mình mạnh mẽ, với sự thay đổi rõ rệt về các loại hình nhà ở Năm 2007, nhà hai gian ba chái là loại hình phổ biến nhất, nhưng đến năm 2017, nhà ống và nhà mái bằng đã chiếm ưu thế Tại Bình Dương, nhà biệt thự cũng đã xuất hiện như một loại hình mới Các loại nhà truyền thống như nhà chữ nhị và nhà mái xuôi gần như không còn tồn tại, trong khi nhà ba gian hai chái và nhà chữ đinh giảm mạnh từ 36,9% xuống còn 2,5% và từ 6,6% xuống còn 1,3% trong cơ cấu loại hình nhà ở Ngược lại, nhà ống, đặc trưng của đô thị Việt Nam, đã tăng từ 10% lên 37,8%, và nhà mái bằng cũng được ưa chuộng hơn, từ 17,8% đến thời điểm khảo sát.
74 sát đã tăng lên 36,3% Đặc biệt, loại hình nhà villa- biệt thự sau 10 năm đã tăng từ 0,6% lên 11,9% (xem biểu đồ 18)
Biểu đồ 18: Nhà ở của cƣ dân năm 2007 và năm 2017
Nguồn: Kết quả khảo sát của đề tài
Theo dữ liệu từ biểu đồ 19, khi được hỏi về loại nhà dự kiến lựa chọn trong tương lai, đa số người tham gia khảo sát chọn nhà ống, trong khi nhà villa đứng thứ hai với tỷ lệ thấp hơn Điều này cho thấy nhà ống sẽ trở thành lựa chọn phổ biến hơn so với các loại hình nhà ở khác Tuy nhiên, nhà villa cũng có triển vọng gia tăng sự phổ biến khi mức sống của người dân ngày càng được cải thiện.
Quá trình đô thị hóa ở Bình Dương đang tác động mạnh mẽ đến mô hình nhà ở của người dân, khiến các loại nhà truyền thống như nhà chữ đinh, nhà chữ nhị và nhà ba gian hai chái ngày càng trở nên hiếm hoi Thay vào đó, nhà ống và nhà mái bằng đang trở thành lựa chọn phổ biến Đối với các gia đình khá giả, nhà villa đang được ưu tiên hơn cả Dự báo trong tương lai, nhà ống sẽ tiếp tục được ưa chuộng hơn so với các loại hình nhà ở khác, trong khi nhà villa sẽ là lựa chọn hàng đầu cho những người có điều kiện tài chính tốt.
Nha ba gian hai chai
Nha ong Nha mai bang Biet thu Khac
Biểu đồ 19: Kiểu nhà dự kiến sẽ sở hữu nếu có điều kiện
Nguồn: Kết quả khảo sát của đề tài
- Sở hữu đồ dùng lâu bền
Sự phát triển kinh tế tại Bình Dương đã nâng cao đời sống cư dân, thể hiện qua diện tích và loại hình nhà ở cũng như việc sở hữu đồ dùng lâu bền cho sinh hoạt hàng ngày Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng thiết bị có giá trị cao ngày càng gia tăng, phản ánh nhu cầu ngày càng lớn của người dân Thống kê cấp tỉnh cho thấy sự thay đổi rõ rệt từ năm 2004 đến 2016.
Tính đến năm 2016, tỷ lệ hộ gia đình sở hữu tủ lạnh đạt 61,3%, gấp đôi so với năm 2004 là 30,35% Xu hướng sử dụng máy giặt ngày càng gia tăng, với 35,56% hộ gia đình có máy giặt vào năm 2016, so với chỉ 10,7% vào năm 2004 Số lượng hộ sở hữu máy vi tính cũng tăng mạnh, đạt 21,23% so với 9,3% năm 2004 Bên cạnh đó, tỷ lệ hộ gia đình sử dụng bình tắm nóng cũng gia tăng từ 2,8% năm 2004 lên 12,5% năm 2016 Đáng chú ý, các thiết bị sinh hoạt được khảo sát đều có chất lượng tốt, với nhiều gia đình sở hữu tivi màn hình phẳng, máy lạnh và tủ lạnh mới sản xuất.
Nha ba gian hai chai
Nha ong Nha mai bang
Biet thu Cap 4 Nha mai
Bảng 9: Sự sở hữu đồ dùng lâu bền của các hộ dân tỉnh Bình Dương
Máy vi tính 9,30 16,67 22,28 14,59 20,79 21,23 26,33 Máy giặt, sấy 10,70 23,51 30,53 24,18 35,59 36,56 18,19
Nguồn: NGTK tỉnh Bình Dương 2016
Bình Dương là tỉnh dẫn đầu trong việc cung cấp điện và nước cho cư dân, với 100% hộ dân sử dụng điện, kể cả ở nông thôn Tỷ lệ hộ có nước sạch đã tăng từ 90,67% năm 2010 lên 98,2% năm 2016, cho thấy sự cải thiện đáng kể trong điều kiện sinh hoạt Bên cạnh đó, tỷ lệ hộ sử dụng hố xí hợp vệ sinh cũng tăng từ 95,8% năm 2010 lên 98,3% năm 2016, phản ánh sự tiến bộ trong vệ sinh môi trường.
Bảng 10: Tỷ lệ hộ sử dụng điện, nước sinh hoạt và hố xí hợp vệ sinh
Tỷ lệ hộ dùng điện cho sinh hoạt 100% 100% 100% 100%
Tỷ lệ hộ dùng nước cho sinh hoạt
Tỷ lệ hộ dùng hố xí hợp vệ sinh 95,83 97,26 97,54 98,31
Nguồn: NGTK tỉnh bình Dương 2016, số 265
Các chỉ số này là rất cao so với toàn quốc nói chung và các tỉnh vùng Nam
Bộ, nói riêng Hầu hết các hộ gia đình ở Bình Dương đều có đủ điện và nước sạch phục vụ sinh hoạt
4.2 Cơ cấu chi tiêu cho sinh hoạt hàng ngày
Phân tích cơ cấu chi tiêu cho lương thực và thực phẩm giúp đánh giá mức sống và chất lượng cuộc sống của người dân, đồng thời phản ánh sự thay đổi trong dinh dưỡng và văn hóa ẩm thực Dữ liệu từ Niên giám thống kê cung cấp cái nhìn sâu sắc về vấn đề này.
Bảng số liệu 77 của tỉnh Bình Dương năm 2016 cho thấy sự khác biệt rõ rệt trong chi tiêu cho một số mặt hàng thiết yếu phục vụ sinh hoạt trong khoảng thời gian 6 năm, từ 2010 đến 2016.
Người Việt Nam có thói quen tiêu thụ nhiều lương thực, với gạo là nguồn chính Tuy nhiên, theo thống kê, người dân Bình Dương đang dần đa dạng hóa bữa ăn hàng ngày Số lượng gạo tiêu thụ trung bình đã giảm từ 7,09 kg xuống 6,81 kg mỗi tháng, trong khi các loại lương thực khác như bún, miến, mì và bánh từ bột lại tăng lên, từ 0,91 kg vào năm 2010 lên 1,13 kg vào năm 2016.
Xu hướng đa dạng hóa thực phẩm tại Bình Dương ngày càng trở nên phổ biến, với sự giảm tiêu thụ thịt từ 1,84 kg/người/tháng năm 2010 xuống còn 1,72 kg/người/tháng vào năm 2016 Thay vào đó, người dân đang tăng cường tiêu dùng các loại thực phẩm như tôm, cá, trứng gia cầm, đậu phụ và các loại đậu Nhiều gia đình thực hiện ăn chay ít nhất hai ngày mỗi tháng vì lý do tâm linh và sức khỏe Tuy nhiên, mức tiêu thụ rau của người Bình Dương lại giảm từ 1,47 kg/người/tháng vào năm 2010 xuống còn 1,30 kg vào năm 2016, mặc dù có sự gia tăng tạm thời trong các năm trước đó.
Cơ cấu tiêu dùng lương thực-thực phẩm hiện nay đang chứng kiến xu hướng đa dạng hóa, với sự gia tăng trong việc lựa chọn các loại lương thực và thực phẩm, khác biệt so với thói quen tiêu dùng truyền thống vốn chỉ tập trung vào gạo và thịt.
Bảng 11: Mức tiêu dùng một số mặt hàng thiết yếu (bình quân đầu người/tháng) Đơn vị tính
Các lương thực khác Kg 0,91 0,78 0,89 1,13
Trứng gia cầm Quả 4,18 3,62 4,15 4,23 Đậu phụ Kg 0,27 0,34 0,24 0,32
Nước mắm, nước chấm Lít 0,31 0,25 0,24 0,37
Nước uống khác Lít 1,29 2,76 2,79 4,98 Đậu các loại Kg 0,02 0,02 0,12 0,50
Nguồn: NGTK tỉnh Bình Dương 2016, mục 263, trang 373
Nước uống và trái cây là hai mặt hàng thiết yếu của người dân Bình Dương Tiêu thụ trái cây ngày càng gia tăng, từ 0,68 kg/người/tháng vào năm 2010, con số này đã tăng gần gấp đôi lên 1,14 kg/người/tháng sau 6 năm.
Sự gia tăng mức tiêu thụ trái cây là một chỉ báo tích cực, tuy nhiên, tiêu thụ nước uống lại có xu hướng đáng lo ngại Từ năm 2010 đến nay, mức tiêu thụ rượu bia trung bình của mỗi người trong một tháng đã tăng từ 0,69 lít lên 1,25 lít Bên cạnh đó, các loại nước giải khát công nghiệp cũng ghi nhận sự gia tăng đáng kể theo thời gian.
2010 đến 2016 là: 1,29 lít; 2,76 lít; 2,79 lít và 4,98 lít)
Sự phát triển kinh tế tại tỉnh Bình Dương đã cải thiện mức sống của người dân, dẫn đến sự gia tăng tiêu thụ bia rượu và các loại nước uống công nghiệp Dữ liệu từ Niên giám thống kê năm 2016 cho thấy, hộ gia đình có thu nhập bình quân cao tiêu thụ rượu bia gấp 4,56 lần và nước giải khát khác gấp 5,2 lần so với nhóm thu nhập thấp nhất Xu hướng tiêu thụ này đặc trưng cho lối sống đô thị và đang lan rộng đến khu vực nông thôn Nhiều nghiên cứu chỉ ra mối liên hệ giữa việc tiêu thụ rượu bia và sức khỏe cư dân, cũng như các vấn đề an toàn giao thông mà xã hội đang phải đối mặt.
Bảng 12: Mức tiêu thụ rượu bia và các loại nước uống khác tính theo các nhóm thu nhập Đơn vị
Chênh lệch giữa nhóm cao nhất và nhóm thấp nhất Trà, cà phê kg 0,11 0,09 0,19 0,12 0,18 1,09 lần
Các loại nước uống khác lít 1,65 4,24 3,96 7,01 8,62 5,2 lần
Nguồn: NGTK Bình Dương 2016, mục 263, trang 373
Sự tác động xã hội đến các hình thức sinh hoạt văn hóa- tinh thần
- Sự tham gia các hoạt động văn hóa tinh thần của cư dân Bình Dương
Hoạt động văn hóa tinh thần là một phần quan trọng trong lối sống của người dân, thường diễn ra sau giờ làm việc Nghiên cứu cho thấy sự khác biệt trong tham gia các hoạt động giải trí giữa nhóm người có hộ khẩu thường trú và nhóm người có hộ khẩu tạm trú, đặc biệt tại Bình Dương, nơi thu hút nhiều người nhập cư Điều kiện sống và sinh hoạt của hai nhóm này khác nhau, ảnh hưởng đến sự tham gia của họ vào các hoạt động giải trí Dữ liệu đã được xử lý theo hai phân tổ để chỉ ra sự khác biệt trong hoạt động giải trí của người tại chỗ và người nhập cư.
- Sự khác biệt trong các dạng hoạt động giải trí của nhóm người tại chỗ và nhóm người nhập cư
Kết quả nghiên cứu cho thấy cư dân tại chỗ có xu hướng đọc báo thường xuyên hơn so với người nhập cư (25,1% so với 18,1%), đồng thời tỷ lệ không bao giờ đọc báo của nhóm tại chỗ cũng thấp hơn (55,5% so với 58,7%) Cả hai nhóm đều thường xuyên xem tivi, nhưng nhóm tại chỗ có tỷ lệ xem tivi cao hơn (65,5% so với 55,8%) Ngược lại, nhóm nhập cư lại sử dụng internet nhiều hơn (50% so với 35,7%), điều này có thể do họ phải làm việc tăng ca và cần duy trì liên lạc với gia đình ở quê nhà Hơn nữa, nhóm nhập cư thường là những người trẻ tuổi, dẫn đến việc họ sử dụng điện thoại thông minh nhiều hơn để tận dụng các tiện ích khác.
Hoạt động ngoài trời như đi công viên và du lịch không được ưu tiên tại Bình Dương, với tỷ lệ tham gia thấp ở cả hai nhóm Nhóm người nhập cư có tỷ lệ không bao giờ tham gia thấp hơn (72% so với 78%) và tỷ lệ đi du lịch cao hơn (5,8% so với 2,3%), chủ yếu nhờ vào các chuyến tham quan do xí nghiệp tổ chức Ngược lại, việc đi nhậu và uống cà phê lại phổ biến hơn ở nhóm tạm trú (9,4% và 6,4%) Tương tự, hoạt động thể thao cũng được thực hiện nhiều hơn ở nhóm tạm trú, với tỷ lệ không bao giờ tham gia là 34,1% so với 24,6% ở nhóm thường trú.
Nhóm thường trú thể hiện mối quan hệ giao tiếp với hàng xóm tốt hơn so với nhóm tạm trú, với tỷ lệ thăm hỏi thường xuyên là 19,3% và không thường xuyên là 48%, trong khi nhóm tạm trú chỉ có 17,4% và 44,2% Cả hai nhóm đều có tỷ lệ thăm viếng bạn bè và người thân không cao, nhưng nhóm tạm trú có tỷ lệ thăm hỏi thường xuyên cao hơn một chút (8,7% so với 7%) Tuy nhiên, nhóm tạm trú lại có tỷ lệ người không bao giờ thăm hỏi cao hơn (44,2%) so với nhóm thường trú (50,9%) Nghiên cứu cho thấy mối quan hệ xóm giềng của người nhập cư thường không gắn bó chặt chẽ.
83 giành nhiều thời gian cho việc kiếm tiền, tăng thu nhập Việc thăm viếng người thân chủ yếu là những người đồng hương và bạn bè, đồng nghiệp
- Sự thay đổi các hoạt động giải trí so với mười năm trước của nhóm người tại chỗ và nhóm người nhập cư
Việc so sánh sự tham gia vào các hoạt động giải trí của các nhóm người giúp xác định sự thay đổi mức độ tham gia theo thời gian, với giả định rằng đô thị hóa ảnh hưởng đến nếp sống văn hóa và tinh thần của cộng đồng Kết quả thu được chỉ mang tính tương đối, vì sự thay đổi trong hoạt động của con người còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác Đặc biệt, đối với nhóm nhập cư, nhiều người không chỉ thay đổi về thời gian mà còn về không gian sống do di chuyển địa phương và hoàn cảnh sống trong vòng 10 năm qua.
Dữ liệu định lượng từ bảng 13 cho thấy nhóm người có hộ khẩu thường trú tại Bình Dương không trải qua nhiều thay đổi về không gian sống, chủ yếu là sự biến đổi trong điều kiện sống gia đình và các yếu tố cá nhân So với 10 năm trước, hoạt động giải trí thể chất và tinh thần của họ đã có sự thay đổi rõ rệt, với việc đọc báo tăng từ 19,9% lên 25,1%, xem tivi/video từ 56% lên 65%, và sử dụng internet từ 7% lên 35,7% Sự gia tăng sử dụng internet chủ yếu nhờ vào sự phổ biến của các hình thức giải trí trực tuyến và cải thiện hạ tầng truyền thông Tuy nhiên, hoạt động ngoài trời như đi công viên hay thể thao chỉ tăng nhẹ, với tỷ lệ đi dạo trong công viên hiện tại là 3,5% so với 2,3% cách đây 10 năm, và 78,9% không bao giờ tham gia so với 87,1% trước đó Hoạt động du lịch cũng không có sự thay đổi đáng kể so với 10 năm trước.
Thăm hỏi người thân và bạn bè là hoạt động giải trí giúp thỏa mãn nhu cầu giao tiếp và giải tỏa tâm lý, tuy nhiên, người dân tại chỗ lại không đánh giá cao hoạt động này Sự gia tăng các hình thức giải trí cá nhân, thụ động như xem tivi và sử dụng internet đã dẫn đến việc giao tiếp với người thân trở nên kém phổ biến hơn.
Trong 10 năm qua, việc thăm viếng hàng xóm đã giảm đáng kể, từ 26,3% xuống còn 19,3%, trong khi tỷ lệ những người không bao giờ thăm viếng hàng xóm tăng từ 28,1% lên 32,7% Tương tự, việc thăm người thân và bạn bè cũng giảm từ 9,9% xuống còn 7% Không chỉ giảm về tần suất, việc thăm người thân còn giảm cả ở mức độ thỉnh thoảng, từ 54,4% xuống 50,9%, dẫn đến tỷ lệ không bao giờ thăm viếng tăng từ 35,7% lên 42,1%.
Sau 10 năm, nhóm người nhập cư có hộ khẩu tạm trú đã có sự thay đổi trong các hoạt động giải trí và tinh thần Cụ thể, tỷ lệ đọc báo thường xuyên giảm từ 19,6% xuống 18,1%, trong khi hoạt động đi chơi ở công viên và du lịch lại tăng lên, với tỷ lệ người không bao giờ đi công viên giảm từ 81,2% xuống 72,5% và tỷ lệ không bao giờ đi du lịch giảm từ 71% xuống 56,5% Mặc dù tỷ lệ xem tivi thường xuyên của nhóm này tăng nhẹ từ 52,2% lên 55,8%, nhưng tỷ lệ thỉnh thoảng xem lại giảm từ 26,1% xuống 19,6% Việc tham gia các hoạt động như đến nhà hát hay rạp chiếu phim và đi dạo ở công viên vẫn khá hạn chế, với tỷ lệ người không tham gia chỉ giảm 6% Cuối cùng, hoạt động đi nhậu và uống cà phê bên ngoài cũng giảm, với tỷ lệ tham gia thường xuyên giảm từ 13% xuống 9,4% và tỷ lệ không tham gia tăng từ 68,8% lên 74,6%.
Trong lĩnh vực du lịch, nhóm nhập cư đã chứng kiến sự thay đổi đáng kể, với tỷ lệ người thường xuyên đi du lịch tăng từ 3,6% lên 5,8% và tỷ lệ người thỉnh thoảng tham gia du lịch tăng nhanh từ 25,4% lên 37% Sự thay đổi này được cho là kết quả của các chính sách phúc lợi xã hội tại các công ty dành cho người lao động, như đã được nêu trong các dữ liệu định tính và báo cáo kinh tế - xã hội trước đó.
Hoạt động giao tiếp giữa những người nhập cư với hàng xóm và người thân đã giảm mạnh so với 10 năm trước Trước đây, họ thường xuyên giao tiếp với hàng xóm ở quê nhà, nhưng khi đến Bình Dương, mối quan hệ này không còn nữa Việc sống không cố định cũng khiến hàng xóm thay đổi, cùng với việc thiếu thời gian rảnh và thói quen xem tivi, lướt internet đã làm giảm tần suất thăm viếng hàng xóm từ 25,4% xuống 17,4%, trong khi tỷ lệ không bao giờ thăm hàng xóm tăng từ 23,2% lên 38% Đối với việc thăm viếng người thân, do phần lớn gia đình và họ hàng vẫn ở quê nhà, họ chỉ gặp nhau vào dịp lễ tết hoặc sự kiện quan trọng, dẫn đến tỷ lệ thăm viếng người thân giảm từ 63% xuống 44,2% trong vòng mười năm qua.
Bảng 13: Các hoạt động trong thời gian rảnh rỗi của nhóm người thường trú (%)
Nội dung Ông/bà sử dụng thời gian rảnh rỗi vào việc gì 10 năm trước (%) Hiện nay (%)
Khôn g đi Thƣ ờng đi
Khô ng đi Đọc sách, báo 19,9 33,3 46,8 25,1 19,9 55,0 Ở nhà xem tivi/video 56,7 24,0 19,3 65,5 19,3 15,2 Đến rạp/sân khấu xem ca nhạc/phim/kịch/cải lương…
Lên mạng giao tiếp (mail, chát, xem facebook của bạn bè…)
7,0 9,4 83,6 35,7 12,9 51,5 Đi công viên giải trí 2,3 10,5 87,1 3,5 17,5 78,9 Đi du lịch 2,3 37,4 60,2 2,3 37,4 60,2
Rủ bạn bè đi chơi, cafe, nhậu 7,6 16,4 76,0 8,2 42,1 49,7 Sang nhà hàng xóm chơi 26,3 45,6 28,1 19,3 48,0 32,7 Đi thăm người quen, bạn bè 9,9 54,4 35,7 7,0 50,9 42,1
Nguồn: Kết quả khảo sát của đề tài
Bảng 14 Các hoạt động trong thời gian rảnh rỗi của nhóm người tạm trú
Nội dung ông/bà sử dụng thời gian rảnh rỗi vào việc gì 10 năm trước (%) Hiện nay (%)
Không đi Đọc sách, báo 19,6 29,7 50,7 18,1 23,2 58,7 Ở nhà xem tivi/video 52,2 26,1 21,7 55,8 19,6 24,6 Đến rạp/sân khấu xem ca nhạc/phim/kịch/cải lương…
Lên mạng giao tiếp (mail, chát, xem facebook của bạn bè…)
11,6 10,9 77,5 50,0 10,9 39,1 Đi công viên giải trí 2,9 15,9 81,2 2,2 25,4 72,5 Đi du lịch 3,6 25,4 71,0 5,8 37,7 56,5
Rủ bạn bè đi chơi, cafe, nhậu 17,4 52,9 29,7 24,6 41,3 34,1 Sang nhà hàng xóm chơi 25,4 51,4 23,2 17,4 44,2 38,4 Đi thăm người quen, bạn bè 8,7 63,0 28,3 8,7 47,1 44,2
Mức độ sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng trong thời gian rảnh rỗi đã được khảo sát để hiểu rõ hơn về sở thích và mối quan tâm của người dân Chúng tôi đã yêu cầu người dân xác định mức độ sử dụng các phương tiện truyền thông này, với kết quả được thể hiện trong bảng 14 Đồng thời, người dân cũng được mời lựa chọn các chương trình truyền hình mà họ thường xuyên quan tâm nhất, với kết quả được trình bày trong biểu đồ 22.
Kết quả khảo sát cho thấy hai hoạt động phổ biến nhất mà người tham gia thực hiện hàng ngày là xem tivi (75%) và theo dõi internet (60%) Chỉ có một số ít người đọc báo hàng ngày, trong khi hơn một nửa hoàn toàn không đọc Việc sử dụng radio hiện nay rất hạn chế, với 76% người tham gia không nghe, 9,7% nghe hàng ngày, 8,5% nghe vài ngày một lần và 5,3% nghe vài lần trong tháng Đọc sách là hoạt động giải trí ít được thực hiện nhất, với 72,8% người xác nhận không đọc sách Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng văn hóa đọc sách đang bị suy giảm.
87 là một trong những hoạt động hạn chế nhất trong các loại hình giải trí của người Việt Nam, ở đây cư dân Bình Dương cũng không ngoại lệ
Hai phương tiện truyền thông đại chúng phổ biến mà người dân sử dụng hàng ngày là xem tivi và truy cập internet Qua internet, họ không chỉ xem tin tức mà còn tham gia mạng xã hội, chơi game và tận hưởng nhiều hình thức giải trí khác.
Bảng 14: Mức độ sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng
Hàng ngày Vài lần trong một tuần
Vài lần trong một tháng
Hầu nhƣ không sử dụng Ngƣ ời
Nguồn: Kết quả khảo sát của đề tài
Người dân Bình Dương dành nhiều thời gian xem tivi trong các hoạt động ngoài giờ làm việc nhờ vào tính tiện ích của nó, cho phép họ vừa làm việc khác vừa theo dõi chương trình Các nhà sản xuất chương trình cũng nỗ lực đa dạng hóa nội dung, giúp người dân dễ dàng tiếp cận tin tức và chương trình giải trí từ khắp nơi trên thế giới ngay tại nhà Để hiểu rõ sở thích của người dân, chúng tôi đã khảo sát và nhận thấy rằng chương trình được theo dõi nhiều nhất là tin tức thời sự, trong đó tin tức trong nước được quan tâm hơn tin quốc tế (72,8% so với 47,8%).
Sự tác động xã hội về mạng lưới xã hội và hỗ trợ xã hội
Trong bài viết này, chúng tôi tập trung vào khái niệm hỗ trợ xã hội từ các yếu tố thuộc xã hội dân sự, bên cạnh các khái niệm phúc lợi xã hội và an sinh xã hội đã được trình bày trước đó Những yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong hệ thống nhà nước và ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người dân.
Theo Trần Hữu Quang (2010b), xã hội dân sự là khái niệm chỉ không gian xã hội công cộng nằm ngoài sự quản lý của nhà nước và lĩnh vực riêng tư của cá nhân và gia đình Nó bao gồm các định chế tương đối độc lập với nhà nước và các hoạt động tự nguyện trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, truyền thông đại chúng, tôn giáo và xã hội, bao gồm cả thị trường, doanh nghiệp và các đảng phái chính trị.
Xã hội dân sự và nhà nước tạo thành một hệ thống xã hội toàn diện của một quốc gia, trong đó nhà nước đảm nhận vai trò thực hiện chức năng cưỡng chế, còn xã hội dân sự là không gian cho các hoạt động tự do và sự tham gia của công dân.
Sự thống lãnh văn hóa-tư tưởng của giai cấp thống trị được thể hiện qua việc tạo ra sự đồng thuận trong xã hội, liên kết chặt chẽ với nhà nước Tuy nhiên, xã hội dân sự vẫn có tính độc lập tương đối; nếu không đạt được sự đồng thuận, nhà nước sẽ mất đi sự thống lĩnh tư tưởng và tính hợp pháp, chỉ còn lại khả năng cưỡng chế.
Trong khuôn khổ đề tài, xã hội dân sự được hiểu là các tổ chức và nhóm ngoài nhà nước, bao gồm hội đồng hương, cơ sở tôn giáo, tổ chức từ thiện, và các nhóm bạn bè của người lao động Những nhóm này không tách biệt với hệ thống nhà nước mà có mối tương quan chặt chẽ với nhau, đặc biệt trong những tình huống rủi ro mà người lao động có thể gặp phải.
Phần này của báo cáo sẽ phân tích vai trò quan trọng của các tổ chức xã hội và nhóm đồng hương trong cộng đồng, cùng với các tổ chức không chính thức có ảnh hưởng sâu sắc đến văn hóa và đời sống của người Việt Nam, bao gồm bạn bè, đồng nghiệp và họ hàng thân tộc.
Biểu đồ 23 cho thấy sự hỗ trợ xã hội trong mạng lưới xã hội của người dân Bình Dương, với nguồn hỗ trợ chủ yếu đến từ gia đình và dòng họ Mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình và dòng họ ở nông thôn Việt Nam rất chặt chẽ, được hình thành dựa trên quan hệ huyết thống và các giá trị xã hội Mặc dù đô thị hóa đã ảnh hưởng đến tần suất thăm viếng, nhưng khi gia đình gặp khó khăn, hệ thống hỗ trợ này vẫn là nguồn lực quan trọng nhất, đặc biệt đối với người nhập cư Họ có xu hướng kết nối với những người cùng họ hàng để xây dựng cộng đồng mới, điều này thể hiện rõ ở công nhân nhập cư tại Bình Dương, bất kể xuất xứ của họ.
Nghiên cứu cho thấy, tại các khu công nghiệp ở Bình Dương, các khu nhà trọ đã hình thành nơi tập trung công nhân từ các tỉnh như Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Đồng Tháp và Kiên Giang Những khu nhà trọ này không chỉ có công nhân mà còn có thân nhân của họ, tạo nên mạng lưới xã hội vững mạnh giữa những người cùng quê Sự kết nối này giúp công nhân cảm thấy thoải mái hơn, đồng thời tạo điều kiện để họ sẻ chia và hỗ trợ nhau trong những lúc khó khăn.
Trong vòng 10 năm qua, tỷ lệ người dân Bình Dương nhận hỗ trợ đã giảm từ 76,3% xuống còn 63,4% Sự giảm sút trong giao tiếp với họ hàng và người thân đã ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận hỗ trợ xã hội của họ Điều này phản ánh tác động của quá trình đô thị hóa đối với mối quan hệ trong mạng lưới thân tộc, dẫn đến sự suy giảm trong hỗ trợ xã hội từ nguồn này.
Dữ liệu cho thấy rằng những người hàng xóm đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ lẫn nhau Trong văn hóa Việt Nam, câu nói “bán anh em xa, mua láng giềng gần” thể hiện giá trị của mối quan hệ này, vì khi gặp khó khăn, họ có thể giúp đỡ nhau trong những lúc cần thiết.
Câu nói "nước xa không cứu được lửa gần" phản ánh nếp sống truyền thống xuất phát từ xã hội nông nghiệp và vẫn giữ nguyên giá trị trong bối cảnh đô thị hóa hiện nay Theo biểu đồ, nguồn hỗ trợ này đứng thứ hai trong các nguồn lực Sau 10 năm, mặc dù tỷ lệ nhận hỗ trợ đã giảm nhẹ từ 39,7% xuống 34,1% do tác động của đô thị hóa, nhưng sự thay đổi này không đáng kể.
Trong xã hội hiện đại, bạn bè đóng vai trò quan trọng như một nguồn hỗ trợ cơ bản Các mối quan hệ bạn bè không còn bị giới hạn trong các nhóm đồng niên truyền thống của làng xã mà đã chuyển mình thành những kết nối mới, hình thành từ trường học, nơi làm việc hoặc các không gian công cộng Những nhóm bạn bè này thường mang tính chất không chính thức, xuất phát từ tình cảm và sự gắn bó, tạo nên cảm giác trách nhiệm lẫn nhau giữa các thành viên.
Khi tình yêu phai nhạt, cảm giác trách nhiệm từ tình cảm cũng giảm theo Tuy nhiên, một tin vui là tỷ lệ nhận hỗ trợ từ nguồn này vẫn giữ nguyên sau 10 năm, với tỷ lệ 28,8% không thay đổi.
Nhóm đồng hương, một phần của mạng lưới xã hội dân sự, không đóng vai trò lớn trong việc hỗ trợ người dân Mặc dù những người cùng quê thường sống chung, mối quan hệ của họ chủ yếu mang tính chất “liên cá nhân” và hình thành một cách tự phát Các nghiên cứu của chúng tôi và các đồng nghiệp cũng đã chỉ ra điều này.
Hội đồng hương tại Bình Dương dường như không đóng vai trò quan trọng đối với người dân, bao gồm cả người nhập cư Một trong những lý do chính là sự ngại ngần của người lao động trong việc tham gia các hoạt động cộng đồng, ngoài các cuộc họp tại doanh nghiệp Theo thời gian, vai trò của hội đồng hương đã giảm từ 5% xuống còn 3,8%.
Kết luận
Từ những kết quả nghiên cứu của đề tài, chúng tôi xin nêu một số kết luận sau:
1 Kết quả phân tích chính sách các các văn bản nghị quyết và các kế hoạch kinh tế- xã hội của các giai đoạn kế hoạch 5 năm do Tỉnh ủy, UBND, HĐND tỉnh Bình Dương ban hành cho thấy các kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội luôn hướng tới mục tiêu “Bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao đời sống nhân dân; tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh, ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội” Trong các văn bản, thuật ngữ “chính sách xã hội” và “an sinh xã hội” thường được sử dụng theo nghĩa rộng, tức là đề cập tới những yếu tố nhằm đảm bảo cho cuộc sống của người dân được đầy đủ, no ấm, thực hiện tốt công tác xóa đói giảm nghèo cũng như những người có công được hưởng các chính sách hỗ trợ từ phía nhà nước và cộng đồng Các mục tiêu đặt ra trong chủ trương và chính sách của tỉnh Bình Dương luôn đặt ra các tiêu chí cụ thể Chẳng hạn các tiêu chí của từng lĩnh vực nhƣ: giáo dục, y tế, nhà ở, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, các chính sách trợ giúp xã hội (hỗ trợ những tầng lớp nghèo và khó khăn ) và các chính sách cứu trợ xã hội (cứu trợ thiên tai, dịch bệnh )
2 Theo chủ trương của đảng và Chính phủ, Bình Dương coi việc đảm bảo phúc lợi xã hội và an sinh xã hội là nghĩa vụ của toàn bộ các hệ thống xã hội, vì vậy các chính sách của tỉnh đề ra luôn có xu hướng khuyến khích các thành phần kinh tế và các tổ chức xã hội cùng tham gia cung ứng các thiết chế và các dịch vụ nhằm nâng cao phúc lợi cho người dân Chính chủ trương này và cách quản lý điều tiết của tỉnh mà tình Bình Dương là một trong những địa phương có nhiều cơ sở y tế, nhà trẻ mẫu giáo, trường học các cấp, hệ thống giao thông và hệ thống nhà ở xã hội so với các tỉnh ở Nam Bộ nói riêng và trên toàn quốc, nói chung
3 Đánh giá hiệu quả của việc thực thi chính sách phúc lợi xã hội cũng là một trong những yếu tố xác định đƣợc sự tác động về mặt xã hội của quá trình phát triền đô thị ở Bình Dương Những kết quả đánh giá từ thực tế cho thấy:
Tỉnh đã thúc đẩy sự đa dạng hóa các thành phần kinh tế trong lĩnh vực giáo dục bằng cách khuyến khích các tổ chức ngoài nhà nước, tư nhân và cả các cơ sở có yếu tố nước ngoài thành lập trường mầm non và các cấp học Điều này nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dạy và giáo dục cho trẻ em.
Tỉnh Bình Dương đang chú trọng đến việc đào tạo kiến thức và tay nghề cho người lao động, coi đây là yếu tố then chốt trong các chính sách kinh tế- xã hội Sự gia tăng số lượng trường mầm non và trường phổ thông, đặc biệt là trường ngoài công lập, phản ánh nhu cầu cao về dịch vụ phúc lợi xã hội và khả năng huy động nguồn lực của tỉnh Tuy nhiên, cần lưu ý về sự mất cân đối trong phân bổ trường học giữa các địa bàn, khi thành phố Thủ Dầu Một và Tân An có nhiều trường hơn, trong khi các địa phương như Bến Cát, Tân Uyên vẫn còn thiếu so với mật độ dân cư Để đáp ứng nhu cầu trong tương lai, các địa phương này cần phát triển thêm cơ sở giáo dục nhằm phục vụ con em của lực lượng lao động tại chỗ và từ nơi khác đến.
Bình Dương đã phát triển một hệ thống y tế mạnh mẽ với 23 bệnh viện, bao gồm 12 bệnh viện nhà nước, 10 bệnh viện tư nhân và 1 bệnh viện có vốn đầu tư nước ngoài, nhằm thực hiện chủ trương xã hội hóa y tế và dịch vụ chăm sóc sức khỏe Ngoài ra, tỉnh còn có hàng chục trạm y tế và hàng trăm phòng khám, với số bác sĩ và giường bệnh bình quân trên một vạn dân ngày càng tăng Các chỉ số sức khỏe trẻ em cũng đang có sự cải thiện rõ rệt Tuy nhiên, chất lượng bệnh viện và phòng khám chủ yếu tập trung ở Thủ Dầu Một và Thuận An, trong khi các địa phương khác chỉ có hai bệnh viện mỗi nơi.
Tại Bình Dương, các khu vực như huyện Dĩ An, Thuận An, thị xã Thủ Dầu Một và gần đây là Bến Cát, Tân Uyên đã trở thành nơi tập trung đông công nhân thuê trọ Tuy nhiên, số lượng nhà trọ hiện tại vẫn chưa đủ để đáp ứng nhu cầu của lực lượng lao động nhập cư Nhằm giải quyết vấn đề này, chính quyền tỉnh đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích doanh nghiệp và người dân xây dựng nhà ở cho thuê Các chính sách hỗ trợ nhà ở cho người nghèo tại Bình Dương được xem là mô hình tiêu biểu, thu hút sự quan tâm từ nhiều tỉnh thành khác Dù vậy, nhu cầu sở hữu nhà ở của người có thu nhập thấp vẫn chưa được đáp ứng hoàn toàn.
Tại Việt Nam, tâm lý “an cư mới lạc nghiệp” đã tạo ra nhu cầu sở hữu nhà ở, dù chỉ là một căn nhỏ Điều này trở thành thách thức lớn cho chính quyền tỉnh Bình Dương, khi tỉnh đang nỗ lực trở thành đô thị trực thuộc Trung ương trước năm 2020.
Trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội, chính quyền địa phương đã nỗ lực thực hiện bảo hiểm cho người dân, nhưng mức sống và cơ hội giữa các nhóm dân cư không đồng đều Người lao động tại các doanh nghiệp có vốn nước ngoài và doanh nghiệp nhà nước thường được ký hợp đồng và đóng bảo hiểm xã hội, trong khi nhiều lao động nhập cư làm việc tại doanh nghiệp nhỏ hoặc tổ chức tư nhân lại không được thực hiện nghĩa vụ này, dẫn đến thiệt thòi Hơn nữa, nhận thức hạn chế của một số lao động, đặc biệt là lao động nhập cư, khiến họ chưa hiểu rõ quyền lợi của mình để có thể bảo vệ quyền lợi trước giới chủ.
Trong lĩnh vực an sinh xã hội, các chương trình ưu tiên bao gồm xóa đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, và hỗ trợ người lao động, cùng với việc xây dựng nhà ở xã hội cho người có thu nhập thấp Những chính sách về giáo dục, đào tạo và chăm sóc sức khỏe đã đạt được nhiều kết quả tích cực Tuy nhiên, nhóm người nhập cư vẫn là một đối tượng dễ bị tổn thương và chưa được chú ý đầy đủ, do thiếu hộ khẩu, dẫn đến hạn chế trong việc tiếp cận các chính sách an sinh xã hội.
4 Bình Dương là một trong những địa phương có tốc độ phát triển đô thị hóa nhanh ở Việt Nam Với mục tiêu xây dựng Bình Dương trở thành đô thị loại
I, thành phố trực thuộc trung ương trước năm 2020, địa bàn phân bố dân số đô thị của Bình Dương không ngừng được mở rộng Từ chỗ chủ yếu tập trung ở Thủ Dầu Một, trong hơn một thập niên gần đây, dưới tác động quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa, dân số đô thị Bình Dương tăng trưởng theo hai phương thức: dày đặc hóa ở khu vực các huyện, thị phía Nam và lan dần đến khu vực các huyện phía Bắc Tuy nhiên, sự phân bố khu vực công nghiệp hóa và đô thị hóa lại không đồng đều dẫn tới sự mất cân đối trong cơ cấu dân số nông thôn và đô
Khu vực phía Nam tỉnh có nhiều khu công nghiệp, dẫn đến dân số đô thị đông đúc và mật độ cư dân cao Ngược lại, phía Bắc tỉnh thiếu khu công nghiệp, khiến lực lượng lao động trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ chưa phát triển mạnh.
5 Những phát hiện về cơ cấu lao động việc làm, trình độ tay nghề và thu nhập của người lao động phản ánh một số điểm sau:
Những thành tựu kinh tế của tỉnh Bình Dương đã nâng cao mức sống của cư dân và tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho lao động trong tỉnh cũng như từ các địa phương khác Điều này đã khiến Bình Dương trở thành điểm đến thu hút lao động nhập cư từ khắp nơi trên cả nước Đồng thời, chủ trương chuyển đổi cơ cấu ngành công nghiệp theo hướng “sạch, không gây ô nhiễm môi trường sử dụng công nghệ hiện đại” đã dẫn đến sự chuyển biến trong nguồn nhân lực, từ lao động chuyên môn thấp sang nhóm lao động có trình độ chuyên môn cao.
Kết quả phân tích cơ cấu việc làm của người lao động tại tỉnh Bình Dương cho thấy sự chuyển dịch từ nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp và dịch vụ, tuy nhiên, tỷ lệ lao động không có tay nghề vẫn cao Nhóm lao động có tay nghề cao chủ yếu là công chức, chủ doanh nghiệp, chỉ chiếm 1/5 mẫu khảo sát Để khắc phục tình trạng này, chính quyền tỉnh đã triển khai nhiều chính sách thu hút người có trình độ chuyên môn cao và khuyến khích người dân tham gia đào tạo nghề, cao đẳng, đại học Nhiều sinh viên tốt nghiệp được ưu tiên vào làm việc trong hệ thống hành chính và các doanh nghiệp tại địa phương.
Kiến nghị
Từ những phát hiện đã nêu, chúng tôi xin đƣa ra một số khuyến nghị sau:
1 Sự tăng trưởng về kinh tế tạo ra sự thịnh vượng chung cho xã hội, mức sống của người dân được nâng lên, tuy nhiên cùng với nó là nhiều hệ quả không tránh khỏi Khoảng cách giàu nghèo trong xã hội nhƣ một chỉ báo của sự bất bình đẳng, khoảng cách về sự thụ hưởng các phúc lợi xã hội của các nhóm cư dân khác nhau là những ví dụ điển hình mà các nhà quản lý cần lưu ý để đưa ra các giải pháp nhằm giảm thiểu những yếu tố gây ra những hệ quả của sự phát triển
2 Mặc dù hệ thống đảm bảo phúc lợi xã hội về y tế, giáo dục và nhà ở của Bình Dương đã đạt được nhiều thành tựu, tuy nhiên sự phân bố các điều kiện vật chất và con người của các tiểu hệ thống này vẫn chưa hoàn toàn hợp lý Các thị xã mới được hình thành trong tương lai sẽ là những nơi tập trung đông dân cư hơn, đặc biệt là nguồn lao động nhập cƣ Chính vì vậy, cần có những kế hoạch đón đầu để đáp ứng nhu cầu về mọi mặt nhằm đảm bảo chất lƣợng cuộc sống cho người lao động và gia đình họ, không chỉ về nhà ở, giao dục y tế mà cả không gian xã hội cho các hoạt động vui chơi giải trí và sinh hoạt cộng đồng
3 Hệ thống phúc lợi xã hội và an sinh xã hội nên dựa trên cả ba trụ cột: nhà nước, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội dân sự cùng mang lưới quan hệ xã hội nhƣ gia đình dòng họ, hàng xóm láng giềng, bạn bè và đồng nghiệp Vì vậy, một mặt cần có các chính sách hỗ trợ và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp chịu cung ứng và đảm bảo các yếu tố của các tiểu hệ thống phúc lợi xã hội cho người
Để nâng cao vai trò của các tổ chức xã hội dân sự, cần có các biện pháp tăng cường hiệu quả hoạt động của họ, bao gồm việc cải thiện cơ sở vật chất và cơ chế hoạt động theo nguyên tắc tự chủ Đồng thời, cần xây dựng đội ngũ cộng tác viên cộng đồng và nhân viên công tác xã hội, tổ chức các lớp tập huấn để nâng cao kiến thức và kỹ năng cho họ Cuối cùng, cần thực hiện các biện pháp tuyên truyền nhằm thay đổi nhận thức của người dân, đặc biệt là người nhập cư, về vai trò của hoạt động cộng đồng, từ đó tăng cường tính tích cực chính trị-xã hội và tận dụng sự hỗ trợ từ các mối quan hệ trong các hoạt động này.
4 Về lĩnh vực bảo hiểm xã hội, các chính sách nên đƣợc quy định cụ thể hơn với từng nhóm đối tượng, đặc biệt là các nhóm dễ bị tổn thương Bên cạnh đó, việc kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện trong thực tế cần đƣợc hệ thống thực thi và các nhà quản lý quan tâm hơn
5 Bên cạnh nhóm người nghèo, những nhóm yếu thế khác, những người nhập cƣ cần đƣợc quan tâm hơn trong tình hình hiện nay Dù lí do tới lao động và làm việc xuất phát từ lực đẩy do thiếu công ăn việc làm ở địa phương và yếu tố gia đình của họ, nhƣng sự có mặt và công sức của họ đã góp phần không nhỏ cho việc chuyển đổi kinh tế xã hội và tăng trưởng của Bình Dương trong nhiều năm trở lại đây Với chủ trương xã hội hóa dịch vụ công, các tiểu hệ thống phúc lợi xã hội như: nhà ở, y tế, giáo dục có xu hướng tư nhân hóa các dịch vụ phúc lợi xã hội ở Bình Dương trở nên nổi trội Vấn đề ăn ở của người nhập cư và con cái của họ thiếu hẳn sự hỗ trợ, khi mà họ phải dựa vào cơ sở vật chất và tầng ơ sở của địa phương (bệnh viện, cơ cở giáo dục các cấp, ý tế, nhà ở v.v….) khiến cho các yếu tố này trở nên quá tải Chính những điều này dẫn tới quan điểm kỳ thị với người nhập cư, khi nghĩ rằng, người nhập cư là nguyên nhân làm cho khả năng tiếp cận với các nguồn cung ứng các tiểu hệ thống phúc lợi của họ bị giảm đi
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
An sinh xã hội, truy cập tại http://www.diendan.vnsocialwork.net/index.php?board7.0
Bàn về cải cách hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam, truy cập tại http://vnsocialwork.net/?p24
Barbasand Michel, Cunha Antonio, Tarradellas Joseph (2005), Nghiên cứu Thành phố cực lớn và đô thị hóa
Beulah Compton (1980), Introduction to Social Welfare and Social Work:
Structure, Function, and Process, Nxb Dorsey, California
Brown Jackie, Bowling Ann, Flynn Terry (2004), Models of quality of life:
This article presents a systematic review and taxonomy of the literature concerning quality of life models, focusing on the European Forum on Population Ageing Research Published in May 2004, it aims to provide a comprehensive overview of existing research in this field, highlighting key findings and methodologies related to population ageing and quality of life assessments.
Bùi Đình Thanh (2004), Xã hội học và Chính sách xã hội, NXB Khoa học Xã hội,
Bùi Thế Cường (chủ nhiệm) (2012), Cơ cấu xã hội, lối sống và phúc lợi cư dân thành phố Hồ Chí Minh hiện nay, TP Hồ Chí Minh
Chính phủ (2011), Nghị quyết 04/NQ-CP về: Việc thành lập thị xã Dĩ An và thị xã Thuận An
Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 136/NQ-CP vào năm 2013, nhằm điều chỉnh địa giới hành chính huyện Bến Cát để thành lập thị xã Bến Cát, đồng thời điều chỉnh địa giới hành chính huyện Tân Uyên để thành lập thị xã Tân Uyên.
Chính phủ (2014), Nghị quyết số 11/NQ-CP về: Việc thành lập thành phố Thủ
Cục thống kê tỉnh Bình Dương (2016) đã công bố báo cáo về 20 năm xây dựng và phát triển tỉnh này Đặng Nguyên Anh (2013) đã trình bày các vấn đề xã hội trong Tạp chí Xã hội học, số 2 (122) Đào Duy Anh (2012) trong tác phẩm “Hán Việt từ điển giản yếu” xuất bản năm 1932 đã cung cấp những kiến thức ngôn ngữ giá trị Đề án tăng cường công tác đoàn kết hợp thanh niên công nhân các khu nhà trọ giai đoạn 2007-2010 được phê duyệt theo Quyết định số 23 QĐ-UBND tháng 06 năm 2007 của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Bình Dương Đỗ Hồng Quân (2010) đã tổng hợp các công trình nghiên cứu về phúc lợi xã hội và an sinh xã hội trong đề tài cấp viện về cơ sở dữ liệu, thông tin và tri thức.
107 phục vụ chiến lƣợc nghiên cứu 2006- 2010 của Viện Phát triển Bền vững vùng Nam Bộ, TP Hồ Chí Minh
Gans H (1996), Urbanism and suburbanism as aways of life, trong R.E.Pahl,
Readings in Urban Sociology, Pergamon London
Grosh Margaret, del Ninno Carlo, Teliuc Emi và Azedine Ouerghi và Ngân hàng
Năm 2008, cuốn sách "Thiết kế và triển khai các mạng lưới an sinh hiệu quả về bảo trợ và thúc đẩy xã hội" của Thế giới, do NXB Văn hóa Thông tin phát hành tại Hà Nội, đã trình bày các phương pháp thiết kế và triển khai mạng lưới an sinh xã hội nhằm nâng cao hiệu quả bảo trợ và thúc đẩy sự phát triển cộng đồng.
HĐND tỉnh Bình Dương (2015), Nghị quyết số 36/2015/NQ-HĐND8
Hoàng Như Mai (2001) đã nêu rõ tầm quan trọng của việc bảo tồn văn hóa truyền thống trong bối cảnh xây dựng nền văn hóa hiện đại tại Thành phố Hồ Chí Minh Bài viết nhấn mạnh sự cần thiết phải kết hợp giữa việc gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc và phát triển các giá trị hiện đại, nhằm tạo ra một môi trường văn hóa phong phú và đa dạng Việc này không chỉ góp phần vào sự phát triển bền vững của thành phố mà còn giúp thế hệ trẻ nhận thức rõ hơn về nguồn cội và giá trị văn hóa của dân tộc.
Holter, Oystein Gullvồg, Svare, Helge and Cathrine Egeland (2009), Gender equality and quality of life - a Norwegian perspective, University of Oslo
Bình đẳng giới và chất lượng cuộc sống là những vấn đề quan trọng được nêu ra trong báo cáo của Na-uy năm 2009 Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Hậu và các cộng sự vào năm 2014, chất lượng cuộc sống tại thành phố Hồ Chí Minh đã được đánh giá trong bối cảnh này Thông tin từ báo cáo này giúp hiểu rõ hơn về mức sống và các yếu tố ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân trong khu vực.
Huỳnh Thị Ngọc Tuyết, Nguyễn Thị Minh Châu và Đào Quang Bình, (2009),
Mạng lưới xã hội của công nhân nhập cư ở khu công nghiệp Biên Hòa
Hy, Lương Văn (2003), Wealth, Power, and Equality: Global Market , the State and Local Socio-cultural Dynamic, trong Postwar Vietnam, Dynamics of a
Transforming Society do Hy, Lương Văn biên tập, Maryland: Rowman & Littlefield, 2003
Lê Anh Vũ đã trình bày về xu hướng tái cấu trúc cộng đồng lao động Khmer tại Bình Dương trong bài viết "Từ quê lên phố" Bài viết được công bố trong kỷ yếu hội thảo "Tiểu văn hóa đô thị và quá trình hội nhập tại Việt Nam", do Đại học Mở tổ chức vào tháng 5 năm 2019.
I.T.Levƣkin (1987- 1990), Những động thái trong lối sống của cư dân đô thị tại
Cộng hòa Liên bang Nga Matxkva năm 1990
I.T.Levƣkin, T.M.Dridre, E.A.Orlova, Ia.V.Rejzema (1980), Những vấn đề hình thành và phát triển lối sống trong tình hình hiện nay, Matxkva năm 1980
Lê Bạch Dương, Đặng Nguyên Anh, Khuất Thu Hồng, Lê Hoàng Trung, Robert
Leroy Bach (2006), Bảo trợ xã hội cho những nhóm thiệt thòi ở Việt Nam, NXB Thế Giới
Mạc Văn Tiến (2005), An sinh xã hội và phát triển nguồn nhân lực, NXB Lao động và Xã hội, Hà Nội, tr 2
Marshall Gordon (1998), A Dictionary of Sociology, Oxford, New York, Oxford
University Press, tr 701-702 Dẫn lại theo Trần Hữu Quang (Trần Hữu Quang, 2010, tr 33-34) và Nguyễn Đức Lộc, (Nguyễn Đức Lộc, 2015, trang 21)
Ngân hàng thế giới (2000), “Tấn công đói nghèo: cơ hội, trao quyền và vấn đề an sinh”, Hà Nội
Nghiêm Liên Hương (2007) đã nghiên cứu về tính liên tục giữa nông thôn và thành thị thông qua cuộc sống của công nhân may di cư tại Hà Nội, Việt Nam Bài viết được trình bày tại hội thảo quốc tế "Hiện đại và Những động thái của truyền thống ở Việt Nam: những cách tiếp cận Nhân học" diễn ra tại Bình Châu vào tháng 2 năm 2007.
Nguyễn Đức Lộc (2015) trong tác phẩm “Phúc lợi xã hội: hiện trạng mức độ tiếp cận của công nhân nhập cư tại các khu công nghiệp tỉnh Bình Dương” đã phân tích tình hình và mức độ tiếp cận các phúc lợi xã hội của công nhân nhập cư Nghiên cứu này được xuất bản bởi NXB Chính trị Quốc gia, cung cấp cái nhìn sâu sắc về những thách thức mà công nhân đối mặt trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội tại các khu công nghiệp.