Mục tiêu đề tài Thông qua việc xác định những từ Hán Việt có sự thay đổi cách sử dụng, chúng tôi muốn tìm hiểu những từ Hán Việt được sử dụng trong đời sống hằng ngày có nghĩa gốc là gì
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
Thuộc nhóm ngành khoa học: Khoa học Xã hội và Nhân Văn
Bình Dương, tháng 5 năm 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
Người hướng dẫn: Thạc sĩ Trần Duy Khương
SVTH: Phạm Thị Diễm Thúy Nam, Nữ: Nữ
Dân tộc: Kinh
Lớp: D12NV03, Khoa: Ngữ Văn Năm thứ: 3 /Số năm đào tạo: 4 Ngành học: Sư phạm Ngữ Văn
Trang 3THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1 Thông tin chung
- Tên đề tài: Sự chuyển nghĩa và thay đổi cách sử dụng của nhóm từ ghép Hán
Việt so với từ gốc Hán
- Sinh viên thực hiện: Phạm Thị Diễm Thúy
- Lớp: D12NV03 Khoa: Ngữ Văn Năm thứ: 3/ Số năm đào tạo: 4
- Người hướng dẫn: Thạc sĩ Trần Duy Khương
2 Mục tiêu đề tài
Thông qua việc xác định những từ Hán Việt có sự thay đổi cách sử dụng, chúng tôi muốn tìm hiểu những từ Hán Việt được sử dụng trong đời sống hằng ngày có nghĩa gốc là gì và việc sử dụng nghĩa từ Hán Việt của người Việt như thế có hợp lý hay không Từ đó, chúng tôi cố gắng chỉ ra những cách dùng từ chưa thoả đáng để không làm mất đi sự trong sáng của tiếng Việt Đồng thời, đề tài này có thể sẽ giúp người Việt có ý thức hơn nữa trong việc sử dụng từ Hán Việt, cũng như có thể diễn đạt ngôn ngữ một cách hợp lý và hiệu quả hơn trong đời sống hằng ngày
4 Kết quả nghiên cứu
Qua quá trình khảo sát từ Hán Việt thay đổi cách sử dụng, chúng tôi đã nghiên
cứu về ba phần như sau: Thứ nhất: là phần giới thiệu khái quát về từ Hán Việt cũng
như quá trình du nhập của từ Hán Việt vào Việt Nam và vai trò của chúng trong hệ
thống ngôn ngữ Việt Thứ hai: là phần thống kê và phân loại nhóm từ chuyển đổi
UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Trang 4nghĩa Thứ ba: là phần nghiên cứu về xu hướng sử dụng từ Hán Việt của người Việt
hiện nay và chỉ ra những lỗi sai về cấu tạo
Phần thứ nhất: cũng là phần chương 1 trong phần nội dung chính của nghiên
cứu Ở phần này, giới thiệu khái quát về từ Hán Việt cũng như quá trình du nhập của
từ Hán Việt vào Việt Nam và vai trò của chúng trong hệ thống ngôn ngữ Việt.
Từ Hán Việt là những từ gốc Hán thâm nhập vào Việt Nam bằng cả con đường chiến tranh (cưỡng bức) lẫn con đường hoà bình (giao lưu văn hoá) Trước khi chữ Quốc ngữ ra đời, người Việt phải dùng chữ Hán để viết nhưng đọc theo âm Việt Và nhà nước phong kiến Việt Nam đã sử dụng chữ Hán trong các trong các văn bản hành chính quốc gia trong suốt quá trình tồn tại Người Việt mượn chữ Hán của Trung Quốc chủ yếu ở thời cổ đại, điển hình nhất là thời Đường- Tống
Về thuật ngữ “từ Hán Việt”, từ trước đến nay, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học
đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau Họ đã có nhiều bài viết để trực tiếp hoặc gián tiếp đưa ra nhận định riêng của mình về khái niệm của từ Hán
Nguyễn Tài Cẩn đã căn cứ vào cứ liệu lịch sử, khảo cổ để đưa ra những nguyên nhân dẫn đến sự tiếp xúc lâu dài, liên tục và sâu rộng của tiếng Hán đến tiếng Việt như sau:
Thứ nhất: nhân tố về mặt chính trị;
Thứ hai: nhân tố về mặt xã hội;
Thứ ba: nhân tố về mặt văn hóa;
Quá trình du nhập được chia ra làm hai giai đoạn và lấy thế kỷ X làm cột mốc để đánh dấu sự phân chia đó
Khi nhắc đến vai trò của Từ hán Việt thì Đặng Đức Siêu đã nói như sau:
“Trong thực tế sử dụng, từ Hán Việt cũng có thể có những biến động nhất định về các mặt mang tính chất tự nhiên, tự phát nhưng về căn bản, việc hiểu và dùng từ Hán Việt cần phải dựa trên việc quy phạm hóa, chuẩn hóa đúc kết từ những nhận thức khoa học
và tập quán sử dụng của hàng ngàn thế hệ người bản địa Trong đó nổi bật lên vai trò dẫn đường của những nhân tài song ngữ Việt Hán của những tác giả tiêu biểu đã sáng tác ra biết bao nhiêu tác phẩm mẫu mực thuộc đủ mọi loại thể, phản ánh một cách sinh động mọi lĩnh vực hoạt động của đất nước, của đời sống xã hội từ xưa đến nay Những tác phẩm đã bộc lộ rõ sức mạnh của văn hóa Việt Nam, đã thể hiện hoàn hảo
Trang 5sự phong phú, tinh tế, uyển chuyển, trong sáng của tiếng Việt mà trong đó có phần đóng góp không nhỏ của lớp từ Hán Việt [15, tr 97]
Như vậy, có thể thấy được rằng Hán Việt đóng vai trò chủ đạo trong ngôn ngữ Việt và đặc biệt là trong các văn bản chính luận, khoa học làm cho văn bản có tính trang trọng hơn Ngay cả trong các hoàn cảnh giao tiếp trang trọng, người Việt vẫn có
xu hướng sử dụng từ Hán Việt
Phần thứ hai: cũng là phần chương 2 trong nội dung nghiên cứu của đề tài Ở
chương này, chúng tôi chỉ ra những nguyên nhân có sự chuyển đổi nghĩa trong quá trình sử dụng từ Hán Việt như sau:
Thứ nhất: Do tư duy liên tưởng của người Việt
Thứ hai: Do yếu tố văn hóa của người Việt
Thứ ba: Do có nhu cầu sử dụng từ ngữ đơn giản, nên người Việt có thói quen rút
gọn những từ ngữ (đa số là ngữ) Hán thành những từ ngắn gọn
Thứ tư: Do nhân tố xã hội luôn tác động mạnh mẽ dẫn đến có sự thay đổi nghĩa
của từ Hán Việt
Sau khi khảo sát, chúng tôi thống kê có tất cả 456/7485 từ, chiếm 6.09% Nhóm
từ Hán Việt thay đổi nghĩa so với nghĩa gốc này có thể lại chia thành các tiểu loại như sau:
Loại thứ nhất: Từ Hán Việt có nghĩa khác
Loại thứ hai: Từ Hán Việt có nghĩa thu hẹp hoặc mở rộng so với nghĩa gốc Loại thứ ba: Từ Hán Việt có cách dùng khác
Phần thứ ba: cũng là phần chương 3 trong nội dung nghiên cứu của đề tài Ở
chương này, chúng tôi chỉ ra xu hướng sử dụng từ Hán Việt của người Việt hiện nay
và chỉ ra những lỗi sai về cấu tạo
Người Việt sử dụng từ Hán Việt theo ba xu hướng chính Thứ nhất là sự nỗ lực chính thống hóa trong sử dụng; thứ hai là việc tạo ra từ mang yếu tố Hán Việt mới theo nhu cầu thực tế; và cuối cùng là việc chấp nhận sự chuyển nghĩa
Như vậy, chúng ta có thể thấy được việc dùng sai từ Hán Việt có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển chung của tiếng Việt Do vậy, Nguyễn Văn Khang nhận định:
“Trong giai đoạn hiện nay, cần có một quy định thống nhất về cách tiếp nhận và sử dụng từ ngoại lai theo hướng Việt hóa” Điều đó có nghĩa là chúng ta cần có những
biện pháp để có thể khắc phục dần cũng như xóa hẳn những vấn đề bất cập còn tồn tại
Trang 6trong việc sử dụng tiếng Việt nói chung và trong việc sử dụng từ Hán Việt nói riêng để tiếng Việt được vận hành và phát triển theo hướng ngày càng hợp lý hơn, khoa học hơn, trong sáng hơn
5 Đóng góp về mặt kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc phòng và khả năng áp dụng của đề tài
Đề tài nghiên cứu sẽ cho chúng ta biết được sơ lược về nguồn gốc của sự du nhập của tiếng Hán vào Việt Nam và vai trò của tiếng Hán đối với sự phát triển ngôn ngữ tiếng Việt, nguyên nhân có sự chuyển đổi nghĩa, phân loại các từ Hán Việt chuyển đổi nghĩa đó, xu hướng sử dụng từ Hán Việt của người Việt và các vấn đề bất cập khi dùng từ Hán Việt hiện nay
Công trình này có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho bản thân hoặc cho các sinh viên khác khi tiến hành đọc văn bản hoặc soạn thảo văn bản (như giáo án, bài luận…), trong quá trình học tập hiện tại cũng như trong quá trình giảng dạy trong tương lai Hơn nữa, mọi người có thể biết được từ Hán Việt nào mắc lỗi dùng từ chưa thoả đáng, từ nào là từ được “Việt hóa” cho phù hợp với ngôn ngữ Việt mà thận trọng hơn trong việc sử dụng từ Hán Việt, đặc biệt là khi sử dụng từ Hán Việt ở các phương tiện thông tin truyền thông, trong các văn bản chính luận, khoa học, hành chính (là những văn bản sử dụng nhiều từ Hán Việt)
Trang 7bao gồm: thay đổi nghĩa, thêm thu hẹp nghĩa, thay đổi từ để diễn đạt cùng khái niệm; thậm chí là tạo ra những từ mới dựa trên các yếu tố Hán Việt trước đó
Nhưng, cho đến hiện nay, nhóm từ thay đổi cách sử dụng này vẫn chưa được thống kê một cách chính xác và có sự phân loại một cách cụ thể Do vậy, đề tài NCKH
“Khảo sát nhóm từ Hán Việt thay đổi cách sử dụng” của sinh viên Phạm Thị Diễm Thuý có một ý nghĩa nhất định khi đã kịp thời tiến hành khảo sát một cách nghiêm túc đối với nhóm từ này
Tuy nhiên, trong quá trình nhận diện từ Hán Việt cũng như nhóm từ Hán Việt thay đổi cách sử dụng, tác giả vẫn còn bỏ sót từ Ngoài ra, cách diễn đạt đôi khi còn khá mơ hồ, cấu trúc ngữ pháp ở một số câu vẫn còn chưa sáng rõ, những điều này có thể gây nên hiện tượng hiểu nhầm cho người đọc
Nhìn chung, đây là công trình rất có chất lượng, có đóng góp cụ thể về lý luận và thực tiễn Đề tài đáp ứng đầy đủ yêu cầu của một đề tài nghiên cứu khoa học, có thể dùng làm tài liệu tham khảo về lĩnh vực ngôn ngữ
2 Đề nghị Được bảo vệ: Không được bảo vệ:
Bình Dương, ngày 4 tháng 5 năm 2015
XÁC NHẬN CỦA LÃNH ĐẠO KHOA
(ký, họ và tên)
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
(Ký và ghi rõ họ tên)
Trần Duy Khương
Trang 8UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
THÔNG TIN VỀ SINH VIÊN CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
I SƠ LƯỢC VỀ SINH VIÊN:
Họ và tên: Phạm Thị Diễm Thúy
Sinh ngày: 15 tháng 10 năm 1992
Nơi sinh: TT KrôngNăng, H KrôngNăng, T ĐăkLăk
Lớp: D12NV03 Khóa: 2012 - 2016
Khoa: Ngữ Văn
Địa chỉ liên hệ: Khu phố 2, Phường Thạnh Lộc, Quận 12, TP HCM
Điệnthoại: 0169.941.4697 Email: nhuanlieu@yahoo.com.vn
Ngành học: Sư phạm Ngữ Văn Khoa: Ngữ Văn
Kết quả xếp loại học tập (học kỳ I): Khá
Trang 9TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Bình Dương, ngày 15 tháng 05 năm 2015
Kính gửi: Ban tổ chức Giải thưởng “Tài năng khoa
học trẻ Đại học Thủ Dầu Một”
Tên tôi là: Phạm Thị Diễm Thúy Sinh ngày 15 tháng 10 năm 1992
Sinh viên năm thứ: 3/Tổng số năm đào tạo: 4 năm
Lớp, khoa : D12NV03, Khoa Ngữ Văn
Ngành học : Sư Phạm Ngữ Văn
Thông tin cá nhân của sinh viên chịu trách nhiệm chính:
Địa chỉ liên hệ: Khu phố 2, Phường Thạnh Lộc, Quận 12, Tp HCM
Số điện thoại (di động): 01699414697
Địa chỉ email: nhuanlieu@yahoo.com.vn
Tôi làm đơn này kính đề nghị Ban tổ chức cho tôi được gửi đề tài nghiên cứu
khoa học để tham gia xét Giải thưởng “Tài năng khoa học trẻ Đại học Thủ Dầu Một”
năm 2015
Tên đề tài: Sự chuyển nghĩa và thay đổi cách sử dụng của nhóm từ ghép Hán
Việt so với từ gốc Hán
Tôi xin cam đoan đây là đề tài do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của Thạc sĩ Trần
Duy Khương; đề tài này chưa được trao bất kỳ một giải thưởng nào khác tại thời
điểm nộp hồ sơ và không phải là luận văn, đồ án tốt nghiệp
Nếu sai, tôi xin chịu trách nhiệm trước khoa và Nhà trường
XÁC NHẬN CỦA LÃNH ĐẠO KHOA
(ký, họ và tên)
c h í n h
t h ự
Trang 10MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu đề tài 1
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 1
3.1 Đối tượng nghiên cứu 1
3.2 Phạm vi nghiên cứu 2
3.3 Phương pháp nghiên cứu 2
4 Lịch sử vấn đề 2
5 Sản phẩm và khả năng ứng dụng 4
6 Bố cục và nội dung của đề tài 5
Chương 1: Khái quát về từ Hán Việt trong quá trình phát triển của tiếng Việt 6
1.1 Khái quát về từ Hán Việt 7
1.2 Quá trình du nhập của tiếng Hán vào Việt Nam 13
1.3 Vai trò của tiếng Hán đối với sự phát triển ngôn ngữ Việt 17
1.4 Tiểu kết 22
Chương 2: Nhóm từ Hán Việt có sự chuyển đổi nghĩa so với nghĩa gốc Hán 23
2.1 Nguyên nhân có sự chuyển đổi nghĩa trong quá trình sử dụng từ Hán 23
2.2 Phân loại các nhóm từ Hán Việt thay đổi nghĩa 25
2.2.1 Từ Hán Việt có nghĩa thu hẹp hoặc mở rộng so với nghĩa gốc 26
2.2.2 Từ Hán Việt có nghĩa khác 28
2.3 Tiểu kết 62
Chương 3: Cách dùng từ Hán Việt của người Việt hiện nay 64
3.1 Xu hướng sử dụng từ Hán Việt trong đời sống người Việt 64
3.1.1 Nỗ lực chính thống hóa trong sử dụng 65
3.1.2 Tạo ra từ mang yếu tố Hán Việt mới theo nhu cầu thực tế 66
3.1.3 Sử dụng song hành từ Hán Việt nguyên bản và từ Hán Việt có cách dùng khác 88
Trang 113.1.4 Chấp nhận sự chuyển nghĩa 112
3.2 Các vấn đề bất cập về nghĩa khi sử dụng từ Hán Việt 113
3.3 Các lỗi sai về cấu tạo từ 115
3.3.1 Dùng từ bất thoả do không phân biệt được từ Hán Việt và từ thuần Việt 115 3.3.2 Dùng từ bất thoả do cách tạo từ mới không theo nguyên tắc cấu tạo 119
3.4 Ảnh hưởng của những từ Hán Việt thay đổi cách sử dụng 125
3.5 Tiểu kết 126
KẾT LUẬN 128
TÀI LIỆU THAM KHẢO 131
Trang 123 Bảng 3.1.2.1 Từ Hán Việt cấu tạo mới từ hai yếu tố Hán 67
4 Bảng 3.1.2.2 Từ Hán Việt cấu tạo mới từ một yếu tố Hán và
Trang 13PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ở Việt Nam hiện nay, trên các phương diện khác nhau của đời sống, người Việt vẫn thường dùng từ Hán Việt Trong những lĩnh vực cần diễn đạt ngôn ngữ một cách khoa học, chặt chẽ, chính xác như trong nghiên cứu khoa học, giáo dục, quân sự, chính trị hay văn chương, người Việt thích dùng những từ Hán Việt để tạo nên tính trang trọng, hàn lâm cho văn bản Nhưng để hiểu rõ hoặc sử dụng đúng với nghĩa nguyên bản từ nguyên học thì không phải ai cũng làm được Cho nên, chúng tôi chọn đề tài này nhằm tăng thêm vốn từ Hán Việt cho mình cũng như thông qua đó có thể giúp cho mọi người hiểu hơn về nghĩa của từ Hán Việt và có cách sử dụng cho thật hợp lý và hiệu quả
2 Mục tiêu đề tài
Thông qua việc xác định những từ Hán Việt có sự thay đổi cách sử dụng, chúng tôi muốn tìm hiểu những từ Hán Việt được sử dụng trong đời sống hằng ngày có nghĩa gốc là gì và việc sử dụng nghĩa từ Hán Việt của người Việt như thế có hợp lý hay không Từ đó, chúng tôi cố gắng chỉ ra những cách dùng từ chưa thoả đáng để không làm mất đi sự trong sáng của tiếng Việt Đồng thời, đề tài này có thể sẽ giúp chúng ta
có ý thức hơn nữa trong việc sử dụng từ Hán Việt, cũng như có thể diễn đạt ngôn ngữ một cách hợp lý và hiệu quả hơn trong đời sống hằng ngày
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là từ Hán Việt có sự thay đổi cách sử dụng, tức
là những từ có cách sử dụng về nghĩa/ hoặc vỏ ngữ âm không giống với từ gốc, hoặc là những từ mới do người Việt tạo ra Tuy nhiên, chúng tôi chỉ tiến hành khảo sát sự thay đổi cách sử dụng đối với từ ghép, bởi vì từ đơn đơn là dạng từ có cách vận hành linh hoạt, có thể dùng độc lập như một từ thuần Việt nên khó có thể xác định sự thay đổi cách sử dụng như là những từ ở dạng ghép Do đó, đối tượng được khảo sát trong công trình này là những từ Hán Việt ở dạng ghép và có sự thay đổi cách sử dụng Trong quá trình sử dụng, có khá nhiều từ mang hình thức của từ Hán Việt được sử dụng chưa thật
Trang 14sự hợp lý, chưa diễn đạt đúng ý nghĩa hoặc có những từ ngữ được sử dụng với những nét nghĩa khác hoặc thay đổi hoàn toàn nghĩa vốn có ban đầu của nó.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong đề tài này, chúng tôi tiến hành khảo sát tất cả các từ Hán Việt có sự chuyển đổi ghĩa so với nghĩa gốc của từ Hán được thể hiện trong từ điển Việt Hán
(chúng tôi dựa trên cơ sở từ quyển Từ điển Việt Hán hiện đại của tác giả Trương Văn
Giới và Lê Khắc Kiều Lục (2006, Nhà Xuất Bản Lao Động) Ngoài ra, chúng tôi còn khảo sát thêm những từ Hán Việt bị dùng chưa thỏa đáng mà không được các phương tiện thông tin chính thống đề cập đến (tức những từ Hán Việt cá biệt trong thực tế sử dụng của người Việt hiện nay) Đối với chương 3, chúng tôi chỉ đưa ra các trường hợp dùng từ Hán Việt có sự chuyển đổi cách sử dụng được xét trên cơ sở lý thuyết và tiến
hành khảo sát trên từ quyển Từ điển Việt Hán hiện đại của tác giả Trương Văn Giới và
Lê Khắc Kiều Lục chứ không khảo sát thực tế
3.3 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nội dung nghiên cứu, chúng tôi chủ yếu dựa trên phương pháp so sánh lịch đại và đồng đại Cụ thể là so sánh từ Hán Việt được giải thích nghĩa trong từ điển Việt Hán có trùng khớp với từ Hán Việt trong từ điển Hán Việt hay không mà phân loại các từ ấy
Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng phương pháp phân tích (đối với việc xem xét nghĩa của từ Hán Việt chuyển đổi nghĩa); phương pháp nghiên cứu liên ngành giữa kiến thức ngôn ngữ học với kiến thức văn hoá học (xem xét các nguyên nhân tạo ra sự thay đổi nghĩa ở một số từ Hán Việt so với từ Hán nguyên bản, hoặc dùng để giải thích
sự sáng tạo ra những từ có hình thức Hán Việt mới không đúng phương thức cấu tạo…)
4 Lịch sử vấn đề
Hiện nay, có khá nhiều công trình nghiên cứu về lịch sử phát triển của tiếng Việt, đặc biệt là các công trình nghiên cứu về từ Hán Việt Vì từ Hán Việt là những từ gốc Hán thâm nhập vào Việt Nam bằng cả con đường chiến tranh (cưỡng bức) lẫn con đường hoà bình (giao lưu văn hoá), đồng thời được người Việt sử dụng làm công cụ giao tiếp quan trọng trong hơn một ngàn năm nên có rất nhiều vấn đề nảy sinh trong khi sử dụng Vì thế, các học giả từ lâu đã có những công trình nghiên cứu về vấn đề này với mục đích là giúp cho người Việt sử dụng từ Hán Việt một cách chính xác và
Trang 15có hiệu quả “Từ Hán Việt ngoài tư cách là đối tượng nghiên cứu của khoa học ngôn ngữ (trực tiếp là của bộ môn từ vựng học), nó còn là một hiện tượng thường đụng chạm tới trong giao tiếp hàng ngày Việc dùng từ Hán Việt như thế nào được gọi là đúng, thế nào là sai hoàn toàn không phải là vấn đề đơn giản Vì những lẽ đó, trong mấy năm gần đây, báo Văn nghệ của Hội nhà văn đã dành nhiều trang đăng tải ý kiến của các học giả, các nhà nghiên cứu và bạn đọc về vấn đề này Tuy nhiên, cho đến nay, việc quan niệm thế nào là đúng, thế nào là sai trong cách dùng từ Hán Việt, cũng như việc định ra một giải pháp nhằm khắc phục tình trạng sử dụng tùy tiện loại từ này hiện vẫn còn nan giải Tình hình đó cho thấy tính phức tạp của vấn đề, đồng thời cũng phản ánh những yêu cầu cấp bách của xã hội” [6]
Tác giả Vũ Cao Phan cũng có một bài viết về vấn đề từ Hán Việt với đề tài “Thử
đề xuất một giải pháp” (22, tr 21), trong đó, ông cho rằng: “nếu như không có giải pháp cho vấn đề trên thì tình hình dùng từ Hán Việt sẽ ngày càng bừa bãi” Và ông cũng đã viết “Mặc dù được sử dụng nhiều và phát triển ngày càng phong phú trong ngôn ngữ Việt, về mặt chính thức từ Hán-Việt vẫn bị coi là thứ từ vay mượn” Và một khái niệm được các nhà ngôn ngữ học đưa ra là “Từ Hán Việt là các từ mà người Việt mượn từ tiếng Hán, nhưng được đọc theo cách của người Việt Nam” Điều này cho
chúng ta thấy được từ Hán Việt tuy được sử dụng phổ biến nhưng vẫn không phải là bản ngữ nên chúng ta cần hiểu rõ nghĩa từ nguyên của nó mà có cách sử dụng cho thật hợp lý
Ngoài ra còn có các công trình như: “Chữ Hán của Người Việt” của Vũ Tuấn Sán, nói về trường hợp Việt hóa từ Hán theo cách đọc và hiểu nghĩa và trường hợp chữ viết theo thể “thảo” nhưng theo cách riêng của người Việt; “Có nên dạy chữ Hán ở trường phổ thông” của tác giả Vũ Văn Dân (trao đổi với giáo sư Nguyễn Đình Chú
trên mục Bình luận văn nghệ ngày 11 tháng 10) Sau đó là bài viết của tác giả Trần
Thanh Tuấn cũng có bài viết trao đổi với tác giả Vũ Văn Dân về vấn đề này Cả hai bài đều nói về vai trò của việc học chữ Hán trong nỗ lực nâng cao chất lượng dạy học ngữ văn phổ thông; bài báo của tác giả Hồ Xuân Tuyên với đề tài “Về một số từ Hán Việt
hay bị phê phán dùng sai” (in trong tạp chí Ngôn ngữ và đời sống số 1 + 2 năm 2012)
cũng đề cập đến vấn đề sử dụng sai một số từ Hán Việt Tác giả Hồ Xuân Tuyên nhận
định rằng: “Một số từ Hán Việt đã được người Việt thay đổi trật tự các yếu tố cấu tạo
từ, biến đổi âm và chuyển nghĩa để Việt hóa chúng chứ chưa hẳn đã dùng sai”và đưa
Trang 16ra hai trường hợp sử dụng từ Hán Việt bị “phê phán” dùng sai là: phát âm sai (viết sai) hay cách đổi trật tự, biến âm, chuyển nghĩa để Việt hóa và lỗi lặp (hoặc yếu tố dư) trong các kết hợp đồng nghĩa giữa yếu tố Hán và Việt hay yếu tố Hán đã được Việt hóa [18, tr 9 - 11] Những trường hợp đó theo tác giả Hồ Xuân Tuyên thì “không hoàn toàn cho rằng tất cả những từ Hán Việt bị phê phán dùng sai đều phải được coi
là dùng đúng hết Trong số ấy, có một số từ theo quá trình lịch sử, người Việt đã
“thuần hóa” chúng theo quy luật ngôn ngữ của mình Số khác nằm trong trường hợp dùng sai cần lưu ý” [18, tr 12] Từ công trình này chúng ta có thể thấy được cái nhìn
sơ lược về sự nhận định đúng sai của việc dùng từ Hán Việt, khi phán xét cần căn cứ vào nhiều yếu tố chứ không nên nhìn phiến diện, một chiều mà đánh giá
Những công trình này phần nào nêu lên được thực trạng sử dụng từ Hán Việt cuả người Việt hiện nay Ngoài ra, đây còn là đề tài được sinh viên ngành Ngôn ngữ hoặc ngành Ngữ văn Trung Quốc chọn làm đề tài nghiên cứu, ví dụ như đề tài “Phân tích sự khác biệt về nghĩa của từ Hán Việt và từ tiếng Hán tương ứng cùng những ứng dụng trong giảng dạy từ vựng tiếng Hán” của sinh viên Trần Thị Tố Nga Đề tài này đã chỉ
ra được sự khác biệt về nghĩa của từ Hán Việt và từ tiếng Hán tương ứng Hơn nữa, sinh viên Trần Thị Tố Nga đã đưa ra được phương pháp giảng dạy từ vựng tiếng Hán
để có phương pháp giảng dạy tiếng Hán tốt hơn
Tuy nhiên, những công trình này phần lớn đều chỉ khái quát được sơ lược về nhóm từ Hán Việt sai biệt nghĩa mà vẫn chưa có bảng thống kê cụ thể về các từ Hán Việt đó Tiếp nối những công trình nghiên cứu của các học giả đi trước, chúng tôi chọn đề tài “Khảo sát nhóm từ Hán Việt thay đổi cách sử dụng” làm đề tài nghiên cứu của mình Chúng tôi hy vọng rằng công trình nghiên cứu này sẽ góp phần bổ sung thêm cho những công trình trên để từ đó có thể thấy được một cái nhìn tổng quát hơn
về thực tế sử dụng từ Hán Việt và có cách sử dụng hợp lý hơn và góp phần làm cho tiếng Việt ngày càng giàu đẹp hơn
5 Sản phẩm và khả năng ứng dụng
Đề tài nghiên cứu sẽ cho chúng ta biết được sơ lược về nguồn gốc của sự du nhập của tiếng Hán vào Việt Nam và vai trò của tiếng Hán đối với sự phát triển ngôn ngữ tiếng Việt, nguyên nhân có sự thay đổi cách sử dụng, phân loại các từ Hán Việt thay đổi cách sử dụng, xu hướng sử dụng từ Hán Việt của người Việt và các vấn đề bất cập khi dùng từ Hán Việt hiện nay
Trang 17Công trình này có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho bản thân hoặc cho các sinh viên khác khi tiến hành đọc văn bản hoặc soạn thảo văn bản (như giáo án, bài luận…) trong quá trình học tập hiện tại cũng như trong quá trình giảng dạy trong tương lai Hơn nữa, mọi người có thể biết được từ Hán Việt nào mắc lỗi dùng từ chưa thoả đáng, từ nào là từ được “Việt hóa” cho phù hợp với ngôn ngữ Việt mà thận trọng hơn trong việc sử dụng từ Hán Việt, đặc biệt là khi sử dụng từ Hán Việt ở các phương tiện thông tin truyền thông, trong các văn bản chính luận, khoa học, hành chính (là những văn bản sử dụng nhiều từ Hán Việt)
6 Bố cục và nội dung của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của công trình sẽ được trình bày trong ba chương:
- Chương 1: Khái quát về từ Hán Việt trong quá trình phát triển của tiếng Việt
Nội dung chương này nhằm giới thiệu sơ lược về nguồn gốc của sự du nhập của tiếng Hán vào Việt Nam và vai trò của tiếng Hán đối với sự phát triển ngôn ngữ tiếng Việt
- Chương 2: Nhóm từ Hán Việt có sự chuyển đổi nghĩa Nội dung chương này,
nhằm tìm hiểu nguyên nhân có sự sai biệt nghĩa, khảo sát, thống kê và phân loại từ
Hán Việt các từ Hán Việt chuyển đổi cách sử dụng
- Chương 3: Cách dùng từ Hán Việt của người Việt hiện nay Nội dung chương
này sẽ tìm hiểu xu hướng sử dụng từ Hán Việt của người Việt và các lỗi sai khi dùng
từ Hán Việt hiện nay
Trang 18Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ TỪ HÁN VIỆT TRONG QUÁ TRÌNH
PHÁT TRIỂN CỦA TIẾNG VIỆT
Cho đến nay, vấn đề nguồn gốc dân tộc Việt Nam vẫn còn một số tranh luận, do vậy, vấn đề về nguồn gốc tiếng Việt cũng khó có thể khẳng định một cách chính xác
Về nguồn gốc tiếng Việt, trước đây ít có nhà nghiên cứu nào nhắc đến, mãi cho đến gần đây mới có một số học giả đã đi sâu tìm hiểu về vấn đề này như: Lê Ngọc Trụ, Đào Trọng Đủ… Học giả Henri Maspéro có nhận định tương đối hợp lý và thực tế
hơn: “Tiếng Việt Nam ngày nay là kết quả trại lẫn của nhiều thứ tiếng” [22, tr 15]
Hiện nay, có nhiều học giả đưa ra các học thuyết khác nhau về từ Hán Việt Tuy chưa đi đến được những kết luận dứt khoát, thỏa đáng, nhưng trong tình hình nghiên cứu hiện nay, nhiều nhà nghiên cứu đang hướng sự tìm tòi suy nghĩ vào một hệ thống ngôn ngữ rộng lớn, hình thành từ xa xưa, hoạt động trên một địa bàn rộng, bao trùm cả bán đảo Đông Dương và những miền lân cận, được gọi là hệ ngôn ngữ Nam Á, bao gồm nhiều nhóm ngôn ngữ như: Môn – Khmer, Việt - Mường, Thái
Theo Phan Ngọc trong cuốn Tiếp xúc ngôn ngữ ở Đông Nam Á thì: Như nhiều người đã biết, bức tranh ngôn ngữ Đông Nam Á hiện nay rất đa dạng và việc tiếp xúc ngôn ngữ liên tục diễn ra chằng chéo làm cho nhà nghiên cứu như bước vào một mê cung khó tìm được lối ra Việc sắp xếp các ngôn ngữ theo dòng họ hết sức không rõ ràng Gần một thế kỷ nay, người ta cứ tranh cãi mà không đi đến những kết luận dứt khoát về một hiện tượng khá phổ biến: có một số ngôn ngữ không sắp xếp vào đâu cho thỏa đáng Tiếng Việt thuộc dòng Môn – Khmer hay Tày - Thái? Nhóm Mèo – Dao thuộc dòng Tạng hay Nam Á? [12, tr 84] và “Người ta dễ nhận ra cơ chế tiếng Việt thuộc dòng ngôn ngữ Tày - Thái đó là ngôn ngữ đơn tiết, có thanh điệu” [12, tr 96]
Việc vay mượn tiếng nước ngoài để làm giàu tiếng nước mình thì bất cứ dân tộc nào trên thế giới đều có Ở Việt Nam cũng như thế, người Việt đã vay mượn tiếng nước ngoài để làm giàu cho tiếng Việt như: Pháp, Anh, Nga đặc biệt là tiếng Hán Khi từ Hán được du nhập vào Việt Nam, người Việt đã Việt hóa những từ Hán đó để ngày nay, chúng ta gọi những từ đó là từ Hán Việt
Cùng với tiếng Việt, tiếng Hán cũng là một ngôn ngữ đơn tiết và có thanh điệu nên sự tiếp xúc ngôn ngữ dễ dàng xảy ra và hiện tượng vay mượn cũng là một điều
Trang 19không đáng ngạc nhiên Có rất nhiều từ thông dụng mà chúng ta cho rằng là đó từ thuần Việt, thực ra chúng cũng mang gốc Hán: “ông”, “bà”, “cha”, “mẹ”, “bác”, “chú”,
“thím”, “dì”, “áo”, “quần”, “ghế”
1.1 Khái quát về từ Hán Việt
Từ Hán Việt là những từ gốc Hán thâm nhập vào Việt Nam bằng cả con đường chiến tranh (cưỡng bức) lẫn con đường hoà bình (giao lưu văn hoá) Từ TK I trước công nguyên, người Hán đã đặt quyền thống trị trên đất Giao Châu và chính thức chấm dứt sự đô hộ ấy là vào thế kỷ X sau công nguyên Trong suốt khoảng một ngàn năm này, một khối lượng lớn từ gốc Hán đã được du nhập vào trong vốn từ của người Việt Hơn nữa, từ sau khi độc lập vào năm 938 đến giữa thế kỷ XIX (thời kỳ bắt đầu tiếp nhận văn hoá phương Tây), Việt Nam vẫn luôn học tập những thành tựu văn minh Trung Hoa, đặc biệt là về lĩnh vực chính trị, văn học nghệ thuật Như vậy, trong khoảng hai ngàn năm ấy, yếu tố Hán vẫn thường trực tác động đến văn hoá Việt, trong
đó, lớp từ gốc Hán (được người Việt đọc theo khẩu âm Việt, gọi là từ Hán Việt) là một minh chứng điển hình Và một điều tất yếu xảy ra là từ thuần Việt và từ Hán Việt cùng tồn tại trong hệ thống tiếng Việt
Trước khi chữ Quốc ngữ ra đời, người Việt phải dùng chữ Hán để viết nhưng đọc theo kiểu khẩu âm Việt (chữ Nôm cũng dựa vào chữ Hán nhưng phức tạp hơn và chưa được chuẩn hóa nên vẫn chưa có đủ cơ hội để được trở thành dạng chữ viết phổ cập trong toàn xã hội) Vì vậy, nhà nước phong kiến Việt Nam đã sử dụng chữ Hán trong các văn bản hành chính quốc gia trong suốt quá trình tồn tại
Theo Đặng Đức Siêu (trong cuốn “Dạy và học từ Hán Việt ở trường Phổ thông”) thì “Từ Hán Việt là một thực thể vừa quen vừa lạ” Và ông đã giải thích như sau:
“Trước hết, là quen bởi vì các vỏ ngữ âm của nó đã được Việt hóa đến cao độ
nên không xa lạ gì với ngữ cảm, với cảm quan thính giác của người Việt chúng ta Còn
lạ, chủ yếu là do kết cấu ngữ nghĩa của từ Hán Việt Những từ như: cứu cánh, bình
sinh, tỏa chiết, nhân thân, trầm kha chẳng hạn, tuy cũng thường xuyên xuất hiện trong lời nói, trên văn bản, nhưng chẳng phải là dễ hiểu đối với tất cả mọi người” [15,
tr 4 - 5]
Như vậy, để chúng ta có thể hiểu rõ hơn về từ Hán Việt và có thể sử dụng một
cách hiệu quả thì trước hết, chúng ta sẽ đi tìm hiểu về Hán tự Thứ nhất: về thể chữ,
Trang 20Hán tự là dạng chữ viết tượng hình được người Trung Hoa sử dụng nhiều thế kỷ; và
hiện nay còn được phổ biến rất rộng rãi Thứ hai: về dạng chữ, trên cơ bản, cho đến hiện nay có hai dạng chữ: giản thể (sử dụng ở Trung Quốc đại lục, trừ Quảng Đông)
và phồn thể hay giản thể (sử dụng ở Đài Loan) Riêng ở Việt Nam, vì sau cuộc vận động Ngũ Tứ 1919, chữ giản thể mới bắt đầu xuất hiện, trong khi Việt Nam lại dần dần chuyển hướng giao lưu từ văn hoá Trung Hoa sang văn hoá phương Tây nên các học giả ít người biết lối giản thể Có nghĩa là, trong khi văn chương Trung Hoa đã thay đổi rất nhiều với lối văn bạch thoại thì chúng ta vẫn sử dụng với lối văn cổ điển và chủ yếu những từ Hán đời Đường Những từ Hán này được phát âm theo lối riêng của người Việt nên được gọi là từ Hán Việt; cách đọc những từ ấy được Nguyễn Tài Cẩn gọi là “cách đọc Hán Việt”
Người Việt mượn chữ Hán của Trung Quốc chủ yếu ở thời cổ đại, điển hình nhất là thời Đường- Tống Chữ Hán thời này có thể chữ phức tạp (chữ phồn thể), lối hành văn cũng mang tính sách vở (dùng nhiều từ có nghĩa trừu tượng, khó hiểu, mang tính chất bác học cao) Do hoàn cảnh lịch sử xã hội lúc ấy mà chữ Hán ở giai đoạn này
có sự xâm nhập và ảnh hưởng lớn đến các nước lân cận như Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam Chữ Hán khi xâm nhập vào các nước đã được biến đổi về âm đọc theo phong ngôn của nước đó và các tổ chức quan phương dùng làm văn tự chính thống của mỗi nước Ở Việt Nam, trong suốt thời kỳ phong kiến, người Việt đã sử dụng chữ Hán làm văn tự chính thống của mình Đồng thời, nhằm thể hiện sự độc lập tự chủ, một số thành phần trí thức Việt đã dùng chữ Hán để chế ra chữ Nôm
Về thuật ngữ “từ Hán Việt”, từ trước đến nay, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học
đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau Họ đã có nhiều bài viết để trực tiếp hoặc gián tiếp đưa ra nhận định riêng của mình về khái niệm của từ Hán
Theo đó, chúng ta thường hay nhầm lẫn giữa “từ Hán Việt” và “tiếng Hán
Việt” Như vậy, “Từ là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa hoàn chỉnh và cấu tạo ổn định, dùng để đặt câu” [9, tr 1072] Và khi người Việt phát âm các âm tiết để tạo nên
chuỗi lời nói trong một hoàn cảnh giao tiếp cụ thể, đơn vị được dùng trong chuỗi lời
nói là “tiếng” “Tiếng là giọng nói riêng của một người hay cách phát âm của một vùng nào đó” [9, tr 987] Như vậy, giữa “từ Hán Việt” và “tiếng Hán Việt” có mối
quan hệ chặt chẽ với nhau
Trang 21Năm 1972, trong công trình Văn phạm Việt Nam (Giản dị và thực dụng), Bùi Đức Tịnh đã nêu một cách hiểu đơn giản về tiếng Hán Việt như sau: “Có thể định nghĩa một cách giản dị rằng tiếng Hán Việt là những tiếng Hán phát âm theo lối Việt Ban đầu nó là những chữ Hán mà khi học trong sách Trung Hoa, các nhà tri thức nước ta đọc trại đi theo giọng Việt ” [23, tr 10]
Năm 1979, trong chuyên luận về tiếng Việt lịch sửvới tiêu đề là Nguồn gốc
và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt, Nguyễn Tài Cẩn đã nêu lên tầm quan trọng
của từ Hán Việt và những điều kiện lịch sử, văn hoá cho quá trình hình thành tên gọi,
cách đọc từ Hán Việt Theo Nguyễn Tài Cẩn thì“Chữ Hán (hay còn gọi là chữ Nho) vốn là một nền văn tự do người Hán sáng tạo ra cách đây khoảng trên 3000 năm, khi người Hán đang còn đóng khung địa bàn cư trú của mình trong vùng đất thuộc lưu vực sông Hoàng Hà và sông Vị” và “Cách đọc Hán Việt thường được giải thích là lối đọc chữ Hán riêng của Việt Nam, người Việt chuyên dùng khi đọc các văn bản tiếng Hán” [3, tr 18] Như vậy, qua công trình của mình, Nguyễn Tài Cẩn chỉ đưa ra một số
ý kiến về chữ Hán và cách đọc Hán Việt của người Việt nhưng cũng chưa đưa ra định nghĩa cụ thể về từ Hán Việt
Năm 1998, Nguyễn Như Ý trong Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học đã
cho rằng: “Từ tiếng Việt có nguồn gốc từ tiếng Hán, được nhập vào hệ thống từ vựng tiếng Việt, chịu sự chi phối của các quy luật ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa của tiếng Việt, còn gọi là từ Việt gốc Hán” [23, tr 369]
Tác giả Lê Ngọc Trụ trong Tầm nguyên từ điển cũng đã đưa ra định nghĩa sau:
“Tiếng Hán Việt là tiếng Hán phát âm theo lối Việt Ban đầu đó là những chữ Hán mà khi đọc sách Trung Hoa các nhà trí thức ta đọc trại đi theo giọng Việt” [22, tr 15]
Nhà Từ vựng học Nguyễn Thiện Giáp trong Giáo trình Từ vựng học tiếng
Việt (bản in năm 1998) cũng khẳng định: “Các từ ngữ gốc Hán đọc theo âm Hán Việt, gọi tắt là từ Hán Việt” [7, tr 241 –242]
Xuất phát từ quan điểm lịch sử, Lê Đình Khẩn trong bài Từ vựng gốc Hán trong
tiếng Việt cũng thống nhất với quan điểm của Nguyễn Như Ý, ông khẳng định: “Từ
Hán Việt là lớp từ Hán mà tiếng Việt vay mượn từ đời Đường và dựa trên cơ sở âm đọc ở Trường An là âm đọc chính thời bấy giờ…” [11, tr 60]
Tuy nhiên, không phải mọi từ mượn từ Hán đều là từ Hán Việt Từ Hán Việt nói ở đây là từ mượn gốc Hán và được đọc theo cách phát âm của người Việt Như vậy
Trang 22là, những từ mượn từ tiếng Hán trước đời Đường như: buồng, buồn, ngà, đìa, chém…
và những từ mượn theo con đường khẩu ngữ như: tài xế, mì chính, vằn thắn… không được coi là từ Hán Việt [1, tr 36]
Một số nhà ngôn ngữ học Việt Nam coi âm Hán-Việt chỉ là âm chữ Hán vào thời nhà Đường, đọc theo quy luật ngữ âm tiếng Việt Do quá trình tiếp xúc giữa hai ngôn ngữ Hán và Việt bắt đầu từ lâu, và tiếng Hán đã được du nhập vào Việt Nam từ khi nhà Hán xâm chiếm Việt Nam, cho nên ở Việt Nam đã xuất hiện một lớp từ gọi là
“từ Hán Việt” Tuy nhiên, quá trình tiếp nhận các từ ngữ tiếng Hán giai đoạn đầu chỉ diễn ra một cách lẻ tẻ, không có tính hệ thống và chủ yếu bằng đường khẩu ngữ Đến giai đoạn nhà Đường thì tiếng Hán được du nhập một cách có hệ thống, với số lượng lớn và chủ yếu thông qua con đường sách vở Theo quan điểm này thì phiên âm Hán-Việt là cách thức đọc tiếng Hán theo âm tiếng Hán thời nhà Đường qua đường sách
vở, được những người Việt sử dụng chữ Hán đặt ra, Việt hóa ít nhiều cho phù hợp với
hệ thống ngữ âm của tiếng Việt vào thời kỳ đó Theo Henri Maspéro, Benhard Kalgren, Torosu Mineyra, âm Hán Việt mà chúng ta biết đến là ngôn ngữ Tràng An thế kỷ IX - X, vào thời kỳ cuối Đường Đây là giai đoạn hình thành cách đọc Hán Việt
có hệ thống Cũng theo quan điểm này, những từ Hán được du nhập từ giai đoạn trước hay các từ Hán cổ không được đọc theo âm Hán Việt (đời Đường) mà theo âm Hán cổ,
và đã được Việt hóa tương đối, hoặc là để làm phong phú nguồn từ vựng cho tiếng Việt cổ dùng trong dân gian
Theo Nguyễn Thiện Giáp (trong Từ vựng học Tiếng Việt ) thì: “Tiếng Việt và tiếng Hán đều là những ngôn ngữ có lịch sử lâu đời Trong quá trình tiếp xúc giữa hai ngôn ngữ, tiếng Việt đã tiếp nhận một khối lượng rất lớn của tiếng Hán để làm giàu thêm kho từ ngữ của mình Hiện tượng tiếp nhận này diễn ra không giống nhau trong các thời kỳ Nếu hiện tượng tiếp nhận từ ngữ Hán của tiếng Việt ở giai đoạn đầu chỉ
có tính lẻ tẻ, rời rạc, chủ yếu bằng con đường khẩu ngữ qua sự tiếp xúc trực tiếp của người Việt với người Hán thì đến đời Đường Tiếng Việt đã tiếp nhận các từ ngữ Hán một cách có hệ thống bằng con đường sách vở” [7, tr 241 – 242]
Do bị ngàn năm Bắc thuộc nên Việt Nam chịu ảnh hưởng rất nhiều về ngôn ngữ
Trung Hoa Theo Nguyễn Văn Khang thì: “Tuy chưa có (và rất khó) thống kê chính xác nhưng có thể khẳng định rằng vốn từ mượn Hán chiếm từ 60 – 70% vốn từ tiếng Việt hiện nay” [10, tr 387] Tiếng Hán Việt được hình thành do giới bình dân trực tiếp
Trang 23giao thiệp với người Trung Hoa và do giới Nho học trí thức mượn kinh điển sách vở
Trung Hoa, đọc chữ Hán theo phương pháp “phiên thiết” ghi trong tự điển Trung Hoa
bằng giọng Việt Nam thành tiếng Hán Việt [22, tr 15 – 16]
Trong việc mượn tiếng nước ngoài thì người Việt đã “Việt hóa” tiếng của họ
để phù hợp với ngôn phong và cách phát âm của người Việt trong giao tiếp cũng như trong sáng tác văn học Chẳng hạn như: “tua bin” (turbin), “tắc xi” (taxi), “rin”
(jean), là những từ ngoại lai nhưng người Việt đã “Việt hóa” chúng thành những từ
có cách đọc phù hợp với cách phát âm của người Việt Việc mượn tiếng Trung Hoa để làm giàu tiếng Việt cũng không ngoại lệ, nên ngày nay mới có hai phạm trù “tiếng Hán Việt và Hán Việt -Việt hóa” Một bộ phận của từ Hán Việt là mượn cả âm lẫn nghĩa và một bộ phận nữa chỉ mượn âm thanh sau đó “Việt hóa” chúng đi thành tiếng Việt Nguyên nhân mà kho từ vựng tiếng Việt có rất nhiều từ Hán Việt là do thời gian tiếp xúc của tiếng Việt và tiếng Hán rất lâu dài Hơn nữa, tuy trong lúc đó, Việt Nam
đã có một dạng chữ viết riêng nhưng chỉ ở dạng sơ khai (chữ nòng nọc), loại chữ này chưa mang tính hệ thống, chưa sử dụng phổ biến cho nên người Việt đã vay mượn chữ Hán để sử dụng trong các văn bản hành chính cũng như trong sinh hoạt hằng ngày Tuy nhiên, trong quá trình vay mượn, người Việt đã không đọc đúng âm Hán mà đọc
nó theo phương thức phát âm/ theo khẩu âm của người Việt, từ đó biến từ Hán thành
từ Hán - Việt Đó chính là quá trình vay mượn từ Hán và biến chúng thành từ Hán Việt
Trước tiên là Việt hóa về mặt ngữ âm: từ Hán chuyển thành từ Hán - Việt, được đọc theo âm Việt (thường gọi là âm Hán - Việt) phù hợp với quy luật ngữ âm của người Việt
Hoàng Phê đã từng nói: “Khi ta mượn một tiếng nước ngoài, thì với một ý nghĩa nào đó, chúng ta đã tạo thành một từ mới của ta: từ tiếng Việt này sẽ có một đời sống riêng của nó” [25].Cho nên, từ Hán Việt có nhiều thay đổi về mặt kết cấu so với
từ gốc Hán Dễ thấy nhất là xu hướng rút gọn hàng loạt từ ghép thành từ đơn: văn (văn chương, văn học), chế (chế biến, chế tạo), lệnh (mệnh lệnh), đảm (đảm đương), hạn (kỳ hạn), điệu (yểu điệu), Ngoài việc rút gọn, người Việt còn phát triển thành từ ghép Việt Nam theo công thức: “từ Việt + từ Hán” hoặc “từ Hán + từ Việt” Theo đó,
có rất nhiều từ mới được xuất hiện như: cảm mến, bao gồm, bày biện, bình bầu, biến
đổi, bồi đắp, kỳ lạ, sống động… Ngay cả những từ ghép mang gốc Hán hoàn toàn, khi
Trang 24trở thành từ Hán - Việt thì cũng có thể bị chuyển hoán vị trí Thí dụ về sự chuyển hoán
vị trí như thế có rất nhiều: náo nhiệt (Hán: nhiệt náo), di chuyển (chuyển di), tố cáo (cáo tố), phóng thích (thích phóng), tướng mạo (mạo tướng), cứu vãn (vãn cứu), quyền lợi (lợi quyền), tiến cử (cử tiến), tang thương (thương tang) Dĩ nhiên, không phải từ ghép nào cũng có thể thay đổi vị trí Điều này thường xảy ra trong trường hợp từ ghép được cấu tạo bởi hai từ đơn âm đồng nghĩa [26] Hoặc thay đổi các yếu tố tổ thành, như: “an nhiên vô sự” (Hán) thành “bình yên vô sự” (Việt), “an phận thủ kỷ” (Hán) thành “an phận thủ thường” (Việt), “khởi tử hoàn sinh” (Hán) thành “cải tử hoàn sinh” (Việt), “dĩ thực vi thiên” (Hán) thành “dĩ thực vi tiên” (Việt), “cửu tử nhất sinh” (Hán) thành “thập tử nhất sinh”, “nhất cử lưỡng đắc” (Hán) thành “nhất cử lưỡng tiện” [15,
tr 79]
Đa số từ Hán-Việt có âm Hán-Việt chuẩn được người Việt sử dụng như từ thuần Việt mà khi nhắc đến từ Hán Việt đó thì chúng ta đều có thể hiểu được nghĩa của nó mà không cần phải suy nghĩ như: “lịch sử” (歷史), “văn hóa” (文化), “khán giả”(看者), “độc giả” (讀者), “ngôn ngữ” (言語),
Ngoài ra, còn có một số thuật ngữ liên quan, như từ Hán Việt cổ, từ Hán Việt Việt hoá Từ Hán Việt cổ là những từ được du nhập vào Việt Nam tương đối sớm nên còn mang nhiều nét âm vận của tiếng Trung Quốc trước đời Đường, như: “mùi” (味),
“buông” (放), “múa” (舞), “muộn” (晚), “cởi” (解), “khoe” (夸)… Bên cạnh đó, từ Hán Việt Việt hoá là khái niệm dùng để chỉ một bộ phận từ Hán - Việt du nhập vào Việt Nam tương đối sớm lại bị ảnh hưởng của tiếng bản địa, khiến cho âm đọc của chúng bị thay đổi để phù hợp với lối phát âm của người Việt, như: “gần” (xuất phát từ chữ cận 近), “giường” (xuất phát từ chữ “sàng”床), “mùa” (xuất phát từ chữ “vụ” 務),
“dầu” (xuất phát từ chữ “do”由) Đặc biệt, một số vùng miền còn có hiện tượng một
bộ phận từ Hán Việt bị “Việt hóa” theo âm địa phương như: “nhơn” (人), “đờn” (彈),
“lịnh” (令), “hớn” (漢)…
Trang 251.2 Quá trình du nhập của tiếng Hán vào Việt Nam
Chữ Hán (hay còn gọi là chữ Nho), vốn là văn tự do người Hán sáng tạo ra cách nay trên 3000 năm (thời Ân Thương) Ban đầu nó chỉ dùng để phục vụ riêng cho người Hán và các tầng lớp trên trong khu vực đã bị Hán hóa sớm: ghi chép những chuyện liên quan đến bói toán (giáp cốt văn tự), ghi chép lời nói cử những nhân vật nổi tiếng thời thượng cổ (Kinh Thư), ghi chép thơ ca dân gian (Kinh Thi), ghi chép các huyền thoại mà người Hán nghe được trong vùng (huyền thoại về Tam Hoàng, Ngũ Đế, Nữ Oa ) Tiến lên một bước nữa, nó dùng làm công cụ để bàn bạc về triết học, thảo luận
về chính trị (Luận ngữ, Mạnh tử, Trang tử, Tả truyện ) cũng như để sáng tác văn học (Sở từ) Sau đó, cùng với việc mở rộng địa bàn cư trú của người Hán, chữ Hán cũng dần dần được truyền ra toàn vùng Nó vượt sông Dương Tử, đi vào đất Ngô, đất Việt Đến khoảng đầu Công nguyên, một mặt nó tiếp tục đi xa hơn về phía Nam đi vào tận khu vực Giao Châu, một mặt nó lan tràn lên phía Đông Bắc đi vào đất Choson (nay là nước Triều Tiên) Sau đó vài thế kỷ, xuất phát từ vùng bờ biển miền Đông Trung Quốc, nó lại tràn sang đến hai vương quốc Beakje, Silla nằm ở phía Nam Choson Xa hơn nữa về phía Đông, nó đã vượt biển lan tràn sang đến quần đảo Nhật Bản Như vậy, chúng ta có thể thấy được rằng sức ảnh hưởng của chữ Hán ra các vùng lãnh thổ lân cận là rất lớn [3, tr 16]
Để hình thành một kho từ vựng Hán Việt lớn như hiện nay (theo Nguyễn Văn Khang thì có khoảng 70%) thì phải nói đến sự tiếp xúc của tiếng Việt với tiếng Hán
Theo Nguyễn Tài Cẩn viết trong cuốn Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt thì “Trong mối quan hệ giữa hai ngôn ngữ thì sự ảnh hưởng của tiếng Hán sang tiếng Việt đã lưu lại vết tích rõ rệt Trong quá trình đó thì sự lan truyền theo con đường thẳng là chủ đạo và chiếm tỉ lệ cao Đối với việc vay mượn thì bộ phận gồm các yếu tố mượn thông qua cách đọc Hán Việt là bộ phận lớn hơn và có hệ thống hơn cả”
[3, tr 33 - 34]
Những mối quan hệ giữa cư dân miền Bắc Việt Nam và cư dân Hán đã có thể bắt đầu hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp, từ ngay trong thời kỳ thượng cổ, khi chưa có sự phân hóa thành những ngôn ngữ riêng biệt như: Việt, Mường, Chứt Nhưng nói đến sự tiếp xúc giữa người Hán và người Việt để tạo nên sự ảnh hưởng lớn của tiếng Hán đến tiếng Việt thì phải bắt đầu từ khi Triệu Đà đem quân sang xâm lược Âu Lạc (- 179) và nhất là từ lúc nhà Hán đặt nền đô hộ ở Giao Chỉ, Cửu Chân (- 111) Chỉ đến năm 905,
Trang 26khi họ Khúc dấy nghiệp và nhất là năm 938, khi Ngô Quyền đại thắng quân Nam Hán, thì sự tiếp xúc ngôn ngữ này ngày càng yếu dần (chủ yếu là tiếp xúc qua nhóm sứ thần của hai nước, qua việc trí thức Việt học văn chương của Trung Quốc… mà không còn diễn ra ồ ạt như lúc trước)
Theo đó, Nguyễn Tài Cẩn đã căn cứ vào cứ liệu lịch sử, khảo cổ để đưa ra những nguyên nhân dẫn đến sự tiếp xúc lâu dài, liên tục và sâu rộng của tiếng Hán đến tiếng Việt như sau:
Thứ nhất: nhân tố về mặt chính trị;
Thứ hai: nhân tố về mặt xã hội;
Thứ ba: nhân tố về mặt văn hóa;
Về mặt chính trị:
Thời kỳ từ năm 179 (hoặc 111) trước Công Nguyên đến 905 (hoặc 938) sau Công Nguyên có thể coi là thời kỳ thống trị của phong kiến phương Bắc Với sự thất bại của nhà nước Âu Lạc trước tấn công của Triệu Đà, đất Giao Châu đã rơi vào một giai đoạn lịch sử với sự thiết lập chính quyền phong kiến ngoại xâm Sau cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, mở đầu bằng chính sách thống trị của Mã Viện, là sự thắt chặt của chế độ quận huyện, và của chính sách khai thác thuộc địa của Đông Hán, Tam Quốc, Lục Triều Cuối cùng, sau khi nhà nước Vạn Xuân do Lí Bí thành lập bị thất bại, sự thống trị của Tùy Đường trở nên ngày càng gay gắt, nhất là giai đoạn thống trị của Cao Biền [3, tr 35] Thông qua ba chặng đường như ở trên, chúng ta có thể thấy được rằng bộ máy thống trị của thực dân phong kiến phương Bắc lúc mới hình thành vẫn chưa có tác dụng chiều sâu, nhưng càng về sau thì càng chặt chẽ hơn, không những ở vùng trung du, đồng bằng gần trung tâm mà còn cả ở những miền biên viễn
Từ đó, chính quyền Trung Quốc đã chia bộ máy thống trị ra thành quận huyện và đến đời Đường thì chia ra thành hương, xã, tiểu xã để dễ dàng hơn trong việc quản lý Như vậy, khi chia nhỏ bộ máy nhà nước để cai trị thì từ Hán Việt cũng được đưa vào để người Hán thực hiện chính sách của mình, ví dụ như việc ban hành các sắc lệnh bằng Hán tự Và từ đó hình thành một lớp từ Hán Việt mang tính chất chính trị như: “phủ doãn”, “tri phủ”, “bệ hạ”, “tể tướng”, “tấu chương”, “sớ văn”
Về mặt xã hội:
Với sự hỗ trợ của bộ máy chính quyền ngày càng thắt chặt như trên thì người Hán đã dần dần thâm nhập vào các mặt hoạt động quan trọng của xã hội Việt Nam
Trang 27Một lực lượng người Hán đáng kể có ảnh hưởng đến xã hội Việt Nam lúc bấy giờ là những “kiều nhân” sang sinh cơ lập nghiệp ở Giao Chỉ Tầng lớp “kiều nhân” này có
lý do để lập nghiệp ở Việt Nam: kẻ thì sang theo bà con; kẻ thì sang để lánh nạn, khi ở ngay chính quốc không yên; có kẻ lại sang vì phạm tội, nhà nước bắt đi tù đày chuộc tội; có kẻ lại sang chỉ vì nghe đồn Giao Châu là đất yên ổn, dễ làm ăn, sinh sống… ngoài ra, lại cũng có những kiều nhân vốn là quan chức, sau khi thôi làm quan, ở lại sinh cơ lập nghiệp [3, tr 38]
Nhưng lực lượng người Hán không chỉ có thế mà còn có cả một đội ngũ binh lính với số lượng hết sức lớn, bao gồm cả đội quân thường trực, những đội quân kéo sang dẹp các cuộc khởi nghĩa, những đội quân tham gia những sự trừng phạt chém giết lẫn nhau trong tầng lớp thống trị Ngoài binh lính, lại còn có một số lượng đáng kể dân thường Trung Hoa bị đưa sang di dân, và những người Hán này sống lẫn với người Việt Nam trong mọi hoạt động xã hội Như vậy, một điều tất yếu xảy ra là sự tiếp xúc chặt chẽ và lâu dài giữa ngôn ngữ Hán và Việt [3, tr 39]
Về mặt văn hóa:
Khi xâm lược Việt Nam, người Trung Quốc đã thực hiện chính sách đồng hóa
về văn hóa Một quốc gia dân tộc tồn tại khi giữ được nền văn hóa và một khi không còn giữ được văn hóa cũng đồng nghĩa với việc mất nước Như vậy, để truyền văn hóa Hán cho người Việt thì người Trung Hoa đã thực hiện một chính sách vô cùng quan trọng: đưa văn tự Hán vào Việt Nam Ngoài ra, sự ra đời của tầng lớp quyền quý người Việt và sự truyền bá nền văn hóa Hán trong toàn vùng cũng đã góp phần tuyên truyền cho ngôn ngữ, văn tự Hán [3, tr 39]
Khi Triệu Đà kéo quân sang xâm lược thì Âu Lạc đang ở vào giai đoạn có sự phân hóa xã hội và có sự hình thành cơ cấu nhà nước đầu tiên Với sự ảnh hưởng của Trung Quốc thì Âu Lạcđã trực tiếp đi vào một quá trình phong kiến hóa lâu dài Chính
vì kinh tế xã hội đã có sự phân hoá nên người Việt càng dễ dàng tiếp thu nền văn hóa Trung Hoa Như đã biết, một quốc gia dân tộc đều có một nền văn hóa riêng và hễ còn văn hóa thì dân tộc đó còn tồn tại, nếu như một dân tộc không còn giữ được những nét văn hóa riêng của mình thì đồng nghĩa với việc dân tộc đó không còn nữa Cũng vậy, người Hán đã dùng chính sách đồng hóa văn hóa với dân tộc Việt mà hai thái thú đầu tiên đẩy mạnh chính sách này là Tích Quang và Nhâm Diên Tích Quang làm thái thú Giao Chỉ, Nhâm Diên thì đến thời Kiến Vũ, Quang Vũ Đế mới cho làm thái thú Cửu
Trang 28Chân Mã Viện cũng là người có âm mưu muốn làm cho xã hội Việt càng thêm “Hán hóa”
Do có sự giống nhau về mặt loại hình, những từ ngữ mà tiếng Việt mượn của tiếng Hán có thể nhập vào hệ thống từ vựng của tiếng Việt một cách dễ dàng Khi chúng ta so sánh từ Hán mà người Trung Quốc sử dụng với từ Hán Việt hiện nay của tiếng Việt hiện đại thì những từ Hán mà người Trung Quốc sử dụng mang rất nhiều nét giống với phong cách ngôn ngữ và cách phát âm của người Việt Khoảng 25% các tiếng gốc Hán đã được Việt hóa cao độ vẫn giữ nguyên kết cấu và ý nghĩa (chẳng hạn như từ: “hoa” (花), “như” (如) ), nếu như không nghiên cứu từ nguyên thì sẽ không biết nguồn gốc ngoại lai của chúng [12]
Hoặc là các yếu tố gốc Hán không hoạt động độc lập là để tránh sự va chạm đồng âm với các từ thuần Việt đã tồn tại trước đó Chẳng hạn như từ “ngoan” (頑) là bướng (trong “ngoan dân”, “ngoan cố”, “ngoan đạo”) va chạm với “ngoan” là “dễ bảo”; từ “cầm” (琴) là “đàn” va chạm với “trúc” là “nắm giữ”; hay từ “cực” (極) là
“cùng cực” va chạm với “cực” là “vất vả”
Theo Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn Từ vựng học Tiếng Việt thì: “Do có quan
hệ trực tiếp hoặc gián tiếp một cách lâu dài với tiếng Hán nên tiếng Việt đã tiếp nhận một khối lượng to lớn các từ ngữ của tiếng Hán thuộc đủ mọi lĩnh vực hoạt động.” Ví
dụ:
Chính trị: thượng đế, hoàng thượng, bệ hạ, chế độ, triều đình, giám sát, truy
bức, áp chế, bá chủ, bá quyền, bá tước, cách mạng, dân chủ, xã hội chủ nghĩa
Kinh tế: công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, nội thương, ngoại thương,
xuất khẩu, năng suất, thặng dư, lợi nhuận, thặng dư giá trị
Văn hóa, giáo dục: khoa cử, văn chương, âm luật, thất ngôn, bát cú, trạng
nguyên, bảng nhãn
Quân sự: chiến trường, anh hùng, cảnh giới, xung phong, xung đột, đô đốc, chỉ
huy, tác chiến, án ngữ
Tư pháp: nguyên cáo, bị cáo, cáo trạng, trạng sư, xử tử, án sát, án từ, thẩm
phán, truy tầm, áp giải, ân xá
Y học: viêm nhiệt, thương hàn, thời khí, chướng khí, thương tích, bệnh nhân,
bệnh viện [12, tr 243]
Trang 29Ngoài ra, tầng lớp thượng lưu của xã hội Việt Nam đương thời cũng góp phần tuyên truyền ngôn ngữ, văn tự Hán Trong đó, một số người có học đã ra làm quan dưới thời kỳ cai trị của người Hán Nhưng chính sách nhà Hán vẫn là chính sách hai mặt: một mặt thì mở trường dạy cho con em lớp sĩ phu người Hán, người Việt; một mặt lại kìm hãm, hạn chế việc học hành cũng như việc tuyển dụng Cho nên, việc phổ biến chữ Hán cũng chính là phổ biến Nho giáo (đây cũng là lý do mà chữ Hán thường được gọi là chữ Nho) Tuy nhiên, việc phổ biến chữ Hán không chỉ là truyền bá cho Nho giáo mà còn gắn liền với cả việc phổ biến Đạo giáo, Phật giáo Vì vậy, Luy Lâu trở thành một trung tâm lớn và rất có ảnh hưởng về mặt Phật giáo Sang đến Tùy Đường, tầng lớp phong kiến ở Việt Nam đã tương đối có thế lực khi Khương Công Phụ thi đỗ tiến sĩ, nhận nhiều chức cao ở Trung Nguyên, cuối cùng làm đến tể tướng, Khương Công Phục (em của Khương Công Phụ) cũng làm đến Lang trung Bộ Lễ Trình độ Hán học của nho sĩ Việt Nam dần dần được nâng cao Nhiều cao tăng Việt Nam đã sang đến tận Tràng An để giảng kinh cho Vua Đường [3, tr 41 - 42]
Theo đó, Nguyễn Tài Cẩn cũng đưa ra hai giai đoạn ảnh hưởng về mặt ngôn ngữ và văn tự như sau:
Giai đoạn 1: trước thế kỷ X Người Việt sử dụng chữ Hán tức là dùng tiếng
Trung Quốc Lúc này, tiếng Hán đóng vai trò như một sinh ngữ Từ đầu thế kỷ X, Người Việt dần dần biến chữ Hán thành chữ Việt Về mặt từ vựng và ngữ pháp thì hầu như không khác với chữ Hán nhưng về mặt ngữ âm đã có một sự cách biệt sâu sắc Có thể thấy thế kỷ thứ X là cột mốc đánh dấu cho sự “Việt hóa” tiếng Hán [3, tr 43]
Giai đoạn 2: sau thế kỷ X Trước thế kỷ X thì Giao Châu là vùng thuộc địa của
Trung Quốc nhưng sau thế kỷ thứ X thì Giao Châu hoàn toàn là một quốc gia riêng, độc lập, tự chủ Từ cái mốc đầu thế kỷ X trở về sau, tiếng Hán ở Việt Nam ngày càng chịu sự chi phối của tiếng Việt, nếu có diễn biến là diễn biến trong phạm vi, trong quỹ đạo của quy luật ngữ âm tiếng Việt [3, tr 43]
1.3 Vai trò của tiếng Hán đối với sự phát triển ngôn ngữ Việt
Theo Nguyễn Tài Cẩn: “Trong kho từ vựng Việt Nam, như trên đã nói, hiện có một khối lượng khá lớn những tiếng Hán Việt và từ Hán Việt Đây là một bộ phận không thật xưa lắm, không thật thuần túy dân tộc lắm Nhưng đây là một bộ phận khá quan trọng, xét cả về mặt số lượng, cả về mặt vai trò mà chúng giữ, ở trong toàn bộ
Trang 30ngôn ngữ nói chung, và đặc biệt là ở trong cái gọi là ngôn ngữ văn hóa nói riêng” [3,
tr 22]
Theo Đặng Đức Siêu thì: “Lớp từ ngữ Hán Việt là kết quả của một quá trình tiếp xúc ngôn ngữ văn hóa kéo dài tới hai thiên niên kỷ Ở giai đoạn khởi đầu, chắc chắn đó là sự tiếp xúc tự nguyện, tự nhiên, tự phát Sau đó, khi ách đô hộ của thực dân phong kiến phương Bắc đè nặng lên đất nước ta, sự tiếp xúc này cố nhiên đã mang tính chất cưỡng bức, áp đặt nhưng cũng không thể không thừa nhận rằng trong hoàn cảnh lịch sử nhất định do áp lực của tính chủ động và sự năng động trong hoạt động ngôn ngữ văn hóa của người Việt cổ, tính chất cưỡng bức, áp đặt đó đã bị hóa giải dần dần và ngôn ngữ văn hóa Hán đã trở thành một phương tiện hữu hiệu góp phần nhất định vào tiến trình phát triển của ngôn ngữ, văn hóa Việt Nam” [15, tr 45]
Tiếng Hán là tiếng được người Việt vay mượn để sử dụng nhưng khi vay mượn thì người Việt biết “Việt hóa” chúng để phù hợp với ngôn ngữ của người Việt Tuy nhiên, vẫn có một lớp từ Hán người Việt không thể “Việt hóa” mà vẫn phải dùng âm đọc được phiên thiết vào thời kỳ nhà Hán (có sự thay đổi khẩu hình cho phù hợp với người Việt) Như vậy, từ Hán Việt đã được người Việt sử dụng rộng rãi và nó đã mang lại lợi ích lớn cho ngôn ngữ Việt, góp phần quan trọng với sự phát triển ngôn ngữ Việt
Như vậy, chúng ta có thể thấy được ngôn ngữ Hán đóng vai trò quan trọng trong việc biểu đạt nội dung ở người Việt, đặc biệt là ở dạng ngôn ngữ viết Các triều đại Đại Việt đã dùng hệ thống ngôn ngữ văn học này trong việc học hành thi cử, trong các công việc triều chính Các trí thức Đại Việt đã dùng ngôn ngữ viết này để viết sách, làm thơ văn [15, tr 47 - 48]
Đặng Đức Siêu đã nói lên vai trò của từ Hán Việt như sau:“Hình thành qua sự giao lưu tiếp xúc ngôn ngữ văn hóa Việt và Hán kéo dài hàng mấy ngàn năm với những nét đặc trưng về mặt loại hình, là sản phẩm của một dạng thức song ngữ văn hóa phát triển, từ Hán Việt gắn bó một cách hữu cơ, có hệ thống với từ vựng tiếng Việt Trong thực tế sử dụng, từ Hán Việt cũng có thể có những biến động nhất định về các mặt mang tính chất tự nhiên, tự phát nhưng về căn bản, việc hiểu và dùng từ Hán Việt cần phải dựa trên việc quy phạm hóa, chuẩn hóa đúc kết từ những nhận thức khoa học
và tập quán sử dụng của hàng ngàn thế hệ người bản địa Trong đó nổi bật lên vai trò dẫn đường của những nhân tài song ngữ Việt Hán của những tác giả tiêu biểu đã sáng tác ra biết bao nhiêu tác phẩm mẫu mực thuộc đủ mọi loại thể, phản ánh một cách
Trang 31sinh động mọi lĩnh vực hoạt động của đất nước, của đời sống xã hội từ xưa đến nay Những tác phẩm đã bộc lộ rõ sức mạnh của văn hóa Việt Nam, đã thể hiện hoàn hảo
sự phong phú, tinh tế, uyển chuyển, trong sáng của tiếng Việt mà trong đó có phần đóng góp không nhỏ của lớp từ Hán Việt [15, tr 97]
Khảo sát một số văn bản Nôm (thơ Nôm của Nguyễn Trãi, thơ Nôm trong Hồng Đức quốc âm thi tập, Bạch vân quốc âm thi tập; các khúc ngâm như: Chinh phụ ngâm khúc, Cung oán ngâm khúc, văn diễn Nôm trong Truyền kỳ mạn lục; truyện thơ Nôm như: Truyện Kiều, Hoa Tiên, Nhị Độ Mai) có thể thấy số từ tiếng Việt có gốc Hán
chiếm khoảng trên dưới 70% tổng số từ được sử dụng Tỉ lệ này có phần giảm thiểu trong tiếng Việt hiện đại (theo một số thống kê thí điểm là vào khoảng trên dưới 50%)
[thống kê thí điểm một số lượng từ nhất định trong Từ điển phổ thông tiếng Việt] Theo Nguyễn Văn Khang thì: “Tuy chưa có (và rất khó) thống kê chính xác nhưng có thể khẳng định rằng vốn từ mượn Hán chiếm từ 60 – 70% vốn từ tiếng Việt hiện nay”
[10, tr 387]
Tìm hiểu di sản văn hóa thành văn Hán Nôm đậm đà bản sắc dân tộc trên cả hai mặt nội dung tư tưởng và hình thức ngôn ngữ văn tự, chúng ta có cơ sở để tin rằng dạng thức song ngữ Việt Hán không những không có khả năng lấn át ngôn ngữ bản địa
mà ngược lại làm cho ngôn ngữ bản địa thêm phong phú, tinh tế, đa dạng, uyển chuyển hơn [19, tr 42] Chúng ta không thể phủ nhận một thực tế là tiếng Hán đã làm giàu cho kho từ vựng tiếng Việt vì đã cung cấp hơn phân nửa tổng số từ (khoảng 70%) Ngoài ra, việc sử dụng từ Hán Việt còn làm tăng giá trị của ngôn ngữ Việt Nam: Yếu
tố Hán tạo nên tính hàn lâm, sang trọng cho tiếng Việt Ví dụ như: khi chúng ta đi xem một buổi hòa nhạc, khi kết thúc chương trình thì người dẫn chương trình có lời cảm ơn mọi người như sau:
(1) Chúng tôi chân thành cảm ơn quý vị khán thính giả đã đến tham dự buổi hòa
Trang 32sử dụng các từ Hán Việt Ngay cả người được mệnh danh là “bà chúa thơ Nôm” vẫn
sử dụng từ Hán Việt trong thơ của mình Ví dụ như một đoạn thơ trong bài Nhĩ hà tức
cảnh:
“Trắng xóa tràng giang phẳng ngỡ tờ Còi mục thét trăng miền khoáng dã Lưới ngư chăng gió bãi bình sa”
Ngày nay, trong kho từ vựng tiếng Việt vẫn tồn tại hàng loạt từ thuần Việt và từ Hán Việt có nghĩa tương đương, nhưng khác nhau về sắc thái ý nghĩa, màu sắc biểu cảm, cảm xúc, bình giá, phong cách
- Sự khác nhau về sắc thái ý nghĩa giữa từ Hán Việt và từ thuần Việt: từ Hán Việt
do đa phần có sắc thái ý nghĩa trừu tượng, khái quát nên mang tính chất tĩnh tại, không gợi hình ảnh, không mang tính miêu tả sinh động Còn từ thuần Việt do
có sắc thái ý nghĩa cụ thể nên mang tính chất sinh động, gợi hình ảnh So sánh
“thảo mộc” và “cây cỏ”, “thi hài” và “xác chết” thì chúng ta có thể thấy từ thuần Việt sẽ khiến chúng ta sẽ dễ dàng hình dung về sự vật hay hiện tượng được nói đến hơn
- Sự khác nhau về màu sắc biểu cảm – cảm xúc giữa từ Hán Việt và từ thuần Việt: nhiều từ Hán Việt mang sắc thái trang trọng thanh nhã trong khi có nhiều
từ thuần Việt mang sắc thái thân mật, trung hòa, khiếm nhã So sánh giữa “phu nhân” và “vợ” khác nhau về sắc thái trang trọng – trung hòa; “hi sinh” và “chết” khác nhau về sắc thái cao quý – trung hòa
- Sự khác nhau về màu sắc phong cách giữa từ Hán Việt và từ thuần Việt: từ Hán Việt nhìn chung có phong cách gọt giũa và thường được sử dụng trong các phong cách khoa học, chính luận, hành chính Từ thuần Việt nhìn chung có màu sắc đa phong cách, , ví dụ như ta so sánh “phát biểu” và “nói”, chúng khác nhau
về màu sắc phong cách gọt giũa và màu sắc đa phong cách; “từ trần” và “bỏ xác”, chúng lại khác nhau về màu sắc phong cách gọt giũa và khẩu ngữ
Như vậy, tùy vào các phong cách ngôn ngữ và hoàn cảnh giao tiếp mà chúng ta
có cách lựa chọn ngôn ngữ cho phù hợp
Có thể nói rằng, từ Hán Việt đóng vai trò hết sức quan trọng, nó giúp ích rất nhiều cho việc soạn thảo các văn bản chính luận, khoa học, hành chính Vào đầu thập niên 50 của thế kỷ XX, khi tiếng Việt được quyết định chính thức dùng làm ngôn ngữ
Trang 33ở bậc trung học và sau đó ở đại học, các nhà viết sách giáo khoa đã dịch tiếng Pháp ra tiếng Việt Trong quá trình dịch thuật ấy, nhờ sử dụng những từ Hán Việt mà những vị
ấy đã diễn tả được đầy đủ ý nghĩa của những thuật ngữ Ví dụ như trong toán học, chữ
“asymptote” rất khó hiểu nhưng các nhà viết sách đã gọi nó là “đường tiệm cận” và được hiểu: “tiệm” (漸) là “từ từ”, “cận” (近) là “gần lại”, “tiệm cận” là cái đường thẳng áp lại càng lúc càng gần một đuờng cong và gặp đường này ở vô cực Hay
“Inertie” là một từ rất quan trọng Lúc đầu, người ta dịch là “nọa tính” (惰性),nọa (惰)
có nghĩa là lười biếng Nhưng “inertie” không phải là lười biếng Vì vậy, người ta sửa lại là “quán tính” (慣性), trong đó, “quán” (慣) có nghĩa là thói quen Một ví dụ khác
về sinh vật học Ở môn học này, học sinh và sinh viên không được nhầm lẫn giữa hai từ: “ovule” là tế bào sinh dục cái chưa được thụ tinh và “oeuf” là tế bào đó sau khi được thụ tinh rồi Các nhà viết sách đã dùng từ thuần Việt “trứng” cho chữ “oeuf” và
từ Hán Việt noãn (卵) cho “ovule”, dù trong tự điển Hán Việt, noãn (卵) cũng chính là
“trứng” [28]
Từ Hán Việt đã góp phần làm phong phú vốn từ của tiếng Việt, nhiều khi không tìm được từ thuần Việt tương đương để thay thế thì người Việt sẽ dùng đến từ Hán Việt Ngay cả ngày nay, khi muốn sử dụng một thuật ngữ mới, người ta đều có xu hướng dùng từ Hán Việt thay cho từ thuần Việt, chẳng hạn như: “lập trình”, “vi mạch”, “vi tính”, “siêu vi”… Hay như các cấp bậc từ “tiểu học”, “trung học”, “đại học”, “cao học” Ngoài ra, trong quan niệm đặt tên cũng vậy, người Việt vẫn có xu hướng chọn từ Hán Việt để đặt tên cho con của mình, mặc dù chưa định hình được nghĩa gốc của chữ Hán đó là gì nhưng những tên bằng Hán Việt có vẻ hay hơn và có thể khiến ta hình dung ý nghĩa cao hơn so với tên bằng từ thuần Việt Chẳng hạn như tên “Thùy Linh” (垂靈): người ta thường hiểu cái tên này có nghĩa là “một con người
có tâm linh và thùy mị”, nhưng nếu xét nghĩa gốc của từ “thùy” thì không có nghĩa nào
là “thùy mị” cả
Mặc dù, lòng tự tôn dân tộc khiến nhiều người Việt có ý muốn hạn chế dùng từ Hán-Việt nhưng điều này có thể rất khó khăn Người Việt vẫn có thói quen dùng từ Hán Việt bởi lẽ đôi khi những từ Hán Việt sẽ mang lại những lợi ích thiết thực khi diễn đạt một vấn đề nào đó Nhưng cho dù là Hán Việt hay thuần Việt thì chúng ta
Trang 34cũng cần phải có cách lựa chọn cho phù hợp với văn bản hay hoàn cảnh gia tiếp hay sắc thái ý nghĩa mà người viết (hay người nói) cần diễn đạt Phạm Văn Tình coi đây là
“ngữ năng” mà mọi người đều cần phải trau dồi dần dần đạt đến sự hoàn thiện trong cách diễn đạt ngôn ngữ của mình Chúng ta cần có sự cân nhắc khi chọn giữa từ Hán Việt và từ thuần Việt để việc giao tiếp để có thể đạt được hiệu quả cao nhất
1.4 Tiểu kết
Trong kho từ vựng tiếng Việt, từ Hán Việt chiếm khối lượng tương đối lớn (theo
Nguyễn Văn Khang thì: “Tuy chưa có (và rất khó) thống kê chính xác nhưng có thể khẳng định rằng vốn từ mượn Hán chiếm từ 60 – 70% vốn từ tiếng Việt hiện nay” [10,
tr 387]) Bởi vì, từ Hán Việt du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, bằng cả con đường chiến tranh (cưỡng bức) lẫn con đường hoà bình (giao lưu văn hoá) Thời ban đầu của quá trình tiếp nhận tiếng Hán, do ý đồ của Trung Quốc là đồng hoá văn hoá người Việt nên đã truyền dạy chữ viết, phong tuc, tập quán… Vì thế, việc tiếp nhận chữ Hán trong giai đoạn này được diễn ra chủ yếu là bằng con đường cưỡng bức Nhưng khi hòa bình lập lại thì triều đình phong kiến vẫn sử dụng chữ Hán trong các khoa thi và cho đến nay, từ Hán Việt vẫn được sử dụng khi đã được “Việt hóa” Như vậy, tuy rằng cách cấu tạo từ Hán cùng với cách phát âm của người Trung Quốc đã có sự biến đổi trong thời gian sử dụng nhưng người Việt vẫn sử dụng vốn từ Hán với cách phát âm tại thời điểm mà nó chính thức du nhập vào Việt Nam (tức từ Hán của đời Đường)
Từ Hán Việt khi du nhập vào Việt Nam được người Việt sử dụng một cách phổ biến và việc người Việt sử dụng song ngữ Việt Hán không những không làm mất đi sự thống nhất của ngôn ngữ mà còn làm cho tiếng Việt càng thêm đa dạng, uyển chuyển hơn Từ Hán Việt đóng vai trò chủ đạo trong các văn bản chính luận, khoa học làm cho văn bản có tính trang trọng hơn Ngay cả trong các hoàn cảnh giao tiếp bình thường, người Việt vẫn có xu hướng sử dụng từ Hán Việt Cùng với sự nhận thức về vai trò của từ Hán Việt, chúng ta cần hiểu rõ về ngữ nghĩa cũng như cách kết hợp của chúng để có cách sử dụng cho thật hợp lý và hiệu quả góp phần làm cho tiếng Việt ngày càng trong sáng hơn
Trang 35Chương 2 NHÓM TỪ HÁN VIỆT CÓ SỰ CHUYỂN ĐỔI SO VỚI NGHĨA
GỐC HÁN
2.1 Nguyên nhân có sự chuyển đổi nghĩa trong quá trình sử dụng từ Hán Việt
Tiếng Việt không có nguồn gốc từ tiếng Hán cho nên khi vay mượn, người Việt
đã có sự chuyển đổi cho phù hợp với đặc điểm của tiếng Việt cũng như thói quen ngôn ngữ của người Việt trong quá trình sử dụng Khi vay mượn, một phần từ ngữ trong tiếng Hán đã có sự chuyển đổi về âm thanh lẫn ý nghĩa Trong chương này, chúng tôi
sẽ tập trung phân tích sự chuyển đổi về mặt ý của những từ Hán Việt đó Những từ Hán Việt chuyển đổi nghĩa có thể kể đến những nguyên nhân chính sau đây:
Thứ nhất: Do tư duy liên tưởng của người Việt Theo Nguyễn Văn Khang thì:
“Hiện thực khách quan là như nhau nhưng được thể hiện trong mỗi ngôn ngữ lại khác nhau do tư duy liên tưởng mang đặc trưng dân tộc Điều này tác động đến nghĩa của các từ mượn nói chung và nghĩa của từ Hán Việt nói riêng Có thể thấy, điểm nổi bật của hiện tượng này là, trên cơ sở nghĩa gốc (nghĩa vốn có) của từ Hán Việt, một số lượng không ít các từ Hán Việt đã phát triển theo “mạch” tư duy liên tưởng của người Việt Hệ quả dẫn đến là, nó làm cho các từ Hán Việt xa rời dần với chính nó ở trong tiếng Hán hiện đại, đồng thời chúng lại tự “khống chế” hay “điều chỉnh” nghĩa cũng như hoạt động của các từ đồng nghĩa Hán Việt” [10, tr 155] Chẳng hạn như từ “bội”
(倍) mang nghĩa gốc là “gấp”, như: bội nhị 倍 二 (gấp hai), bội tam 倍 三 (gấp ba) ,
từ nghĩa gốc đó, người Việt liên tưởng đến cái gì nhiều sẽ là “bội” như: “bội chi” (倍支) chỉ có nghĩa là “chi gấp nhiều lần”, “bội thu” (倍收) chỉ có nghĩa là “thu gấp nhiều lần”, “bội thực” (倍食) nghĩa là “ăn nhiều hơn nhu cầu bình thường”…; trong khi đó, người Trung Quốc dùng từ “thấu chi” (透支, nghĩa là “chi quá”) để diễn đạt nghĩa “bội chi”, dùng từ “phong thu” (豐收,nghĩa là “được mùa thu”) để diễn đạt nghĩa “bội thu”
Trang 36Hay đối với “bạc” (薄) vốn nghĩa là “mỏng”, có thêm nghĩa mới là “không có tình nghĩa trọn vẹn” (“bạc đãi”, “phụ bạc”)
Thứ hai: Do yếu tố văn hóa của người Việt Ví dụ như trong văn hóa của người
Việt, việc thể hiện tình cảm và nhất là đối với tình cảm nam nữ thì được xem như một chuyện hết sức tế nhị, và từ đó, cách dùng từ Hán Việt về vấn đề này cũng khác nhiều
so với người Trung Quốc Đối với người Việt, từ “ân ái” (恩爱) mang hai nét nghĩa song hành nhau, gồm một nét nghĩa về quan hệ xác thịt và một nét nghĩa về quan hệ tình cảm, nhưng người Việt thì nhấn mạnh đến yếu tố quan hệ xác thịt (có thể xét cả trường hợp giữa những người không có nhu cầu gắn kết tình cảm, ví dụ như trong mua – bán dâm); trong khi người Trung Quốc lại nhấn mạnh đến yếu tố tình cảm gắn kết giữa nam và nữ (thường là đối với các cặp tình nhân, vợ chồng)
Thứ ba: Do có nhu cầu sử dụng từ ngữ đơn giản, nên người Việt có thói quen rút
gọn những từ ngữ (đa số là ngữ) Hán thành những từ ngắn gọn Chẳng hạn như từ
“chung thủy” (終始): nếu xét về mặt từ nguyên thì chỉ có nghĩa là “trước sau” hoặc “từ bắt đầu đến kết thúc” mà thôi, nếu dùng đúng phải là “thủy chung như nhất” (始終如 一), có nghĩa là “trước sau vẫn như một, không thay đổi” Như vậy, việc lược bỏ từ sẽ làm cho một số từ trở nên khó hiểu hơn cho người nước ngoài khi học tiếng Việt
Thứ tư: Do nhân tố xã hội luôn tác động mạnh mẽ dẫn đến có sự thay đổi nghĩa
của từ Hán Việt Trong những thời đại lịch sử xã hội khác nhau thì những từ Hán Việt cũng thay đổi về mặt ngữ nghĩa tương ứng Chẳng hạn như từ “đề huề” (提携): trước
đây trong Tầm nguyên từ điển của Bửu kế có nghĩa là “đem theo”, về sau người Việt
dùng với nghĩa là “được hầu hạ bởi số đông người con gái”, và ngày nay từ “đề huề”
(提携) có nghĩa là “đông đủ, vui vẻ, hòa thuận”; từ “phụng trì” (鳳池): ngày xưa có
nghĩa là cái ao trong cung vua, nhưng bây giờ lại mang nghĩa là “phục vụ hết lòng”; hay một ví dụ khác là từ “phụ đạo” (輔道): lúc trước người Việt dùng từ “phụ đạo” (輔道) với nghĩa là “một chức quan dạy vua học khi còn nhỏ” còn bây giờ từ “phụ đạo”
có nghĩa là “dạy học thêm khác với buổi học chính thức” Từ những ví dụ trên, chúng
ta có thể thấy rằng nghĩa của từ vựng thay đổi để phù hợp với hoàn cảnh xã hội
Trang 372.2 Phân loại các nhóm từ Hán Việt thay đổi nghĩa
Đối với đề tài nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành thống kê tất cả những từ có hình thức ban đầu là từ Hán Việt Để thống kê, chúng tôi dựa vào tư liệu tham khảo là
cuốn Từ điển Việt Hán hiện đại của Trương Văn Giới và Lê Khắc Kiều Lục Theo đó,
chúng tôi thống kê có tất cả 7485 từ Sau đó, chúng tôi lọc ra những từ Hán Việt thay đổi nghĩa dựa theo tiêu chí từ ghép (vì từ đơn thường có thể sử dụng linh hoạt và có khả năng sẽ biến thành dạng từ bị hiểu nhầm là từ thuần Việt, ví dụ như: “đầu” (頭),
“bà” (婆), “hoa” (花), “lễ” (禮), “cầu” (求), “tu” (修)…) và tiến hành phân loại những
từ Hán Việt thay đổi nghĩa này ra thành những nhóm khác nhau Mỗi đơn vị từ lần lượt được mô tả ở các khía cạnh: âm đọc Hán Việt, chữ Hánđược thể hiện do người Việt và người Trung Quốc sử dụng, dịch nghĩa và nghĩa của chúng trong thực tế sử dụng Sau khi thống kê, số từ được xác định là tổng số các từ mang hình thức là từ Hán Việt nhưng có vấn đề về nghĩa Trong trường hợp các từ đồng âm thì sẽ có sự đối
chiếu trong Từ điển tiếng Việt để từ đó có thể xét từ đó là từ thuần Việt hay từ Hán
Việt
Theo Nguyễn Văn Khang trong cuốn Từ ngoại trong tiếng Việt thì tác giả đã
phân từ Hán Việt ra thành các phương diện như: sự tác động về mặt ngữ âm (đồng âm
và xung đột đồng âm), sự biến động về mặt ngữ nghĩa, sự đồng hóa về mặt hình thái – cấu trúc, vấn đề chuyển từ loại của từ Hán Việt, hiện tượng rút gọn của từ Hán Việt và vấn đề từ Hán Việt tạo Tuy nhiên, tác giả chỉ dừng ở mức độ phân tích mà chưa đưa
ra số liệu thống kê cụ thể
Dựa vào những quan niệm từ các học giả đi trước về từ Hán Việt, chúng tôi sẽ khảo sát nhóm từ Hán Việt thay đổi nghĩa trong từ điển Việt Hán, dựa trên từ điển Việt Hán so sánh đối chiếu từ Hán Việt được giải thích nghĩa trong từ điển Việt Hán có trùng khớp với từ Hán Việt trong từ điển Hán Việt hay không mà phân loại các từ ấy Sau khi khảo sát, chúng tôi thống kê có tất cả 456/7485 từ, chiếm 6.09% Nhóm từ Hán Việt thay đổi nghĩa so với nghĩa gốc này có thể lại chia thành các tiểu loại như sau:
Loại thứ nhất: Từ Hán Việt có nghĩa khác
Loại thứ hai: Từ Hán Việt có nghĩa thu hẹp hoặc mở rộng so với nghĩa gốc Loại thứ ba: Từ Hán Việt có cách dùng khác
Trang 382.2.1 Từ Hán Việt có nghĩa thu hẹp hoặc mở rộng so với nghĩa gốc
Từ Hán Việt có nghĩa thu hẹp hoặc mở rộng so với nghĩa gốc có nghĩa là những từ Hán Việt mà người Việt sử dụng với những trường nghĩa ít hoặc nhiều hơn so với những trường nghĩa mà người Trung Quốc sử dụng Những từ có nghĩa thu hẹp như từ
“kiêu ngạo” (驕傲): người Việt sử dụng từ này với chỉ một ý nghĩa là “tự cho mình hơn người, coi thường người khác”, nhưng người Trung Quốc hiểu với hai nghĩa là
“kiêu ngạo” và “tự hào” Hay từ “tha hóa” (他化) thì người Việt thường hay hiểu với nghĩa là một con người bị thay đổi theo chiều hướng đi xuống về nhân cách, nhưng thực chất thì “tha hóa” (他化) có nghĩa từ nguyên là sự biến đổi thành một con người khác, có thể là theo chiều hướng tốt hoặc xấu Chẳng hạn như một con người tốt trở thành người xấu thì là “tha hóa theo chiều hướng xấu”, còn một người thay đổi từ một người xấu thành người tốt thì sẽ là “tha hóa theo chiều hướng tốt” Ngoài trường hợp thu hẹp nghĩa so với nghĩa gốc, một số từ Hán Việt trong quá trình sử dụng còn có thể
mở rộng nghĩa Ví dụ như trường hợp từ “bất tử” (不死), nếu người Trung Quốc chỉ sử dụng nghĩa là “không chết” còn người Việt phát triển thêm một nghĩa nữa là “đột ngột”
Những từ ở loại này rất ít, chỉ có 15/456 từ, chiếm 3.28% Trong đó, từ thu hẹp nghĩa có 9/456 từ, chiếm 1.96%, từ mở rộng nghĩa có 6/456 từ, chiếm 1.32 %
Có thể xem chi tiết ở bảng sau:
Bảng 2.2.1 Từ Hán Việt có nghĩa thu hẹp hoặc mở rộng so với nghĩa gốc
Nghĩa của từ
Phân loại
Chữ Hán của người Việt
Chữ Hán của người Trung Quốc
Dịch nghĩa
Nghĩa thông dụng
Yêu thương, cho nhau
ân tình
Quan hệ tình dục
Thu hẹp nghĩa
2 Bất tử 不死 永不磨滅 Vĩnh bất
ma diệt
Không chết
1 Không bao giờ chết
2 Đột ngột
Thêm nghĩa
3 Biểu 表象 1 表象 1 Biểu Hình 1 Hình ảnh Thêm
Trang 39tượng 象征 tượng
Tượng trưng
trạng, hình tượng ở ngoài
tượng trưng
2 Hình thức của nhận thức, hình ảnh còn giữ lại sau khi bị tác động
3 Kí hiệu bằng
đồ họa trên máy tính
nghĩa
4 Cải trang 改裝 化粧 Hóa
trang
1 Cải trang
2 Lắp lại
Thay đổi cách
ăn mặc để người khác khó nhận
ra
Thu hẹp nghĩa
5 Đại gia
大爺 (hoặc 大家)
khoản
1 Đại gia tộc
2 Người
có nhiều tiền
Người trong dòng họ lớn thời trước
Thu hẹp nghĩa
6
Đại khái 大概 1 大概,
大致 媽媽虎虎
1 Đại khái, đại chí
Ma ma
hổ hổ
Bao quát 1 Những nét
lớn không có chi tiết, cụ thể
Chỉ chú ý cái chung chung, không cụ thể
Thêm nghĩa
7 Khai báo 開報 呈報 Trình
báo
Khai với nhà nước việc mình biết, có liên quan
1 Khai với nhà nước việc mình biết, có liên quan
2 Thành phần đưa vào máy tính và chỉ cho cách hiểu
Thêm nghĩa
8 Khai phá 開破 1 開發
2 發現
1 Khai phát
2 Phát hiện
Khai mở
ra
Làm đất hoang thành sử dụng được
Thu hẹp nghĩa
10 Kiêu ngạo 驕傲 1 驕傲
2 自豪
1 Kiêu ngạo
2 Tự hào
Kiêu căng
Tự cho mình hơn người, coi thường người khác
Thu hẹp nghĩa
Thu hẹp nghĩa
12 Sinh hoạt 生活 生活 Sinh hoạt
Phàm những sự
để nuôi sống
1 Hoạt động đời sống hằng ngày
2 Hoạt động tập thể của một tổ
Thu hẹp nghĩa
Trang 40chức
13 Tha hóa 他化 異化 Dị hóa
Biến thành cái khác
Con người trở nên xấu
Thu hẹp nghĩa
14 Thức
覺悟
Giác tỉnh, giác ngộ
Tỉnh và nhận biết
15 Thường
Người dân bình thường
1 Người dân thường (phân biệt với tăng
lữ, quân nhân)
2 Dân thường, không có địa
vị
Thêm nghĩa
2.2.2 Từ Hán Việt có nghĩa khác
Từ Hán Việt có nghĩa khác là những từ Hán Việt mà người Việt không dùng nghĩa gốc của từ Hán mà lại sử dụng một nghĩa khác Những từ Hán Việt có nghĩa khác như vậy có thể là do tư duy liên tưởng của người Việt, do yếu tố văn hóa hoặc có thể là do thói quen ngôn ngữ của người Việt như đã nói ở trên Chẳng hạn như từ “á hậu” (亞后): nếu xét theo nghĩa từ nguyên thì từ “á” (亞) có nghĩa là “thứ hai”, còn từ
“hậu” (后) có nghĩa là “hoàng hậu”, ghép hai nghĩa của hai từ này lại thì từ “á hậu” có nghĩa là “hoàng hậu thứ hai” Nhưng nếu muốn nói là người xếp ở vị trí thứ hai trong cuộc thi hoa hậu thì phải dùng cụm từ “tuyển mỹ hoàng hậu á quân” (選美皇后亞軍)
có nghĩa là “người con gái đạt giải nhì trong cuộc thi sắc đẹp”; hay một ví dụ khác là
từ “cừ khôi” (渠魁): từ “cừ” (渠) có nghĩa là “lớn”, còn từ “khôi’ (魁) có nghĩa là “cao lớn”, cho nên từ “cừ khôi” có nghĩa là “to lớn”, nhưng người Việt lại sử dụng từ này với nghĩa là “rất giỏi”; trong khi đó, người Trung Quốc lại sử dụng từ “đỉnh hảo” (頂好) có nghĩa là “tốt, giỏi nhất” Trong tổng số các từ có sự thay đổi nghĩa, từ Hán Việt mang nghĩa khác với nghĩa gốc có số lượng khá nhiều, có 441/456 từ, chiếm 96.71% Tuy nhiên, khi khảo sát, chúng tôi phát hiện có một số từ đặc biệt như từ “cầu khiến” (求譴): từ “khiến” là từ Hán Việt Việt hóa của từ “khiển”, nhưng người Trung Quốc lại không sử dụng từ “cầu khiển” mà lại sử dụng từ “kỳ sử” (祈使), có nghĩa là