BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN THAM GIA CUỘC THI SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC NĂM HỌC 2015 - 2016 QUAN NIỆM CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT VỀ HOẠ
CƠ SỞ LÝ LUẬN
Các khái niệm
Theo từ điển Dictionary [LLC] (2015), từ quan niệm được hiểu là “một ý tưởng hoặc ý niệm tổng quát, quan điểm” (LLC, 2015).
Theo từ điển Tiếng Việt online của Công ty cổ phần Truyền thông Việt Nam
Theo Công ty cổ phần truyền thông Việt Nam (2009), quan niệm được định nghĩa là cách nhận thức và đánh giá về một vấn đề hoặc sự kiện nào đó.
Chúng tôi định nghĩa "quan niệm" là cách nhận thức và đánh giá về một vấn đề hay sự kiện nào đó.
1.1.2 Khái niệm về nhận thức
Theo từ điển Tiếng Việt online của Công ty cổ phần Truyền thông Việt Nam
Nhận thức được định nghĩa là kết quả của quá trình phản ánh và tái hiện thực vào tư duy, giúp con người nhận biết và hiểu biết về thế giới khách quan (Công ty cổ phần truyền thông Việt Nam, 2009).
According to the Merriam-Webster Dictionary (2016), cognition refers to human activities associated with conscious mental processes, including thinking, understanding, learning, and remembering.
Thuật ngữ “sinh viên” xuất phát từ từ Latinh “Students”, mang ý nghĩa là người học tập, nghiên cứu và khai thác tri thức.
Sinh viên là những người theo học tại các trường đại học, cao đẳng hoặc trung cấp chuyên nghiệp, nơi họ tiếp nhận kiến thức chuyên sâu về ngành nghề cụ thể để chuẩn bị cho sự nghiệp tương lai Họ được xã hội công nhận qua các bằng cấp đạt được trong quá trình học tập, và để vào được các cơ sở giáo dục này, sinh viên đã trải qua bậc tiểu học và trung học.
Sinh viên học tập qua việc tham gia lớp học và tiếp cận nhiều nguồn tài liệu như thư viện, internet, giáo trình và tài liệu biên soạn Họ cũng tham gia các nhóm học tập và các kỳ kiểm tra, thi để tích lũy tín chỉ cần thiết cho việc tốt nghiệp, cùng với các chứng chỉ như tin học và ngoại ngữ theo yêu cầu của từng trường.
NCKH là hoạt động nhằm khám phá và đánh giá những điều mới mẻ về bản chất của sự vật, thế giới tự nhiên và xã hội Mục tiêu của NCKH là phát triển các phương pháp và công cụ kỹ thuật tiên tiến hơn, có giá trị cao hơn (Đàm, Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, 2009).
1.1.5 Hoạt động NCKH sinh viên
Tại trường đại học Thủ Dầu Một, hoạt động nghiên cứu khoa học bao gồm việc sinh viên thực hiện bài tập, viết luận tốt nghiệp, tham gia thực hành và nghiên cứu, cũng như tham gia vào các đề tài nghiên cứu khoa học (NCKH).
1.1.6 Các qui định, quy chế của Bộ Giáo dục về NCKH trong sinh viên
Trong những năm gần đây, Bộ GDĐT đã triển khai nhiều kế hoạch và văn bản nhằm hướng dẫn các trường Đại học thực hiện việc cho sinh viên đăng ký các đề tài NCKH cá nhân và nhóm Các văn bản này đã giúp tác giả và đề tài nghiên cứu hiểu rõ hơn về chính sách và lợi ích khi tham gia NCKH, đồng thời định hướng cho các đề tài phù hợp với văn hóa và chính trị của đất nước Điều này đảm bảo các đề tài hoàn thành đúng tiến độ và mang lại giá trị thực tiễn cao trong xã hội Các quy định, thông tư, và nghị định của Bộ GDĐT cũng liên quan trực tiếp đến nhận thức của sinh viên về hoạt động NCKH.
Theo Quy chế Số 08/2000/QĐ-BGD&ĐT, ban hành ngày 30/03/2000 tại Hà Nội, quy định về nghiên cứu khoa học của sinh viên trong các trường Đại học và Cao Đẳng, đã xác định những quy tắc quan trọng cho việc hình thành và triển khai các đề tài nghiên cứu khoa học (NCKH) của sinh viên Quy chế này gồm 4 chương, nêu rõ yêu cầu về trách nhiệm quản lý, mục đích và yêu cầu đối với các đề tài NCKH Đặc biệt, Chương 3 - Điều 11 đưa ra các hướng dẫn cụ thể nhằm đảm bảo chất lượng và tính khả thi của các đề tài nghiên cứu.
Khuyến khích sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học (NCKH) là một ưu tiên quan trọng, đặc biệt với những sinh viên có học lực khá trở lên Các hội thảo khoa học được tổ chức giúp sinh viên và giảng viên tiếp cận nhiều phương pháp NCKH mới Để động viên tinh thần tham gia, nhà trường chủ động khen thưởng cho sinh viên và giáo viên hướng dẫn có thành tích cao trong các công trình NCKH, đồng thời cộng thêm điểm trung bình học tập cho những sinh viên xuất sắc Theo Điều 13 trong quy định, nếu phát hiện công trình NCKH của sinh viên thiếu trung thực, các cơ sở sẽ áp dụng hình thức kỷ luật phù hợp với mức độ vi phạm.
Theo Thông tư Số 19/2012/TT-BGDĐT, Hà Nội, ngày 01/06/2012 “Ban hành quy định về hoạt động NCKH của sinh viên trong các cơ sở giáo dục Đại học”.
Thông tư này quy định 3 điều và kèm theo 4 chương, bao gồm: Chương 1 quy định chung về phạm vi, đối tượng, mục tiêu, yêu cầu, nội dung và tài chính cho hoạt động NCKH; Chương 2 hướng dẫn xây dựng và thực hiện kế hoạch hoạt động NCKH của sinh viên; Chương 3 tập trung vào quản lý hoạt động NCKH; và Chương 4 nêu rõ trách nhiệm và quyền lợi của sinh viên cùng người hướng dẫn Các cơ sở giáo dục Đại học, Học viện, Cao đẳng trên toàn quốc phải thực hiện nghiêm túc các quy định, tổ chức lớp tập huấn và hội thảo về NCKH, đồng thời lồng ghép chương trình hướng dẫn cho sinh viên Chánh Văn phòng, Vụ trưởng Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, cùng thủ trưởng các đơn vị thuộc Bộ Giáo Dục và Đào Tạo có trách nhiệm thi hành Thông tư này một cách toàn diện tại từng khoa và lĩnh vực chuyên môn có liên quan đến NCKH (Bộ GD&ĐT, 2012).
Theo Nghị Định Số 99/2014/NĐ-CP ban hành ngày 25/10/2014, Hà Nội quy định về việc đầu tư phát triển tiềm lực và khuyến khích hoạt động khoa học và công nghệ tại các cơ sở giáo dục đại học Nghị định này tương tự như Thông tư Số 19/2012/TT-BGDĐT, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và nghiên cứu trong các trường đại học.
Vào ngày 01/06/2012, Hà Nội đã ban hành quy định về hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) của sinh viên trong các cơ sở giáo dục đại học Quy định này nêu rõ những yêu cầu và nội dung tham gia NCKH, với một số điều chỉnh để phù hợp với nhu cầu của sinh viên Chương 1 của quy định xác định phạm vi và đối tượng áp dụng, bao gồm sinh viên từ các trường học viện, đại học, cao đẳng chính quy dưới sự quản lý của nhà nước, cũng như các cơ sở giáo dục tư thục Ngoài ra, quy định cũng khuyến khích sự tham gia của các tổ chức trong và ngoài nước, các cơ sở giáo dục chuyên môn, và các viện nghiên cứu trong việc thúc đẩy hoạt động khoa học và công nghệ.
Lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu
Chúng tôi sẽ áp dụng Lý thuyết nhu cầu của Abraham Harold Maslow để phân tích quan điểm của sinh viên trường Đại học Thủ Dầu Một về hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) hiện nay.
Trong những năm đầu sự nghiệp tâm lý, ông phát hiện rằng các nhu cầu của khỉ mà ông thí nghiệm có sự phân cấp quan trọng Nhu cầu khát được ưu tiên hơn nhu cầu đói, và trong các tình huống khẩn cấp, nhu cầu thở sẽ vượt trội hơn cả Qua đó, ông xây dựng hệ thống nhu cầu theo cấp bậc nổi tiếng, bao gồm 5 nấc thang từ nhu cầu vật chất cơ bản đến nhu cầu tinh thần nâng cao, được gọi là Tháp Nhu cầu của Maslow.
5 tầng trong tháp nhu cầu của Maslow (Pedia, Tháp Nhu cầu của Maslow):
• Tầng thứ nhất: Các nhu cầu về căn bản nhất thuộc "thể lý" (physiological)
- thức ăn, nước uống, nơi trú ngụ, tình dục, bài tiết, thở, nghỉ ngơi
Tầng thứ hai trong nhu cầu của con người là nhu cầu an toàn, bao gồm cảm giác yên tâm về an toàn thân thể, công việc, gia đình, sức khỏe và tài sản Việc đảm bảo những yếu tố này là rất quan trọng để tạo ra sự ổn định và an tâm trong cuộc sống.
Tầng thứ ba trong tháp nhu cầu của Maslow thể hiện nhu cầu về tình cảm và sự thuộc về, nơi con người khao khát được kết nối trong một cộng đồng, có một gia đình ấm áp và những người bạn thân thiết đáng tin cậy.
• Tầng thứ tư: Nhu cầu được quý trọng, kính mến (esteem) - cần có cảm giác được tôn trọng, kính mến, được tin tưởng
Nhu cầu tự thể hiện bản thân (self-actualization) là tầng thứ năm trong thang nhu cầu của con người, nơi mà mỗi cá nhân khao khát sáng tạo và thể hiện khả năng của mình Điều này bao gồm mong muốn trình diễn bản thân, khẳng định giá trị cá nhân và được công nhận như một người thành đạt trong xã hội.
Sau Maslow, có nhiều người đã phát triển thêm tháp này như thêm các tầng khác nhau, thí dụ (Pedia, Tháp Nhu cầu của Maslow):
• Tầng Cognitive: Nhu cầu về nhận thức, hiểu biết: - Học để hiểu biết, góp phần vào kiến thức chung
• Tầng Aesthetic: Nhu cầu về thẩm mỹ - có sự yên bình, ham muốn hiểu biết về những gì thuộc nội tại.
• Tầng Self-transcendence: Nhu cầu về tự tôn bản ngã - một trạng thái siêu vị kỷ hướng đến trực giác siêu nhiên, lòng vị tha, hòa hợp bác ái.
Tuy nhiên, mô hình căn bản được chấp nhận rộng rãi vẫn chỉ có 5 tầng như ở trên
Maslow cho rằng con người luôn nỗ lực để thỏa mãn các nhu cầu khác nhau, trong đó những nhu cầu bậc thấp thường đóng vai trò quan trọng hơn Nếu những nhu cầu này không được đáp ứng, chúng sẽ trở thành nguồn động lực và định hướng cho mục tiêu cá nhân của mỗi người.
Sau khi các nhu cầu cơ bản được đáp ứng, những nhu cầu cao hơn sẽ trở thành động lực cho hành động Những nhu cầu chưa được thỏa mãn ở mức thấp sẽ chi phối và cần được giải quyết trước khi cá nhân có thể tiến tới các nhu cầu cao hơn trong tháp nhu cầu.
Thuyết nhu cầu của Maslow, với năm nhu cầu cơ bản, giúp làm rõ mục đích và nhu cầu của con người, đặc biệt là sinh viên trong nghiên cứu khoa học (NCKH) Khi sinh viên thỏa mãn được các nhu cầu này, mức độ hài lòng và cống hiến trong công việc sẽ gia tăng, từ đó tạo ra giá trị thực tiễn cho bản thân và công việc Ứng dụng lý thuyết này trong NCKH yêu cầu hiểu rõ mức độ nhu cầu của sinh viên để đưa ra giải pháp thỏa mãn hợp lý, đồng thời đạt được các mục tiêu tổ chức Nhu cầu NCKH của sinh viên được coi là nhu cầu tự thể hiện bản thân, thể hiện khả năng và được công nhận thành công Do đó, nhà quản lý cần nghiên cứu cụ thể nhu cầu của sinh viên và áp dụng biện pháp hiệu quả để đáp ứng nhu cầu một cách hợp lý và có dụng ý.
Theo lý thuyết thang bậc nhu cầu của Abraham Maslow, chúng ta có thể hiểu rõ hơn về nhu cầu và giá trị trong cuộc sống, cũng như nhận diện những khó khăn mà học sinh, sinh viên đang phải đối mặt Điều này giúp xác định các phương pháp giáo dục hiệu quả nhằm hỗ trợ họ vượt qua những thách thức này.
NHẬN THỨC VÀ ĐÁNH GIÁ CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT VỀ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Nhận thức của sinh viên trường Đại học Thủ Dầu Một về hoạt động nghiên cứu khoa học trong sinh viên
Kết quả khảo sát 420 sinh viên trường ĐH.TDM cho thấy, có 177 sinh viên (42,1%) nhận thức rằng hoạt động NCKH bao gồm làm bài tập, viết luận tốt nghiệp và tham gia nghiên cứu Chỉ 13,6% sinh viên (57 người) hiểu NCKH là tham gia thực hiện các đề tài chuyên ngành Tổng cộng, 234/420 sinh viên (55,7%) đã nhận thức đúng về hoạt động NCKH, trong khi 186/420 sinh viên (44,3%) có nhận thức chưa đúng Cụ thể, 22,1% sinh viên cho rằng NCKH liên quan đến chương trình giáo dục chuyên ngành, và chỉ 1% cho rằng NCKH là giải các bài tập theo cấp độ chuyên ngành Các hoạt động khác như thực hiện thí nghiệm, viết tiểu luận, và tham gia lớp tập huấn kỹ năng cũng có tỷ lệ nhận thức thấp Hơn 50% sinh viên trường ĐH.TDM đã nhận thức đúng về NCKH, cho thấy hoạt động này mang lại nhiều kiến thức và kỹ năng, giúp sinh viên nâng cao kết quả học tập.
Hoạt động NCKH của sinh viên Tần số
Hoạt động tham gia giải các bài tập theo các cấp độ chuyên ngành
Hoạt động tham gia thực hiện các đề tài NCKH chuyên ngành
Hoạt động của sinh viên bao gồm việc làm bài tập, viết luận tốt nghiệp, tham gia thực hành và nghiên cứu, cũng như tham gia vào các đề tài nghiên cứu khoa học.
Hoạt động tham gia thực hiện các cuộc thí nghiệm thực tế
Hoạt động tham gia thực hiện các bài tiểu luận môn học 9 2.1 Hoạt động tham gia vào các chương trình giáo dục chuyên ngành
Hoạt động tham gia các lớp tập huấn kỹ năng học tập 8 1.9
Bảng 2.1: Nhận thức của sinh viên trường ĐH.TDM về hoạt động NCKH.
(Nguồn: Số liệu điều tra của đề tài được tiến hành khảo sát vào 2/2016)
Theo kết quả khảo sát, 84.8% sinh viên biết đến hoạt động NCKH chủ yếu qua chương trình đào tạo, 69.3% từ môn phương pháp NCKH, 59.8% từ các buổi seminar, 39.8% từ các lớp tập huấn, 36.2% từ các nghiên cứu trước đó, 18.3% từ Internet, và 10.5% từ bạn bè Điều này cho thấy sinh viên được tiếp cận thông tin về NCKH từ nhiều nguồn khác nhau, với các môn học đóng vai trò quan trọng nhất Hàng năm, các khoa tổ chức lớp tập huấn và hội thảo khoa học, giúp sinh viên nâng cao kiến thức và kỹ năng NCKH, qua đó hiểu rõ hơn về hoạt động này.
Sinh viên biết về NCKH từ các nguồn thông tin Tần số Phần trăm
Các buổi tập huấn NCKH 167 39.8
Học môn Phương pháp nghiên cứu khoa học 291 69.3
Các buổi seminer, hội thảo khoa học 251 59.8
Những người nghiên cứu đi trước 152 36.2
Học trong các môn học của chương trình đào tạo 356 84.8
Bảng 2.2: Sinh viên biết về NCKH từ các nguồn thông tin.
(Nguồn: Số liệu điều tra của đề tài được tiến hành khảo sát vào 2/2016)
Kết quả khảo sát của sinh viên trường ĐH.TDM cho thấy 90.5% trong số 380 sinh viên hiểu rằng NCKH là hoạt động tìm kiếm và phát hiện cái mới về bản chất sự vật Có 66.7% sinh viên tham gia vào các đề tài NCKH chuyên ngành, trong khi 38.8% nhận thức rằng NCKH nhằm tìm ra cái hay, cái mới Tuy nhiên, 206.5% lượt trả lời đúng về khái niệm NCKH cho thấy sinh viên có sự hiểu biết tốt, mặc dù vẫn có 482 lượt trả lời sai, trong đó 56.4% cho rằng NCKH là hoạt động tham gia, đóng góp ý kiến Điều này cho thấy sinh viên có tiềm năng nâng cao khả năng tư duy và sáng tạo thông qua NCKH, mang lại lợi ích giá trị nếu họ nhận thức được giá trị tích cực của hoạt động này.
NCKH là hoạt động tham gia làm các bài tập 42 10.0
NCKH là nghiên cứu để tìm ra cái hay, cái mới 163 38.8
NCKH là hoạt động tham gia các đề tài NCKH chuyên ngành cơ bản và nâng cao 280 66.7
NCKH là hoạt động tham gia, đóng góp ý kiến với người khác 237 56.4
NCKH là hoạt động tham gia vào các buổi thực hành 136 32.4
NCKH là quá trình cóp nhặt công trình NCKH của người khác 67 16.0
NCKH là một hoạt động sử dụng các phương pháp có sẵn để tìm hiểu, sáng tạo ra cái mới cần nghiên cứu
NCKH là hoạt động nghiên cứu nhằm khám phá và xem xét các khía cạnh mới về bản chất của sự vật, thế giới tự nhiên và xã hội, đồng thời phát triển các phương pháp và công nghệ tiên tiến, có giá trị cao hơn.
Bảng 2.3: Sự hiểu biết của sinh viên về hoạt động tham gia NCKH.
(Nguồn: Số liệu điều tra của đề tài được tiến hành khảo sát vào 2/2016)
Theo kết quả khảo sát, 240 sinh viên cho rằng hoạt động NCKH giúp họ tự tin hơn khi đứng trước đám đông, chiếm 57,1% Bên cạnh đó, 235 sinh viên cũng cho rằng hoạt động này giúp họ tìm tòi và sáng tạo ra những điều hay, thú vị, chiếm 56%.
Kết quả khảo sát cho thấy 229 sinh viên có nhận thức rõ về lợi ích của việc tham gia NCKH, trong đó 54.5% cho rằng việc có thêm kiến thức về cách làm báo cáo khoa học là quan trọng, 46.2% biết cách đào sâu kiến thức Ngoài ra, 38.1% sinh viên nhận thấy NCKH giúp họ đọc tài liệu đúng cách, 27.6% tham gia để nhận giấy khen, 25.2% cho rằng làm việc nhóm hiệu quả hơn, và 18.8% cảm thấy NCKH giúp nâng cao hiểu biết Tỉ lệ thấp nhất là 11.7% cho rằng tham gia NCKH được cộng điểm rèn luyện Mỗi sinh viên có cách nhìn nhận riêng về lợi ích của NCKH, từ việc nâng cao kiến thức đến sự tự tin khi thuyết trình, nhưng tất cả đều nhận thấy giá trị mà NCKH mang lại.
Lợi ích của hoạt động tham gia NCKH Tần số
Giúp hiểu biết sâu rộng, nâng cao kiến thức 79 18.8
Có thêm kiến thức về cách làm báo cáo khoa học 229 54.5
Tự tin hơn khi đứng trước đám đông 240 57.1
Biết cách đào sâu kiến thức 194 46.2
Làm việc nhóm tích cực, hiệu quả hơn 106 25.2 Được cộng điểm rèn luyện 49 11.7
Giúp sinh viên tìm tòi, sáng tạo ra điều hay, thú vị 235 56.0
Giúp sinh viên biết cách đọc tài liệu đúng cách 160 38.1
Bảng 2.4: Lợi ích của hoạt động tham gia NCKH.
(Nguồn: Số liệu điều tra của đề tài được tiến hành khảo sát vào 2/2016)
Kết quả khảo sát 420 sinh viên trường ĐH.TDM cho thấy sinh viên ít quan tâm đến các kỹ năng cần thiết cho nghiên cứu khoa học (NCKH), với tỷ lệ lựa chọn thấp cho các kỹ năng quan trọng như tìm kiếm thông tin (25.2%) và sử dụng Internet (18.8%) Sinh viên thường chỉ sử dụng Internet cho mục đích giải trí, dẫn đến yếu kém trong việc tìm kiếm tài liệu phục vụ NCKH Kỹ năng đọc của sinh viên cũng hạn chế, với chỉ 18.1% biết cách xác định nội dung trọng tâm, gây sai lệch trong mục tiêu nghiên cứu Ngoài ra, các kỹ năng như đặt câu hỏi (22.9%) và viết (7.4%) cũng được lựa chọn với tỷ lệ thấp Trong khi đó, sinh viên lại quan tâm nhiều hơn đến những kỹ năng ít quan trọng hơn cho NCKH, như phân tích dữ liệu (44%) và sử dụng phương tiện thí nghiệm (39.8%) Mặc dù tham gia NCKH giúp sinh viên tích lũy nhiều kỹ năng cần thiết cho cuộc sống và học tập, nhưng sự thiếu quan tâm đến các kỹ năng nền tảng có thể dẫn đến sai lệch trong nghiên cứu.
Những kỹ năng cần thiết cho sinh viên khi tham gia NCKH.
Kỹ năng tìm kiếm thông tin 106 25.2
Kỹ năng sử dụng Internet 79 18.8
Kỹ năng đặt câu hỏi 96 22.9
Kỹ năng làm việc nhóm 103 24.5
Kỹ năng nói/thuyết trình 80 19.0
Kỹ năng sử dụng ngoại ngữ 30 7.1
Kỹ năng sử dụng phần mềm nghiên cứu chuyên ngành 126 30.0
Kỹ năng phân tích dữ liệu 185 44.0
Kỹ năng sử dụng MS Office 124 29.5
Kỹ năng sử dụng các phương tiện đa phương tiện
(điện thoại thông minh, máy tính bảng, ) 158 37.6
Kỹ năng sử dụng các phương tiện thí nghiệm 167 39.8
Bảng 2.5: Những kỹ năng cần thiết cho sinh viên khi tham gia NCKH.
(Nguồn: Số liệu điều tra của đề tài được tiến hành khảo sát vào 2/2016)
Một cuộc khảo sát về nguyên nhân khiến sinh viên không thích tham gia NCKH cho thấy có 152 trong tổng số 420 sinh viên phản ánh sự không mặn mà với hoạt động này Trong số đó, 65.1% cho rằng họ không có thời gian do bận học, 58.1% vì công việc, và 53.5% do các trách nhiệm khác Ngoài ra, 44.2% sinh viên không thích tham gia, 34.9% không có đam mê, và 32.6% thiếu phương tiện hỗ trợ cho nghiên cứu Chỉ có 2.3% sinh viên cho rằng không thấy lợi ích từ NCKH Những kết quả này chỉ ra rằng, bên cạnh những lợi ích mà NCKH mang lại, sinh viên còn đối mặt với nhiều rào cản, đặc biệt là việc quản lý thời gian và công việc không hợp lý.
Những nguyên nhân khiến cho sinh viên không thích tham gia NCKH.
Không có thời gian do bận đi học 28 65.1
Không có thời gian do bận đi làm 25 58.1
Không có thời gian vì còn phải làm nhiều việc khác ngoài giờ học/giờ làm 23 53.5
Kinh phí nghiên cứu thấp, không đủ chi phí 8 18.6
Không có phương tiện phục vụ cho nghiên cứu
(máy tính/phương tiện đi lại, ) 14 32.6
Cơ sở vật chất phục vụ nghiên cứu còn thiếu thốn 4 9.3
Không được khuyến khích tham gia 5 11.6
Không bắt buộc đối với việc học tập và tốt nghiệp 4 9.3
Chính sách dành cho NCKH chưa hấp dẫn 6 14.0
Thấy không có lợi ích gì 1 2.3
Bảng 2.6: Những nguyên nhân khiến cho sinh viên không thích tham gia NCKH.
(Nguồn: Số liệu điều tra của đề tài được tiến hành khảo sát vào 2/2016)
Kết quả khảo sát cho thấy, nguyên nhân chính khiến sinh viên hứng thú tham gia NCKH là khả năng khám phá và tìm tòi cái mới, chiếm 22.1% Tiếp theo, 20.1% sinh viên tham gia vì đam mê học hỏi, 16.1% cho rằng NCKH giúp nâng cao khả năng làm đồ án và khóa luận Ngoài ra, 14.5% sinh viên tham gia để khẳng định bản thân, 12% vì có tiền hỗ trợ, 8% nhận thấy lợi ích từ việc tham gia, và 7.2% tham gia do ảnh hưởng từ bạn bè trong lớp Mặc dù tỷ lệ phần trăm các nguyên nhân còn thấp, nhưng rõ ràng việc khám phá cái mới vẫn là động lực lớn nhất cho sinh viên khi tham gia NCKH.
Những lý do làm cho sinh viên thích thú khi tham gia NCKH.
Vì NCKH giúp khám phá, tìm tòi cái hay, cái mới 55 22.1
Vì tham gia NCKH có tiền hỗ trợ 30 12.0 Để có thể khẳng định bản thân và tự mình tìm hiểu sâu rộng 36 14.5
Vì thấy các bạn trong lớp làm nên tham gia do không muốn thua kém 18 7.2
Vì NCKH giúp nâng cao khả năng làm đồ án/khóa luận cuối khóa 40 16.1
Vì đam mê học hỏi 50 20.1
Vì thấy được lợi ích khi tham gia NCKH 20 8.0
Bảng 2.7: Những nguyên nhân làm cho sinh viên thích thú khi tham gia NCKH.
(Nguồn: Số liệu điều tra của đề tài được tiến hành khảo sát vào 2/2016)
Kết quả khảo sát 420 sinh viên cho thấy 42 sinh viên đã tham gia nghiên cứu khoa học (NCKH) gặp nhiều khó khăn trong quá trình này Cụ thể, 45.3% cho rằng khó khăn lớn nhất là do tài liệu tham khảo hạn chế, 23.8% cho rằng cơ sở vật chất thiếu thốn, 16.7% gặp khó khăn về điều kiện và địa điểm nghiên cứu, 7.1% khó khăn trong tổng quan, 4.8% trong xử lý dữ liệu, và 2.3% cho rằng chính sách hỗ trợ chưa đủ Những khó khăn này ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng và kết quả NCKH, như việc thiếu cơ sở vật chất làm giảm khả năng sáng tạo của sinh viên, khó khăn trong xử lý số liệu do thiếu hướng dẫn chuyên sâu, và tài liệu không đủ phong phú, dẫn đến việc sinh viên phải tìm kiếm tài liệu ở xa với chi phí cao Hơn nữa, chính sách hỗ trợ yếu kém cũng làm giảm khả năng thực hiện các đề tài đòi hỏi kinh phí cao, ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu.
Khó khăn của sinh viên khi tham gia NCKH Tần số
Tài liệu 19 45.3 Điều kiện, địa điểm nghiên cứu 7 16.7
Bảng 2.8: Những khó khăn của sinh viên khi tham gia NCKH.
(Nguồn: Số liệu điều tra của đề tài được tiến hành khảo sát vào 2/2016)
Nhận thức của sinh viên trường ĐHTDM về hoạt động NCKH đã có những tiến bộ tích cực, với 55.7% sinh viên hiểu biết về khái niệm NCKH và các kỹ năng nghiên cứu qua các chương trình tập huấn Nhiều sinh viên đánh giá cao tầm quan trọng của NCKH trong học tập, tuy nhiên vẫn còn một bộ phận sinh viên thờ ơ và không quan tâm đến nghiên cứu, dẫn đến việc không tiếp nhận được kỹ năng mới Điều này khiến họ trở nên thụ động và thiếu thực tế trong giải quyết vấn đề Trong quá trình thực hiện nghiên cứu, sinh viên cũng gặp nhiều khó khăn và trở ngại, ảnh hưởng đến nhận thức và đánh giá của họ về NCKH.
Đánh giá của sinh viên trường Đại học Thủ Dầu Một về hoạt động nghiên cứu khoa học trong sinh viên
Kết quả điều tra cho thấy 40% sinh viên không rõ liệu NCKH có phải là hoạt động bắt buộc hay không, trong khi 39% cho rằng nó là bắt buộc và 21% cho rằng không Thực tế, NCKH không bắt buộc, chỉ những sinh viên đam mê tìm hiểu mới tham gia Số liệu cho thấy có một lượng đáng kể sinh viên tại trường ĐH.TDM không quan tâm đến NCKH, dẫn đến sự mơ hồ về tính bắt buộc của hoạt động này.
NCKH có phải là hoạt động bắt buộc đối với sinh viên
Bảng 2.9: NCKH có phải là hoạt động bắt buộc đối với sinh viên.
(Nguồn: Số liệu điều tra của đề tài được tiến hành khảo sát vào 2/2016)
Kết quả xử lý cho thấy, 53.1% sinh viên được khuyến khích tham gia hoạt động NCKH, trong khi 23.8% cảm thấy bình thường và 18.1% cho rằng rất được khuyến khích Điều này cho thấy sự quan tâm đáng kể từ các khoa đối với việc khuyến khích sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học.
71.2% các khoa khuyến khích sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học (NCKH), cho thấy sự quan tâm và hỗ trợ nhiệt tình từ giảng viên Tỉ lệ cao này cho thấy rằng các khoa đều mong muốn sinh viên tiếp cận và tìm hiểu về NCKH, điều này góp phần thúc đẩy tinh thần nghiên cứu trong sinh viên.
Khoa bạn đang theo học có khuyến khích SV tham gia NCKH không
Bảng 2.10: Khoa bạn đang theo học có khuyến khích SV tham gia NCKH không.
(Nguồn: Số liệu điều tra của đề tài được tiến hành khảo sát vào 2/2016)
Kết quả điều tra cho thấy, có 58.8% sinh viên thể hiện sự quan tâm và thích tham gia NCKH, với 43.6% cho rằng họ thích tham gia, 31% cảm thấy bình thường, 15.2% rất thích, 10% không thích và 2% rất không thích Sự quan tâm của sinh viên đối với NCKH là rõ ràng khi hơn 50% sinh viên bày tỏ sự thích thú với hoạt động này.
Bảng 2.11: Mức độ thích tham gia hoạt động NCKH.
(Nguồn: Số liệu điều tra của đề tài được tiến hành khảo sát vào 2/2016)
Theo kết quả điều tra, 58.6% sinh viên nhận định rằng nghiên cứu khoa học (NCKH) phù hợp với năng lực của họ, trong khi 35.7% cho rằng mức độ phù hợp là bình thường và chỉ có 5.7% cảm thấy rất phù hợp Đặc biệt, 64.3% sinh viên tin rằng các hoạt động NCKH phù hợp với khả năng của họ, cho thấy họ đã biết áp dụng kỹ năng và kiến thức vào nghiên cứu, mặc dù vẫn còn một số bất cập Điều này chứng tỏ rằng hướng đi mà sinh viên chọn là đúng đắn cho bản thân và cho quá trình thực hiện đề tài.
Bảng 2.12: Mức độ phù hợp của các hoạt động NCKH sinh viên đối với năng lực của sinh viên.
(Nguồn: Số liệu điều tra của đề tài được tiến hành khảo sát vào 2/2016)
Kết quả điều tra cho thấy có 70% sinh viên hài lòng về hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) tại trường ĐH.TDM, với 57.9% sinh viên tương đối hài lòng, 12.1% rất hài lòng và chỉ 0.5% không hài lòng Điều này cho thấy trường đã triển khai hiệu quả các chính sách và chương trình hỗ trợ, góp phần nâng cao sự hài lòng của sinh viên đối với hoạt động NCKH.
Mức độ hài lòng Tần số
Bảng 2.13: Mức độ hài lòng của sinh viên trường ĐH.TDM về hoạt động NCKH.
(Nguồn: Số liệu điều tra của đề tài được tiến hành khảo sát vào 2/2016)
Sinh viên đánh giá tích cực về NCKH, coi đây là hoạt động cần thiết và bắt buộc, mặc dù sự tham gia chủ yếu dựa vào tự nguyện Sự quan tâm và hỗ trợ từ cán bộ hướng dẫn cùng với chính sách hỗ trợ nghiên cứu đã khuyến khích 60% sinh viên tham gia NCKH, cho thấy sự quan tâm lớn của họ đối với lĩnh vực này Điều này không chỉ phản ánh khả năng và hiệu quả của các đề tài nghiên cứu mà còn giúp sinh viên tích lũy kiến thức và kỹ năng cần thiết để thực hiện các đề tài phù hợp với bản thân.
Tiểu kết chương 2 chỉ ra rằng sinh viên trường ĐH.TDM tham gia hoạt động NCKH tương đối tốt, nhưng vẫn còn nhiều sinh viên chưa quan tâm và mơ hồ về các chính sách hỗ trợ liên quan Việc tham gia các hoạt động NCKH giúp sinh viên tích lũy kinh nghiệm và kỹ năng cần thiết cho nghiên cứu Những sinh viên có nhu cầu cao về NCKH thường có nhận thức tích cực hơn về hoạt động này, trong khi số lượng sinh viên hứng thú với NCKH vẫn ở mức thấp, điều này cần được chú ý.