Phương pháp nghiên cứu, cách tiếp cận
Dữ liệu được thu thập và làm sạch trước khi phân tích bằng các phương pháp thống kê thích hợp, bao gồm phân tích nhân tố và hồi quy thông thường (OLS) cùng với các kiểm định liên quan.
Nội dung nghiên cứu và kết quả đạt được
3.1 Kết quả nghiên cứu định tính
Tác giả đã thực hiện phỏng vấn không cấu trúc với 14 giảng viên và 02 cán bộ nghiên cứu để tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình nghiên cứu khoa học (NCKH) của sinh viên Dựa trên kết quả ban đầu, tác giả đã xây dựng một khảo sát mở rộng cho 42 giảng viên và 06 cán bộ nghiên cứu viên nhằm xác định rõ hơn các yếu tố tác động đến NCKH của sinh viên Kết quả khảo sát cho thấy các nhân tố cụ thể có ảnh hưởng đáng kể đến quá trình này.
Quan niệm về quá trình nghiên cứu khoa học (NCKH) của sinh viên được thống nhất qua khảo sát, cho thấy NCKH là việc quan sát, tìm hiểu và thí nghiệm dựa trên số liệu, dữ liệu và tài liệu thu thập được Mục tiêu của NCKH là phát triển bản chất và quy luật chung của sự vật, hiện tượng, từ đó tìm ra kiến thức mới, ứng dụng kỹ thuật mới, và các mô hình có ý nghĩa thực tiễn.
Kết quả khảo sát cho thấy có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến quá trình nghiên cứu khoa học (NCKH) của sinh viên, bao gồm môi trường nghiên cứu, phần thưởng hấp dẫn, giảng viên hướng dẫn, đề tài nghiên cứu và lợi ích tham gia Các giảng viên và cán bộ nghiên cứu viên đồng thuận về những nhóm nhân tố này, đồng thời đề xuất cụ thể cho từng nhóm, tạo cơ sở cho việc xây dựng các giải pháp cải thiện trong tương lai.
Môi trường nghiên cứu (MTNC) đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ quá trình nghiên cứu khoa học (NCKH) Để tạo điều kiện thuận lợi, nhà trường cần xây dựng thời gian biểu phù hợp cho sinh viên (MTNC1), cung cấp cơ sở vật chất đầy đủ (MTNC2), và trang bị tài liệu cũng như thiết bị cần thiết cho NCKH (MTNC3) Hơn nữa, quy trình thực hiện NCKH cần được đơn giản hóa để sinh viên có thể dễ dàng tham gia và phát huy khả năng sáng tạo của mình (MTNC4).
Phần thưởng hấp dẫn (PTHD) trong NCKH bao gồm nhiều lợi ích, như tiền thưởng cho những nghiên cứu xuất sắc (PTHD1), kinh phí hỗ trợ ban đầu để thực hiện nghiên cứu (PTHD2), cơ hội được bạn bè biết đến khi đạt giải thưởng (PTHD3), và thành tích tốt giúp nâng cao hồ sơ cá nhân (PTHD4).
Giảng viên hướng dẫn (GVHD) đóng vai trò quan trọng trong nghiên cứu khoa học (NCKH), bao gồm: GVHD1, người hỗ trợ tốt trong NCKH; GVHD2, người thường xuyên giám sát công việc thực hiện NCKH; GVHD3, người đưa ra các định hướng thực hiện NCKH; và GVHD4, người hỗ trợ công bố bài nghiên cứu NCKH.
Đề tài nghiên cứu (ĐTND) bao gồm các yếu tố quan trọng như: Đề tài NCKH liên quan đến chuyên ngành học (ĐTNC1), nội dung nghiên cứu hấp dẫn (ĐTNC2), khả năng tiếp cận nguồn tài liệu (ĐTNC3) và chủ đề thu hút sự chú ý (ĐTNC4) Những yếu tố này không chỉ giúp định hình hướng nghiên cứu mà còn tăng cường tính khả thi và sự quan tâm từ cộng đồng học thuật.
- Lợi ích tham gia nghiên cứu (LINC), gồm: Học hỏi được nhiều kinh nghiệm để thực tập và báo cáo thực tập (LINC1); Tạo được mối quan hệ
5 với giảng viên (LINC 2); Tạo động lực học tập tốt hơn (LINC 3); Rèn luyện được nhiều kỹ năng làm việc (LINC 4)
Trong quá trình nghiên cứu khoa học, anh (chị) luôn chủ động tham gia vào các hoạt động nghiên cứu khi có cơ hội, khuyến khích bạn bè cùng tham gia và nỗ lực hết mình để hoàn thành đề tài nghiên cứu của bản thân.
3.1 Kết quả nghiên cứu định lượng
Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả đã thu thập mẫu theo nguyên tắc của Comrey & Lee (1992) với cỡ mẫu dự kiến là 500, đạt yêu cầu tốt Mẫu được lấy bằng hai phương pháp tỷ lệ và thuận tiện, tập trung vào các lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật, sư phạm và khoa học tự nhiên Mẫu được thu thập hai lần: lần đầu để đánh giá sơ bộ thang đo, và lần thứ hai để đảm bảo cỡ mẫu tối thiểu cho nghiên cứu, với tổng số phiếu thu được là 610, đảm bảo độ tin cậy trong phân tích Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến động lực nghiên cứu khoa học của sinh viên, thông qua các bước phân tích nhân tố và hồi quy thông thường bằng phần mềm SPSS.
3.1.1 Đặc điểm cá nhân đại diện được khảo sát
Thống kê cho thấy tỷ lệ nam nữ trong cuộc khảo sát là 33,83% nam và 66,17% nữ, phản ánh sự chênh lệch đáng kể Mẫu điều tra đã đạt yêu cầu cân bằng giữa nam và nữ, đồng thời cho thấy sự hiểu biết của người tham gia về lĩnh vực nghiên cứu Điều này có ý nghĩa quan trọng trong quá trình phân tích dữ liệu và thiết lập các mô hình nghiên cứu của nhóm tác giả.
Trong cuộc khảo sát, tổng số sinh viên được khảo sát là 610, trong đó có 53 sinh viên năm nhất (8,7%), 146 sinh viên năm hai (23,9%), 310 sinh viên năm ba (50,8%) và 101 sinh viên năm tư (16,6%).
Hình 1 Cơ cấu sinh viên được khảo sát qua các năm
Theo khảo sát của nhóm tác giả, trong tổng số mẫu khảo sát, lĩnh vực sư phạm chiếm tỉ lệ cao nhất với 48,5% (296 mẫu), tiếp theo là lĩnh vực kỹ thuật với 25,6% (156 mẫu), lĩnh vực kinh tế với 17,4% (106 mẫu) và cuối cùng là lĩnh vực xã hội nhân văn với 8,5% (52 mẫu).
Hình 4.6 Cơ cấu sinh viên được khảo sát theo ngành
Nguồn: Khảo sát và tính toán của nhóm tác giả
Kết quả học tập từ các mẫu khảo sát cho thấy có 32 mẫu (5,2%) đạt loại giỏi, 269 mẫu (44,1%) đạt loại khá, 222 mẫu (36,4%) ở mức trung bình – khá, và 87 mẫu (14,3%) đạt loại trung bình.
Hình 2 Cơ cấu sinh viên khảo sát theo học lực
Nguồn: Khảo sát và tính toán của nhóm tác giả
Trong nghiên cứu về tiêu chí tham gia NCKH, có 65 mẫu (chiếm 10,7%) đã từng hoặc đang tham gia, trong khi 545 mẫu (89,3%) chưa tham gia Trong số 65 mẫu này, 56 mẫu đã tham gia một đề tài, và 9 mẫu tham gia với hai đề tài Cụ thể, có 5 mẫu tham gia dưới hình thức cá nhân, 60 mẫu tham gia theo nhóm, và 2 mẫu giữ vai trò thư ký.
Trong tổng số 63 mẫu, có 27 mẫu đóng vai trò là thành viên chính và 36 mẫu là cộng tác viên Đến thời điểm hiện tại, 57 mẫu đã hoàn thành đúng thời hạn, trong khi 8 mẫu không đạt yêu cầu này Ngoài ra, có 6 đề tài được vinh danh giải thưởng, trong khi 59 đề tài không đạt giải.