Trước khi khai thác thông tin từ sử liệu phục vụ mục đích nghiên cứu biên soạn các công trình, tác phẩm lịch sử, việc xác định giá trị đích thực của sử liệu là việc làm mang tính nguyên
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
KHOA LỊCH SỬ
ĐỀ TÀI
SỬ LIỆU HỌC: NỘI DUNG, CHƯƠNG TRÌNH
VÀ TỔ CHỨC GIẢNG DẠY Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Chuyên đề
HỆ THỐNG KHÁI NIỆM, QUAN ĐIỂM
VÀ THUẬT NGỮ SỬ LIỆUC HỌC
BÌNH DƯƠNG - THÁNG 12 NĂM 2014
Trang 2Chuyên đề
HỆ THỐNG KHÁI NIỆM, QUAN ĐIỂM
VÀ THUẬT NGỮ SỬ LIỆU HỌC
1 Khái niệm Sử liệu học
Xét về mặt thuật ngữ, cụm từ “Sử liệu học” hầu như ít xuất hiện trong từ
điển của các nước Cho đến nay trên phạm vi cả thế giới mới chỉ có cụm từ
Историческая школа trong từ điển tiếng Nga và cụm từ Quellen kunde trong từ
điển tiếng Đức có nghĩa là “Sử liệu học”, riêng ở các nước phương Tây khác chỉ
có cụm từ critique des sources, hay historical source research mang nghĩa
nghiên cứu, phê phán các nguồn sử liệu
Vậy sử liệu học là gì? Từ khi khoa học lịch sử hình thành, các nhà sử học
đã quan tâm đến sử liệu, coi sử liệu là thành tố không thể thiếu trong việc tái dựng hiện thực lịch sử khách quan Do vậy, để tái dựng hiện thực lịch sử, nghiên cứu, biên soạn các công trình, tác phẩm lịch sử, các nhà sử học phải trả lời các câu hỏi đại loại như, Sử liệu là gì? Tìm sử liệu ở đâu? Công việc sưu tầm sử liệu được tiến hành như thế nào?
Sau khi có sử liệu, các nhà sử học lại phải tiến hành chọn lọc, phân loại sử liệu nhằm khai thác thông tin một cách thuận lợi nhất có hiệu quả nhất
Sự lựa chọn sử liệu tùy thuộc vào sự nhận định, đánh giá chủ quan của nhà sử học đối với các sử liệu; và sự phân loại sử liệu cũng được thực hiện tùy theo cách nghĩ, cách làm của từng nhà sử học Có nhà sử học chọn lọc, phân loại theo thời kỳ lịch sử của sử liệu, theo địa bàn tồn tại, theo đặc điểm hình thức, theo tính chất thông tin, theo đặc điểm ngôn ngữ, theo đặc trưng vật chất hay tư tưởng, theo sử liệu thành văn và không thành văn, theo khả năng cung cấp thông tin trực tiếp hay thông tin gián tiếp của sử liệu
Trước khi khai thác thông tin từ sử liệu phục vụ mục đích nghiên cứu biên soạn các công trình, tác phẩm lịch sử, việc xác định giá trị đích thực của sử liệu
là việc làm mang tính nguyên tắc đối với các nhà sử học Nghĩa là, các nhà sử học phát hiện được quy luật hình thành và chi phối nội dung của sử liệu Trong
hệ thống sử liệu, có sử liệu đúng, có sử liệu sai, có những sử liệu không được
Trang 3tạo ra bởi các hiện tượng, biến cố lịch sử mà được tạo ra vì mục đích nào đó của một cá nhân, của một nhóm người, của một cộng đồng, hay của một giai cấp,
Thông qua quá trình hình thành, vận động, phát triển của ngành khoa học lịch sử, sử liệu nghiễm nhiên trở thành đối tượng nghiên cứu của các nhà sử học
Sử liệu không những được các nhà sử học đề cập đến những công tác thực tiễn như sưu tầm, chọn lọc, phân loại, phê phán, của sử liệu, mà còn được bàn nhiều về mặt lý luận như khái niệm, những dấu hiệu bản chất, thuộc tính, những quy luật chi phối đến quá trình hình thành, vận động, phát triển và những quy luật chi phối nội dung của sử liệu ; đồng thời hình thành nên hệ thống phương pháp luận, phương pháp, nghiên cứu và đề xuất các biện pháp, cách thức sử dụng sử liệu trong việc nghiên cứu lịch sử, tái dựng hiện thực lịch sử, tiếp cận chân lý lịch sử
Có thể nói, những vấn đề về sử liệu lý luận và sử liệu thực tiễn đã được các nhà sử học đề cập, giải quyết trong suốt từ lịch sử cổ đại cho đến ngày nay,
đó chính là tiền đề hình thành nên ngành Sử liệu học
Như vậy, sử liệu học là ngành khoa học nghiên cứu sử liệu, với hệ thống khái niệm riêng, thuật ngữ riêng, đối tượng nghiên cứu riêng, phương pháp nghiên cứu riêng, mục đích ứng dụng riêng và có một lịch sử phát triển lâu dài
2 Đối tượng của Sử liệu học
Là ngành khoa học chuyên nghiên cứu về sử liệu, tuy nhiên đối tượng của
sử liệu học không phải bản thân sử liệu mà là nguồn thông tin chứa trong sử liệu Chúng ta cũng đã biết rằng, nguồn thông tin phản ánh của từng sử liệu lại khác nhau, mức độ chuẩn xác của thông tin cũng khác nhau; thậm chí có nhiều
sử liệu phản ánh thông tin sai lệch, thiếu chính xác, về hiện thực lịch sử, do vậy việc nghiên cứu qui luật hình thành, vận động, phát triển của sử liệu và các yếu tố chi phối nội dung thông tin của sử liệu cũng chính là đối tượng nghiên cứu của sử liệu học Như vậy, đối tượng của ngành Sử liệu học là:
- Bản thân sử liệu (thông tin và kênh thông tin),
- Các qui luật chi phối quá trình vận động, phát triển của sử liệu,
- Các yếu tố ảnh hưởng, chi phối nội dung thông tin của sử liệu
Mục đích của các nhà sử học là thông tin từ sử liệu, khi tiếp cận với các nguồn sử liệu là để khai thác thông tin Nếu sử liệu không có thông tin, thì các nhà sử học không có lý do gì để tiếp cận sử liệu, do vậy, các thông tin chứa trong sử liệu là đối tượng chính mà các nhà sử học mong muốn được tiếp cận, nghiên cứu
Trang 4Trong nhiều tường hợp, nguồn thông tin trong sử liệu đặt ra các nhiệm vụ
cụ thể tiếp theo buộc các nhà sử học, nhà nghiên cứu phải thực hiện Đơn cử như, khi tiếp cận với các nguồn sử liệu về thành Cổ Loa, có nhiều ý kiến khác
nhau về vị trí của thành Có ý kiến cho rằng, “Cái thành mà An Dương Vương
đắp ở Việt Thường chính là Việt Vương thành, có tên dân gian và thành Ốc (chữ
là Loa Thành), chứ không phải là thành Phong Khê, nằm trên đất Cổ Loa”1 Mà Việt Vương thành, hay Loa Thành, lại ở Cao Xá, tổng Cao Xá, ngày nay thuộc
xã Diễn An, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An
Nếu như chúng ta công nhận thành Cổ Loa được đắp ở Việt Thường chính
là thành Phong Khê, ngày nay thuộc địa bàn Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội thì niên đại của ba vòng thành Cổ Loa cũng có nhiều ý kiến khác nhau Có ý kiến cho rằng, cả ba vòng thành có niên đại trước khi nhà Hán xâm lược, cai trị nước ta; nhưng cũng có ý kiến cho rằng, các vòng thành, đặc biệt là vòng thành trong có
sự pha trộn niên đại trước thời nhà Hán, thuộc thời nhà Hán, hoặc các thời đại tiếp sau đó
Các thông tin mà sử liệu cung cấp đã đặt ra cho các nhà sử học những vấn
đề cần phải nghiên cứu, làm rõ về thành Cổ Loa của An Dương Vương, thật sự thành Cổ Loa được ở đâu, Nghệ An hay Hà Nội? Được xây dựng và hoàn thành vào thời gian nào?
Để xác định độ tin cậy của thông tin có từ sử liệu, các nhà sử học, nhà nghiên cứu phải tìm hiểu quá trình hình thành, vận động, phát triển của sử liệu
Sử liệu lại do con người tạo ra, nên nó không những bị chi phối bởi các quan hệ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của thời đại sinh ra nó, mà còn bị chi phối bởi
tư tưởng, quan điểm, mục đích, động cơ và trình độ, của tác giả sử liệu Do vậy, để sử dụng sử liệu vào việc tái dựng hiện thực lịch sử, đối tượng của sử liệu
mà các nhà sử học phải tiến hành nghiên cứu là các qui luật chi phối quá trình hình thành, vận động, phát triển của sử liệu; và các quy luật chi phối nội dung thông tin của sử liệu
3 Nhiệm vụ của Sử liệu học
Với tư cách là một ngành khoa học, khoa học nghiên cứu về sử liệu, nhiệm vụ đặt ra cho ngành Sử liệu học là nghiên cứu sử liệu cả về phương diện
lý luận lẫn về phương diện thực tiễn
1 Đỗ Văn Ninh, Thành cổ Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1983, tr 31
Trang 5Về lý luận, Sử liệu học tổng hợp toàn bộ tri thức của con người về sử liệu,
làm rõ sử liệu là gì, vai trò vị trí của sử liệu đối với việc nghiên cứu lịch sử Tìm hiểu quá trình hình thành, vận động phát triển của sử liệu, tìm ra các qui luật, các yếu tố chi phối đến quá trình hình thành, vận động, phát triển của sử liệu và các chi phối nội dung phản ánh của sử liệu
Sau khi giải quyết xong các vấn đề trên, sử liệu học có nhiệm vụ đề xuất
hệ thống phương pháp luận, hệ thống phương pháp nghiên cứu sử liệu và đề xuất các nguyên tắc, cách thức khai thác thông tin từ sử liệu, sử dụng thông tin
sử liệu phục vụ cho việc tái dựng hiện thực quá khứ khách quan, đưa nhận thức của con người tiệm cận với sự thật lịch sử, tìm ra chân lý lịch sử
Về thực tiễn, Sử liệu học có nhiệm vụ hướng dẫn thực hành công tác sử
liệu, bao gồm, công tác sưu tầm, phân loại, chọn lọc, xác minh, phê phán sử liệu; công tác khai thác thông tin từ các nguồn sử liệu phục vụ việc nghiên cứu, biên soạn các công trình, tác phẩm sử học
Cũng như các ngành khoa học khác, các nhiệm vụ của Sử liệu học có mối quan hệ mật thiết với nhau
Nghiên cứu sử liệu về mặt lý luận, nghĩa là sử liệu học được trang bị hệ thống lý luận, phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu, nhằm định hướng cho các hoạt động thực tiễn của sử liệu Ngược lại, các hoạt động thực tiễn của
sử liệu giúp sử liệu học hoàn thiện hơn về hệ thống lý luận, từ việc chuẩn hóa khái niệm sử liệu, tìm ra các đặc điểm, các thuộc tính của sử liệu, đến việc đề xuất hệ thống phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu, cách thức sử dụng sử liệu, khai thác thông tin từ sử liệu
4 Quá trình hình thành, phát triển của ngành khoa học sử liệu
Từ thời kỳ cổ đại, các nhà sử học bắt đầu nhận biết được giá trị của sử liệu, dùng sử liệu để nghiên cứu biên soạn thành các công trình, tác phẩm sử học
Ở phương Đông, Khổng Tử đã biết sử dụng Kinh thi làm sử liệu để biên soạn nên bộ Kinh Xuân Thu, ở Phương Tây, các nhà sử học như Hérodot, Thucydides, Polibius, đã đi khắp các thành phố, làng mạc, vùng quê, để sưu
tầm sử liệu trên các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội, nhằm
dựng lên lịch sử Hi lạp, Atxiri, Balilon, Ba Tư, Ai Cập, Cuộc chiến tranh Hy Lạp
- Ba Tư,
Trang 6Từ thực tiễn công tác sưu tầm sử liệu, các nhà sử học thời cổ đại nhận thấy, trong nhiều thời kỳ, giai đoạn lịch sử, trên nhiều bình diện, lĩnh vực của đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, Kết quả nguồn sử liệu sưu tầm được không giống nhau, đặc biệt là những thời kỳ, giai đoạn lịch sử càng xa dần so với hiện tại, thì sử liệu càng trở nên thiếu vắng Do vậy, các nhà sử học phải sử dụng nhiều phương pháp, biện pháp, cách thức sưu tầm sử liệu khác nhau nhằm đạt được kết quả tốt nhất
Khi đã có sử liệu, do các các nguồn sử liệu rất đa dạng, nhiều thể loại, nên nhà sử học phải tiến hành chọn lọc, phân loại và tìm kiếm phương pháp nhằm khai thác thông tin Tuy nhiên, hệ thống thông tin có trong sử liệu không phải thông tin nào cũng trung thực, phản ánh đúng hiện thực lịch sử Nghĩa là trong
hệ thống sử liệu, có sử liệu đúng, có sử liệu sai; có sử liệu được tạo ra bởi các sự kiện lịch sử, cũng có sử liệu được tạo ra vì mục đích nào đó của cá nhân, nhóm người, cộng đồng, giai cấp Do vậy, trước khi sử dụng sử liệu vào mục đích tái dựng sự kiện lịch sử, các sử gia buộc phải tiến hành công tác phê phán sử liệu
Thucydides - nhà sử học Hy Lạp (460-399 trước công nguyên) đã lưu ý “không
thể tin vào tất cả các tài liệu mà không kiểm tra”, còn Khổng Tử - nhà sử học
Trung Quốc (551-479 trước công nguyên) thì cho rằng “cốt sao sự tích kỹ mà
đúng”
Như vậy, từ thời cổ đại, công tác thực tiễn về sử liệu hầu như đã được các nhà sử học thực hiện khá đầy đủ, dù các thuộc tính về thời gian, không gian, tác giả sử liệu, không được các nhà sử học chú ý
Bước vào thời đại phong kiến, sử học bị che phủ bởi vương quyền và thần quyền, dù vậy, sử liệu cũng được chú trọng, đặc biệt ở phương Đông Các thể loại biên niên, tiểu sử, thánh truyện được biên soạn trên cơ sở sử liệu do các sử quan hay các nhà sử học ghi chép lại đời sống sinh hoạt của vua chúa, của giáo hội
Đến thế kỷ XV, khoa học thực nghiệm bắt đầu phát triển đã ảnh hưởng xấu đến vai trò của vương quyền và thần quyền Ở phương Tây, các nhà sử học mong muốn đưa sử học quay về với sử học nhân văn thời cổ đại Đặc biệt, tư tưởng của F Bacon và R Descartes về việc coi trọng sử liệu gốc, khôi phục sự kiện lịch sử qua lời kể nhằm đạt tới tính chính xác, tính trong sáng, tính phê phán chứ không phải theo ý của vua, của chúa lan tỏa mạnh mẽ
Ở Pháp, năm 1566, luật gia, nhà triết học chính trị Jean Bodin (1530 -
1596) cho xuất bản tác phẩm “Methodusad facilem historiaum coguitionem” vốn
Trang 7là kết quả của cuộc bút chiến nổ ra mạnh mẽ giữa các nhà sử học với Giáo hội, nhằm khẳng định sự cần thiết phải tiến hành phê phán sử liệu
Trong những thập niên cuối thời kỳ Phục hưng, Jean Mabillon – nhà sử học người Pháp (1632-1707) từ các nguồn sử liệu gốc, tiến hành phương pháp xác định niên đại, phê phán tính chân thực của sử liệu, nhằm phục vụ việc nghiên cứu biên soạn cuốn sách về văn bản học, đặt nền móng cho ngành văn bản học xuất hiện
Đến thế kỷ XVIII, trào lưu sử học khai sáng xuất hiện, đây chính là trào lưu tư tưởng tiến bộ của giai cấp tư sản về việc truyền bá rộng rãi tri thức khoa học cho nhân dân nhằm chống lại sự kiêm tỏa của vương quyền là thần quyền
Năm 1713, nhà sử học Nocolas Lenglet Du Fresnoy (1674 - 1755) trong
cuốn Methode pour l'histore, đã đề cập đến các tiêu chuẩn của sử liệu đáng tin
cậy bao gồm sự quan sát của tác giả và tính trung thực, trong sáng của lời phát biểu, Đặc biệt, các nhà sử học khai sáng đã có những bước tiến dài trong việc coi sử liệu là nguyên liệu chính để tạo nên các công trình, tác phẩm sử học
Ngoài việc phê phán sử liệu được đặc biệt chú trọng, các nhà sử học còn xây dựng các tiêu chí phục vụ cho việc phê phán sử liệu, nhằm bảo đảm tính chân thực của sử liệu với mục đích “phụng sự chân lý”
Nhà sử học người Pháp - Voltaire (1694-1778) đã viết “Chúng tôi viết nên
những tác phẩm lịch sử này dựa trên chuyện kể của các nhân vật nổi tiếng đã nhiều năm ở bên cạnh Charles VII và Pie đại đế Những người này sau khi hoàng đế mất đã lui về nước tự do và không hề có ý định che dấu sự thật”2
Công tác phê phán sử liệu ngày càng trở nên thông dụng và được định hình rõ ràng hơn từ giữa thế kỷ XVIII, khi nhà bác học người Đức G.B Niburu (1776 - 1831) đề ra phương pháp phê phán sử liệu tựa như giải một bài toán với hai ẩn số, bao gồm phê phán các nguồn sử liệu với mục đích phát hiện thông tin đáng tin cậy và phục dựng lại hiện thực lịch sử trên cơ sở các dữ liệu thu nhận được
Cũng trong thế kỹ XVIII, sự phát triển mạnh mẽ của các ngành Văn bản học, Niên đại học, Văn kiện học, Cổ tự học, Khảo cổ học, Dân tộc học – những ngành khoa học đòi hỏi sự chính xác cao của các nguồn sử liệu càng làm sáng thêm niềm tin của các nhà học về vai trò, vị trí của sử liệu trong nghiên cứu sử
2 Guy Bourde’ - Hevre’ martin, Les ecoles, historiques, Pari, 1983, tr 129
Trang 8học Lúc bấy giờ, trong các công trình, tác phẩm sử học, các nhà sử học bắt đầu bàn nhiều về sử liệu, khái niệm sử liệu
Sang đầu thế kỷ XIX, nhà sử học Nga Bestyghep – Riumin (1829 - 1897) cho rằng, phê phán sử liệu tương đồng với quá trình nghiên cứu so sánh các sử liệu và bằng cách đó, các nhà sử học dùng sử liệu này để kiểm chứng sử liệu khác
Trong những năm 1842 - 1849, công trình gồm 20 tập “Cours d’études
historiques”3 của nhà sử học Claude Francois Daunon (1761 - 1840), được xuất bản4, trong đó tác giả đã dành toàn bộ tập một để định nghĩa về phương pháp phê phán sử liệu cùng với cách phân chia sử liệu
Năm 1858, với công trình “Grundriss der Historik”5, nhà sử học I G Droysen (1808 - 1884) đã đưa ra phương pháp phê phán đối với từng nhóm sử liệu riêng biệt
Năm 1876, Giáo sư sử học Ad Tardif xuất bản công trình “Notions
élémentaires de critique historique”6, trong đó, ngoài việc liệt kê hàng loạt phương pháp cơ bản, cần thiết để phê phán sử liệu, còn đưa ra những lời khuyên hữu ích đối với những người mới bắt đầu nghiên cứu khi làm việc với sử liệu
Năm 1883, nhà sử học Сh De Smedt trong tác phẩm “Các nguyên tắc phê
phán sử liệu” (Principes de la critique historique)7, đã trình bày những nguyên tắc phê phán đối với sử liệu viết và chỉ ra những phương pháp bổ trợ cơ bản để thực hiện quá trình phê phán sử liệu
Đến nửa cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, các nhà sử học thuộc khuynh
hướng sử học thực chứng thực sự đề cao vai trò của sử liệu Họ cho rằng “các
nhà sử học không cần vượt quá sự hiểu biết về sử liệu”8, hay “lịch sử được tạo
ra bởi các tài liệu”9 Fustel de Coulanges - nhà sử học người Pháp còn khuyên
các đồng nghiệp rằng, “Cần phải đọc tất cả các loại tài liệu, không bỏ sót dù chỉ
một tài liệu Bởi vì, không một loại tài liệu nào, nếu sử dụng một cách đơn lẻ, lại cho một ý tưởng chính xác về xã hội Các tài liệu tự bổ sung hay đính chính lẫn
3 Tạm dịch từ tiếng Pháp là "Bài giảng về nghiên cứu lịch sử"
4 Xuất bản sau khi Claude Francois Daunon đã mất
5 Tạm dịch từ tiếng Đức là "Sơ đồ phân tầng sử liệu"
6 Tạm dịch từ tiếng Pháp là "Các khái niệm của phê phán sử liệu"
7 Tạm dịch từ tiếng Pháp là "Nguyên tắc phê phán sử liệu"
8 Phan Ngọc Liên, Đỗ Thanh Bình (đồng chủ biên), Lịch sử sử học thế giới, NXB Đại học sư phạm, 2008, tr 99
9
Trích theo Phan Ngọc Liên, Đỗ Thanh Bình (đồng chủ biên), Lịch sử sử học thế giới, NXB Đại học sư phạm,
2008, tr 100
Trang 9nhau”10 Đặc biệt hơn, các nhà sử học còn cố gắng chứng minh sử học như một ngành khoa học thực nghiệm, họ chú ý đến việc khôi phục sử liệu, chọn lọc sử liệu, xử lý, phê phán sử liệu, coi việc nghiên cứu sử liệu như một ngành khoa học độc lập
Hai nhà sử học Pháp: Sharle Victor Langlois (1863 - 1929) và Sharle
Seignobos (1854 - 1942) cho công bố công trình “Nhập môn nghiên cứu sử học”
(1897)11, trong đó hai ông đã đưa ra những quy tắc phê phán sử liệu, “đặc biệt
nhấn mạnh tới vấn đề tổng hợp các sự vật rời rạc thu được và xây dựng chuỗi các qui tắc cần thiết để nhóm hóa các sự vật rời rạc thành chỉnh thể khoa học”12
Cũng từ cuối thế kỷ XIX, đóng góp quan trọng cho sự phát triển của phương pháp phê phán sử liệu phải kể đến nhà sử học lỗi lạc người Nga A.S
Lappo – Danilevxki (1863 - 1919) với cuốn giáo trình “Phương pháp luận sử
học” (1910 - 1913), trong đó tác giả đã coi sử liệu là đối tượng của nhận thức
lịch sử, đồng thời nêu lên cấu trúc của tư liệu và công nhận khả năng trừu tượng hóa của con người khi nghiên cứu các nguồn sử liệu13 Tác giả cũng xác định cách thức, nguyên tắc phân loại sử liệu, các phương pháp diễn giải và phê phán nguồn sử liệu
Về căn bản, phương pháp phê phán sử liệu đã được hình thành trong khoảng thời gian từ thế kỷ XVIII - XIX Hầu hết những nhà sử học (cả những nhà nghiên cứu đặt nền móng cho phương pháp phê phán sử liệu, cũng như những người phát triển phương pháp này trong những giai đoạn tiếp theo) đều coi mục đích chính của phê phán sử liệu là xác định mức độ tin cậy của sử liệu trên mọi phương diện, tức giám định sử liệu
Đến những năm 50 của thế kỷ XX, các nhà sử học tên tuổi như A.I Gubobski, B.B Phasobin, Kovachenco,… bàn nhiều đến sử liệu, coi sử liệu lịch
sử xuất hiện như những hiện tượng xã hội, là dấu vết của hoàn cảnh lịch sử cụ thể đã qua, là kết quả của các mối quan hệ xã hội và phản ánh các mối quan hệ
xã hội
10 Trích theo TS Đặng Đức Thi, Nhập môn sử học, phương pháp luận sử học, NXB trẻ, 2011, tr 172
11 Một thời dài, tác phẩm này được coi đại loại như "Kinh phúc âm của lý luận sử học Thực chứng" Các chú thích từ 1 đến 6 ở trang này dẫn theo Nguyễn Thị Mai Hoa và Nguyễn Văn Khánh, Phương pháp phân tích –
phê khảo sử liệu trong nghiên cứu lịch sử (Qua trường hợp tìm hiểu quan hệ Việt Nam - Trung Quốc thời kỳ hiện đại).Nguồn: http://lichsu.tnus.edu.vn
12 Nguyễn Thị Mai Hoa và Nguyễn Văn Khánh, Tlđd
13 Phan Ngọc Liên (chủ biên), Phương pháp luận sử học, NXB Đại học sư phạm, 2007, tr 267
Trang 10Các nhà sử học thời kỳ này còn chỉ rõ các quy luật chi phối đến quá trình hình thành vận động phát triển của sử liệu, các quy luật chi phối nội dung của sử liệu
Trong thời gian này, nhiều khái niệm về sử liệu ra đời, các nhà sử học coi
sử liệu chính là di tồn của các sự kiện hiện thực diễn ra trong những không gian, thời gian nhất định; trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể do con người tạo ra nên chúng chịu sự chi phối của các quy luật xã hội
Con người tạo ra lịch sử của chính mình, tuy nhiên “con người không phải
làm theo ý muốn tùy tiện của mình, trong những điều kiện tự mình chọn lựa lấy,
mà là trong những điều kiện trực tiếp đã cho sẵn, có trước mắt và do quá khứ để lại”14
J Topolski có viết “không thể nói là một cái gì đó tĩnh tại, cho sẵn và sẵn
có” 15, nó cũng giống như các sự kiện, sử liệu có quan hệ biện chứng với các sử liệu ra đời trước đó, đồng thời và sau đó, chúng tuân theo luật nhân quả, Đặc biệt, năm 1961, trong công trình Sử liệu học của Mark Block xuất bản tại Paris, ông đã đề cập hầu hết các phạm trù, khái niệm, và những nguyên tắc cơ bản trong việc sử dụng sử liệu
Như vậy đến những năm 50, 60 của thế kỷ XX, những vấn đề về lý luận, cũng như công tác thực tiễn về sử liệu đã được các nhà sử học đề cập, giải quyết, ngành sử liệu học thực sự ra đời và phát triển mạnh mẽ cho đến ngày nay
Xuyên suốt tiến trình lịch sử, về sử liệu, sử liệu học có rất nhiều ý kiến khác nhau, nhưng tựu trung, các nhà sử học từ cổ tới kim đều công nhận vai trò quan trọng không thể thiếu của sử liệu đối với việc nhận thức lịch sử Hoạt động thực tiễn về sử liệu từ thời cổ đại đến nay xét trên bình diện thế giới đã chứng minh nhận định trên Tuy nhiên, hầu như các công trình, tác phẩm sử học là mục tiêu mà các nhà sử học vươn tới, nên các nhà sử học hầu như ít quan tâm đến sử liệu lý luận, đó là lý do giải thích tại sao ngành sử liệu học ra đời muộn hơn rất nhiều so với khoa học lịch sử, dù rằng có sử liệu mới có sử học
Ra đời dựa trên cơ sở tổng kết tri thức của con người về quá trình nhận thức lịch sử, do vậy sử liệu học chịu sự chi phối của quan điểm, tư tưởng, giai cấp nên nó mang những đặc điểm, điều kiện và hạn chế của mỗi thời đại
14 Trích theo TS Đặng Đức Thi, Nhập môn sử học, phương pháp luận sử học, NXB trẻ, 2011, tr 114
15
Một số vấn đề về phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu các khoa học lịch sử, UBKHXHVN, Viện thông tin khoa học xã hội, hà Nội, 1982, tr 7