Biện pháp tổ chức dạy kiểu bài mở rộng vốn từ mà chúng tôi đề cập trong đề tài được xây dựng phù hợp với quan điểm dạy học theo hướng giao tiếp, theo những định hướng đổi mới của chương
Trang 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
KHOA NGỮ VĂN
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP CƠ SỞ
DẠY MỞ RỘNG VỐN TỪ TRONG PHÂN MÔN
LUYỆN TỪ VÀ CÂU Ở TIỂU HỌC (Một số trường tiểu học ở Thủ Dầu Một)
Xác nhận của đơn vị chủ trì đề tài Chủ nhiệm đề tài
ThS Đặng Phan Quỳnh Dao
Giảng viên khoa Ngữ văn
Bình Dương, tháng 7 năm 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
Đơn vị: Khoa Ngữ văn
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 Thông tin chung:
- Tên đề tài: Dạy mở rộng vốn từ trong phân môn Luyện từ và câu ở tiểu học (Một số
trường tiểu học ở Thủ Dầu Một)
- Mã số:
- Chủ nhiệm : ThS Đặng Phan Quỳnh Dao
- Đơn vị chủ trì: Khoa Ngữ văn
- Thời gian thực hiện: Từ tháng 12/2016 – 12/2017
2 Mục tiêu:
Nghiên cứu cơ sở lí luận kiểu bài mở rộng vốn từ Trên cơ sở đó đề xuất qui trình dạy các kiểu bài mở rộng vốn từ theo chủ đề, theo quan hệ ngữ nghĩa và theo quan hệ cấu tạo trong chương trình tiểu học
Đề tài mong muốn góp một phần nhỏ vào việc phát triển môn Phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học và nâng cao kết quả dạy học mở rộng vốn từ cho giáo viên tiểu học
Trang 3Biện pháp tổ chức dạy kiểu bài mở rộng vốn từ mà chúng tôi đề cập trong đề tài được xây dựng phù hợp với quan điểm dạy học theo hướng giao tiếp, theo những định hướng đổi mới của chương trình và sách giáo khoa Tiếng Việt tiểu học sau năm 2000 Bên cạnh đó, như đã nói ở trên, biện pháp được xây dựng phù hợp với tình hình và điều kiện dạy học hiện tại, phù hợp với chương trình và sách giáo khoa hiện hành, có thể ứng dụng trong dạy học tiếng Việt ở tiểu học hiện nay Như vậy, qua quá trình thực nghiệm biện pháp dạy kiểu bài mở rộng vốn từ trong chương trình tiểu học, chúng tôi nghĩ rằng những đóng góp mới của đề tài có thể ứng dụng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên sư phạm tiểu học ở các trường Cao đẳng, Đại học Sư phạm và giáo viên dạy tiếng Việt ở các trường tiểu học
5 Sản phẩm:
Những đóng góp mới của đề tài có thể ứng dụng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên khoa sư phạm tiểu học ở các trường Cao đẳng, Đại học Sư phạm và giáo viên dạy
Tiếng Việt ở các trường tiểu học
6 Hiệu quả, phương thức chuyển giao kết quả nghiên cứu và khả năng áp dụng:
Ngày 17 tháng 7 năm 2018 Đơn vị chủ trì Chủ nhiệm đề tài
Đặng Phan Quỳnh Dao
XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN
Trang 4MỤC LỤC
trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4 Phương pháp nghiên cứu 6
5 Đóng góp đề tài 8
NỘI DUNG 9
Chương I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DẠY MỞ RỘNG VỐN TỪ 1 Cơ sở lí luận 9
1.1 Một số vấn đề về Tiếng Việt 9
1.2 Một số vấn đề lí thuyết về phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học …… 17
2 Cơ sở thực tiễn ………20
Chương II: QUI TRÌNH DẠY CÁC KIỂU BÀI MỞ RỘNG VỐN TỪ CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 1.Một số vấn đề chung 31
1.1 Nguyên tắc xây dựng bài tập mở rộng vốn từ 31
1.2 Hệ thống bài tập mở rộng vốn từ 32
2 Cách thức tổ chức thực hiện các kiểu bài mở rộng vốn từ 35
2.1 Bài mở rộng vốn từ theo chủ đề 35
2.2 Bài mở rộng vốn từ theo quan hệ ngữ nghĩa 42
2.3 Bài mở rộng vốn từ theo quan hệ cấu tạo 47 Chương III: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
Trang 53.2 Mục đích thực nghiệm 54
3.3 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 55
3.4 Phương pháp tiến hành thực nghiệm 55
3.5 Nội dung và cách thức tiến hành thực nghiệm 56
3.6 Kết quả thực nghiệm 56
3.7 Đánh giá kết quả thực nghiệm 68
KẾT LUẬN 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
PHỤ LỤC 76
Trang 6“Luyện từ và câu” là một trong những “phân môn” được bố trí dạy ở môn Tiếng Việt tiểu học Nhiệm vụ chủ yếu của việc dạy từ là giúp học sinh phong phú hóa vốn từ, giúp các em nắm vững tiếng Việt văn hóa, đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của học tập, giao tiếp trong nhà trường và ngoài xã hội Trong ba nhiệm
vụ cơ bản trên của phân môn Luyện từ và câu, nhiệm vụ phong phú hóa vốn từ, phát triển, mở rộng vốn từ cho học sinh được coi là trọng tâm Bởi vì, từ ngữ được cung cấp trong phân môn Luyện từ và câu nói riêng, môn tiếng Việt nói chung chủ yếu giúp các em hiểu nội dung các phát ngôn nghe - đọc và sử dụng trong thực tiễn nói - viết Đây là mục tiêu cần đạt tới của môn Luyện từ và câu ở trường tiểu học
Từ ngữ là một trong số các đơn vị cơ bản của ngôn ngữ Nó ở vào vị trí trung tâm của hệ thống ngôn ngữ Nó là cơ sở để con người có thể tiến hành hoạt động nhận thức và tạo ra mọi sản phẩm ngôn ngữ phục vụ cho nhu cầu giao tiếp Hoạt động nhận thức và giao tiếp của con người chính bắt đầu từ đơn vị cơ sở là “Từ”
Trang 7Vì vậy, cung cấp và phát triển vốn từ cho học sinh là việc làm rất quan trọng Không có vốn từ đầy đủ thì không thể tiến hành giao tiếp một cách hiệu quả được
Đặc biệt phát triển vốn từ cho học sinh sẽ giúp học sinh nắm vững tiếng mẹ
đẻ, tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh phát triển một cách toàn diện Vì vậy, vai trò mở rộng vốn từ cho học sinh tiểu học là việc làm rất quan trọng nhưng tìm hiểu thực trạng dạy học Luyện từ và câu ở tiểu học hiện nay, chúng tôi nhận thấy bên cạnh một số mặt thành công còn có vài hạn chế; kết quả, hiệu quả dạy - học vẫn còn bất cập so với yêu cầu đặt ra Một trong những nguyên nhân của tình trạng này
là giáo viên chưa (hoặc không chú ý) tới một số đặc trưng riêng của phân môn Giáo viên còn lúng túng trong việc tổ chức một tiết mở rộng vốn từ sao cho đúng yêu cầu, đặc trưng của phân môn và đạt hiệu quả dạy - học cao Cách thức và phương pháp hướng dẫn học sinh mở rộng và phát triển vốn từ còn gặp nhiều khó khăn Vốn từ của giáo viên chưa phong phú, vốn từ của học sinh còn hạn hẹp, nhiều từ chưa trở thành vốn từ tích cực trong hoạt động tư duy và giao tiếp
Về phía học sinh, qua các bài học Luyện từ và câu, các em được trang bị một vốn từ ngày càng phong phú hơn nhưng hiện tượng học sinh chưa hiểu đầy đủ về
từ, đồng thời sai, không phù hợp với ngữ cảnh, còn nhiều từ của các em chưa trở thành vốn từ tích cực trong hoạt động tư duy và giao tiếp Nhìn chung, hiệu quả của giờ học chưa đạt yêu cầu mong muốn
Từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài “Dạy mở rộng vốn từ trong phân môn Luyện từ và câu ở tiểu học” để nghiên cứu Đề tài này chúng tôi nghiên cứu về qui trình dạy các kiểu bài mở rộng vốn từ cho học sinh tiểu học, ở chừng mực nào
đó, kết quả sẽ có tác dụng thiết thực trong việc giúp sinh viên và giáo viên tiểu học nâng cao hiệu quả của việc dạy - học mở rộng vốn từ nói riêng và phương pháp dạy học Tiếng Việt nói chung
Trang 8II LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Ở Việt Nam vấn đề dạy từ ngữ cho học sinh bản ngữ được giới nghiên cứu quan tâm khá muộn Nguyễn Huệ Chi và Lê Thước là hai tác giả đầu tiên quan tâm đến vấn đề giáo học pháp tiếng Việt Tuy vậy, hai tác giả này chủ yếu bàn về phương pháp giảng dạy Ngữ pháp tiếng Việt, còn dạy từ ngữ chưa có tác giả nào quan tâm đến Mãi đến năm 1954 về phương pháp dạy học tiếng Việt nói chung, phương pháp dạy học từ ngữ nói riêng đã có một số người quan tâm nhưng cũng chỉ dừng lại ở mức trao đổi, sáng kiến kinh nghiệm trong dạy học Việc nghiên cứu phương pháp dạy học từ ngữ vẫn còn tản mạn Phải đến năm 70, mới xuất hiện một
số bài báo bàn về dạy từ ngữ, nhưng chủ yếu nói về dạy từ trong bài tập đọc, giảng văn, dạy từ ngữ với tư cách là phương tiện nghệ thuật Đó là các bài “Một số suy nghĩ xung quanh việc dạy từ ngữ ở trường phổ thông” của Hồ Lê [19, tr.7-11]
“Một số kinh nghiệm bước đầu về dạy từ” của Đinh Phan Cảnh [7, tr.11-14] Mãi đến năm 1980, trong chương trình môn Tiếng Việt Cải cách giáo dục ở Tiểu học, THCS lần đầu tiên từ ngữ được tách thành “Phân môn” độc lập, có tiết dạy riêng,
có vị trí ngang bằng với môn Ngữ pháp, nhiều người trong giới chuyên môn quan tâm nhiều hơn Sau đây chúng tôi xin điểm qua một số công trình tiêu biểu:
Về vấn đề dạy nghĩa của từ cho học sinh trong cuốn “Dạy từ ngữ cho học sinh cấp I phổ thông” của Trịnh Mạnh Trong bài nghiên cứu của mình ông đề cập đến 3 nhiệm vụ cơ bản trong việc dạy từ ngữ tiếng mẹ đẻ ở cấp I, phải thực hiện, đó là:
- Làm chính xác hóa vốn từ của học sinh
- Làm phong phú vốn từ của học sinh
- Rèn luyện kĩ năng sử dụng từ của học sinh[21]
Trang 9Tác giả Lê Cận trong bài viết “Những điểm mới làm cơ sở cho việc dạy và học môn Tiếng Việt ở trường THCS”[8] Ông có bổ sung thêm nhiệm vụ thứ 4 giúp học sinh chuẩn mực hóa vốn từ, văn hóa vốn từ, làm trong sáng, làm đẹp vốn từ của học sinh, bởi vì như chúng ta biết, vốn từ của các em một phần được hình thành, được tích lũy một cách tự nhiên, vô thức nên vốn từ của các em có những từ ngữ không phù hợp với chuẩn mực ngôn ngữ, khiến lời nói học sinh thiếu trong sáng, thiếu thẩm mĩ
Đề cập vấn đề dạy từ ngữ cho học sinh ở trường phổ thông nói chung, dạy
mở rộng vốn từ nói riêng Phải kể tới cuốn “Giảng dạy từ ngữ ở trường phổ thông” của Phan Thiều, Nguyễn Quốc Túy, Nguyễn Thanh Tùng [33] Trong cuốn sách này, các tác giả đã đề cập đến vấn đề cung cấp vốn từ cho học sinh với hai nhiệm
vụ chính cần làm: (1) lựa chọn và phân bố những từ cần cung cấp; (2) hướng dẫn học sinh hiểu ý nghĩa, hiểu giá trị những từ ấy
Bàn về vấn đề vốn từ và cung cấp vốn từ cho học sinh tiểu học có các bài báo: “Về cung cấp vốn từ cho học sinh cấp I” của Nguyễn Nhã Bản [5 Tr20-21],
“Tìm hiểu vốn từ của học sinh tiểu học” của Lê Phương Nga [22 Tr 24-25] Các bài báo này giúp chúng tôi hình dung rõ hơn về một số đặc điểm của vốn từ ở học sinh, đặc biệt là học sinh tiểu học, làm cơ sở cho việc xây dựng phương pháp dạy
mở rộng vốn từ cho học sinh tiểu học
Trong cuốn “Phương pháp dạy học tiếng Việt tập 1”, tác giả Lê A, Thành Thị Uyên Mỹ, Lê Phương Nga, Nguyễn trí, Cao Đức Tiến đã nêu cấu tạo, cách thức thực hiện từng bài “Lý thuyết từ ngữ” và ‘thực hành từ ngữ” một cách cụ thể, thiết thực Trong phần nội dung dạy sử dụng từ Giáo trình nêu: “Nhiệm vụ cơ bản của dạy từ ngữ là chuyển vốn từ tiêu cực của học sinh thành vốn từ tích cực Để thực hiện nhiệm vụ này cần có bài tập tích cực hóa vốn từ”[1.tr26] Đây cũng chính
là đích cần đạt của việc dạy từ ngữ ở nhà trường tiểu học
Trang 10Các bài báo “Về hệ phương pháp dạy nghĩa của từ cho học sinh trung học cơ sở” của Đức Nguyễn [24], “Phương pháp giải thích nghĩa và việc đánh giá học sinh nắm nghĩa từ” của Nguyễn Quanh Ninh[27]… các bài viết này phân tích khá kĩ các phương diện của việc dạy nghĩa từ cho học sinh, như: nghĩa của từ; chọn từ để dạy nghĩa; các phương pháp dạy nghĩa từ, việc đánh giá học sinh nắm nghĩa từ
Phan Thiều, Lê Hữu Tỉnh “Dạy học từ ngữ ở tiểu học” [35], ngoài nội dung khái quát về dạy từ ngữ ở tiểu học, tác giả còn thống kê, miêu tả khá đầy đủ hệ thống bài tập thực hành từ ngữ và nêu cách thức tiến hành cụ thể cho mỗi dạng bài
Trong cuốn “Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học” của Lê Phương Nga cũng đề xuất một số dạng bài tập từ ngữ cho học sinh tiểu học và nêu những điểm cần lưu ý về cách làm các dạng bài tập đó[23]
Trong cuốn “Luyện từ và câu lớp 3”, tác giả Đặng Mạnh Thường, Nguyễn Thị Lanh đề cập đến cách giải bài tập Luyện từ và câu Các bài tập trong sách giáo khoa được cuốn sách hướng dẫn cách giải tương đối kỹ càng, bài bản Hệ thống bài tập bổ sung của cuốn sách này cũng phù hợp với nội dung và trình độ của học sinh
Tác giả Trần Thị Lan (2012), trong bài viết “Dạy mở rộng vốn từ lớp 5 bằng cách tích hợp” , tạp chí khoa học ĐHSP TPHCM số 39 [18] cũng nêu lên nét nổi bậc của tính tích hợp chủ đề phân môn Luyện từ và câu với các phân môn khác trong sách giáo khoa, từ đó học sinh sẽ tìm tòi mở rộng và làm giàu vốn từ theo đề tài ở mỗi chủ điểm Ngoài ra, cuốn “Những điểm mới về nội dung và phương pháp dạy học ở tiểu học” [40] của Nguyễn Trí, Trần Mạnh Hưởng, Hoàng Văn Thung với nội dung “Những điểm thay đổi trong việc dạy các phân môn từ ngữ, ngữ pháp” cũng nêu lên một số điểm cần lưu ý khi dạy từ ngữ: Giáo viên cần dành thời gian thỏa đáng cho học sinh được luyện tập thực hành và hướng dẫn cho các em cách thức làm bài tập
Trang 11Trong cuốn “Văn bản với tư cách đối tượng nghiên cứu ngôn ngữ học”,tác giả I.R Galperin đã bàn về ngữ pháp văn bản trình bày một cách hệ thống văn bản trên tư liệu tiếng Đức Chính vì vậy mà cần phải kết hợp việc xem xét vấn đề ngữ pháp thuần túy với việc trình bày những khái niệm cơ bản của lí thuyết văn bản đại cương
Trên đây là những công trình viết về dạy học từ ngữ ở tiểu học Các công trình đó tuy chưa đề cập cụ thể đến vấn đề đề tài đề cập đến nhưng người nghiên cứu tiếp thu và dựa trên cơ sở đó để xây dựng cách dạy kiểu bài mở rộng vốn từ cho học sinh tiểu học
III ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là kiểu bài Mở rộng vốn từ (mở rộng vốn từ theo chủ đề, mở rộng vốn từ theo ngữ nghĩa và mở rộng vốn từ theo đặc điểm cấu tạo) được dạy trong phân môn Luyện từ và câu ở tiểu học
IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để triển khai đề tài này chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như sau:
1 Phương pháp khảo sát
Trang 12Chúng tôi tiến hành phương pháp này nhằm khảo sát thực trạng dạy và học của giáo viên và học sinh khi tiến hành dạy - học kiểu bài mở rộng vốn từ cho học sinh tiểu học Qua đó đánh giá phương pháp giảng dạy của giáo viên cũng như kết quả của học sinh qua thực tế dạy và học Quá trình khảo sát thực trạng giúp chúng tôi rút ra được những kết luận cần thiết, tìm ra phương pháp phù hợp với nội dung dạy học kiểu bài mở rộng vốn từ
2 Phương pháp phân tích
Phương pháp này nhằm xem xét và lí giải các vấn đề có tính chất lí luận và thực tiễn Phương pháp này chủ yếu được sử dụng trong việc phân tích những cơ sở
lí luận và thực tiễn của kiểu bài mở rộng vốn từ cho học sinh tiểu học
3 Phương pháp thống kê - phân loại
Chúng tôi xử lý số liệu sau khi điều tra, khảo sát để rút ra những kết luận về
kết quả dạy và học mở rộng vốn từ của giáo viên và học sinh
4 Phương pháp thực nghiệm
Phương pháp thực nghiệm là phương pháp quan trọng nhất trong quá trình nghiên cứu Phương pháp này chúng tôi sử dụng sau khi tìm ra hướng tổ chức giảng dạy và các biện pháp dạy kiểu bài mở rộng vốn từ Phương pháp này nhằm xem xét, xác nhận tính đúng đắn, hợp lý và tính khả thi của hình thức tổ chức dạy bài mở rộng vốn từ mà đề tài đưa ra
Các thực nghiệm cơ bản được sử dụng trong đề tài là:
Thực nghiệm thăm dò: Nhằm thăm dò khả năng thực hiện phương pháp mà
đề tài đưa ra
Trang 13Thực nghiệm kiểm tra, đánh giá: Nhằm kiểm tra đánh giá việc ứng dụng, vận dụng phương pháp dạy mở rộng vốn từ cho học sinh tiểu học mà đề tài đưa ra vào các tiết dạy, bài dạy cụ thể ở trường tiểu học
V ĐÓNG GÓP ĐỀ TÀI
Xây dựng cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn của kiểu bài mở rộng vốn từ Đó là kết quả của sự vận dụng lí luận ngôn ngữ, lí luận dạy học tiếng mẹ đẻ… Đó cũng là kết quả của sự khảo sát thực tiễn dạy - học môn Luyện từ và câu ở tiểu học hiện nay
Tổng hợp hệ thống bài tập mở rộng vốn từ với sự phân loại có tầng bậc rõ ràng
Đưa ra qui trình tổ chức dạy kiểu bài mở rộng vốn từ cho học sinh tiểu học
và hướng vận dụng cho từng kiểu bài mở rộng vốn từ
Đề tài mong muốn góp một phần nhỏ vào việc phát triển môn Luyện từ và câu và góp phần nâng cao kết quả dạy mở rộng vốn từ của giáo viên tiểu học
VI KẾT CẤU ĐỀ TÀI
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, đề tài gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn về phương pháp dạy Mở rộng vốn từ
Chương 2 Qui trình dạy các kiểu bài Mở rộng vốn từ cho học sinh tiểu học
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Trang 14Muốn đưa ra nội dung phương pháp dạy học mở rộng vốn từ trong phân môn Luyện từ và câu, chúng ta cần phải dựa trên những tiền đề lí thuyết làm cơ sở khoa học như: Giáo dục học, tâm lý học, ngôn ngữ học, tâm lý ngôn ngữ học… Các ngành khoa học đều trực tiếp hay gián tiếp làm cơ sở nghiên cứu bộ môn này Trong đề tài này, chúng tôi chỉ đề cập đến những vấn đề lý thuyết có liên quan trực tiếp đến việc dạy mở rộng vốn từ Đó là một số vấn đề về tiếng Việt và một số vấn
đề lí thuyết về phương pháp dạy - học tiếng Việt
1.1 Một số vấn đề về từ và vốn từ
1.1.1 Khái niệm về từ tiếng Việt
Có nhiều định nghĩa về từ tiếng Việt nhưng có thể hiểu từ tiếng Việt như sau:
Từ là đơn vị sẵn có trong ngôn ngữ Từ là đơn vị nhỏ nhất, cấu tạo ổn định, mang nghĩa hoàn chỉnh, được dùng để cấu thành nên câu Từ có thể làm tên gọi của sự vật (danh từ), chỉ hoạt động (động từ), trạng thái, tính chất (tính từ)…Từ là công cụ biểu thị khái niệm của con người đối với hiện thực
Từ là một tín hiệu ngôn ngữ bao gồm hai thành phần âm thanh và ý nghĩa Hai thành phần này có liên quan mật thiết và hỗ trợ cho nhau để biểu hiện ý nghĩa của con người
Âm thanh mang tính vật chất và có cấu tạo vật lý phức tạp Đơn vị nhỏ nhất
Trang 15mối quan hệ của từ với các sự vật, hiện tượng Từ không chỉ biểu thị các sự vật hiện tượng riêng lẻ, mà biểu thị cả một nhóm sự vật, hiện tượng tập hợp lại theo một dấu hiệu nhất định Chính vì vậy từ có tính khái quát
Ý nghĩa của từ chỉ thể hiện khi sử dụng các từ trong lời nói, nó có tính ổn định, vì bản thân mối quan hệ của từ với các sự vật, hiện tượng có thể thay đổi tùy theo từng hoàn cảnh giao tiếp cụ thể
Như vậy, từ là cơ sở hay vật liệu cơ bản để xây dựng ngôn ngữ, mỗi con người có được một ngôn ngữ nào đó chính là ở họ tập hợp được một vốn từ vựng của ngôn ngữ đó
Những điều trình bày trên về từ, là cơ sở lý thuyết quan trọng giúp ta hiểu sâu sắc nội dung các bài mở rộng vốn từ trong sách giáo khoa Thiếu cơ sở đó chúng ta khó có thể tổ chức cho học sinh phát huy khả năng mở rộng vốn từ, trau dồi bổ sung thêm từ ngữ mới vào vốn từ bản thân Bởi vì có nắm được khái niệm, bản chất của từ thì mới mở rộng và phát triển từ, mới sử dụng từ trong giao tiếp đạt hiệu quả
1.1.2 Nghĩa và các thành phần nghĩa của từ
a Nghĩa của từ
Ý nghĩa là cái quyết định, lí do tồn tại của ngôn ngữ mà không một đối tượng ngôn ngữ nào của ngôn ngữ học lại không liên hệ với ý nghĩa Không có một sự nghiên cứu ngôn ngữ học nào tiến hành mà không đụng chạm ý nghĩa Ý nghĩa là
tờ “chứng chỉ” cho các sự kiện ngôn ngữ[10]
Như vậy, có thể hiểu về ý nghĩa của từ như sau: Nghĩa của từ là nội dung tinh thần mà từ biểu hiện, nó được hình thành do sự kết hợp và tác động của nhiều nhân tố Trong số đó có những nhân tố nằm ngoài ngôn ngữ và những nhân tố nằm trong ngôn ngữ Nhân tố ngoài ngôn ngữ như: sự vật, hiện tượng trong thực tế
Trang 16khách quan, tư duy và người sử dụng Nhân tố trong ngôn ngữ như: chức năng tín
hiệu học, hệ thống (cấu trúc) của ngôn ngữ
Học sinh khi có vốn từ nhất định, muốn sử dụng được vốn từ trong hoạt động giao tiếp, học sinh phải hiểu, phải nắm chắc được ý nghĩa của từ Có thể nói, việc nắm, hiểu nghĩa của từ là thước đo kĩ năng sử dụng từ ngữ của học sinh Vậy, quá trình nắm nghĩa từ của học sinh diễn ra như thế nào? Quá trình đó bị chi phối bởi những nhân tố nào?
Quan sát việc tiếp nhận từ nói chung, nghĩa từ nói riêng của học sinh cho thấy quá trình nắm nghĩa từ của học sinh diễn ra qua việc tiếp xúc với hiện thực khách quan tồn tại xung quanh các em Quá trình đó có liên quan đến các nhân tố như đối tượng giao tiếp, nội dung giao tiếp, nhân vật tham gia giao tiếp và ngữ cảnh cụ thể mà từ xuất hiện
Từ vấn đề trên, khi dạy nghĩa từ cho học sinh, giáo viên cần gắn với hoạt động của từ (những từ đứng trước và sau) và đưa từ vào trong ngôn bản Bởi trong giao tiếp nghĩa của từ không đơn thuần chỉ là nghĩa khái quát mà còn gắn với tâm
lí người sử dụng
b Các thành phần nghĩa của từ
Tùy theo các chức năng mà từ chuyên đảm nhiệm, trong ý nghĩa của từ có những thành phần ý nghĩa cơ bản sau đây (những thành phần ý nghĩa này được Đỗ Hữu Châu phân biệt rất rõ)
- Ý nghĩa biểu vật tương ứng với chức năng biểu vật
- Ý nghĩa biểu niệm tương ứng với chức năng biểu niệm
- Ý nghĩa biểu thái ứng với chức năng biểu thái
Chúng ta sẽ tìm hiểu cụ thể từng thành phần nghĩa sau:
* Nghĩa biểu vật:
“Ý nghĩa biểu vật là sự phản ánh sự vật, hiện tượng … trong thực tế vào ngôn ngữ”[10]
Trang 17Ý nghĩa biểu vật của từ là nghĩa tương ứng với sự vật hiện tượng, trạng thái, tính chất được từ gọi tên Ý nghĩa biểu vật qui định phạm vi sự vật mà từ dùng để biểu hiện Có những từ có ý nghĩa biểu vật hẹp, chỉ ứng với một sự vật hiện tượng duy nhất trong thực tế, song có những từ có ý nghĩa biểu vật lại có tính chất khái quát lớn bao hàm một phạm vi sự vật to lớn Có từ có nhiều nghĩa biểu vật, tức là
từ đó ứng với nhiều loại sự vật trong hiện thực
Nghĩa biểu vật là một thành phần nghĩa giúp ta hiểu từ một cách chính xác, song ta cũng không nên hiểu nó một cách đơn giản Không phải cứ nắm được sự vật hiện tượng là nắm được nghĩa Tuy nó bắt nguồn từ hiện thực hiện khách quan, phản ánh hiện thực nhưng không hoàn toàn trùng với sự vật hiện tượng Bởi ý nghĩa biểu vật còn chịu sự tác động qua lại của các từ khác, chịu sự khái quát và tác động của các quy tắc cấu tạo từ, cho nên ý nghĩa biểu vật trở thành một sự kiện ngôn ngữ chứ không còn là sự kiện ngoài ngôn ngữ
Tóm lại: Muốn hiểu được ý nghĩa của từ, thì cần nắm ý nghĩa biểu vật của từ
là điều cần thiết Ý nghĩa biểu vật xuất phát từ sự phản ánh sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan vào ngôn ngữ, nên sự vật hiện tượng là cơ sở, nguồn gốc của ý nghĩa biểu vật
* Ý nghĩa biểu niệm:
Sự vật hiện tượng trong thực tế khách quan được phản ánh vào ngôn ngữ thành ý nghĩa biểu vật và từ có ý nghĩa biểu vật sẽ có ý nghĩa biểu niệm tương ứng
Ý nghĩa biểu niệm sẽ là những hiểu biết mà từ gợi ra về các sự vật, hiện tượng, hoạt động, trạng thái, tính chất Những hiểu biết này bao gồm những hiểu biết về thuộc tính, đối tượng, tổng hợp tất cả thuộc tính đó tạo thành nội dung khái niệm Mỗi thuộc tính đó được phản ánh trong nghĩa biểu niệm của từ thành một nét nghĩa Và mỗi nét nghĩa như vậy có thể có mặt trong ý nghĩa biểu niệm của từ
Tóm lại: Nghĩa biểu niệm của từ “là tập hợp của một số nét nghĩa chung và riêng,
khái quát và cụ thể theo một tổ chức, một trật tự nhất định Giữa các nét nghĩa có
Trang 18những quan hệ nhất định Tập hợp này ứng với một hoặc một số ý nghĩa biểu vật của từ” [10, tr.118]
*Ý nghĩa biểu thái:
Ý nghĩa biểu thái (còn gọi là ý nghĩa biểu cảm) là nhân tố đánh giá to, nhỏ, mạnh, yếu; nhân tố cảm xúc dễ chịu, sợ hải, khó chịu… hay nhân tố thái độ trọng, khinh, yêu, ghét mà từ gợi ra cho người nói, người nghe
Sự vật hiện tượng được biểu thị trong ngôn ngữ đều là những sự vật hiện tượng đã được nhận thức, được thể nghiệm bởi con người Do đó cùng với tên gọi, con người thường gởi kèm những cách đánh giá của mình
Dạy từ không chỉ dạy ý nghĩa định danh (gọi tên), mà phải vươn tới dạy cho
học sinh nắm những tri thức được nhận thức qua các khái niệm, lồng vào đó còn có những sắc thái tình cảm khác Bởi vì, trong giao tiếp, nghĩa của từ không đơn thuần chỉ là nghĩa khái quát (nghĩa được ghi trong từ điển) mà nó còn gắn với tâm lí của người sử dụng Đây là cơ sở lý thuyết quan trọng cho phương pháp dạy mở rộng vốn từ
Tóm lại: Ý nghĩa biểu vật, ý nghĩa biểu niệm và ý nghĩa biểu thái là các loại
nghĩa tạo nên ý nghĩa từ vựng của từ Vì từ là một thể thống nhất cho nên các thành phần ý nghĩa trên là những phương diện khác nhau của thể thống nhất đó Sự hiểu biết đầy đủ về ý nghĩa của từ phải là sự hiểu biết thấu đáo từng mặt nội dung nhưng cũng phải là sự hiểu biết tổng quát về mối liên hệ qui định lẫn nhau giữa chúng
1.1.3 Một số vấn đề về vốn từ
1.1.3 1 Khái niệm về vốn từ
Vốn từ là khối từ ngữ cụ thể, hoàn chỉnh (có đủ hình thức âm, chữ và nội dung ngữ nghĩa) mà mỗi cá nhân tích lũy được trong kí ức của mình Vốn từ ở từng người cụ thể, không ai giống ai Vốn nhiều hay ít, đa dạng hay đơn giản tùy thuộc kinh nghiệm sống, trình độ học vấn, ở sự tiếp xúc giao lưu văn hóa ngôn ngữ của
Trang 19Mỗi một ngôn ngữ phát triển có một khối lượng từ vựng hết sức lớn và phong phú, có thể lên tới hàng vạn triệu từ Vốn từ vựng của một ngôn ngữ bao gồm nhiều lớp từ, nhiều nhóm từ không đồng nhất và có chất lượng khác nhau Trong vốn từ vựng của một ngôn ngữ nào đó cũng đều có những từ mới và từ cũ, những từ phổ biến chung và những từ địa phương, những từ văn hóa, những từ chuyên môn, những từ vay mượn
Dựa vào tần số sử dụng từ trong đời sống xã hội, người ta chia vốn từ thành vốn từ tích cực và vốn từ thụ động Vốn từ tích cực là những từ được sử dụng hàng ngày, những từ có tần số sử dụng cao, được con người nắm vững và sử dụng trong lời nói giao tiếp một cách thành thạo Còn vốn từ thụ động là những từ ít sử dụng hay không còn được sử dụng một cách rộng rãi Trong quá trình phát triển và hoàn thiện ngôn ngữ, một số từ mới có nghĩa mới được nảy sinh, bên cạnh đó cũng có một số từ cũ, nghĩa cũ bị đào thải, loại bỏ Những từ cũ đó đã lỗi thời dần dần bị gạt ra khỏi vốn từ tích cực, chúng ít được sử dụng trở thành vốn từ thụ động Còn vốn từ mới xuất hiện thì chưa thể trở thành vốn từ tích cực Một trong những nhiệm
vụ chính là nâng cao trình độ văn hóa về mặt ngôn ngữ của con người bằng cách làm giàu vốn từ tích cực
1.1.3.2 Vốn từ của cá nhân
Vốn từ cá nhân là toàn bộ các từ và các đơn vị tương đương từ của ngôn ngữ được lưu giữ trong trí óc của cá nhân và được cá nhân đó sử dụng trong hoạt động giao tiếp Vốn từ này được hình thành theo hai con đường tự nhiên vô thức và con đường có ý thức
Vốn từ của ngôn ngữ và vốn từ của cá nhân sử dụng có quan hệ bao hàm Cụ thể, vốn từ của cá nhân được hiểu là bộ phận của vốn từ vựng chung (Vốn từ của
cá nhân được lưu giữ trong đầu óc một người, còn vốn từ vựng của ngôn ngữ, theo
Trang 20cách nói của F.de Saussure được lưu giữ “trong các bộ óc của một tập thể những người cùng một cộng đồng ngôn ngữ”[28, tr37]
Vốn từ được tích lũy trong đầu óc con người không phải là một mớ hỗn tạp
mà được tổ chức thành một hệ thống liên tưởng nhất định Hệ thống liên tưởng là
hệ thống gồm nhiều đơn vị ngôn ngữ có nét chung về hình thức hoặc nội dung, khiến con người đứng trước một đơn vị nào đó có thể dễ dàng nghĩ đến, liên tưởng đến những đơn vị khác cùng hệ thống Có thể nói từ ngữ phải được tồn tại trong đầu óc con người như một hệ thống thì từ mới được tích lũy nhanh chóng và được
sử dụng một cách dễ dàng
Vốn từ của mỗi cá nhân có thể có được do quá trình tích lũy tự nhiên trong cuộc sống hàng ngày (giao tiếp với mọi người, đọc sách vở ) từ ngữ tự nhiên nhập vào, thấm vào người nghe/ đọc lúc nào không hay, tức là từ được hình thành bằng con đường vô thức và cũng có thể do con người tích lũy một cách có ý thức (học từ với sự trợ giúp của người hướng dẫn, qua sách vở, tài liệu một cách có kế hoạch, có
hệ thống) Từ ngữ được được thu nạp vào vốn từ của người học một cách có ý thức
1.1.3.3 Vốn từ của học sinh tiểu học
Vốn từ của học sinh tiểu học là vốn từ ở độ tuổi từ 6-10 Vốn từ của học sinh tiểu học là đối tượng nghiên cứu khá phức tạp Bởi, vốn từ là một hệ thống mở và luôn luôn biến động, là hiện tượng thuộc phạm trù nhận thức, có phần không hiển minh, khiến cho việc định lượng, định tính là điều không đơn giản
Vốn từ của học sinh tiểu học có được chủ yếu là do bốn nguồn cung cấp: gia đình, xã hội, nhà trường và sách báo Bốn nguồn này là phạm vi giao tiếp hàng ngày của học sinh tiểu học Vốn từ này được hình thành theo hai con đường tự nhiên vô thức (chủ yếu trong gia đình, ngoài xã hội, qua sách báo tự đọc, qua các phương tiện nghe - nhìn) và con đường hữu thức, có ý thức (trong nhà trường, chủ
Trang 21phạm vi cần tìm hiểu: thứ nhất các từ ngữ học sinh tiểu học “được học” - chính là tìm hiểu các nguồn cung cấp vốn từ cho học sinh, và thứ hai, các từ ngữ học sinh tiểu học “học được” - tức là vốn từ của học sinh, là những từ học sinh hiểu được và
sử dụng được trong thực tiễn giao tiếp
1.1.3.4 Phát triển vốn từ cho học sinh tiểu học
Phát triển vốn từ nghĩa là trên cơ sở vốn từ đã có, bổ sung thêm những từ mới, làm cho vốn từ cá nhân thêm phong phú Bởi vì vốn từ phong phú là điều kiện thiết yếu để cá nhân có thể tham gia vào hoạt động giao tiếp một cách có hiệu quả
Việc tổ chức phát triển vốn từ cho học sinh tiểu học được xác lập dựa trên những cơ sở sau:
- Dựa vào qui luật tiếp nhận từ ngữ của con người nói chung, trẻ em nói riêng Sự tích lũy từ là kết quả của một quá trình trẻ bắt chước người lớn dưới áp lực của nhu cầu giao tiếp xã hội Việc tiếp nhận từ ở đây bao giờ cũng gắn với nhân
tố hoàn cảnh, ngữ cảnh Việc tích lũy từ nói trên theo con đường tự nhiên vô thức, nhưng có tác dụng làm cơ sở cho việc xây dựng phương pháp phát triển vốn từ cho học sinh
- Dựa trên qui luật liên tưởng của con người, dựa trên quan hệ liên tưởng giữa các từ trong đầu óc con người Các ý nghĩ, hình ảnh và tư tưởng vẫn kết hợp với nhau theo cách mà khi cái này xuất hiện thì sẽ làm nảy sinh trong trí óc một cái khác có quan hệ liên tưởng với nó Một hình ảnh sẽ có quan hệ liên tưởng với những hình ảnh tương tự hoặc ngược lại, với những hình ảnh đối lập Về quan hệ liên tưởng giữa các từ, F.de.Sausure cũng đã nói rõ: “Một từ nào đó bao giờ cũng
có thể gợi lên tất cả những cái cái gì có thể liên tưởng với nó bằng cách này hay cách khác”[28,tr.218]
Trang 22Phát triển vốn từ phải đi đôi với gạt bỏ các từ ngữ không chuẩn mực, không văn hóa khỏi vốn từ của học sinh Đây là một trong những nhiệm vụ của giảng dạy Luyện từ và câu trong nhà trường Nhiệm vụ này xuất phát từ yêu cầu chuẩn mực hóa, làm trong sáng, làm đẹp vốn từ của học sinh.Vì vậy, trong nhà trường, song song với việc cung cấp cho học sinh những từ mới của tiếng Việt văn hóa, giúp học sinh phát triển, mở rộng vốn từ, đồng thời còn giúp học sinh loại bỏ những từ ngữ không văn hóa, không chuẩn mực ra khỏi vốn từ tích cực của mình
1.2 Một số vấn đề lí thuyết về phương pháp dạy - học tiếng Việt ở tiểu học
1.2.1 Khái niệm phương pháp dạy học
Lê A đã khẳng định: “Trong khoa học giáo dục và lí luận dạy học bộ môn chưa có một cách định nghĩa và cách giải thích hoàn toàn thống nhất về thuật ngữ phương pháp dạy học” [2,tr.15]
Khi đề cập đến khái niệm phương pháp dạy học, có nhiều quan niệm khác
về phương pháp dạy học, có thể dẫn ra một vài định nghĩa phương pháp dạy học như sau:
“Phương pháp dạy học là tổ hợp các cách thức hoạt động của giáo viên và của học sinh trong quá trình dạy học, được tiến hành dưới vai trò chủ đạo của giáo viên sự hoạt động nhận thức tích cực, tự giác của học sinh, nhằm thực hiện tốt những nhiệm vụ dạy học theo hướng mục tiêu” [4, tr.69]
Kai - ro VLA lại quan niệm: “Phương pháp dạy học là cách thức làm việc giữa thầy giáo và học sinh, nhờ đó mà học sinh nắm vững được kiến thức, kỹ năng
và kỹ xảo, hình thành thế giới quan và phát triển năng lực” [4, tr.69 ]
Hai tác giả: Ki - rin - Xki D.M và PôloxinV.X định nghĩa phương pháp dạy học ngắn gọn hơn, đơn giản hơn các định nghĩa đã dẫn Hai tác giả này định nghĩa:
“Phương pháp dạy học là những hình thức kết hợp hoạt động của giáo viên và học sinh hướng vào việc đạt mục đích nào”[4, tr.69 ]
Trang 23Như vậy, có thể thấy rằng các định nghĩa dẫn trên dù đứng ở góc độ nào, tuy có những điểm khác nhau nhưng đều thống nhất ở một điểm: Phương pháp dạy học là cách thức làm việc giữa thầy và trò, với vai trò chủ đạo của thầy và hoạt động tích cực, tự giác của trò nhằm hướng vào việc đạt mục đích đó
1.2.2 Một số phương pháp dạy học thường được sử dụng và các hình thức thể hiện của phương pháp
1.2.2.1 Một số phương pháp dạy - học Luyện từ và câu ở tiểu học
a Phương pháp phân tích ngôn ngữ
Phân tích ngôn ngữ là phương pháp dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh phát hiện ra các hiện tượng ngôn ngữ nhất định, từ các ngữ liệu để phát hiện ra những đặc trưng của chúng Phương pháp phân tích ngôn ngữ được sử dụng trong tất cả các phân môn của Tiếng Việt ở tiểu học
Tuỳ thuộc mức độ và mục đích phân tích mà phương pháp phân tích ngôn ngữ có thể tiến hành theo các mức độ khác nhau như: quan sát ngôn ngữ (là giai đoạn đầu trong quá trình phân tích ngôn ngữ nhằm tìm những điểm giống và khác nhau, sau đó sắp xếp chúng theo một trật tự nhất định), phân tích ngữ âm, phân tích ngữ pháp, phân tích chính tả, phân tích tập viết, phân tích ngôn ngữ các tác phẩm văn chương…Tất cả các dạng phân tích ngôn ngữ đều là bộ phận cấu thành của
nhiều bài tập khác nhau: bài tập tập đọc, tập viết, chính tả, luyện nói và viết
b Phương pháp trò chơi học tập
Phương pháp trò chơi sư phạm trong dạy học Luyện từ và câu, được hiểu là hình thức học tập Tiếng Việt theo hứng thú vui chơi, dựa trên những bài tập trắc nghiệm
Việc giải quyết vấn đề bài tập đặt ra nhằm để HS lĩnh hội, củng cố, vận dụng kiến thức, kĩ năng sử dụng các cách làm bài hay đã được học, những kinh nghiệm sống đã được tích lũy vào các bài tập một cách tự giác, tích cực, độc lập, sáng tạo
Trang 24Trò chơi là một hoạt động của con người nhằm mục đích đầu tiên là vui chơi nhưng qua trò chơi, người chơi có thể rèn luyện thể lực, rèn luyện các giác quan, rèn luyện trí tuệ, tạo cơ hội giao lưu với mọi người
c Phương pháp thảo luận nhóm
Thảo luận nhóm là một cách tạo điều kiện cho học sinh luyện tập khả năng mạnh dạn đưa ra các cách làm; giúp học sinh rèn kĩ năng phân tích bài tập và tìm câu trả lời đúng; thay đổi vị thế của học sinh trong lớp Từ vị thế thụ động, tiếp thu thông tin một chiều trở thành vị thế chủ động tiếp thu thông tin đa chiều Qua thảo luận, ngôn ngữ và tư duy của học sinh trở nên linh hoạt hơn
Phương pháp thảo luận nhóm sẽ giúp học sinh tìm ra câu trả lời tốt nhất, sinh động nhất thông qua trí tuệ tập thể học sinh bên cạnh được củng cố kiến thức, hứng thú học tập cũng được tăng cường
d Phương pháp rèn luyện theo mẫu
Phương pháp rèn luyện theo mẫu thường được dùng để hướng dẫn học sinh làm các bài tập về rèn luyện kỹ năng mở rộng vốn từ và cấu tạo câu
Phương pháp rèn luyện theo mẫu là phương pháp mà thầy giáo chọn giới thiệu các mẫu hoạt động ngôn ngữ rồi hướng dẫn học sinh phân tích để hiểu và nắm vững cơ chế của chúng rồi bắt chước mẫu đó một cách sáng tạo vào lời nói của mình
e Phương pháp thực hành
Hình thức cốt lõi để thực hiện phương pháp thực hành là ra bài tập và làm bài tập Phương pháp luyện tập thực hành giúp cho học sinh nắm vững khái niệm, hiểu sâu sắc khái niệm hơn
Ngoài các phương pháp dạy học nêu trên, dạy tiếng Việt ở tiểu học còn sử dụng các phương pháp khác như phương pháp thuyết trình, phương pháp đàm thoại…
Tóm lại: khi đề cập đến phương pháp dạy học có nhiều quan niệm và nhiều
Trang 25pháp dạy - học dể dạy học tiếng Việt, trong đó có một số phương pháp dùng chung cho tất cả các môn học nhưng cũng có những phương pháp đặc thù cho bộ môn Tiếng Việt
1.2.2.2 Các hình thức thể hiện phương pháp
Phương pháp phải thể hiện thông qua các hình thức của nó Một hình thức có thể được dùng cho nhiều phương pháp khác nhau Một số hình thức thể hiện của phương pháp thường gặp trong quá trình dạy - học là: Hình thức diễn giảng, hình thức đàm thoại, hình thức đọc sách giáo khoa và hình thức làm bài tập
a Hình thức diễn giảng
Diễn giảng là gọi tên chung cho mọi dạng diễn đạt tương đối tỉ mỉ của giáo viên trong các giờ học nhằm các mục đích: giải thích tài liệu mới; giải thích những điều học sinh chưa hiểu; trả lời các câu hỏi của học sinh; bổ sung kiến thức tài liệu;
mở rộng kiến thức
b Hình thức đàm thoại
Đàm thoại được bắt đầu từ những câu hỏi có chủ định, xác lập mối quan hệ giữa tài liệu mới và cũ Giúp học sinh khôi phục trong trí nhớ những điều đã quên Đàm thoại hoàn thành với những câu hỏi mà căn cứ vào đó có thể kiểm tra mức độ thu nhận nội dung kiến thức của học sinh
Trong Luyện từ và câu, đàm thoại là hình thức quan trọng, ở chỗ nó thể hiện được tính chất bộ môn và phát huy được tính chủ động sáng tạo của học sinh trong giờ học Áp dụng tốt hình thức này sẽ giúp người học khắc sâu kiến thức, nhớ lâu những điều mà bản thân đã suy nghĩ và chủ động tìm ra
c Hình thức làm việc với sách giáo khoa
Sách giáo khoa và các tài liệu giáo khoa là một trong những nguồn cung cấp tri thức và kĩ năng tiếng Việt cho học sinh
Trong một tiết học sách giáo khoa và tài liệu giáo khoa được giáo viên sử dụng để giải thích các kiến thức và làm bài tập mẫu
Trang 26- Có cơ sở và phương pháp cho việc đề xuất những kiến giải nhằm góp phần giúp việc dạy - học mở rộng vốn từ ở tiểu học đạt kết quả
2.2 Đối tượng khảo sát
- Giáo viên dạy môn Tiếng Việt trực tiếp ở tiểu học
- Học sinh tiểu học
- Sách giáo khoa và sách giáo viên Tiếng Việt tiểu học
2.3 Địa bàn và thời gian khảo sát
Địa bàn khảo sát ở 3 trường tiểu học thuộc tỉnh Bình Dương
2.4 Nội dung và kết quả khảo sát
Công việc khảo sát được tiến hành như sau:
- Lập phiếu đối với giáo viên và học sinh về việc dạy - học mở rộng vốn từ ở tiểu học
Trang 27- Dự giờ, ghi chép tỉ mỉ, trung thực về dạy - học mở rộng vốn từ ở tiểu học
- Lập bảng thống kê kết quả
2.4.1 Khảo sát thực trạng dạy học Mở rộng vốn từ của giáo viên
* Nội dung khảo sát được lập thành 50 phiếu
- 16 phiếu cho giáo viên trường tiểu học Chánh Nghĩa
- 17 phiếu cho giáo viên trường tiểu học Nguyễn Trãi
- 17 phiếu cho giáo viên trường tiểu học Lai Hưng A
Câu 1: Theo Thầy/Cô, dạy mở rộng vốn từ nhằm mục đích gì?
Câu 2: Thầy/Cô thấy dạy mở rộng vốn từ cho học sinh có cần thiết không? Tại
sao?
Câu 3: Trong quá trình dạy phần mở rộng vốn từ, đồng chí thường gặp những khó
khăn gì? Tại sao?
a Về phía bản thân
b Về phía học sinh
c Những lí do khác
Câu 4: Theo Thầy/Cô, phần mở rộng vốn từ được đưa vào sách giáo khoa ở khối
lớp đồng chí dạy có hợp lí không? tại sao?
*Kết quả khảo sát
Câu 1: 50/50 Giáo viên trả lời dạy mở rộng vốn từ là cần thiết nhằm mục đích:
- Giúp học sinh nắm thêm các từ mới, còn các từ đã biết được sắp xếp lại, hệ thống lại
Trang 28- Làm phong phú hóa kiến thức về chữ và nghĩa cho học sinh, giúp học sinh giàu vốn từ khi nói và viết
- Nâng cao kiến thức cho các em trong phân môn Tiếng Việt
- Nắm vững ngôn ngữ dân tộc, hiểu ý nghĩa của từ khi sử dụng trong cuộc sống
Câu 2: 50/50 trả lời dạy mở rộng vốn từ cho học sinh là cần thiết Vì:
- Học sinh chúng ta nghèo vốn từ, thậm chí một số không nhỏ học sinh chưa
sử dụng được từ vào trong văn cảnh một cách chính xác
- Tiếng Việt sử dụng một số từ vay mượn của tiếng Hán dù đã được việt hóa, một từ có 2, 3 nghĩa, nếu không dạy cho các em sẽ dẫn đến việc sử dụng từ sai, làm mất đi sự trong sáng của tiếng Việt
Câu 3:
a- Về phía khó khăn của giáo viên
30/50 Giáo viên trả lời không gặp khó khăn gì
20/50 Giáo viên trả lời còn lúng túng về mặt tri thức, do chưa được đào tạo
Trang 29Câu 4:
50/50 giáo viên kiến thức phần mở rộng vốn từ đưa vào SGK Tiếng Việt cấp I
là hợp lí
2.4.2 Khảo sát thực trạng dạy học mở rộng vốn từ của học sinh
- 60 phiếu cho học sinh ở trường tiểu học Chánh Nghĩa
- 60 phiếu cho học sinh ở trường tiểu học Nguyễn Trãi
- 60 phiếu cho học sinh ở trường tiểu học Lai Hưng A
* Nội dung gồm 4 câu hỏi
Câu1: Các em có thích học phần mở rộng vốn từ trong phân môn luyện từ và câu
hay không? Vì sao?
Câu 2: Theo em các loại bài tập mở rộng vốn từ trong phân môn Luyện từ và câu,
loại bài tập nào khó? Em dễ nhầm lẫn trong quá trình thực hiện bài tập
Câu 3: Trong quá trình học bài mở rộng vốn từ trong phân môn Luyện từ và câu,
các em thường gặp những khó khăn gì? Tại sao?
*Kết quả khảo sát
Câu 1: 120/180 học sinh trả lời không thích Học sinh thụ động nghe và chép bài
máy móc Cô dạy gì trò học nấy, chưa nhận thức vai trò quan trọng của môn học Phần lớn học sinh ít hứng thú học môn học này vì theo các em, đây là một môn học khó và khô khan
Câu 2: 118/180 học sinh cho rằng bài tập dễ gây nên sự nhầm lẫn đó loại bài tập
phân biệt từ đồng âm và gần âm, tạo lập từ đơn và từ ghép Trong quá trình thực hiện bài tập chưa phân biệt được cơ chế cấu tạo của chúng và chưa nắm được nét nghĩa gốc để phân biệt
Trang 30Câu 3: 130/180 học sinh trả lời học bài mở rộng vốn từ trong phân môn Luyện từ
và câu, các em thường gặp những khó khăn về vốn từ , vốn từ chưa phong phú để lựa chọn từ trong quá trình thực hiện bài tập, chưa hiểu rõ nghĩa của một số từ ngữ,
cơ chế cấu tạo của các kiểu loại từ chưa nắm vững
2.5 Đánh giá thực trạng việc dạy - học mở rộng vốn từ ở tiểu học
2.5.1 Đối với giáo viên
Trong giáo dục vai trò của người giáo viên vô cùng quan trọng Dù giảng dạy theo phương pháp truyền thống hay phương pháp mới hiện nay, vai trò người thầy đều rất quan trọng Giảng dạy theo phương pháp truyền thống giáo viên giữ vai trò quan trọng tác động đến học sinh, giáo viên là người cung cấp truyền thụ tri thức cho học sinh Học sinh là người thụ động tiếp thu tri thức mà thầy cung cấp, truyền đạt Còn giảng dạy theo phương pháp mới hiện nay giáo viên là người tổ chức, chỉ đạo quá trình dạy - học, đồng thời giáo viên tác động đến học sinh tri thức và kĩ năng , chủ động trong chiếm lĩnh tri thức Học sinh không còn chờ đợi tri thức có sẵn trong sách, giáo viên mang lại mà học sinh phải chủ động, tác động lên đối tượng để tìm hiểu Từ đó khái quát thành những khái niệm, qui tắc sử dụng Trong quá trình dạy học, người thầy nắm vững các tri thức khoa học và có phương pháp
tổ chức thì kết quả dạy và học đạt hiệu quả cao
Qua khảo sát thực tế, chúng tôi thấy rằng các giáo viên trong quá trình dạy học tiếng Việt nói chung và dạy mở rộng vốn từ nói riêng có những ưu điểm và hạn chế sau:
* Ưu điểm:
Đa số giáo viên đều mong muốn giờ dạy của mình thành công (học sinh hiểu bài, nắm được từ, biết sử dụng từ trong học tập và trong giao tiếp)
Trang 31Đa số giáo viên đã thấy được ý nghĩa và tác dụng của việc mở rộng vốn từ để trang bị cho học sinh một hệ thống vốn từ cùng với ý nghĩa của chúng, tức là trang
bị cho các em một số vốn từ ở dạng tiềm năng Vốn từ phong phú là điều kiện thiết yếu để giúp cá nhân có thể tham gia vào hoạt động giao tiếp một cách có hiệu quả
Việc dạy của giáo viên được tiến hành một cách có kế hoạch, mang tính chủ động qua các giờ học, học sinh có ý thức hơn về vấn đề sử dụng từ, vốn từ được
mở rộng và phát triển hơn Việc học mở rộng vốn từ đã có tác dụng tích cực nhất tới với việc học Tập làm văn (văn nói, văn viết của học sinh)
* Hạn chế
Bên cạnh những ưu điểm nêu trên, trong quá trình dạy học mở rộng vốn từ giáo viên còn có một vài hạn chế như sau:
Về mặt giảng dạy: Một vài giáo viên còn lúng túng trong công việc tổ chức
một tiết Luyện từ và câu nói chung và dạy mở rộng vốn từ nói riêng Giáo viên có tâm lí ngại dạy giờ Luyện từ và câu Hiệu quả giảng dạy phân môn Luyện từ và câu còn thấp
Về nhận thức: Phần lớn giáo viên chưa nhận thức được vai trò, vị trí của giờ
thực hành, luyện tập trong bài Luyện từ và câu Giáo viên coi nhẹ vai trò thực hành, luyện tập so với lí thuyết Một số giáo viên cho rằng bài thực hành chỉ là phần đuôi, phần phụ, nên ít quan tâm chú ý, nếu có cũng chỉ là quan tâm đến đáp số còn cách thực hiện gần như giao hết cho học sinh chủ động Một số giáo viên khi lên lớp chưa soạn phần luyện tập, thực hành Vì họ cho rằng những câu hỏi ở phần luyện tập trong SGK đã được giải đáp trong sách giáo viên hoặc trong sách hướng dẫn giáo viên nên không cần đầu tư nghiên cứu cách thức thực hiện
Về năng lực: Vốn từ số đông giáo viên chưa phong phú Bên cạnh đó việc
nắm nghĩa từ của một số giáo viên cũng chưa tốt Vì vậy, việc giáo viên hướng dẫn
Trang 32học sinh tập giải nghĩa từ, làm bài tập mở rộng vốn từ theo quan hệ ngữ nghĩa chưa đạt hiệu quả Kiến thức về từ vựng ngữ nghĩa học (có liên quan trực tiếp tới nội dung bài dạy) Luyện từ và câu nói chung và kiến thức về từ Hán Việt (có liên quan trực tiếp tới nội dung bài dạy) mở rộng vốn từ nói riêng của một số giáo viên còn hạn chế nên đã bộc lộ sơ sót dễ nhận ra trong các giờ dạy lên lớp Đa số giáo viên ít chú ý đến phương pháp mà chỉ chú ý đến nội dung bài học Vì theo họ phương pháp đã thể hiện qua bố cục của sách và đã có sách giáo viên hướng dẫn rồi nên không cần sáng tạo gì thêm nữa Cách dạy bài mở rộng vốn từ của một số giáo còn đơn điệu, lệ thuộc một cách máy móc vào sách giáo viên, chưa sinh động, chưa cuốn hút được học sinh
Về phương pháp: Giáo viên còn lúng túng trong việc tổ chức một tiết dạy
dạy thực hành về mở rộng vốn từ Một số giáo viên chưa xác định được phương pháp, cách thức hướng dẫn học sinh làm từng loại bài tập Giáo viên còn hạn chế trong việc nắm nghĩa của từ, cho nên chưa có cách hướng dẫn học sinh làm bài tập một cách thích hợp và đạt hiệu quả cao Giáo viên cho học sinh thực hiện bài tập bằng cách gọi một vài em đứng tại chỗ đọc và trả lời câu hỏi hoặc lên bảng làm bài tập Sau đó giáo viên nhận xét, điều chỉnh lại, theo lời giải trong sách giáo viên Giáo viên ít hoặc không hướng dẫn học sinh quá trình đi đến đáp số, không gợi ý cho học sinh con đường, phương pháp đạt tới mục đích
Cách dạy của một số giáo viên còn đơn điệu, lệ thuộc máy móc vào sách giáo khoa, hầu như ít sáng tạo, chưa thu hút lôi cuốn học sinh
Tóm lại ở giờ thực hành luyện tập, điều giáo viên quan tâm là học sinh có thực hiện đúng như trong sách hướng dẫn giáo viên hay không hoặc quan tâm đến đáp số, lời giải chứ không quan tâm đến cách giải bài tập đó như thế nào?
2.5.2 Đối với học sinh
Trang 33Như chúng ta đã biết, học sinh là chủ thể của hoạt động nhận thức trong quá trình học tập Cái đích cuối cùng mà các nhà giáo dục học, các nhà ngôn ngữ học mong muốn đạt được là sự hiểu biết của học sinh về những tri thức đã giảng dạy và những kĩ năng, kĩ xảo được hình thành trong quá trình học tập
Qua điều tra khảo sát cho thấy hầu hết học sinh chưa hiểu hết vị trí, tầm quan
trọng, tác dụng của phân môn“Luyện từ và câu” nên chưa dành thời gian thích
từ cùng liên quan tới việc biểu thị một phạm vi hiện thực
Nhiều học sinh chưa nắm rõ khái niệm từ đó dẫn đến việc nhận diện, xác định hướng làm bài lệch lạc Việc xác định còn nhầm lẫn nhiều
Học sinh chưa có thói quen phân tích dữ kiện của đầu bài, thường hay bỏ sót, làm sai hoặc không làm hết yêu cầu của bài
Vốn từ của học sinh chưa phong phú về số lượng, còn nhiều hạn chế về chất lượng Cụ thể, do vốn từ của học sinh chủ yếu được hình thành qua cách học tự nhiên, dựa vào ngữ cảnh, tình huống giao tiếp để phỏng đoán nghĩa của từ Cho nên, trong vốn từ của học sinh có những từ học sinh hiểu đúng nghĩa nhưng cũng
có những từ học sinh chưa hiểu đúng nghĩa Vì vậy, trong quá trình thực hiện bài tập sử dụng từ chưa đúng hoặc chưa phù hợp
Mặc khác, chúng tôi nhận thấy học sinh ít có hứng thú học phân môn Luyện
từ và câu Hầu hết các em cho rằng Luyện từ và câu là môn học khó và khô khan Cách dạy của giáo viên còn nặng về giải trình, nặng về áp đặt còn học sinh thụ động tiếp thu, dễ dẫn đến mệt mỏi Từ đó, học sinh nảy sinh tâm lí ngại học phân môn này
Trang 342.5.3 Đối với chương trình và sách giáo khoa
Như đã nói, việc dạy từ, nhất là dạy mở rộng vốn từ có tầm quan trọng rất lớn của môn Tiếng Việt Dạy mở rộng vốn từ giúp các em có thêm vốn từ, hiểu nghĩa từ để nắm bắt nội dung các phát ngôn khi nghe - đọc và sử dụng trong thực tiễn nói - viết Việc lựa chọn sắp xếp bài dạy là khâu then chốt Để làm được việc này các nhà nghiên cứu, nhất là các tác giả chương trình và sách giáo khoa phải giải đáp hành loạt câu hỏi Chọn những từ thuộc chủ đề nào để dạy? Vì sao lại chọn những từ đó? Các từ ngữ thuộc các chủ đề được chọn sắp xếp theo theo nguyên tắc nào? Nếu không có sự xem xét, nghiên cứu kĩ càng thì việc chọn nội dung tri thức cũng như bố trí giờ dạy, bài dạy khó tránh tình trạng cảm tính, quá tải và không mang lại hiệu quả mong muốn
Nhìn vào các bài dạy mở rộng vốn từ trong chương trình tiểu học, chúng tôi nhận thấy nhà biên soạn đã xem xét nhiều mặt, tính toán kĩ lưỡng khi chọn cũng như sắp xếp nội dung dạy các bài mở rộng vốn từ Nhìn vào cách sắp xếp các chủ
đề trong sách giáo khoa ở tiểu học theo từng khối lớp có tính hệ thống trong sự tập hợp vốn từ Điều này cho thấy sự lựa chọn và sắp xếp các bài học mở rộng vốn từ trong SGK Tiếng Việt ở tiểu học là hợp lí
Hệ thống bài tập trong SGK có những ưu điểm cơ bản: phong phú, đa dạng
về nội dung và kiểu loại, được bố trí, sắp xếp một cách hợp lí khoa học, phù hợp với học sinh từng lớp
Hệ thống bài tập này đáp ứng được những yêu cầu cơ bản của việc thực hành rèn kĩ năng mở rộng vốn từ cho học sinh Tuy nhiên, nó cũng còn có những điểm chưa hợp lí lắm, chưa gắn với việc rèn các kỹ năng nghe, nói, đọc viết cho học sinh
Vấn đề nhất quán nội dung tri thức giữa các lớp Chương trình tiếng Việt thường được sắp xếp theo nguyên tắc đồng tâm, xoáy trôn ốc Lớp sau cần mở rộng đào sâu những kiến thức ở lớp trước nhưng phải đảm bảo tính nhất quán Đối với
Trang 35hạn chế, học trước quên sau Vì vậy, không phải số lượng từ nào các em được học đều ghi nhớ Việc bố trí để các em ôn lại, củng cố lại kiến thức ở lớp dưới đồng thời nâng cao và mở rộng thêm là việc làm đúng đắn và cần thiết Yêu cầu này SGK thể hiện chưa rõ nét
Tiểu kết chương 1
Qua những trình bày ở trên, chúng tôi đã khái quát những vấn đề chủ yếu làm cơ sở lý luận của đề tài Đó là những vấn đề về từ, vốn từ cá nhân, vốn từ học sinh tiểu học, con đường mở rộng vốn từ và cuối cùng là vấn đề về nghĩa và các thành phần nghĩa của từ
Về cơ sở thực tiễn, chúng tôi đã tiến hành khảo sát việc dạy và học của giáo viên và học sinh một số trường tiểu học ở Thủ Dầu Một Tìm hiểu thực trạng dạy - học kiểu bài mở rộng vốn từ trong phân môn Luyện từ và câu Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy bên cạnh những thuận lợi cũng có những khó khăn và thách thức không nhỏ đối với giáo viên và học sinh, đặc biệt khi tiếp cận phần dạy mở rộng vốn từ theo cấu tạo
Đây là cơ sở lí luận và thực tiễn quan trọng giúp chúng tôi đề xuất cách tổ chức thực hiện kiểu bài mở rộng vốn từ trong phân môn luyện từ và câu ở tiểu học
cụ thể được trình bày ở chương 2
Trang 36Chương 2 QUI TRÌNH DẠY CÁC KIỂU BÀI MỞ RỘNG VỐN TỪ
CHO HỌC SINH TIỂU HỌC
1 Một số vấn đề chung
Trong chương này, dựa trên kết quả nghiên cứu của chương 1, chúng tôi hệ thống lại các kiểu bài tập mở rộng vốn từ theo chủ đề, mở rộng vốn từ theo quan hệ ngữ nghĩa, mở rộng vốn từ theo quan hệ cấu tạo và nêu ra cách tổ chức dạy các kiểu bài mở rộng vốn từ trong phân môn Luyện từ và câu, nhằm giúp giáo viên và học sinh có phương hướng trong việc dạy - học
1.1 Nguyên tắc xây dựng bài tập mở rộng vốn từ cho học sinh tiểu học
1.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống
Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống là một trong những nguyên tắc cơ bản Tính hệ thống của bài tập thể hiện ở mối quan hệ và liên hệ giữa các bài tập về hình thức lẫn nội dung Chẳng hạn, về mặt hình thức, hệ thống bài tập được chia theo các nhóm, các kiểu, các dạng một cách nhất quán; về mặt nội dung, các bài tập đều được xây dựng theo các chủ điểm trong chương trình tiểu học
Các bài tập xây dựng trong chương trình không thể là một tập hợp hỗn độn,
mà phải được sắp xếp, phân phối dựa trên những tiêu chí nhất định, để tạo thành một hệ thống tối ưu
1.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tích hợp
Tích hợp nghĩa là tổng hợp trong một đơn vị học, một tiết học hay một bài tập nhiều mảng kiến thức và kỹ năng liên quan đến nhau nhằm tăng cường hiệu quả giáo dục và tiết kiệm thời gian học tập cho người học
Chương trình tiểu học môn Tiếng Việt được xây dựng theo tinh thần tích hợp Phân môn luyện từ và câu cũng không nằm ngoài mối quan hệ đó Bởi vậy, hệ thống bài tập được xây dựng đảm bảo được tính tích hợp
Trang 371.1.3 Nguyên tắc đảm bảo phù hợp nội dung chương trình
Mục đích của đề tài này là đưa ra cách tổ chức thực hiện bài mở rộng vốn từ trong phân môn luyện từ và câu Vì vậy, kiểu bài tập mở rộng vốn từ theo chủ điểm, theo quan hệ ngữ nghĩa, theo cấu tạo luôn luôn phải bám sát chương trình của môn học, phải đảm bảo mức độ kiến thức cần đạt đối với học sinh
1.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức
Tính vừa sức ở đây được hiểu là các bài tập đưa ra hướng dẫn phải phù hợp với trình độ nhận thức của các em Bài tập quá dễ sẽ không phát huy khả năng tư duy của học sinh, gây nên sự nhàm chán trong quá trình học tập Ngược lại, bài tập quá khó các em sẽ không đủ kiến thức để giải quyết dẫn đến việc chán nản Vì vậy, bài tập đưa ra hướng dẫn không thể không dựa vào nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức của học sinh
1.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa
Bất cứ một công trình nghiên cứu nào, dù trực tiếp hay gián tiếp đều kế thừa những thành tựu nghiên cứu của những người đi trước
Kế thừa ở đây được hiểu là tiếp thu có chọn lọc kết quả nghiên cứu đã có Theo cách hiểu đó Đề tài tìm hiểu cách tổ chức dạy kiểu bài mở rộng vốn từ trong phân môn Luyện từ và câu có tiếp thu một số bài tập của các tác giả đi trước trên tinh thần chọn lọc
Trang 38đó nắm vững giá trị từng từ ngữ tìm được, nắm vững tính chất của mối quan hệ liên tưởng gắn các từ ngữ này với nhau, tập hợp các từ ngữ đã tìm được thành hệ thống
Nhóm bài tập này thể hiện bằng một số hình thức bài tập khác nhau Dưới đây là một số hình thức bài tập cơ bản, phổ biến
(Tiếng Việt 5, tập 2, tr 82)
Dạng 3: Tìm từ ngữ cùng chủ đề trong một dãy từ ngữ cho sẵn
Ví dụ: Xếp các từ sau đây vào nhóm thích hợp: đất nước, xây dựng, nước nhà,
giữ gìn, non sông, gìn giữ, kiến thiết, giang sơn
a) Những từ cùng nghĩa với tổ quốc
b) Những từ cùng nghĩa với bảo vệ
c) Những từ cùng nghĩa với xây dựng
Trang 391.2.2 Nhóm bài tập mở rộng vốn từ theo quan hệ ngữ nghĩa
Đây là nhóm bài tập tìm từ ngữ theo quan hệ ngữ nghĩa Nhóm bài tập này được xác lập trên mối quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ Nhóm bài tập này thể hiện bằng một số hình thức bài tập khác nhau Dưới đây là một số hình thức bài tập cơ bản, phổ biến
* Nhóm 1: Bài tập tìm từ đồng nghĩa, gần nghĩa
Dạng 1: Tìm từ đồng nghĩa, gần nghĩa với các từ cho sẵn
Ví dụ: Tìm những từ đồng nghĩa với từ trung thực
M: Từ đồng nghĩa: thật thà
Dạng 2: Tìm từ đồng nghĩa, gần nghĩa trong một văn bản
Ví dụ: Tìm những từ đồng nghĩa trong đoạn văn sau:
Chúng tôi kể chuyện về mẹ của mình Bạn Hùng quê Nam bộ gọi mẹ bằng
má Bạn Hòa gọi mẹ bằng u Bạn Na, bạn Thắng gọi mẹ là bu Bạn Thành quê Phú Thọ gọi mẹ là bầm Bạn Nam gọi mẹ bằng bủ Còn bạn Phước người Huế gọi mẹ là
mạ
Dạng 3: Tìm từ đồng nghĩa, gần nghĩa trong một dãy từ cho sẵn
Ví dụ: Trong các từ dưới đây, những từ nào đồng nghĩa với bổn phận?
Nghĩa vụ, nhiệm vụ, chức vụ, chức năng, chức trách, trách nhiệm, phận sự, địa phận
(Tiếng việt 5, tập 2, tr.155)
* Nhóm 2: Bài tập tìm từ trái nghĩa
Dạng 1: Tìm từ trái nghĩa với các từ cho sẵn
Ví dụ: Tìm những từ trái nghĩa với từ dũng cảm
M: Từ trái nghĩa: hèn nhát
Dạng 2: Tìm từ trái nghĩa trong một văn bản
Ví dụ: “Gạch dưới cặp từ trái nghĩa trong các câu thơ, câu tục ngữ sau:
- Lá lành đùm lá rách
- Đoàn kết là sống, chia rẽ là chết
Trang 40- Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng
Dạng 3: Tìm từ trái nghĩa trong một dãy từ cho sẵn
Ví dụ: Sắp xếp các từ dưới đây thành cặp từ trái nghĩa:
già, trẻ, đắng cay, chính nghĩa, sống, tự do, vắng mặt, phi nghĩa, ngọt bùi, nô
lệ, chết, có mặt, cứng, bi quan, mềm, lạc quan
1.2.3 Nhóm bài tập mở rộng vốn từ theo quan hệ cấu tạo
Đây là nhóm bài tập tìm từ ngữ theo quan hệ cấu tạo Nhóm bài tập này yêu cầu học sinh dựa vào yếu tố cấu tạo từ cho sẵn, tiến hành liên tưởng tìm những từ
có cùng yếu tố cấu tạo, có cùng kiểu cấu tạo, cùng mô hình cấu tạo
Nhóm bài tập này thể hiện bằng một số hình thức bài tập khác nhau Dưới đây là một số hình thức bài tập cơ bản, phổ biến
* Nhóm 1: Tìm từ thuần Việt có cùng yếu tố cấu tạo, cùng kiểu cấu tạo
Dạng 1: Từ cần tìm là từ ghép
Ví dụ: Tìm một số từ ghép có tiếng sau đây:
a) Ngay b) Thẳng c) Thật (Tiếng Việt 4, tập 1, tr.40)
Dạng 2: Từ cần tìm là từ láy
Ví dụ: Tìm một số từ láy gồm hai tiếng trong đó có tiếng nhỏ
* Nhóm 2: Tìm từ Hán Việt có cùng yếu tố cấu tạo, cùng kiểu cấu tạo