1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản lý thực hiện chương trình giáo dục mầm non cho trẻ mẫu giáo theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm tại thị xã bến cát, tỉnh bình dương

172 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 172
Dung lượng 5,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý đánh giá sự phát triển của trẻ trong thực hiện chương trình giáo dục mầm non cho trẻ mẫu giáo theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm .... Nâng cao nhận thức cho cán bộ, giáo viên v

Trang 1

UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT

ĐỖ THỊ KIM NGÂN

TÊN ĐỀ TÀI QUẢN LÝ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC MẦM NON CHO TRẺ MẪU GIÁO THEO QUAN ĐIỂM LẤY TRẺ LÀM TRUNG TÂM TẠI THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC

MÃ SỐ: 8140114

UẬN V N THẠC S

BÌNH DƯƠNG – 2018

Trang 2

UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT

ĐỖ THỊ KIM NGÂN

TÊN ĐỀ TÀI QUẢN LÝ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC MẦM NON CHO TRẺ MẪU GIÁO THEO QUAN ĐIỂM LẤY TRẺ LÀM TRUNG TÂM TẠI THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Trang 3

ỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình ghiên cứu của riêng cá nhân tôi Các số liệu kết quả nghiên cứu đƣợc trình bày trong luận văn là trung thực theo thực tế nghiên cứu chƣa từng đƣợc bất cứ tác giả nào khác nghiên cứu và công bố

Tác giả

Đỗ Thị Kim Ngân

Trang 4

Bản thân đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn song không thể tránh khỏi những thiếu sót Kính mong quý Thầy/Cô chỉ dẫn để luận văn đƣợc hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả

Đỗ Thị Kim Ngân

Trang 5

MỤC ỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT viii

DANH MỤC CÁC BẢNG ix

DANG MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ x

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 4

3.1 Khách thể nghiên cứu 4

3.2 Đối tượng nghiên cứu 4

4 Giả thuyết khoa học 4

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 5

7 Phương pháp nghiên cứu 5

7.1 Phương pháp luận 5

7.1.1 Quan điểm lịch sử - logic 5

7.1.2 Quan điểm cấu trúc – hệ thống 6

7.1.3 Quan điểm thực tiễn 6

7.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể 6

7.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận 6

7.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 6

7.2.3 Phương pháp thống kê toán học 8

8 Cấu trúc luận văn 8

Chương 1 CƠ SỞ Ý UẬN VỀ QUẢN Ý THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC MẦM NON CHO TRẺ MẪU GIÁO THEO QUAN ĐIỂM ẤY TRẺ ÀM TRUNG TÂM 9

1.1 ịch sử nghiên cứu vấn đề 9

1.1.1 Nghiên cứu trên thế giới 9

1.1.2 Nghiên cứu ở Việt Nam 10

1 Một số khái niệm cơ bản về quản lý thực hiện chương trình giáo dục mầm non 13

1.2.1 Quản lý 13

1.2.2 Quản lý giáo dục 18

1.2.3 Quản lý nhà trường 19

Trang 6

1.2.4 Chương trình giáo dục 21

1.3 ý luận về thực hiện chương trình giáo dục mầm non cho trẻ mẫu giáo theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm 22

1.3.1 Đặc điểm trường Mầm non 22

1.3.2 Vị trí, vai trò của GDMN trong hệ thống giáo dục quốc dân 23

1.3.3 Mục tiêu chương trình giáo dục mầm non 24

1.3.4 Nội dung và phương pháp giáo dục mầm non cho trẻ 5-6 tuổi 25

1.3.5 Yêu cầu về phương pháp, hình thức giáo dục cho trẻ 5 - 6 tuổi theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm 27

1.3.6 Nghiệp vụ quản lý trường Mầm non 27

1.3.7 Chương trình Giáo dục mầm non 28

1.4 ý luận về quản lý thực hiện chương trình GDMN cho trẻ mẫu giáo theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm 29

1.4.1 Quản lý mục tiêu chương trình giáo dục mầm non cho trẻ mẫu giáo theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm 31

1.4.2 Quản lý thời gian thực hiện chương trình giáo dục mầm non cho trẻ mẫu giáo theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm 32

1.4.3 Quản lý nội dung giáo dục thực hiện chương trình giáo dục mầm non cho mẫu giáo theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm 33

1.4.4 Quản lý đánh giá sự phát triển của trẻ trong thực hiện chương trình giáo dục mầm non cho trẻ mẫu giáo theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm 33

1.5 Nội dung quản lý thực hiện chương trình giáo dục mầm non cho trẻ mẫu giáo theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm 34

1.5.1 Xây dựng kế hoạch quản lý thực hiện chương trình giáo dục mầm non cho trẻ mẫu giáo theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm 34

1.5.2 Tổ chức việc thực hiện chương trình giáo dục mầm non cho trẻ mẫu giáo theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm 35

1.5.3 Chỉ đạo việc thực hiện chương trình giáo dục mầm non cho trẻ mẫu giáo theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm 36

1.5.4 Kiểm tra, đánh giá thực hiện chương trình 42

1.5.5.Quản lý điều kiện thực hiện chương trình 43

1.6 Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thực hiện chương trình giáo dục mầm non cho trẻ mẫu giáo theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm 46

1.6.1 Những yếu tố khách quan 46

1.6.2 Những yếu tố chủ quan 47

Chương THỰC TRẠNG QUẢN Ý THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC MẦM CON CHO TRẺ MẪU GIÁO THEO QUAN ĐIỂM ẤY TRẺ ÀM TRUNG TÂM TRONG CÁC TRƯỜNG MẦM NON TẠI THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG 51

Trang 7

1 hái quát về đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội và giáo dục mầm non tại

thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương 51

2.1.1 Đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội địa phương 51

2.1.2 Tình hình giáo dục mầm non tại thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương 52

Tổ chức nghiên cứu thực trạng 53

2.2.1 Mục đích 53

2.2.2 Giới hạn về khách thể nghiên cứu 53

2.2.3 Nội dung khảo sát 53

2.2.4 Công cụ điều tra, khảo sát thực trạng 54

2.2.5 Tổ chức điều tra, khảo sát 54

2.2.6 Quy ước thang đo 55

3 Thực trạng thực hiện chương trình giáo dục mầm non cho trẻ mẫu giáo theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm trong các trường mầm non trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương 56

2.3.1 Nhận thức về việc thực hiện chương trình GDMN theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm của CBQL và GV tại các trường MN công lập trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương 56

2.3.2 Kết quả thực hiện chương trình giáo dục mầm non cho trẻ mẫu giáo theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm tại thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương 59

2.3.3 Những thuận lợi, khó khăn trong quá trình thực hiện chương trình GDMN cho trẻ mẫu giáo theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm 60

4 ết quả thực trạng quản lý thực hiện chương trình giáo dục mầm non cho trẻ mẫu giáo theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm trong các trường mầm non công lập trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương 62

2.4.1 Thực trạng về lập kế hoạch thực hiện chương trình GDMN theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm 62

2.4.2 Thực trạng việc tổ chức thực hiện chương trình giáo dục mầm non cho trẻ 5 - 6 tuổi theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm ở các trường mầm non trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương 65

2.4.3 Thực trạng công tác chỉ đạo thực hiện chương trình giáo dục mầm non cho trẻ 5 - 6 tuổi theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm ở các trường mầm non trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương 67

2.4.4 Thực trạng về kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện chương trình GDMN cho trẻ mẫu giáo theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm trong các trường mầm non theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâmở các trường MN trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương 70

2.4.5 Mối tương quan thực trạng về việc thực hiện chương trình GDMN cho trẻ từ 5 - 6 tuổi theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm tại các trường MN công lập trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương 73

Trang 8

5 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thực hiện chương trình giáo dục mầm non cho trẻ từ 5-6 tuổi theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm ở các

trường mầm non trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương 75

2.5.1 Yếu tố chủ quan 75

2.5.2 Yếu tố khách quan 78

6 Đánh giá chung về thực trạng quản lý thực hiện chương trình GDMN cho trẻ mẫu giáo theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm trong các trường mầm non theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm ở các trường mầm non trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương 80

2.6.1 Ưu điểm 80

2.6.2 Tồn tại 82

2.6.3 Nguyên nhân của những tồn tại 82

Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN Ý THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC MẦM NON CHO TRẺ MẪU GIÁO THEO QUAN ĐIỂM ẤY TRẺ ÀM TRUNG TÂM TRONG CÁC TRƯỜNG MẦM NON CÔNG ẬP TẠI THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG 85

3.1 Căn cứ xây dựng biện pháp 85

3.1.1 Căn cứ vào cơ sở lý luận về quản lý thực hiện chương trình GDMN cho trẻ mẫu giáo theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm trong các trường mầm non85 3.1.2 Căn cứ vào cơ sở pháp lý về quản lý thực hiện chương trình GDMN cho trẻ mẫu giáo theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm trong các trường mầm non86 3.1.3 Căn cứ vào thực trạng về quản lý thực hiện chương trình GDMN cho trẻ mẫu giáo theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm trong các trường mầm non 87

3 Nguyên tắc xây dựng biện pháp 88

3.2.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 88

3.2.2 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 89

3.2.3 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 89

3.2.4 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 90

3.3 Các biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý thực hiện chương trình giáo dục mầm non cho trẻ mẫu giáo theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm trong các trường mầm non 90

3.3.1 Nâng cao nhận thức cho cán bộ, giáo viên về tầm quan trọng của việc thực hiện chương trình GDMN cho trẻ mẫu giáo theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm trong các trường mầm non 90

3.3.2 Xây dựng kế hoạch thực hiện chương trình giáo dục mầm non cho trẻ mẫu giáo theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm trong các trường mầm non 93

3.3.3 Triển khai, quán triệt giáo viên thực hiện đúng chương trình giáo dục mầm non cho trẻ mẫu giáo theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm trong các trường mầm non 95

Trang 9

3.3.5 Đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá việc tổ chức thực hiện chương trình

giáo dục mầm non theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm 100

3.3.6 Đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục nhằm huy động các nguồn lực và tăng cường sự phối hợp gữa các lực lượng trong thực hiện chương trình giáo dục mầm non 102

3.4 Mối quan hệ giữa các biện pháp 104

3.5 hảo nghiệm về tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất 106

3.5.1 Mục đích khảo nghiệm 106

3.5.2 Đối tượng khảo nghiệm 106

3.5.3 Phương pháp khảo nghiệm 106

3.5.4 Đánh giá kết quả khảo nghiệm 106

3.5.5 Kết quả khảo nghiệm 107

ẾT UẬN VÀ HUYẾN NGHỊ 116

1 ết luận 116

huyến nghị 117

2.1 Đối với Phòng GD&ĐT thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương 117

2.2 Đối với các trường mầm non trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương 118

2.3 Đối với giáo viên mầm non 119

2.4 Đối với phụ huynh và các lực lượng xã hội khác 119

TÀI IỆU THAM HẢO 120

PHỤ ỤC

Trang 11

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Đối tượng khảo sát thực trạng quản lý thực hiện chương trình GDMN 54 Bảng 2.2 Nhận thức của CBQL và GV về tầm quan trọng và mức độ thực hiện chương trình GDMN cho trẻ mẫu giáo theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm trong các trường mầm non 57 Bảng 2.3 Thực trạng kết quả lập kế hoạch thực hiện chương trình GDMN ở các trường MN 62 Bảng 2.4; Thực trạng việc tổ chức thực hiện chương trình GDMN ở các trường MN trên địa bàn thị xã Bến Cát tỉnh Bình Dương 65 Bảng 2.5 Kết quả công tác chỉ đạo thực hiện chương trình GDMN ở các trường mầm non trên địa bàn thị xã Bến Cát tỉnh Bình Dương 68 Bảng 2.6: Kết quả kiểm tra, đánh giá thực hiện chương trình GDMN cho trẻ mẫu giáo theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm trong các trường mầm non ở các trường mầm non mẫu giáo trên địa bàn thị xã Bến Cát tỉnh Bình Dương 71 Bảng 2.7 Mối tương quan thực trạng về việc thực hiện chương trình GDMN 73 Bảng 2.8 Các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến quản lý thực hiện chương trình GDMN 75 Bảng 2.9 Các yếu tố khách quan ảnh hưởng 78 Bảng 3.1 Kết quả khảo sát tính cần thiết của các biện pháp quản lý thực hiện chương trình GDMN ở các trường mầm non 107 Bảng 3.2 Kết quả khảo sát tính khả thi của các biện pháp quản lý thực hiện chương trình giáo dục mầm non ở các trường mầm non 109 Bảng 3.3 Tổng hợp khảo nghiệm về tính cần thiết và tính khả thi 111

Trang 12

DANG MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

Sơ đồ 1.1 Mô tả hệ thống cấu trúc hệ thống quản lý 14

Sơ đồ:1.2 Mô tả mối quan hệ giữa các chức năng quản lý 17

Sơ đồ 3.1 Mối quan hệ giữa các biện pháp 105

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 ý do chọn đề tài

Trong 6 năm đầu đời không phải là khoảng thời gian dài so với cuộc đời của con người nhưng 6 năm đầu lại có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát triển nhân cách sau này Giáo dục trẻ em giai đoạn này được ví như đặt viên gạch đầu tiên để xây dựng nền móng nhân cách sau này cho cuộc đời của mỗi con người

"Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai" Đầu tư cho trẻ em tức là đầu tư cho tương lai của nước nhà Chính vì vậy, mục tiêu của giáo dục mầm non (GDMN) là giúp trẻ

em phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, trí tuệ, ngôn ngữ, thẩm mỹ; hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp 1, xây dựng thế

hệ mới vừa hồng vừa chuyên cho đất nước

Muốn thực hiện được mục tiêu đó, cần phải có một chương trình giáo dục phù hợp Đồng thời đẩy mạnh việc thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng

và Nhà nước, chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý (CBQL) có đủ phẩm chất, năng lực, trình độ giảng dạy, nghiên cứu khoa học và quản lý Sự thay đổi của ngành giáo dục trước hết là phải tăng cường quản lý giáo dục (QLGD) nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và phát triển toàn diện ngành giáo dục trong giai đoạn hiện nay, đồng thời phải có chiến lược phát triển đúng hướng, hợp quy luật, xu thế và xứng tầm thời đại Để các mục tiêu giáo dục bậc học MN đạt hiệu quả Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Chương trình Giáo dục mầm non kèm Thông tư số 17/2009/TTBGDĐT ngày 25 tháng 07 năm 2009, chương trình Giáo dục mầm non bao gồm: mục tiêu, các yêu cầu về nội dung, phương pháp, các điều kiện thực hiện chương trình GDMN; chương trình giáo dục nhà trẻ; chương trình giáo dục mẫu giáo Đây là chương trình mang tính chất khung phải được thực hiện theo trình tự, chuẩn các chi tiết bao gồm cả nội dung, phương pháp, hình thức và cách tổ chức thực hiện Theo thông tư 17/2009/TTBGDĐT “Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm

mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp

một; hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm sinh lí, năng lực và

Trang 14

phẩm chất mang tính nền tảng, những kĩ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở

các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời” [1, tr 2] Qua quá trình triển khai

thực hiện các nội dung của chương trình để hoàn thành mục tiêu đã nhận thấy những điểm tồn tại của chương trình đối với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế xã hội trong và ngoài nước, và nhằm để nâng cao chất lượng GDĐT cũng như đi trước sự phát triển của trẻ để kéo theo sự phát triển Do đó, ngày 30 tháng 12 năm 2016 Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã ban hành Thông tư số 28/2016/TTBGDĐT về sửa đổi, bổ sung một số nội dung trong chương trình GDMN kèm theo Thông tư số 17/2009/TTBGDĐT Thực tế, chương trình mầm non (MN) sửa đổi có nhiều thay đổi tiến bộ khác biệt so với chương trình cũ về mục tiêu của từng độ tuổi ( mục tiêu chung không thay đổi) cũng như các nội dung thực hiện cho cả hai lứa tuổi nhà trẻ

và mẫu giáo Trong đó, mục tiêu của chương trình GDMN theo TT28/2016 vẫn không sửa đổi nhưng nội dung thực hiện đã có nhiều chỉnh sửa để phù hợp với xu thế phát triển phù hợp với xã hội hiện đại “Chương trình là những nội dung cốt lõi,

cơ bản, phù hợp với độ tuổi; chương trình có độ mở, cho phép linh hoạt nhằm tăng cường tính chủ động của giáo viên trong việc lựa chọn những nội dung giáo dục cụ thể, phù hợp với kinh nghiệm sống và khả năng của trẻ, điều kiện thực tế của địa phương [1, tr 5] Không còn cứng ngắc, rập khuôn có sự linh hoạt để phù hợp với đặc điểm địa lý, tình hình kinh tế xã hội của địa phương, nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho việc thực hiện chương trình GDMN đạt được mục tiêu đã đề ra Tuy nhiên, trong quá triển khai thực hiện vẫn còn nhiều bất cập chưa đồng bộ thống nhất từ các cấp nên công tác quản lý giáo viên (GV) thực hiện chương trình chưa đạt, bản thân

GV còn lúng túng, chưa đủ sức "tải" đủ các lĩnh vực nội dung giáo dục và chưa có

sự tác động dạy học tích cực cho trẻ khi thực hiện chương trình nên không đạt được mục tiêu và ý nghĩa mà chương trình đã đề ra và cần đạt được trong mỗi độ tuổi Vì vậy, Hiệu trưởng trường mầm non gặp nhiều khó khăn trong việc quản lý thực hiện chương trình Thêm vào đó, xu thế hiện nay việc tiếp cận chương trình chăm sóc giáo dục rất quan trọng Làm thế nào để việc thực hiện chương trình có hiệu quả,

Trang 15

đặc biệt là việc thực hiện chương trình GDMN theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm cho trẻ 5-6 tuổi như thế nào là điều rất cần thiết

Tại thị xã Bến Cát tỉnh Bình Dương, việc thực hiện chương trình GDMN cũng như công tác quản lý thực hiện chương trình GDMN theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm ở các trường mầm non trên địa bàn thị xã cũng đã được chú ý nhiều Được sự chỉ đạo của Sở GD – ĐT, trong những năm qua các trường mầm non trên địa bàn thị xã Bến Cát đã có sự những đổi mới nhất định về quản lý công tác thực hiện chương trình GDMN với nhiều biện pháp xây dựng và duy trì nền nếp, kỷ cương, nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục toàn diện học sinh (HS) Tuy nhiên, việc thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện HS, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục vẫn còn nhiều khó khăn, bất cập và tồn tại Một trong các nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó là nhận thức chưa đầy đủ về vai trò, trách nhiệm của CBQL đối với công tác quản lý thực hiện chương trình GDMN theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm Mặt khác, các biện pháp quản lý của hiệu trưởng đối với công tác thực hiện chương trình chưa thật hợp lý trong bối cảnh xã hội nước nhà

Vấn đề thực hiện chương trình GDMN cũng như công tác quản lý thực hiện chương trình GDMN theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm ở các trường MN trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương còn gặp nhiều khó khăn, bất cập Chính

vì vậy, chúng tôi chọn và nghiên cứu đề tài “Quản lý thực hiện chương trình giáo

dục mầm non cho trẻ mẫu giáo theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm tại thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương”

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về quản lý thực hiện chương trình giáo dục cho trẻ MN, khảo sát thực trạng quản lý thực hiện chương trình GDMN theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm tại thị xã Bến Cát tỉnh Bình Dương Từ đó, đề xuất một số biện pháp quản lý đối với ban giám hiệu trường MN đối với công tác tổ chức thực hiện chương trình GDMN theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm cho trẻ mẫu giáo nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trẻ ở các trường MN của địa phương

Trang 16

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 hách thể nghiên cứu

Công tác quản lý thực hiện chương trình GDMN cho trẻ mẫu giáo theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp quản lý thực hiện chương trình GDMN theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm cho trẻ trẻ mẫu giáo tại thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương

4 Giả thuyết khoa học

Việc quản lý thực hiện chương trình GDMN cho trẻ mẫu giáo theo quan

điểm lấy trẻ làm trung tâm ở các trường mầm non trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương trong những năm qua đã đạt được những thành tích trên những nội dung công tác như: lập kế hoạch; tổ chức thực hiện đồng thời còn hạn chế ở những nội dung công tác như: chỉ đạo thực hiện; kiểm tra, đánh giá công tác quản lý hoạt động đổi mới phương pháp giáo dục, nâng cao nhận thức cho cán bộ giáo viên về tầm quan trọng của thực hiện chương trình GDMN ở trường MN, công tác phối hợp với các bậc cha mẹ học sinh nhằm huy động nguồn lực xã hội hóa chưa được coi trọng…

Nguyên nhân của thực trạng này có thể từ nhiều phía, trong đó công tác quản

lý việc thực hiện chương trình còn dàn trải, chưa nắm bắt được những đổi mới về nội dung cũng như chưa đưa ra những hình thức mới vào hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ chưa được quan tâm đúng mức, chưa huy động đông đảo GV thực hiện đổi mới PPGD, chưa tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng kế hoạch theo dạng mở, cũng như chỉ đạo kiểm tra còn mang nặng tính hình thức chưa đi sâu vào thực tiễn, tình hình đặc điểm của địa phương

thực trạng quản lý thực hiện chương trình GDMN theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm trong các nhà trường thì có thể đề xuất được các biện phápquản lý thực hiện chương trình GDMN theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm đảm bảo tính cần thiết

và khả thi cao

Trang 17

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý thực hiện chương trình GDMN cho trẻ mẫu giáo theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm

Khảo sát thực trạng thực hiện chương trình GDMN và công tác quản lý việc thực hiện chương trình giáo dục mầm non theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm cho trẻ mẫu giáo tại các trường MN công lập tại thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương;

Đề xuất một số biện pháp quản lý thực hiện chương trình GDMN theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi tại các trường MN công lập tại thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện

HS

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu công tác quản lý thực hiện chương

trình giáo dục theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm cho trẻ 5 - 6 tuổi tại các trường

MN công lập trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương dưới sự lãnh đạo, điều hành của hiệu trưởng nhà trường

- Về thời gian: Đề tài khảo sát thực trạng trong thời gian từ năm học 2015 –

2016 đến nay

- Về địa bàn: Đề tài khảo sát thực trạng quản lý thực hiện chương trình giáo

dục theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm cho trẻ 5 - 6 tuổi tại các trường MN công lập trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp luận

7.1.1 Quan điểm lịch sử - logic

Tiếp cận theo quan điểm lịch sử - logic cho phép người nghiên cứu nhìn nhận khách quan và toàn diện các hiện tượng giáo dục, thấy được mối quan hệ của hệ thống với các hiện tượng khác trong hệ thống lớn, từ đó xác định được các con đường tổng hợp tối ưu để nâng cao chất lượng giáo dục Quan điểm này giúp người nghiên cứu tiếp cận các sự kiện lịch sử để minh họa chứng minh làm sáng tỏ các luận điểm khoa học, các nguyên lý khoa học hay kết quả các công trình nghiên cứu Dựa trên

Trang 18

quan điểm này giúp người nghiên cứu thiết kế mô hình các biện pháp quản lý thực hiện chương trình GDMN theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm cho trẻ 5 - 6 tuổi thiết thực, hiệu quả

7.1.2 Quan điểm cấu trúc – hệ thống

Khi nghiên cứu các hiện tượng giáo dục phải xem xét một các toàn diện, nhiều mặt, nhiều mối liên hệ trong trạng thái vận động và phát triển với việc phân tích những điều kiện nhất định để tìm ra bản chất và quy luật vận động của đối tượng Tiếp cận quan điểm này giúp người nghiên cứu xây dựng cơ sở lý luận về quản lý công tác tổ chức thực hiện chương trình GDMN theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm

và việc thiết kế bảng hỏi cũng như bình luận thực trạng cũng được tiến hành trên cấu trúc đã được thiết lập

7.1.3 Quan điểm thực tiễn

Công tác tổ chức thực hiện chương trình GDMN và quản lý công tác tổ chức thực hiện chương trình GDMN theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm cho mẫu giáo gắn với thực tiễn ở trường MN Việc nghiên cứu theo hướng tiếp cận thực tiễn giúp cho người nghiên cứu xem xét mọi vấn đề, mọi họat động xuất phát từ người học, người dạy, CBQL giáo dục những người có liên quan trực tiếp đến quá trình giáo dục HS

7 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể

7.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Mục đích: Thu thập tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu nhằm làm rõ các

vấn đề lý luận của đề tài cần nghiên cứu

Nội dung và cách tiến hành: Đọc, phân tích, tổng hợp các tài liệu cần thiết

phục vụ cho việc nghiên cứu nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho việc triển khai và nghiên cứu thực tiễn

7.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.2.1 Phương pháp quan sát

Mục đích: Nhằm kết hợp với các phương pháp khác để thu thập thêm thông

tin từ phía GV, trẻ mẫu giáo trong quá trình thực hiện chương trình GDMN trong các trường MN tại thị xã Bến Cát tỉnh Bình Dương

Trang 19

Nội dung và cách tiến hành: Tham gia dự giờ một số hoạt động chăm sóc

giáo dục trẻ của GV để quan sát, ghi chép cách tổ chức thực hiện chương trình GD cho trẻ mẫu giáo như: đón trẻ, thể dục sáng – điểm danh, hoạt động ngoài trời, hoạt động chung, hoạt động vui chơi, giờ ăn Qua đó, làm cơ sở để xây dựng phiếu hỏi, đánh giá một cách khách quan, đầy đủ mức độ thực hiện chương trình GDMN theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm qua đó xây dựng bảng khảo sát, đánh giá mức độ thực hiện

7.2.2.2 Phương pháp phỏng vấn

Mục đích: Nhằm kết hợp với phương pháp chính để thu thập thêm thông tin

từ phía CBQL, GV mầm non về những vấn đề liên quan đến đề tài

Nội dung và cách tiến hành: Trao đổi, trò chuyện CBQL là hiệu trưởng, phó

hiệu trưởng quản lý chuyên môn, GV mầm non để thu thập những thông tin cần thiết xoay quanh vấn đề nghiên cứu

7.2.2.3 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Mục đích: Đây là phương pháp nghiên cứu chủ yếu của đề tài Phương pháp

được sử dụng nhằm mục đích khảo sát thực trạng thực hiện chương trình GDMN và

thực trạng quản lý thực hiện chương trình GDMN theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm cho trẻ mẫu giáo tại các trường MN công lập trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh

+ Bảng hỏi 2: Dành cho GV mầm non thực hiện chương trình giáo dục MN

theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm cho trẻ mẫu giáo

7.2.2.4 Phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động

Mục đích: Nhằm kết hợp với các phương pháp khác để thu thập thêm thông

tin về những vấn đề liên quan đến đề tài thông qua các sản phẩm hoạt động mà người cán bộ quản lý, giáo viên tạo ra (sổ sách, bài soạn, sản phẩm lao động )

Trang 20

Nội dung và cách tiến hành: Thông qua các sản phẩm hoạt động (sổ sách, bài

soạn, sản phẩm lao động ) mà người CBQL, GV tạo ra, người nghiên cứu có thể nhận ra được tư tưởng, tình cảm, ý chí cũng như năng lực của họ

7.2.3 Phương pháp thống kê toán học

Mục đích: Nhằm xử lý số liệu điều tra, từ đó làm cơ sở đưa ra những nhận

định khách quan về thực trạng công tác tổ chức thực hiện chương trình GDMN và thực trạng các biện pháp quản lý công tác tổ chức thực hiện chương trình GDMN theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm cho trẻ 5 - 6 tuổi

Nội dung và cách tiến hành: Sử dụng phương pháp toán thống kê để xử lý và

phân tích các số liệu từ các bảng hỏi thu thập được

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị Phụ lục tài liệu tham khảo, bảng phân tích số liệu thống kê luận văn gồm 3 chương sau:

Chương I: Cơ sở lý luận về quản lý thực hiện chương trình giáo dục mầm non cho trẻ mẫu giáo theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm

Chương II: Thực trạng quản lý thực hiện chương trình giáo dục mầm non cho trẻ mẫu giáo theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm tại thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương

Chương III: Biện pháp quản lý thực hiện chương trình giáo dục mầm non cho trẻ mẫu giáo theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm trong các trường mầm non công lập tại thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Bương

Trang 21

1.1.1 Nghiên cứu trên thế giới

GDMN là giai đoạn bản lề cần thiết cho trẻ bước vào cuộc sống tương lai Vấn đề về quản lý việc thực hiện chương trình giáo dục đã được nhà nghiên cứu giáo dục Nga M.I.Kondakop khẳng định rằng kết quả toàn bộ hoạt động quản lý của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức đúng đắn và hợp lý các hoạt động giảng dạy của đội ngũ giáo viên [29]

Giai đoạn chuyển tiếp từ MN lên tiểu học (5-6 tuổi) đóng vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc đời đứa trẻ Đây là khoảng thời gian trẻ phải đối mặt với nhiều thay đổi và thách thức, đặc biệt những trẻ có hoàn cảnh khó khăn [2], [7]

Giai đoạn chuyển tiếp này được cho là điểm khởi đầu cho việc học tập có chủ đích Sự khởi đầu thành công ở trường học có mối liên hệ chặt chẽ với kết quả học tập và nhận thức xã hội trong tương lai của trẻ Những trải nghiệm của trẻ trong giai đoạn này sẽ có tác động lâu dài đến khả năng thích nghi đối với sự thay đổi của trẻ Việc hiểu cặn kẽ về giai đoạn chuyển tiếp giúp nhà trường và gia đình có thể hỗ trợ trẻ vượt qua giai đoạn này một cách nhẹ nhàng và hiệu quả [25], [26]

GDMN là mục tiêu quan trọng của giáo dục và được các nhà nghiên cứu không ngừng quan tâm phát triển tìm các giải pháp để nâng cao chất lượng giáo dục

Trong hệ thống giáo dục của một số nước phát triển phương Tây, nhiều trường MN đã tiến hành tự túc xây dựng chương trình giáo dục phù hợp và tiên tiến,

GV được phép chọn nội dung, cách thức và sự đánh giá phù hợp với trẻ của mình Trong đó có quan điểm của Spodek (1990), nhà giáo dục người Mỹ cho rằng chương trình học cho MN là không thể khiên cưỡng, người lớn chúng ta không thể quyết định dạy trẻ cái gì mà phải căn cứ hài hòa vào các yếu tố sẵn có để tạo nên chương trình phù hợp Nội dung chương trình, các quá trình học, các chiến lược

Trang 22

giảng dạy, môi trường và các chiến lược đánh giá là những vấn đề qua lại và tạo nên chương trình GDMN (Brekdekamp, 1992) [ 32 ]

Ở New Zealand là một trong những nước có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới Mục tiêu lớn của GDMN là giúp trẻ tự tin vào bản thân khỏe mạnh về thể chất

và tâm hồn, có khả năng giao tiếp và tôn trọng tri thức Trẻ MN ở New Zealand có những kỹ năng học như được tự tìm điều mình quan tâm; biết chuyên tâm vào công việc của mình; biết đối mặt với khó khăn và tìm cách giải quyết ở mức độ nhất định; trẻ cần học cách thể hiện ý tưởng và chịu trách nhiệm với ý tưởng và chịu trách nhiệm với ý tưởng của mình [33]

Ở Châu Á, thế kỉ 21 trong điều kiện hội nhập khu vực và thế giới, là điều kiện để các quốc gia tiến hành cải thiện chất lượng GDMN bằng cách cải tiến các phương thức đào tạo GV mầm non và giới thiệu những hình thức nuôi dạy trẻ tốt nhất đã được quốc tế thừa nhận mà vẫn phù hợp với văn hóa từng nước

Một số nước như Singapore, Malaysia, Thái Lan đã áp dụng những phương pháp giáo dục của thế giới nhưng vẫn giữ được bản sắc văn hóa riêng của từng dân tộc và họ đưa các chương trình vào nhà trẻ và trường mẫu giáo

Lời mở đầu trong kế hoạch quốc gia về “Đổi mới hệ thống GDMN” từ năm

1997 của Hàn Quốc cũng đã ghi nhận rằng môi trường giáo chuyển tiếp lên tiểu học đóng vai trò thiết yếu trong việc xây dựng nền tảng phát triển tổng thể của con người Với ý nghĩa ấy, GDMN có thể được coi là lĩnh vực cần đầu tư tốt nhất và hàng tháng các nhà trẻ tại đây đều được thanh tra về mọi mặt từ giảng dạy, thiết bị, bếp ăn, vệ sinh… một cách nghiêm ngặt

Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu ở nước ngoài nào tập trung và sâu về công tác tổ chức thực hiện chương trình giáo dục mầm non cho trẻ từ 5 đến 6 tuổi một cách bài bản Vì vậy, có thể khẳng định đề tài này được xem như một nghiên cứu khả thi có nhiều nét mới

1.1.2 Nghiên cứu ở Việt Nam

Trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, nguồn lực con người Việt Nam càng trở nên có ý nghĩa quan trọng, quyết định sự thành công của công cuộc phát triển đất nước Giáo dục ngày càng có

Trang 23

vai trò và nhiệm vụ quan trọng trong việc xây dựng một thế hệ người Việt Nam mới, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định "Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hộihóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong

đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục là khâu then chốt" và "Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng xây dựng đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam" [20, tr.5]

Phát triển giáo dục phải thực sự là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, nâng cao vai trò các tổ chức, đoàn thể chính trị, kinh tế, xã hội trong phát triển giáo dục Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển [20, tr.7]

Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân, có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển của nhân cách con người Giáo dục mầm non đặt nền móng cho sự phát triển về thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mỹ của trẻ em Việt Nam Phát triển giáo dục mầm non

là trách nhiệm chung của các cấp, các ngành và toàn xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước Chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ là tiền đề quan trọng để nhà trường mầm non phát huy tầm ảnh hưởng của mình đến với cộng đồng Chất lượng chăm sóc giáo dục của nhà trường có đảm bảo, trẻ em có khỏe mạnh và phát triển tốt thì vai trò của nhà trường mới được phụ huynh và cộng đồng thừa nhận Vì vậy, nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dạy trẻ phải là vấn đề được quan tâm hàng đầu ở các cơ sở giáo dục mầm non Nói đến nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ tức là nói đến nâng cao chất lượng thực hiện chương trình giáo dục trẻ Chương trình GDMN bao gồm việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ 3 tháng đến 6 tuổi, giáo dục về thể chất, tình cảm nhận thức, ngôn ngữ trên cơ sở thông qua các hoạt động để phát triển toàn diện nhân cách học sinh

Hiện nay GDMN ngày càng được nhận sự quan tâm của xã hội, của ban lãnh đạo các cấp từ trung ương đến địa phương Nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu,

Trang 24

nhiều bài viết liên quan đến việc phát triển GDMN đã ra đời không nằm ngoài tâm huyết phát triển giáo dục mầm non nước nhà Có thể kể đến như:

- Tài liệu tập huấn nâng cao năng lực quản lý thực hiện chương trình giáo dục mầm non thí điểm (2009), Bộ Giáo dục và Đào tạo - Học viện quản lý giáo dục,

Hà Nội

- “Một số giải pháp quản lý công tác bồi dưỡng năng lực chuyên môn cho giáo viên mầm non Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh” 2013, luận vănThạc sĩ khoa học giáo dục của Nguyễn Thị Duyên Hồng, Đại học Vinh

Tuy nhiên, các tài liệu trên chưa đi sâu vào nghiên cứu thực trạng việc thực hiện chương trình Giáo dục mầm non tại các trường mầm non, có tài liệu chỉ dừng ở mức độ bồi dưỡng kiến thức về quản lý thực hiện chương trình

Bước vào thế kỷ 21, trước những yêu cầu mới của đất nước và của giáo dục mầm non, chương trình chăm sóc - giáo dục mẫu giáo ở Việt Nam đã bộc lộ một số hạn chế bất cập về mục tiêu, nội dung, phương pháp chăm sóc - giáo dục trẻ Điều

đó đòi hỏi chương trình cần có những cải tiến, đổi mới Tại phiên họp Chính phủ tháng 11 năm 2005, Chính phủ đã quyết định về Đề án phát triển giáo dục mầm non giai đoạn 2006-2015, trong đó có nội dung đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục mầm non [tr.14, 30] Đây là tiền đề cho việc triển khai thực hiện thí điểm chương trình Giáo dục mầm non mới trong ngành giáo dục mầm non từ năm 2006

Ngày 25 tháng 7 năm 2009, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Chương trình giáo dục mầm non, kèm theo ký Thông tư số 17/2009/TT-BGDĐT [tr.1, 5]

Hơn nữa, tỉnh Bình Dương đã từng bước triển khai thực hiện chương trình Giáo dục mầm non mới với số lượng trường lớp tăng dần lên theo từng năm học Đầu tiên, chương trình Giáo dục mầm non mới được thực hiện thí điểm tại một số trường trực thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo và các trường trọng điểm của từng huyện, thị Đến năm học 2007 - 2008 mở rộng thêm đối tượng là các trường đạt danh hiệu Tập thể Lao động xuất sắc, năm học 2008 - 2009 mở rộng thêm các trường đạt danh hiệu Tập thể Lao động tiên tiến và từ năm học 2009 - 2010 được thực hiện đại trà trong toàn tỉnh Hiện nay thì chương trình giáo dục đã chính thức thực hiện trên

Trang 25

toàn quốc Để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội và nhận thấy tầm quan trọng của bậc học Mầm non cùng những nghiên cứu dựa trên cơ sở khoa học trong và ngoài nước ngày 30 tháng 12 năm 2016 Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã ban hành Thông tư số 28/2016/TTBGDĐT về sửa đổi, bổ sung một số nội dung trong chương trình GDMN kèm theo Thông tư số 17/2009/TTBGDĐT Sửa đổi bổ sung một số điều của chương trình GDMN: Sửa đổi bổ sung nhu cầu khuyến nghị năng lượng cho trẻ/ ngày cập nhật theo quy định của bộ y tế; Sửa đổi bổ sung một số từ ngữ diễn đạt tránh nhầm lẫn giữa nội dung và hoạt động trong lĩnh vực giáo dục thể chất, giáo dục phát triển nhận thức, giáo dục phát triển ngôn ngữ, giáo dục phát triển thẩm mỹ; Sửa đổi bổ sung đánh giá sự phát triển của trẻ, làm rõ mục đích, nội dung, phương pháp, lưu hồ sơ về sự đánh giá sự phát triển của trẻ; Hướng dẫn thực hiện chương trình để làm rõ tính chất của chương trình khung quốc gia, các CSGDMN phát triển chương trình giáo dục phù hợp với văn hóa, điều kiện của địa phương, của nhà trường và khả năng của trẻ

Vì vậy trong giai đoạn hiện nay, công tác quản lý việc thực hiện chương trình Giáo dục mầm non thật sự là vấn đề bức xúc rất cần được nghiên cứu, thảo luận để việc thực hiện chương trình đi vào chiều sâu Do đó, các nhà nghiên cứu giáo dục cần phải nghiên cứu việc quản lý thực hiện chương trình Giáo dục mầm non đặc biệt là chương trình GDMN theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm nhằm tìm ra các biện pháp chỉ đạo có hiệu quả nhất để góp phần nâng cao chất lượng thực hiện chương trình, nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ ở trường mầm non, góp phần phát triển giáo dục mầm non nước nhà

1 Một số khái niệm cơ bản về quản lý thực hiện chương trình giáo dục mầm non

1.2.1 Quản lý

1.2.1.1 Quan điểm về quản lý

Quản lý là một hoạt động đặc biệt của đời sống xã hội loài người, nó xuất phát từ những nhu cầu khách quan của cuộc sống con người, nhằm duy trì sự ổn định và phát triển của một xã hội Theo Frederich, W.Taylor tác giả của học thuyết

quản lý theo khoa học thì: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người

Trang 26

khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất

và rẻ nhất”

Theo thuyết quản lý hành chính của Henry Fayol thì: “Quản lý hành chính là

dự báo và lập kế hoạch, tổ chức và điều khiển, phối hợp và kiểm tra”

Theo tập thể tác giả: Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ

Lộc định nghĩa kinh điển và đơn giản nhất: “Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [2, tr 17]

Theo cách hiểu trên, quản lý tồn tại với tư cách như là một hệ thống bao gồm những thành tố cấu trúc cơ bản sau:

Chủ thể quản lý: trọng tâm thực hiện những tác động hướng đích, có chủ định đến các đối tượng quản lý Chủ thể quản lý có thể tồn tại với tư cách là cá thể nhưng cũng có thể là một tập thể

Đối tượng quản lý: những đối tượng tiếp nhận tác động hướng đích của chủ thể quản lý và được biến đổi dưới những tác động này Đối tượng quản lý rất đa dạng, từ giới vô sinh đến vật nuôi, cây trồng và con người cùng các tổ chức cũng như hành vi của nó

Mục tiêu quản lý: trạng thái đầu ra cần và có thể có của tổ chức Mục tiêu chỉ đạt trong tương lai mà mọi hoạt động của tổ chức sẽ hướng đến để đạt được

Cơ chế quản lý: Phương thức vận động hợp quy luật của hệ thống quản lý

Cơ chế quản lý bao gồm tập hợp những quy định có tác dụng điều khiển, điều chỉnh mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý

Sơ đồ 1.1 Mô tả hệ thống cấu trúc hệ thống quản lý

Trang 27

Như vậy, quản lý một tổ chức là sự tác động có ý thức, có chủ đích, có kế hoạch và hợp quy luật của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (những người bị quản lý) nhằm huy động và điều phối mọi nguồn lực cho các hoạt động của tổ chức để đạt tới mục tiêu quản lý trong một môi trường luôn luôn thay đổi

1.2.1.2 Chức năng của quản lý

Chức năng của quản lý là hình thức thể hiện sự tác động có chủ định của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý Đó là tập hợp những nhiệm vụ khác nhau mà chủ thể quản lý phải tiến hành trong quá trình quản lý, gồm:

* Chức năng kế hoạch hóa

Kế hoạch hóa là quá trình thiết lập các mục tiêu của hệ thống, các hoạt động

và các điều kiện đảm bảo thực hiện được các mục tiêu đó [16]

Kế hoạch hóa là nền tảng của quản lí, bao gồm các hoạt động cụ thể sau: + Xác định chức năng, nhiệm vụ và các công việc của đơn vị;

+ Dự báo, đánh giá triển vọng;

+ Lập kế hoạch mục tiêu, chương trình;

Tổ chức là một thuật ngữ có tính đa nghĩa, được sử dụng rất linh hoạt

+ Thứ nhất, tổ chức là một hệ thống gồm nhiều người cùng hoạt động vì mục đích chung

+ Thứ hai, tổ chức là quá trình triển khai các kế hoạch, bao gồm xây dựng những hình thức cơ cấu tổ chức, chỉ đạo thực hiện và kiểm tra đối với kế hoạch

+ Thứ ba, tổ chức là một chức năng của quá trình quản lý Đó là các hoạt động được tiến hành sau khi kế hoạch đã được xây dựng nhằm thực hiện kế hoạch đã đề ra

Trang 28

Chức năng tổ chức là hoạt động quản lý nhằm thiết lập một hệ thống các vị trí cho mỗi cá nhân và bộ phận sao cho các cá nhân và bộ phận đó có thể phối hợp với nhau một cách tốt nhất để thực hiện mục tiêu chiến lược của tổ chức [16]

Vai trò của chức năng tổ chức:

+ Chức năng tổ chức có tầm quan trọng đặc biệt, tổ chức là nhân tố sinh

thành ra hệ toàn vẹn, gọi là hiệu ứng tổ chức như Lênin nói: "Tổ chức sẽ nhân sức mạnh lên gấp mười lần"

+ Thành tựu của khâu tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực và phong cách của chủ thể quản lý Nhờ tổ chức có hiệu quả mà người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn lực Nhờ có tổ chức mà kỷ cương, nề nếp, tác phong làm việc khoa học, sự đoàn kết nhất trí trong tổ chức được đảm bảo; năng

lực, sở trường của mỗi người và mỗi bộ phận được phát huy

* Chức năng chỉ đạo

Chức năng chỉ đạo là quá trình chủ thể sử dụng quyền lực quản lý của mình

để tác động lên hành vi của các phần tử trong tổ chức một cách có chủ đích để tổ chức đi đến mục tiêu Ở chức năng này, chủ thể điều khiển phải thực hiện nhiệm vụ chính là ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định đó Các học giả còn gọi chức năng này là chức năng lãnh đạo, chỉ đạo [16]

Theo nghĩa này, chức năng lãnh đạo, chỉ đạo được hiểu như sau:

+ Lãnh đạo là quá trình tác động đến con người sao cho họ tự nguyện và nhiệt tình phấn đấu để đạt được các mục tiêu của tổ chức, bao gồm các hoạt động chỉ đạo, điều hành, hướng dẫn, phối hợp ra lệnh và đi trước của người quản lý đối với các cá nhân, bộ phận thừa hành trong tổ chức

+ Chỉ đạo là quá trình tập hợp, liên kết các thành viên trong tổ chức; theo sát hoạt động của bộ máy, hướng dẫn, điều chỉnh công việc nhịp nhàng, động viên, khuyến khích, khen thưởng người lao động nhằm đạt mục tiêu của tổ chức

+ Chỉ đạo, lãnh đạo là quá trình tác động đến các thành viên của tổ chức, làm cho họ nhiệt tình, tự giác nỗ lực phấn đấu đạt các mục tiêu của tổ chức, bao gồm: Kích thích động viên; Thông tin hai chiều; Bảo đảm sự hợp tác trong thực tế

Trang 29

* Chức năng kiểm tra

Kiểm tra là việc giúp nhà quản lý phát hiện các sai sót, các ách tắc của tổ chức trong quá trình hoạt động để có giải pháp xử lý, điều chỉnh, tận dụng các nguồn lực để sớm đưa tổ chức đạt đến mục tiêu Chức năng kiểm tra là chức năng

cơ bản và quan trọng của quản lý

Vai trò của chức năng kiểm tra:

+ Kiểm tra có vai trò quan trọng trong quá trình quản lý, là nhu cầu cơ bản để hoàn thành các quyết định quản lý

+ Kiểm tra giúp hoàn thiện các quyết định quản lý về nhiều mặt, khẳng định

sự đúng sai của đường lối, chính sách, mục tiêu, cơ cấu, cơ chế của tổ chức

+ Chủ động ngăn chặn các nhầm lẫn, sai phạm có thể xảy ra trong quá trình quản lý để đảm bảo cho các kế hoạch được thực hiện với hiệu quả cao

+ Là nhu cầu khách quan của mọi thành viên để tránh sự đổ lỗi về trách nhiệm, đồng thời đảm bảo thực thi quyền lực quản lý của người lãnh đạo

+ Giúp tổ chức theo sát và đối phó với sự thay đổi của môi trường (quan hệ cạnh tranh, hợp tác ), xác định chỗ đứng của tổ chức hiện tại, tạo tiền đề cho quá trình hoàn thiện, đổi mới, tìm ra chỗ đứng mới để hướng tới Có thể nói rằng

"không có kiểm tra là không có quản lý"

Các chức năng quản lý có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, đan xen và ảnh hưởng lẫn nhau Khi thực hiện chức năng này thường liên quan đến các chức năng khác ở mức độ khác nhau Có thể mô tả mối quan hệ giữa các chức năng của quản lý theo sơ đồ sau:

Sơ đồ:1.2 Mô tả mối quan hệ giữa các chức năng quản lý

Trang 30

1.2.2 Quản lý giáo dục

* Khái niệm

Nhà nước quản lý mọi hoạt động của xã hội trong đó có giáo dục Nhà nước quản lý giáo dục thông qua tập hợp các tác động hợp quy luật được thể chế hóa bằng pháp luật của chủ thể quản lý, nhằm tác động đến phân hệ quản lý để thực hiện mục tiêu giáo dục mà kết quả cuối cùng là chất lượng, hiệu quả đào tạo thế hệ trẻ

Đã có nhiều nghiên cứu về quản lý nói chung nên cũng có nhiều quan niệm

về quản lý giáo dục (QLGD):

- Theo M.I Mônđacốp: QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau, đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ Bộ đến trường) nhằm mục đích đảm bảo hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như các quy luật của sự giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý trẻ em

Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý làm cho hệ vận hành theo đường lối, nguyên

lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ, đưa giáo dục tiến đến mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất

Từ những quan niệm trên, chúng ta có thể khái quát, QLGD là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng giáo dục nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo, giáo dục thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội Trong hệ thống giáo dục, con người giữ vai trò trung tâm trong mọi hoạt động Con người vừa là chủ thể,vừa là khách thể quản lý Mọi hoạt động giáo dục và QLGD đều hướng vào việc đào tạo

và phát triển nhân cách của thế hệ trẻ Bởi vậy con người là nhân tố quan trọng nhất trong QLGD

* Đặc điểm của QLGD bao giờ cũng có những đặc điểm chung và đặc riêng của lĩnh vực QLGD

Đặc điểm chung của quản lý: Quản lý bao giờ cũng chia thành chủ thể và đối tượng của quản lý; quản lý bao giờ cũng liên quan đến trao đổi thông tin và đều có

Trang 31

mối liên hệ ngược; quản lý bao giờ cũng có khả năng thích nghi; quản lý vừa là khoa học vừa là nghệ thuật; quản lý gắn liền với quyền lực, lợi ích và danh tiếng;

Đặc điểm riêng của lĩnh vực QLGD:

+ QLGD gắn liền với quá trình giáo dục và đào tạo con người, đặc biệt là lao động sư phạm của các nhà giáo;

+ QLGD gắn liền với quyền lực của nhà nước trong việc điều hành, điều chỉnh các hoạt động giáo dục, thông qua việc xây dựng, ban hành và chấp hành các văn bản như luật, điều lệ, các quy trình, quy chế chuyên môn sư phạm;

+ Sản phẩm của giáo dục có tính chất đặc thù là hình thành và phát triển nhân cách cho người học, nên QLGD phải chú ý phòng ngừa, ngăn chặn những sai sót trong công việc tạo ra sản phẩm, cũng như không được tạo ra những “phế phẩm” trong giáo dục

1.2.3 Quản lý nhà trường

* Khái niệm nhà trường:

Nhà trường là một thiết chế riêng biệt của xã hội, thực hiện chức năng kiến tạo những kinh nghiệm xã hội cần thiết cho mọi nhóm dân cư của xã hội đó Nhà trường được tổ chức sao cho việc kiến tạo nói trên đạt được mục đích xã hội đó đặt

ra cho các nhóm dân cư, được huy động vào sự kiến tạo này một cách tối ưu theo quan niệm của xã hội đó

Quá trình sư phạm là quá trình kiến tạo các điều kiện và cơ hội để các cá nhân lĩnh hội, chiếm lĩnh kinh nghiệm xã hội, thực hiện xã hội hóa nhân cách của mình Nhà trường kiến tạo các kinh nghiệm xã hội thông qua quá trình sư phạm, hay nói cách khác nhà trường là thiết chế chủ yếu để thực hiện quá trình sư phạm

Trong bối cảnh hiện đại, nhà trường được thừa nhận rộng rãi như một thiết chế chuyên biệt của xã hội để giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ thành những công dân

có ích cho tương lai Thiết chế đó có mục đích rõ ràng, có tổ chức chặt chẽ, được cung ứng những nguồn lực cần thiết cho việc thực hiện những chức năng của mình

mà không một thiết chế nào có thể thay thế được

* Quản lý nhà trường:

Trang 32

Bản chất của việc quản lý nhà trường là quản lý hoạt động dạy - học, tức là làm sao đưa được hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần tiến tới

mục tiêu giáo dục

Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: Quản lý nhà trường là những tập hợp tối ưu (cộng tác, tham gia, hỗ trợ, phối hợp, huy động, can thiệp…) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và các cán bộ khác Nhằm tận dụng các nguồn dự trữ

do nhà nước đầu tư, xã hội đóng góp, do lao động xây dựng và vốn lao động tự có hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường, mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ Thực hiện có chất lượng mục tiêu và có kế hoạch đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới

Theo Phạm Viết Vượng: Quản lý nhà trường là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao giáo dục

và đào tạo trong nhà trường

* Quản lý nhà trường bao gồm hai tác động sau:

Tác động của những chủ thể quản lý bên trên và bên ngoài nhà trường: Đó là tác động quản lý của cơ quan QLGD cấp trên nhằm hướng dẫn và tạo điều kiện cho hoạt động giảng dạy, học tập, giáo dục của nhà trường, hoặc những chỉ dẫn, những quyết định của các thực thế bên ngoài nhà trường, nhưng có liên quan trực tiếp đến hoạt động của nhà trường, như cộng đồng được đại diện dưới hình thức hội đồng giáo dục, nhằm định hướng cho sự phát triển của nhà trường và hỗ trợ, tạo điều kiện cho việc thực hiện phương hướng phát triển đó;

Tác động của những chủ thể quản lý bên trong nhà trường: Bao gồm các hoạt động quản lý giáo viên, quản lý học sinh, quản lý quá trình dạy học - giáo dục, quản

lý cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học, quản lý tài chính trường học, quản lý mối quan hệ giữa trường học và cộng đồng

Như vậy quản lý nhà trường chính là QLGD trong một phạm vi xác định đó

là nhà trường (đơn vị quản lý giáo dục) Quản lý nhà trường là một hoạt động được thực hiện trên cơ sở những quy luật chung của quản lý, đồng thời có những nét riêng mang tính đặc thù của giáo dục Vì vậy quản lý nhà trường cần vận dụng tất

Trang 33

cả các nguyên lý chung của QLGD để đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường theo mục tiêu đào tạo

Tóm lại, nhà trường là một thành tố cơ bản của hệ thống giáo dục, nên quản

lý nhà trường cũng được hiểu như là một bộ phận của QLGD Thực chất của quản

lý nhà trường, suy cho cùng là tạo điều kiện cho các hoạt động trong nhà trường vận hành theo đúng mục tiêu, tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam

1.2.4 Chương trình giáo dục

Theo Bobbitt (1924), chương trình giáo dục có thể được định nghĩa theo hai hướng: Đó là một loạt các hoạt động nhằm phát hiện khả năng của mỗi người học; hoặc là một loạt các hoạt động có chủ định nhằm hoàn thiện người học

Dựa trên định nghĩa của Bobbit, năm 1935, Hollis và Doak Campbell cho rằng chương trình giáo dục “bao gồm tất cả những hiểu biết và kinh nghiệm mà người học có được sự hướng dẫn của nhà trường” [8], [11]

Đến giữa những năm 50 của thế kỉ trước, ảnh hưởng của xã hội tới nhà trường ngày càng rõ hơn, và HS không chỉ học được những gì có trong trường học,

mà còn tiếp nhận nhiều kinh nghiệm phong phú trong đời sống xã hội Do vậy, định nghĩa về chương trình giáo dục được mở rộng hơn, không chỉ đơn thuần là những nội dung học được trong nhà trường “Chương trình giáo dục là tất cả các hoạt động học tập của người học và được kế hoạch hoá bởi trường học nhằm đạt được những mục đích của giáo dục.”

Tới những năm 90 của thế kỉ XX và kéo dài đến những năm đầu của thế kỷ XXI, những quan niệm về chương trình giáo dục có những thay đổi to lớn Ví dụ, William Doll Jr (1993) cho rằng một hệ thống giáo dục theo trình tự tuyến tính và định lượng như hiện nay sẽ nhường chỗ cho một hệ thống giáo dục đa dạng và phức tạp hơn, ít có tính ổn định hơn Một hệ thống như vậy, như chính cuộc sống, sẽ luôn vận động và thay đổi [8]

Cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau trong việc định nghĩa về chương trình giáo dục

+ Từ điển bách khoa quốc tế về Giáo dục (Oxfofd) đã thống kê 9 định nghĩa khác nhau về chương trình giáo dục [31]

Trang 34

+ Theo K.Frey, chương trình giáo dục được định nghĩa như sau: “Chương trình giáo dục là sự trình bày, diễn tả có hệ thống việc dạy – học được dự kiến trong một khoảng thời gian xác định mà sản phẩm của sự trình bày đó là một hệ thống xác định các thành tố khác nhau nhằm chuẩn bị, thực hiện và đánh giá một cách tối ưu việc dạy – học” Đây là định nghĩa được nhiều nhà nghiên cứu và thực hành quan tâm [11]

Ngày nay, quan niệm về các thành tố của chương trình đã bỏ qua quan niệm truyền thống Chương trình không chỉ là việc trình bày mục tiêu cuối cùng và bảng danh mục các nội dung giảng dạy Cụ thể hơn và bao quát hơn chương trình, theo quan niệm hiện đại là một phức hợp gồm các bộ phận cấu thành: Mục tiêu học tập; Phạm vi, mức độ và cấu trúc nội dung học tập; Các phương pháp, hình thức tổ chức học tập; Đánh giá kết quả học tập Như vậy, cấu trúc của chương trình bao gồm hai khía cạnh chính: sự hình dung trước những kết quả mà học sinh sẽ đạt được sau một thời gian học

Theo lập luận trên, kết luận rằng, Chương trình giáo dục là sự trình bày có hệ thống một kế hoạch tổng thể các hoạt động giáo dục trong một thời gian xác định, trong đó nêu lên các mục tiêu học tập mà người học cần đạt được, đồng thời xác định rõ phạm vi, mức độ nội dung học tập, các phương tiện, phương pháp, cách thức tổ chức học tập, cách đánh giá kết quả học tập v.v nhằm đạt được các mục

tiêu học tập đề ra (Nguyễn Hữu Chí, Viện KHGD năm 2002)

1.3 ý luận về thực hiện chương trình giáo dục mầm non cho trẻ mẫu giáo theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm

1.3.1 Đặc điểm trường Mầm non

Trường MN là đơn vị cơ sở của bậc giáo dục mầm non trong hệ thống giáo dục quốc dân, là đơn vị giáo dục đặc biệt với đội ngũ GV hầu hết là nữ và đối tượng giáo dục là những cháu bé từ 0 - 6 tuổi [4], [19]

Trường đảm nhận việc nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục trẻ em nhằm giúp trẻ

em hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp Một Trường mầm non có tư cách pháp nhân và có con dấu riêng

Trang 35

1.3.2 Vị trí, vai trò của GDMN trong hệ thống giáo dục quốc dân

Giáo dục là quá trình được tổ chức có ý thức, hướng tới mục đích khơi gợi hoặc biến đổi nhận thức, năng lực, tình cảm, thái độ của người dạy và người học theo hướng tích cực Giáo dục bao gồm việc dạy và học, đôi khi nó cũng mang ý nghĩa như là quá trình truyền thụ, phổ biến tri thức, truyền thụ sự suy luận đúng đắn, truyền thụ sự hiểu biết Giáo dục là nền tảng cho việc truyền thụ để đánh thức

và nhận ra khả năng, năng lực tiềm ẩn của chính mỗi cá nhân, đánh thức trí tuệ của mỗi người

- GDMN là bộ phận trong hệ thống giáo dục quốc dân GDMN thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục trẻ em từ 3 tháng tuổi đến 6 tuổi GDMN có mục tiêu, nhiệm vụ quan trọng nhằm giáo dục toàn diện cho trẻ về thể chất, tình cảm, đạo đức, thẩm mỹ, trí tuệ là cơ sở để hình thành nên nhân cách con người mới

xã hội chủ nghĩa Việt Nam và chuẩn bị những tiền đề cần thiết cho trẻ bước vào trường tiểu học được tốt [10]

Chương trình GDMN là sự trình bày có hệ thống một kế hoạch tổng thể các hoạt động giáo dục trong một thời gian xác định, trong đó thể hiện các mục tiêu mà người học cần đạt được đồng thời xác định rõ phạm vi, mức độ, nội dung, các phương tiện, phương pháp, cách thức tổ chức học tập và cách thức đánh giá kết quả học tập nhằm đạt được mục tiêu đề ra

GDMN không phải là dạy trẻ thơ đọc chữ, học kiến thức khoa học Đây là loại hình giáo dục đặc biệt, là sự chuẩn bị cho trẻ thơ những tiền đề quan trọng trước khi bước vào trường phổ thông, thông qua sự chăm sóc ân cần, đúng phương pháp khoa học, phù hợp với sự phát triển tâm-sinh lý của trẻ, để nuôi dưỡng thể chất và tâm hồn cho trẻ Các yếu tố có ảnh hưởng sâu sắc tới chất lượng chăm sóc

và giáo dục trẻ thơ bao gồm: chủ trương, chính sách vĩ mô, sự vận dụng và thực hiện của ngành học và các cấp quản lý, kiến thức khoa học và sự nỗ lực của những người công tác tại các cơ sở giáo dục mầm non Những yếu tố đó có mối quan hệ chặt chẽ, cùng hướng tới mục tiêu giúp cho trẻ thơ thực sự thụ hưởng những thành quả tốt nhất của chế độ xã hội Cơ sở vật chất của giáo dục mầm non công lập tại các khu đô thị, các thành phố lớn đã được nâng cấp đáng kể; với chương trình kiên

Trang 36

cố hóa, xây dựng trường chuẩn quốc gia, nhiều cơ sở giáo dục mầm non đang dần tiến tới hiện đại hóa, chuẩn hóa” [10]

GDMN là bậc học đầu tiên, bậc học nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam Nhiệm vụ thu hút trẻ từ 3 tháng đến 6 tuổi, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ tạo thành một quá trình giáo dục thống nhất và liên tục GDMN có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp giáo dục con người vì:

+ Trẻ sẽ nhận được sự chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục một cách khoa học điều độ tạo điều kiện cho trẻ phát triển tốt nhất về mọi mặt

+ Tạo môi trường hoạt động và vui chơi để cho trẻ có thể phát triển những nét tính cách cơ bản trong nhân phẩm của trẻ

Lý luận về chương trình GDMN cho trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi) nằm trong khung quy định nội dung GDMN, tuy nhiên đối với lứa tuổi 5 - 6 thì nội dung giáo dục mang tính bản lề, là giai đoạn chuyển tiếp cho trẻ vào lớp một Ở độ tuổi này, trẻ

đã hình thành và tư duy bắt đầu phát triển, mức độ tiếp nhận tri thức cũng lớn hơn so với mẫu giáo nhỏ Vì vậy, căn cứ xây dựng mục tiêu, nội dung, phương pháp cho trẻ mẫu giáo lớn cần dựa trên cơ sở nội dung GDMN [4], [19], [22]

1.3.3 Mục tiêu chương trình giáo dục mầm non

- Mục tiêu của GDMN là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp một

+ Phát triển giáo dục mầm non là nền tảng cho sự phát triển nguồn lực con người, phục vụ trực tiếp cho mục tiêu phổ cập tiểu học và trung học cơ sở của thế kỷ XXI Nhiều công trình nghiên cứu khoa học trên thế giới và ở Việt Nam đã chứng minh lợi ích của việc can thiệp vào lứa tuổi mầm non là rất to lớn và lâu dài Việc chăm sóc sức khỏe của trẻ một cách khoa học từ khi trẻ còn nhỏ sẽ giảm đáng kể nguy cơ trẻ bị suy dinh dưỡng, bảo đảm sự phát triển bền vững của thể chất Mặt khác, trí tuệ, tích cách, hành vi xã hội của đứa trẻ được hình thành trong những năm đầu của cuộc đời [Chương 2 Điều 23,24 Luật giáo dục năm 2005]

Trang 37

+ GDMN theo hướng đa dạng hóa các loại hình để đảm bảo cho số trẻ đều được hưởng sự chăm sóc giáo dục theo khao học Đồng thời đa dạng hóa các loại hình nhằm thu hút thêm các nguồn lực đầu tư cho giáo dục mầm non Giáo dục mầm non còn được thực hiện thông qua việc tuyên truyền phổ biến kiến thức cho các bậc cha mẹ

+ Không ngừng nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ phù hợp với đòi hỏi của sự phát triển kinh tế - xã hội đối với giáo dục và đào tạo trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Giáo dục mầm non có chất lượng cao sẽ là phương tiện tuyên truyền tốt nhất cho vị trí tác dụng của ngành, từ đó có thể huy động được sự đầu tư, đóng góp của xã hội cho giáo dục mầm non

Mục tiêu giáo dục được đưa vào chương bao gồm mục tiêu giáo dục cho trẻ cuối độ tuổi nhà trẻ và mẫu giáo Mục tiêu giáo dục được xây dựng theo các lình vực phát triển (bốn lĩnh vực phát triển đối với nhà trẻ và năm lĩnh vực phát triển đối với mẫu giáo) gồm: thể chất, ngôn ngữ, nhận thức, tình cảm –xã hội , thẩm mĩ nhằm hình thành, phát triển tối đa tiềm năng vốn có ở trẻ và hình thành những giá trị, những kĩ năng sống cần thiết, phù hợp với yêu cầu của gia đình, cộng đồng,xã hội,chuẩn bị tốt cho trẻ vào học giai đọan sau

1.3.4 Nội dung và phương pháp giáo dục mầm non cho trẻ 5-6 tuổi

Nội dung GDMN phải bảo đảm tính khoa học, tính vừa sức và nguyên tắc đồng tâm phát triển từ dễ đến khó; đảm bảo tính liên thông giữa các độ tuổi, giữa nhà trẻ, mẫu giáo và cấp tiểu học; thống nhất giữa nội dung giáo dục với cuộc sống hiện thực, gắn với cuộc sống và kinh nghiệm của trẻ, chuẩn bị cho trẻ từng bước hào nhập vào cuộc sống

Phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ em hài hòa giữa nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục; giúp trẻ em phát triển cơ thể cân đối, khỏe mạnh, nhanh nhẹn; biết kính trọng, yêu mến, lễ phép với ông bà, cha mẹ, thầy cô giáo và người trên; yêu kính anh, chị, em, bạn bè, thật thà, mạnh dạn, hồn nhiên, yêu thích cái đẹp; ham hiểu biết, thích đi học [2]

Trang 38

Nội dung giáo dục trẻ được đổi mới theo hướng đảm bảo tính tích hợp giữa nội dung nuôi dưỡng, chăm sóc sức khỏe với giáo dục phát triển, nâng cao chất lượng chăm sóc trẻ trong trường mầm non hiện nay

Bổ sung một số nội dung thiết thực đảm bảo giáo dục toàn diện và gắn với cuộc sống thực hàng ngày của trẻ

Nội dung giáo dục được xây dựng và cấu trúc theo các lĩnh vực: phát triển thể chất, phát triển nhận thức, phát triển ngôn ngữ; phát triển tình cảm – xã hội và phát triển thẩm mĩ

Các lĩnh vực nội dung giáo dục sẽ được tổ chức theo hướng tích hợp chủ đề Các chủ đề được xây dựng mở rộng dần từ đơn giản đến phức tạp, từ gần đến xa, từ bản thân trẻ đến gia đình, môi trường tự nhiên và môi trường xã hội gần gũi với trẻ

Nội dung GDMN theo hướng đổi mới cơ bản như sau:

+ Nội dung nuôi dưỡng, chăm sóc sức khỏe đã chú trong, nhấn mạnh hơn so với chương trình hiện hành các yêu cầu về tổ chức thực hiện nội dung chăm sóc ăn, ngủ, vệ sinh, chăm sóc sức khỏe và phòng bệnh, an toàn cho trẻ Đặc biệt đưa ra các nhiệm vụ cần thiết nhất mà người GV, người chăm sóc trẻ cần phải thực hiện trong quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng và chăm sóc sức khỏe phù hợp với trẻ ở lứa tuổi nhà trẻ và mẫu giáo

+ Nội dung giáo dục: Chương trình GDMN theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm gồm những nội dung cốt lõi, cơ bản phù hợp với độ tuổi; chương trình có độ

mở, cho phép linh hoạt nhằm tăng cường tính chủ động của giáo viên trong việc lựa chọn những nội dung giáo dục cụ thể phù hợp với kinh nghiệm sống và khả năng của trẻ, điều kiện thực tế của địa phương Nội dung giáo dục trẻ nhà trẻ từ 3 - 36 tháng và trẻ mẫu giáo 3 - 6 tuổi được cấu trúc theo các lĩnh vực: Phát triển thể chất; phát triển ngôn ngữ; phát triển nhận thức; phát triển tình cảm xã hội Nội dung phát triển thẩm mĩ được lồng ghép trong nội dung phát triển tình cảm – xã hội đối với trẻ nhà trẻ Đối với trẻ mẫu giáo, nội dung phát triển thẩm mĩ là một lĩnh vực giáo dục riêng [4]

Trang 39

1.3.5 Yêu cầu về phương pháp, hình thức giáo dục cho trẻ 5 - 6 tuổi theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm

Phương pháp chủ yếu trong giáo dục mầm non là thông qua việc tổ chức các hoạt động vui chơi để giúp trẻ em phát triển toàn diện; chú trọng dạy trẻ phương pháp học, chú trọng trẻ “ học như thế nào” hơn là “học cái gì”; coi trọng quá trình hoạt động hơn là kết quả hoạt động; học một cách tích cực qua tìm hiểu, trải nghiệm; học thông qua giao tiếp, sự gắn bó, hợp tác giữa trẻ với người lớn và giữa trẻ với trẻ; Coi trọng tiếp cận cá nhân trong chăm sóc giáo dục trẻ; chú trọng tổ chức hoạt động chủ đạo của từng độ tuổi; Vận dụng phương pháp với nhiều hình thức đa dạng phong phú đáp ứng nhu cầu hứng thú và phát huy tính tích cực ở trẻ; chú trọng việc nêu gương, động viên, khích lệ

Coi trọng việc tổ chức môi trường cho trẻ hoạt động: tạo môi trường GD an toàn về thể chất lẫn tinh thần; thân thiện, khuyến khích trẻ tương tác với giáo viên, bạn bè, với các học liệu, đồ chơi, với môi trường xung quanh phù hợp nội dung chương trình GDMN; Xây dựng các khu vực hoạt động, tạo môi trường kích thích trẻ hoạt động tích cực, sáng tạo phù hợp với độ tuổi và từng cá nhân trẻ; Tận dụng các điều kiện, hoàn cảnh sẵn có ở địa phương, sử dụng các nguyên liệu, vật liệu sẵn

có ở các khu vực, các góc họat động,…một cách phong phú đa dạng Tạo điều kiện cho trẻ gần gũi với thiên nhiên, với cuộc sống gia đình, tăng cường sự giao tiếp của trẻ với nôi trường tự nhiên, môi trường xã hội

Các họat động tổ chức với các hình thức đa dạng, phong phú, đáp ứng các nhu cầu, hứng thú họat động của trẻ

Các phương pháp được sử dụng, phối hợp một cách hợp lí nhằm phát huy ở trẻ tính chủ động, tích cực họat động để phát triển, đảm bảo trẻ “học bằng chơi, chơi

mà học” [3], [7]

1.3.6 Nghiệp vụ quản lý trường Mầm non

Nghiệp vụ quản lý trường mầm non mà người quản lý cần biết là: Xây dựng

kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch; Quản lý số lượng trẻ trong trường mầm non; Quản lý các hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục trẻ

Trang 40

Nội dung quản lý các hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục trẻ chính

là quản lý việc thực hiện chương trình Giáo dục mầm non Nói cách khác, quản lý thực hiện chương trình Giáo dục mầm non tốt chính là đã thực hiện tốt quản lý các hoạt động chăm sóc- nuôi dưỡng và giáo dục trẻ Bởi vì chương trình Giáo dục mầm non bao gồm cả nuôi dưỡng và giáo dục trẻ

Quản lý việc thực hiện chương trình Giáo dục mầm non không thể không xem xét đến việc quản lý việc xây dựng kế hoạch, quản lý số lượng trẻ, quản lý đội ngũ Cán bộ - Giáo viên - Công nhân viên, quản lý tài chính và cơ sở vật chất trong trường mầm non, quản lý công tác hành chính trong trường mầm non, quản lý thực hiện công tác xã hội hóa giáo dục, quản lý công tác kiểm tra nội bộ và quản lý việc

tổ chức khoa học lao động quản lý trong trường mầm non Tất cả những nội dung trên đều gắn bó chặt chẽ, là những hoạt động quản lý cơ bản trong trường mầm non, làm tốt tất cả các hoạt động quản lý trên tức là đã làm tốt công tác quản lý việc thực hiện chương trình Giáo dục mầm non nói riêng và công tác quản lý nhà trường nói chung [16]

1.3.7 Chương trình Giáo dục mầm non

Giáo dục trẻ là nhằm mục đích thực hiện các yêu cầu của sự phát triển Quá trình giáo dục thực hiện các nhiệm vụ hình thành và phát triển ở trẻ những tri thức,

sự hiểu biết và những khả năng, kỹ năng hành động, sự hiểu biết về những chuẩn mực, quy tắc, hành vi, ứng xử, những giá trị của nhân cách… Việc lựa chọn những nội dung giáo dục cần thiết phải đảm bảo đạt được những mục tiêu giáo dục đã đề

ra Trong sự tương tác với trẻ, người giáo viên mầm non cần lựa chọn và sử dụng những phương pháp, những cách thức khác nhau để tổ chức các hoạt động cho trẻ, dựa trên sự hiểu biết về những nguyên tắc cơ bản của quá trình giáo dục, về những đặc điểm phát triển tâm – sinh lý của trẻ ở các độ tuổi khác nhau và đặc điểm riêng biệt của mọi cá nhân trẻ Trong chương trình giáo dục, mục đích, mục tiêu, nhiệm

vụ, nội dung hình thức, phương pháp – biện pháp giáo dục trẻ cần được xác định một cách cụ thể, phù hợp với điều kiện giáo dục Điều này giúp cho quá trình giáo dục được chuẩn bị và thực hiện một cách có tổ chức nhất và đem lại hiệu quả cao, đồng thời cũng làm tăng vai trò hướng dẫn của người giáo viên trong quá trình giáo

Ngày đăng: 21/06/2021, 21:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w