Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu thực tiễn cũng chỉ ra những hạn chế cần phải khắc phục như: - Các trường còn hạn chế trong thực hiện nội dung, hình thức hoạt động phòng ngừa bệnh sởi, b
Trang 1UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
LÊ THỊ PHƯỢNG HUỲNH
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHÒNG CHỐNG DỊCH BỆNH CHO TRẺ MẦM NON TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ BẾN CÁT
Trang 2UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
LÊ THỊ PHƯỢNG HUỲNH
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHÒNG CHỐNG DỊCH BỆNH CHO TRẺ MẦM NON TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ BẾN CÁT
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất
kỳ công trình nào khác
Lê Thị Phượng Huỳnh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến quý thầy cô trường Đại học Thủ Dầu Một đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Chân cảm ơn quý Thầy Cô đã truyền đạt kiến thức vô cùng quý báu qua từng môn học trong suốt quá trình tôi học tập tại Trường
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với cô hướng dẫn: TS Vũ Lan Hương đã tận tình hướng dẫn, chỉ dạy tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Chân thành cảm ơn gia đình, người thân, đồng nghiệp đã động viên, tạo điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành luận văn này
Bản thân đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn song không thể tránh khỏi những thiếu sót Kính mong quý Thầy/Cô chỉ dẫn để luận văn được hoàn thiện hơn
Trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Trang 5TÓM TẮT
Chăm sóc sức khỏe ban đầu đạt hiệu quả là mục tiêu quan trọng trong công tác giáo dục toàn diện cho trẻ trong trường mầm non Sức khỏe có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển toàn diện cho trẻ Để trẻ có sức khỏe vui chơi và học tập người lớn cần tích cực quan tâm, chăm sóc và có những biện pháp vệ sinh phòng ngừa dịch bệnh để bảo vệ sức khỏe cho trẻ Phòng ngừa bệnh là tổ chức và thực hiện các biện pháp dự phòng cho trẻ không mắc bệnh như: nuôi dưỡng đầy đủ, tiêm chủng, luyện tập sức khỏe, vệ sinh môi trường Đối với trẻ em, cơ thể trẻ còn non yếu về chức năng và và các bộ phận cơ thể, nhất là chức năng tiêu hóa, là giai đoạn trẻ thích ứng với môi trường, nhạy cảm với bệnh tật vì vậy trẻ dễ mắc bệnh truyền nhiễm, nguy cơ gây tử vong cao Tổ chức tốt hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ tại trường mầm non sẽ giảm những dịch bệnh, giúp cho trẻ phát triển tốt về thể lực cũng như trí tuệ, góp phần nâng cao chất lượng công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ tại các trường Mầm non
Đề tài đã tập trung nghiên cứu về cơ sở lý thuyết và khảo sát thực trạng về quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ tại trường mầm non trên địa bàn thị xã Bến Cát, Bình Dương Kết quả nghiên cứu lý luận đã trình bày rõ những khái niệm, nội dung, hình thức và phương pháp thực hiện hiệu quả hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ trong trường mầm non, cũng như trong công tác quản lý hoạt động này Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu thực tiễn cũng chỉ ra những hạn chế cần phải khắc phục như:
- Các trường còn hạn chế trong thực hiện nội dung, hình thức hoạt động phòng ngừa bệnh sởi, bệnh quai bị, tiêu chảy, cảm cúm và viêm đường hô hấp;
- Các trường hạn chế trong tăng cường kiểm tra công tác phòng, chống dịch tại các ổ dịch cũ, vùng trọng điểm;
- Kế hoạch thực hiện công tác y tế – vệ sinh trường học còn hạn chế; các trường chưa xây dựng hiệu quả kế hoạch bồi dưỡng kiến thức cho đội ngũ giáo viên, nhân viên biện pháp phòng chống dịch bệnh theo mùa;
- Trong tổ chức thực hiện kế hoạch, các trường chưa thường xuyên cập nhật tình hình học sinh nghỉ học do mắc các bệnh truyền nhiễm và báo ngay cho
Trang 6Phòng GD&ĐT, trạm Y tế xã khi thấy xuất hiện các ca bệnh trong nhà trường; Chưa thực hiện nghiêm chế độ báo cáo kịp thời khi phát hiện trẻ có các dấu hiệu mắc bệnh về Y tế địa phương; Phòng GD-ĐT; Trung tâm Y tế dự phòng xử lý kịp thời không để lây lan trong trường học;
- Các trường còn hạn chế trong chỉ đạo phối kết hợp chặt chẽ giữa các bộ phận và các lớp, giữa nhà trường với phụ huynh học sinh và các cơ quan hữu quan;
- Công tác kiểm tra thực hiện tốt kế hoạch, giao nhiệm vụ cũng như trong kiểm tra chế độ báo cáo kịp thời khi phát hiện trẻ có các dấu hiệu mắc bệnh cho các cơ quan địa phương liên quan còn hạn chế trong quá trình thực hiện
Qua đó, người nghiên cứu đã đề xuất được 5 biện pháp mang tính khả thi
và cần thiết khi vận dụng vào trong thực tế, góp phần nâng cao kết quả trong quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ tại trường mầm non trên địa bàn thị xã Bến Cát, Bình Dương, cụ thể:
- Nâng cao nhận thức cho đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý về mục tiêu phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở trường mầm non
- Xây dựng kế hoạch thực hiện công tác y tế – vệ sinh trường học
- Tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên y tế nhằm đáp ứng tốt yêu cầu trong phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở trường mầm non
- Phối hợp đồng bộ các lực lượng trong và ngoài nhà trường nhằm phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở trường mầm non
- Tăng cường công tác kiểm tra phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở trường mầm non
Trang 7MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT x
DANH MỤC CÁC BẢNG xi
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3
3.1 Khách thể nghiên cứu 3
3.2 Đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 4
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 5
6.1 Về nội dung 5
6.2 Về thời gian 5
6.3 Về địa bàn 5
7 Phương pháp luận và phương nghiên cứu 5
7.1 Phương pháp luận 5
7.1.1 Quan điểm lịch sử - logic 5
7.1.2 Quan điểm cấu trúc – hệ thống 5
7.1.3 Quan điểm thực tiễn 6
7.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể 6
7.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận 6
7.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 6
7.2.3 Phương pháp xử lý thông tin 7
8 Cấu trúc luận văn 8
Trang 8Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHÒNG CHỐNG
DỊCH BỆNH CHO TRẺ Ở TRƯỜNG MẦM NON 9
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 9
1.1.1 Nghiên cứu trên thế giới 9
1.1.2 Nghiên cứu ở Việt Nam 11
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 15
1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục, Quản lý trường mầm non 15
1.2.2 Trẻ mầm non, dịch bệnh, phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non 20
1.2.3 Quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non 22
1.3 Hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non 23
1.3.1 Trường mầm non trong hệ thống giáo dục quốc dân 23
1.3.2 Đặc điểm trẻ mầm non 24
1.3.3 Mục đích hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non 25
1.3.4 Nội dung phòng chống dich bệnh cho trẻ mầm non 25
1.3.5 Hình thức hoạt động phòng chống dich bệnh cho trẻ mầm non 43
1.3.6 Các điều kiện thực hiện hoạt động phòng chống dich bệnh cho trẻ mầm non 44 1.4 Quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non 45
1.4.1 Chủ thể quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non 45
1.4.2 Ý nghĩa của quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non 46
1.4.3 Chức năng của quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non 47 1.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non 55
1.5.1 Những yếu tố khách quan 55
1.5.2 Những yếu tố chủ quan 56
Tiểu kết chương 1 57
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHÒNG CHỐNG DỊCH BỆNH CHO TRẺ TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG 58
2.1 Khái quát về điện bàn nghiên cứu 58
Trang 92.1.1 Khái quát về tình hình phát triển kinh tế- xã hội ở thị xã Bến Cát, tỉnh Bình
Dương 58
2.1.2 Khái quát về tình hình giáo dục mầm non ở thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương 58
2.2 Tổ chức khảo sát thực trạng quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh tại các trường mầm non trên địa bàn thị xã Bến Cát 60
2.2.1 Mục đích khảo sát thực trạng 60
2.2.2 Khách thể khảo sát 60
2.2.3 Nội dung khảo sát 62
2.2.4 Phương pháp khảo sát 62
2.2.5 Xử lý kết quả khảo sát 63
2.3 Thực trạng hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ tại các trường mầm non trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương 64
2.3.1 Thực trạng nhận thức của giáo viên, cán bộ quản lý, phụ huynh trẻ trong phòng chống dịch bệnh 64
2.3.2 Thực trạng nội dung hoạt động phòng chống dịch bệnh trong nhà trường mầm non 67
2.3.3 Thực trạng hình thức phòng chống dịch bệnh trong nhà trường mầm non 69
2.4 Thực trạng quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non tại thị xã Bến Cát tỉnh Bình Dương 72
2.4.1 Thực trạng nhận thức về ý nghĩa quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh trong trường mầm non 72
2.4.2 Thực trạng xây dựng kế hoạch hoạt động phòng chống dịch bệnh trong trường mầm non 73
2.4.3 Thực trạng tổ chức hoạt động phòng chống dịch bệnh trong trường mầm non 76 2.4.4 Thực trạng chỉ đạo hoạt động phòng chống dịch bệnh trong trường mầm non 79 2.4.5 Thực trạng kiểm tra thực hiện kế hoạch hoạt động phòng chống dịch bệnh trong trường mầm non 82
Trang 102.5 Thực trạng các yếu tổ ảnh hưởng đến quản lý hoạt động phòng chống dịch
bệnh trong trường mầm non 85
2.6 Đánh giá chung công tác quản lý hoạt động phòng cống dịch bệnh cho trẻ trong trường mầm non trên địa bàn thị xã Bến Cát 87
2.6.1 Ưu điểm 87
2.6.2 Hạn chế 87
Tiểu kết chương 2 89
Chương 3: CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG DỊCH BỆNH CHO TRẺ Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ BẾN CÁT, BÌNH DƯƠNG 90
3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 90
3.1.1 Đảm bảo tính mục tiêu 90
3.1.2 Đảm bảo tính thực tiễn 90
3.1.3 Đảm bảo tính khoa học 90
3.1.4 Đảm bảo tính kế thừa 91
3.1.5 Đảm bảo tính khả thi và vừa sức 91
3.2 Các biện pháp trong quản lý phòng chống dịch bệnh cho trẻ tại các trường mầm non trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương 91
3.2.1 Nâng cao nhận thức cho đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý về mục tiêu phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở trường mầm non 91
3.2.2 Xây dựng kế hoạch thực hiện công tác y tế – vệ sinh trường học 93
3.2.3 Tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên y tế nhằm đáp ứng tốt yêu cầu trong phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở trường mầm non 95
3.2.4 Phối hợp đồng bộ các lực lượng trong và ngoài nhà trường nhằm phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở trường mầm non 97
3.2.5 Tăng cường công tác kiểm tra phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở trường mầm non 99
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 101
3.4 Tổ chức khảo nghiệm các biện pháp đề xuất 102
Trang 113.4.1 Thực hiện khảo nghiệm 102
3.4.2 Kết quả thực hiện khảo nghiệm 103
Tiểu kết chương 3 107
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 108
1 Kết luận 108
2 Kiến nghị 109
2.1 Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo 109
2.2 Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo 109
2.3 Đối với Phòng Giáo dục và Đào tạo thị xã Bến Cát 109
2.4 Đối với các trường mầm non và gia đình 110
TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
PHỤ LỤC 113
PHỤ LỤC 1: PHIẾU KHẢO SÁT Ý KIẾN 1
PHỤ LỤC 2: PHIẾU KHẢO SÁT Ý KIẾN 6
PHỤ LỤC 3: PHIẾU KHẢO SÁT TÍNH CẦN THIẾT VÀ KHẢ THI 15
PHỤ LỤC 4: KẾ HOẠCH PHỎNG VẤN 17
PHỤ LỤC 5: BIÊN BẢN PHỎNG VẤN 19
PHỤ LỤC 6: DANH SÁCH PHỎNG VẤN 22
PHỤ LỤC 7: XỬ LÝ KHẢO SÁT 23
Trang 13DANH MỤC CÁC BẢNG
1 Bảng 2.1 Các trường mầm non tham gia khảo sát 60
3 Bảng 2.3 Bảng quy ước mức độ của thang đó theo điểm
Bảng 2.9 Thực trạng nhận thức của giáo viên cán bộ quản
lý trong công tác quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh
Trang 1415 Bảng 2.15 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng hoạt động
16 Bảng 3.1 Tiêu chí đánh giá trong phòng chống dịch bệnh
17 Bảng 3.2 Kết quả đánh giá tính cần thiết của các biện pháp 103
18 Bảng 3.3 Kết quả đánh giá tính khả thi của các biện pháp 105
Trang 15MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trẻ em là hạnh phúc của gia đình, là tương lai của đất nước Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành cho các cháu thiếu niên, nhi đồng tình thương yêu
và quan tâm đặc biệt Với Bác, trẻ em là những mầm non, những người chủ
tương lai của đất nước Bác nói: “cái mầm có xanh thì cây mới vững, cái búp có xanh thì lá mới tươi quả mới tốt, con trẻ có được nuôi dưỡng giáo dục hẳn hoi thì dân tộc mới tự cường tự lập”; “Giáo dục Mầm non tốt sẽ mở đầu cho nền giáo dục tốt” Vì vậy nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục là nhiệm vụ rất
quan trọng trong quá trình đổi mới và phát triển sự nghiệp giáo dục Mầm non
hiện nay cũng như ươm “những mầm non tươi xanh” cho đất nước
Trong năm qua, thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ kính yêu, Đảng và Nhà nước ta luôn coi nhiệm vụ bảo vệ và chăm sóc trẻ em là một trong những nội dung cơ bản của chiến lược con người, góp phần tạo ra nguồn nhân lực cho quá trình đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Chính vì vậy,
dù trong điều kiện, hoàn cảnh nào, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn có những chính sách đúng đắn, ưu tiên đầu tư hàng đầu cho sự nghiệp giáo dục, bảo
vệ và chăm sóc trẻ em Các tổ chức chính trị - xã hội, nhà trường, gia đình và toàn xã hội luôn quan tâm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho trẻ
Mục tiêu của chương giáo dục mầm non ban hành kèm theo Thông tư số 17/TT-BGDĐT ngày 25 tháng 7 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo và Thông tư số 28/2016/TT-BGDĐT ngày 30 tháng 12 năm 2016 sửa đổi bổ sung Thông tư 17/ TT-BGDĐT là giúp trẻ em phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách con người, chuẩn bị đầy đủ tâm thế cho trẻ em bước vào lớp một; hình thành và phát
triển ở trẻ những chức năng tâm sinh lí, năng lực và phẩm chất mang tính nền
tảng, những kĩ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi Vì vậy, một đứa trẻ muốn phát triển toàn diện trẻ phải có được một cơ thể khỏe mạnh từ tinh thần đến thể chất
Trang 16Như chúng ta đã biết, sức khỏe là vốn quí của con người, là điều kiện không thể thiếu để giúp cơ thể khỏe mạnh và phát triển tốt Vì thế chăm sóc sức khỏe toàn diện cho trẻ là vấn đề cấp thiết hiện nay Chăm sóc sức khỏe ban đầu đạt hiệu quả là mục tiêu quan trọng trong công tác giáo dục toàn diện cho trẻ trong trường mầm non Sức khỏe có vai trò quan trong trong việc hình thành và phát triển toàn diện cho trẻ Vì vậy, để trẻ có sức khỏe vui chơi và học tập người lớn cần tích cực quan tâm, chăm sóc và có những biện pháp vệ sinh phòng chống dịch bệnh để bảo vệ sức khỏe cho trẻ Đối với trẻ em, cơ thể trẻ còn non yếu về chức năng và và các bộ phận cơ thể, nhất là chức năng tiêu hóa, là giai đoạn trẻ thích ứng với môi trường, nhạy cảm với bệnh tật vì vậy trẻ dễ mắc bệnh truyền nhiễm, nguy cơ gây tử vong cao Vì vậy, việc tổ chức tốt hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ tại trường mầm non sẽ giảm những dịch bệnh, giúp cho trẻ phát triển tốt về thể lực cũng như trí tuệ, góp phần nâng cao chất lượng công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ tại các trường Mầm non
Ngày nay cùng với sự phát triển chung của xã hội, đời sống vật chất và tinh thần cũng được nâng cao Chính vì vậy việc chăm sóc phòng bệnh trẻ được gia đình và xã hội đặc biệt quan tâm Vậy quan tâm chăm sóc phòng bệnh như thế nào là đúng mực, là khoa học để cơ thể trẻ khoẻ mạnh và phát triển tốt? Trước tiên ta phải có một chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng hợp lý, khoa học Chăm sóc nuôi dưỡng trẻ đúng theo khoa học sẽ giúp trẻ phòng chống lại một số dịch bệnh cũng như giúp trẻ phát triển cân đối, khỏe mạnh về thể chất và tinh thần, hình thành và phát triển toàn diện nhân cách trẻ là mục tiêu cơ bản nhất trong hệ thống mục tiêu quản lý trường mầm non
Công tác phòng chống dịch bệnh cho trẻ giữ vai trò quan trọng ở trường mầm non, làm tốt các công tác phòng chống dịch bệnh nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ Trong thời gian qua, ngành Giáo dục và Đào tạo Bình Dương nói chung và Giáo dục Bến Cát nói riêng đang có những thuận lợi nhất định đồng thời cũng đang đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, nhất là cấp học mầm non nhu cầu gửi trẻ cao do tình hình phát triển nhanh, mạnh các
Trang 17khu – cụm công nghiệp, kéo theo việc hình các khu dân cư đông đúc với tỷ lệ dịch bệnh cũng tăng cao
Để quản lý các cơ sở mầm non trong thời gian qua thực hiện các giải pháp tăng cường phòng chống dịch bệnh cho trẻ trên địa bàn thị xã Bến Cát, ngành Giáo dục Bến Cát luôn có các giải pháp hướng dẫn chỉ đạo các cơ sở giáo dục mầm non thực hiện tốt công tác quản lý, chỉ đạo đối với việc phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non trên địa bàn Tuy nhiên, các giải pháp chưa thật sự được đổi mới, thiếu tính đột phá và nội dung chưa phong phú, chưa phù hợp với điều kiện thực tế của từng cơ sở, từ đó kết quả đạt được chưa cao, nhất là các trường mầm non, việc chấp hành các quy định về phòng chống dịch bệnh có nơi chưa đồng bộ, đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên mầm non còn thiếu và còn yếu, đầu tư
cơ sở vật chất chưa tương xứng với yêu cầu chăm sóc, giáo dục cũng như phòng dịch bệnh cho trẻ hiện nay
Trước thực tế đó, nhằm quản lý có hiệu quả hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non trên địa bàn thị xã Bến Cát, chúng tôi chọn và nghiên cứu
đề tài “Quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non trên địa
bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non, khảo sát thực trạng quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non tại thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương Từ đó, đề xuất một
số biện pháp quản lý đối với công tác quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trẻ ở các trường mầm non của địa phương
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
Trang 18Quản lý thực hiện hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non tại thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương
4 Giả thuyết khoa học
Dịch bệnh là mối đe dọa lớn đối các quốc gia trên toàn thế giới Với toàn
xã hội, bởi sự lây lan, và tác hại nó gây ra Ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống, sức khoẻ, kinh tế cũng như con người Vấn đề phòng chống dịch bệnh có tầm quan trọng trong công tác chăm sóc sức khoẻ trẻ ở trường Tại trường mầm non, nguy cơ yếu tố dịch tễ và nguồn truyền nhiễm là rất lớn Bởi đây chính là nơi các cháu tham gia học tập, sinh hoạt và vui chơi cùng nhau Đó là yếu tố thuận lợi làm lây lan dịch bệnh rất nhanh, chỉ cần trong trường có một trẻ mắc bất cứ dịch bệnh truyền nhiễm nào thì dịch bệnh có thể lan nhanh trong trường gây nguy hiểm cho trẻ Vì vậy, trong thời gian qua thực tế quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã tích cực triển khai thực hiện và đạt được kết quả giúp trẻ đảm bảo an toàn sức khỏe
cơ thể và tâm lý, đồng thời hạn chế được một số dịch bệnh trên địa bàn Nhưng
để nâng cao chất lượng của hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non, đảm bảo an toàn cho trẻ em trong các trường mầm non thì cần thiết phải có các biện pháp quản lý mới Việc thực hiện hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non tại thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương có những biện pháp quản lý công tác tổ chức thực hiện hoạt động phòng chống dịch bệnh một cách khoa học và phù hợp với thực tế giáo dục của địa phương thì sẽ khắc phục hiện tượng dịch bệnh xảy ra trên địa phương một cách hiệu quả
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non
Thực trạng quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non tại các trường MN công lập tại thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương
Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non tại thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương nhằm phòng chống dịch bệnh
và nâng cao chất lượng chăm sóc toàn diện cho trẻ
Trang 196 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Đề tài khảo sát thực trạng quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho
trẻ mầm non tại các trường Mầm non công lập trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương
7 Phương pháp luận và phương nghiên cứu
7.1 Phương pháp luận
7.1.1 Quan điểm lịch sử - logic
Tiếp cận theo quan điểm lịch sử - logic cho phép người nghiên cứu nhìn nhận khách quan và toàn diện các hiện tượng giáo dục, thấy được mối quan hệ của hệ thống với các hiện tượng khác trong hệ thống lớn, từ đó xác định được các con đường tổng hợp tối ưu để nâng cao chất lượng giáo dục Quan điểm này giúp người nghiên cứu tiếp cận các sự kiện lịch sử để minh họa chứng minh làm sáng
tỏ các luận điểm khoa học, các nguyên lý khoa học hay kết quả các công trình nghiên cứu Dựa trên quan điểm này giúp người nghiên cứu thiết kế mô hình các biện pháp quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non thiết thực, hiệu quả
7.1.2 Quan điểm cấu trúc – hệ thống
Khi nghiên cứu các hiện tượng giáo dục phải xem xét một cách toàn diện, nhiều mặt, nhiều mối liên hệ trong trạng thái vận động và phát triển với việc phân tích những điều kiện nhất định để tìm ra bản chất và quy luật vận động của đối tượng Tiếp cận quan điểm này giúp người nghiên cứu xây dựng cơ sở lý luận
về quản lý công tác tổ chức thực hiện hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ
Trang 20mầm non và việc thiết kế bảng hỏi cũng như bình luận thực trạng cũng được tiến hành trên cấu trúc đã được thiết lập
7.1.3 Quan điểm thực tiễn
Công tác tổ chức thực hiện hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non và quản lý công tác này gắn với thực tiễn ở trường mầm non Việc nghiên cứu theo hướng tiếp cận thực tiễn giúp cho người nghiên cứu xem xét mọi vấn
đề, mọi hoạt động xuất phát từ người học, người dạy, cán bộ quản lý giáo dục (CBQL GD) những người có liên quan trực tiếp đến công tác này
7.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
7.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Mục đích: Thu thập tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu nhằm làm rõ
các vấn đề lý luận của đề tài cần nghiên cứu
Nội dung và cách tiến hành: Đọc, phân tích, tổng hợp các tài liệu cần thiết
phục vụ cho việc nghiên cứu nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho việc triển khai và nghiên cứu thực tiễn
7.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.2.1 Phương pháp quan sát
Mục đích: Nhằm kết hợp thu thập thêm thông tin từ phía giáo viên, nhân
viên, phụ huynh trong quá trình thực hiện hoạt động phòng chống dịch bệnh tại lớp, trường
Nội dung và cách tiến hành: Tham gia dự giờ một số hoạt động chăm sóc
giáo dục của GVMN để quan sát, ghi chép cách tổ chức thực hiện về hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ như: quan sát kế hoạch và biện pháp, cách thực hiện công tác phòng chống dịch bệnh cho trẻ và kết quả thực hiện Qua đó, làm
cơ sở để xây dựng phiếu hỏi, đánh giá một cách khách quan, đầy đủ mức độ thực hiện hoạt động phòng chống dịch bệnh từ đó xây dựng bảng khảo sát, đánh giá mức độ thực hiện
7.2.2.2 Phương pháp phỏng vấn
Mục đích: Nhằm thu thập thêm thông tin từ phía cán bộ quản lý, giáo viên
mầm non về những vấn đề liên quan đến đề tài
Trang 21Nội dung và cách tiến hành: Trao đổi, trò chuyện cán bộ quản lý là Hiệu
trưởng, Phó hiệu trưởng quản lý chuyên môn, giáo viên mầm non để thu thập những thông tin cần thiết xoay quanh vấn đề nghiên cứu
7.2.2.3 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Mục đích: Đây là phương pháp nghiên cứu chủ yếu của đề tài Phương
pháp được sử dụng nhằm mục đích khảo sát thực trạng hoạt động phòng chống
dịch bệnh cho trẻ mầm non và thực trạng quản lý thực hiện chương trình này tại
các trường MN công lập trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương
Nội dung và cách tiến hành Xây dựng bảng hỏi dưới dạng phiếu thăm dò ý
kiến gồm:
+ Bảng hỏi 1: Dành cho Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, giáo viên về quản
lý thực hiện hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non và những biện pháp quản lý thực hiện chương trình này cho các trẻ trong độ tuổi mầm non (Phụ lục 2)
+ Bảng hỏi 2: Dành cho phụ huynh trường mầm non khảo nghiệm biện pháp, đề xuất, phối hợp thực hiện hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm
non (Phụ lục 1)
7.2.2.4 Phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động
Mục đích: Nhằm phân tích sản phẩm thu thập thêm thông tin về những
vấn đề liên quan đến đề tài thông qua các kết quả hoạt động mà người cán bộ quản lý, giáo viên thực hiện (sổ sách, kế hoạch, phương tiện hoạt động, hiệu quả đạt được )
Nội dung và cách tiến hành: Thông qua các kết quả hoạt động (sổ sách, kế
hoạch, phương tiện hoạt động ) mà người cán bộ quản lý, giáo viên tạo ra, người nghiên cứu có thể nhận ra được tư tưởng, tình cảm, ý chí cũng như năng lực của họ trong quá trình thực hiện
7.2.3 Phương pháp xử lý thông tin
Mục đích: Nhằm xử lý số liệu điều tra, từ đó làm cơ sở đưa ra những nhận
định khách quan về thực trạng công tác tổ chức hoạt động phòng chống dịch
Trang 22bệnh cho trẻ mầm non và thực trạng các biện pháp quản lý công tác tổ chức hoạt động này cho trẻ mầm non
Nội dung và cách tiến hành: Sử dụng phương pháp toán thống kê để xử lý
bằng phần mềm SPSS và phân tích các số liệu từ các bảng hỏi thu thập được
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục thì nội dung gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non trong trường MN công lập trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ
mầm non trong các trường MN trên địa bàn thị xã Bến Cát tỉnh Bình Dương
Trang 23Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHÒNG CHỐNG DỊCH BỆNH CHO TRẺ Ở TRƯỜNG MẦM NON
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Nghiên cứu trên thế giới
Theo Tổ chức Y tế thế giới, phòng chống dịch bệnh là vấn đề cấp thiết đối với tất cả Quốc gia Các dịch bệnh như: bệnh sốt xuất huyết đang diễn biến phức tạp, gia tăng về phạm vi và số lượng người mắc bệnh qua từng năm tại nhiều quốc gia Hiện bệnh lưu hành tại 128 quốc gia, hơn 3,9 tỷ người sống trong vùng nguy cơ bị mắc bệnh, hàng năm có khoảng 390 triệu người nhiễm bệnh Tại khu vực Đông Nam Á, có tới 7 trong số 10 nước bị sốt xuất huyết nặng nề, bệnh luôn
là nguyên nhân hàng đầu của các trường hợp nhập viện và tử vong ở trẻ em; từ năm 1980 trở lại đây số mắc sốt xuất huyết đã tăng lên gần gấp 5 lần so với 30 năm về trước Năm 2017, số mắc bệnh/100.000 dân tại nhiều nước khu vực châu
Mỹ và Đông Nam Á ở mức rất cao như: Peru (195), Nicaragua (199), Argentina (121), Brazil (171), Ecuador (49), Malaysia (141), Philippines (33), Lào (30), Singapore (20) (Cục y tê dự phòng, 2017)
Ngoài bệnh sốt xuất huyết thì trong những năm gần đây, dịch bệnh tay, chân, miệng được ghi nhận đã và đang bùng phát ở nhiều nơi, đặc biệt là tại các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới Cụ thể, Trung Quốc, Nhật Bản, Hongkong, Hàn Quốc, Malaysia, Singapore, Thái Lan, Đài Loan và Việt Nam đều đã ghi nhận một số lượng trường hợp mắc bệnh nhất định Tuy nhiên, Malaysia vẫn là khu vực bùng phát dịch nguy hiểm và được quan tâm hàng đầu Tính đến ngày 23/7/2018, nước này ghi nhận có khoảng 35.886 ca mắc HFMD, tăng 64,2% so với 1 tuần trước đó Trong bối cảnh dịch bệnh diễn biến phức tạp, chính quyền Malaysia đã nhanh chóng thành lập một lực lượng đặc nhiệm đa ngành, với nhiệm vụ chính là kiềm chế tối đa nguy cơ dịch bệnh lây lan Đến nay đã có khoảng 469 cơ sở trên địa bàn nước này phải đóng cửa bao gồm: 217 nhà chăm sóc trẻ sơ sinh, 223 trường mẫu giáo, 2 trường học ở tiểu bang Penang và Pahang Cùng với đó, nhân viên công chức đã được phép nghỉ 5 ngày, các trung tâm mua sắm cũng được ra lệnh vệ sinh toàn bộ xe đẩy chở hàng – nơi ghi nhận
Trang 24là nơi lây truyền HFMD chủ yếu ở Malaysia Mặc dù nhiều người lớn cũng có thể nhiễm bệnh tay, chân, miệng, nhưng với sức đề kháng mạnh, hầu hết nhóm đối tượng này đều có thể miễn dịch với virus HFMD lây nhiễm chủ yếu ở trẻ em dưới 10 tuổi, phổ biến nhất là trẻ dưới 5 tuổi (http://tiin.vn/chuyen-muc/24/benh-tay-chan-mieng-dang-bung-phat-den-muc-bao-dong-tai-malaysia.html, n.d.)
Nhìn chung, Malaysia nói riêng và các nước nói chung đang nỗ lực triển khai kế hoạch phòng chống dịch bệnh lây lan Cụ thể, chính phủ Malaysia đã và đang khẩn trương thúc đẩy vệ sinh cá nhân tốt hơn, tăng cường làm sạch môi trường xung quanh, khử trùng bề mặt bị ô nhiễm và nhanh chóng cách lý trẻ em
ra khỏi bạn bè đồng trang lứa ngay khi có dấu hiệu mắc bệnh Tuy nhiên, có thể nói một trong những cách phòng chống bệnh hiệu quả nhất đơn giản chỉ là giữ bình tĩnh và giữ vệ sinh sạch sẽ (http://tiin.vn/chuyen-muc/24/benh-tay-chan-
mieng-dang-bung-phat-den-muc-bao-dong-tai-malaysia.html, n.d.)
Ngoài sốt xuất huyết và HFMD thì sởi cũng là một dịch bệnh đang bùng phát mạnh trong năm 2018, đầu năm 2019, dịch sởi đã xảy ra tại một số nước khu vực châu Âu, châu Phi, châu Á, kể cả một số nước đã công bố loại trừ bệnh sởi (Đức và Nga, Hoa Kỳ) Trên toàn thế giới, 98 quốc gia đã báo cáo tăng số ca nhiễm sởi trong năm 2018 so với năm 2017, đẩy lùi những tiến bộ đã đạt được đối với căn bệnh này, một căn bệnh có thể phòng ngừa được nhưng cũng có khả năng gây tử vong Ukraine, Philippines và Brazil là ba quốc gia tăng số ca nhiễm sởi cao nhất trong khoảng thời gian từ 2017 đến 2018 Chỉ tính riêng ở Ukraine, năm 2018 đã có 35.120 ca mắc sởi Theo Chính phủ nước này, 24.042 người nữa
đã nhiễm sởi trong hai tháng đầu năm 2019 Tại Philippines trong năm nay đã có 12.736 ca nhiễm sởi và 203 ca tử vong, so với 15.599 ca trong năm 2018 Đặc biệt trong những tuần đầu năm 2019, đến ngày 18/2/2019 tại Philippines đã có trên 8.000 trường hợp mắc sởi phải nhập viện và có tới 136 trường hợp tử vong liên quan đến sởi, hầu hết các trường hợp mắc sởi đều không có tiền sử tiêm vắc xin sởi (https://vietgiaitri.com/unicef-quan-ngai-bung-phat-dich-soi-de-doa-den-tinh-mang-cua-tre-em-20190301i3802369, n.d.)
Trang 25Theo ý kiến của Bộ Y tế Philippines, tình trạng dịch sởi gia tăng mạnh tại Philippines trong năm 2019 là do tỷ lệ tiêm phòng vắc xin (bao gồm cả vắc xin sởi) giảm thấp trong năm 2018 và đầu năm 2019 Ngày 15/02/2019, trực tiếp Tổng thống Philippines, Rodrigo Duterte, cũng đã trực tiếp cảnh báo người dân
về sự nguy hiểm của bệnh sởi và thúc giục các cha mẹ đưa trẻ đi tiêm phòng sởi cho trẻ
Cũng như Bà Henrietta H Fore, Giám đốc điều hành UNICEF cho biết:
Những ca nhiễm bệnh này không xảy ra ngay trong một sớm một chiều Dịch sởi bùng phát ở nhiều nơi mà chúng ta đang chứng kiến ngày hôm nay đã bắt đầu từ năm 2018, nếu không hành động ngay hôm nay thì chúng ta sẽ để lại tai họa cho trẻ em trong tương lai
1.1.2 Nghiên cứu ở Việt Nam
Năm 2018, Việt Nam có 1.177 ca nhiễm sởi, cao hơn gấp đôi so với năm
2017 Phần lớn các ca nhiễm sởi liên quan đến việc trẻ em chưa được tiêm vắc xin đầy đủ do cha mẹ quyết định trì hoãn việc tiêm vắc xin cho con mình Cuối năm 2018, Bộ Y tế đã tiến hành tiêm bổ sung vắc xin sởi – rubella cho 4,2 triệu trẻ em từ 1 đến 5 tuổi tại 57 tỉnh thành trên cả nước UNICEF đã kêu gọi các bậc cha mẹ hãy nỗ lực hơn nữa, tư vấn với các nhân viên y tế nhằm đảm bảo con em mình được tiêm phòng vắc xin đầy đủ theo đúng lịch, giúp phòng bệnh cho trẻ
em UNICEF cũng đã vận động các cơ quan y tế đầu tư đầu tư lâu dài nhằm củng
cố niềm tin trong người dân vào tiêm chủng và tập trung nỗ lực để vươn tới những cộng đồng nghèo nhất và thiệt thòi nhất, trong đó có nhóm người dân di
cư trong nước doa-den-tinh-mang-cua-tre-em-d91802.html, n.d.)
Đối với bệnh sốt xuất huyết tại Việt Nam giai đoạn từ 2000 - 2015 (có Chương trình mục tiêu quốc gia) tình hình dịch đã giảm so với những năm trước, trung bình mỗi năm ghi nhận khoảng 50.000 đến 100.000 trường hợp mắc, gần
100 trường hợp tử vong Trong 7 tháng đầu năm 2017 ghi nhận 58.888 trường hợp mắc (50.497 trường hợp nhập viện), có 17 trường hợp tử vong So với cùng
kỳ 2016 số trường hợp nhập viện tăng 9,7% Song số mắc vẫn tập trung chủ yếu
Trang 26tại khu vực miền Nam (64,4%) và miền Trung (19,9%) so với tổng số trường hợp mắc bệnh của cả nước, do đây là khu vực bệnh lưu hành trong nhiều năm qua Khu vực miền Bắc có tỷ lệ mắc thấp hơn (12,4%), tuy nhiên gần đây có gia tăng số trường hợp mắc tại Hà Nội (số mắc tuyệt đối Hà Nội đứng thứ 3 cả nước,
số mắc trên 100.000 dân đứng thứ 19)
Nguyên nhân của sự gia tăng dịch bệnh sốt xuất huyết thời gian qua là do mùa hè đến sớm, nhiệt độ trung bình tại hầu hết các khu vực cao hơn những năm trước, dẫn đến véc tơ truyền bệnh phát triển mạnh; tập quán tích trữ nước của người dân chưa có thay đổi đáng kể; tốc độ đô thị hóa nhanh, môi trường tại các công trình xây dựng, nhà máy, xí nghiệp, nhà trọ, lán trại không được quan tâm
xử lý dẫn đến phát sinh các ổ lăng quăng của muỗi truyền bệnh; sự chủ động, phối hợp của người dân và ban ngành đoàn thể trong công tác phòng chống sốt xuất huyết tại một số địa phương chưa cao; việc triển khai biện pháp phun hóa chất và diệt lăng quăng ở khu vực thành thị gặp nhiều khó khăn, không triệt để; nhiều địa phương gặp khó khăn về kinh phí
Nhận định được diễn biến phức tạp và nguy cơ của dịch bệnh, ngay từ đầu năm Bộ Y tế đã chỉ đạo các địa phương quyết liệt các địa phương thực hiện đầy
đủ, đồng bộ các hoạt động phòng chống dịch, tập trung chỉ đạo các địa phương triển khai quyết liệt chiến dịch diệt lăng quăng tới tất cả các xã, phường, phun hóa chất chủ động, xử lý trên 96% ổ dịch sốt xuất huyết được phát hiện; 35 tỉnh, thành phố tổ chức thực hiện chiến dịch diệt lăng quăng (bọ gậy) quy mô lớn; tổ chức đoàn kiểm tra của Lãnh đạo UBND TP, Lãnh đạo Bộ Y tế và các đơn vị Trung ương, tiến hành xử phạt tại Thành phố Hồ Chí Minh (149 trường hợp) và
Hà Nội (02 trường hợp); tổ chức 90 lớp tập huấn và tập huấn lại cho cán bộ y tế
dự phòng và điều trị từ Trung ương tới địa phương; các địa phương đã tổ chức 3.929 lượt giám sát (http://www.suckhoenhi.vn/thong-tin-moi-nhat-ve-dich- benh-sot-xuat-huyet-tai-viet-nam-d16228.html, n.d.)
Mới đây nhất, ngày 20/7/2017, tại TP Hồ Chí Minh, Bộ Y tế tổ chức Hội nghị tăng cường công tác phòng chống sốt xuất huyết với 38 tỉnh trọng điểm phía Nam Ngày 24/7/2017, Bộ Y tế tổ chức Hội nghị tăng cường công tác phòng
Trang 27chống dịch bệnh trong mùa mưa lũ và sốt xuất huyết năm 2017 để bàn về những biện pháp ứng phó khẩn cấp với dịch bệnh, tập trung truyền thông hướng dẫn người dân chủ động thực hiện các biện pháp diệt lăng quăng, công tác dự phòng giám sát chặt chẽ tình hình dịch bệnh và tiến hành xử lý ổ dịch, đảm bảo đủ vật
tư hóa chất phòng chống dịch, công tác điều trị cần phân loại, phân tuyến, thu dụng điều trị bệnh nhân, tránh quá tải và lây nhiễm chéo trong bệnh viện nhằm hạn chế đến mức thấp nhất sự gia tăng số mắc, cũng như các trường hợp tử vong
do bệnh sốt xuất huyết
Bên cạnh sởi và sốt xuất huyết thì dịch bệnh tay chân miệng lưu hành và gặp tại hầu hết 63 tỉnh, thành phố, thường ghi nhận cao vào tháng 9 đến tháng 11 hàng năm, đặc biệt là mùa đầu năm học mới Theo báo cáo của hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm, trong 9 tháng đầu năm 2018, cả nước ghi nhận 53.529 trường hợp mắc tay chân miệng, trong đó có 25.845 trường hợp nhập viện và đã có 06 trường hợp tử vong tại 5 tỉnh, thành phố khu vực phía Nam So với cùng kỳ năm
2017, số mắc cả nước giảm 25,3%, số trường hợp nhập viện giảm 20,1%, tuy nhiên một số tỉnh, thành phố ghi nhận số mắc tích lũy cao và gia tăng nhanh trong các tuần gần đây như TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Đồng Tháp, Bà Rịa - Vũng Tàu, Long An, Đà Nẵng, Ninh Thuận, Quảng Ngãi, Tây Ninh, Hà Nội Số mắc tay chân miệng chủ yếu ghi nhận ở khu vực miền Nam 41.218 trường hợp (chiếm 77%), miền Bắc 5.984 trường hợp (chiếm 11,2%), miền Trung 5.392 trường hợp (chiếm 10,1%) và Tây Nguyên 935 trường hợp (chiếm 1,7%) Số mắc tay chân miệng chủ yếu gặp ở trẻ dưới 10 tuổi (chiếm 99,5%), trong đó hay gặp ở nhóm từ 1-5 tuổi, tuổi trẻ đi nhà trẻ và mẫu giáo (chiếm 79%) và dưới 1 tuổi (chiếm 17%) Dự báo dịch bệnh tay chân miệng có nguy cơ gia tăng trong thời gian tới đây do tính chất lây truyền, đặc biệt trong mùa tựu trường, trẻ tập trung vào năm học mới, điều kiện thời tiết thuận lợi, điều kiện vệ sinh chưa đảm bảo là yếu tố thuận lợi cho sự lây lan và phát triển của dịch bệnh Ngày 27/8/2018, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ban hành Công văn số 4962/BYT-DP chỉ đạo tăng cường công tác phòng, chống dịch bệnh mùa hè - thu, trong đó có bệnh tay chân miệng Ngày 01/10/2018, Cục Y tế dự phòng đã
Trang 28ban hành Công văn số 1030/DP-DT gửi Giám đốc Sở Y tế các tỉnh, thành phố trọng điểm về việc tăng cường công tác phòng, chống dịch bệnh tay chân miệng
Bộ Y tế đã chỉ đạo cơ quan y tế địa phương tăng cường công tác giám sát, lấy mẫu xét nghiệm để sớm phát hiện các trường hợp bệnh tại cộng đồng; tổ chức các Đoàn kiểm tra công tác phòng, chống dịch bệnh tay chân miệng tại một số tỉnh, thành phố trọng điểm; tăng cường công tác truyền thông, phối hợp chặt chẽ với ngành Giáo dục và Đào tạo để tổ chức các hoạt động truyền thông sâu rộng phòng, chống dịch bệnh tay chân miệng tại các trường học, đặc biệt tại các nhà trẻ, trường mẫu giáo về các biện pháp phòng, chống dịch bệnh trong trường học; đồng thời chỉ đạo tăng cường các biện pháp phòng, chống dịch bệnh tay chân miệng trên phạm vi toàn quốc (https://www.moh.gov.vn/web/dich-benh/cac-van-ban-lien-quan/-/asset_publisher/zDIqD44ouwbX/content/chu-ong-phong-benh-tay-chan-mieng, n.d.)
Ở Việt Nam các công trình nghiên cứu với mục đích thông qua các nghiên cứu sẽ góp phần nâng cao chất lượng phòng chống dịch bệnh cho trẻ cũng có khá nhiều Tuy nhiên, qua tìm hiểu, quản lý các hoạt động trong trường mầm non lại chưa được nghiên cứu nhiều, được thể hiện ở một vài đề tài
Đề tài: “Thực trạng công tác quản lý việc phòng chống bệnh béo phì cho
trẻ ở các trường mầm non tại Quận Bình Tân TPHCM” Của tác giả Nguyễn Thị
Diễm Hằng 2011 Luận văn đã đề cập đến những vấn đề lý luận về quản lý,
QLGD, quản lý nhà trường, QLGD mầm non, bệnh béo phì Đồng thời, luận văn
tập trung nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến bệnh béo phì ở trẻ; nguyên nhân, cách phát hiện, tác hại của bệnh béo phì; quản lý việc phòng chống bệnh béo phì
cho trẻ ở các trường mầm non (Nguyễn Thị Diễm Hằng, 2011)
Đề tài:“Quản lý hoạt động chăm sóc sức khỏe và phòng bệnh cho trẻ tại các trường Mầm non trên địa bàn phường Quan Triều, thành phố Thái
Nguyên”của tác giả Lê Thị Ngọc Hoa 2015 “Luận văn đã nghiên cứu, điều tra,
đánh giá thực trạng quản lý hoạt động CSSK và PB cho trẻ tại 3 trường MN trên địa bàn phường Quan Triều Qua đó cho thấy: cả 3 trường đã có nhiều biện pháp nhằm nâng cao chất lượng CSSK và PB cho trẻ Tuy nhiên, trong quản lý CSSK
Trang 29và PB cho trẻ tại các trường trên địa bàn phường Quan Triều vẫn còn những hạn chế như: đội ngũ CBQL tuy có trình độ nhưng đào tạo còn chắp vá nên chất lượng chưa tương xứng với trình độ; trong xây dựng kế hoạch còn có những nội dung chưa sâu sát; tổ chức lao động, phân công nhiệm vụ chưa khoa học, phù hợp; việc kiểm tra, đánh giá, đôn đốc NV, GV trong công tác vệ sinh và phòng chống dịch bệnh cho trẻ, hướng dẫn GV, NV sử dụng, bảo quản cơ sở vật chất, trang thiết bị hỗ trợ cho hoạt động CSSK và PB cho trẻ còn hạn chế; hình thức
phối hợp với các lực lượng còn chưa đa dạng (Lê Thị Ngọc Hoa, 2015)
Trên các tạp chí khoa học, các phương tiện thông tin đại chúng hiện nay cũng có rất nhiều những bài nghiên cứu, những bài báo đề cập đến những nội dung phòng chống dịch bệnh cho trẻ Về cơ bản những công trình trên đã đề cập đến công tác lãnh đạo, chỉ đạo, biện pháp quản lý của cộng đồng nói chung chứ chưa có các công trình nghiên cứu sâu về hoạt động và các biện pháp quản lý của Hiệu trưởng trường Mầm non về hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ tại đơn vị Và đây cũng là một trong những nội dung được xem là trọng tâm của giáo dục MN và hoạt động quản lý của người Hiệu trưởng nhằm chăm sóc tốt sức khỏe và giúp trẻ phát triển toàn diện
Từ những tìm hiểu và phân tích như trên, tác giả cho rằng: việc nghiên cứu để đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non phù hợp trong giai đoạn hiện nay là một vấn đề rất cần thiết, đặc biệt với địa bàn nơi tác giả đang công tác Do vậy, tác giả đi sâu nghiên cứu vấn đề này trong phạm vi 09 trường MN công lập trên địa bàn thị xã Bến Cát – tỉnh Bình Dương với mong muốn đề xuất các biện pháp nhằm góp phần cùng các nhà trường thực hiện tốt công tác quản lý nhà trường nâng cao chất lượng chăm sóc
giáo dục trong giai đoạn hiện nay
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục, Quản lý trường mầm non
1.2.1.1 Quản lý
Quản lý là một hoạt động được hình thành từ khi xã hội loài người có
sự phân công lao động, con người có sự hợp tác với nhau hoặc cùng nhau hoạt
Trang 30động với những mục đích chung nào đó Quản lý rất cần thiết cho tất cả mọi lĩnh vực hoạt động đời sống của con người Ở đâu con người tạo lập nên nhóm
xã hội là ở đó cần đến quản lý, dù đó là nhóm nhỏ, nhóm lớn, nhóm chính thức, nhóm không chính thức và bất kể nội dung hoạt động nhóm đó là gì Có thể nói quản lý là một thuộc tính gắn liền với xã hội ở mọi giai đoạn phát triển
của nó K.Marx đã khẳng định: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất… Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” (Nguyễn Văn Lê, 1983)
Điều đó cho thấy rằng hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công hợp tác lao động của xã hội loài người, nhằm đạt mục đích nhất định Đây chính là hoạt động giúp cho người đứng đầu tổ chức phối hợp sự nỗ lực của các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng để đạt mục tiêu đề ra
Hoạt động quản lý còn là hoạt động lao động để điều khiển lao động, một loại lao động có ý nghĩa tất yếu và vĩnh hằng với chức năng điều khiển mọi hoạt động xã hội về kinh tế, quân sự, chính trị, xã hội, văn hóa, giáo dục
Có nhiều tác giả với những phát biểu khác nhau về quản lý, cụ thể như:
W.Taylor, người đầu tiên nghiên cứu quá trình lao động đã nêu: “Quản
lý là một nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm như thế nào để đạt hiệu quả tốt nhất và rẻ nhất” (Hà Sĩ Hồ, 1994)
H.Koonts cho rằng “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nhằm đảm bảo
sự phối hợp những nỗ lực cá nhân để đạt được những mục đích của nhóm Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được những mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn
Trang 31Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng “Quản lý là thực hiện hai quá trình liên hệ chặt chẽ với nhau: Quản và lý Đó là hoạt động chăm sóc, giữ gìn (quản) và sửa sang, sắp xếp (lý) để cho cộng đồng theo sự phân công hợp tác lao động được ổn định và phát triển.” (Đặng Quốc Bảo, 1997)
Tác giả Nguyễn Thị Liên Diệp cho rằng “Quản lý là một hoạt động cần thiết khi con người kết hợp với nhau trong các tổ chức, nhằm đạt được những mục tiêu chung Như vậy, hoạt động quản lý là hoạt động chỉ phát sinh khi con người kết hợp với nhau thành một tập thể” (Nguyễn Thị Liên Diệp,
1993)
Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau nhưng có thể hiểu:
- Quản lý là một loại lao động để điều khiển lao động
- Quản lý là một hệ thống xã hội trên nhiều phương diện (Quản lý hành chính, Quản lý văn hóa, Quản lý sản xuất )
- Quản lý là một nghệ thuật tác động vào một hệ thống
- Quản lý là một tổ hợp phương pháp tạo nên vận hành của hệ nhằm thực hiện các mục tiêu
- Quản lý tồn tại với tư cách là một hệ thống gồm hai phân hệ chủ thể quản lý và khách thể quản lý
- Đối tượng quản lý chủ yếu vẫn là con người
Từ những ý chung của các định nghĩa và xét quản lý với tư cách là
một hoạt động, có thể hiểu: Quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích đã đề ra
1.2.1.2 Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là một bộ phận của quản lý xã hội Khái niệm QLGD được hiểu khá rộng trong nhiều phạm vi, từ vĩ mô đến vi mô cũng có những định nghĩa sau:
Đối với quản lý giáo dục cấp vi mô, tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác, có ý thức, có mục đích,
Trang 32có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến tập thể GV, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường” (Trần Kiểm, 1997)
QLGD là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý, nhằm đưa hoạt động giáo dục tới mục tiêu đã định trên cơ sở nhận thức và vận dụng đúng những quy luật khách quan của hệ thống giáo dục quốc dân (Đinh Văn Vang, 1996)
QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống (từ Bộ, Sở
và Phòng GD&ĐT đến trường), nhằm mục đích đảm bảo giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đảm bảo sự phát triển toàn diện và hài hòa của họ trên cơ sở nhận thức và sử dụng các quy luật chung vốn có của chủ nghĩa xã hội cũng như những quy luật khách quan của quá trình dạy học – giáo dục, của sự phát triển về thể chất, về tinh thần của các thế hệ (Trần Kiểm, 1997)
QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm tổ chức, điều khiển và quản lý hoạt động giáo dục của những người làm công tác giáo dục (khách thể quản lý) nhằm thực hiện mục tiêu, kế hoạch giáo dục đặt ra (Nguyễn Gia Quý, 1996)
Như vậy, các nhà nghiên cứu QLGD đều thống nhất quan niệm: QLGD nói chung (quản lý trường học nói riêng) là hệ thống những tác động có mục đích, có khoa học, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất (Trần Kiểm, 1997)
QLGD cũng là thực hiện các chức năng quản lý trong công tác giáo dục, bao gồm kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra và đánh giá các quá trình giáo dục Thực chất QLGD là quá trình tổ chức, điều chỉnh các yếu tố cơ bản sau:
Trang 33Đường lối, chiến lược và chính sách giáo dục của đất nước
+ Tập thể các nhà sư phạm (Cán bộ QLGD, giáo viên), trẻ em, gia đình, các đoàn thể và xã hội
+ Điều kiện cơ sở vật chất (bàn ghế, trường lớp, đồ dùng trang thiết bị dạy học, đồ chơi )
Tóm lại, QLGD là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt được kết quả mong muốn (mục tiêu) một cách có hiệu quả nhất
1.2.1.3 Quản lý trường mầm non
Quản lý trường mầm non là công việc không hề đơn giản bởi nó đòi hỏi người quản lý trang bị cho mình nhiều kỹ năng cần thiết, không chỉ riêng việc phải luôn sẵn sàng xử lý các tình huống rắc rối trong mọi sinh hoạt của trẻ nhỏ
Tuy nhiên, công việc này cũng mang đến không ít niềm vui ý nghĩa, bởi người quản lý có thể trở thành người tạo nên các dấu ấn đặc biệt trong cuộc đời trẻ thơ thông qua hoạt động dạy dỗ, chăm sóc của mình
Nhiệm vụ của quản lý
- Xây dựng kế hoạch hoạt động chung của tổ theo tuần, tháng, năm học nhằm thực hiện chương trình, kế hoạch nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ và các hoạt động giáo dục khác
- Thực hiện bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, kiểm tra, đánh giá chất lượng, hiệu quả công tác nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ và quản lý sử dụng tài liệu, đồ dùng, đồ chơi, thiết bị giáo dục của các thành viên trong tổ theo kế
hoạch của nhà trường, nhà trẻ
- Xây dựng quy hoạch phát triển nhà trường; lập kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục từng năm học; báo cáo, đánh giá kết quả thực hiện trước Hội đồng trường và các cấp có thẩm quyền
- Thành lập các tổ chuyên môn, tổ văn phòng và các hội đồng tư vấn trong nhà trường, nhà trẻ; bổ nhiệm tổ trưởng, tổ phó Đề xuất các thành viên của Hội đồng trường trình cấp có thẩm quyền quyết định
Trang 34- Phân công, quản lý, đánh giá, xếp loại; tham gia quá trình tuyển dụng, thuyên chuyển; khen thưởng, thi hành kỷ luật đối với giáo viên, nhân viên theo quy định
- Quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính, tài sản của nhà
trường, nhà trẻ
- Tiếp nhận trẻ em, quản lý trẻ em và các hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em của nhà trường, nhà trẻ; quyết định khen thưởng, phê duyệt kết quả đánh giá trẻ theo các nội dung nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định
- Dự các lớp bồi dưỡng về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ quản lý; tham gia các hoạt động giáo dục 2 giờ trong một tuần; được hưởng chế độ phụ cấp và các chính sách ưu đãi theo quy định
- Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở và tạo điều kiện cho các tổ chức chính trị - xã hội trong nhà trường, nhà trẻ hoạt động nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ
- Thực hiện xã hội hoá giáo dục, phát huy vai trò của nhà trường đối với cộng đồng (Điều 16, 2015)
QLGD mầm non là hệ thống những tác động có mục đích, có khoa học của các cấp quản lý đến các cơ sở GDMN, nhằm tạo ra những điều kiện tối ưu cho việc thực hiện mục tiêu đào tạo: Chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ em lứa tuổi mầm non
1.2.2 Trẻ mầm non, dịch bệnh, phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non
Trang 35được lập kế hoạch giáo dục cá nhân (Văn bản hợp nhất 04/VBHN-BGDĐT kèm
theo điều lệ trường mầm non, 2015)
1.2.2.2 Dịch bệnh
Theo từ điển y khoa thì dịch: là sự xuất bệnh truyền nhiễm với số người mắc bệnh vượt quá số người mắc bệnh dự tính bình thường trong một khoảng thời gian xác định ở một khu vực nhất định
Bệnh: là quá trình hoạt động không bình thường của cơ thể sinh vật từ nguyên nhân khởi thuỷ đến hậu quả cuối cùng Bệnh có thể gặp ở người, động vật hay thực vật Có rất nhiều nguyên nhân sinh ra bệnh, nhưng có thể chia thành
ba loại chính:
Bệnh do bản thân cơ thể sinh vật có khuyết tật như di truyền bẩm sinh hay rối loạn sinh lý
Bệnh do hoàn cảnh sống của sinh vật khắc nghiệt như quá lạnh, quá nóng,
bị ngộ độc, không đủ chất dinh dưỡng
Bệnh do bị các sinh vật khác (nhất là các vi sinh vật) ký sinh
Dịch bệnh truyền nhiễm thường được gây ra bởi một số yếu tố trong đó có một sự thay đổi trong sinh thái của số lượng vật chủ (ví dụ như sự gia tăng hoặc tăng mật độ của một loài vector), một sự thay đổi di truyền trong các ổ mầm bệnh hoặc bắt đầu của một tác nhân gây bệnh mới nổi (do sự biến đổi các tác nhân gây bệnh hoặc vật chủ) Nói chung, dịch bệnh xảy ra khi hệ miễn dịch vật chủ hoặc là một tác nhân gây bệnh mới xuất hiện hoặc một mầm bệnh mới nổi đột nhiên giảm xuống dưới đó được tìm thấy trong trạng thái cân bằng đặc hữu và ngưỡng truyền được vượt quá
Một dịch bệnh có thể được giới hạn trong một không gian; Tuy nhiên, nếu
nó lây lan sang các quốc gia hoặc châu lục khác và ảnh hưởng đến số lượng lớn người dân người dân mắc bệnh, nó có thể được gọi là một đại dịch
Các tuyên bố về một dịch bệnh thường đòi hỏi dựa trên cơ sở về số lượng hay tỷ lệ mới mắc của một bệnh; Dịch bệnh xảy ra do các bệnh nhất định, chẳng hạn như cúm, được định nghĩa là gia tăng đáng kể các trường hợp bị nhiễm, cũng được xác định dựa trên cơ sở này Vài trường hợp của một bệnh rất hiếm có thể
Trang 36phân loại là một dịch bệnh, còn những trường hợp của các bệnh phổ biến như cảm lạnh thông thường không được coi là dịch bệnh
Tuy vậy, khái niệm về dịch ngày nay không chỉ giới hạn trong các bệnh truyền nhiễm nữa Các bệnh ung thư phổi, tai nạn giao thông, tác dụng có hại của thuốc như thalidomide ma túy cũng có thể là những bệnh dịch, mà tác nhân gây bệnh không phải là vi sinh vật Hiện nay chúng ta phải đối mặt với các bệnh truyền nhiễm, nhưng trong tương lai không xa chúng ta lại phải đương đầu với những vụ dịch của các bệnh không nhiễm trùng đang xảy ra ở các nước phát triển
Như vậy từ những nội dung trên tóm tắt lại thì Dịch bệnh là sự lây lan nhanh chóng của một bệnh truyền nhiễm với số lượng lớn những người bị nhiễm trong một cồng đồng hoặc một khu vực trong vòng một thời gian ngắn, thường là hai tuần hoặc ít hơn
1.2.2.3 Phòng chống dịch bệnh trẻ mầm non
Theo Philip D.Sloane và Melissa M Hicks “phòng bệnh là quá trình tránh các bệnh thông qua những can thiệp đặc biệt” Như vậy, phòng bệnh cho trẻ MN
là các hoạt động có chủ định nhằm ngăn ngừa bệnh tật để giữ gìn và tăng cường
SK cho trẻ ở trường MN dinh/chuong-13-ch-m-soc-du-phong-tong-quan-3974.html)
(https://www.maxreading.com/sach-hay/y-hoc-gia-“Phòng ngừa bệnh là tổ chức và thực hiện các biện pháp dự phòng cho trẻ không mắc bệnh như: nuôi dưỡng đầy đủ, tiêm chủng, luyện tập sức khỏe, vệ sinh môi trường.” (Lê Thị Mai Hoa , 2104)
Vì vậy cần xây dựng kế hoạch phòng, chống dịch bệnh cho trẻ, với mục tiêu không để dịch bệnh truyền nhiễm lây lan rộng, tích cực, chủ động phát hiện sớm học sinh mắc bệnh và nghi mắc bệnh truyền nhiễm, kiên quyết không để dịch bệnh lây lan rộng trong phạm vi nhà trường
1.2.3 Quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non
Để đạt được mục tiêu, nhiệm vụ của bậc học mầm non trong giai đoạn hiện nay là đào tạo ra những con người khỏe mạnh, năng động, sáng tạo, phát triển toàn diện về các mặt: đức, trí, thể, mỹ, lao thì một trong những nhiệm vụ
Trang 37quan trọng người quản lý cần quan tâm là công tác quản lý chăm sóc sức khỏe ban đầu, phòng chống dịch bệnh tại trường Muốn như vậy điều cần thiết là phải kịp thời chỉ đạo từ khâu xây dựng thực hiện kế hoạch đến đầu tư cơ sở vật chất: mua sắm trang thiết bị, đồ dùng cho bếp và cho các lớp đảm bảo an toàn, có lợi với sức khoẻ trẻ Mua sắm đầy đủ trang thiết bị y tế, thuốc thiết yếu, thuốc sát trùng, xà phòng rửa tay phục vụ cho việc phòng chống bệnh dịch trong toàn
trường, chỉ đạo và kiểm tra để tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên,
học sinh và các lực lượng khác, huy động tối đa và sử dụng hiệu quả các nguồn lực giáo dục trong việc phòng chống dịch bệnh cho trẻ nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc và giáo dục trẻ trong nhà trường
Quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh là quá trình thực hiện các chức năng quản lý như hoạch định kế hoạch, tổ chức, điều khiển và kiểm tra để thực hiện công tác phòng chống dịch bệnh cho trẻ đạt mục tiêu
1.3 Hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non
1.3.1 Trường mầm non trong hệ thống giáo dục quốc dân
Điều 3 - Điều lệ trường mầm non quy định các loại hình của trường mầm non, trường mẫu giáo, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập:
Trường mầm non, trường mẫu giáo (sau đây gọi chung là nhà trường), nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập được tổ chức theo các loại hình: công lập, dân lập và tư thục
Nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo công lập do cơ quan Nhà nước thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, bảo đảm kinh phí cho các nhiệm
vụ chi thường xuyên Trường mầm non công lập, Ban giám hiệu do Ủy ban nhân dân quận (thị xã, huyện) chỉ định và bổ nhiệm theo đề bạt của Phòng GD&ĐT cấp quận (thị xã, huyện) Lực lượng CBQL, giáo viên, nhân viên đều do nhà nước điều phối và họ hưởng lương từ ngân sách của nhà nước Đội ngũ này được gọi là nhân sự trong định biên Về trang thiết bị và cơ sở vật chất của nhà trường đều thuộc sở hữu của nhà nước Ban giám hiệu chỉ là người thay mặt nhà nước quản lý về hoạt động giáo dục chứ không được phép sang tên hay chuyển nhượng cho bất kỳ ai làm chủ
Trang 38Về mặt chuyên môn, trường mầm non công lập chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Phòng GD&ĐT huyện, thành phố, thị xã Chương trình GDMN do Bộ GD&ĐT biên soạn Ban giám hiệu từng trường có trách nhiệm triển khai và chỉ đạo thực hiện Cấp quản lý trực tiếp về chuyên môn của trường mầm non là Phòng GD&ĐT các huyện, thành phố, thị xã Trường mầm non thực hiện nhiệm
vụ chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ trong độ tuổi từ 3 tháng đến 6 tuổi theo nuôi dung, chương trình GDMN
1.3.2 Đặc điểm trẻ mầm non
Trong quá trình phát triển của trẻ, ở mỗi độ tuổi khác nhau sẽ có những thay đổi về mặt thể chất và tinh thần rất khác nhau Hiểu được vấn đề này, các bậc phụ huynh sẽ dễ dàng nắm bắt được nhu cầu cần và đủ để có thể yêu thương, chăm sóc trẻ một cách toàn diện, phù hợp nhất cho trẻ
Từ 01 đến 06 tuổi được gọi là thời kì răng sữa Vào thời kì này, trẻ có các đặc điểm tâm sinh lí nổi bật như sau:
(http://future.edu.vn/Home/Article/dacdiemtamsinhlicuatre)
1.3.2.1 Về đặc điểm sinh lí
- Vào thời kì này trẻ lớn chậm dần, mỗi năm tăng trung bình 2.000g Chức năng các bộ phận bắt đầu hoàn thiện và tổ chức não trưởng thành 100% lúc trẻ được 06 tuổi;
- Trẻ tự điều khiển một số động tác khéo léo hơn và sống tập thể, thích bạn bè Khi vào mẫu giáo trẻ nói sõi, hát được, ngâm thơ, học đếm, học vẽ…làm quen các kỹ năng
- Đây là tuổi răng sữa, trẻ bắt đầu nhai được các thức ăn cứng của người lớn và rất chán ăn đồ lỏng mềm của tuổi nhũ nhi Vì vậy, trẻ rất dễ chán ăn nếu như mẹ cứ duy trì chế độ ăn sữa và bột Ở lứa tuổi này hệ thống miễn dịch bắt đầu hoạt động tốt hơn
1.3.2.2.Về đặc điểm tâm lí
- Ở lứa tuổi này, hoạt động với đồ vật là hoạt động chủ yếu của trẻ, trẻ sẽ học được chức năng của đồ vật xung quanh, nhờ đó mà tâm lí của trẻ phát triển mạnh và cũng học được những quy tắc hành vi trong xã hội
Trang 39- Từ những hoạt động đó, trẻ nảy sinh nhu cầu dùng ngôn ngữ giao tiếp với người lớn Cho đến tuổi mẫu giáo thì trò chơi là hoạt động chủ yếu của trẻ giúp hình thành trí tưởng tượng, nhân cách và tư duy
1.3.2.3 Về bệnh lí thường gặp và cách phòng ngừa
- Vào giai đoạn này, trẻ tiếp xúc rộng rãi với môi trường nên dễ mắc các bệnh truyền nhiễm như: sởi, rebella, ho gà, VGSV… nếu không được tiêm chủng đầy đủ và các dịch bệnh: tay chân miệng, sốt xuất huyết, quai bị, đau mắt đỏ…;
- Hệ thống miễn dịch hoạt động tốt hơn, các bệnh nhiễm trùng giảm nhưng
dễ mắc các bệnh dị ứng như viêm cầu thận cấp, hen suyễn;
- Ngoài ra, ở lứa tuổi tò mò, hiếu động nên trẻ dễ bị các tai nạn như điện giật, bỏng, đuối nước,…;
- Do đó, để phòng ngừa các bệnh lí có thể mắc phải, trẻ cần được cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng, bổ sung iot trong khẩu phần ăn mỗi ngày; tham gia các chương trình tiêm chủng bảo vệ sức khỏe cũng như tuân thủ khám sức khỏe định kì Bên cạnh đó, trẻ cũng cần được tham gia các lớp học kĩ năng, phòng ngừa các tình huống khẩn cấp cũng như tai nạn xảy đến bất ngờ trong cuộc sống
1.3.3 Mục đích hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non
- Để đơn vị chủ động phòng chống các dịch bệnh, bệnh truyền nhiễm nhằm ngăn chặn, không lây lan trong nhà trường
- Giúp tập thể cán bộ giáo viên nhân viên có ý thức trách nhiệm thực hiện tốt công tác phòng chống dịch bệnh trong nhà trường
- Nhằm đảm bảo sức khoẻ cho trẻ phát triển tốt khi được nuôi dưỡng chăm sóc tại trường và để tạo niềm tin vững chắc cho phụ huynh khi gởi con vào học tại trường
1.3.4 Nội dung phòng chống dich bệnh cho trẻ mầm non
- Tổ chức các đoàn công tác thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về phòng, chống dịch bệnh, công bố dịch, quản lý sử dụng vắc xin trong tiêm chủng mở rộng và tiêm chủng dịch vụ, công tác y tế trường học, kiểm dịch y tế biên giới, truyền thông - chỉ đạo tuyến,
Trang 40- Thường xuyên tổ chức các đoàn kiểm tra, chỉ đạo, phòng chống dịch bệnh, tập trung vào các dịch bệnh nguy hiểm và mới nổi hoặc bệnh lưu hành có
số người bị nhiễm bệnh, tử vong cao như: MERS-CoV, cúm A (H7N9), cúm A (H5N1), tay chân miệng, sốt xuất huyết, sởi, dại tại các huyện, thành phố, thị
xã
- Kiểm tra, giám sát, hỗ trợ kỹ thuật cho các bệnh viện về phân tuyến điều trị, phân luồng khám bệnh, cách ly, triển khai các giải pháp phòng, chống lây nhiễm chéo trong bệnh viện
- Tăng cường kiểm tra công tác phòng, chống dịch tại các ổ dịch cũ, vùng trọng điểm
Muốn chăm sóc sức khoẻ, đảm bảo an toàn về sức khỏe cho trẻ, nhà quản
lý, giáo viên, người phụ trách y tế phải nắm được kiến thức về nguyên nhân, triệu chứng, các biện pháp phòng tránh cụ thể từng dịch bệnh thường xảy ra với trẻ tại các trường mầm non, nhằm thực hiện có hiệu quả công tác phòng chống dịch bệnh cho trẻ Theo thực tế trẻ mầm non thường mắc các bệnh sau:
1.3.4.1 Bệnh thủy đậu
Bệnh thủy đậu là một bệnh truyền nhiễm rất hay lây, có khả năng gây thành dịch, do một loại siêu vi trùng gây ra, bệnh đặt trưng bằng sốt, nổi phát ban kiểu bọng nước ở da và niêm mạc Đa số bệnh diễn biến lành tính nhưng đôi khi
có thể gây tử vong do những biến chứng trầm trọng như viêm não hậu thủy đậu
Nguyên nhân gây bệnh:
Tác nhân gây bệnh là Herpes Varicellae hay Varicella zostervirus (VZV) được Weller phân lập năm 1952 Virus là những tế bào hình tròn đường kính khoảng 150 – 200 nm nhân mang DNA, có vỏ bọc
Trên lâm sàng, Varicella zoster có thể gây ra hai bệnh khác nhau: đó là bệnh thuỷ đậu và Herpes zoster còn gọi là bệnh zona Bệnh rất hay lây, 90% tiếp xúc trực tiếp có khả năng lây bệnh Thời gian lây bắt đầu 24 giờ trước khi có phát ban và kéo dài cho đến khi những nốt đậu đóng mày (trung bình 7 – 8 ngày) Bệnh thuỷ đậu gây miễn dịch vĩnh viễn sau khi bị nhiễm virus lần đầu nhưng