1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tại trường tiểu học trên địa bàn thành phố thủ dầu một, tỉnh bình dương

187 28 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 187
Dung lượng 1,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tiểu học tại trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh B

Trang 1

UNND TỈNH BÌNH DƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT

NGÔ THỊ HÀN NI

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG

TỰ PHỤC VỤ CHO HỌC SINH TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC

TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT,

Trang 2

UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT

NGÔ THỊ HÀN NI

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG

TỰ PHỤC VỤ CHO HỌC SINH TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC

TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT,

Trang 3

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài: “Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tại trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một.”là một công trình nghiên cứu độc lập không có sự sao chép của người khác Đề tài là một sản phẩm mà tôi đã nỗ lực nghiên cứu trong quá trình học tập Trong quá trình viết tôi có tham khảo một số tài liệu có nguồn gốc rõ ràng và trích dẫn đúng quy định Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về đề tài của mình

Người cam đoan

Ngô Thị Hàn Ni

Trang 4

ii

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và nghiên cứu hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của nhiều tổ chức và cá nhân Tôi xin trân trọng cảm ơn:

Trường Đại học Thủ Dầu Một, Phòng Sau Đại học Trường Đại học Thủ Dầu Một đã tạo điều kiện cho tôi học tập và nghiên cứu khoa học

TS Hồ Văn Thông, Giám đốc Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Bình Dương đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Quý Thầy, Cô đã giảng dạy và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập tại Trường Đại học Thủ Dầu Một

Phòng Giáo dục & Đào tạo thành phố Thủ Dầu Một, hiệu trưởng trường tiểu học Phú Hòa 2, cán bộ quản lí và giáo viên các trường tiểu học trong thành phố Thủ Dầu Một đã cung cấp tài liệu và có những ý kiến quý báu để tôi thực hiện luận văn này

Bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã góp ý và tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành luận văn

Dù đã rất cố gắng, song luận văn vẫn còn nhiều thiếu sót Kính mong quý Thầy, Cô và Hội đồng chấm luận văn góp ý để luận văn được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn !

Bình Dương, tháng 06 năm 2019

Tác giả luận văn

Ngô Thị Hàn Ni

Trang 5

iii

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC BẢNG ix

DANH MỤC BIỂU ĐỒ xi

TÓM TẮT 1

MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Mục đích nghiên cứu 5

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 5

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 6

5 Giả thuyết khoa học 6

6 Phạm vi nghiên cứu 7

7 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 7

8 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 10

9 Đóng góp mới của luận văn 10

10 Bố cục của luận văn 11

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG TỰ PHỤC VỤ CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 12

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 12

1.1.1 Các nghiên cứu nước ngoài 12

1.1.2 Các nghiên cứu trong nước 15

1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 18

Trang 6

iv

1.2.1 Quản lý, hoạt động, quản lý giáo dục, quản lý trường tiểu học 18

1.2.2 Quản lý giáo dục 21

1.2.3 Quản lý trường tiểu học 22

1.2.4 Giáo dục, kỹ năng, tự phục vụ, kỹ năng tự phục vụ, giáo dục kỹ năng tự phục vụ 22

1.2.5.Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ 27

1.3 Một số vấn đề lý luận về giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh Tiểu học27

1.3.1 Đặc điểm tâm lý, lứa tuổi của học sinh tiểu học 27 1.3.2 Mục tiêu giáo dục kỹ năng tự phục phụ cho học sinh tiểu học 30

1.3.3 Nội dung giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tiểu học 30 1.3.4 Phương pháp và hình thức giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tiểu học 31

1.4 Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh trường tiểu học34

1.4.1 Xây dựng kế hoạch giáo dục kỹ năng tự phục vụ 34

1.4.3 Chỉ đạo thực hiện giáo dục kỹ năng tự phục vụ 35

1.4.4 Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện giáo dục kỹ năng tự phục vụ 37

1.4.5 Quản lý các điều kiện để hỗ trợ hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ 38

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh TH 39

1.5.1 Những yếu tố khách quan 39

1.5.2 Những yếu tố chủ quan 39

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ

NĂNG TỰ PHỤC VỤ CHO HỌC SINH TIỂU HỌC TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG 43 2.1 Khái quát đặc điểm về địa bàn nghiên cứu 43

2.1.1 Khái quát về điều kiện tư nhiên, kinh tế - chính trị, văn hóa- xã hội của các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương 43

Trang 7

v

2.1.2 Khái quát về tình hình giáo dục - đào tạo của các trường tiểu học trên địa

bàn thành phố Thủ Dầu Một 45

2.2 Tổ chức khảo sát đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tiểu học 48

2.2.1 Mục tiêu khảo sát 48

2.2.2 Nội dung khảo sát 48

2.2.3 Công cụ điều tra, khảo sát thực trạng 48

2.2.3 Kiểm tra độ tin cậy của thang đo 49

2.2.4 Đối tượng, thời gian, giới hạn nghiên cứu 49

2.2.5 Qui ước thang đo 52

2.3 Thực trạng hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh trường Tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương 53

2.3.1 Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, phụ huynh học sinh về giáo dục kỹ năng tự phục vụ 53

2.3.2 Thực trạng về thực hiện chương trình, nội dung giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh 57

2.3.3 Thực trạng về phương pháp, hình thức giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh 63

2.3.4 Thực trạng đánh giá kết quả của giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh68 2.4 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh trường Tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương 71

2.4.1 Thực trạng xây dựng kế hoạch giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh 71 2.4.2 Thực trạng tổ chức thực hiện giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh 73 2.4.3 Thực trạng chỉ đạo thực hiện giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh 76 2.4.4 Thực trạng kiểm tra, đánh giá việc thực hiện giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh 77

2.5 Đánh giá chung về thực trạng 80

2.5.1 Ưu điểm 80

Trang 8

vi

2.5.2 Hạn chế 80

2.5.3 Nguyên nhân của những hạn chế 82

CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG TỰ PHỤC VỤ CHO HỌC SINH TIỂU HỌC TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG 86

3.1 Những cơ sở để đề xuất biện pháp 86

3.1.1 Cơ sở pháp lý 86

3.1.2 Cơ sở lý luận 86

3.1.3 Cơ sở thực tiễn 87

3.2 Các nguyên tắc xây dựng biện pháp 87

3.2.1 Đảm bảo tính mục tiêu 87

3.2.2 Đảm bảo tính thực tiễn 88

3.2.3 Đảm bảo tính đồng bộ hệ thống 88

3.2.4 Đảm bảo tính hiệu quả 88

3.2.5 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 88

3.3 Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ trong trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương 89

3.3.1 Nâng cao nhận thức của đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý và phụ huynh học sinh về giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tiểu học 89

3.3.2 Xây dựng nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức, đảm bảo các điều kiện, phương tiện phù hợp với mục tiêu và yêu cầu đặc thù của hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh 92

3.3.3 Xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tại các trường tiểu học 94

3.3.4 Tổ chức các hoạt động giúp học sinh phát triển các kỹ năng tự phục vụ cho bản thân 97

3.3.5 Thiết lập môi trường hoạt động phù hợp trong tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tiểu học 99

Trang 9

vii

3.3.6 Đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá việc thực hiện hoạt động giáo dục kỹ

năng tự phục vụ cho học sinh 102

3.4 Mối quan hệ giữa các biện pháp 104

3.5 Khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 105

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 115

TÀI LIỆU THAM KHẢO 119

PHỤ LỤC 122

PHỤ LỤC 1 1

PHỤ LỤC 2 13

PHỤ LỤC 3 17

PHỤ LỤC 4 23

PHỤ LỤC 5: 25

PHỤ LỤC 6: 27

PHỤ LỤC 7 29

Trang 10

viii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT STT Từ viết tắt Từ được viết tắt STT Từ viết tắt Từ được viết tắt

7 GD&ĐT Giáo dục và Đào

Trang 11

ix

DANH MỤC BẢNG

1

Bảng 2.1 Kết quả khảo sát đặc điểm của giáo viên và cán

bộ quản lý tại các trường TH tại thành phố Thủ Dầu Một tỉnh

Bình Dương

49

2 Bảng 2.2 Quy ước thang đo trong đánh giá thực trạng hoạt

động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tiểu học 53

3 Bảng 2.3 Nhận thức về sự cần thiết của giáo dục kỹ năng

4

Bảng 2.4 Nhận thức trong xác định nội dung thực hiện của

giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tiểu học của giáo

viên và cán bộ quản lý

55

5

Bảng 2.5 Thực trạng thực hiện chương trình, nội dung giáo

dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tiểu học của giáo viên và

cán bộ quản lý

57

6 Bảng 2.6 Thực trạng trong giáo dục kỹ năng tự phục vụ

7 Bảng 2.7 Thực trạng biểu hiện kỹ năng tự phục vụ của học

Bảng 2.10 Thực trạng trạng đánh giá về tiêu chí thực hiện

nội dung giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tiểu học

của giáo viên và cán bộ quản lý

68

11 Bảng 2.11 Thực trạng trạng đánh giá về mức độ quản lý 69

Trang 12

x

việc thực hiện các phương pháp giáo dục kỹ năng tự phục vụ

cho học sinh tiểu học của giáo viên và cán bộ quản lý

12

Bảng 2.12 Thực trạng thực hiện xây dựng kế hoạch giáo

dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tại các trường tiểu học

thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương

71

13

Bảng 2.13 Thực trạng tổ chức thực hiện giáo dục kỹ năng

tự phục vụ cho học sinh tại các trường tiểu học thành phố Thủ

Dầu Một, tỉnh Bình Dương

74

14

Bảng 2.14 Thực trạng chỉ đạo thực hiện giáo dục kỹ năng

tự phục vụ cho học sinh tại các trường tiểu học thành phố Thủ

Dầu Một, tỉnh Bình Dương

76

15

Bảng 2.15 Thực trạng kiểm tra đánh giá việc thực hiện

giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tại các trường tiểu

học thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương

78

16 Bảng 2.16 Nguyên nhân hạn chế trong công tác quản lý

hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tiểu học 82

17 Bảng 3.1 Kết quả khảo sát đánh giá tính cần thiết của các

18 Bảng 3.2 Kết quả khảo sát đánh giá tính khả thi của các

Trang 13

xi

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

1 Biểu đồ 2.1 Nhận thức về sự cần thiết của hoạt động giáo

dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh

Trang 14

1

TÓM TẮT

Giáo dục kỹ năng cho học sinh là một trong những vấn đề được nhà trường và xã hội quan tâm, đặt biệt là giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho các em học sinh tiểu học Tuy nhiên, thực tế hiện nay, vấn đề quản lý hoạt động giáo dục

kỹ năng tự phục vụ cho học sinh ở các trường tiểu học vẫn còn nhiều bất cập chưa mang lại hiệu quả đáp ứng được yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông mới năm 2018 Hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ chủ yếu là tuyên truyền, nhắc nhở qua các tiết sinh hoạt dưới cờ, sinh hoạt tập thể, lồng ghép vào các tiết dạy mang tính hình thức, chưa đi sâu vào thực tế Giáo viên chỉ chú trọng vào việc dạy kiến thức mà không chú trọng đến việc dạy kỹ năng, các nhà quản

lý thì chưa có sự theo dõi chỉ đạo cụ thể, chỉ nhận xét chung chung, không chú tâm đến việc giáo dục kỹ năng mà chỉ chạy theo thành tích vì chất lượng của nhà trường Đó là nguyên nhân khiến giáo viên và các nhà quản lý chưa có đầu tư về nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức kỹ năng tự phục vụ ở các trường

Để đáp ứng yêu cầu phát triển toàn diện của nền giáo dục Việt Nam, thì việc giáo dục các kỹ năng là việc làm cần thiết và quan trọng trong nhà trường tiểu học Từ yêu cầu đó, thì các nhà quản lý cần phải xây dựng kế hoạch, chỉ đạo thực hiện, kiểm tra đánh giá một cách cụ thể, có động viên khen thưởng kịp thời

để hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ ngày một hiệu quả hơn Vì vậy, quản

lý có hiệu quả hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ là một trong những nhiệm

vụ vô cùng quan trọng của người Hiệu trưởng để nâng cao chất lượng giáo dục các kỹ năng cho học sinh đáp ứng yêu cầu giáo dục toàn diện của nhà trường

Việc giáo dục kỹ năng tự phục vụ tại các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương vẫn đang thực hiện nhưng chưa có một nghiên cứu nào đánh giá khách quan Chính vì thế tác giả nhận thấy việc làm này hết sức cần thiết và cần được quan tâm

Mục tiêu của nghiên cứu đề tài này nhằm tăng cường các biện pháp quản

lý thiết thực, hiệu quả của hiệu trưởng nhà trường trong quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tiểu học Qua khảo sát kỹ năng tự phục vụ cho học sinh 8 trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương (310 phiếu khảo sát của giáo viên và cán bộ quản lý; 400 phiếu khảo sát của phụ huynh học sinh) và quan sát học sinh Tác giả nhận thấy mọi người đều nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của việc giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh Tuy nhiên về nhận thức của giáo viên và cán bộ quản lý; phương pháp

và hình thức giáo viên thực hiện; việc lập kế hoạch; công tác kiểm tra đánh giá hoạt động này còn hạn chế Vì vậy hiệu quả giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh chưa cao, còn nhiều em chưa có kỹ năng tự phục vụ bản thân mà cần đến sự

Trang 15

2

giúp đỡ của người lớn Rất nhiều nguyên nhân dẫn đế thực trạng này mặc dù giáo viên đã quan tâm đến giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh nhưng vẫn còn hời hợt, làm cho xong chưa thật sự tâm huyết trong công việc, thời gian đầu tư cho việc giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh chưa nhiều, một số trường chưa thường xuyên phát động, tổ chức các hoạt động thi đua về giáo dục kỹ năng

tự phục vụ cho học sinh Cha mẹ các em chưa có nhiều thời gian quan tâm đến việc giáo dục các em kỹ năng tự phục vụ, một số phụ huynh quá nuông chiều, bao bọc dẫn đến các em không biết làm gì Dó đó các em không có kỹ năng sống nói chung và kỹ năng tự phục vụ nói riêng Từ đó người nghiên cứu đề xuất một

số biện pháp sau:

Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức của giáo viên, cán bộ quản lý và phụ huynh học sinh về giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh

Biện pháp 2: Quản lý việc thực hiện nội dung, phương pháp và hình thức

tổ chức, đảm bảo các điều kiện, phương tiện phù hợp với mục tiêu và yêu cầu đặc thù của hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh

Biện pháp 3: Xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục mà nội dung hướng tới kỹ năng tự phục vụ

Biện pháp 4: Tổ chức các hoạt động giúp học sinh phát triển các kỹ năng

Trang 16

và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội…” Ngành GD Việt Nam đã và đang cải cách, đổi mới ngày một tốt hơn đặc biệt là trong giáo dục tiểu học Kết hợp với việc GD kiến thức, giáo dục kỹ năng tự phục vụ giúp học sinh phát triển cả thể chất lẫn trí tuệ Giáo dục kỹ năng tự phục

vụ phải bắt đầu từ việc định hướng cho học sinh tiểu học những hành vi tốt, GD học sinh biết nhận thức, biết tự phục vụ cho bản thân, nên giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tiểu học là vấn đề cấp thiết cần đặt lên hàng đầu, khi con người nhận thức được khả năng của chính mình thì vận dụng các kỹ năng sống (KNS) khác một cách có hiệu quả

Thời gian qua, dư luận đã phản ánh khá nhiều về thực trạng thanh thiếu niên thiếu kiến thức về KNS mà trong đó kỹ năng cơ bản nhất là kỹ năng tự phục

vụ các em cũng không có Phần lớn các em sống rất ích kỉ, chỉ biết nghĩ đến bản thân, chỉ biết nhận, biết hưởng thụ mà không biết cho đi… Thực tế, điều này tại Trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một những năm gần đây cũng không phải là ngoại lệ Đa số HS sống trong hai môi trường có hoàn cảnh khác nhau: Một là các em được sự quan tâm chăm sóc hết sức chu đáo của phụ huynh

vì sống trong gia đình ít con, hoàn cảnh kinh tế ổn định; hai là những em sống trong gia đình khó khăn, phụ huynh bỏ mặc con cái Chính môi trường hoàn cảnh khác nhau ấy lại mang đến cho các em những thiếu sót lớn trong KNS, nhất là trong kỹ năng tự phục vụ bản thân

Chính vì vậy ngay từ lứa tuổi nhỏ, mà đặc biệt là lứa tuổi tiểu học đang dần hình thành nhân cách con người thì việc giáo dục kỹ năng tự phục vụ là một

Trang 17

4

việc làm rất cần thiết Bởi nó ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách sau này của các em Nếu kỹ năng tự phục vụ của các em được hình thành sớm thì sẽ phát triển nhân cách toàn diện và bền vững, là chìa khóa thành công cho tương lai của mỗi đứa trẻ

Trong việc đổi mới chương trình GD phổ thông năm 2018 đã đề ra 5 phẩm chất và 10 năng lực Từ đó cho thấy Bộ giáo dục và đào tạo đã có hướng chỉ đạo phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh một cách toàn diện (Bộ giáo dục và đào tạo, 2018)

Giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tiểu học không chỉ như một mục tiêu GD mà còn như một nhiệm vụ GD cụ thể, vì học sinh tiểu học đã hình thành cơ sở ban đầu của nhân cách Việc giáo dục kỹ năng tự phục vụ nhằm GD tính tự lập cho học sinh ngay từ nhỏ Trong giai đoạn đổi mới GD học sinh tiểu học hiện nay, một số trường tiểu học đa số GV đã xác định được sự cần thiết của giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tiểu học Tuy nhiên, họ còn lung túng trong cách tổ chức các hình thức học tập, sử dụng phương pháp dạy học (PPDH)… Do đó, GV chỉ tập trung vào GD hành vi, chưa chú trọng vào khía cạnh nhận thức và thái độ của học sinh, làm giúp cho học sinh những công việc

mà lẽ ra học sinh hoàn toàn có thể tự làm được khi được giáo dục kỹ năng tự phục vụ Bên cạnh đó, các bậc phụ huynh nhận thức việc giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh chưa đúng như: chỉ chú trọng dạy con học đọc, học viết, chiều chuộng con cái không đúng, không chú trọng GD con mình ăn, uống như thế nào, khả năng sử dụng những đồ dùng, vật dụng trong ăn uống ra sao khiến học sinh không có KNS Chính vì thế đã khiến cho học sinh thiếu tự tin vào bản thân mình, có xu hướng rụt rè, nhút nhát trong giao tiếp với những người xung quanh đặc biệt là trong đời sống xã hội hiện đại của chúng ta ngày nay Thiếu kỹ năng tự phục vụ sẽ dẫn đến hệ lụy học sinh lười biếng, thụ động và khó khăn khi tham gia vào các hoạt động của tập thể

Đổi mới quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh (HS) không phải là hoạt động đơn giản, cần có sự kiên trì và cần có sự đầu tư về mọi mặt Nhưng thực trạng thanh thiếu niên thiếu kiến thức về kỹ năng sống mà cơ

Trang 18

5

bản nhất là kỹ năng tự phục vụ Phần lớn các em sống rất ích kỉ, chỉ biết nghĩ đến bản thân Thực trạng đó là do các em chưa có nhận thức, tiếp thu của các em còn chậm hay không chịu tập trung vào sự hướng dẫn của người lớn, các em không thường xuyên làm cho nên các em quên Mặc khác là do sự hướng dẫn của giáo viên cũng chưa cụ thể, chưa có sự nhắc nhở thường xuyên nên các em không có thói quen tự phục vụ Do các trường tiểu học chưa có kế hoạch cụ thể, rõ ràng và chưa có tiêu chí đánh giá về kỹ năng này Đặc biệt là công tác kiểm tra, đánh giá chưa thường xuyên và kịp thời Bên cạnh đó còn do yếu tố gia đình ở Việt Nam hiện nay chỉ có 1 đến 2 con, tất cả tình cảm bố mẹ dành trọn cho con, chiều chuộng hết mức đứa con yêu quý của mình, ba mẹ cứ nghĩ con mình còn nhỏ chưa thể làm được, làm chưa gọn gàng, chưa đúng ý mình, sợ mất thời gian,…Từ

đó dẫn đến thói quen ỷ lại, lười lao động nên không có kỹ năng tự phục vụ Chính vì thế người quản lý cần phải có những biện pháp phù hợp để giáo dục tốt

kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tiểu học, nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội hiện nay

Với mong muốn nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho

học sinh tiểu học, tôi chọn đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục

vụ cho học sinh tại trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương” làm luận văn tốt nghiệp

2 Mục đích nghiên cứu

Nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tiểu học, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh ở trường tiểu học trên địa bàn TP Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương nói riêng

và cả tỉnh Bình Dương nói chung

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tiểu học

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Trang 19

6

Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tiểu học (TH) tại trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tiểu học

Khảo sát thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tiểu học tại trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương

Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tiểu học tại trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương

Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tiểu học tại trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương

5 Giả thuyết khoa học

Hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ và công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương đã đạt một số kết quả nhất định, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho giáo dục tiểu học của thành phố Tuy nhiên công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ vẫn còn nhiều hạn chế và bất cập

Nếu hệ thống hóa được hệ thống lý luân về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ ột cách vững chắc; đồng thời phân tích, đánh giá đúng thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ của giáo dục tiểu học TP Thr Dầu Một, tỉnh Bình Dương, thì sẽ đề xuất được các biện pháp mang tính khoa học và khả thi cao góp phần nâng cao hiệu quả chất lượng giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh ở các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương hiện nay

Trang 20

6.2 Về địa bàn nghiên cứu

8 trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một: TH Phú Hòa 2;

TH Phú Hòa 1; TH Trần Phú; TH Phú Mỹ; TH Tân An; TH Nguyễn Hiền; TH

Lê Hồng Phong; TH Hòa Phú

7.1.1 Quan điểm hệ thống - cấu trúc

Quan điểm hệ thống – cấu trúc nghiên cứu hiện tượng một cách toàn diện, trên nhiều mặt, dựa vào việc phân tích đối tượng thành các bộ phận Xác định mối quan hệ hữu cơ giữa các yếu tố của hệ thống để tìm quy luật phát triển Qua cách tiếp cận quan điểm này, người nghiên cứu tìm hiểu được mối liên hệ chặt chẽ giữa quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh và quản lý các hoạt động sư phạm khác ở nhà trường Thông qua việc nghiên cứu, quan điểm hệ thống – cấu trúc giúp người nghiên cứu tìm hiểu chính xác thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh ở các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương

7.1.2 Quan điểm lịch sử - logic

Tìm hiểu sự hình thành và phát triển của công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh nói chung, quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh TH nói riêng trên thế giới, tại Việt Nam và trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Quan điểm này giúp người

Trang 21

8

nghiên cứu xác định phạm vi không gian, thời gian và điều kiện hoàn cảnh cụ thể, để điều tra thu thập số liệu chính xác, đúng với mục đích nghiên cứu đề tài, trình bày công trình nghiên cứu theo một trình tự hợp lý

7.1.3 Quan điểm thực tiễn

Nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh ở các trường TH tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xuất phát từ thực tiễn của công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh TH trên địa bàn tỉnh Bình Dương nói chung và thành phố Thủ Dầu Một nói riêng để tìm ra những tồn tại, khó khăn trong công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh ở các cơ sở giáo dục này, từ đó đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục

vụ cho học sinh phù hợp với thực tiễn

7.2 Phương pháp nghiên cứu

7.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Phân tích và tổng hợp các văn bản, tài liệu, sách báo và các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài; phân loại và hệ thống hoá những nội dung lý luận nói trên làm cơ sở lí luận về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tại trường tiểu học

7.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Để đánh giá khách quan về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng

tự phục phụ cho học sinh ở các trường TH trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp sau đây:

Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:

Điều tra giáo dục là phương pháp khảo sát một số lượng lớn các đối tượng nghiên cứu ở một hay nhiều khu vực, vào một hay nhiều thời điểm nhằm thu thập

số liệu phục vụ cho mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích: Nhằm phối hợp với các phương pháp khác để thu lại kết quả khách quan nhất đồng thời chúng tôi cũng dùng phương pháp này để khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự

Trang 22

Cách tiến hành: Xây dựng 2 phiếu khảo sát gồm:

Phiếu 1: Dành cho cán bộ quản lý (Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn) và giáo viên của 8 trường (310 phiếu) nghiên cứu nhằm tìm hiểu về công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh

Phiếu 2: Dành cho PHHS 8 trường (400 PHHS) nội dung câu hỏi về nhận thức của phụ huynh đối với việc giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho các em hiện nay

Phương pháp phỏng vấn:

Người nghiên cứu phỏng vấn các giáo viên và cán bộ quản lý nhằm thu thập dữ liệu làm rõ hơn trong kết quả nghiên cứu định lượng về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh Các nội dung phỏng vấn bao gồm các ý kiến về mục tiêu, vai trò trong quá trình thực hiện hoạt động giáo dục, cũng như trong công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tại các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một Trong đó, các câu hỏi được tập trung hỏi về thực hiện các nội dung giáo dục kỹ năng tự phục

vụ, xây dựng thực hiện kế hoạch, tổ chức chỉ đạo và kiểm tra đánh giá hoạt động giáo dục này

Để thực hiện tốt việc phỏng vấn, người nghiên cứu xác định đối tượng cần được phỏng vấn, lập danh sách và thông báo cho các đối tượng được phỏng vấn

để họ có thời gian chuẩn bị, cũng như tiến hành phỏng vấn theo các câu hỏi đã được chuẩn bị trước tránh làm mất thời gian cho người được phỏng vấn; Mẫu phỏng vấn: bao gồm 10 Ban giám hiệu và 20 giáo viên công tác tại các trường tiểu học tham gia khảo sát trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương

Trang 23

Để có kết quả quan sát hiệu quả, người nghiên cứu xác định đối tượng cần được quan sát Quan sát trong nhiều khoảng thời gian khác nhau, địa điểm khác nhau để ghi nhận, phân tích đánh giá đưa ra những ưu và hạn chế về biểu hiện của học sinh trong hoạt động giáo dục

7.2.3 Nhóm phương pháp xử lý số liệu thống kê

Đề tài sử dụng phần mềm SPSS, phần mềm Excel để xử lý số liệu trong quá trình nghiên cứu; và phân tích số liệu trên phần mềm SPSS dùng trong môi trường Window về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh ở các trường TH trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương

8 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Về lý luận: Đề tài góp phần làm rõ thêm cơ sở lý luận quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tiểu học tại trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương

Về thực tiễn: Đề tài đánh giá đúng thực trạng hoạt động giáo dục kỹ năng

tự phục vụ và quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tại các trường tiểu học Từ đó đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh ở các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương một cách khoa học và khả thi, nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường

9 Đóng góp mới của luận văn

Tổng hợp và hệ thống hoá lý luận về vấn đề quản lý các hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho HS trong nhà trường TH

Trang 24

11

Đánh giá được một số điểm nổi bật trong việc giáo dục kỹ năng tự phục

vụ và thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ tại trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương

Đề xuất được cách tiếp cận mang ý tưởng mới trong giáo dục kỹ năng tự phục vụ (KN TPV) cho học sinh ở các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương

Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục KN TPV cho học sinh ở các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương một cách khoa học và khả thi

10 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục Kết cấu luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục

vụ cho học sinh tiểu học

Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tiểu học tại trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương

Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tiểu học tại trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương

Trang 25

12

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC

KỸ NĂNG TỰ PHỤC VỤ CHO HỌC SINH TIỂU HỌC

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Các nghiên cứu nước ngoài

Kỹ năng sống được đề cập trong các chương trình hành động của UNESCO (Tổ chức văn hoá, khoa học và giáo dục của Liên hiệp quốc), WHO (Tổ chức y tế thế giới), UNICEF (Quỹ Nhi đồng Liên hiệp Quốc) cũng như trong các chương trình hành động của các tổ chức xã hội trong và ngoài nước ở hướng nghiên cứu này, các tác giả chủ yếu xây dựng hệ thống các kỹ năng của từng loại hoạt động, mô tả chân dung các kỹ năng cụ thể và các điều kiện, quy trình hình thành và phát triển hệ thống các kỹ năng đó

Nghiên cứu kỹ năng ở mức độ khái quát, đại diện cho hướng nghiên cứu này có tác giả V.A.Crutexki có công trình nghiên cứu chủ yếu đi sâu vào vấn đề hình thành tri thức và kỹ năng theo lý thuyết hình thành hành động trí tuệ theo giai đoạn (V.A.Kruteski, 1990)

Một số nhà tâm lý học coi khả năng tự lập, tự phục vụ cho bản thân là một trong những nét đặc trưng của nhân cách, đại diện là T.I Ganhenlin, A.A Sinirnop và E.U.Dmitriev…cho rằng: “Khả năng tự lập phải hình thành trên cơ

sở người học đã có một số kiến thức, hiểu biết một số kỹ năng nhất định và biết vận dụng chúng vào những tình huống khác nhau trong thực tế, đó phải là những tình huống mới mẻ mà các em phải đối mặt trong cuộc sống Khả năng tự lập của các em được bộc lộ rõ qua các hành vi và ta có thể dễ dàng quan sát thấy được trong khi các em đang thực hiện các mối quan hệ giữa người – người, hay giữa con người với thế giới xung quanh”

Giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tiểu học là một trong những vấn đề đã được các nhà tâm lý, nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu Mặc dù có khác nhau về các biện pháp, phương pháp khác nhau từ các góc độ nghiên cứu song họ đều cho rằng chính hai mặt năng lực và phẩm chất là hai mặt then chốt

mà giáo dục cần tác động đến nhằm tạo ra những con người toàn diện

Trang 26

13

Rất nhiều tác giả nước ngoài đã đề cập đến vấn đề giáo dục KN TPV cho các em trong cuộc sống, khả năng tự lập là một phẩm chất nhân cách vô cùng quan trọng Nhờ vào khả năng tự lập mà các em có khả năng tự hoạt động, tự cố gắng tham gia và hoàn thành công việc trên cơ sở năng lực của bản thân các em

Tác giả A.G.Côvaliôp trong công trình nghiên cứu của mình đã chú trọng đến việc giáo dục lao động tự phục vụ cho HS Tác giả cho rằng thói quen là bản tính thứ hai của con người Khi có thói quen lao động, nếu không làm việc người

ta không chịu được, Như vậy theo A.G.Côvaliôp một khi đã có thói quen lao động thì con người sẽ chủ động thực hiện công việc, nếu như không thực hiện thường xuyên thì học sẽ cảm thấy khó chịu, buồn bực Vì vậy, đối với HS TH một khi có kỹ năng tự phục vụ đã hình thành thì cần thực hiện một cách thường xuyên, liên tục để chúng trở thành nhu cầu của các em, nếu không các em sẽ cảm thấy khó chịu Tác giả cũng nhấn mạnh rằng việc các em chủ động thực hiện các công việc tự phục vụ sẽ mang lại cho chúng niềm vui, niềm tự hào đó là động lực thôi thúc các em thực hiện lao động tự phục vụ Vì vậy tác giả cho rằng giáo viên cần tạo được niềm vui, điều đó mang lại hiệu quả cao trong việc giáo dục lao động tự phục vụ cho các em (A.G.Côvaliôp, 1990)

Tác giả I.A.Peecnicova trong nhiều tác phẩm của mình đã đề cập đến việc giáo dục lao động tự phục vụ đối với sự hình thành phẩm chất đạo đức của trẻ

em Theo ông phẩm chất đạo đức hình thành ở trẻ em trước hết là trong quá trình lao động Phẩm chất ấy thể hiện ở sự ham thích và thói quen lao động phục vụ bản thân, gia đình, nhà trường , Như vậy sự thích thú và thói quen, kỹ năng lao động tự phục vụ bản thân chính là một biểu hiện của phẩm chất đạo đức của các

em Ông cho rằng nên cho các em làm việc dễ dàng nhưng có ích từ khi các em còn nhỏ Việc thực hiện các kỹ năng tự phục vụ như tự rửa tay, rửa mặt, đánh răng, chải tóc, xếp đồ, xếp sách vở là những công việc dễ dàng vừa sức trẻ mà

vô cùng có ích đối với sức khỏe và vẻ đẹp con người (A.P.Traboxkaia, 2002)

Dựa trên quan điểm kiên quyết yêu cầu phải để các em tự phục vụ từ khi còn nhỏ, nếu không các em sẽ phát triển thói ăn bám xấu xa của Crupxkaia, tác giả cho rằng Con cái chúng ta phải hưởng tuổi thơ hạnh phúc, nhưng tuyệt nhiên

Trang 27

14

không có nghĩa là tuổi thơ ấy phải nhàn rỗi Các em sẽ không thấy hạnh phúc khi

bố mẹ cứ phục vụ các em mãi như cậu ấm cô chiêu (A.P.Traboxkaia, 2002) Đồng thời tác giả đưa ra nguyên tắc vô cùng đơn giản và quan trọng để rèn cho trẻ thói quen vệ sinh sạch sẽ đó là không làm thay con cái những việc mà các em

có thể tự làm được, ngay cả với những em bé nhất, tùy theo khả năng, trẻ em phải tự ăn uống, rửa mặt, đánh răng, soạn sách vở, vệ sinh cá nhân, (I.A.Peecnicôva, 1998)

Tác giả K.D.Usinxki người sáng lập khoa học giáo dục Nga, trong công trình nghiên cứu của mình ông đã chỉ ra rằng sự phát triển của trẻ em là kết quả lao động của bản thân các em qua hoạt động nhận thức và trí tuệ (K.D.Usinxki,

1861, p 20) Để các em yêu thích lao động, thì cần phải giúp các em tiếp cận với lao động, mức độ thể hiện kỹ năng tự phục vụ ở các em phụ thuộc vào việc tham gia vào hoạt động lao động trong môi trường xung quanh

A.X.Macarenco nhà giáo dục lớn người Nga, rất quan tâm tới việc giáo dục trẻ em thông qua lao động, giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho các em, nguyên tắc lý tưởng là phải làm thế nào cho bản thân lao động có tính hấp dẫn học sinh

và kích thích họ cố gắng, đạt được những kết quả tốt đẹp Theo hai tác giả trong lĩnh vực lao động không dùng khen thưởng và trách phạt, tác giả cho rằng:

“Nhiệm vụ lao động và sự hoàn thành nhiệm vụ đó đã khiến cho nhi đồng vui sướng thoải mái rồi Khi thừa nhận công tác của các em là tốt thì đó phải là cái phần thưởng rất quý đối với lao động của các em Đối với trẻ em cần phải giáo dục các em thói quen sinh hoạt, thói quen văn hóa, ý thức tự lập, khả năng tự kiềm chế, tinh thần vượt khó ý thức trách nhiệm đối với bản thân và mọi người Tác giả quan tâm trước tiên tới giáo dục và phát triển kỹ năng tự phục vụ ở các

em thông qua trò chơi, chính trò chơi phát triển rất nhiều kỹ năng ở các em (A.X.Macarenco, 2018)

Khả năng tự phục vụ cho bản thân là một trong những khía cạnh giúp hình thành nhân cách ở học sinh Việc giáo dục kỹ năng tự phục vụ sẽ giúp cho học sinh có khả năng tự lập, tự hoạt động, cố gắng và hoàn thành công việc trên cơ sở năng lực bản thân từ đó hình thành nên phẩm chất đạo đức của học sinh Nên để

Trang 28

Hiện nay xu hướng giáo dục TH trên thế giới đặc biệt là Mỹ và Nhật Bản rất quan tâm đến giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho HS Họ cho rằng thiếu kỹ năng

tự phục vụ sẽ dẫn đến hệ lụy trẻ lười biếng, thụ động và khó khăn khi tham gia vào các hoạt động tập thể, các nhà giáo dục cho rằng cần giáo dục các em kỹ năng tự phục vụ ngay từ khi các em còn rất nhỏ chứ không phải đợi đến lứa tuổi tiểu học, việc nắm bắt các kỹ năng tự phục vụ giúp các em tăng cường tính độc lập và cảm giác về sự thành công, không chỉ có lợi cho sự phát triển của các em

mà hữu ích cho cả người lớn

1.1.2 Các nghiên cứu trong nước

Khái niệm “Kỹ năng sống” thực sự được hiểu một cách đúng đắn và chặt chẽ, sau hội thảo “Chất lượng giáo dục và kỹ năng sống” do UNICEF tổ chức năm 2003 tại Hà Nội Từ đó người làm công tác giáo dục ở Việt Nam đã hiểu đầy đủ hơn về kỹ năng sống (Huỳnh Văn Sơn, 2017)

Tác giả Nguyễn Thanh Bình và cộng sự đã mô tả sinh động và rất đầy đủ,

hệ thống tiếp cận thực hiện GD kỹ năng sống cho học sinh do ngành giáo dục thực hiện GD đã triển khai chương trình GD kỹ năng sống vào hệ thống giáo dục chính quy và không chính quy Nội dung giáo dục nhà trường phổ thông được định hướng bởi mục tiêu giáo dục kỹ năng sống Theo đó, các nội dung GD

kỹ năng sống được triển khai tại bậc tiểu học về chương trình cải cách của GD tiểu học (2000) đã quan tâm đến viêc GD những hành vi, KN tự phục vụ, KN giao tiếp ứng xử cho học sinh (Nguyễn Thanh Bình và cs, 2009)

Năm 2009, tác giả Huỳnh Văn Sơn xuất bản ấn phẩm “Nhập môn kỹ năng sống” với các nội dung cơn bản: những vấn đề chung về kỹ năng sống và một số

kỹ năng sống cơ bản, các kỹ năng tự phục vụ cần thiết,…Bên cạnh đó tác giả

Trang 29

16

cũng đưa ra giá trị của việc hình thành các kỹ năng này đối với đời sống của mỗi

cá nhân để từ đó mọi người có ý thức rèn luyện để hình thành nên kỹ năng đó trong chính cuộc sống của mình Cũng theo tác giả này “ Kỹ năng sống là những

kỹ năng tinh thần hay những kỹ năng tâm lý, kỹ năng tâm lý – xã hội cơ bản giúp cho cá nhân tồn tại và thích ứng trong cuộc sống Những kỹ năng này giúp cho

cá nhân thể hiện được chính mình cũng như tạo ra những nội lực cần thiết để thích nghi và phát triển Kỹ năng sống còn được xem như một biểu hiện quan trọng của năng lực tâm lý xã hội giúp cho cá nhân vững vàng trước cuộc sống có nhiều thách thức nhưng cũng nhiều cơ hội trong thực tại” (Huỳnh Văn Sơn, 2009)

Giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tiểu học không chỉ như một mục tiêu GD mà còn như một nhiệm vụ GD cụ thể, vì học sinh tiểu học đã hình thành cơ sở ban đầu của nhân cách Việc giáo dục kỹ năng tự phục vụ nhằm GD tính tự lập cho học sinh ngay từ nhỏ

Với nhiều năm nghiên cứu về giáo dục, Hà Nhật Thăng đã cho xuất bản cuốn sách : “Giáo dục hệ thống giá trị đạo đức nhân văn” năm 1998 và đã tái bản nhiều lần Trong đó, trang bị cho học sinh, sinh viên nắm vững hệ thống giá trị cốt lõi, đó là cơ sở cơ bản của nhân cách, rèn luyện để thế hệ trẻ có những hành

vi tương ứng với hệ thống giá trị đạo đức nhân văn cốt lõi, phù hợp với yêu cầu của xã hội, của thời đại (Hà Nhật Thăng, 1998)

Ở Việt Nam các nhà nghiên cứu kỹ năng tiếp cận theo hai hướng: Hướng thứ nhất là kỹ năng lao động, xét về mặt kỹ thuật của thao tác, hành động hay hoạt động gắn với những tên tuổi các nhà tâm lý - giáo dục như Trần Trọng Thuỷ (Trần Trọng Thủy, 2006) Hướng thứ hai là kỹ năng hoạt động sư phạm, kỹ năng học tập xét về mặt năng lực của con người gắn với tên tuổi các nhà tâm lý -giáo dục như Nguyễn Văn Hộ và Hà Thị Đức… (Trần Kiểm và Nguyễn Xuân Thức, 2012)

Đối với các kỹ năng như lau mặt, rửa tay, chải tóc, mặc quần áo … thì giáo viên phải dạy động tác từ đơn giản đến phức tạp, thường xuyên cho các em được tập luyện (Trần Thanh Phong và Trần Thanh Tùng, 2002)

Trang 30

17

Luật GD năm 2005 của Việt Nam đã nêu rõ mục tiêu của GD phổ thông theo yêu cầu mới là “chuyển từ chỗ chủ yếu là trang bị kiến thức cho học sinh sang chủ yếu là trang bị nhựng phẩm chất và năng lực công dân đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” Phương pháp GD phổ thông cũng được xác định “phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” (Luật Giáo dục, 2005)

Nghị quyết 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Hội nghị TW 8 khóa XI về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo đã nêu rõ “Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình GD chủ yếu trong trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực

và phẩm chất người học Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; GD nhà trường kết hợp với GD gia đình và GD xã hội” và “GD con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình; yêu Tổ quốc; yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả” thể hiện rất

rõ quan điểm của Đảng về giáo dục đào tạo chú trọng phát triển con người toàn diện cả về năng lực, kỹ năng và thái độ

Khả năng tư lập của các em phát triển từ thấp đến cao, từ dễ đến khó Như vậy GD khả năng tự lập cho học sinh là một nhiệm vụ vô cùng cần thiết và có ý nghĩa trong giai đoạn hình thành nhân cách, đặc biệt là lứa tuổi tiểu học Có thể nói rằng ở lứa tuổi các em cần thiết phải trang bị khả năng tự lập, tự phục vụ bản thân, hướng khả năng tự lập theo chiều hướng đúng đắn nhất Hình thành những phẩm chất quý báo cần thiết cho các em trước ngưỡng cửa bước vào cuộc đời

Nhiều tác giả cho rằng sự cần thiết của việc GD và rèn luyện những KN thói quen tốt cho các em trong cuộc sống bao gồm cả KN tự phục vụ Việc giáo dục KN cần thiết ở mọi lúc mọi nơi, tận dụng cơ hội trong hoạt động hàng ngày của các em Kết quả hình thành KN tự phục vụ cho các em thông qua truyền thống gia đình, vai trò của cá nhân các em và tính hứng thú của chính quá trình

GD Vì vậy cần có sự phối hợp nhất quán giữa các thành viên trong gia đình và

Trang 31

Thông qua nghiên cứu của các tác giả đã phân tích làm rõ tính cấp bách và

sự cần thiết về KN sống của các em Đặc biệt là KN tự phục vụ của các em, mặc

dù đã được định hướng bởi các phương pháp, biện pháp, hình thức để GD các em nhưng vẫn còn hạn chế Vấn đề GD KN tự phục vụ cho các em phải đòi hỏi sự tham gia phối kết hợp gia đình, nhà trường và xã hội với nhiều hình thức khác nhau, để GD các em Tuy nhiên việc GD KN tự phục vụ cho các em ở trường TH chỉ dừng lại trên tiết học hay lồng ghép trong một số hoạt động (HĐ) như: HĐ vui chơi, hoạt động sinh hoạt tập thể, hoạt động ngoại khóa,…trong các HĐ chỉ dạy các em theo nội dung quy định của chương trình GD tiểu học Nhưng chưa được xác định đúng mức, rõ ràng, phương pháp dạy còn hời hợt, chưa đi sâu vào thực tế Do đó mọi người cần phải xác định trách nhiệm của mình để giúp các em phát huy hết khả năng, ý thức tự lập thật tốt để các em tự tin và thành công khi bước vào cuộc sống sau này

1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài

1.2.1 Quản lý, hoạt động, quản lý giáo dục, quản lý trường tiểu học

* Quản lý

Thuật ngữ "Quản lý" lột tả bản chất hoạt động điều khiển các hoạt động của một tổ chức nhằm đạt tới mục tiêu Theo Từ điển Tiếng Việt: “Quản lý là trông coi, giữ gìn theo những yêu cầu nhất định” hoặc “Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định.”

Theo quan niệm của Mác: “Quản lý là một chức năng tất yếu của lao động

xã hội, nó gắn chặt với sự phân công và phối hợp” "Bất cứ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn đều yêu cầu

Trang 32

19

phải có một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân Sự chỉ đạo đó phải

là những chức năng chung, tức là những chức năng phát sinh từ sự khác nhau giữa sự vận động chung của cơ thể sản xuất với những vận động cá nhân của những khí quan độc lập hợp thành cơ thể sản xuất đó Một nhạc sĩ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng" Trong thực tiễn, đã có nhiều cách hiểu và biểu đạt về khái niệm quản lý, tuỳ theo mục đích tiếp cận khác nhau của mỗi tác giả (C.Mac va Ăngghen, 1993, pp 23,687,688)

Khi nói đến vai trò quản lí trong xã hội, ý kiến của Paul Hersey và Ken Blanc Heard trong cuốn Quản lí nguồn nhân lực cho rằng: “Quản lí là một quá trình cùng làm việc giữa nhà quản lí với người bị quản lí, nhằm thông qua hoạt động của cá nhân, của nhóm, huy động các nguồn lực khác để đạt được mục tiêu của tổ chức” (Paul Hersey and Ken Blanc Heard, 1995)

Harold Koontz, Cyril Odonnell và Heinz Weihrich cho rằng: “Quản lý là hoạt động đảm bảo sự phối hợp giữa nỗ lực các cá nhân nhằm đảm bảo mục tiêu quản lý trong điều kiện chi phí thời gian, công sức, tài lực, vật lực ít nhất đạt được kết quả cao nhất” (Harol Kontz, Cyril Odonnell & Heinz Weihrich, 1994)

Các tác giả Mai Quang Huy, Đinh Thị Kim Thoa và Trần Anh Tuấn đưa

ra khái niệm: “ Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản

lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức, làm cho tổ chức đó vận động trên cơ

sở phát huy tốt nhất các tiềm lực vốn có và đảm bảo phát triển của tổ chức” (Mai Quang Huy và cs)

Theo tác giả Trần Kiểm: "Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài nước (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất" (Trần Kiểm, 2011) Theo tác giả Trần Kiểm, Nguyễn Xuân Thức: Quản lý là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ chức

để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định (Trần Kiểm và Nguyễn Xuân Thức, 2012, p 32)

Trang 33

20

Theo tác giả Nguyễn Bá Sơn – 2000 cho rằng quản lí là sự tác động có hướng đích của chủ thể quản lí đến đối tượng quản lí bằng một hệ thống các giải pháp nhằm thay đổi trạng thái của đối tượng quản lí, đưa hệ thống tiếp cận mục tiêu cuối cùng, phục vụ lợi ích con người (Nguyễn Bá Sơn, 2000)

Tóm lại, các định nghĩa trên tuy khác nhau về cách diễn đạt, về góc độ, tiếp cận nhưng đều gặp nhau ở những nội dung cơ bản của khái niệm quản lý: Quản lý

là hành động đưa các cá nhân trong tổ chức làm việc cùng nhau để thực hiện, hoàn thành mục tiêu chung Đó là quá trình tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý bằng việc vận dụng các chức năng quản lý nhằm

sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng và cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra

Từ đó có thể khái quát quản lý là một dạng lao động đặc biệt nhằm gây ảnh hưởng, điều khiển, phối hợp lao động của người khác hoặc của nhiều người khác trong cùng tổ chức hoặc cùng công việc nhằm thay đổi hành vi và ý thức của họ, định hướng và tăng hiệu quả lao động của họ, để đạt mục tiêu của tổ chức hoặc lợi ích của công việc cùng sự thỏa mãn của những người tham gia

* Hoạt động:

Hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người và thế giới (khách thể) để tạo ra sản phẩm cả về thế giới và cả về phía con người Trong mối quan hệ đó có hai quá trình đồng thời diễn ra, bổ sung cho nhau, thống nhất với nhau:

Quá trình thứ nhất là quá trình đối tượng hóa còn gọi là quá trình “xuất tâm” trong đó chủ thể chuyển năng lượng của mình thành sản phẩm hoạt động Ở quá trình “xuất tâm” này tâm lý con người được bộc lộ, được khách quan hóa trong quá trình tạo ra sản phẩm Nhờ vậy, chúng ta mới có thể tìm hiểu được tâm

lý người thông qua hoạt động của họ

Quá trình thứ hai là quá trình chủ thể hóa còn gọi là quá trình “nhập tâm” trong đó con người chuyển nội dung khách thể những quy luật, bản chất, đặc điểm,… của khách thể vào bản thân mình, tạo nên tâm lý, ý thức nhân cách của bản thân Đây chính là quá trình chiếm lĩnh, lĩnh hội thế giới Vì thế người ta nói

Trang 34

1.2.2 Quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục là một khoa học quản lý chuyên ngành, người nghiên cứu trên nền tảng của khoa học quản lý nói chung, cũng giống như khái niệm quản lý, khái niệm quản lý giáo dục cũng có nhiều cách tiếp cận khác nhau Ở đây chúng tôi chỉ đề cập tới khái niệm giáo dục trong phạm vi quản lý một hệ thống giáo dục nói chung mà hạt nhân của hệ thống đó là các cơ sở trường học

Về khái niệm quản lý giáo dục các nhà nghiên cứu đã quan niệm như sau:

Theo chuyên gia giáo dục Liên Xô M.I.Kônđacốp thì: Quản lí giáo dục là tập hợp những biện pháp: tổ chức, phương pháp cán bộ, kế hoạch hóa,… nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt chất lượng cũng như số lượng (M.I.Konđacốp, 2000)

Theo quan niệm của giáo sư Nguyễn Ngọc Quang là quản lí GD là một hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lí nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lí GD của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội

tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất (Nguyễn Ngọc Quang, 1999)

Tóm lại: Quản lí giáo dục là hệ thống những tác động có ý thức, hợp quy luật của chủ thể quản lí ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo cho sự phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng

Trang 35

22

1.2.3 Quản lý trường tiểu học

Trong thực tiễn Việt Nam, Tác giả Phạm Minh Hạc đã xác định: “QL nhà trường là thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức

là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng HS” (Phạm Minh Hạc, 1986) Theo tác giả Trần Kiểm “Quản lý nhà trường thực chất là việc xác định vị trí của mỗi người trong hệ thống xã hội, là quy định chức năng, quyền hạn, nghĩa vụ, quan hệ cùng vai trò xã hội của học mà trước hết trong phạm vi nhà trường với tư cách là một chủ thể xã hội” (Trần Kiểm, 2011)

Các tác giả Mai Quang Huy, Đinh Thị Kim Thoa và Trần Anh Tuấn cho rằng “Quản lý nhà trường là hoạt động chuyên biệt của các chủ thể quản lý (các

cơ quan quản lý giáo dục, người lãnh đạo nhà trường) nhằm tập hợp, tổ chức và phát huy tối đa sức mạnh các nguồn lực giáo dục trong và ngoài nhà trường, đảm bảo triển khai các hoạt động giáo dục -dạy học của nhà trường đạt được các mục tiêu phát triển với chất lượng, hiệu quả nhất” (Mai Quang Huy và cs)

Quản lý trường tiểu học cũng giống như các trường phổ thông- là một hoạt động của nhà quản lý cấp cơ sở do hiệu trưởng là người đứng đầu để dẫn dắt một tổ chức chuyên môn- nghiệp vụ và quản lý con người, cơ sở vật chất kỹ thuật, tài chính Trường tiểu học được hình thành tại cộng đồng dân cư nên nó phải thỏa mãn được lợi ích của cộng đồng dân cư và phát huy các nguồn lực trong cộng đồng

Như vậy có thể hiểu quản lý trường tiểu học là quá trình tác động có kế hoạch, có mục đích, hợp quy luật của hiệu trưởng để nhà trường vận hành theo quan điểm của Đảng, đường lối của Nhà nước, thực hiện được mục tiêu giáo dục

và tính chất sư phạm là hình thành phát triển năng lực, nhân cách của người học theo yêu cầu xã hội

1.2.4 Giáo dục, kỹ năng, tự phục vụ, kỹ năng tự phục vụ, giáo dục kỹ năng

tự phục vụ

Trang 36

23

* Giáo dục:

Trong quá trình tồn tại và phát triển, con người nhận thức về thế giới xung quanh, tích luỹ kinh nghiệm về cuộc sống, từ đó nảy sinh nhu cầu truyền đạt kinh nghiệp đã được tích luỹ từ người này sang người khác Đó chính là nguồn gốc phát sinh của hiện tượng giáo dục

Theo M.I.Konđacốp thì cho rằng diáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử, xã hội của các thế hệ loài người Nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại được kế thừa, bổ sung và trên cơ sở đó mà xã hội loài người không ngừng tiến lên (M.I.Konđacốp, 2000)

Xét theo nghĩa rộng, giáo dục là quá trình nhằm hình thành phát triển nhân cách con người được tố chức có mục đích, có kế hoạch nhằm truyền đạt và lĩnh hội những kinh nghiệm mà loài người đã tích luỹ được trong lịch sử (Phạm Viết Vượng, 2010) Xét theo nghĩa hẹp, giáo dục là quá trình xã hội trong đó thông qua nhà giáo dục, học sinh hình thành thế giới quan, niềm tin, lý tưởng, động cơ, tình cảm, thái độ và các thói quen đạo đức phù hợp với chuẩn mực xã hội (Nguyễn Văn Hộ và Hà Thị Đức, 2002)

Nhà trường tiểu học là nền tảng cho giáo dục phổ thông Điều II Luật phổ cập giáo dục đã nêu: Giáo dục tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, Bậc tiểu học là bậc học đầu tiên để đào tạo những cơ sở ban đầu cơ bản và bền vững cho trẻ tiếp tục học lên bậc học trên, giúp trẻ hình thành những

cơ sở ban đầu, những nét cơ bản của nhân cách

Điều này càng khẳng định trong thời đại ngày nay, giáo dục đã trở thành động lực, là nhân tố quyết định thúc đẩy sự phát triển của xã hội giáo dục đã trở thành mục tiêu phát triển hàng đầu của các quốc gia trên thế giới Bởi vì chỉ có giáo dục mới đào tạo được những người lao động mới – lao động có trí tuệ cao đáp ứng yêu cầu của sự phát triển xã hội

Chính do vị trí quan trọng như vậy nên giáo dục là một quá trình đào tạo con người một cách có mục đích, nhằm chuẩn bị cho họ tham gia vào đời sông

Trang 37

Theo L Đ.Lêvitôv nhà tâm lý học Liên Xô cho rằng: “Kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đó hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức đúng đắn, có tính đến những điều kiện nhất định” Theo ông, người có kỹ năng hành động là người phải nắm được và vận dụng đúng đắn các cách thức hành động nhằm thực hiện hành động có kết quả Ông còn nói thêm, con người có kỹ năng không chỉ nắm lý thuyết về hành động

mà phải vận dụng vào thực tế (L.Đ.Lêvitôv)

Theo V.A.Kruteski cho rằng: Kỹ năng là phương thức sử dụng các tri thức

mà con người áp dụng và sử dụng trong cuộc sống, sau quá trình luyện tập, thực hành thì kỹ năng được hoàn thiện hơn (V.A.Kruteski, 1990)

Theo tác giả Vũ Dũng cho rằng kỹ năng là năng lực vận dụng có kết quả tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng (Vũ Dũng, 2006)

Theo tác giả Thái Duy Tuyên: Kỹ năng là sự ứng dụng kiến thức trong hoạt động (Thái Duy Tuyên, 2006) Mỗi kỹ năng bao gồm một hệ thống thao tác trí tuệ và thực hành, thực hiện trọn vẹn hệ thống thao tác này sẽ đảm bảo đạt được mục đích đặt ra cho hoạt động Điều đáng chú ý là sự thực hiện một kỹ năng luôn luôn được kiểm tra bằng ý thức, nghĩa là khi thực hiện bất kỳ một kỹ năng nào đều nhằm vào một mục đích nhất định

Từ sự phân tích trên ta có thể hiểu kỹ năng một cách chung nhất: Kỹ năng

là năng lực thực hiện một hành động hay một hoạt động nào đó bằng cách lựa

Trang 38

25

chọn và vận dụng những tri thức, cách thức hành động đúng đắn để đạt được mục đích đề ra

* Tự phục vụ:

Tự phục vụ (TPV) là phương tiện không thể thiếu để giúp trẻ tăng cường năng lực hội nhập, tích cực, chủ động, sáng tạo, tự tin vững vàng trước mọi khó khăn thử thách;Tự phục vụ là chìa khóa của sự sống còn, sự phát triển, sự thành công của con người

Khái niệm TPV được hiểu là tập hợp các hành động mà do chủ thể tự thực hiện để phục vụ các nhu cầu hoạt động trong sinh hoạt cuộc sống thường ngày của chính bản thân chủ thể

Kỹ năng tự phục vụ là khả năng vận dụng những kiến thức về một hoặc nhiều khía cạnh nào đó được sử dụng để giải quyết tình huống hay công việc tự phục vụ cho mình như: để giày dép vào kệ khi đến lớp, để cặp sách đúng nơi quy định, cất đồ dùng vào tủ cá nhân, lấy cất đồ dùng học tập, bỏ rác đúng nơi quy định, tự chảy, cột tóc, xếp cất nệm gối, tự lấy thức ăn, rửa tay trước khi ăn, đánh răng, rửa mặt, tự giặt quần áo, tự giác trong ăn uống, đi vệ sinh đúng nơi quy định,…

Theo Lê Thu Hương kỹ năng tự phục vụ là năng lực hay khả năng chuyên biệt của một cá nhân về một hoặc nhiều khía cạnh nào đó được sử dụng để giải quyết tình huống hay công việc phục vụ cho chính mình như tự nấu ăn, tự giặt quần áo (Lê Thu Hương, 2010)

Đối với học sinh tiểu học kỹ năng tự phục vụ bao gồm: khi đến trường phải biết xách cặp vào lớp, để quần áo, giày dép đúng nơi quy định, biết xếp tập sách theo quy định của GV, biết tự ăn, tự đánh răng, rửa mặt, sắp xếp chỗ ngủ,

Trang 39

Có thể hiểu: Kỹ năng tự phục vụ là sự thực hiện hành động của một cá nhân để giải quyết tình huống hay công việc phục vụ cho chính mình, như tự nấu

ăn, tự giặt quần áo, tự xúc ăn, tự rửa mặt…mà không cần sự giúp đỡ của người khác

Giáo dục kỹ năng tự phục vụ là quá trình giáo viên tác động tới học sinh nhằm giáo dục cho học sinh cách thực tiến hành một số công việc phục vụ bản thân như cất đồ dùng cá nhân, xếp hàng, giữ vệ sinh chung Giáo dục kỹ năng tự phục

vụ giúp học sinh yêu lao động, năm được những kỹ năng cơ bản để tham gia vào đời sống xã hội, tự lập trong công việc

Giáo dục kỹ năng tự phục vụ là một bộ phận quan trọng của giáo dục lao động, nhằm hình thành những phẩm chất của người lao động mới như yêu lao động, quý trọng người lao động, giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tiểu học nắm được các kỹ năng đơn giản phục vụ cho sinh hoạt và chuẩn bị sau này cho trẻ tham gia vào đời sống lao động

Trang 40

1.2.5.Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ

Cũng như quản lý giáo dục nói chung, quản lý giáo dục kỹ năng tự phục

vụ là hoạt động có ý thức của con người nhằm theo đuổi những mục đích của mình Mục đích giáo dục cho học sinh cũng chính là một trong những mục đích của quản lý, đây là mục đích có tính khách quan Nhà quản lý cùng với đội ngũ giáo viên, học sinh, các lực lượng xã hội, vv… bằng hành động của mình hiện thực hóa mục đích đó trong hiện thực

Như vậy, "QLGD kỹ năng tự phục vụ được hiểu là hệ thống những tác động tự giác, có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật của chủ quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha me học sinh nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh của nhà trường"

Từ đây ta có thể khái quát QLGD kỹ năng tự phục vụ là sự tác động chủ đích, có căn cứ khoa học, hợp quy luật và phù hợp các điều kiện khách quan… của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm phát huy sức mạnh các nguồn giáo dục, từ đó đảm bảo các hoạt động của tổ chức hệ thống giáo dục đạt được mục tiêu giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh với chất lượng, hiệu quả cao nhất

1.3 Một số vấn đề lý luận về giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh Tiểu học

1.3.1 Đặc điểm tâm lý, lứa tuổi của học sinh tiểu học

Ở lứa tuổi tiểu học thì các em đa phần là làm theo người lớn, các em hay bắt chước những gì các em nhìn thấy, cho nên nhà trường cần phải thường xuyên

tổ chức các hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ, nhắc nhở thường xuyên để các em trở thành thói quen Vì ở lứa tuổi này các em mau nhớ nhưng cũng mau quên

Ngày đăng: 21/06/2021, 21:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w