Quản lý hoạt động đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường mầm non là những tác động có ý thức, có kế hoạch của chủ thể quản lý vào quá trình nuôi dưỡng - chăm sóc - giáo dục trẻ, tạo cho tr
Trang 1CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ: 8140114
N N T Ạ
BÌN DƯƠNG – 2018
Trang 2CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ: 8140114
N N T Ạ NGƯỜ Ư NG D N O Ọ T TRẦN THỊ TUYẾT MAI
-
BÌN DƯƠNG – 2018
Trang 3Ờ M ĐO N
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu
và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, trích dẫn đầy đủ và chưa từng công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Bùi Thị Tường Vi
Trang 4Ờ ẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn, tác giả đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của Nhà trường, Thầy/Cô và bạn bè Với tình cảm chân thành, tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến:
- Ban Giám hiệu Trường Đại học Thủ Dầu Một, các Thầy/Cô phòng Đào tạo sau Đại học, Thầy/Cô Khoa Quản lý giáo dục đã tạo điều kiện và giúp đỡ trong suốt quá trình tác giả nghiên cứu và hoàn thành luận văn
- Đặc biệt, tác giả xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến TS Trần Thị Tuyết Mai – người hướng dẫn khoa học đã tận tâm hướng dẫn trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn
- Lãnh đạo Phòng Giáo dục và Đào tạo thị xã Tân Uyên, Ban giám hiệu, quý Thầy/Cô, quý Cha mẹ trẻ tại các trường Mầm non – Mẫu giáo công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả khảo sát thu thập
số liệu
- Xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, các chị em đồng nghiệp, đặc biệt nhất là các chị em của trường Mầm non Hoa Mai và trường Mẫu giáo Hoa Sen cùng tập thể lớp Cao học Quản lý giáo dục Khóa 2 đã luôn động viên và đồng hành với tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn
Bản thân đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn song không thể tránh khỏi những thiếu sót Kính mong quý Thầy/Cô chỉ dẫn để luận văn được hoàn thiện hơn
Trân trọng cảm ơn!
Tác giả
Bùi Thị Tường Vi
Trang 5TÓM TẮT
Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân,
có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đặt nền móng vững chắc cho sự hình thành và phát triển nhân cách con người
Mục tiêu của Giáo dục mầm non: “giúp trẻ phát triển thể chất, tình cảm, hiểu biết, thẩm mỹ, hình thành các yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị tốt cho trẻ bước vào lớp một; hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm sinh lý, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kỹ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi; khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền móng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời” Do
đó, Giáo dục mầm non luôn được sự quan tâm chỉ đạo sâu sát của các cấp quản
lý từ Trung ương đến địa phương
Trong trường mầm non, công tác đặc biệt quan trọng hàng đầu chính là đảm bảo an toàn tuyệt đối cho trẻ Bởi lứa tuổi này, trẻ vô cùng hiếu động, luôn thích tự khám phá, tìm hiểu thế giới xung quanh trong khi khả năng ứng phó để
tự bảo vệ bản thân còn hạn chế
Thời gian qua hoạt động đảm bảo an toàn và quản lý hoạt động đảm bảo
an toàn cho trẻ trong các trường MN trên địa bàn thị xã Tân Uyên được chú trọng
và đảm bảo Tuy nhiên, thực tiễn trong công tác nuôi dưỡng - chăm sóc - giáo dục trẻ vẫn luôn có nhiều nguy cơ tiềm ẩn tai nạn thương tích, những hiểm họa không lường có thể xảy đến cho trẻ bất cứ lúc nào nếu không có sự quan tâm, sâu sát của những người lớn trong trường mầm non
Quản lý hoạt động đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường mầm non là những tác động có ý thức, có kế hoạch của chủ thể quản lý vào quá trình nuôi dưỡng - chăm sóc - giáo dục trẻ, tạo cho trẻ cảm giác an tâm, yên ổn, an toàn vệ sinh thực phẩm, an toàn trong chăm sóc sức khỏe, phòng tránh tai nạn thương
Trang 6tích cho trẻ, phòng tránh trẻ thất lạc và an toàn về môi trường hoạt động của trẻ góp phần thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục mầm non
Để quản lý hoạt động đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường mầm non có hiệu quả thì cần có những biện pháp quản lý thiết thực và hợp lý của Hiệu trưởng trong tất cả các nội dung nhằm đảm bảo không có tai nạn thương tích xảy ra và trẻ được nuôi dưỡng - chăm sóc - giáo dục để phát triển một cách toàn diện về thể chất và tinh thần
Kết quả nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường mầm non công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên cho thấy: Công tác quản lý hoạt động đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường mầm non được các cấp lãnh đạo quan tâm và chỉ đạo thực hiện với các nội dung cụ thể cho từng hoạt động, quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ các hoạt động nuôi dưỡng - chăm sóc - giáo dục trẻ Hầu hết cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên nhà trường đều nhận thức được tầm quan trọng của công tác đảm bảo an toàn cho trẻ Tuy nhiên việc điều hành, quản lý và sắp xếp môi trường giáo dục tại các cơ
sở giáo dục mầm non chưa đạt hiệu quả cao, công tác chỉ đạo, điều hành còn thiếu đồng bộ; công tác kiểm tra, kiểm soát chưa thường xuyên
Công tác phối hợp, tuyên truyền, phổ biến và thống nhất với cha mẹ trẻ thực hiện nghiêm túc các giải pháp nhằm bảo vệ an toàn tuyệt đối cho trẻ vẫn còn một số cán bộ quản lý chưa quan tâm đúng mức Mặt khác cha mẹ trẻ chưa quan tâm phối hợp thực hiện đảm bảo an toàn cho trẻ, chưa phối hợp chặt chẽ cùng nhà trường để có sự thống nhất trong công tác nuôi dưỡng - chăm sóc - giáo dục trẻ
Công tác tập huấn các kiến thức về đảm bảo an toàn cho trẻ chưa được tổ chức thường xuyên và rộng rãi cho tất cả các đối tượng giáo viên, nhân viên dẫn đến việc thiếu kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm, về phòng tránh tai nạn thương tích, về chăm sóc sức khỏe, về xây dựng môi trường giáo dục, …
Trang 7Các chế độ cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên chưa được quan tâm đúng mức, còn nhiều bất cập và hạn chế, chưa tương xứng với công sức
và trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ nuôi dưỡng - chăm sóc - giáo dục trẻ mầm non Đặc biệt là đội ngũ nhân viên được tuyển dụng vào công tác trong trường mầm non không quy định trình độ, chế độ quá thấp dẫn đến khó khăn trong công tác chỉ đạo, điều hành và tâm huyết cống hiến
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận của công tác quản lý hoạt động đảm bảo an toàn cho trẻ và thực trạng quản lý hoạt động đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường mầm non công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tác giả đề xuất 5 biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động đảm bảo an toàn cho trẻ, đó là: Nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và cha
mẹ trẻ về tầm quan trọng của hoạt động đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường mầm non; Bồi dưỡng, tập huấn cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên về kỹ năng đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường mầm non; Xây dựng môi trường đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường mầm non; Phối hợp với cha mẹ trẻ thực hiện công tác đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường mầm non; Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá và cải tiến loại bỏ các nguy cơ gây mất an toàn cho trẻ trong trường mầm non
Kết quả khảo nghiệm cho thấy các biện pháp được đề xuất có tính cần thiết và tính khả thi cao Do đó, các trường mầm non công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên và các địa bàn khác có thể nghiên cứu, vận dụng linh hoạt, sáng tạo những biện pháp này để đảm bảo an toàn, phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý hoạt động nuôi dưỡng - chăm sóc - giáo dục trẻ trong trường mầm non, đảm bảo mục tiêu giáo dục mầm non, góp phần thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo
Trang 8MỤ Ụ
LỜ M ĐO N i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT xi
DANH MỤC CÁC BẢNG xii
DANH MỤ Á Ơ ĐỒ, BIỂ ĐỒ xiv
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 4
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4
3.1 Khách thể nghiên cứu 4
3.2 Đối tượng nghiên cứu 4
4 Giả thuyết khoa học 4
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
6 Phạm vi nghiên cứu 5
7 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5
7.1 Phương pháp luận 5
7.1.1 Quan điểm hệ thống cấu trúc 5
7.1.2 Quan điểm thực tiễn 6
7.1.3 Quan điểm lịch sử - logic 6
7.2 Phương pháp nghiên cứu 6
7.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận 6
7.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 6
7.2.3 Phương pháp thống kê toán học 7
8 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 7
9 Bố cục của đề tài 8
hương 1 Ơ Ở LÝ LU N VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐẢM BẢO AN TOÀN CHO TRẺ TRONG TRƯỜNG MẦM NON 9
Trang 91.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 9
1.1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài về QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN 9
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam về QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN 11
1.2 Một số khái niệm của đề tài 15
1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý trường mầm non 15
1.2.2 An toàn, đảm bảo an toàn, ĐBAT cho trẻ trong trường MN 19
1.2.3 Quản lý hoạt động ĐBAT cho trẻ MN 20
1.3 Hoạt động ĐBAT cho trẻ tại trường MN 21
1.3.1 Vị trí, vai trò của hoạt động ĐBAT trong ND-CS-GD trẻ MN 21
1.3.2 Yêu cầu để ĐBAT cho trẻ MN 22
1.3.3 Nội dung hoạt động ĐBAT cho trẻ MN 24
1.3.4 Phương pháp ĐBAT cho trẻ tại trường MN 32
1.3.5 Quy trình thực hiện ĐBAT cho trẻ MN 33
1.4 Quản lý hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN 35
1.4.1 Tầm quan trọng của QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN 35 1.4.2 Các chức năng QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN 37
1.4.3 Nội dung QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN 41
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN 47
1.5.1 Các yếu tố khách quan 47
1.5.2 Các yếu tố chủ quan 48
hương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐẢM BẢO AN TOÀN CHO TRẺ TRONG TRƯỜNG MẦM NON CÔNG L P TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ TÂN UYÊN, TỈN BÌN DƯƠNG 52
2.1 Khát quát đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội và giáo dục thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương 52
2.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội địa phương 52
2.1.2 Tình hình GDMN trên địa bàn thị xã Tân Uyên 53
Trang 102.2 Tổ chức khảo sát thực trạng hoạt động ĐBAT và QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình
Dương 55
2.2.1 Nội dung khảo sát 55
2.2.2 Công cụ điều tra, khảo sát thực trạng 55
2.2.3 Kiểm tra độ tin cậy của thang đo 56
2.2.4 Tổ chức điều tra, khảo sát 56
2.2.5 Qui ước thang đo 59
2.3 Kết quả khảo sát thực trạng hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương 61
2.3.1 Thực trạng nhận thức của CBQL, GV, NV và CMT về hoạt động ĐBAT cho trẻ trong hoạt động ND-CS-GD trong trường MN 61
2.3.2 Thực trạng về thực hiện đảm bảo VSATTP cho trẻ trong trường mầm non 63
2.3.3 Thực trạng về thực hiện PT TNTT cho trẻ trong trường MN 67
2.3.4 Thực trạng về việc thực hiện công tác CSSK cho trẻ trong trường mầm non 70
2.3.5 Thực trạng về thực hiện phòng tránh thất lạc trẻ trong trường MN 74
2.3.6 Thực trạng về đảm bảo môi trường giáo dục an toàn cho trẻ trong trường MN 77
2.4 Kết quả khảo sát thực trạng QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương 81
2.4.1 Thực trạng nhận thức về tầm quan trọng của QL hoạt động ĐBAT cho trẻ 81
2.4.2 Thực trạng QL hoạt động ĐBAT về VSATTP cho trẻ trong trường MN 84
2.4.3 Thực trạng QL hoạt động ĐBAT trong phòng tránh TNTT cho trẻ trong trường MN 87
2.4.4 Thực trạng QL hoạt động ĐBAT trong phòng tránh thất lạc trẻ trong trường MN 93
2.4.5 Thực trạng QL hoạt động ĐBAT về CSSK cho trẻ trong trường MN96 2.4.6 Thực trạng QL về môi trường giáo dục an toàn cho trẻ trong trường MN 101
Trang 112.5 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong
trường MN trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương 104
2.6 Nhận định chung về QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong các trường MN trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương 115
2.6.1 Ưu điểm 115
2.6.2 Hạn chế 116
2.6.3 Nguyên nhân của ưu điểm và hạn chế 118
hương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐẢM BẢO AN TOÀN CHO TRẺ TRONG TRƯỜNG MẦM NON CÔNG L P TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ TÂN UYÊN, TỈN BÌN DƯƠNG 121
3.1 Cơ sở đề xuất các biện pháp 121
3.1.1 Cơ sở lý luận 121
3.1.2 Cơ sở thực tiễn 121
3.2 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 122
3.2.1 Đảm bảo tính pháp chế 122
3.2.2 Đảm bảo tính hệ thống - cấu trúc 122
3.2.3 Đảm bảo tính thực tiễn 123
3.2.4 Đảm bảo tính khả thi 123
3.3 Một số biện pháp quản lý hoạt động đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường mầm non trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương 124
3.3.1 Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức cho CBQL, GV, NV và CMT về tầm quan trọng của hoạt động đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN 124 3.3.2 Biện pháp 2: Bồi dưỡng, tập huấn cho CBQL, GV, NV về kỹ năng ĐBAT cho trẻ trong trường MN 125
3.3.3 Biện pháp 3: Xây dựng môi trường đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN 128
3.3.4 Biện pháp 4: Phối hợp với CMT thực hiện công tác ĐBAT cho trẻ trong trường MN 129
3.3.5 Biện pháp 5: Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá và cải tiến loại bỏ các nguy cơ gây mất an toàn cho trẻ trong trường MN 132
3.4 Mối quan hệ giữa các biện pháp 134 3.5 Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp được đề xuất 135
Trang 123.5.1 Mục đích khảo nghiệm 135
3.5.2 Công cụ và khách thể khảo sát 135
3.5.3 Quy định các mức độ đánh giá 136
3.5.4 Kết quả khảo sát 137
KẾT LU N VÀ KHUYẾN NGHỊ 152
1 Kết luận 152
2 Khuyến nghị 154
2.1 Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo 154
2.2 Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo 154
2.3 Đối với Phòng Giáo dục và Đào tạo 155
2.4 Đối với các trường MN công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên 155
2.4.1 Đối với hiệu trưởng 155
2.4.2 Đối với CBQL, GV, NV 156
2.5 Đối với các Cha mẹ trẻ 156
DANH MỤ Á ÔNG TRÌN ĐÃ ÔNG BỐ 158 PHỤ LỤC
Trang 14D N MỤ Á BẢNG
1 Bảng 2.1 Độ tin cậy của thang đo được xác định bằng hệ
Nhận thức của CBQL, GV, NV và CMT về hoạt động ĐBAT cho trẻ trong hoạt động ND-CS-GD trong trường MN
61
6 Bảng 2.6 Ý kiến của CBQL, GV, NV về thực hiện PT TNTT
7 Bảng 2.7 Ý kiến của CBQL, GV, NV về công tác CSSK cho
10 Bảng 2.10 Ý kiến của CBQL, GV, NV và CMT về tầm quan
So sánh kết quả nhận thức về tầm quan trọng của công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN giữa các nhóm khách thể
88
So sánh kết quả đánh giá thực trạng QL hoạt động ĐBAT trong phòng tránh TNTT cho trẻ trong trường MN giữa các nhóm khách thể
92
Trang 15STT KÝ HIỆU TÊN BẢNG Trang
Ý kiến của CBQL, G V, NV về thực trạng QL hoạt động ĐBAT trong phòng tránh thất lạc trẻ trong trường MN
93
So sánh kết quả về thực trạng QL hoạt động ĐBAT trong phòng tránh thất lạc trẻ trong trường MN
96
17 Bảng 2.17 Ý kiến của CBQL, GV, NV thực trạng QL hoạt
động ĐBAT về CSSK cho trẻ trong trường MN 97
18 Bảng 2.18
So sánh kết quả về thực trạng QL hoạt động ĐBAT về CSSK cho trẻ trong trường MN giữa các nhóm khách thể
105
Ý kiến của CBQL, GV, NV về các yếu tố khó khăn trong QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN
25 Bảng 3.2 Ý kiến của CBQL, GV, NV về tính cần thiết của
26 Bảng 3.3 Ý kiến của CBQL, GV, NV về tính khả thi của
Trang 16D N MỤ Á Ơ ĐỒ, B Ể ĐỒ
3 ơ đồ 2.2 Ý kiến của CMT về thực trạng PT TNTT cho trẻ
7 Biểu đồ 2.6 Ý kiến của CMT thực trạng QL hoạt động
ĐBAT về VSATTP cho trẻ trong trường MN 87
8 Biểu đồ 2.7
Ý kiến của CMT về thực trạng QL hoạt động ĐBAT trong phòng tránh TNTT cho trẻ trong trường MN
91
9 Biểu đồ 2.8
Ý kiến của CMT về thực trạng QL hoạt động ĐBAT trong phòng tránh thất lạc trẻ trong trường MN
95
10 Biểu đồ 2.9 Ý kiến của CMT về thực trạng QL hoạt động
11 Biểu đồ 2.10 Ý kiến của CMT về thực trạng QL về MTGDAT
Sơ đồ thể hiện mối liên hệ giữa các biện pháp trong quản lý hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN
135
14 Biểu đồ 3.1 Mức độ cần thiết và mức độ khả thi của các
biện pháp ĐBAT cho trẻ trong trường MN 150
Trang 17MỞ ĐẦ
1 Lý do chọn đề tài
Giáo dục mầm non (GDMN) là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục (GD) quốc dân, có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đặt nền móng vững chắc cho sự hình thành và phát triển nhân cách con người Đa số các quốc gia trong khu vực và các nước trên thế giới đều xác định GDMN là một mục tiêu vô cùng quan trọng của GD dành cho mỗi người Luật GD Thái Lan nhấn mạnh gia đình
và Chính phủ phải cùng chia sẻ trách nhiệm đối với GDMN nhằm thực hiện Công ước quốc tế về quyền trẻ em (TE) Luật GD Indonesia đã công nhận GDMN là giai đoạn tiền đề cho hệ thống GD cơ bản Luật GD Thụy Điển coi giai đoạn mầm non (MN) là “thời kỳ vàng của cuộc đời” và thực hiện chính sách: trường MN tự nguyện do chính quyền địa phương quản lý (QL), trẻ 5 tuổi có thể được học không mất tiền Luật GD Liên bang Nga đã xác định GDMN là cấp học đầu tiên trong hệ thống GD quốc dân và học tập là quyền cơ bản của công dân được pháp luật bảo hộ, được học miễn phí tại các trường công lập thuộc hệ thống
GD quốc dân Ở nước ta, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm và coi trọng GDMN Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương 8 khóa XI đã định hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) với quan điểm chỉ đạo: “GD&ĐT là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Đầu tư cho GD là đầu tư phát triển, được
ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế”; Mục tiêu cụ
thể đối với GDMN: “giúp trẻ phát triển thể chất, tình cảm, hiểu biết, thẩm mỹ,
hình thành các yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị tốt cho trẻ bước vào lớp
một” Qua đó đề ra nhiệm vụ giải pháp: “tiếp tục đổi mới và chuẩn hóa nội dung
GDMN, chú trọng kết hợp chăm sóc (CS), nuôi dưỡng (ND) với GD phù hợp với đặc điểm tâm lý, sinh lý, yêu cầu phát triển thể lực và hình thành nhân cách” (Ban chấp hành Trung Ương Đảng, 2013) Quan điểm chỉ đạo của Nghị Quyết phù hợp với xu thế chung của thế giới hiện nay về phát triển nền GD quốc dân
Bộ GD&ĐT đã xác định GDMN là bậc học quan trọng, nền tảng của hệ thống GD quốc dân và quy định rõ việc xây dựng trường học an toàn (AT),
Trang 18phòng tránh tai nạn thương tích (PT TNTT) cho trẻ trong các cơ sở giáo dục mầm non (CSGDMN) Vì vậy đã ban hành các Thông tư, Chỉ thị, Quyết định … quy định các tiêu chuẩn, nội dung và trách nhiệm nuôi dưỡng-chăm sóc-giáo dục (ND-CS-GD) và bảo vệ trẻ em nhằm đảm bảo an toàn (ĐBAT) về thể chất và tinh thần giúp trẻ phát triển một cách toàn diện như: Thông tư số 13/2010/TT-BGDĐT quy định về xây dựng trường học an toàn, phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ trong các cơ sở giáo dục mầm non; Chỉ thị số 505/CT-BGDĐT chỉ đạo tăng cường các giải pháp đảm bảo an toàn trong các cơ sở giáo dục; Thông
tư liên tịch số 13/TTLT-BYT-BGDĐT ngày 12/5/2016 quy định về công tác y tế trong trường học
Thực hiện sự chỉ đạo của BGDĐT, các cấp quản lý từ Sở GD&ĐT đến Phòng GD&ĐT đã ban hành các văn bản chỉ đạo các CSGDMN thực hiện công tác ĐBAT tuyệt đối cho trẻ cụ thể như: Văn bản số 2358/SGDĐT-GDMN ngày 06/12/2017 của Sở GD&ĐT và văn bản số 27/PGDĐT-GDMN ngày 10/01/2018 của PGDĐT chỉ đạo về việc tăng cường công tác ĐBAT cho trẻ trong các CSGDMN
Sức khỏe được xem là tài sản quý giá nhất của con người Một đứa trẻ khoẻ mạnh, phát triển hài hòa cả về thể chất lẫn tinh thần trong xã hội ngày nay không còn là mơ ước của các bậc làm cha mẹ “Trẻ em là rường cột tương lai của đất nước” luôn là phương châm, là chính sách ưu tiên của các quốc gia Với nhiều nước phát triển, công tác ND-CS-GD và ĐBAT cho trẻ luôn là chiến lược hàng đầu của từng quốc gia Việt Nam là một đất nước đang phát triển, công tác này càng được chú trọng nhiều hơn bởi vì: “Hiện nay, cả nước có trên 4,8 triệu trẻ em được chăm sóc, giáo dục trong các CSGDMN Ở lứa tuổi này, trẻ hiếu động, thích tự khám phá, tìm hiểu thế giới xung quanh trong khi khả năng ứng phó để tự bảo vệ bản thân còn hạn chế nên tai nạn thương tích có thể xảy đến với trẻ bất cứ lúc nào” (Vụ Giáo dục mầm non, 2016)
Việc ĐBAT cho trẻ trong các CSGDMN là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu quyết định đến chất lượng ND-CS-GD trẻ đặc biệt trong giai đoạn hiện nay
Trang 19quy mô mạng lưới trường/lớp MN ngày càng tăng cao Trong xu thế hội nhập và
mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế ngày nay đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với GD GD&ĐT đang đứng trước những thời cơ phát triển hết sức thuận lợi nhưng cũng đang phải đối mặt với rất nhiều thách thức to lớn Do đó, nhiệm vụ của GDMN là ND-CS-GD và ĐBAT tuyệt đối cho trẻ khi đến trường, lớp phải được chú trọng
và cấp thiết phải nâng cao để đáp ứng nhu cầu xã hội
Công tác ĐBAT cho trẻ và QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong các trường trên địa bàn thị xã Tân Uyên được chú trọng và đảm bảo Tuy nhiên, thực tiễn công tác ND-CS-GD trẻ luôn có nhiều nguy cơ tiềm ẩn tai nạn thương tích và những hiểm họa không lường có thể xảy đến cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi, dù ở bất
cứ đâu, bất cứ lúc nào, trước mắt hay sau lưng, môi trường (MT) bên trong hay bên ngoài lớp học, lúc ăn, lúc ngủ, lúc chơi, lúc học, … Đội ngũ giáo viên mầm non (GVMN) không chỉ chịu áp lực bởi đặc thù nghề nghiệp mà trong thời gian qua còn phải đảm đương số lượng trẻ vượt hơn mức so với quy định do thiếu GVMN và phải phụ trách lớp cùng với bảo mẫu hoặc giáo viên (GV) hợp đồng còn quá non kinh nghiệm thay vì 02 GV/lớp theo quy định Đội ngũ nhân viên (NV) công tác trong trường MN hết có trình độ sức đa dạng (cấp dưỡng, phục vụ, bảo vệ), không quy định trình độ phổ thông hay trình độ chuẩn cho các chức danh này khi tuyển dụng vào trường MN Việc ĐBAT cho trẻ trong các CSGDMN là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu cần được quan tâm và QL hết sức chặt chẽ, đòi hỏi cao về năng lực của người cán bộ quản lý (CBQL)
Thời gian qua, vấn đề ĐBAT cho trẻ đã được đề cập, nghiên cứu nhiều nơi trong nước và cả các nước trên thế giới; có nhiều nhà khoa học, nhà QL đã nghiên cứu vấn đề này nhưng chỉ mới đúc kết, khái quát hoặc những vấn đề cụ thể gắn liền mang tính đặc thù của từng địa phương Trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, cho đến thời điểm hiện tại, vấn đề QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN chưa có tác giả nào nghiên cứu
Trang 20Từ những lý do trên nên tôi chọn đề tài: “Quản lý hoạt động đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường mầm non trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương” làm vấn đề nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và phân tích thực trạng về QL và QL hoạt động ĐBAT cho trẻ MN, đề tài đề xuất một số biện pháp QL hoạt động ĐBAT nhằm ĐBAT tuyệt đối và PT TNTT cho trẻ MN trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương trong giai đoạn hiện nay
3 hách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 hách thể nghiên cứu
Quản lý hoạt động ND-CS-GD trẻ trong trường MN
3.2 Đối tượng nghiên cứu
QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
4 Giả thuyết khoa học
ĐBAT cho trẻ trong các CSGDMN là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu quyết định đến chất lượng ND-CS-GD trẻ QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN trên địa bàn Thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã thực hiện khá tốt trong công tác QL hoạt động vệ sinh, phòng bệnh cho trẻ; QL công tác đánh giá xếp loại đối với GV về ĐBAT cho trẻ Tuy nhiên, còn một số mặt hạn chế về:
QL công tác bồi dưỡng, tập huấn cho CBQL, GV, NV về tầm quan trọng, nội dung, kỹ năng của hoạt động ĐBAT cho trẻ; QL hoạt động xây dựng môi trường đảm bảo an toàn cho trẻ; QL hoạt động phối hợp với cha mẹ trẻ (CMT) thực hiện công tác ĐBAT cho trẻ; QL hoạt động kiểm tra, đánh giá loại bỏ các nguy cơ gây mất an toàn cho trẻ trong trường MN Nếu đề tài hệ thống hóa lý luận và phân tích đúng thực trạng cũng như nguyên nhân của thực trạng thì sẽ đề xuất được các biện pháp QL hoạt động ĐBAT cho trẻ có tính cần thiết và khả thi cao
Trang 215 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa lý luận về hoạt động ĐBAT cho trẻ và QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN;
- Tìm hiểu và phân tích thực trạng hoạt động ĐBAT cho trẻ MN và QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương;
- Đề xuất các biện pháp QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
6 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Đề tài khảo sát thực trạng QL hoạt động ĐBAT cho trẻ
trong trường MN công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương dưới
sự điều hành, lãnh đạo của hiệu trưởng nhà trường
- Về địa bàn: Đề tài khảo sát thực trạng hoạt động ĐBAT cho trẻ và QL
hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
- Về thời gian: Đề tài khảo sát thực trạng trong thời gian từ năm học 2015
– 2016 đến nay
7 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp luận
7.1.1 Quan điểm hệ thống cấu trúc
Vận dụng quan điểm hệ thống cấu trúc vào đề tài nhằm nghiên cứu thực trạng QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong mối quan hệ với công tác QL hoạt động ND-CS-GD trẻ trong trường MN trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Nghiên cứu QL hoạt động ĐBAT cho trẻ cần nghiên cứu một số nội dung cụ thể như: Lập kế hoạch ĐBAT cho trẻ, QL công tác bồi dưỡng, tập huấn các nội dung ĐBAT cho trẻ; QL công tác xây dựng MT cho trẻ hoạt động, QL việc chấp hành các chỉ đạo của các cấp QL; Kiểm tra đánh giá hoạt động ĐBAT cho trẻ… Khi
Trang 22quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm tạo ra sự hổ trợ hợp lý giữa các biện pháp trong việc nâng cao hiệu quả QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
7.1.2 Quan điểm thực tiễn
Vận dụng quan điểm thực tiễn vào đề tài nhằm nghiên cứu và đánh giá công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong điều kiện cụ thể của các trường MN công lập Các biện pháp QL hoạt động ĐBAT cho trẻ phải dựa vào điều kiện thực tế của thị xã Tân Uyên về nhân lực, vật lực nhằm đưa ra các biện pháp QL mang tính khả thi
7.1.3 Quan điểm lịch sử - logic
Vận dụng quan điểm lịch sử - logic vào đề tài nhằm nghiên cứu thực trạng
QL hoạt động ĐBAT cho trẻ bằng cách tìm hiểu, phát hiện sự nảy sinh, phát triển vào những khoảng thời gian, không gian và điều kiện cụ thể, việc này giúp cho công tác điều tra thực trạng được chính xác, phù hợp với mục đích nghiên cứu
7.2 Phương pháp nghiên cứu
7.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa lý thuyết có liên quan nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài, định hướng cho việc thiết kế công
cụ nghiên cứu, quá trình điều tra thực tiễn và làm luận cứ khoa học cho các biện pháp đề xuất
7.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Bảng hỏi được thiết kế với mục đích điều tra thực trạng hoạt động ĐBAT cho trẻ và QL hoạt động ĐBAT trong trường MN
- Bảng hỏi thứ nhất dành cho đối tượng là CBQL: hiệu trưởng (HT), phó hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn, tổ phó chuyên môn, GV và NV
- Bảng hỏi thứ hai dành cho đối tượng là CMT
Trang 23Chúng tôi cũng sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi để khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương mà đề tài đề xuất
7.2.2.2 Phương pháp phỏng vấn
Mục đích phỏng vấn: tìm hiểu sâu hơn về đối tượng nghiên cứu để làm minh chứng và bổ sung vào kết quả nghiên cứu thực trạng Trên cơ sở đó, đề xuất các biện pháp QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
Nội dung phỏng vấn: tìm hiểu thực trạng QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
Đối tượng phỏng vấn: một số CBQL trong các trường MN
7.2.2.3 Phương pháp phân tích hồ sơ, tài liệu, tổng kết kinh nghiệm
Tìm hiểu, khảo sát công tác ĐBAT cho trẻ và QL hoạt động ĐBAT trong trường MN thông qua kế hoạch hoạt động, báo cáo sơ kết, tổng kết… và hệ thống văn bản chỉ đạo ở các cấp quản lý giáo dục (QLGD) Qua đó thu thập các thông tin cần thiết cho đề tài
Lấy ý kiến nhận xét, đánh giá, tổng kết của các cấp QL để đề xuất biện pháp và xác định tính hiệu quả, tính khả thi của các biện pháp đề xuất
7.2.3 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phần mềm xử lý thống kê SPSS for Windows, phiên bản 20.0 để
xử lý các thông tin thu thập được trong quá trình nghiên cứu thực trạng công tác ĐBAT cho trẻ và QL hoạt động ĐBAT trong trường MN trên địa bàn thị xã Tân Uyên Tỉnh Bình Dương
8 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Về lý luận: Đề tài góp phần làm rõ thêm cơ sở lý luận về công tác QL hoạt động ĐBAT trong trường MN
Trang 24Về thực tiễn: Nhận xét, đánh giá đúng thực trạng công tác QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
Từ đó đề xuất các biện pháp QL hiệu quả hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường
MN trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương góp phần nâng cao chất lượng ND-CS-GD trẻ thế hệ măng non phát triển toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần
hương 2: Thực trạng QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN trên
địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
hương 3 Biện pháp QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN trên
địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
Trang 25hương 1
Ơ Ở Ý N Ề Q ẢN Ý OẠT ĐỘNG ĐẢM BẢO N TOÀN O TRẺ TRONG TRƯỜNG MẦM NON 1.1 ịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài về QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN
QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN là một trong những vấn đề luôn được các quốc gia cũng như các trường MN trên thế giới đặc biệt quan tâm Các chương trình GDMN của các nước hướng đến sự phát triển toàn diện cho trẻ
về thể chất lẫn tinh thần và luôn đảm bảo phù hợp với mục tiêu và đặc điểm của từng nước
Tại Singapore, Chương trình GDMN được thực hiện “mở” qua hệ thống
các nhà trẻ, mẫu giáo và các trung tâm chăm sóc trẻ emtừ 3 đến 6 tuổi Hệ thống nhà trẻ ở Singapore do các tổ chức doanh nhân và xã hội điều hành, đăng ký với
Bộ GD Các trung tâm nuôi dạy trẻ phải được Bộ Phát triển Cộng đồng và Thể thao cấp giấy phép hoạt động Các nhà GDMN Singapore quan niệm rằng việc chuẩn bị tốt cho trẻ những năm đầu đời sẽ tạo nên những thành quả rất khác biệt trong tương lai Trẻ được xem là những người học năng động nhất, do đó môi trường giáo dục (MTGD) luôn chấp nhận sự lộn xộn, luôn cho phép trẻ mắc lỗi nhưng tuyệt đối không chấp nhận và cho phép những nguy cơ có thể gây mất an toàn (AT) cho trẻ, tất cả môi trường, đồ dùng xung quanh trẻ đều phải đựợc ĐBAT và chắc chắn (Minh Anh, 2015)
Tại Nhật Bản, chương trình GDMN được thiết kế theo chương trình
khung, nhằm phát triển mục tiêu GDMN theo điều 77 của Luật GD Nhiệm vụ của GV phải thiết kế MTGD phù hợp với trẻ, thiết lập mối quan hệ tin tưởng của trẻ với GV Với quan điểm chỉ đạo thực hiện chương trình GDMN Nhật Bản thì việc tổ chức cuộc sống phù hợp với lứa tuổi trẻ MN là quan trọng nhất, tạo cho trẻ có được cảm giác an toàn khi ở cùng người lớn trong trường MN, từ đó trẻ có thể mở rộng thế giới của bản thân và hướng đến cuộc sống tự lập Tại các trường
Trang 26MN Nhật Bản, điều cần thiết nhất đối với trẻ là có được sự quan tâm và chấp nhận của cô giáo làm cho trẻ có cảm giác AT và tự tin (Lê Thu Huyền, 2009)
Tại Mỹ, Giáo sư DR Irene Chatoor – Nhà tâm lý học và Nhi Khoa, Giám
đốc Chương trình Y tế tâm lý trẻ sơ sinh và trẻ từ 1 - 3 tuổi, Trung tâm Y tế Quốc gia của trẻ em, Washington, Mỹ, có hơn 25 năm kinh nghiệm khám chữa bệnh vàng nghiên cứu về lĩnh vực nhi khoa dựa trên những mong mỏi thiết thực nhất của các bậc CMT đã chấp bút cuốn sách “Bé yêu học ăn” gồm 08 chương giúp trẻ ăn tốt, giúp người lớn xây dựng một môi trường ăn uống lành mạnh và chương cuối “kéo mọi người cùng vào cuộc” (Giáo sư DR Irene Chatoor, 2013)
Tại Ôxtrâylia, các chính sách GD khẳng định phát triển GDMN giữ vai
trò tiên quyết, nền tảng đối với phát triển đất nước Chương trình GDMN của Ôxtrâylia lấy hoạt động vui chơi làm trung tâm và phát huy tối đa năng lực, tư duy của trẻ, các kế hoạch được xây dựng dựa theo Luật và quyền trẻ em “trẻ em đựơc AT thì trẻ học tốt hơn” Một trong các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng trường MN ở Ôxtrâylia đó là “sức khỏe và an toàn” của trẻ (Vụ Giáo dục mầm non - Hoàng Thị Dinh, 2016)
Tại Hàn Quốc, MTGD cũng được tổ chức phù hợp với đặc điểm tâm sinh
lý, khả năng nhận thức của trẻ theo từng độ tuổi MTGD được thiết kế vừa mang tính sáng tạo vừa đảm bảo cho sức khỏe và sự AT của trẻ (Nguyễn Thị Bích Thủy, 2010)
Tại Liên Bang Nga, GDMN có lịch sử hình thành từ thế kỷ thứ XIX và
trãi qua các giai đoạn phát triển với nhiều trường phái khác nhau nhằm tìm ra những mô hình GD, những phương pháp hiệu quả và phương tiện tốt nhất trong CS-GD trẻ MN
Bước sang thế kỷ XX, các nhà GD Nga bắt đầu quan tâm đến phương pháp GD M.Montessori, nhà GD người Nga Y.I.Fausek là người đầu tiên thực hiện phương pháp GD M.Montessori tại trường MN do chính Bà thành lập (1993) sau nhiều lần học hỏi kinh nghiệm ở nước ngoài và trở thành người đầu tiên nghiên cứu và phổ biến phương pháp GD M.Montessori tại nước Nga, những
Trang 27đứa trẻ bắt đầu được chăm sóc sức khỏe (CSSK), ND, GD cẩn thận, chu đáo và hoàn toàn miễn phí trong giai đoạn này
Ngày nay, hệ thống GD Liên Bang Nga đã có tiến trình phát triển tích cực theo hướng hiện đại hóa, hội nhập khu vực và quốc tế, các chuyên gia trong lĩnh vực GDMN luôn tìm tòi các phương pháp, hình thức và các nguồn lực GD để đảm bảo mọi trẻ đều phát triển toàn diện, tăng cường sức khỏe và được GD về cuộc sống khỏe mạnh Việc học tập vui chơi của trẻ không chỉ giúp trẻ giảm bớt căng thẳng và mệt mỏi về thần kinh và cơ bắp mà còn tăng cường chức năng của
hệ thần kinh trung ương, hình thành cảm xúc tích cực, làm giảm sự lo lắng và kích thích hoạt động của não, tăng cường sức khỏe tâm sinh lý (GS TSKH KRULEXT M.V, Mátxcova, CHLB Nga- Biên dịch Đặng Lan Phương, 2017)
Các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, những người trực tiếp tham gia các hoạt động CS, ND, khám chữa bệnh cho trẻ… đã chỉ rõ những vấn
đề cần quan tâm QL các hoạt động CS, ND để trẻ được AT và phát triển toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần cho trẻ một cách có hiệu quả Đây cũng chính là
những gợi mở cho tác giả tiếp cận vấn đề nghiên cứu vấn đề: “Quản lý hoạt động
đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường mầm non trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương” hiện nay
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam về QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN
Ở Việt Nam, vấn đề ĐBAT cho trẻ trong trường MN, xét về mặt bản chất,
đã có từ rất lâu và trở thành truyền thống của dân tộc Việt Nam Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến các thiếu niên nhi đồng, những chủ nhân tương lai của nước nhà, Người đã từng dạy: “TE như búp trên cành Biết ăn, ngủ, biết học hành là ngoan” CS và GD TE không chỉ là trách nhiệm của những bậc làm cha mẹ mà còn là trách nhiệm, tình yêu thương, hạnh phúc của cộng đồng và
xã hội (Hồ Chí Minh toàn tập, 2000)
Trang 28Với nội dung ĐBAT PT TNTT cho trẻ MN, những năm gần đây có một số tác giả đã nghiên cứu và đề xuất các biện pháp có thể áp dụng hiệu quả ở một số địa phương
Tác giả Vũ Yến Khanh đã nghiên cứu về: “Đảm bảo an toàn – Phòng
tránh tai nạn thương tích cho trẻ tại các cơ sở giáo dục mầm non” Đề tài trình
bày về lý luận liên quan đến AT, TNTT, giải pháp PT TNTT và cách xử trí ban đầu một số tai nạn thương tích trong trường MN (Vũ Yến khanh, 2017)
Một nghiên cứu tương tự của tác giả Lê Thị Thu Ba về: “Biện pháp QL phòng chống và xử lý TNTT cho trẻ ở trường MN” Bài báo đăng trên Tạp chí
GD, số đặc biệt 11/2011 đã nêu lên một vài tai nạn (TN) thường xảy ra trong trường MN, nguyên nhân, cách phòng tránh và cách xử trí (Lê Thị Thu Ba, 2011)
Đối với trẻ đang học lớp lá tại các trường MN, ở độ tuổi này trẻ đã có những hiểu biết nhất định và nhận thức được một số nguy cơ mất AT Do vậy, tác giả Nguyễn Thị Thu Hà đã nghiên cứu đề tài: “Thực trạng GD trẻ mẫu giáo 5
- 6 tuổi nhận biết và phòng tránh nguy cơ không AT tại một số trường MN trên địa bàn Hà Nội” và đề xuất những giải pháp bảo vệ TE, GD trẻ 5 - 6 tuổi nhận biết, phòng tránh các nguy cơ không AT, các yếu tố ảnh hưởng trên cơ sở của những văn bản (Nguyễn Thị Thu Hà , 2012)
Tạp chí Khoa học Đại học sư phạm TPHCM đã đăng bài báo trình bày các tiêu chuẩn trường học AT theo Thông tư số 13/2010/TT-BGĐĐT của BGD&ĐT quy định về xây dựng trường học AT, PT TNTT trong CSGDMN do tác giả Đào Thị Minh Tâm viết: “Một số biện pháp ĐBAT - PT TNTT cho trẻ tại các CSGDMN” Bài viết liệt kê các TNTT đã xảy ra trong trường MN và nêu các biện pháp ĐBAT- PT TNTT cho trẻ (Đào Thị Minh Tâm, 2014)
Xuất phát từ vấn đề dư luận quan tâm và đề xuất các biện pháp giúp cho trường MN Sơn Ca 10, quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh hoàn thiện hơn công tác QL hoạt động PT TNTT tạo môi trường an toàn (MTAT) để CS,
GD trẻ, tác giả Nguyễn Thị Phương Thảo đã nghiên cứu: “QL hoạt động PT
Trang 29TNTT cho trẻ trong trường MN Sơn ca 10 quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí
Minh” (Nguyễn Thị Phương Thảo, 2015)
Để nâng cao chất lượng phòng chống TNTT cho TE, ĐBAT sức khỏe về
cơ thể và tâm lý cho TE các trường MN trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố
Hà Nội, tác giả Trương Thị Ngọc Loan nghiên cứu thực trạng hoạt động và thực trạng QL hoạt động phòng chống TNTT cho trẻ với đề tài: “QL hoạt động PT TNTT cho TE trong các trường MN quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội” (Trương Thị Ngọc Loan, 2017)
Nhằm phân tích rõ thực trạng QL, chỉ đạo bồi dưỡng GV về chuyên môn CS-ND trẻ và đề xuất các biện pháp tăng cường công tác QL hoạt động CS-ND trẻ tại địa phương, năm 2014 tác giả Dương Thị Hiền đã nghiên cứu đề tài: “QL hoạt động CS-GD của hiệu trưởng các trường MN thành phố Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc” Nghiên cứu đã đề xuất các biện pháp QL hiệu quả công tác CS, ND trẻ ở thành phố Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc (Dương Thị Hiền, 2014)
Nội dung ĐBAT, PT TNTT cho trẻ MN là một trong những nội dung quan trọng trong công tác CS-ND-GD trẻ MN Để đảm bảo cho sự phát triển toàn diện cho trẻ về các mặt Đức- Trí- Thể- Mỹ và phục vụ cho nhu cầu phát triển của đất nước cần có những chỉ dẫn cụ thể cho các trường mầm non Hiện nay có nhiều tài liệu cho các trường MN nghiên cứu và thực hiện trong công tác ĐBAT, PT TNTT và QL hoạt động ĐBAT, phòng chống TNTT cho TE, cụ thể như:
Quyển sách “Bệnh học và sơ cấp cứu nhi khoa” của tác giả Phạm Thị Nhuận do nhà xuất bản Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh phát hành năm
2017 Đây là những kiến thức rất cần thiết cho các bà mẹ, các giáo sinh, đặc biệt các trường MN đang trực tiếp CS nuôi dạy trẻ có thể áp dụng để CS, ND trẻ với phương chăm “Phòng bệnh hơn chữa bệnh, phòng TN hơn xử trí TN” (Phạm Thị Nhuận, 2017)
Hay nghiên cứu “Kỹ năng sơ cấp cứu các TNTT trong trường học” của tác giả Trung Kiên (2011), được NXB Lao Động xuất bản năm 2012 Nội dung
Trang 30nghiên cứu có 2 phần: Chỉ đạo của BGDĐT về xây dựng trường học AT và kỹ thuât sơ cấp cứu (Trung Kiên, 2011)
Hoặc nghiên cứu về việc CSSK cho trẻ do NXB GD Việt Nam xuất bản:
“Cẩm nang CSSK TE trong trường MN” vào năm 2012 của tác giả BS Hồng Thu, BS Anh Sơn, TS Thu Hiền Nghiên cứu đã giúp cho CBQL GDMN, GV và những người làm công tác y tế trường học thực hiện tốt các văn bản quy phạm pháp luật, có kiến thức và kĩ năng thực hành CS bảo vệ sức khỏe cho trẻ trong trường học (Hồng Thu, Anh Sơn, Thu Hiền, 2012)
Một cuốn sách khác của NXB GD Việt Nam do tác giả: Hồng Thu, Trần Văn Lộc viết cũng cung cấp và hệ thống hoá một số vấn đề cơ bản và cần thiết trong cách PT TNTT cho TE, nhằm giúp cán bộ y tế, GV trong trường MN biết tuyên truyền, hướng dẫn cho các bậc CMT các kiến thức ND, CSSK cho TE (Hồng Thu, Trần Văn Lộc, 2012)
Nghiên cứu về tác động của trình độ đào tạo của GV với chất lượng CS-GD TE, của 2 tác giả Ramela Kelley và Gregory Camilli (2007) đã cho thấy, những GV có trình độ cao hơn như trình độ cử nhân thì có tác động tích cực đến chất lượng CS, GD trẻ Nghiên cứu đã chỉ ra, ảnh hưởng về kết quả CS, GD trẻ của những GV có trình độ cử nhân khác đáng kể so với kết quả CS, GD từ các
ND-GV có trình độ GD thấp hơn (Ramela Kelley và Gregory Camilli, 2003)
Công tác ĐBAT cho trẻ trong trường MN là một trong những công tác quan trọng cần phải được quan tâm hàng đầu Do vậy, không chỉ có các công trình nghiên cứu và các tài liệu được nêu trên mà còn có nhiều văn bản chỉ đạo của Đảng và Nhà nước đối với các trường MN trong việc CS, ND trẻ, trong đó đề cập việc ĐBAT cho trẻ Chẳng hạn như: Quyết định số 711/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Chiến lược phát triển GD 2011-2020 và đề ra mục tiêu cụ
thể đối với GDMN (Thủ tướng chính phủ, 2012); Nghị quyết số 29-NQ/TW tiếp
tục đề ra mục tiêu cụ thể nhằm thực hiện thắng lợi chiến lược đã đề ra đối với GDMN (Ban chấp hành Trung Ương Đảng, 2013); Luật đảm bảo quyền lợi cho
TE (Quốc hội, 2018)
Trang 31Bộ GD&ĐT ban hành rất nhiều văn bản chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ ND-GD và ĐBAT cho trẻ, điển hình như: Chỉ thị tập trung kiểm tra chấn chỉnh
CS-vi phạm đạo đức nhà giáo (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2007); Thông tư ban hành quy định về xây dựng trường học AT, phòng, chống TNTT trong CSGDMN (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2010); Văn bản hợp nhất Điều lệ trường MN quy định nhiệm vụ và quyền hạn của Hiệu trưởng (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2015) Thông
tư sửa đổi, bổ sung Chương trình GD nhà trẻ, mẫu giáo và Hướng dẫn thực hiện
chương trình GDMN (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2016); Chỉ thị tăng cường các
giải pháp ĐBAT trong các CSGD (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2017)
Tại địa phương, cũng có nhiều văn bản chỉ đạo cụ thể đối với công tác ĐBAT cho trẻ với các nội dung như: tăng cường công tác ĐBAT về thể lực và sức khỏe, tăng cường công tác ĐBAT tuyệt đối, tăng cường công tác ĐBAT toàn diện về đảm bảo ATVSTP, bảo vệ CSSK, công tác y tế trong các CSGDMN
Điểm qua các công trình nghiên cứu cho thấy, các tác giả tập trung nhiều vào nghiên cứu cách thức PT TNTT cho TE ở các trường MN nhưng nghiên cứu sâu về QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN còn rất ít Hiện nay, trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương chưa có công trình nào nghiên cứu về
QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong các trường MN
Như vậy, nghiên cứu về QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN trên địa bàn thị xã Tân Uyên là cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn trong việc nâng cao chất lượng ND-CS-GD giúp trẻ phát triển toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần góp phần mang lại hạnh phúc, bình yên cho gia đình và cho toàn xã hội
1.2 Một số khái niệm của đề tài
1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý trường mầm non
1.2.1.1 Quản lý
Thuật ngữ “Quản lý” (tiếng Việt gốc Hán) gồm hai quá trình tích hợp vào nhau: Quá trình “Quản” gồm sự coi sóc giữ gìn duy trì ở trạng thái “ổn định”; Quá trình “Lý” gồm sửa sang, sắp xếp đổi mới đưa hệ vào thế “phát triển”
Trang 32Nhiều người quan niệm QL là một thuộc tính lịch sử vì nó phát triển theo
sự phát triển của xã hội loài người, nó thường xuyên biến đổi, là hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm Quan niệm về QL tùy thuộc vào các cách tiếp cận, sự đa dạng về cách tiếp cận, dẫn đến sự phong phú về các khái niệm “Quản lý”
Theo từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên), QL là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo các yêu cầu nhất định (Hoàng Phê, 2010)
Theo F Taylor: “QL là biết chính xác các điều bạn muốn người khác làm
và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” (Nguyễn Thị Mỹ Lộc và cs, 2012)
Theo Harold Koontz và cộng sự: “QL là một hoạt động thiết yếu, nó bảo đảm phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức) Mục tiêu của mọi nhà QL là nhằm hình thành một MT, mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và
sự bất mãn cá nhân ít nhất” (Harold Koontz và các tác giả, 1998)
Theo Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động QL là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể QL (người QL) đến khách thể QL (người bị QL) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được
mục đích của tổ chức” (Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc, 2010)
Từ những quan niệm trên có thể hiểu: QL là cai quản bộ máy bằng cách vạch ra mục tiêu cho bộ máy và tìm cách tác động vào bộ máy để bộ máy đạt tới mục tiêu QL là một khoa học đồng thời cũng là một nghệ thuật, phải biết vận dụng một cách linh hoạt các lý thuyết QL vào những tình huống cụ thể, những điều kiện hoàn cảnh cụ thể
QL là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích đã đề ra Sự tác động của
QL phải bằng cách nào đó để đối tượng QL luôn hồ hởi, phấn khởi, đem hết năng lực và trí tuệ để sáng tạo ra lợi ích cho bản thân, cho tổ chức và cho xã hội
Trang 33QL là quá trình thực hiện các công việc theo kế hoạch, sắp xếp tổ chức, phân phối nguồn lực, chỉ đạo điều hành và kiểm soát, đánh giá nhằm vận hành
tổ chức một cách hiệu quả nhất để đảm bảo đạt được mục tiêu đề ra
QL còn là một loại lao động để điều khiển lao động, do đó QL vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật Trong quá trình hoạt động, người QL phải hết sức linh hoạt, sáng tạo để chỉ đạo hoạt động của tổ chức đi tới đích mong muốn
Như vậy, QL là một hoạt động, là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể QL đến đối tượng QL trong một tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức Hoạt động của QL bắt nguồn từ sự phân công và sự hợp tác lao động trong tổ chức đó Sự phân công, hợp tác lao động đạt hiệu quả và năng suất cao sẽ cho thấy hoạt động QL thành công
hài hoà của họ” (D.V Khuđômixki, 1997)
M.L.Konđacốp cho rằng: “QLGD là tập hợp tất cả các biện pháp tổ chức,
kế hoạch hoá, công tác cán bộ, nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các
cơ quan trong hệ thống GD để tiếp tục và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng
cũng như chất lượng” (M.I.Konđacốp, 1990)
- Theo Nguyễn Ngọc Quang: “QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể QL (hệ GD nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý GD của Đảng, thực hiện được các tính chất của
Trang 34nhà trường Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thế hệ trẻ, đưa hệ GD tới các mục tiêu dự
kiến, tiến tới trạng thái mới về chất)” (Nguyễn Ngọc Quang, 1989)
Tác giả Hồ Văn Liên cho rằng: “QLGD là hoạt động điều hành, phối hợp, huy động các lực lượng GD và xã hội nhằm thực hiện có hiệu quả công việc GD; không chỉ là sự nghiệp của các nhà trường, của ngành GD&ĐT mà là sự nghiệp
chung của cả xã hội” (Trần Thị Hương và cs., 2015)
Những quan niệm nói trên có sự thống nhất trong khi chỉ ra những tác động có định hướng trong QLGD Như vậy, có thể hiểu: QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, hợp quy luật của chủ thể QL ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu, các yếu tố, các quá trình của hệ thống GD nhằm làm cho hệ thống vận hành, ổn định và phát triển bền vững
1.2.1.3 Quản lý trường mầm non
- Quản lý trường học
Trường học là một tổ chức cơ sở của hệ thống GD nơi tập hợp những con người (GV, sinh viên) thực hiện nhiệm vụ chung: GD&ĐT những nhân cách theo mục tiêu đề ra (Trần Thị Hương, 2012)
Theo M.I.Konđacop: “QL nhà trường là QL hoạt động dạy và học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trang thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu GD” (M.I.Konđacop, 1990)
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang đã cho rằng: “QL nhà trường là QL hệ thống
xã hội sư phạm chuyên biệt, hệ thống này đòi hỏi tác động những tác động có ý thức, có khoa học và có hướng dẫn của chủ thể QL trên tất cả các mặt của đời sống nhà trường để đảm bảo sự vận hành tối ưu xã hội – kinh tế và tổ chức sư phạm của quá trình dạy học và GD thế hệ đang lớn lên” (Nguyễn Ngọc Quang, 1989)
QL trường học là hoạt động được thực hiện trên cơ sở những quy luật chung của QL, đồng thời có những nét đặc thù riêng Nét đặc thù của QL trường học là làm cho nó phân biệt với các QL xã hội khác, được quy định trước hết bởi bản chất lao động sư phạm của người GV, bản chất của quá trình dạy học - giáo
Trang 35dục, trong đó học sinh vừa là đối tượng QL, vừa là chủ thể tự quản của bản thân mình Như vậy, QL trường học là hệ thống những tác động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống của chủ thể QL trường học đến đối tượng QL trường học (tập thể GV, NV; tập thể học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả GD của nhà trường
- Quản lý trường mầm non
Căn cứ vào Luật GD 2005, tại Điều 21 quy định GDMN thực hiện việc
ND, CS, GD trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi và khoản 3, Điều 25 quy định Trường MN là CSGD kết hợp nhà trẻ và mẫu giáo, nhận TE từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi (Quốc Hội, 2018)
QL trường MN là sự tác động có chủ đích của hiệu trưởng đến các GV,
NV, trẻ trong trường MN nhằm đạt mục tiêu ND-CS-GD trẻ MN theo quy định Hoặc có thể nói, QL trường MN là sự tác động có ý thức của người QL nhà trường (Hiệu trưởng) nhằm điều khiển, hướng dẫn các quá trình ND-CS-GD trẻ của đội ngũ CBQL, GV trong nhà trường, là sự huy động các nguồn lực khác nhau nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả GD của nhà trường
QL trường MN bao gồm nhiều nội dung song QL hoạt động ND-CS-GD trẻ là nội dung trọng tâm, trong đó QL hoạt động ĐBAT cho trẻ trong trường MN
1.2.2.3 Đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường MN
Trang 36Luật GD qui định, trẻ MN là những trẻ trong độ tuổi MN, nhi đồng (từ 3 tháng - 6 tuổi) đang được ND-CS-GD trong trường MN ĐBAT cho trẻ trong trường MN là việc bảo đảm cho trẻ được yên ổn, tránh những thiệt hại về tinh thần và thể chất, bao gồm cả việc PT TNTT cho trẻ (Quốc hội, 2009)
Quy định về xây dựng trường học AT, phòng chống TNTT trong các CSGDMN ban hành kèm theo Thông tư số 13/2010/TT-BGDĐT của BGDĐT với các từ ngữ được hiểu như sau:
- Trường học AT, phòng, chống TNTT là trường học mà các yếu tố nguy
cơ gây TNTT cho trẻ được phòng, chống và giảm tối đa hoặc loại bỏ Toàn bộ
TE trong trường được CS nuôi dạy trong một MTAT Quá trình xây dựng trường học an toàn phải có sự tham gia của TE trong độ tuổi MN, các CBQL, GV của nhà trường, các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể của địa phương và các bậc CMT
- TN là sự kiện xảy ra bất ngờ ngoài ý muốn, do tác nhân bên ngoài, gây nên thương tích cho cơ thể trẻ
- Thương tích là tổn thương thực thể của cơ thể do phải chịu tác động đột ngột ngoài khả năng chịu đựng của cơ thể hoặc rối loạn chức năng do thiếu yếu
tố cần thiết cho sự sống như không khí, nước, nhiệt độ phù hợp (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2010)
Tóm lại, ĐBAT cho trẻ trong trường MN bao gồm 2 mặt: ĐBAT về tâm lý
và AT về thể chất Cụ thể là: tạo cho trẻ cảm giác an tâm, yên ổn, không có mối nguy hiểm nào đe dọa, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, PT TNTT cho trẻ, ĐBAT trong CSSK, phòng tránh trẻ thất lạc, đảm bảo MT hoạt động AT (MT xã hội và MT vật chất)
1.2.3 Quản lý hoạt động ĐBAT cho trẻ MN
Từ khái niệm QL, QL trường MN, ĐBAT cho trẻ ở trường MN đã trình bày ở trên, có thể nêu khái niệm: QL hoạt động ĐBAT cho trẻ MN là những tác động có ý thức, có kế hoạch của chủ thể QL vào quá trình ND-CS-GD trẻ, tạo cho trẻ cảm giác an tâm, yên ổn, đảm bảo ATVSTP, an toàn trong CSSK, PT
Trang 37TNTT cho trẻ, phòng tránh trẻ thất lạc, đảm bảo môi trường hoạt động AT (môi trường xã hội và môi trường vật chất), góp phần thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu của nhà trường
1.3 oạt động ĐB T cho trẻ tại trường MN
1.3.1 Vị trí, vai trò của hoạt động ĐBAT trong ND-CS-GD trẻ MN
Tiến sĩ Robert G Mayer đã hỏi và trả lời rằng: “Tại sao phải đầu tư vào chương trình CS và phát triển trẻ thơ từ những năm nhỏ tuổi, coi đây là một phần của chiến lược cơ bản, bởi vì cũng như trước khi xây dựng tòa nhà, ta cần xây dựng một cái nền bằng đá vững chắc trên cơ sở đó làm nền tảng xây nên toàn bộ công trình kiến trúc” Để chuẩn bị cho trẻ MN vào học ở trường tiểu học, nhất định trẻ phải có một nền tảng đó Nhân tố tạo nên nền tảng quan trọng ấy chính là gia đình, cộng đồng và những giá trị văn hóa cộng đồng quanh trẻ Tại Điều 44 - Luật TE quy định việc bảo đảm về giáo dục cho TE: “Chương trình, nội dung
GD phải phù hợp với từng độ tuổi, từng nhóm đối tượng TE, bảo đảm chất
lượng, đáp ứng yêu cầu phát triển toàn diện và yêu cầu hội nhập” (Quốc Hội,
2018) Do vậy, từ lúc trẻ được sinh ra cho đến 6 tuổi, bất cứ một đứa trẻ nào cũng cần được sự hỗ trợ, đầu tư để phát triển tinh thần, thể chất và năng lực xã hội Con đường học vấn của trẻ có thành công hay không phần lớn là tùy thuộc vào nền tảng của những năm đầu đời
Ở trường MN công tác ĐBAT có vị trí, vai trò quan trọng hàng đầu đối với phát triển toàn diện của trẻ ĐBAT cho trẻ là việc GV, nhà trường và CMT phối hợp với nhau trong công tác ND-CS-GD để bảo vệ bản thân trẻ, tạo MTATcho trẻ được tham gia hoạt động, vui chơi và học tập ĐBAT cho trẻ có vai trò đặc biệt quan trọng đến sự phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần:
- Về mặt thể chất: Cơ thể trẻ được khỏe mạnh, không bị tổn thương về da thịt, trẻ được vận động bình thường và nhanh nhẹn
- Về mặt tinh thần: Giúp trẻ phát triển nhận thức, trẻ thích thú tìm thế giới xung quanh, ham tìm tòi, học hỏi và khám phá
Trang 38Nếu trẻ bị tổn thương về mặt thể xác hay về mặt tinh thần thì trẻ không thể tìm hiểu, khám phá về thế giới xung quanh, trẻ không thể tích lũy được vốn kiến thức, kỹ năng để có được kinh nghiệm làm hành trang trong cuộc sống được
Bên cạnh đó, việc ĐBAT sẽ giúp trẻ phát triển về mặt ngôn ngữ Bởi vì, ngôn ngữ là phương tiện của tư duy, nếu không có ngôn ngữ thì sẽ không phát triển được tư duy Những tổn thương khi bị ngạt, hay bị vật nhọn đâm vào miệng cũng có thể tổn thương về ngôn ngữ của trẻ Đồng thời, việc ĐBAT sẽ giúp trẻ phát triển về mặt tình cảm xã hội, trẻ được sống trong một MTAT, không làm tổn thương đến trẻ, trẻ cảm nhận được những tình cảm đẹp, sự yêu thương, quan tâm,
CS của người lớn Qua đó trẻ biết trân trọng, yêu quý mọi người xung quanh, biết giúp đỡ người khác
Hơn thế, ĐBAT còn giúp trẻ phát triển về mặt thẩm mỹ Khi GV tạo được MTAT, tích cực, thẩm mỹ cho trẻ hoạt động cũng là giúp trẻ cảm nhận được cái đẹp từ con người và môi trường xung quanh, tạo cho trẻ những ước muốn cho bản thân mình có những hành động, cử chỉ, việc làm đẹp cho xã hội, tạo nên một MTAT cho chính bản thân và cho tất cả mọi người Chính vì thế, mỗi thành viên trong trường MN phải hợp tác hết sức chặt chẽ để hạn chế tối đa các nguy cơ có thể xảy đến với trẻ, đảm bảo trẻ được CS một cách tốt nhất và AT nhất
1.3.2 Yêu cầu để ĐBAT cho trẻ MN
ĐBAT cho trẻ trong trường MN, trước hết cần xem xét các yêu cầu về đạo đức của CBQL, GV và NV trong nhà trường Các yêu cầu bảo vệ TE được quy định tại Điều 47 thực hiện theo ba cấp độ: phòng ngừa, hỗ trợ và can thiệp Đồng thời, coi trọng việc phòng ngừa, ngăn chặn nguy cơ gây tổn hại, kịp thời can thiệp, giải quyết để giảm thiểu hậu quả cho trẻ (Quốc Hội, 2018) Các yêu cầu này chỉ được thực hiện tốt khi các cá nhân, tổ chức có liên quan phối hợp chặt chẽ với nhau: “CMT, GV, người CS và các thành viên trong gia đình có trách nhiệm: Trau dồi kiến thức, kỹ năng GD trẻ em về đạo đức, nhân cách, quyền và bổn phận của trẻ em; tạo MTAT, phòng ngừa TNTT; phòng ngừa trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt, có nguy cơ bị xâm hại hoặc bị xâm hại; chấp hành các quyết
Trang 39định, biện pháp, quy định của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền để bảo đảm sự
AT, bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự và bí mật đời sống riêng tư
của trẻ em” (Quốc Hội, 2018)
Bên cạnh đó, nhiều quy định của ngành GD và các ngành có liên quan đã
đề ra hết sức cụ thể, nhưng tựu chung vẫn cùng quan điểm rằng, nhân cách nghề nghiệp nói chung hay nhân cách của những người công tác trong trường MN nói riêng có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng và hiệu quả lao động trong quá trình hành nghề
Nước ta đã ban hành các Chỉ thị, Quyết định, Thông tư quy định trách nhiệm, chuẩn mực đạo đức nhân cách của đội ngũ nhà giáo và những người làm công tác GDMN như: Chỉ thị về tập trung kiểm tra, chấn chỉnh vi phạm đạo đức nhà giáo (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2007) và Quy định đạo đức nhà giáo, chú trọng nhiệm vụ đánh giá, rà soát, sắp xếp lại đội ngũ nhà giáo, nâng cao trình độ chuyên môn, bản lĩnh chính trị phẩm chất đạo đức, lối sống, lương tâm nghề nghiệp, giúp đỡ kịp thời các GV, cán bộ QLGD và NV vượt qua khó khăn trong cuộc sống và công tác, đảm bảo trong nhà trường, trong cơ quan QLGD không
có GV, CBQL và NV vi phạm đạo đức nhà giáo và quy chế chuyên môn nghiệp
vụ (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2008); Thông tư quy định trách nhiệm của hiệu trưởng về QL, thực hiện các chế độ chính sách và bảo vệ quyền trẻ em, QL hoạt động ND-CS-GD, ĐBAT và sức khỏe giúp trẻ em phát triển toàn diện, hài hòa thông qua việc QL, đánh giá kết quả ND-CS-GD trẻ (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2011); Quyết định quy định trách nhiệm của hiệu trưởng phải hướng dẫn, đánh giá và có các biện pháp QL, bồi dưỡng, nâng cao năng lực nghề nghiệp cho đội ngũ GVMN (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2008)
Trong giai đoạn hiện nay, các yêu cầu về chuẩn mực đạo đức của đội ngũ nhà giáo vẫn được Đảng và Nhà nước quan tâm, Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ chính trị khóa XII đã nêu rõ việc: “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, phong cách
Hồ Chí Minh” và đặc biệt cần “xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược đủ năng lực phẩm chất, ngang tầm nhiệm vụ; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng
Trang 40chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự chuyển biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu” (Ban chấp hành Trung Ương, 2016)
Thời gian gần đây, đã liên tiếp xảy ra các vụ TNTT; các vụ bạo hành, xâm phạm thân thể, sức khỏe, tinh thần TE, học sinh trong các gây hậu quả nghiêm trọng như: vi phạm các quy định về ATVSTP, AT lao động, phòng chống cháy nổ… Bộ GD&ĐT đã yêu cầu các Sở GD&ĐT tăng cường hơn nữa công tác ĐBAT trong các CSGD (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2017) và chỉ đạo tăng cường công tác QL và nâng cao đạo đức nhà giáo, chú trọng nhất việc CBQL, GV, NV
và người lao động phải thực hiện trong giai đoạn hiện nay (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2018)
Như vậy, để ĐBAT cho trẻ trong trường MN thì phải đảm bảo các quyền
TE theo quy định của Luật, những người thực hiện nhiệm vụ ND-CS-GD trẻ phải tích cực, chủ động học tập, làm theo tư tưởng, phong cách Hồ Chí Minh, chú trọng kỷ cương, nền nếp nhằm nâng cao chất lượng GD toàn diện cho trẻ, tuyết đối không để xảy ra TNTT, bạo hành, xâm phạm thân thể, sức khỏe và tinh thần
TE Để thực hiện đạt các yêu cầu trên cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các CSGD, gia đình của trẻ và toàn xã hội Đây được xem là yêu cầu quan trọng nhất quyết định việc ĐBAT cho trẻ tại trường MN trong giai đoạn hiện nay
1.3.3 Nội dung hoạt động ĐBAT cho trẻ MN
1.3.3.1 Đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
Luật TE đã quy định: “Nhà nước có chính sách, biện pháp để TE được tiếp cận nguồn nước hợp vệ sinh và điều kiện vệ sinh cơ bản, bảo đảm ATVSTP theo quy định của pháp luật” (Quốc hội, 2018) Đảm bảo ATVSTP là một trong những nội dung quan trọng của trường MN Nội dung này phần lớn là nhiệm vụ của NV: “Bảo đảm AT cho trẻ trong ăn uống và sinh hoạt tại nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập; tuân thủ các quy định về ATVSTP trong chế biến ăn uống cho trẻ, đảm bảo không để xảy ra ngộ độc đối với trẻ” (Bộ Giáo dục
và Đào tạo, 2015) Đồng thời, “TE có quyền được CS, ND để phát triển toàn