1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản lý hoạt đánh giá thường xuyên bằng nhận xét tại các trường tiểu học thành phố thủ dầu một, tỉnh bình dương

191 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 191
Dung lượng 2,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng về cách thực hiện hoạt động ĐGTX bằng nhận xét trong quá trình dạy học tại các trường Tiểu học TP Thủ Dầu Một .... Đối với thực trạng QL ĐGTX bằng nhận xét của HS tại các trườ

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT

LÊ THỊ HẰNG

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ THƯỜNG XUYÊN BẰNG NHẬN XÉT TẠI CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH DƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC

MÃ SỐ: 8140114

BÌNH DƯƠNG - 2020

Trang 2

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT

LÊ THỊ HẰNG

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ THƯỜNG XUYÊN BẰNG NHẬN XÉT TẠI CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH DƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC

MÃ SỐ: 8140114

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS LƯƠNG THỊ HỒNG GẤM

BÌNH DƯƠNG - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu tôi tự tiến hành làm; các số liệu, tư liệu được sử dụng nghiên cứu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc

rõ ràng và được thu thập từ thực tiễn Kết quả nghiên cứu của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác

Lê Thị Hằng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành quản lý giáo dục về đề tài “Quản lý hoạt

đánh giá thường xuyên bằng nhận xét tại các trường Tiểu học thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương” đã được thực hiện với sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều

tổ chức và cá nhân

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến giáo viên hướng dẫn khoa học: TS Lương Thị Hồng Gấm Cô đã tận tình chỉ dẫn, giúp đỡ, góp ý để tôi có thể hoàn thành được đề tài nghiên cứu một cách tốt nhất

Với tình cảm chân thành, tôi xin gửi lời cảm ơn đến quý Thầy, Cô giáo thuộc khoa quản lý giáo dục và phòng Sau Đại học Trường Đại học Thủ Dầu Một đã tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành nhiệm vụ học tập và đề tài nghiên cứu Tôi xin gởi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu và quý Thầy Cô đang công tác trường Tiểu học và phòng GD&ĐT TP Thủ Dầu Một đã giúp tôi có số liệu thực tế

để hoàn thành Luận văn này

Mặc dù bản thân đã cố gắng hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu nhưng những thiếu sót là điều không thể tránh khỏi Kính mong sự đóng góp ý kiến và những chỉ dẫn vô cùng quý báu của quý Thầy, Cô

Một lần nữa, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất!

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii

DANH MỤC CÁC BẢNG ix

DANH MỤC BIỂU ĐỒ x

TÓM TẮT xi

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3

4.1 Khách thể nghiên cứu 3

4.2 Đối tượng nghiên cứu 3

5 Phạm vi nghiên cứu 3

5.1 Về nội dung 3

5.2 Về địa bàn 4

6 Giả thuyết khoa học 4

7 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4

7.1 Phương pháp luận 4

7.2 Phương pháp nghiên cứu 5

8 Những đóng góp của đề tài 8

9 Bố cục của luận văn 8

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ THƯỜNG XUYÊN BẰNG NHẬN XÉT TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC 9

1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu về quản lý hoạt động đánh giá thường xuyên bằng nhận xét tại các trường Tiểu học 9

1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài 9

1.1.2 Các nghiên cứu trong nước 11

1.2 Một số khái niệm liên quan đến đề tài 15

Trang 6

1.2.1 Đánh giá 15

1.2.2 Đánh giá kết quả học tập 16

1.2.3 Đánh giá thường xuyên bằng nhận xét 17

1.2.4 Quản lý 17

1.2.5 Quản lý nhà trường 18

1.2.6 Quản lý hoạt động ĐGTX bằng nhận xét 18

1.3 Lý luận về hoạt động ĐGTX bằng nhận xét tại trường Tiểu học 19

1.3.1 Mục đích đánh giá HSTH 19

1.3.2 Chức năng của hoạt động đánh giá 19

1.3.3 Nguyên tắc trong ĐGTX 20

1.3.4 Phân loại đánh giá HSTH 20

1.3.5 Đặc điểm của ĐGTX bằng nhận xét 22

1.3.5 Nội dung ĐGTX bằng nhận xét HSTH 23

1.3.6 Cách thức về ĐGTX bằng nhận xét HSTH 24

1.3.7 Phương pháp và công cụ đánh giá thường xuyên của HSTH 24

1.4 Lý luận về quản lý hoạt động ĐGTX bằng nhận xét cho HSTH 25

1.4.1 HT trường Tiểu học với việc quản lý ĐGTX bằng nhận xét 25

1.4.2 Ý nghĩa của việc quản lý ĐGTX bằng nhận xét 26

1.4.3 Nội dung quản lý ĐGTX bằng nhận xét ở trường Tiểu học 26

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét của GV tại trường Tiểu học 29

Tiểu kết chương 1 31

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ THƯỜNG XUYÊN BẰNG NHẬN XÉT TẠI CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG 32

2.1 Khái quát tình hình kinh tế - văn hoá - xã hội (KT-VH-XH) và GD của TP Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương 32

2.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên và tình hình KT-VH-XH 32

2.1.2 Khái quát về tình hình giáo dục tại TP Thủ Dầu Một 33

Trang 7

2.2 Tổ chức khảo sát thực trạng QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét tại các

trường tiểu học TP Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương 35

2.2.1 Phương pháp nghiên cứu 35

2.2.2 Thông tin về mẫu khảo sát bằng bảng hỏi 37

2.2.3 Cách thức xây dựng thang đo 38

2.2.4 Xử lý số liệu 39

2.3 Thực trạng hoạt động ĐGTX bằng nhận xét tại các trường Tiểu học TP Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương 40

2.3.1 Nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động ĐGTX bằng nhận xét tại các trường Tiểu học TP Thủ Dầu Một 40

2.3.2 Mức độ thực hiện hoạt động ĐGTX bằng nhận xét tại các trường Tiểu học TP Thủ Dầu Một 41

2.3.3 Nhận thức của CBQL và GV về tầm quan trọng của các mục đích ĐGTX bằng nhận xét tại các trường Tiểu học TP Thủ Dầu Một 43

2.3.4 Thực trạng về cách thực hiện hoạt động ĐGTX bằng nhận xét trong quá trình dạy học tại các trường Tiểu học TP Thủ Dầu Một 45

2.3.5 Ý kiến của CBQL và GV về đặc điểm và mức độ quan trọng của các lời nhận xét khi ĐGTX 46

2.3.6 Những khó khăn của GV khi ĐGTX bằng nhận xét tại các trường Tiểu học TP Thủ Dầu Một 47

2.4 Thực trạng QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét tại các trường Tiểu học TP Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương 49

2.4.1 Nhận thức của CBQL và GV về sự cần thiết QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét tại các trường Tiểu học TP Thủ Dầu Một 49

2.4.2 Thực trạng xây dựng kế hoạch QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét tại các trường Tiểu học TP Thủ Dầu Một 50

2.4.3 Thực trạng tổ chức thực hiện kế hoạch ĐGTX bằng nhận xét tại các trường Tiểu học TP Thủ Dầu Một 52

2.4.4 Thực trạng công tác chỉ đạo thực hiện kế hoạch ĐGTX bằng nhận xét tại các trường Tiểu học TP Thủ Dầu Một 54

Trang 8

2.4.5 Thực trạng KTĐG và giám sát thực hiện kế hoạch QL hoạt động

ĐGTX bằng nhận xét tại các trường Tiểu học TP Thủ Dầu Một 56

2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét tại các trường Tiểu học TP Thủ Dầu Một 58

2.6 Đánh giá chung về thực trạng QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét tại các trường Tiểu học TP Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương 60

2.6.1 Thực trạng hoạt động ĐGTX bằng nhận xét của GV 60

2.6.2 Thực trạng quản lý hoạt động ĐGTX bằng nhận xét 61

2.6.3 Nguyên nhân của thực trạng 62

Tiểu kết chương 2 63

Chương 3 BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ THƯỜNG XUYÊN BẰNG NHẬN XÉT TẠI CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH DƯƠNG 64

3.1 Cơ sở đề xuất biện pháp 64

3.1.1 Cơ sở lý luận 64

3.1.2 Cơ sở thực tiễn 64

3.1.3 Cơ sở pháp lý 64

3.2 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 65

3.2.1 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 65

3.2.2 Nguyên tắc cân đối và có tính trọng tâm 66

3.2.3 Nguyên tắc tính hiệu quả và tính khả thi 66

3.2.4 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa và phát triển 67

3.3 Các biện pháp nâng cao hiệu quả QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét tại các trường Tiểu học TP Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương 67

3.3.1 Biện pháp nâng cao nhận thức và năng lực ĐGTX bằng nhận xét cho CBQL và GV 67

3.3.2 Biện pháp xây dựng kế hoạch ĐGTX bằng nhận xét 69

3.3.3 Biện pháp tổ chức và chỉ đạo thực hiện ĐGTX bằng nhận xét 71

3.3.4 Biện pháp cải tiến hoạt động kiểm tra, giám sát và ĐG trong quá trình quản lý hoạt động ĐGTX bằng nhận xét 74

3.4 Mối quan hệ giữa các nhóm biện pháp 76

Trang 9

3.5 Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất cần nâng

cao hiệu quả QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét tại các trường Tiểu học TP

Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương 76

3.5.1 Mục đích khảo nghiệm 77

3.5.2 Đối tượng khảo nghiệm 77

3.5.3 Nội dung khảo nghiệm 77

3.5.4 Quy trình khảo nghiệm 77

3.5.5 Kết quả khảo nghiệm 78

Tiểu kết chương 3 81

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 82

1 Kết luận 82

2 Kiến nghị 83

2.1 Kiến nghị đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo 83

2.2 Kiến nghị đối với Sở Giáo dục và Đào tạo 84

2.3 Kiến nghị đối với Phòng Giáo dục và Đào tạo 84

2.4 Kiến nghị đối với CBQL và GV 84

2.5 Kiến nghị đối với PHHS và HS 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO i

PHỤ LỤC v

PHỤ LỤC 1: Phiếu khảo sát v

PHỤ LỤC 2: Phiếu phỏng vấn xiii

PHỤ LỤC 3: Kết quả phỏng vấn xvi PHỤ LỤC 4: Phiếu khảo nghiệm xlii PHỤ LỤC 5: Bảng số liệu xlv

Trang 11

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Kết quả đánh giá năng lực HS từ năm 2017-2019 34

Bảng 2.2 Trình độ, thâm niên công tác, trình độ Tin học của đối tượng khảo sát 37

Bảng 2.3 Thang đo trị trung bình và mức ý nghĩa 38

Bảng 2.4 Mô tả mã hóa đối tượng trả lời phỏng vấn 40

Bảng 2.5 Nhận thức của CBQL và GV về tầm quan trọng của các 43

Bảng 2.6 Ý kiến của CBQL và GV về mức độ thực hiện phương pháp hoạt động ĐGTX bằng nhận xét 45

Bảng 2.7 Nhận thức của CBQL và GV về mức độ quan trọng của các 47

Bảng 2.8 Những khó khăn khi ĐGTX bằng nhận xét 48

Bảng 2.9 Đánh giá của CBQL và GV về xây dựng kế hoạch QL ĐGTX bằng nhận xét của học sinh Tiểu học 50

Bảng 2.10 Đánh giá của CBQL và GV về thực hiện kế hoạch hoạt động 52

Bảng 2.11 Đánh giá của CBQL và GV về công tác chỉ đạo QL việc thực hiện kế hoạch hoạt động ĐGTX bằng nhận xét của học sinh Tiểu học 54

Bảng 2.12.Đánh giá của CBQL và GV về công tác kiểm tra, ĐG và giám sát 56

Bảng 2.13 Đánh giá của CBQL và GV về những yếu tố ảnh hưởng tới công tác 58

Bảng 3.1 Mô tả mẫu khảo nghiệm 77

Bảng 3.2 Thang đo trị trung bình và mức ý nghĩa 78

Bảng 3.3 Ý kiến của CBQL và GV về tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp 78

Trang 12

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Số liệu về đối tượng khảo sát 35Biểu đồ 2.2 Nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động ĐGTX bằng nhận xét 41Biểu đồ 2.3 Mức độ thực hiện hoạt động ĐGTX bằng nhận xét 41Biểu đồ 2.4 Lợi ích hoạt động ĐGTX bằng nhận xét 42Biểu đồ 2.5 Nhận thức của CBQL và GV về sự cần thiết của việc quản lý 49

Biểu đồ 3.1 So sánh điểm trung bình giữa tính cấp thiết và tính khả thi của các

biện pháp đề xuất 80

Trang 13

TÓM TẮT

Đề tài sử dụng kết hợp hai nhóm phương pháp (PP) nghiên cứu lý luận và nghiên cứu thực tiễn để nghiên cứu thực trạng quản lý (QL) hoạt động đánh giá thường xuyên (ĐGTX) bằng nhận xét của học sinh (HS) tại các trường Tiểu học, thành phố (TP) Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương, từ đó đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét của HS tại các trường này Đề tài đã giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu đề ra, cụ thể như sau:

Thứ nhất, góp phần làm rõ cơ sở lý luận (CSLL) của hoạt động ĐGTX bằng nhận xét và QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét ở các trường Tiểu học Cụ thể bao gồm: vai trò, mục đích, chức năng; nguyên tắc ĐGTX; đặc điểm; nội dung và các thức đánh giá (ĐG); PP ĐG; nghiên cứu quy trình QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét theo chức năng QL bao gồm: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo thực hiện và kiểm tra ĐG việc thực hiện

Thứ hai, đề tài nghiên cứu, phân tích và ĐG thực trạng QL ĐGTX bằng nhận xét của HS

Hiện nay thực trạng ĐGTX bằng nhận xét tại các trường Tiểu học TP Thủ Dầu Một vẫn còn nhiều điều cần quan tâm, như: giáo viên (GV) chưa có nhiều kĩ năng trong ĐG; HS chưa quan tâm đến lời nhận xét của GV; GV chưa chú trọng vào PP cho HS tự nhận xét và ĐG việc học của mình cũng như ĐG việc học của các bạn trong lớp

Đối với thực trạng QL ĐGTX bằng nhận xét của HS tại các trường Tiểu học TP Thủ Dầu Một: Hiện nay, (1) Hiệu trưởng (HT) chưa thực sự chú ý đến xây dựng các văn bản quy định về công tác ĐGTX bằng nhận xét; (2) Công tác bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho GV để nâng cao năng lực ĐG chưa được thực hiện tốt; (3) HT chưa thường xuyên tổ chức kiểm tra đánh giá (KTĐG) việc thực hiện kế hoạch ĐGTX bằng nhận xét của GV; (4) HT chưa xây dựng và ban hành các tiêu chí ĐGTX bằng nhận xét; (5) chưa có các quy định về hình thức khen thưởng và thực hiện khen thưởng liên quan đến công tác ĐGTX bằng nhận xét của

GV

Trang 14

Thứ ba, từ nghiên cứu lý luận và thực trạng ĐGTX bằng nhận xét và QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét tại các trường Tiểu học TP Thủ Dầu Một, đề tài

đã đề xuất 4 nhóm biện pháp nâng cao hiệu quả QL hoạt động này, bao gồm:

Nhóm biện pháp nâng cao nhận thức và năng lực ĐGTX bằng nhận xét cho cán bộ quản lý (CBQL) và GV, cụ thể: Phổ biến cho GV nội dung các văn bản chỉ

đạo và quy định về công tác ĐGTX; xây dựng văn bản hướng dẫn cụ thể việc thực hiện ĐGTX bằng nhận xét cho GV; khuyến khích GV tự nghiên cứu, tự bồi dưỡng nâng cao hiểu biết về kiến thức ĐGTX bằng nhận xét; tạo cơ hội cho GV tham các lớp tập, bồi dưỡng và giao lưu trao đổi kinh nghiệm với GV đơn vị khác

Nhóm biện pháp xây dựng kế hoạch ĐGTX bằng nhận xét, cụ thể: HT xây

dựng kế hoạch ĐGTX bằng nhận xét theo năm học dựa trên các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo của Phòng, Sở và Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT); các tổ chuyên môn (CM), GV xây dựng kế hoạch ĐGTX bằng nhận xét dựa trên các kế hoạch của nhà trường

Nhóm biện pháp tổ chức và chỉ đạo thực hiện ĐGTX bằng nhận xét, cụ thể:

thành lập ban QL và phân công các thành viên trong ban QL rõ ràng, hợp lý, phù hợp với mỗi thành viên; chỉ đạo GV xây dựng các tiêu chí, tiêu chuẩn ĐGTX bằng nhận xét ở tất cả các môn học; chỉ đạo GV cung cấp thông tin phản hồi/nhận xét

về việc học của HS; chỉ đạo GV tạo cơ hội cho HS tự ĐG và nhận xét lẫn nhau; phối hợp với các lực lượng trong và ngoài nhà trường để thực hiện hiệu quả việc ĐGTX bằng nhận xét cho HS

Nhóm biện pháp cải tiến hoạt động kiểm tra, giám sát ĐG trong hoạt động ĐGTX bằng nhận xét, cụ thể: xây dựng các tiêu chí để ĐG mức độ hoàn thành các

mục tiêu về công tác ĐGTX bằng nhận xét; ban hành các quy định về hình thức khen thưởng và kỉ luật đối với GV trong quá trình thực hiện công tác ĐGTX bằng nhận xét; tổ chức dự giờ, thao giảng để ĐG việc GV cung cấp nhận xét/phản hồi cho HS

Trang 15

hệ thống GD Việt Nam, GD Tiểu học là bậc học ban đầu đóng vai trò nền tảng hết sức quan trọng trong việc hình thành nhân cách HS, giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kỹ năng cơ bản Những tri thức các em tiếp thu được từ các môn học là cơ sở giúp cho các em hình thành những kiến thức và những kĩ năng

cơ bản để các em có thể tiếp tục học ở những bậc học cao hơn, góp phần hình thành

tư duy và nhân cách cho các em Do vậy, nếu hoạt động KTĐG kết quả học tập (KQHT) đưa ra những nhận định đúng thực tế, chính xác và khách quan, sẽ giúp các em HS người học tự tin, hăng say và nâng cao năng lực sáng tạo trong học tập (Lục Thị Nga và Nguyễn Tuyết Nga, 2012)

Chính vì tầm quan trọng của hoạt động KTĐG KQHT đối với việc học của

HS, do vậy Bộ GD&ĐT không ngừng nghiên cứu để đưa ra những đổi mới về KTĐG phù hợp với xu thế phát triển trên thế giới nhằm nâng cao CLĐT ở Tiểu

học Nghị quyết số 44/NQ-CP ngày 09/6/2014 của Chính Phủ nhấn mạnh: “Đổi

mới hình thức, phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục theo hướng đánh giá năng lực người học; kết hợp đánh giá cả quá trình với đánh giá cuối kì học, cuối năm học theo mô hình của các nước có nền giáo dục phát triển” (Chính

phủ, 2014) Bộ GD&ĐT đã lấy việc đổi mới hình thức và PP KTĐG quá trình học tập trong bối cảnh hiện nay ở các trường Tiểu học là bước đột phá trong đổi mới căn bản và toàn diện GD&ĐT Điểm mới nổi bật là việc chỉ dùng nhận xét, không dùng điểm số trong ĐGTX và việc ĐG quá trình học tập, sự phát triển về năng lực

và phẩm chất của HS được xem trọng Những điều này thể hiện rõ trong Thông tư

số 30/2014/TT-BGDĐT ngày 28/8/2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo

Trang 16

và Thông tư số 22/2016/TT-BGDĐT ngày 22 tháng 9 năm 2016 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định đánh giá HSTH và văn bản hợp nhất số 03/VBHN-BGDĐT ngày 28 tháng 9 năm 2016

Việc kiểm tra ĐGTX/quá trình (formative assessment) bằng nhận xét (feedback) tập trung vào quá trình học tập và cải tiến quá trình đó theo Thông tư

30 và Thông tư 22 về ĐG HSTH đã tạo ra sự chuyển biến tích cực trong việc nâng cao chất lượng giáo dục (CLGD) Tiểu học ĐG theo cách này tạo điều kiện cho

GV nắm được một cách cụ thể và khá chính xác năng lực, trình độ mỗi HS trong lớp mình dạy để có thể có biện pháp phụ đạo bồi dưỡng riêng thích hợp, qua đó nâng cao chất lượng học tập chung của cả lớp Đồng thời, tạo cơ hội cho GV xem xét hiệu quả của những cải tiến nội dung, PP, hình thức tổ chức dạy học mà mình theo đuổi Hơn nữa, ĐG KQHT của HS tiến hành thường xuyên sẽ giúp GV kịp thời phát hiện những cố gắng, tiến bộ của HS để động viên, khích lệ cũng như những khó khăn không thể tự vượt qua của HS để hướng dẫn, giúp đỡ hiệu quả Nhìn chung, với cách tiếp cận ĐGTX thì việc KTĐG được dựa trên quan điểm lấy

HS làm trung tâm trong quá trình dạy học nhằm đảm bảo giúp người học phát triển toàn diện (Phó Đức Hòa, 2012)

Tinh thần của Thông tư 30 và Thông tư 22 đã được đa số đội ngũ CBQL và

GV ủng hộ Tuy nhiên việc triển khai trong thực tiễn tại các trường Tiểu học ở Việt Nam nói chung và các trường Tiểu học tại Bình Dương nói riêng vẫn còn nhiều khó khăn như: một số GV chưa có kỹ năng ĐGTX cho HS nên nhiều lời nhận xét còn bị trùng lắp; lớp học đông ảnh hưởng đến việc ĐG bằng nhận xét của GV; nhiều GV bộ môn dạy một tiết/tuần nên thời gian tiếp xúc với HS chưa nhiều nên việc ĐG phẩm chất của HS chưa chính xác Là một GV ở một trường Tiểu học tại TP Thủ Dầu Một nhiều năm, người nghiên cứu luôn quan tâm đến công tác

QL hoạt động KTĐG KQHT của HS, đặc biệt là công tác QL ĐGTX bằng nhận xét cho HSTH và luôn trăn trở tìm những biện pháp để khắc phục những tồn tại, nâng cao hiệu quả QL và CLĐT bậc Tiểu học Từ những lý do trên, người nghiên

cứu đã chọn thực hiện đề tài “Quản lý hoạt động đánh giá thường xuyên bằng

nhận xét tại các trường Tiểu học thành phố Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương”

Trang 17

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở hệ thống hóa lý luận về QL hoạt động ĐG TX bằng nhận xét, đề tài xác định thực trạng QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét ở các trường Tiểu học tại TP Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương Từ đó đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét tại các trường Tiểu học này

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoạt động ĐGTX bằng nhận xét và QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét tại trường Tiểu học

3.2 Khảo sát, phân tích và ĐG thực trạng hoạt động ĐGTX bằng nhận xét

và QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét tại các trường Tiểu học tại TP Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương

3.3 Đề xuất và khảo nghiệm các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét tại các trường Tiểu học TP Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

4.1 Khách thể nghiên cứu

Quản lý hoạt động dạy học ở trường Tiểu học

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Thực trạng QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét ở các trường Tiểu học tại

đề tài tập trung vào hoạt động ĐGTX bằng nhận xét và QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét tại các trường Tiểu học TP Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương

Trang 18

5.2 Về địa bàn

Đề tài cứu thực trạng QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét ở các trường Tiểu học (Nguyễn Du, Phú Hòa 3, Phú Lợi, Lê Hồng Phong, Trần Phú) tại TP Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương

5.3 Về thời gian

Đề tài khảo sát thực trạng QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét ở các trường Tiểu học tại TP Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương trong thời gian hai năm: năm học 2017-2018 và 2018- 2019

6 Giả thuyết khoa học

Trong công tác QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét của HT tại các trường Tiểu học TP Thủ Dầu Một, HT thực hiện QL theo đúng quy chế và quy trình, thể hiện rõ ở các khâu xây dựng kế hoạch ĐGTX bằng nhận xét của trường, tổ chức

và chỉ đạo thực hiện, kiểm tra, giám sát và đánh giá việc thực hiện Tuy nhiên, công tác này vẫn còn nhiều hạn chế và bất cập trong xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá hoạt động ĐGTX bằng nhận xét cho HSTH như chưa thực sự chú ý đến xây dựng các văn bản hướng dẫn về công tác ĐGTX bằng nhận xét, chưa thường xuyên tổ chức bồi dưỡng CM nghiệp vụ cho GV, chưa phối hợp chặt chẽ các lực lượng trong và ngoài nhà trường tham gia vào công tác ĐG; HT chưa thực hiện thường xuyên việc kiểm tra, chưa xây dựng hay quy định các hình thức khen thưởng và kỷ luật CBQL và GV trong quá trình thực hiện kế hoạch ĐGTX bằng nhận xét Nếu đề xuất biện pháp QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét

ở các trường Tiểu học TP Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương dựa trên thực trạng đã khảo sát thì các biện pháp được đề xuất sẽ có tính cần thiết và khả thi nhằm nâng cao chất lượng ĐGTX bằng nhận xét cho HSTH

7 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp luận

7.1.1 Quan điểm hệ thống – cấu trúc

Đề tài nghiên cứu cơ sở pháp lý và CSLL, phân tích, ĐG thực trạng, từ đó

đề ra một số biện pháp nâng cao hiệu quả QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét ở các trường Tiểu học TP Thủ Dầu Một Hiệu quả công tác QL hoạt động ĐGTX

Trang 19

bằng nhận xét của HT luôn được quy định bởi điều kiện thực tế của nhà trường; nhận thức, tâm lý, thái độ và trách nhiệm của cán bộ, GV, HS, phụ huynh học sinh (PHHS) và toàn xã hội; tầm nhìn và chiến lược của người HT, do đó không thể tách riêng vấn đề QL công tác ĐGTX bằng nhận xét của HT ra để nghiên cứu mà

là phải nghiên cứu nó trong các mối liên hệ ràng buộc để đảm bảo tính hệ thống của vấn đề nghiên cứu Bên cạnh đó, quan điểm này giúp người nghiên cứu có được một sự nhất quán trong tư duy cũng như tôn trọng sự tồn tại khách quan của vấn đề nghiên cứu Vận dụng quan điểm này vào nghiên cứu cũng giúp người nghiên cứu thấy được mối quan hệ chặt chẽ giữa QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét và QL các hoạt động sư phạm khác ở nhà trường Tiểu học

7.1.2 Quan điểm lịch sử - logic

Quan điểm lịch sử-logic giúp người nghiên cứu biết tôn trọng sự hình thành

và phát triển công tác QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét ở các trường Tiểu học

TP Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương diễn ra như một quá trình với những ưu điểm cần phát huy và tồn tại cần khắc phục Quan điểm này cũng giúp người nghiên cứu xác định phạm vi không gian, thời gian và điều kiện hoàn cảnh cụ thể, để điều tra thu thập số liệu chính xác, đúng với mục đích nghiên cứu đề tài, trình bày công trình nghiên cứu theo một trình tự hợp lý

7.1.3 Quan điểm thực tiễn

Nghiên cứu này xuất phát từ thực tiễn công tác QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét ở các trường Tiểu học TP Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương Đề tài là sự kết hợp giữa lý luận và kinh nghiệm QL ĐGTX bằng nhận xét của thế giới và Việt Nam cũng như thực tiễn QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét ở các trường Tiểu học TP Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương

7.2 Phương pháp nghiên cứu

7.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Mục đích: Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa các tài liệu lý luận về dạy học, ĐGTX bằng nhận xét và QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét để xây dựng khung lý thuyết của đề tài

Trang 20

Công cụ: Nghiên cứu các tài liệu, bài báo khoa học, sách cũng như các văn bản, nghị quyết, chủ trương của Đảng, Nhà nước, Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT, nhà trường có liên quan tới QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét, cũng như những yêu cầu nâng cao CLĐT qua hoạt động ĐGTX bằng nhận xét và QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét ở các trường Tiểu học

7.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Đề tài kết hợp cả phương pháp định tính (phỏng vấn, nghiên cứu sản phẩm hoạt động và quan sát) và phương pháp định lượng (điều tra bằng bảng hỏi, phương pháp thống kê) để nghiên cứu quản lý hoạt động ĐGTX bằng nhận xét tại các tường tiểu học thành phố Thủ Dầu Một Trong quá trình nghiên cứu, khi kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng trong quá trình thu thập dữ liệu

sẽ giúp người nghiên cứu có thể nhìn thấy bức tranh tổng thể về thực trạng quản

lý hoạt động ĐGTX bằng nhận xét tại các tường tiểu học thành phố Thủ Dầu Một Trong đó, phương pháp nghiên cứu định lượng như điều tra bằng bảng hỏi và xử

lý thống kê được sử dụng chính trong đề tài Phương pháp nghiên cứu định lượng như phỏng vấn, quan sát, nghiên cứu sản phẩm hoạt động là nhóm phương pháp

hỗ trợ, sẽ giúp người nghiên cứu làm sáng tỏ thêm những vấn đề (quan điểm, niềm tin, khó khăn, trăn trở của CBQL và GV trong quá trình ĐG và QL hoạt động ĐG bằng NX) mà qua điều tra bằng bảng hỏi không thể thu thập chi tiết được

7.2.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Mục đích: thu thập các thông tin để xác định thực trạng hoạt động ĐGTX bằng nhận xét và QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét ở các trường Tiểu học tại

TP Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương; khảo nghiệm sự cần thiết và tính khả thi của

hệ thống các biện pháp nâng cao hiệu quả QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét được đề xuất

Đối tượng điều tra: HT, phó HT, tổ trưởng chuyên môn (TTCM) và GV dạy lớp ở các trường Tiểu học tại TP Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương

Nội dung: khảo sát thực trạng hoạt động ĐGTX bằng nhận xét và QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét ở các trường Tiểu học tại TP Thủ Dầu Một tỉnh Bình

Trang 21

Dương; các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng; đồng thời khảo nghiệm tính cần thiết

và khả thi của hệ thống các biện pháp đề xuất

Công cụ: gồm 2 bộ phiếu trưng cầu ý kiến:

Phiếu 1: khảo sát thực trạng QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét ở các trường Tiểu học tại TP Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương (phụ lục 1)

Phiếu 2: khảo nghiệm tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét (phụ lục 5)

Cách tiến hành: (1) thiết kế Phiếu khảo sát; (2) phát phiếu cho từng CBQL

và GV và đề nghị họ trả lời; (3) hướng dẫn cách trả lời từng nội dung trong phiếu; (4) xử lý thống kê, phân tích số liệu

Nội dung: Tìm hiểu thực trạng hoạt động ĐGTX bằng nhận xét, thực trạng

QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét của HT ở các trường Tiểu học; các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng và các biện pháp nâng cao hiệu quả QL ĐGTX bằng nhận xét ở các trường Tiểu học tại TP Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương

Công cụ: Bảng các câu hỏi hướng dẫn phỏng vấn (Phụ lục 2)

Thời gian: mỗi cuộc phỏng vấn tiến hành khoảng từ 30-45 phút

7.2.2.4 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động

Mục đích: Nhằm thu thập thông tin về QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét

ở Tiểu học

Trang 22

Cách tiến hành: Tiến hành bằng cách tìm hiểu, phân tích sản phẩm liên quan đến ĐG thường xuyên bằng nhận xét và QL ĐGTX bằng nhận xét (Hồ sơ QL, kế hoạch, biên bản, báo cáo, sơ kết, tổng kết, giáo án, cách thức tổ chức dạy học, các minh chứng về việc cho nhận xét …)

8 Những đóng góp của đề tài

Đề tài góp phần làm rõ thêm cơ sở lý luận về công tác QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét ở các trường Tiểu học

ĐG đúng thực trạng ĐGTX bằng nhận xét và QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét tại các trường Tiểu học TP Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương Trên cơ sở

đó, đề xuất biện phápcần thiết và khả thi nhằm nâng cao hiệu quả QL hoạt động đánh giá này

9 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động đánh giá thường xuyên bằng nhận xét tại trường Tiểu học

Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động đánh giá thường xuyên bằng nhận xét tại các trường Tiểu học TP Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương

Chương 3: Biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động đánh giá thường xuyên bằng nhận xét tại các trường Tiểu học TP Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương

Trang 23

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ THƯỜNG XUYÊN BẰNG NHẬN XÉT TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC 1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu về quản lý hoạt động đánh giá thường xuyên bằng nhận xét tại các trường Tiểu học

1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài

Lý luận về KTĐG đã được nghiên cứu rất sớm trên thế giới Thời kỳ tiền

Tư bản chủ nghĩa (Thế kỷ XV - XVIII) lần đầu tiên trong lịch sử giáo dục thế giới, nhà giáo dục Tiệp Khắc J.A.Comenxki đã đặt nền móng cho lý luận dạy học ở nhà trường Lý luận dạy học này được xây dựng thành một hệ thống trong tác phẩm

“Phép giảng dạy vĩ đại” Ông đã trình bày về vai trò ý nghĩa của KTĐG quá trình lĩnh hội tri thức của HS, ông lưu ý việc KTĐG phải căn cứ vào mục tiêu học tập

và hướng dẫn HS tự KTĐG kiến thức của bản thân (Comenxki, 1632)

Sau Comenxki, các nhà nghiên cứu lý luận dạy học đã phân tích và phát triển lý luận KTĐG ở các góc độ khác nhau như: vai trò, ý nghĩa, mục tiêu, nội dung, nguyên tắc và PP nhằm đảm bảo tính khách quan của việc KTĐG Năm

1971, B.S.Bloom cùng George F Madaus và J.Thomas Hasticungs cho ra đời cuốn sách “Evaluation to improve Learning” (Đánh giá thúc đẩy học tập) Cuốn sách này viết về kĩ năng ĐG HS Nếu áp dụng đúng cách sẽ giúp, việc ĐG sẽ giúp GV

hỗ trợ HS cải thiện khả năng học tập Cuốn sách hướng tới sự hoàn thiện khi ĐG,

ĐG có hệ thống để tăng cường khả năng học tập của HS và hỗ trợ GV sử dụng ĐG như một công cụ để cải tiến cả quy trình dạy và học (Bloom, Madaus and Hastings, 1971)

Vai trò của hoạt động ĐG quá trình trong dạy học và đối với việc học tập của người học dần dần đã được nghiên cứu trên bình diện rộng qua các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả Chẳng hạn Rowntree (1987, trang 24) trong cuốn sách “How Shall We Know Them?” đã lập luận rằng nhận xét/phản hồi (feedback)

về tiến độ học tập của HS trong ĐG quá trình (formative assessment) là một nguồn không thể thiếu giúp người học cải thiện việc học tập của chính họ Rowntree đã

mô tả thông tin phản hồi như là huyết mạch của việc học tập (feedback as the blood of learning) (Rowntree, 1987) Sadler (1989) cũng cho rằng phản hồi

Trang 24

life-(feedback) là một yếu tố quan trọng trong ĐG quá trình, nói cách khác, ĐG quá trình (formative assessment) liên quan đến chất lượng phản hồi về việc thực hiện của người học (trình diễn, kể chuyện, vẽ tranh…), có thể được sử dụng để định hình và cải thiện năng lực của người học ĐG quá trình là một tiến trình gồm có

ba thành phần chính, đó là, xác định thực trạng học tập của người học, cho phản hồi về việc học và hướng dẫn cách cải thiện việc học (Sadler, 1989)

Trên cơ sở đánh giá toàn diện các nghiên cứu có sẵn về tác động của ĐG quá trình trong các lớp học phổ thông ở một số quốc gia, Black và Wiliam (1998) cho thấy hoạt động ĐG quá trình được thực hiện hiệu quả đã tác động rõ rệt và tích cực đến quá trình học tập của HS Cụ thể, ĐG quá trình thúc đẩy HS tham gia tích cực và tự giác hơn vào quá trình học tập và cũng đã hỗ trợ cho những HS có KQHT yếu cải thiện việc học của mình Black và Wiliam (1998) cũng nhấn mạnh rằng bản chất của ĐG quá trình là cho phản hồi (feedback) Nghiên cứu của họ cho thấy rằng HS sẽ tiến bộ nhiều nhất trong quá trình học tập khi nhận phản hồi của GV bằng nhận xét chứ không phải bằng điểm số hay xếp hạng, vì thông quan những phản hồi cụ thể, kịp thời và mang tính xây dựng của GV, sẽ giúp cho HS biết những điểm mạnh, những điểm hạn chế và cách khắc phục Từ đó, tạo cho HS có suy nghĩ tích cực, giúp HS phát triển hơn trong học tập cũng như các năng lực của bản thân (Black and Wiliam, 1998)

Mặc dù đề cao tầm quan trọng của hoạt động ĐG quá trình, tuy nhiên, các nhà nghiên cứu khẳng định rằng ĐG quá trình (formative assessment) bổ sung hoạt động ĐG tổng kết (summative assessment), chứ không thay thế ĐG tổng kết vì mỗi loại hình ĐG có chức năng riêng của nó Tuy nhiên, Boud (2000) cũng cảnh báo rằng, hoạt động ĐG tổng kết có nhiều khả năng tạo sự thụ động của người học

vì GV là người kiểm soát chính quá trình ĐG, do đó nó có thể hạn chế khả năng học tập độc lập của người học Do vậy, trong chính sách hay quy định về KTĐG KQHT của HS ở từng quốc gia, cần phải nghiên cứu về ưu và nhược điểm của từng chức năng ĐG (ĐG quá trình và ĐG tổng kết) để có sự vận dụng phù hợp (Boud, 2000) Black và Wiliam (2003) cũng lập luận về sự cần thiết phải liên kết hài hoà giữa hoạt động ĐG quá trình và ĐG tổng kết Các tác giả đã chỉ ra rằng, khi hoạt

Trang 25

động ĐG quá trình được thực hiện hiệu quả, sẽ giúp HS cải thiện việc học của mình và GV cải tiến thực tiễn giảng dạy của họ, do vậy kết quả cải tiến trong hoạt

ĐG giá quá trình sẽ có thể phục vụ tốt cho hoạt động ĐG tổng kết (Black and Wiliam, 2003)

Tại Phần Lan, hoạt động ĐG KQHT của HS trong suốt quá trình dạy học

đã được vận dụng rất thành công Một trong những nguyên nhân để Phần Lan đưa nền GD của mình lên hàng tiên tiến trên thế giới, theo Việt Hải (2000), phải kể đến

hệ thống ĐG của họ rất hiện đại và tiên tiến, cùng với nội dung ĐG cực kỳ nhân văn Hệ thống ĐG của Phần Lan, vận dụng triệt để dạng thức ĐG theo quá trình học tập của HS, không chú ý tới sự cạnh tranh, mà chú ý tới việc thúc đẩy sự cộng tác tương thân tương ái giữa các HS với nhau Việc ĐG trong suốt thời gian học ở Tiểu học chủ yếu tiến hành bằng nhận xét và không nhằm để phân loại HS Do vậy, HS không có áp lực trong hoạt động KTĐG (Việt Hải, 2000)

Nhìn chung, các nghiên cứu và tổng kết thực tiễn đánh giá giáo dục ở nước ngoài cho dù nghiên cứu hoạt động KTĐG của HS ở khía cạnh nào, đều nhấn mạnh vai trò của ĐG quá trình hay ĐGTX thông qua cho nhận xét/phản hồi Đây là hoạt động ĐG được xem có ý nghĩa trong việc thúc đẩy sự tích cực học tập của người học, hướng đến phát năng lực và phẩm chất của HS

1.1.2 Các nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam, vấn đề KTĐG đã hình thành và xuất hiện khá sớm thông qua những cuộc thi chọn người tài được tổ chức định kì Từ năm 1070, Lý Thái Tông

đã cho lập Văn Miếu và tổ chức các khoa thi đầu tiên vào năm 1075 Chế độ khoa

cử được tiến hành khắt khe, bắt buộc các sĩ tử phải trải qua ba kì thi để đạt học vị cao nhất: thi Hương, thi Hội và thi Đình Thi cử được thực hiện thông qua các bài kiểm tra viết và hình thức vấn đáp với nội dung thi tập trung tái hiện kiến thức được học thuộc lòng (chủ yếu là Nho giáo) Kết quả ĐG phụ thuộc vào các nhận xét nghiêm túc và mang tính chủ quan của các giám khảo (Nguyễn Thị Minh Khoa, 2013)

Mặc dù vậy, các nghiên cứu về hoạt động KTĐG KQHT của HS được tiến hành khá muộn tại Việt Nam Kế thừa những thành tựu nghiên cứu trên thế giới về

Trang 26

hoạt động ĐG của HS, ở Việt Nam cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về hoạt động KTĐG nói chung và ĐG quá trình nói riêng Chẳng hạn, liên quan đến đánh

giá KQHT ở các bậc học nói chung, trong cuốn “Đánh giá trong giáo dục”, Trần

Bá Hoành (1995) cho rằng ĐG không thể chỉ là yêu cầu tái hiện các kiến thức, rèn

kĩ năng mà còn khuyến khích được khả năng tư duy sáng tạo của HS Tác giả đã nhấn mạnh việc ĐG thông qua cho phản hồi đến HS để các em biết được sự tiến

bộ của mình và các lỗi mắc phải để sửa lỗi nhằm vươn lên trong học tập (Trần Bá Hoành, 1995)

Tác giả Nguyễn Công Khanh và Đào Thị Oanh (2016), trong cuốn sách

“Kiểm tra đánh giá trong giáo dục”, cũng đưa ra các hướng dẫn ĐG để phát triển

năng lực, phẩm chất của HS với các PP, hình thức và công cụ ĐG cụ thể Các tác giả cũng nói đến ngoài hình thức ĐG bằng điểm số thì GV nên kết hợp ĐG phản hồi cho nhận xét ĐG phản hồi phải cụ thể, rõ ràng để giúp HS thấy được những điểm HS đạt được và chưa đạt được và đưa ra được các biện pháp giúp HS khắc phục (Nguyễn Công Khanh và Đào Thị Oanh, 2016)

Ở bậc GD Tiểu học, hoạt động ĐG quá trình cũng được đặc biệt nhấn mạnh

Trong giáo trình “Đánh giá kết quả học tập ở Tiểu học” Vũ Thị Phương Anh và

Hoàng Thị Tuyết (2006) đã đưa ra các khái niệm, nguyên tắc và hình thức KQHT

ở tiểu học Trong đó, các tác giả nhấn mạnh nội dung ĐG KQHT ở Tiểu học chú trọng vào ĐG quá trình cả về năng lực và phẩm chất của HSTH (Vũ Thị Phương Anh và Hoàng Thị Tuyết, 2006).

Phó Đức Hòa (2008), trong giáo trình “Đánh giá trong giáo dục Tiểu học,”

cũng đã đưa ra các biện pháp và công cụ ĐG Theo ông, ĐG ở HSTH là ĐG cả quá trình học tập của HS Ngoài ĐG bằng điểm số thì GV cần đưa ra nhận xét/phản hồi hằng ngày dựa vào chuẩn KT-KN của bài học để HS và PH thấy được mức độ

HS đạt được (Phó Đức Hòa, 2008) Năm 2012, trong giáo trình “Đánh giá kết quả

giáo dục ở tiểu học” Phó Đức Hòa (2012) cũng cho rằng khi ĐG thì không chỉ chú

trọng vào kết quả HS làm được, mà phải ĐG vào quá trình HS làm bài, nên khuyến khích khả năng sáng tạo của HS, tính đột biến trong bài làm Như vậy, GV mới phân loại đúng trình độ của HS (Phó Đức Hòa, 2012)

Trang 27

Trong tài liệu “Đánh giá kết quả học tập ở tiểu học” của Nguyễn Thị Thu

Thủy (2010) tác giả cũng đưa ra các khái niệm, chức năng, các công cụ và PP KTĐG Tác giả nhấn mạnh việc GV không nên chỉ căn cứ vào điểm số của các bài kiểm tra định kì để ĐG HS mà phải kết hợp với ĐGTX bằng những ghi nhận quan sát hằng ngày để ĐG đúng thực chất trình độ của HS (Nguyễn Thị Thu Thủy, 2010)

Trong tài liệu Bồi dưỡng thường xuyên cho GV Tiểu học Modlue TH 27

“Phương pháp kiểm tra đánh giá bằng nhận xét,” Ngô Tiến Thành cho rằng công

tác ĐG là một trong những cần thiết nên cần phải có sự đổi mới Hoạt động ĐG cần kết hợp giữa ĐG của GV và HS, ĐGTX trong quá trình dạy học (bằng nhận xét), ĐG định kì (bằng điểm số) GV cần coi trọng ĐG của HS, ĐGTX trong quá trình học tập về tinh thần, thái độ, kiến thức và kĩ năng của HS so với chuẩn KT-

KN của chương trình để từ đó GV tự điều chỉnh nội dung, PP sao cho phù hợp (Ngô Tiến Thành, 2015)

Nội hàm của hoạt động ĐG quá trình học tập cũng đã được làm rõ thông

qua cuốn sách “Mô hình trường học mới Việt Nam, Nhìn từ góc độ thực tiễn và lý

luận” của tác giả Đặng Tự Ân (2015) Theo tác giả, đánh giá theo quá trình học tập của HS là ĐG sự tiến bộ của HS qua các hoạt động học bằng sự phản hồi

thường xuyên về việc học của các em, xem mức độ thành công, chỉ ra những khó khăn, trở ngại để tìm cách khắc phục nhằm cải tiến PP học, PP dạy mà không nhằm mục đích so sánh, phân loại HS, hay cho điểm số (Đặng Tự Ân, 2015)

Trong lĩnh vực QL hoạt động KTĐG KQHT của người học ở bậc phổ thông, tác giả Nguyễn Công Khanh và Vũ Thị Bích Hiền (2014) đã nghiên cứu biên soạn

“Tài liệu kiểm tra đánh giá trong giáo dục dành cho cán bộ quản lý giáo dục” Tài

liệu phân tích sâu kiến thức ĐG trong GD giúp các CBQL phát triển được năng lực tổ chức và QL điều hành các nhiệm vụ: xác định mục tiêu ĐG, lập kế hoạch

ĐG, vận dụng các mô hình ĐG gắn với mục tiêu ĐG, lựa chọn PP ĐG, xây dựng các ma trận ĐG và công cụ ĐG; huy động sự tham gia của các bên liên quan, phân tích kết quả ĐG và cung cấp thông tin phản hồi sau ĐG nhằm giúp CBQL có các

Trang 28

biện pháp QL tốt hơn trong hoạt động QL ĐG HS (Nguyễn Công Khanh và Vũ Thị Bích Hiền, 2014)

Việc ĐG HSTH cũng đã được quy định và cụ thể hoá trong các văn bản pháp quy của Bộ GD&ĐT Cụ thể, theo Chương trình giáo dục phổ thông, chương trình Tiểu học (Ban hành kèm theo quyết định số 16/2006/QĐ-BGD&ĐT ngày 05 tháng 5 năm 2006), việc ĐG kết quả học tập của HS được quy định: ĐG bằng điểm kết hợp với nhận xét của GV đối với các môn học Tiếng Việt, Toán, Khoa học, Lịch sử và Địa lí, Ngoại ngữ và Tin học Riêng chỉ ĐG bằng nhận xét của GV đối với các môn học và các hoạt động GD khác (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2006)

Văn bản 03/VBHN-BGDĐT ngày 28/9/2016 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục

và Đào tạo là văn bản hợp nhất thông tư 30 và thông tư 22 về quy định đánh giá học sinh Tiểu học Trong văn bản nêu rõ: ĐG HSTH gồm ĐGTX (ĐG trong quá trình học tập, rèn luyện về học tập và năng lực, phẩm chất) và ĐG định kì (ĐG định kì là ĐG kết quả GD của HS sau một giai đoạn học tập, rèn luyện ĐG định

kì về học tập vào giữa học kì I, cuối học kì I, giữa học kì II và cuối năm học Vào cuối học kì I và cuối năm học, đối với các môn học: Tiếng Việt, Toán, Khoa học, Lịch sử và Địa lí, Ngoại ngữ, Tin học, Tiếng dân tộc có bài kiểm tra định kì Đối với lớp 4, lớp 5, có thêm bài kiểm tra định kì môn Tiếng Việt, môn Toán vào giữa học kì I và giữa học kì II) Dựa vào ĐGTX và ĐG định kì GV ĐG HS đối với từng môn học theo các mức: Hoàn thành tốt, hoàn thành và chưa hoàn thành (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2016b)

Ngoài ra, có rất nhiều đề tài luận văn Thạc sỹ, Tiến sỹ của nhiều tác giả nghiên cứu chuyên sâu trong lĩnh vực QL hoạt động ĐG ở bậc Tiểu học, THCS và THPT, bao gồm: Luận văn Tiến sỹ của Cấn Thị Thanh Hương (2011); Luận văn Thạc sỹ của Nguyễn Thị Minh Khoa (2013), Đặng Thị Thùy Ngân (2016), Phạm Thị Thúy Bình (2016) và Nguyễn Ngọc Huân (2019) Trong đề tài của mình, các tác giả đã hệ thống hóa CSLL về hoạt động KTĐG, nghiên cứu thực trạng hoạt động KTĐG và công tác

QL hoạt động KTĐG, đồng thời đề xuất các biện pháp để QL hoạt động KTĐG để đạt hiệu quả cao Nhìn chung, những nghiên cứu của các tác giả trên đã góp phần hoàn thiện hệ thống CSLL của hoạt động QL trong GD và cũng khẳng định được tầm quan

Trang 29

trọng của hoạt động KTĐG Tuy nhiên, các nghiên cứu trên mới chỉ tập trung QL công tác KTĐG tổng kết chứ chưa tập trung vào QL hoạt ĐGTX bằng nhận xét

Tại tỉnh Bình Dương, hiện nay có luận văn Thạc sỹ của tác giả Huỳnh Ngọc Thiện (2018) chủ yếu tập trung nghiên cứu hoạt động KTĐG kết quả học tập của HS theo hướng phát triển năng lực tại các trường Trung học Phổ thông Các công trình hay luận văn nghiên cứu về đánh giá KQHT của HSTH theo hướng phát triển năng lực nói chung và về QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét tại các trường Tiểu học TP Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương hầu như chưa có Với mong muốn góp phần từng bước nâng cao chất lượng và hiệu quả QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét tại các

trường Tiểu học TP Thủ Dầu Một, người nghiên cứu chọn đề tài: “Quản lý hoạt động

đánh giá thường xuyên bằng nhận xét tại các trường Tiểu học thành phố Thủ Dầu

Hiền, 2014) Theo Đại từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Như Ý (2011, trang 278),

“ĐG là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả công việc dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc ĐG là nhận xét, bình phẩm về giá trị” (Nguyễn Như Ý, 2011)

Trong GD, theo Trần Bá Hoành (2007, trang 6) “ĐG là một quá trình thu thập các thông tin về kiến thức, kĩ năng, thái độ của HS một cách đầy đủ, đúng đắn, chính xác với năng lực của HS Từ đó hình thành những nhận định, phán đoán

về kết quả của việc học tập, dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích

Trang 30

hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc” (Trần Bá Hoành, 2007)

Ở phạm vi vĩ mô, Hoàng Đức Nhuận và Lê Đức Phúc (2008) định nghĩa rằng: “ĐG trong giáo dục là quá trình thu thập và lý giải kịp thời, có hệ thống thông tin về hiện trạng, khả năng hay nguyên nhân của chất lượng và hiệu quả GD căn

cứ vào mục tiêu dạy học, mục tiêu đào tạo, làm cơ sở cho những chủ trương, biện pháp và hành động GD tiếp theo ” (Hoàng Đức Nhuận và Lê Đức Phúc, 2008)

Tóm lại, hoạt động ĐG có thể được hiểu là quá trình hình thành những nhận định, nhận xét hay phán đoán về kết quả của công việc trên cơ sở phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải tiến thực trạng

1.2.2 Đánh giá kết quả học tập

Theo Trần Kiểm (2004), “Có thể coi ĐG KQHT của HS là xác định mức

độ đạt được về kiến thức, kỹ năng và thái độ của người học đối chiếu với mục tiêu của chương trình môn học” (Trần Kiểm, 2004) Hoàng Đức Nhuận và Lê Đức Phúc (2008) nhấn mạnh rằng, “ĐG KQHT là quá trình thu thập và xử lý thông tin về trình độ, khả năng thực hiện mục tiêu học tập của HS, về tác động và nguyên nhân của tình hình đó nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm của GV và nhà trường, cho bản thân HS để họ học tập ngày một tiến bộ hơn” (Hoàng Đức Nhuận

và Lê Đức Phúc, 2008) Trần Thị Tuyết Oanh (2010) cho rằng: “ĐG KQHT là thuật ngữ chỉ quá trình hình thành những nhận định, rút ra những kết luận hoặc phán đóan về trình độ, phẩm chất của người học” (Trần Thị Tuyết Oanh, 2010) Tóm lại, mặc dù khái niệm ĐG KQHT của HS được phát biểu đa dạng bởi nhiều tác giả, tuy nhiên các định nghĩa trên đều đưa ra một cách hiểu chung, đó là xem ĐG KQHT của HS là việc đưa ra những nhận định, những phán xét về mức

độ thực hiện mục tiêu giảng dạy đã đề ra Theo Nguyễn Công Khanh và Đào Thị Oanh (2016), thành quả học tập của mỗi HS phải được ĐG đúng và công bằng Do vậy, nếu việc ĐG đúng loại trừ được việc tùy tiện hạ thấp hoặc nâng cao yêu cầu

GD, còn ĐG sai sẽ không động viên được HS trong quá trình học tập (Nguyễn Công Khanh và Đào Thị Oanh, 2016)

Trang 31

1.2.3 Đánh giá thường xuyên bằng nhận xét

1.2.3.1 Đánh giá thường xuyên

Theo điều 6, văn bản 03/VBHN-BGDĐT: “ĐGTX là đánh giá trong quá trình học tập, rèn luyện về kiến thức, kĩ năng, thái độ và một số biểu hiện năng lực, phẩm chất của HS, được thực hiện theo tiến trình nội dung của các môn học và các hoạt động giáo dục ĐGTX cung cấp thông tin phản hồi cho GV và HS nhằm hỗ trợ, điều chỉnh kịp thời, thúc đẩy sự tiến bộ của HS theo mục tiêu giáo dục tiểu học” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2016b)

ĐGTX có ý nghĩa phân biệt với những hoạt động KTĐG trước khi bắt đầu quá trình dạy học một môn học nào đó (ĐG đầu năm/ĐG xếp lớp) hoặc sau khi kết thúc quá trình dạy học môn học (ĐG tổng kết) ĐGTX được xem là đánh giá vì quá trình học tập hoặc vì sự tiến bộ của người học Do vậy, trong luận văn này, người nghiên cứu đôi khi dùng cụm từ ĐG quá trình thay cho ĐGTX

1.2.3.2 Nhận xét (comment) hay phản hồi (feedback)

Nhận xét được thực hiện bằng lời nói trực tiếp với HS hoặc viết nhận xét vào phiếu, vở của HS về những kết quả đã làm được hoặc chưa làm được; mức độ hiểu biết và năng lực vận dụng kiến thức; mức độ thành thạo các thao tác, kĩ năng cần thiết, phù hợp với yêu cầu của bài học, hoạt động của HS

Trong phạm vi luận văn này ĐGTX bằng nhận xét được biểu hiện là hoạt động ĐG bằng lời nói hoặc chữ viết (không phải bằng điểm số) diễn ra trong tiến trình thực hiện hoạt động giảng dạy môn học nhằm xác định mức độ đạt được mục tiêu học tập của người học về phẩm chất và năng lực; từ đó, GV đưa ra những phán đoán và quyết định về thành quả học tập của HS, giúp HS cải thiện hoạt động học tập và GV cải thiện hoạt động giảng dạy (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2016b)

1.2.4 Quản lý

Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, cũng như từ những vấn

đề đặc trưng khác nhau rất nhiều học giả đã đưa ra nhiều định nghĩa về QL Nguyễn Ngọc Quang (1990) cho rằng “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện mục tiêu đã dự kiến” (Nguyễn Ngọc Quang, 1990) Theo Nguyễn

Trang 32

Thị Mỹ Lộc và Nguyễn Quốc Chí (2010, trang 1), QL được xem như là “tác động

có định hướng, có chủ đích của chủ thể QL (người QL) đến khách thể QL (người

bị QL) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” (Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Nguyễn Quốc Chí, 2010)

Lý luận và thực tế cho thấy QL không những là một môn khoa học mà nó còn là một “nghệ thuật” đòi hỏi sự vận dụng tinh tế, khôn khéo để đạt tới mục đích Mục tiêu QL là định hướng toàn bộ hoạt động QL đồng thời là công cụ để ĐG kết quả QL Trong phạm vi đề tài này, QL được hiểu là quá trình đạt đến mục tiêu của

tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra phù hợp với những quy luật vận hành của một tổ chức

Mục đích của một nhà trường là hình thành và phát triển nhân cách cho HS, chính vì vậy, QL nhà trường đòi hỏi gắt gao hơn nhiều so với các ngành QL khác,

vì nó không cho phép có sản phẩm hỏng Điều này cho thấy QL nhà trường là một công việc phức tạp, là một quá trình tác động có ý thức của bộ máy QL lên mọi đối tượng tham gia quá trình GD&ĐT của nhà trường, gồm: GV, HS, PHHS, các nguồn lực khác cho hoạt động GD&ĐT nhằm thực hiện được mục tiêu GD&ĐT của nhà trường một cách có hiệu quả

1.2.6 Quản lý hoạt động ĐGTX bằng nhận xét

Từ khái niệm QL, QL nhà trường, ĐG KQHT, ĐGTX bằng nhận xét, khái niệm QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét là hệ thống những tác động tự giác, có

Trang 33

mục đích, có kế hoạch của chủ thể QL lên đối tượng QL (những người triển khai hoạt động ĐGTX bằng nhận xét) nhằm giúp quá trình ĐGTX bằng nhận xét được thực hiện chính xác, khách quan, trung thực và hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng dạy học và thực hiện mục tiêu đào tạo của nhà trường

Như vậy, QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét được thể hiện thông qua các nội dung: (1) QL việc lập kế hoạch; (2) QL việc tổ chức bộ máy thực hiện; (3) QL việc chỉ đạo thực hiện và QL việc kiểm tra, giám sát và ĐG việc thực hiện ĐGTX bằng nhận xét

1.3 Lý luận về hoạt động ĐGTX bằng nhận xét tại trường Tiểu học

1.3.1 Mục đích đánh giá HSTH

Theo điều 3, VB 03/VBHN-BGDĐT đánh giá HSTH nhằm các mục đích: Giúp GV điều chỉnh, đổi mới PP, hình thức tổ chức hoạt động dạy học, hoạt động trải nghiệm ngay trong quá trình và kết thúc mỗi giai đoạn dạy học, GD; kịp thời phát hiện những cố gắng, tiến bộ của HS để động viên, khích lệ và phát hiện những khó khăn chưa thể tự vượt qua của HS để hướng dẫn, giúp đỡ; đưa ra nhận định đúng những ưu điểm nổi bật và những hạn chế của mỗi HS để có giải pháp kịp thời nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động học tập, rèn luyện của HS; góp phần thực hiện mục tiêu GD tiểu học

Giúp HS có khả năng tự ĐG, tham gia ĐG; tự học, tự điều chỉnh cách học; giao tiếp, hợp tác; có hứng thú học tập và rèn luyện để tiến bộ

Giúp PHHS hoặc người giám hộ tham gia ĐG quá trình và KQHT, rèn luyện, quá trình hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất của con em mình; tích cực hợp tác với nhà trường trong các hoạt động GD HS

Giúp CBQL GD các cấp kịp thời chỉ đạo các hoạt động GD, đổi mới PP dạy học, PP đánh giá nhằm đạt hiệu quả GD (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2016b)

1.3.2 Chức năng của hoạt động đánh giá

Theo Vũ Thị Phương Anh và Hoàng Thị Tuyết (2006) hoạt động ĐG HS

có chức năng sau:

Đối với HS: ĐG KQHT có vai trò xác nhận kết quả người học và hướng tiếp cận quá trình học tập Kết quả ĐG giúp người học ĐG được KQHT và sự tiến

Trang 34

bộ của mình trong quá trình học tập Đồng thời, giúp người học đối chiếu, xác định được mình đang ở đâu so với chuẩn đề ra trong quá trình học tập Từ đó, người học tự điều chỉnh thái độ, nội dung, PP học tập để đạt được chuẩn đã đề ra Đối với GV: ĐG KQHT giúp GV xác định sản phẩm GD của mình đáp ứng được mục tiêu GD đã đề ra như thế nào Những thông tin thu được từ công tác ĐG KQHT, giúp GV có thể điều chỉnh kịp thời, hợp lý nội dung và PP GD Cho nên, hoạt động ĐG KQHT chỉ thực sự có hiệu quả khi người GV xác định rõ mục đích

ĐG, hiểu rõ ưu nhược điểm của mỗi loại hình ĐG, lập được kế hoạch, quy trình

ĐG, chọn lựa hay thiết kế được công cụ ĐG phù hợp

Đối với CBQL: những thông tin mang lại từ hoạt động ĐG KQHT giúp nhà

QL xác định được CLGD, chất lượng dạy và học của nhà trường đang ở mức nào

so với mục tiêu GD, mục tiêu của chương trình dạy và học Từ đó, CBQL quyết định kịp thời sự điều chỉnh về nội dung, cách thức và điều kiện để đạt được mục

tiêu GD (Vũ Thị Phương Anh và Hoàng Thị Tuyết, 2006)

1.3.3 Nguyên tắc trong ĐGTX

Theo điều 4, văn bản 03/VNHN-BGDĐT, nguyên tắc đánh giá KQHT của HSTH như: (1) ĐG vì sự tiến bộ của HS; coi trọng việc động viên, khuyến khích tính tích cực và vượt khó trong học tập, rèn luyện của HS; giúp HS phát huy tất cả khả năng; đảm bảo kịp thời, công bằng, khách quan (2) ĐG toàn diện HS thông qua ĐG mức độ đạt chuẩn KT-KN và năng lực, phẩm chất của HS theo mục tiêu

GD tiểu học; cần xác định rõ mục tiêu để từ đó lựa chọn PP hay kỹ thuật trong ĐGTX cho phù hợp (3) ĐGTX tập trung vào việc cho nhận xét hay phản hồi; chỉ

ra cho HS các nội dung cần chỉnh sửa và cách thức để cải tiến việc học tập; kết hợp ĐG của GV, HS, PHHS, trong đó ĐG của GV là quan trọng nhất (4) ĐG sự tiến bộ của HS, không so sánh HS này với HS khác, không tạo áp lực cho HS, GV

và PHHS; tăng sự khen ngợi, động viên HS và cần giảm thiểu sự trừng phạt hay

chê bai HS (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2016b)

1.3.4 Phân loại đánh giá HSTH

ĐG trong GD ở Tiểu học được phân thành hai loại: Đánh giá quá trình (đánh giá thường xuyên) và đánh giá tổng kết (đánh giá định kỳ)

Trang 35

(1) Đánh giá quá trình/đánh giá thường xuyên

Theo Sadler (1989) ĐG quá trình là những phản hồi cần thiết cho cả GV và

HS về những hiểu biết hiện tại và phát triển kĩ năng nhằm xác định những bước tiếp theo (Sadler, 1989) Tương tự, Wiliam & Lealy (2007, trang 31) cho rằng, một

ĐG được coi là quá trình khi thông tin từ ĐG cung cấp phản hồi trong quá trình học tập và thực sự sử dụng để cải thiện năng lực của hệ thống bằng một cách nào

đó (Wiliam and Leahy, 2007)

Trên cơ sở khái niệm được phát biểu của các nhà nghiên cứu trên thế giới

về ĐG quá trình, Nguyễn Công Khanh và Đào Thị Oanh (2016) lập luận rằng, ĐG quá trình hay còn gọi là ĐGTX, là hoạt động ĐG diễn ra trong tiến trình thực hiện hoạt động giảng dạy môn học/khoá học, cung cấp thông tin phản hồi cho GV và

HS về hiệu quả của hoạt động giảng dạy và học tập nhằm phát triển khả năng của người học và cải thiện hoạt động giảng dạy Bản chất của ĐG quá trình là không nhất thiết để cho điểm hay chứng minh HS đã đạt được một mức độ thành tích nào

đó để xếp hạng, phân loại HS, mà dùng để phản hồi cho người học về mức độ nắm vững thông tin của họ, và những lĩnh vực cần cải thiện, đồng thời giúp GV thiết kế

PP giảng dạy phù hợp hơn (Nguyễn Công Khanh và Đào Thị Oanh, 2016)

(2) Đánh giá tổng kết

Theo Nguyễn Công Khanh và Đào Thị Oanh (2016), ĐG tổng kết hay còn gọi là ĐG kết quả/ĐG định kỳ, là ĐG có tính tổng hợp, bao quát nhằm cung cấp thông tin về sự tinh thông/thành thạo của HS ở các mặt nội dung KT-KN và thái

độ sau khi kết thúc một khóa/lớp học hoặc một môn học/học phần/chương trình

ĐG tổng kết thường được thực hiện vào cuối một khóa/lớp học (khi kết thúc một khóa/lớp học) hoặc cuối kỳ (khi kết thúc một học trình, một môn học hay một học

kỳ, một dự án, ) Đây là hình thức ĐG bằng cách cho điểm và có thể dùng điểm

để so sánh với những HS khác trong cùng nhóm đối tượng (Nguyễn Công Khanh

và Đào Thị Oanh, 2016)

Mục tiêu chính của ĐG tổng kết là xác định mức độ đạt được của HS, nhưng không quan tâm đến việc thành tích đó đã đạt được ra sao ĐG tổng kết thường có bản chất đo lường KQHT của người học, xếp loại HS, đồng thời thông báo kết quả

Trang 36

ĐG đó cho người học, PHHS và CBQL Do vậy, ĐG tổng kết còn được gọi là hình thức ĐG thành tích học tập của HS và có ý nghĩa quan trọng về mặt QL

Như vậy, đối với hai hình thức ĐG nêu trên, thì mỗi hình thức ĐG đều có chức năng và tầm quan trọng riêng trong việc thúc đẩy quá trình học tập của HS,

do vậy các nước trên thế giới đều áp dụng Tuy nhiên, nếu ĐG chỉ tập trung vào việc tổng kết việc học của HS thông qua điểm số thì sẽ bỏ qua việc động viên, khích lệ người học phấn đấu trong suốt một quá trình học tập Do vậy, xu hướng

ĐG HSTH hiện nay đã thể thiện rõ quan điểm ĐG theo quá trình học tập vì sự tiến

bộ của HS và tính nhân bản, trên tinh thần lấy HS làm trung tâm

Mục tiêu cuối cùng của ĐG là nhằm phát hiện những ưu điểm và khắc phục các nhược điểm của HS để giúp các em phát triển đến mức tối đa mọi tiềm năng của mình Theo quan điểm này, vai trò chủ động và việc trao quyền của HS là hết sức cần thiết: chủ động trong việc lựa chọn điều kiện và PP thể hiện năng lực của mình một cách tốt nhất Quan trọng hơn, là được trao quyền bằng cách cung cấp đầy đủ và kịp thời những thông tin phản hồi về KQHT, phẩm chất hay năng lực của chính mình cũng như có điều kiện thảo luận về kết quả này với GV để có thể

có kế hoạch khắc phục điểm yếu hoặc phát huy điểm mạnh trong học tập và rèn luyện phẩm chất của chính mình Đối với ĐG quá trình, không chỉ GV đánh giá

HS mà còn có sự tham gia của HS, của các bạn trong lớp và PH

1.3.5 Đặc điểm của ĐGTX bằng nhận xét

Đặc điểm của ĐGTX chính là: (1) Đề ra mục tiêu, tiêu chí ĐG; (2) Cung cấp thông tin phản hồi chỉ ra các nội dung cần chỉnh sửa và đưa ra lời khuyên cho người học; (3) Nhấn mạnh đến tự ĐG mức độ đáp ứng các tiêu chí của bài học và phương hướng cải thiện

Bản chất của ĐG quá trình hay ở đay là ĐGTX là cung cấp nhận xét hay phản hồi cho HS Nhận xét phản hồi là một phần của công tác ĐG, dựa vào những bằng chứng thu thập được từ việc ĐG người học Nhận xét phản hồi cung cấp cho người học thông tin về trình độ kiến thức cũng như kĩ năng của người học đạt được trong học tập ĐG quá trình/ĐGTX hay còn gọi là ĐG vì sự tiến bộ của người học giúp GV điều chỉnh PP giảng dạy cũng như lên kế hoạch giảng dạy tiếp theo cho

Trang 37

từng người học và cả lớp Do vậy, hoạt động ĐG quá trình/ĐGTX được xem như

là hoạt động dạy học và PP ĐG cũng chính là PP dạy học

Mục đích của ĐG thông qua nhận xét/phản hồi: giúp HS biết được những

gì đã làm được và chưa làm được so với mục tiêu, yêu cầu của bài học và đưa ra

PP để HS có thể làm tốt hơn từ đó nâng cao KQHT trong thời điểm tiếp theo Đối với HSTH ĐGTX bằng nhận xét/phản hồi là HS nhận được những lời nhận xét bằng chữ viết hoặc bằng lời nói về năng lực của bài học hay cũng như phẩm chất Từ những phản hồi đó giúp HS thấy được những KT-KN mà mình đạt được và chưa đạt được để từ đó có những biện pháp để đạt được kết quả tốt hơn

Để thực hiện được điều đó thì GV phải có những phản hồi tốt

Nguyên tắc khi phản hồi: (1) Phản hồi càng sớm càng tốt, nếu HS đang trình bày GV nên nhận xét ngay sau khi các em trình bày xong, nếu là bài viết nhận xét

và trả ngay vào buổi tiếp theo (2) Mọi phản hồi đều dựa trên những gì HS nói và viết, tuyệt đối không nhằm vào tính cách của HS (3) Ý kiến phản hồi mang tính

cụ thể, luôn bám sát vào mục tiêu đã đề ra, không đòi hỏi HS những kiến thức ngoài mục tiêu bài (4) Cần bình quân những phản hồi tích cực-positive feedback (ghi nhận những thành quả mà HS đạt được từ những thành quả nhỏ nhất đến thành quả lớn) và phản hồi tiêu cực-negative feedback (sửa lỗi, nhắc HS những lỗi mắc phải) không nên chê và sửa sai mà cần nêu lên những ưu điểm giúp HS tự tin hơn, phản hồi tích cực nên nhận xét trước phản hồi tiêu cực (5) Cần khen ngợi HS nhưng vừa phải và thành thực (6) Mọi phản hồi có tính chất riêng tư, chỉ dành cho

HS được nhận GV không nên để cho HS đọc phần phản hồi về một HS khác nhất

là phản hồi tiêu cực (Nguyễn Thị Minh Khoa, 2013)

Trang 38

và giải quyết vấn đề (2) ĐG sự hình thành và phát triển một số phẩm chất của HS: chăm học, chăm làm; tự tin, trách nhiệm; trung thực, kỉ luật; đoàn kết, yêu thương (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2016b)

1.3.6 Cách thức về ĐGTX bằng nhận xét HSTH

Trong quá trình ĐG, GV cần sử dụng bộ tiêu chí để ĐGTX các môn học

và năng lực, phẩm chất Theo điều 6, văn bản hợp nhất số 03 của Bộ GD&ĐT thì cách thức ĐGTX bằng nhận xét của HSTH là:

ĐGTX về học tập (1) GV dùng lời nói chỉ ra cho HS biết được chỗ đúng, chưa đúng và cách sửa chữa; viết nhận xét vào vở hoặc sản phẩm học tập của HS khi cần thiết, có biện pháp cụ thể giúp đỡ kịp thời (2) HS tự nhận xét và tham gia nhận xét sản phẩm học tập của bạn, nhóm bạn trong quá trình thực hiện các nhiệm

vụ học tập để học và làm tốt hơn (3) Khuyến khích PHHS trao đổi với giáo viên

về các nhận xét, ĐG HS bằng các hình thức phù hợp và phối hợp với GV động viên, giúp đỡ HS học tập, rèn luyện

ĐGTX về năng lực, phẩm chất (1) GV căn cứ vào các biểu hiện về nhận thức, kĩ năng, thái độ của HS ở từng năng lực, phẩm chất để nhận xét, có biện pháp giúp đỡ kịp thời (2) HS được tự nhận xét và được tham gia nhận xét bạn, nhóm bạn về những biểu hiện của từng năng lực, phẩm chất để hoàn thiện bản thân (3) Khuyến khích PHHS trao đổi, phối hợp với GV động viên, giúp đỡ HS rèn luyện

và phát triển năng lực, phẩm chất (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2016b)

1.3.7 Phương pháp và công cụ đánh giá thường xuyên của HSTH

Theo Nguyễn Công Khanh và Đào Thị Oanh (2016), công cụ ĐGTX có thể dùng là phiếu quan sát, các thang đo, bảng kiểm, thẻ kiểm tra/phiếu kiểm tra, các phiếu đánh giá tiêu chí (rubrics), phiếu hỏi, hồ sơ học tập (Porfolio), các loại câu hỏi vấn đáp, Các công cụ sử dụng trong ĐGTX có thể được GV điều chỉnh để đáp ứng mục tiêu thu thập những thông tin hữu ích ở từng HS, do vậy không nhất thiết dẫn tới việc cho điểm (Nguyễn Công Khanh và Đào Thị Oanh, 2016)

Trong ĐGTX, GV cũng cần tạo điều kiện cho HS tự ĐG và ĐG chéo (ĐG lẫn nhau) PP tự ĐG là HS tự ĐG những KT-KN và mục tiêu học tập của mình

Trang 39

trước, trong hoặc sau các giờ học Để tạo điều kiện cho HS tự ĐG, GV có thể sử dụng bài kiểm tra, xây dựng bảng hỏi hoặc giao cho HS các bài tập

Tự ĐG giúp HS nhận thức sâu sắc hơn về những gì mình đã học, đã tiến bộ

và những gì cần cố gắng; biết chịu trách nhiệm trước KQHT của mình; tự tin hơn

về những gì mình làm được và rèn luyện được cách tự học cho bản thân

PP ĐG chéo là HS thực hiện nhiệm vụ học tập lẫn nhau dựa trên các tiêu chí do GV xác định hoặc do cả GV và HS cùng thống nhất Thông qua ĐG bạn,

HS có thể học hỏi những điểm hay hoặc rút kinh nghiệm từ những điểm chưa tốt của bạn Từ đó, HS tự điều chỉnh và hoàn thiện bản thân (Nguyễn Công Khanh và

Vũ Thị Bích Hiền, 2014)

1.4 Lý luận về quản lý hoạt động ĐGTX bằng nhận xét cho HSTH

1.4.1 HT trường Tiểu học với việc quản lý ĐGTX bằng nhận xét

Theo Điều 20, Thông tư 41/2010/TT-BGDĐT về điều lệ trường Tiểu học thì mỗi trường Tiểu học có một HT Nhiệm kỳ của HT trường Tiểu học là 5 năm Sau 5 năm, HT được đánh giá và có thể được bổ nhiệm lại hoặc công nhận lại Đối với trường Tiểu học công lập, HT được QL một trường Tiểu học không quá hai nhiệm kì (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2010)

Bùi Minh Hiền và Nguyễn Vũ Bích Hiền (2015) nhấn mạnh rằng HT là người chịu trách nhiệm cho tất cả các hoạt động xảy ra trong và ngoài nhà trường Vai trò của HT nhà trường được cấu thành bởi ba yếu tố, bao gồm:

Trong vai trò GV: HT là người có trình độ học vấn theo yêu cầu của cấp học QL, nắm vững chuyên môn đã hoặc đang giảng dạy, có nghiệp vụ sư phạm và các yêu cầu khác của một GV

Trong vai trò là người QL: HT quản lý quá trình sư phạm; QL các hoạt động mang tính điều kiện và phương tiện cho hoạt động dạy học và các hoạt động GD trong nhà trường

Trong vai trò của người lãnh đạo: vai trò lãnh đạo của HT nhà trường ngày càng được quan tâm vì nhiều lý do, trong đó chủ yếu là nhà trường phổ thông đang phải trải qua nhiều thay đổi, đòi hỏi HT phải lãnh đạo nhà trường thích ứng với yêu cầu mới của thực tiễn (Bùi Minh Hiền và Nguyễn Vũ Bích Hiền, 2015)

Trang 40

Như vậy, để QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét, HT vừa phải có tư duy về

QL, vừa phải có KT-KN về ĐG GD, ĐG KQHT của HS, ĐGTX bằng nhận xét

HT là người giữ vai trò giải quyết các vấn đề QL, chỉ đạo một cách hiệu quả và sáng tạo các công việc: (1) Lập kế hoạch, quyết định thứ tự ưu tiên các vấn đề cần ĐGTX theo mục tiêu của chương trình Tiểu học; (2) Tổ chức phân công cho các thành viên trong trường thực hiện; (3) Chỉ đạo công tác ĐGTX; (4) Kiểm tra giám sát và ĐG việc thực hiện ĐGTX của GV trong thực tiễn có phù hợp với mục tiêu thiết lập và định hướng chung của nhà trường

1.4.2 Ý nghĩa của việc quản lý ĐGTX bằng nhận xét

Cung cấp cho CBQL giáo dục những thông tin về thực trạng dạy và học, thực trạng ĐGTX bằng nhận xét trong một đơn vị GD để có những chỉ đạo kịp thời, uốn nắn được những lệch lạc, khuyến khích, hỗ trợ những sáng kiến hay, bảo đảm thực hiện tốt mục tiêu GD của nhà trường

1.4.3 Nội dung quản lý ĐGTX bằng nhận xét ở trường Tiểu học

1.4.3.1 Xây dựng kế hoạch đánh giá HSTH

Theo Lục Thị Thu Nga và Nguyễn Tuyết Nga (2012), xây dựng kế hoạch

là quá trình thiết lập, dự tính một cách khoa học các mục tiêu, nội dung, PP, trình

tự, thời gian tiến hành các công việc, chuẩn bị huy động các nguồn lực để triển khai các hoạt động một cách chủ động nhằm đạt kết quả cao nhất các mục tiêu GD của nhà trường Nội dung chủ yếu của chức năng kế hoạch hóa mà HT cần thực hiện khi lập kế hoạch ĐG HSTH nói chung và ĐGTX nói riêng bao gồm: thiết lập các mục tiêu; xác định nội dung, nhận diện các nguồn lực để thực hiện mục tiêu; quyết định về cách thức, PP hoạt động cần tiến hành để đạt mục tiêu (Lục Thị Nga

và Nguyễn Tuyết Nga, 2012)

Thiết lập các mục tiêu: Trước khi thiết lập mục tiêu QL hoạt động ĐG HSTH nói chung và ĐGTX bằng nhận xét nói riêng, HT cần: (1) nghiên cứu để quán triệt

kỹ lưỡng các văn bản chỉ đạo của cấp trên liên quan đến hoạt động KTĐG ở bậc Tiểu học nhằm bảo đảm mục tiêu kế hoạch QL hoạt động ĐGTX bằng nhận xét của nhà trường phù hợp với định hướng chung, với tình hình chung của cả tỉnh, cả nước; (2) phân tích và ĐG điều kiện của nhà trường về các mặt như số lượng, chất

Ngày đăng: 21/06/2021, 21:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w