Giới nghiên cứu cũng khám phá tác phẩm như một truyện thơ Nôm nói chung trong tương quan với các truyện thơ Nôm khác, mà chưa có một công trình nào nghiên cứu Quan Âm Thị Kính như một tr
Trang 1UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
Trang 2UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
MÃ SỐ: 8220121
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS ĐOÀN LÊ GIANG
BÌNH DƯƠNG – 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ Quan Âm Thị Kính và kiểu truyện thơ Nôm tôn giáo trong văn học trung đại Việt Nam là công trình nghiên cứu của tôi
dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Đoàn Lê Giang Các số liệu và tài liệu được sử dụng có xuất xứ rõ ràng, những nghiên cứu và kết quả trong luận văn chưa được ai công bố dưới bất kì hình thức nào
Bình Dương, ngày 20/4/2020
Tác giả
Nguyễn Thị Hương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được hoàn thành nhờ sự hướng dẫn khoa học tận tình, tâm huyết của PGS TS Đoàn Lê Giang Tôi xin được kính gửi tới thầy lòng cảm ơn chân thành, sâu sắc nhất!
Tôi xin trân trọng cám ơn quý thầy cô trong Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo sau Đại học, Khoa KHXH&NV trường Đại học Thủ Dầu Một cũng như quý giảng viên đã trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình học tập, làm đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, quý đồng nghiệp trường THPT Trần Văn Ơn - Bình Dương đã động viên, tạo điều kiện cho tôi hoàn thành chương trình đào tạo và làm luận văn
Tôi xin cảm ơn những người thân yêu trong gia đình, bạn bè đã luôn đồng hành, chia sẻ, động viên để tôi thực hiện đề tài của mình
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Nguyễn Thị Hương
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 2
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 7
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 8
5.1 Phương pháp lịch sử - xã hội 8
5.2 Phương pháp nghiên cứu thi pháp học 8
5.3 Phương pháp so sánh đối chiếu 8
6 Đóng góp của luận văn 9
7 Cấu trúc của luận văn 9
Chương 1 KIỂU TRUYỆN THƠ NÔM TÔN GIÁO VÀ VĂN BẢN TRUYỆN QUAN ÂM THỊ KÍNH 11
1.1 Kiểu truyện thơ Nôm tôn giáo 11
1.1.1 Khái niệm truyện thơ Nôm tôn giáo 11
1.1.2 Một số truyện thơ Nôm tôn giáo tiêu biểu 18
1.1.3 Đặc điểm truyện thơ Nôm tôn giáo 22
1.2 Truyện thơ Nôm Quan Âm Thị Kính 29
1.2.1 Vấn đề tác giả 30
1.2.2 Vấn đề văn bản 32
1.2.3 Quan Âm Thị Kính trong các loại hình nghệ thuật khác 35
Chương 2.QUAN ÂM THỊ KÍNH - TỪ TƯ TƯỞNG TÔN GIÁO ĐẾN TƯ TƯỞNG NHÂN ĐẠO 39
2.1 Tư tưởng tôn giáo 39
2.1.1 Tư tưởng luân hồi nghiệp báo 40
2.1.2 Tư tưởng từ bi hỷ xả 48
2.2 Tư tưởng nhân đạo 54
2.2.1 Niềm cảm thương sâu sắc trước số phận bất hạnh của người phụ nữ 55
Trang 62.2.2 Phê phán các thế lực chà đạp lên nhân phẩm con người 61
2.2.3 Ngợi ca những vẻ đẹp của con người 67
2.2.4 Niềm trân trọng những khát vọng bình dị của con người 75
Chương 3 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT TRUYỆN THƠ NÔM QUAN ÂM THỊ KÍNH 82
3.1 Kết cấu truyện Quan Âm Thị Kính 82
3.1.1 Kết cấu cốt truyện 83
3.1.2 Kết cấu nhân vật 86
3.1.3 Kết cấu không gian - thời gian nghệ thuật 90
3.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong Quan Âm Thị Kính 97
3.2.1 Nhân vật hiện lên qua ngoại hình, tính cách và khắc họa nội tâm 98
3.2.2 Bút pháp lí tưởng hóa và hiện thực hóa 104
3.2.3 Cảm hứng tôn giáo chi phối cách xây dựng nhân vật 109
3.3 Ngôn ngữ nghệ thuật trong Quan Âm Thị Kính 112
3.3.1 Ngôn ngữ người kể chuyện và ngôn ngữ nhân vật 112
3.3.2 Ngôn ngữ vừa đậm chất văn chương bác học vừa mang sắc thái bình dân 117
KẾT LUẬN 127
TÀI LIỆU THAM KHẢO 132
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Truyện thơ Nôm là một thể loại văn học đặc sắc của dân tộc ta, kết tinh trí tuệ, tình cảm, vẻ đẹp tâm hồn, đồng thời là đỉnh cao ngôn ngữ của cha ông, mà không hề lẫn với một thể loại ngoại lai nào khác Từ lâu truyện thơ Nôm đã trở thành một di sản quí báu trong kho tàng văn học dân tộc Nhiều tác phẩm có ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc sống thường ngày, thành lời hát ru, hoặc chuyển thể sang các loại hình nghệ thuật khác như chèo, cải lương, tuồng, opera hay truyện văn xuôi… Nhân dân ta đã đúc kết nhiều giá trị tinh tuý của tâm hồn dân tộc trong các truyện thơ Nôm, giáo dục các thế hệ sau về những tấm gương đạo đức, những bài học về đối nhân xử thế, vun đắp lối sống lành mạnh trong sáng Rõ ràng truyện thơ Nôm đã gói ghém rất nhiều bài học cho hậu thế
Đặt trong bối cảnh ra đời của truyện thơ Nôm (chủ yếu khoảng thế kỉ XVII
- XIX), có thể thấy hoàn cảnh xã hội, đời sống tinh thần, ý thức tâm linh của con
người cộng với những điều kiện chín muồi của văn học đã nảy sinh ra kiểu truyện thơ Nôm tôn giáo, là những truyện thơ Nôm có đề tài tôn giáo, có nhân vật chính
là các hình tượng tôn giáo Trong khuôn khổ của một luận văn tốt nghiệp, chúng tôi chỉ giới hạn trong nhóm truyện thơ Nôm về Phật giáo
Trong kho tàng truyện thơ Nôm của dân tộc nói chung, nhóm truyện thơ
Nôm tôn giáo nói riêng, Quan Âm Thị Kính là một tác phẩm đặc sắc có ảnh hưởng
rất nhiều trong dân gian, gắn liền với tích về kiếp thứ mười của đức Quan Thế Âm
Bồ Tát
Quan Thế Âm (hay Quán Thế Âm - Avalokitesvara) là vị Bồ Tát quen thuộc trong lòng mỗi Phật tử mộ đạo Ngài luôn lắng nghe mọi tiếng kêu khổ đau của muôn chúng sinh với niềm tin thiêng liêng cứu vớt con người ra khỏi bể khổ Khởi nguyên, trong kinh Pháp Hoa, hình tượng Quan Thế Âm vốn là một người nam, nhưng khi đạo Phật được truyền bá sang Việt Nam, để dung hòa với văn hóa thờ Mẫu, đề cao người phụ nữ, thì hầu hết Bồ Tát được thờ phụng dưới hình tượng một vị thần nữ, Phật Bà Một trong những hóa thân của Quan Thế Âm Bồ Tát chính
Trang 8là Quan Âm Thị Kính - vị Bồ Tát vô cùng gần gũi, quen thuộc trong đời sống văn hóa, tinh thần của người dân Việt Nam
1.2 Truyện thơ Nôm Quan Âm Thị Kính từ lâu đã được nhiều học giả quan
tâm nghiên cứu dưới nhiều phương diện khác nhau Tác phẩm vừa là đối tượng nghiên cứu của văn học, vừa là đối tượng nghiên cứu của Phật học, đặc biệt là hình
tượng Quan Âm Học giả Thiều Chửu đã coi truyện Quan Âm Thị Kính như là một
cuốn kinh, một kinh Phật ở Việt Nam, như người Ấn coi Ramayana như là Thánh
kinh của họ Xét riêng ở lĩnh vực văn học, các bài nghiên cứu phê bình phần nhiều quan tâm tới giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, vẻ đẹp hình tượng Quan
Âm Thị Kính hay sức ảnh hưởng của nó tới đời sống nhân dân Giới nghiên cứu cũng khám phá tác phẩm như một truyện thơ Nôm nói chung trong tương quan với
các truyện thơ Nôm khác, mà chưa có một công trình nào nghiên cứu Quan Âm Thị Kính như một truyện thơ Nôm tôn giáo hay trong tương quan với nhóm tác
phẩm thuộc kiểu loại truyện thơ Nôm tôn giáo
1.3 Nghiên cứu đề tài Quan Âm Thị Kính và kiểu truyện thơ Nôm tôn giáo trong văn học trung đại Việt Nam, chúng tôi muốn một lần nữa nhìn nhận, đánh
giá, khẳng định những giá trị bất biến của tác phẩm nổi tiếng này, nhưng trên một hướng nghiên cứu mới: đi từ những đặc trưng của kiểu truyện thơ Nôm tôn giáo trong văn học trung đại Việt Nam để soi sáng tác phẩm, cùng với đó là đối chiếu với một số tác phẩm khác cùng kiểu loại Từ đó góp phần khẳng định giá trị tác phẩm, đồng thời thấy được tính phong phú đa dạng của truyện thơ Nôm, một thể loại đặc sắc, độc đáo đã một đi không trở lại trong nền văn học nước ta
2 Lịch sử nghiên cứu
Quan Âm Thị Kính là tác phẩm văn học mang chủ đề Phật giáo, lại có tư
tưởng nhân văn sâu sắc, nằm trong trào lưu chung của chủ nghĩa nhân văn trong văn học trung đại Việt Nam thời hậu kì Do đó nó đã trở thành một tác phẩm được
ưa thích và phổ biến, lưu truyền khá rộng rãi trong nhân dân từ khi ra đời tới ngày nay Các công trình nghiên cứu, các bài viết và ý kiến của các học giả xoay quanh tác phẩm này cũng khá phong phú, từ nội dung tư tưởng cho đến giá trị nghệ thuật của truyện Thế nhưng các ý kiến đánh giá tác phẩm như một truyện thơ Nôm tôn
Trang 9giáo, hay tư tưởng Phật giáo của truyện chưa được tập trung khai thác, hoặc nếu
có thì chủ yếu dưới dạng một vài nhận xét tản mạn trong các bài nghiên cứu
Năm 1943, học giả Thiều Chửu soạn cuốn Giải thích truyện Quán Âm Thị Kính, chủ yếu dùng triết lí Phật học để giải thích nhan đề cũng như nội dung câu
chữ trong truyện Ông coi tập truyện thơ Nôm khuyết danh đó là kinh Phật Và Thiều Chửu có lẽ là người đầu tiên và duy nhất đến nay khẳng định nước ta có
kinh Phật Nói về động cơ viết cuốn sách này, trong phần Tiếng vọng ở đầu sách,
tác giả viết:
Tôi ham đọc kinh này từ thủa nhỏ Biên tập từ lúc còn đề chỏm, mà nay răng đã gẫy, mắt đã loá, trong chỗ tu học cùng tuổi cùng lên, nên bản thảo lần này, so với mọi lần, thực là khác hẳn, không phải là tôi của thủa trước nữa Các bản trước tôi phải theo nghĩa thế gian, mà lần này thì hoàn toàn theo nghĩa xuất thế gian, không biết làm như thế có hợp với ý của tác giả hay không? Có ích lợi gì cho thế gian và xuất thế gian không?
Cuốn sách này là một tài liệu hữu ích, đáng tin cậy cho các nhà nghiên cứu
sau này trong việc biên soạn, tìm hiểu, đánh giá truyện Quan Âm Thị Kính Đặc
biệt, những lời chú giải truyện của Thiều Chửu mang đậm sắc màu Phật giáo, trên nền tảng triết lí Phật giáo, giúp người đọc các thế hệ tiếp nhận thấu đáo tác phẩm
theo đúng tinh thần Đánh giá về giá trị của công trình này, cuốn Từ điển văn học
bộ mới viết: “Khác với các lối chú giải thông thường, ngoài phần chú về nghĩa và
điển tích, ông còn giải thích tác phẩm trên tinh thần Phật giáo, sau mỗi đoạn đều
có phần “thích”, để “giải thích rõ sự tích ý nghĩa của từng câu từng chữ”(…) Đây
là bản chú thích công phu, qua nhiều năm, nhiều lần khác nhau” (Đỗ Đức Hiểu và cộng sự, 2004)
Sách Hợp tuyển văn học trung đại Việt Nam, Tập 3, đã có nhận xét khách
quan về giá trị nghệ thuật của tác phẩm trong tương quan với các tác phẩm cùng
thể loại, cùng thời, theo đó Quan Âm Thị Kính “có bút pháp văn chương, lời thơ
có chỗ chải chuốt, văn vẻ, song vẫn còn lạm dụng điển cố, từ ngữ Hán học” (Bùi Duy Tân, 2005)
Trang 10Trong Bảng lược đồ văn học Việt Nam, Quyển thượng, Thanh Lãng (1967)
đã nhìn nhận truyện thơ Nôm này trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật:
Tư tưởng trong Quan Âm Thị Kính là tư tưởng Phật giáo Đời là một bể
khổ mà mỗi người là một con thuyền vô trạo, một cánh bèo trôi giạt ở bến
mê Đời Thị Kính là một thí dụ sống (…) Về mặt văn chương, Quan Âm Thị Kính không có những vần thơ rực rỡ huy hoàng Văn nó là thứ văn tôn
giáo, thanh đạm và trang nghiêm Từ đầu đến cuối, truyện rất ly kỳ và mạch lạc, có những đoạn gây hồi hộp, thắc mắc Nhưng đi vào chi tiết, ở một đôi chỗ có hơi máy móc, như đoạn tả nỗi oan mưu giết chồng Tuy nhiên,
có nhiều đoạn tả cảnh, tả tình rất tinh tế tỏ ra cái tài của tác giả Nói tóm lại, văn ở đây tuy không bay bướm nhưng không phải là thứ văn tầm thường,
nó đáng liệt vào những tác phẩm có giá trị
Phạm Thế Ngũ (1997) trong sách Việt Nam văn học sử giản ước tân biên
đã nhận định: Quan Âm Thị Kính “trước hết là một câu chuyện triết lí và lịch sử
của Đạo Phật (…) Đặt vào tầm thước của chúng nhân, câu chuyện chính là một lời cảnh cáo cho những kẻ tưởng chọn con đường thanh nhàn khi tìm tới đạo Phật
Tu hành không phải là sống an ổn với tiếng mõ câu kinh Để đắc đạo, người ta phải chịu khổ” Về hình thức tác phẩm, ông thẳng thắn đánh giá: “Đành là khuôn truyện mượn song cũng nên nhận xét tình tiết có chỗ gò ép, như thái độ của Thiện Sĩ đối với vợ, việc hiểu lầm này thiếu sự thật tâm lí…”
Nguyễn Huệ Chi trong Từ điển văn học - bộ mới, bên cạnh việc đánh giá
rất cao giá trị nội dung và nghệ thuật của truyện, còn thẳng thắn chỉ ra những mặt hạn chế, nhất là sự ảnh hưởng tư tưởng Phật giáo của truyện: “Dễ thấy nhất là những ảnh hưởng của quan niệm hư vô của nhà Phật trong cách lí giải hiện thực Hình như sau bao phen hoạn nạn, tư tưởng yếm thế đã thấm vào những người viết truyện, khiến họ cảm thấy cuộc đời là vô nghĩa, và tu hành mới là cứu cánh cho con người (…) Triết lí nhẫn nhục này làm cho Quan Âm tân truyện thiếu đi một sức phản kháng cần thiết” (Đỗ Đức Hiểu và cộng sự, 2004) Đây là một nhận định mang tính chủ quan của ông, và rất có thể là từ lập trường giai cấp
Trang 11Cùng quan điểm đánh giá tác phẩm ảnh hưởng tư tưởng Phật giáo là tiêu
cực, yếu ớt, tác giả Văn Tân trong bài Ý nghĩa truyện Quan Âm Thị Kính cũng
nhận định: “Tác giả đã đưa ra một nhân vật Thị Kính hoàn toàn tiêu cực luôn luôn hành động theo câu “nhẫn điều khó nhẫn mới là chân tu” Tác giả tỏ ra muốn ru ngủ những kẻ bị áp bức nhất, chà đạp nhất dưới chế độ phong kiến” (Dẫn theo Bùi Thức Phước, 2015)
Không đồng tình với quan điểm của Văn Tân khi bàn về mục đích, giá trị
của tác phẩm khuyết danh này, tác giả Bùi Thức Phước (2015) trong bài Thử xác định lại ý nghĩa của truyện Quan Âm Thị Kính đã đưa ra các luận giải, bằng chứng
thuyết phục nhằm khẳng định lại mục đích, ý nghĩa cao cả của truyện này Dù được soi chiếu dưới ánh sáng của tư tưởng Phật pháp hay từ tư tưởng nhân văn truyền thống dân tộc, ông đều thấy “mục đích là tuyên truyền cho Phật giáo”, “giúp người nghe hiểu rõ tiểu sử của biểu tượng mà Phật tử thờ kính: Đức Quán Thế Âm! Một
sự tích thuộc về tôn giáo không mang màu sắc thể chế chính trị” Bài viết của Bùi Thức Phước đã phân tích ý nghĩa tác phẩm trên tinh thần Phật giáo, lấy tư tưởng Phật giáo để suy nghĩ về toàn bộ hành vi, lời nói của các nhân vật cũng như kết
cấu truyện, giúp người đọc có cái nhìn toàn diện, biện chứng hơn về truyện Quan
Âm Thị Kính như một tác phẩm Phật giáo điển hình Tác giả cũng cho rằng truyện Nôm Quan Âm Thị Kính không phải là một sáng tác thuần tuý của nhà văn mà là
kể lại, ghi lại một tích cũ: “Truyện Quan Âm Thị Kính chỉ là tác phẩm diễn ca (ghi
lại bằng văn vần) “truyện đời còn ghi”, sự tích đã có ấy, chứ không phải là một tác phẩm sáng tác thuần tuý của nhà văn” (Bùi Thức Phước, 2015)
Nhà nghiên cứu Trịnh Vân Thanh trong Thành ngữ - điển tích – danh nhân
Từ điển, mục “Thị Kính” đã khẳng định giá trị tác phẩm ở chỗ: “tác giả nêu lên sự
thành công rực rỡ do đức kiên nhẫn tạo thành, cốt ý khuyên người ta phải nhẫn nhục chịu đựng, bền tâm tiến theo định chí của mình thì dù việc khó khăn đến đâu cũng vượt qua nổi Tác giả đã dựng lên tấm gương từ bi bác ái, hầu mong mọi người cùng soi” (Trịnh Vân Thanh, 2008)
Diệu Phương (2008) khi giới thiệu văn bản Quan Âm Thị Kính bằng thơ lục bát của soạn giả Tâm Minh Ngô Tằng Giao, cũng đưa ra những nhận xét xác
Trang 12đáng về tác phẩm đậm màu sắc tôn giáo này: “Truyện Quan Âm Thị Kính đề cao
các hạnh trì giới, tinh tấn và nhẫn nhục cùng cực Ngoài ra truyện còn đề cập đến hai vấn đề là chữ Hiếu và chữ Nhẫn của người xuất gia theo đạo Phật”
Tác giả Dương Xuân Thự (2008) trong cuốn Đỗ Trọng Dư - con người và
tác phẩm đã giới thiệu về 2 tác phẩm Quan Âm Thi Kính và Âm chất diễn nôm, qua
đó khẳng định Đỗ Trọng Dư là tác giả của truyện thơ Quan Âm Thị Kính Quan
điểm của ông về vấn đề tác giả được nhiều người đồng tình song cũng gây ra nhiều tranh luận
Trên các tạp chí văn học, tạp chí Phật giáo, nhật báo, các diễn đàn cũng đăng tải nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan tới
đề tài Gần với đề tài chúng tôi nghiên cứu nhất là bài viết Ảnh hưởng của Phật giáo trong truyện Nôm Quan Âm Thị Kính của tác giả Đinh Thị Khang đăng trên
tạp chí văn học, số 2 (385) tháng 12/2001, tr 41- 44 Một số bài viết đáng kể khác
như: Yếu tố Phật giáo và tín ngưỡng dân gian trong truyện thơ Nôm có nguồn gốc bản địa Việt Nam của tác giả Nguyễn Văn Hoài trên Tạp chí khoa học Đại học Sài Gòn, niên san 2015, tr 122 - 131; Quan Âm Thị Kính và cách nghĩ của người Việt
về người phụ nữ Việt của tác giả Thích Huệ Thiện, đăng trên tạp chí Văn hoá Phật giáo số 18 Trần Phước Thuận với bài Quan Âm Thị Kính hình ảnh đẹp về người phụ nữ Việt Nam đăng trên tạp chí Văn hoá Phật giáo số 14 Tác giả Trần Hải Yến
có bài: Tự sự dân gian với một biến thân của Quan Âm ở Việt Nam: Quan Âm Thị Kính đăng trên tạp chí Văn hoá Nghệ An tháng 4/2010 Tác giả Man Đức Huy trên Tạp chí văn hóa Phật giáo số 186 (2013) cũng có bài Về truyện thơ Quan Âm Thị Kính Ở đó, tác giả đi tìm hiểu sự kết hợp giữa tư tưởng Phật giáo và tư tưởng nhân
dân, để lí giải về số phận con người, đặc biệt là số phận người phụ nữ trăm đắng ngàn cay cùng những phẩm chất tốt đẹp của họ
Cùng với đó là các luận văn, khoá luận tốt nghiệp như: luận văn Thạc sĩ:
Truyện Quan Âm Thị Kính trong văn học trung đại Việt Nam - tác giả Dương Mai
Oanh – Đại học Khoa học xã hội và nhân văn - Đại học quốc gia Thành phố Hồ
Chí Minh, 2012 Ở đó, tác giả đã công phu đi tìm nguồn gốc truyện Quan Âm Thị Kính trong đời sống Phật giáo và trong văn học, tìm hiểu giá trị của truyện dưới
Trang 13các hình thức tồn tại từ truyện cổ tích, kịch bản chèo và truyện thơ Nôm, bước đầu
chỉ ra các giá trị của truyện Nôm Quan Âm Thị Kính trên hai phương diện nội dung
và nghệ thuật; Khoá luận tốt nghiệp đại học: Tìm hiểu giá trị nội dung và nghệ thuật của truyện Nôm Quan Âm Thị Kính, tác giả Thái Thị Ái – Đại học sư phạm
Hà Nội 2, 2015 Khóa luận mới chỉ dừng lại ở việc thấy được giá trị nội dung của tác phẩm ở khía cạnh cơ bản nhất là diễn tả bi kịch của người phụ nữ và lí giải số phận của họ từ tư tưởng Phật giáo, đồng thời chỉ ra giá trị nghệ thuật trên các phương diện thể loại, nhân vật, ngôn ngữ
Nhìn chung, truyện thơ Nôm Quan Âm Thị Kính đã được quan tâm nghiên
cứu từ rất lâu, song mảng nghiên cứu về yếu tố tôn giáo trong truyện chưa được khai thác như đúng vai trò thể hiện của nó trong tác phẩm, cũng như nghiên cứu
Quan Âm Thị Kính trong tương quan với các tác phẩm khác cùng hệ thống truyện
thơ Nôm tôn giáo Đề tài hi vọng sẽ bổ khuyết mảng nghiên cứu này, để có một cái nhìn bao quát hơn về giá trị cũng như vị trí tác phẩm trong nền văn học, văn hóa dân tộc
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu đề tài Quan Âm Thị Kính và kiểu truyện thơ Nôm tôn giáo trong
văn học trung đại Việt Nam, luận văn hướng tới các mục tiêu:
- Bước đầu tìm hiểu kiểu truyện thơ Nôm tôn giáo với những đặc điểm cơ bản về nội dung, nghệ thuật, những kế thừa và sáng tạo, thành công và hạn chế, cùng vị trí, vai trò của nó trong văn học trung đại Việt Nam
- Khái quát về diện mạo và một số đặc điểm của kiểu truyện thơ Nôm tôn giáo
- Thấy được những biểu hiện của truyện thơ Nôm tôn giáo trong Quan Âm Thị Kính và những nét đặc sắc của Quan Âm Thị Kính với kiểu truyện này
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các đặc điểm của kiểu truyện thơ
Nôm tôn giáo được biểu hiện cụ thể trong truyện thơ Quan Âm Thị Kính
Đề tài được nghiên cứu trong phạm vi cụ thể là văn bản tác phẩm Quan Âm Thị Kính do Thiều Chửu hiệu đính, chú giải, bản in năm 2007, Nhà xuất bản Đà
Trang 14Nẵng Ngoài ra trong quá trình nghiên cứu chúng tôi cũng khảo sát một số văn bản
trong các bản in khác để so sánh đối chiếu như: Quan Âm chính văn tân truyện, Phúc An hiệu in (1919); bản Quan Âm Thị Kính truyện dẫn giải của Đinh Xuân Hội (1929), Nhà xuất bản Tân Dân thư quán; bản in Quan Âm Thị Kính của Thi Nham Đinh Gia Thuyết (1996), Nhà xuất bản Đồng Tháp; Giải thích truyện Quan
Âm Thị Kính của Thiều Chửu (2003), Nhà xuất bản Văn hóa thông tin
Để làm rõ đặc trưng của kiểu truyện thơ Nôm tôn giáo, nghiên cứu truyện
thơ Nôm Quan Âm Thị Kính trong tương quan với các truyện cùng nhóm, đề tài còn khảo sát các văn bản truyện thơ Nôm tôn giáo sau: Quan Âm Nam Hải (Sách của Bùi Thức Phước), Mục Liên Thanh Đề (ấn bản điện tử của Hoàng Xuân Hãn), Lưu Hương diễn nghĩa bảo quyển (sách của Phan Thanh Đào biên dịch)
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, xây dựng đề tài chúng tôi đã vận dụng kết hợp rộng rãi các phương pháp nghiên cứu khoa học và các phương pháp luận nghiên cứu văn học Song để làm rõ vấn đề, chúng tôi đã sử dụng chủ yếu các phương pháp nghiên cứu như sau:
5.1 Phương pháp lịch sử - xã hội
Phương pháp lịch sử - xã hội được sử dụng nhằm truy tìm nguồn gốc phát sinh, quá trình phát triển của các tác phẩm nghiên cứu để phát hiện bản chất và quy luật vận động, đồng thời đặt tác phẩm vào trong môi trường xã hội, văn hóa tư tưởng, nơi tác phẩm đó tồn tại, và đặt cạnh các hiện tượng xã hội khác cùng bối cảnh thời đại Phương pháp này được áp dụng trong toàn bộ luận văn để luôn luôn
có cái nhìn vấn đề trên quan điểm lịch sử, cụ thể và quan điểm toàn diện
5.2 Phương pháp nghiên cứu thi pháp học
Phương pháp nghiên cứu thi pháp học là một trong những phương pháp quan trọng nhất trong nghiên cứu văn học Nó hướng tới văn bản là chính, không quá đề cao các yếu tố ngoài văn bản như: tác giả, hoàn cảnh sáng tác Phương pháp này được chúng tôi sử dụng trong chương 2 và chương 3 nhằm khảo sát các
yếu tố nội dung và nghệ thuật của văn bản Quan Âm Thị Kính
5.3 Phương pháp so sánh đối chiếu
Trang 15Phương pháp này được chúng tôi áp dụng phổ biến trong chương 2 và
chương 3, khi xem xét các khía cạnh của truyện Quan Âm Thị Kính sự đối chiếu
với các khía cạnh cùng bình diện của các truyện thơ Nôm tôn giáo khác, hoặc các tác phẩm văn học cùng thời, nhằm thấy được điểm chung, hoặc nét dị biệt
6 Đóng góp của luận văn
Với đề tài Quan Âm Thị Kính và kiểu truyện thơ Nôm tôn giáo trong văn học trung đại Việt Nam, chúng tôi mong muốn đóng góp một tiếng nói khẳng định những giá trị to lớn, bền vững của truyện thơ Nôm Quan Âm Thị Kính trong kho
tàng văn học dân tộc nói chung, truyện thơ Nôm nói riêng, dưới góc nhìn từ mảng truyện thơ Nôm tôn giáo
Luận văn bổ khuyết cho mảng nghiên cứu về văn học Phật giáo ở Việt Nam,
hi vọng giúp ích ít nhiều cho việc nghiên cứu và giảng dạy văn học trung đại cũng như văn học Phật giáo trên các phương diện nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật
Luận văn đóng góp một nghiên cứu chuyên biệt về truyện thơ Nôm tôn giáo trong văn học trung đại Việt Nam thông qua một hiện tượng văn học cụ thể: Truyện
Quan Âm Thị Kính
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung của luận văn được triển khai trong 3 chương:
Chương 1: Kiểu truyện thơ Nôm tôn giáo và văn bản truyện Quan Âm Thị Kính Nhiệm vụ chính của chương này là giới thuyết khái niệm truyện thơ Nôm
tôn giáo, sự ra đời, phát triển và những đặc điểm chính của truyện thơ Nôm tôn giáo cùng một số truyện thơ Nôm tôn giáo tiêu biểu Bên cạnh đó, chúng tôi khảo
sát và tổng hợp các vấn đề về tác giả, văn bản truyện Quan Âm Thị Kính
Chương 2: Quan Âm Thị Kính - từ tư tưởng tôn giáo đến tư tưởng nhân đạo
Ở chương này, chúng tôi tập trung tìm hiểu các biểu hiện của tư tưởng tôn giáo
trong văn bản truyện Quan Âm Thị Kính như tư tưởng luân hồi nghiệp báo, tư
tưởng từ bi hỷ xả, và các khía cạnh của tư tưởng tôn giáo trong tác phẩm như niềm
Trang 16đồng cảm với số phận con người, lên án các thế lực chà đạp lên con người, ca ngợi
vẻ đẹp cũng như sự trân trọng nâng niu những khát vọng bình dị của con người
Chương 3: Một số đặc điểm nghệ thuật truyện thơ Nôm Quan Âm Thị Kính
Ở chương này, chúng tôi quan tâm tìm hiểu những nét đặc sắc về nghệ thuật của
văn bản truyện thơ Nôm Quan Âm Thị Kính để làm rõ những đặc điểm của kiểu
truyện thơ Nôm tôn giáo xét về mặt nghệ thuật, như là: kết cấu truyện, nghệ thuật xây dựng nhân vật, ngôn từ nghệ thuật…
Cuối cùng là danh mục tài liệu tham khảo
Trang 17Chương 1 KIỂU TRUYỆN THƠ NÔM TÔN GIÁO VÀ VĂN BẢN TRUYỆN QUAN ÂM THỊ KÍNH 1.1 Kiểu truyện thơ Nôm tôn giáo
1.1.1 Khái niệm truyện thơ Nôm tôn giáo
Truyện thơ Nôm hiện nay tồn tại nhiều luồng ý kiến khác nhau về cách gọi tên và định danh loại hình - loại thể Đa số cho rằng nó là một thể loại văn học, nhưng cũng có ý kiến cho rằng truyện thơ Nôm phải được nhìn như một loại hình
Và như tên gọi, nó có sự pha trộn: vừa có yếu tố truyện, vừa có yếu tố thơ Trong các công trình nghiên cứu từ trước đến nay, nó được gọi bằng nhiều tên khác nhau:
tiểu thuyết quốc ngữ (Phạm Đình Hổ), tiểu thuyết bằng văn vần, hay luân lí tiểu thuyết (Dương Quảng Hàm), truyện ngâm (Hoàng Thiếu Sơn), truyện Nôm (Đặng Thanh Lê, Kiều Thu Hoạch), thể lục bát trường thiên (Phạm Thế Ngũ) Trong dân gian có người gọi là truyện thơ, có người gọi là truyện Nôm, có người lại gọi là văn Nôm Đây là một hiện tượng có nhiều tên gọi khác nhau nhất trong văn học Việt Nam Tuy nhiên, thuật ngữ truyện thơ Nôm vẫn là tên gọi phù hợp nhất, diễn
đạt trọn vẹn ý nghĩa nhất
Cũng có nhiều cách định nghĩa truyện thơ Nôm, nhưng cơ bản là thống nhất
về bản chất thể loại Phạm Thế Ngũ (1997) coi đó là loại truyện “thuật lại một truyện xảy ra kết hợp bởi ít nhiều tình tiết biến đổi li kì để đưa đến cuối cùng một cái giải kết” Nguyễn Lộc (2004) nêu khái niệm: truyện Nôm là “một thể văn học viết dưới hình thức văn vần, có cốt truyện trong văn học cổ Việt Nam, phát triển
mạnh mẽ nhất ở giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII và thế kỉ XIX” Từ điển thuật ngữ văn học cũng định nghĩa: truyện Nôm là “thể loại tự sự bằng thơ dài rất tiêu biểu
cho văn học cổ điển Việt Nam, nở rộ vào cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX, do viết bằng tiếng Việt, ghi bằng chữ Nôm nên được gọi là truyện Nôm” (Lê Bá Hán và cộng sự, 1997)
Truyện thơ Nôm cùng với khúc ngâm, thơ Nôm Đường luật là những thể loại được viết bằng ngôn ngữ dân tộc (chữ Nôm) Truyện Nôm ra đời là một tất yếu và là một hiện tượng có tính lịch sử, tuân theo quy luật hình thành và phát triển
Trang 18của thể loại văn học, có sinh có diệt Các nhà nghiên cứu đã nhận định sơ bộ về sự
ra đời của truyện thơ Nôm: đó là vào giai đoạn XVI - XVII và phát triển cực thịnh vào thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX Đây là thời kì khủng hoảng trầm trọng không thể cứu vãn của chế độ phong kiến Việt Nam, dẫn đến hệ quả tất yếu là sự đảo lộn trật tự xã hội Cùng thời gian này, theo chân các thuyền buôn phương Tây, nền kinh tế hàng hóa bắt đầu manh nha và lối sống thị dân đã tác động mạnh mẽ đến ý thức hệ phong kiến Từ đó, những tư tưởng dân chủ, tiến bộ, tinh thần đấu tranh chống lại lễ giáo khắt khe cổ hủ, đòi quyền sống, quyền tự do cho con người ngày càng phát triển Chủ nghĩa nhân đạo và tiếng nói đánh thức bản ngã là những mảng màu lớn trong bức tranh văn học giai đoạn này Cùng với sự chấn hưng Phật giáo, văn hóa dân gian phát triển và đạt được những thành tựu rực rỡ Truyện thơ Nôm là kết quả của sự kết hợp giữa văn học, văn hóa dân gian với văn chương bác học Đây cũng là giai đoạn ngôn ngữ dân tộc và ngôn ngữ văn học Nôm phát triển đến đỉnh cao Truyện Nôm ra đời vừa đáp ứng được nhu cầu cân bằng đời sống xã hội, vừa giúp giảm bớt áp lực văn học chữ Hán vốn quá quy phạm, xơ cứng
Ở Việt Nam hiện có khoảng hơn 100 truyện thơ Nôm với nhiều cách phân loại khác nhau Dựa vào nguồn gốc đề tài có ba loại: Loại lấy đề tài từ các truyện
cổ dân gian, ví dụ: Trương Chi, Tấm Cám, Thạch Sanh…; Loại lấy đề tài, cốt truyện từ văn học Trung Quốc: Truyện Hoa Tiên, Nhị độ mai, Phan Trần…; Loại
lấy đề tài, cốt truyện từ những sáng tác chữ Hán hoặc những sự tích có thật ở Việt
Nam: Tống Trân-Cúc Hoa, Bích Câu kỳ ngộ… Dựa vào nội dung và hình thức, có hai loại: Truyện Nôm bình dân do các nho sĩ bình dân sáng tác như: Tống Trân- Cúc Hoa, Phạm Công-Cúc Hoa, Phạm Tải - Ngọc Hoa…; Truyện Nôm bác học
do các nhà Nho thuộc tầng lớp trên sáng tác như: Phan Trần, Nhị độ mai… Dựa
vào mối quan hệ với tác giả có: truyện Nôm hữu danh và truyện Nôm khuyết danh
Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (Quyển 2) lại tiếp tục
chia truyện thơ Nôm khuyết danh thành các loại sau: Truyện Nho giáo trung hiếu
tiết nghĩa “chính tông”: như Nhị độ mai, Tống Trân, Thạch Sanh…; Truyện Nho giáo với nhân vật chính là nữ nhân: Nữ tú tài, Phương Hoa, Lý Công, Hoàng Trừu…; Truyện tình ái có màu sắc Lão hoặc Phật: Bích câu, Bạch Viên, Phan
Trang 19Trần…; Truyện Phật giáo “chính tông”: Quan Âm Thị Kính, Quan Âm Diệu Thiện, Mục Liên Địa Tạng, Mục Liên Thanh Đề…; Truyện ngụ ngôn luân lí: Hoa điểu tranh năng, Trê cóc, Trinh Thử… Nhìn chung vấn đề phân loại cũng như tên gọi
của truyện thơ Nôm đến nay vẫn chưa thống nhất Cách phân loại phổ biến hiện nay được nhiều người chấp nhận nhất là chia thành hai loại: truyện thơ Nôm bình dân và truyện thơ Nôm bác học
Về truyện thơ Nôm tôn giáo, trước hết tôn giáo là: “1: Hình thái ý thức xã
hội hình thành nhờ vào lòng tin và sùng bái thượng đế, thần linh (nghiên cứu về tôn giáo, vấn đề tôn giáo); 2: Các đạo nói riêng như đạo Phật, đạo Thiên Chúa,
đạo Hồi, ” (Nguyễn Như Ý, 2005) Như vậy, có thể hiểu tôn giáo phản ánh hiện thực thông qua các khái niệm, ý niệm mang tính tưởng tượng, siêu hình Gắn với mỗi tôn giáo là các hoạt động tín ngưỡng, địa điểm tâm linh Các tôn giáo trên thế giới đều có điểm chung là đức tin vào sự tồn tại thực của một đấng siêu nhiên do chính họ tưởng tượng ra và tôn thờ tuyệt đối Đồng thời, mỗi tôn giáo đều có những hình thái thờ phụng, có đấng tối cao để tôn thờ, có lễ nghi đặc thù, có giáo lý, kinh sách, có quy tắc, có tín đồ riêng…
Ở khắp các quốc gia trên thế giới, tôn giáo đều có ảnh hưởng lớn tới văn học nghệ thuật Chính vì vậy nó hình thành cả một dòng văn học tôn giáo Những tôn giáo thành dòng trong văn học Việt Nam là Thiên Chúa giáo, Phật giáo và Đạo giáo, trong đó đậm nét nhất là văn học Phật giáo Từ trước đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu về nhóm truyện thơ Nôm tôn giáo, và cũng chưa
có một định nghĩa thực sự đầy đủ, khái quát cho khái niệm truyện thơ Nôm tôn giáo Để có được một định nghĩa đầy đủ, chính xác về truyện thơ Nôm tôn giáo không phải là chuyện ngày một ngày hai, mà còn phải dày công sưu tầm, nghiên cứu Tuy vậy, bước đầu có thể hiểu như sau:
Truyện thơ Nôm tôn giáo là những truyện thơ Nôm mà yếu tố tôn giáo đóng vai trò chủ đạo (xây dựng nhân vật tôn giáo (hình tượng tôn giáo), khai thác đề tài tôn giáo, kể tích truyện tôn giáo…) Truyện thường xoay quanh các câu chuyện tôn giáo, thuyết minh cho hệ thống triết lí của tôn giáo, thường được các giáo phái
sử dụng với mục đích tuyên truyền cho giáo lí của mình
Trang 20Trong đề tài này, khái niệm Truyện thơ Nôm tôn giáo mà chúng tôi xem xét
được giới hạn trong phạm vi là truyện thơ Nôm đề tài Phật giáo (Nhà nghiên cứu Phạm Thế Ngũ gọi nhóm truyện thơ Nôm này là “Truyện Phật giáo chính tông”, Nguyễn Văn Hoài lại gọi là “truyện thơ Nôm tôn giáo”) Bởi vì chiếu theo tiêu chí của một tác phẩm văn học tôn giáo như trên thì một truyện thơ được xem là truyện thơ Nôm tôn giáo chỉ khi nó mang đề tài - chủ đề tôn giáo, chứa đựng tư tưởng tôn giáo, vừa phải xây dựng được nhân vật tôn giáo, hoặc cốt truyện tôn giáo Nguyễn
Văn Hoài (2015) trong bài Thi pháp truyện thơ Nôm tài tử giai nhân và một số tiểu loại truyện thơ Nôm khác: nhìn từ góc độ nhân vật, mô thức cốt truyện, ở phần phân loại truyện thơ Nôm, mục Truyện thơ Nôm tôn giáo, tác giả cũng kể tên một
số truyện thơ Nôm Phật giáo là: Quan Âm Thị Kính, Quan Âm tống tử bản hạnh, Mục Liên Thanh Đề, Lưu Hương diễn nghĩa bảo quyển… chứ không xếp các
truyện mang màu sắc Đạo giáo, Thiên Chúa giáo vào nhóm này Ở Việt Nam, văn học Đạo giáo, Thiên Chúa giáo hay tôn giáo dân gian có thể nhiều ở các thể loại khác, nhưng truyện thơ Nôm thì chỉ có Phật giáo là đáng kể mà thôi Do đó khái
niệm truyện thơ Nôm tôn giáo trong đề tài này đồng nhất với truyện thơ Nôm về
Phật giáo Từ “tôn giáo” ở đây có nội hàm là Phật giáo
Tiền đề xuất hiện truyện thơ Nôm tôn giáo, có thể xem xét trên hai phương
diện Thứ nhất, về tiền đề lịch sử - văn hóa: Phật giáo là một trong ba tôn giáo lớn
nhất trên thế giới (cùng với đạo Thiên Chúa, đạo Hồi), và cũng là tôn giáo lớn, có lịch sử lâu đời nhất ở Việt Nam Quê hương của Phật giáo ở Ấn Độ Đạo Phật du nhập vào Việt Nam từ đầu kỉ nguyên Tây lịch, theo chân của các thương nhân Ấn
Độ Vùng đất Luy Lâu (huyện Thuận Thành - Bắc Ninh ngày nay) trở thành trung tâm Phật giáo của Giao Chỉ, hình thành sớm hơn cả trung tâm Phật giáo Lạc Dương
và Bành Thành (Trung Quốc) Giai đoạn đầu, đạo Phật được truyền bá vào Việt Nam bằng con đường tự nguyện và trực tiếp ảnh hưởng từ Ấn Độ chứ không phải bằng con đường cưỡng bức như Nho giáo Nhà nghiên cứu Nguyễn Lang trong
Việt Nam Phật giáo sử luận viết:
Trong các chuyến đi xa hằng năm với nhiều tháng lênh đênh trên biển cả như thế, các thương gia Ấn cũng thờ cúng và cầu nguyện đức Phật
Trang 21và các vị Bồ Tát hộ trì cho trời yên biển lặng và mọi sự yên lành Các thương thuyền này thường thờ đức Quán Thế Âm (Avalokitesvara) và đức Nhiên Đăng (Dipankara), nổi tiếng là những vị che chở cho thủy thủ được an lành ngoài biển khơi Cũng trong mục đích cầu nguyện và cúng dường tam bảo,
họ thỉnh theo thương thuyền một số vị tăng sĩ Chính những vị tăng sĩ đi theo thương thuyền này sẽ lập nên trung tâm Phật giáo Luy Lâu tại Giao Chỉ (Nguyễn Lang, 2000)
Chính vì tiếp thu Phật giáo trực tiếp từ Ấn Độ, nên tiếng Bụt của người Việt được phiên âm trực tiếp từ âm tiết thứ nhất của chữ Buddha (tiếng Phạn cổ, có nghĩa là Đấng giác ngộ) Đây là cách gọi tên Đức Thích Ca Mâu Ni của người Việt
ở giai đoạn đầu Tên gọi này phổ biến trong dân gian, trong truyện cổ, ca dao, tục ngữ… và tồn tại đến tận ngày nay Về sau, do ảnh hưởng tư tưởng Phật giáo truyền
bá qua con đường Trung Quốc, ta có thêm tiếng Phật (Phật là phiên âm chữ Hán rút gọn của Buddha - Phật Đà (佛 陀) - cũng gọi là Bậc giác ngộ) Như vậy, Phật
và Bụt là hai tên gọi tồn tại song song trong tiếng Việt cùng chỉ về người đã sáng lập ra Phật giáo
Lịch sử Phật giáo ở nước ta trải qua các thời kì sau: Thời kì từ đầu kỉ nguyên Tây lịch tới hết thế kỉ X là thời kì Phật giáo được truyền bá, xác lập và phát triển; Thời Lý - Trần là giai đoạn Phật giáo phát triển cực thịnh, được các vua Trần đề cao, coi là “quốc giáo”; Thời Hậu Lê, nhà nước phong kiến đề cao Nho giáo nên Phật giáo đi vào suy thoái một thời gian dài tới mấy thế kỉ Trong khi nhà Hậu Lê
ở Đàng Ngoài không coi trọng Phật giáo thì ngược lại, ở Đàng Trong, các chúa Nguyễn lại chủ trương chấn hưng Phật giáo bằng nhiều cách như xây chùa, trùng
tu chùa, thỉnh kinh…; Thời Nguyễn, đặc biệt là từ khi Pháp xâm lược và bình định nước ta, Phật giáo không được chính quyền quan tâm phát triển do chính sách chấn hưng Nho giáo của triều Nguyễn hay phát triển Thiên Chúa giáo của nhà cầm quyền Pháp; Từ thế kỉ XX đến nay Phật giáo bước vào thời kì phục hưng trở lại
Lịch sử gần 2000 năm của Phật giáo Việt Nam lúc thăng lúc trầm, thịnh suy theo vận nước, đạo Phật đã trở thành một phần không thể thiếu của văn hóa Việt Nam, và là tôn giáo lớn nhất, có nhiều người theo nhất ở nước ta “dường như một
Trang 22người Việt Nam nếu không theo một tôn giáo nào khác thì ắt là theo đạo Phật hoặc chí ít là có tình cảm với đạo Phật” (Trần Ngọc Thêm, 1999) Cốt lõi của Phật giáo
là tam bảo (Phật - Pháp - Tăng) Tinh thần chung của Phật giáo tựu trung ở thuyết nhân duyên: “thập nhị nhân duyên” Đó là cơ sở của mọi sự vận động, biến đổi
không ngừng nghỉ của vạn vật trong vũ trụ vô thường
Giai đoạn thế kỉ XVII - XIX, mặc dù không được nhà cầm quyền quan tâm, nhưng Phật giáo lại thực sự được chấn hưng trong dân chúng, đặc biệt các nhà trí thức Đây cũng là thời kì phát triển của truyện thơ Nôm tôn giáo
Thứ hai, về tiền đề văn học: cần khẳng định rằng, trải qua 2000 năm du nhập
và phát triển, ảnh hưởng của Phật giáo trong văn học Việt Nam là khá rõ nét và có lịch sử lâu dài Màu sắc Phật giáo có mặt trong hầu hết các thể loại văn học dân gian Nhân dân đúc kết kinh nghiệm sống, kinh nghiệm đối nhân xử thế qua các câu tục ngữ đậm đặc triết lý nhà Phật: “Gieo nhân nào gặp quả ấy”; “tích thiện phùng thiện tích ác phùng ác”; “Thứ nhất tu tại gia, thứ hai tu chợ thứ ba tu chùa”;
“No ra Bụt đói ra ma”; “Đi với Bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy”; hay phê phán những hạng người “Miệng nam mô bụng bồ dao găm”; “khẩu Phật tâm xà”… Các thành ngữ ngắn gọn: “Phật tại tâm”; “Lâm thời bão Phật cước”… Các câu ca
dao cũng truyền tải tư tưởng, đạo lý mà Đức Phật đã dạy chúng sinh:
- Dù xây chín đợt phù đồ Không bằng làm phúc cứu cho một người
- Lênh đênh qua cửa Thần Phù Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm
- Tay bưng quả nếp vào chùa Thắp nhang lạy Phật, xin bùa em đeo
- Lên chùa lễ Phật quy y Cầu cho tuổi nọ tuổi ni kết nguyền
Có khi là những câu ca dao hài hước:
Ba cô đội gạo lên chùa Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư…
Trang 23Ảnh hưởng của Phật giáo rõ nét nhất, nhiều nhất là trong truyện cổ tích,
như: Tấm Cám, Chử Đồng Tử, Khổng Lồ đúc chuông hay là sự tích trâu vàng Hồ Tây, Huyền Quang, Sư Không Lộ… Yếu tố Phật giáo trong truyện cổ tích đã được
rất nhiều người quan tâm nghiên cứu Đỗ Văn Đăng (2005) phân chia nhóm truyện
cổ tích này làm 3 loại: Phật thoại; những truyện ảnh hưởng Phật giáo; và những truyện có mối giao thoa với kinh điển, điển tích Phật giáo Những giáo lí nhà Phật được truyền tải qua hình thức nhẹ nhàng, dễ hiểu của truyện cổ tích: đó là thuyết nhân quả, luân hồi nghiệp báo, khuyên con người tu nhân tích đức, làm điều thiện, tránh xa điều ác… Nguyễn Đổng Chi (2000) đã chỉ ra rằng: Phần lớn truyện mang màu sắc Phật giáo là những truyện cổ tích thế sự Về cơ bản nhóm truyện này vẫn mang đặc trưng thi pháp của văn học dân gian
Những câu tục ngữ, ca dao, những câu chuyện giản dị ấy thấm đẫm tinh thần từ bi, luật nhân quả, không chỉ làm giàu cho kho tàng văn học nước nhà mà còn có khả năng truyền bá những giáo lí nhà Phật một cách hiệu quả nhất trong đời sống dân tộc Việt
Đặc biệt, trong thời kì cực thịnh của Phật giáo (thời Lí - Trần), đã hình thành
cả một dòng văn học Phật giáo Đó là các bài kinh, kệ, các bài thơ Thiền do các nhà sư, đồng thời là nhà thơ như Trần Nhân Tông (nhà vua - Thiền sư, người có công sáng lập ra thiền phái Trúc Lâm ở Việt Nam), Mãn Giác Thiền sư, Không Lộ Thiền sư, Huyền Quang Thiền sư, Tuệ Trung Thượng sĩ… sáng tác Tiêu biểu như
bài thơ Thị đệ tử sau đây của sư Vạn Hạnh:
Thân như điện ảnh hữu hoàn vô Vạn mộc xuân vinh, thu hựu khô Nhậm vận thịnh suy vô bố úy Thịnh suy như lộ thảo đầu phô Dịch thơ:
Bảo các học trò Thân như bóng chớp, có rồi không Cây cối xuân tươi, thu não nùng Mặc cuộc thịnh suy đừng sợ hãi
Trang 24Kìa kìa ngọn cỏ giọt sương đông
(Dẫn theo Nguyễn Hữu Sơn, 2017) Bài thơ thấm đẫm tinh thần giác ngộ Vạn Hạnh đã dạy cho học trò về quy luật thịnh suy, được mất, sống chết, hãy an yên mà đón đợi Thân xác mỗi con người hay là sự vần xoay của thế giới cũng chỉ như một giọt sương trên ngọn cỏ, xuất hiện rồi tan biến, vốn là lẽ thường hằng
Nội dung thơ Thiền Lý - Trần xoay quanh các vấn đề về nhân sinh quan, vũ trụ quan, đường lối trị nước, các triết lí đạo Phật… Về hình thức vẫn mang nặng thi pháp văn học cổ, nhất là ảnh hưởng bút pháp của Đường thi
Giai đoạn thế kỉ XVII - đầu XIX, văn học chữ Nôm phát triển, kéo theo đó
là văn học bình dân, ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ được chú trọng Mối giao thoa giữa văn học dân gian và văn học viết, giữa văn học bình dân với văn chương bác học trở nên rõ nét hơn Các nội dung, chủ đề của văn học ngày càng gần gũi với đời sống, chú trọng tiếng nói đòi quyền yêu quyền sống, phản đối chiến tranh phi nghĩa, chống đối lễ giáo phong kiến, các hủ tục lạc hậu, đề cao ý thức cá nhân, khát vọng giải phóng bản ngã, khát vọng hạnh phúc bình dị… Các chủ đề nhân đạo ấy của văn chương phù hợp với bản chất khuyến thiện, nhân ái bao la của nhà Phật Do vậy, các giáo lí của nhà Phật đã tìm được một hình thức phù hợp với nó: truyện thơ Nôm, nhất là truyện thơ Nôm bình dân Từ đó hình thành nên kiểu truyện thơ Nôm tôn giáo
Một trong những môi trường hình thành và tồn tại của truyện thơ Nôm là các nhà Chùa Phật giáo Khi các nhà sư muốn truyền bá giáo lí cho các Phật tử (mà
đa phần là tầng lớp bình dân), họ đã chọn một hình thức (thể loại) dễ đi vào lòng
công chúng nhất, đó là diễn ca Phật giáo bằng thơ lục bát (như truyện Lưu Hương diễn nghĩa bảo quyển, Mục Liên Thanh Đề), hoặc diễn ca một truyện tích Phật giáo (như Quan Âm Thị Kính, Bà Chúa Ba), dần dần hình thành một truyện thơ Nôm
tôn giáo hoàn chỉnh
1.1.2 Một số truyện thơ Nôm tôn giáo tiêu biểu
Trang 25Truyện Quan Âm Thị Kính là một tác phẩm xuất hiện từ sớm và khá phổ
biến trong dân gian, từ lâu vẫn được coi là khuyết danh Truyện kể về cuộc đời và quá trình tu hành đắc đạo của Phật Bà Quan Thế Âm, lấy bối cảnh là xứ Cao Ly (tức Triều Tiên ngày nay) Theo văn bản do Thiều Chửu giới thiệu, chú thích thì truyện diễn ca gồm có 788 câu lục bát, và một bức thư Thị Kính gửi cho cha mẹ
viết bằng văn biền ngẫu Truyện có thể chia làm 5 hồi: Nỗi oan giềt chồng; Thị Kính đi tu; Nỗi oan thông dâm; Thị Kính nuôi con Thị Mầu; Rửa oan thành Phật Truyện thấm đẫm tinh thần Phật giáo Đại thừa Bởi vậy Thiều Chửu đã coi Quan
Âm Thị Kính như là một cuốn kinh Phật ở Việt Nam
Truyện Quan Âm Nam Hải: Hiện có nhiều bản in khác nhau và có nhiều tên gọi khác như Nam Hải Quan Thế Âm, Nam Hải Quan Âm Phật sử tích ca, Quan
Âm chân kinh diễn nghĩa, Quan Âm Diệu Thiện… Theo tác giả Nguyễn Lang,
truyện Quan Âm Nam Hải vốn xuất phát từ một vị Tăng đời Nguyên bên Trung Hoa Tích này được lưu truyền trên đất Việt kể từ khoảng cuối thế kỷ XIV hay XV
và được Việt hóa Bản Nôm cổ nhất của truyện Quan Âm Nam Hải vẫn chưa biết
được khắc vào thời đại nào Bản Việt ngữ đầu tiên Quan Âm diễn ca của Huỳnh
Tịnh Của, ấn hành năm 1897 (Nguyễn Lang, 2000)
Văn bản Nam Hải Quan Thế Âm do Bùi Thức Phước sưu tầm và biên soạn
dài 1424 câu (kèm theo 1 bài kệ theo thể thất ngôn tứ tuyệt, 2 bài sắc) kể về huyền thoại của Phật Bà Quan Thế Âm Bồ Tát Công chúa Diệu Thiện (chúa Ba), con vua Trang Vương, từ thuở nhỏ đã phát tâm theo Phật, nguyện không lấy chồng Điều đó đã làm vua cha nổi giận, trừng phạt Tuy vậy, nàng đã kiên cường vượt qua tất cả những trở ngại, thử thách để theo đuổi con đường tu hành Về sau, được Phật tổ chứng giám, công chúa được lên Niết Bàn trở thành Phật Bà Quan Thế Âm
Bồ Tát, quay lại trị bệnh cho vua cha và trở thành Phật Bà nghìn tay nghìn mắt, nhìn thấu suốt cõi đời, nghe thấu mọi tiếng kêu khổ đau, dang rộng vòng tay phổ
độ chúng sinh Bà trụ trì ở chùa Hương Tích Nhiều người đã cho rằng truyện Nôm
Nam Hải Quan Âm được viết bởi hòa thượng Chân Nguyên Trong bài Giới thiệu vài nét về văn học Phật giáo Việt Nam - bài giảng Phật học cơ bản của Ban Hoằng
Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, tác giả Thích Tâm Hải cũng khẳng
Trang 26định rằng: Thiền sư Chân Nguyên (1647 - 1726) đã viết các truyện Nôm: Nam Hải Quan Âm, Đạt Ma thái tử bản hạnh
Có thể thấy yếu tố Phật giáo trong Nam Hải Quan thế âm rõ rệt hơn, xuất hiện dày đặc hơn ở Quan Âm Thị Kính Quan Âm Thị Kính gắn với đời nhiều hơn, Quan Âm Nam Hải lại gắn với đạo nhiều hơn Nếu Thị Kính đi tu vì những khổ
đau trong đời thực, thì Diệu Thiện lại đi tu vì niềm tin tôn giáo Nhiều người đã xem tác phẩm này như một cuốn kinh của đạo Phật, thật dễ hiểu và dễ tác động
đến nhân tâm Tuy vậy, Nam Hải Quan thế âm không phải là một thứ “diễn ca” dễ
dãi, khô khan mà thực sự là một tác phẩm có phẩm chất và cốt cách văn học, phản ánh tư tưởng ước vọng của nhân dân trong giai đoạn khủng hoảng của xã hội phong kiến
Truyện Mục Liên Thanh Đề (còn có các tên gọi khác như Mục Liên bản hạnh, Mục Kiền Liên, Mục Liên Thanh Đề tân san): hiện cũng chưa rõ thời gian ra
đời và ai là tác giả, chỉ biết rằng nó được diễn âm bằng thể thơ lục bát, được khắc
in và lưu hành ở Việt Nam từ rất sớm, gắn với lễ nghi và sinh hoạt Phật giáo Trong các bản in bằng chữ quốc ngữ hiện còn, đáng chú ý là bản phiên âm từ chữ Nôm
và kèm theo chú thích của Hoàng Xuân Hãn (gồm 162 câu lục bát) “Tôi nghĩ rằng văn bản nầy đáng được coi là khắc tự đời Lê, trước 1731” (Hoàng Xuân Hãn, Paris ngày 4/9/1994, Phật lịch 2538) Ngoài ra còn có các bản in quốc ngữ của Đặng Lễ
Nghi (1930), Lê Duy Thiện (1934), Khấu Vô Nghi (1930)… So với Quan Âm Thị Kính hay Nam Hải Quan Thế Âm thì truyện thơ Mục Liên Thanh Đề ít phổ biến
trong dân gian hơn Nhưng tích truyện về ngài Mục Kiền Liên (còn gọi là Mục Liên) lại được lưu truyền nhiều trong các sách Phật giáo, đặc biệt trong những mùa
Vu Lan báo hiếu, khi người ta kể về công ơn của các bậc sinh thành và những tấm gương chí hiếu Có thể coi đây là sự tích tiêu biểu cho luật nhân quả của nhà Phật, được biên soạn thành kinh, gọi là kinh Mục Liên
Bà Thanh Đề, mẹ của ngài Mục Liên, là người ác nghiệt Sau khi chết đi,
bà bị đày vào ngục Ngạ quỷ (ma đói) Khi ấy Mục Liên còn làm đệ tử của Phật Một ngày, Mục Liên dùng nhãn giới siêu phàm nhìn xuống địa ngục, ngài thấy mẹ
bị đày ải khổ sở, chỉ còn một nắm xương khô Ngài xin được xuống thăm mẹ, mời
Trang 27mẹ ăn chuối Bà bóc vỏ, ném xuống đất, lại lấy chân dày cho nát để các tù nhân khác không thể lượm ăn Mục Liên lại dùng phép biến hóa ra một bát cơm đưa cho
mẹ Nhưng lạ thay, khi cơm đưa đến miệng bà Thanh Đề liền biến thành lửa, khiến
bà vô cùng đau đớn Thương mẹ, Mục Liên cầu đức Phật cứu độ cho mẹ Đức Phật dạy phải tụng kinh Vu Lan Bồn, và nhằm ngày rằm tháng Bảy âm lịch làm lễ siêu
độ, cúng dường Tam Bảo Nhờ đó, mẹ ngài được thoát nạn Truyện Mục Liên Thanh Đề nhấn mạnh đến luật nhân quả, đến lòng hiếu thảo chí thành của ngài
Mục Liên
Truyện thơ Nôm Lưu Hương diễn nghĩa bảo quyển là một phát hiện mới
gần đây ở chùa Hội Khánh (Bình Dương) Sách cổ bằng chữ Nôm do hai tín nữ Nguyễn Từ Nguyên và Huỳnh Diệu Trúc tự bỏ tiền san định lại năm 1908 Gần
đây, Lưu Hương diễn nghĩa bảo quyển đã được Phan Thanh Đào dịch ra tiếng Việt,
do hội Khoa học lịch sử Bình Dương xuất bản Các nhà nghiên cứu Hán Nôm xem
đây là tác phẩm thứ 3 (Sau Quan Âm Thị Kính và Nam Hải Quan Thế Âm) diễn
nghĩa những cổ sự mang tư tưởng Phật giáo nhằm mục đích khuyến thiện, răn đời,
có lẽ cũng là tác phẩm diễn Nôm dài nhất trong số các truyện Nôm về Phật Quan
Âm (3306 câu thơ lục bát) Cốt truyện đề cập đến những hành động từ bi bác ái của nàng Lưu Hương - cô gái vốn sinh ra đã mang mùi hương tự nhiên Cô khuyên cha mẹ bỏ nghề buôn bán rượu thịt, vì cô tin vào thuyết nhân quả và đã được cha
mẹ chấp thuận Dung lượng lớn của truyện kể về nỗi khổ cùng cực, những niềm oan khiên của Lưu Hương khi làm dâu gia đình họ Mã Nhưng cuối cùng, với tính nhẫn nhục chịu đựng, lòng thành kính, Lưu Hương đã cảm động được cả đất trời,
cả các sinh vật và cảm hóa được gia đình chồng, ngay cả bà mẹ chồng và hai chị dâu ác nghiệt Truyện còn đề cao lòng hiếu thảo của con người Tác phẩm khuyên mọi người hãy có lòng từ bi và hạnh nhẫn nhục, không sát sinh, không tà dâm, không ham mê sắc dục, khuyên mọi người nên giữ ngũ giới của đạo Phật
Toàn bộ câu chuyện đặt trên cơ sở tinh thần nhẫn nhục, giữ giới, kiêng sát sanh của Phật giáo, lại đề cao thuyết nhân quả Cốt truyện đặt trên quan điểm phổ biến của văn học cổ điển: “Tích thiện phùng thiện tích ác phùng ác” Mâu thuẫn được phản ánh trong tác phẩm là những mâu thuẫn
Trang 28xảy ra trong gia đình: Mâu thuẫn giữa mẹ chồng và nàng dâu, mâu thuẫn giữa những chị em dâu trong gia đình (Phan Thanh Đào, 2006)
Ngoài ra có thể kể đến một vài truyện thơ Nôm tôn giáo khác như: Đạt Ma thái tử bản hạnh, Cổ Châu Pháp Vân bản hạnh, Tỉnh mê một cõi (tức Hứa Sử
truyện), Thơ Phật Tổ ra đời, Thơ Phật Thích Ca…mà trong điều kiện hạn hẹp,
chúng tôi chưa có điều kiện khảo sát kĩ
1.1.3 Đặc điểm truyện thơ Nôm tôn giáo
Bên cạnh các đặc điểm chung của văn học trung đại, của thể loại truyện thơ Nôm, kiểu truyện thơ Nôm tôn giáo còn mang những đặc trưng riêng Cho đến nay vẫn chưa có một nghiên cứu nào chỉ ra những đặc điểm của tiểu loại này Để có một công trình đầy đủ, toàn diện có lẽ cần nhiều thời gian và công sức Ở đây, chúng tôi mạnh dạn nêu ra một vài đặc điểm chính về nội dung tư tưởng và nghệ thuật sau:
Thứ nhất, truyện thơ Nôm tôn giáo chịu sự chi phối của vận động văn học
dân tộc thời hậu kì trung đại và tinh thần dung hòa tam giáo
Nằm trong dòng chảy của văn học dân tộc, truyện thơ Nôm tôn giáo chịu
sự chi phối toàn diện về thể tài, nội dung tư tưởng cũng như thi pháp của vận động văn học thời hậu kì trung đại (khoảng từ thế kỉ XVII đến cuối thế kỉ XIX) Đó là
sự phát triển của trào lưu nhân đạo chủ nghĩa và cảm hứng nhân văn Nổi bật lên trong các truyện thơ Nôm tôn giáo là tiếng nói bênh vực quyền sống của con người,
ca ngợi vẻ đẹp của con người và đấu tranh giải phóng con người, nhất là người phụ
nữ Bên cạnh đó còn là tiếng nói phản kháng chế độ phong kiến hà khắc, đày đọa con người, chà đạp lên nhân phẩm con người Văn học thời kì này cũng chứng kiến
sự lên ngôi của các sáng tác bằng chữ Nôm Đây là mảng sáng tác đáng lưu ý nhất
và đạt được nhiều thành tựu rực rỡ ở cả bộ phận truyện Nôm bình dân và truyện thơ Nôm bác học Các sáng tác bằng chữ Nôm có xu hướng khuyết danh, bình dân hóa được phổ cập rộng rãi Đây là một thể loại văn học tự thân, thuần Việt, mang tính nội tại, trong đó kiểu truyện thơ Nôm tôn giáo đóng góp một vị trí không nhỏ
Phật giáo ở Việt Nam vốn có tính tổng hợp và tính linh hoạt, do vậy nó có khả năng dung hợp với các tín ngưỡng truyền thống của dân tộc (tín ngưỡng thờ
Trang 29Mẫu, tục thờ ông bà tổ tiên, sùng bái các hiện tượng tự nhiên, thờ các vị thần, các anh hùng dân tộc…), đồng thời dung hợp với các tôn giáo ngoại lai khác (Nho giáo, Đạo giáo) tạo thành hiện tượng tam giáo đồng nguyên (tam giáo đồng quy, tam giáo nhất thể) trong văn hóa, văn học Tính chất này có thể thấy rất rõ trong các truyện thơ Nôm nói chung và đặc biệt ở truyện thơ Nôm tôn giáo Ba trong số bốn truyện được chúng tôi khảo sát kể chuyện về các Phật bà (Bà Thị Kính, chúa
Ba, Lưu Hương), rất gần với tín ngưỡng thờ mẫu, tôn sùng người phụ nữ của người
Việt Quan Âm Thị Kính, Quan Âm Nam Hải, Mục Liên Thanh Đề đều nhấn mạnh đến chữ Hiếu, đó vừa là nền tảng của giáo lí Phật giáo, vừa là hạt nhân của đạo Nho Tinh thần giữ giới luật, kiêng sát sinh trong Lưu Hương diễn nghĩa bảo quyển
cũng rất gần với chủ trương sống thuận với tự nhiên, yêu thiên nhiên, quý sự sống của Đạo giáo Nàng Lưu Hương khuyên chồng là Mã Ngọc học hành, đi thi để phò vua giúp nước, Thiện Sĩ dùi mài kinh sử đêm ngày lại rất gần với phạm trù chữ
Danh của đạo Nho Đó có lẽ là sự dung hợp giữa tư tưởng tôn trọng Phật, Pháp,
Tăng và sự đề cao quân, sư, phụ Trang Vương với mong mỏi có con trai nối ngôi, ngăn cản Diệu Thiện đi tu là biểu hiện cực đoan của một tín đồ đạo Khổng điển hình Nhân vật Thị Kính trước khi xuất giá đi tu được xây dựng đúng như hình mẫu của người phụ nữ theo chuẩn mực của đạo Nho (tam tòng, tứ đức) Sự tu luyện của chúa Ba, những phép thuật biến hóa, phương thuốc tiên cứu sống Trang
Vương… trong truyện Quan Âm Nam Hải lại mang màu sắc Đạo giáo…
Như vậy, có thể nói đặc điểm của văn học trung đại Việt Nam thời hậu kì
và tinh thần tam giáo đồng nguyên để lại dấu ấn đậm nét trong các truyện thơ Nôm tôn giáo
Thứ hai, truyện thơ Nôm tôn giáo có sự vận động theo hướng dân tộc hóa
và hướng về đại chúng
Mặc dù hình thành trong sự ảnh hưởng sâu sắc, toàn diện bởi yếu tố ngoại
lai (đặc biệt là Hán học) như: cốt truyện (vay mượn), đề tài (khai thác từ đề tài tôn giáo), thi pháp (ước lệ, sùng cổ, phi ngã), tư tưởng (ảnh hưởng học thuyết Nho
giáo trong các mối quan hệ gia đình xã hội)…, song có thể nói ở mảng truyện thơ Nôm tôn giáo đã có sự vận động đáng kể theo hướng dân tộc hóa Bên cạnh những
Trang 30yếu tố dân tộc hóa chung của truyện thơ Nôm như: sử dụng văn tự chữ Nôm, thể loại thuần Việt (truyện thơ), thể thơ dân tộc (thơ lục bát, song thất lục bát), thì yếu
tố dân tộc hóa dễ thấy nhất ở truyện thơ Nôm tôn giáo là ở nội dung thế sự Hầu như các tác phẩm đều xoay quanh chuyện gia đình, tình cha con, nghĩa vợ chồng, đạo hiếu nghĩa…và con đường để thoát khổ Đặc biệt, truyện thơ Nôm tôn giáo đã xây dựng được cho mình những giá trị cao cả, bám sát tinh thần nhân văn của Phật giáo, trong đó chủ nghĩa nhân đạo là cảm hứng chính Về thi pháp, bên cạnh sự vay mượn điển tích điển cố, văn thi liệu Trung Hoa, Ấn Độ, thì các tác giả truyện thơ Nôm tôn giáo còn sử dụng văn thi liệu của văn học Việt Nam, cảnh vật, địa
danh, con người ở Việt Nam (như ngôi chùa Vân trong truyện Quan Âm Thị Kính chính là chùa Dâu (Pháp Vân tự) ở Bắc Ninh, Hương Tích Sơn trong Quan Âm Nam Hải chính là ngôi chùa ở Hương Sơn - Hà Tĩnh…)
Trong khi hầu hết văn học viết Việt Nam thời trung đại, bao gồm cả truyện thơ Nôm bác học, thơ Nôm Đường luật đều hướng tới công chúng tầng lớp Nho sĩ (đây là đẳng cấp cao nhất trong các thứ hạng sĩ nông công thương thời phong kiến, lại là tầng lớp chỉ chiếm số lượng ít nhất trong xã hội), thì truyện thơ Nôm tôn giáo hướng đến đối tượng công chúng là đại chúng nhân dân Đa số tầng lớp trong xã hội đều có thể tiếp cận được, kể cả người không biết chữ Bởi đơn giản mục đích của các truyện thơ Nôm tôn giáo là truyền bá giáo lý nhà Phật, lại lưu truyền bằng con đường truyền miệng, khuyết danh, hình thức thơ dễ nhớ, dễ đọc (thể lục bát dân gian) Do vậy nó được đông đảo quần chúng đón nhận, dễ đi vào lòng người
và thành món ăn tinh thần của đại chúng
Thứ ba, truyện thơ Nôm tôn giáo khai thác đề tài Phật giáo và ảnh hưởng
tư tưởng của Đại thừa Bắc tông
Tôn giáo vốn dĩ là đề tài bất tận cho nhiều ngành nghệ thuật, không chỉ có văn chương Và ngoài Phật giáo, các tôn giáo khác cũng đã đổ bóng trong rất nhiều công trình nghệ thuật văn chương, hội họa, điêu khắc… Truyện thơ Nôm tôn giáo
ở Việt Nam thời trung đại dĩ nhiên lấy các câu chuyện từ trong kinh sách Phật giáo hay các truyện cổ Phật giáo (những chuyện khá gần gũi với đời sống của Việt Nam) làm đề tài cho mình Trong truyện thơ Nôm tôn giáo và hầu hết các truyện
Trang 31cổ Phật giáo ở nước ta, những câu chuyện về cuộc đời của các vị Phật chính thống như Thích Ca Mâu Ni, Phật A Di Đà thường là rất hiếm Hầu hết truyện thơ Nôm tôn giáo khai thác sự tích của các vị Phật như Phật Bà Quan Âm, Mục Kiền Liên, hay những kẻ tu hành đắc đạo như bà Lưu Hương… Phần nhiều trong số đó là các Phật bà (Thị Kính, Lưu Hương, chúa Ba) trong khi Phật giáo gốc vốn không có Phật là nữ giới Đây chính là điểm khác biệt trong nhận thức của con người Việt Nam về các vị Phật, thể hiện sự tiếp biến của các tôn giáo trong lòng xã hội Việt Nam, nơi mà văn hóa mẫu, tín ngưỡng thờ Mẫu luôn được đề cao
Phật giáo Đại thừa thấm nhuần trong các truyện thơ Nôm tôn giáo, trên tất
cả các khía cạnh, từ nhân sinh quan, vũ trụ quan tới hệ thống triết lí Hầu hết các truyện đều nhằm soi sáng luật nhân quả, đề cao chữ hiếu với cha mẹ (Ngài Mục Liên, Thị Kính, Chúa Ba đều là những tấm gương sáng về đức hiếu nghĩa), sự nhẫn
nhục và lòng từ bi đến tận cùng để đạt được giác ngộ (Quan Âm Thị Kính, Quan
Âm Nam Hải, Lưu Hương diễn nghĩa bảo quyển), hay khuyên chúng sinh không
tà dâm, không nên sát sinh, không tham sân hận… Cửa Phật rất rộng mở, phổ độ chúng sinh, không chỉ những kẻ xuất gia lên chùa đi tu thì mới đắc đạo, mà những người có tâm tu hành, một lòng hướng Phật, đều có thể lên miền cực lạc, như các
nhân vật: đứa con Thị Màu, cha mẹ Thị Kính trong truyện Quan Âm Thị Kính, Diệu Thanh, Diệu Âm trong Quan Âm Nam Hải cũng trở thành Văn Thù Bồ Tát,
Phổ Hiền Bồ Tát Nhìn chung các tác phẩm đều có tính hướng thiện, khuyên con người nên giữ ngũ giới của đạo Phật, và hướng con người đến bến bờ giải thoát Chỉ với mười lời khuyên của nàng Lưu Hương ta đã thấy giáo lí của Đại thừa Phật giáo thật sâu sắc mà rất đỗi nhẹ nhàng qua những vần thơ lục bát:
Một là tin tưởng Phật trời Thờ cha kính mẹ hiếu thời vi tiên Hai là tu đức hồi thiên
Từ bi nhẫn nhục cố kiên tinh thần
Ba là rượu thịt chớ gần
Ăn chay niệm Phật ân cần thiện vi Bốn là dục sắc đoạn ly
Trang 32Trừng tâm thanh tịnh lễ nghi vẹn toàn Năm là hòa thuận xóm làng Bần dân ân xá bạc vàng đừng tham
Sáu là tu tạo chùa am Ngân tiền bố thí chớ cam một mình Bảy là an dưỡng tín thành
Đê tâm hạ khí từ thìn nết na Tám là chớ nói sai ngoa
Cố ngôn cố hạnh gần xa yên vì Chín là lập chí tu trì Kiên tâm luận đạo thần kì kính khâm Mười là chẳng đặng tà dâm Sát sanh hại vật sắc âm chớ gần
(Phan Thanh Đào, 2006)
Thứ tư, truyện thơ Nôm tôn giáo đề cao các triết lí nhà Phật
Phật giáo là một tôn giáo, đồng thời là một trường phái triết học: triết học Phật giáo Triết học Phật giáo là triết học thực tiễn, vừa có tính duy tâm, lại vừa hết sức duy vật và biện chứng Sở dĩ nói triết học thực tiễn bởi hệ thống triết lí, quan niệm mà nó nêu ra chủ yếu hướng tới mục đích giúp các Phật tử vận hành,
áp dụng những nguyên lí ấy vào cuộc sống tu tập của mỗi cá nhân để đạt tới bến
bờ giác ngộ Nói đến triết lí nhà Phật là nói đến các khái niệm (thuật ngữ) như: tứ diệu đế (bao gồm khổ đế, tập đế, diệt đế, đạo đế), Tam pháp ấn (bao gồm: khổ, vô ngã, vô thường)… Các khái niệm này được trình bày rõ trong các kinh điển Phật
giáo
Trước hết là quan niệm về Khổ (bát khổ) Khổ là một triết lý bao trùm của Phật giáo, là cơ sở của Tứ diệu đế, triết lý này thường được dân gian đúc rút ngắn gọn trong câu: “đời là bể khổ” Quả thực vậy, cuộc đời con người luôn vận động trong vòng tuần hoàn sinh - lão - bệnh - tử, và vì “thụ ngũ uẩn” mà sinh ra bát khổ
Đức Phật nói: “Nước mắt chúng sinh dồn lại nhiều hơn nước bốn bể” Chúng ta thấy tất cả các truyện thơ Nôm tôn giáo đều đề cập tới nỗi khổ trầm luân của kiếp
Trang 33người Mở đầu truyện Quan Âm Thị Kính là lời “chỉ đường chính giác”: con người
muốn tu hành đắc đạo phải vượt qua được nỗi khổ của đời mình:
Nhân sinh thành Phật dễ đâu
Tu hành cứu khổ rồi sau mới thành
(Câu 1 - 2)
Cả cuộc đời Thị Kính, trên con đường tu tập để đạt tới Niết Bàn đã trải biết bao khổ cực: khổ vì sinh ra là thân con gái trong một xã hội nam quyền, khổ vì gia đình nhà chồng vu oan, chồng nhu nhược không biết bảo vệ vợ Để đi tu, nàng phải phạm ngũ giới, đó là tội nói dối “giả hình nam tử”, để rồi những nỗi khổ lại thêm chất chồng: bị Thị Màu - một đứa con gái lẳng lơ trong làng - ve vãn, trêu ghẹo, rồi vu oan; bị làng đánh đập, bị người đời mỉa mai nhiếc móc, phải ra ở tam quan, phải nuôi con người rồi vì kiệt sức mà chết… Nàng công chúa Diệu Thiện trong
Quan Âm Nam Hải hay Lưu Hương trong Lưu Hương diễn nghĩa bảo quyển lại
chịu nỗi khổ “oán tăng hội”: tức phải sống chung với những gì mình không thích hoặc oán ghét Diệu Thiện không thích hợp với cuộc sống lụa là trong cung trên danh phận của một công chúa, Lưu Hương từ nhỏ đã chay tịnh niệm Phật, không muốn lấy chồng Khi bị vua cha, gia đình ép họ phải làm theo những gì sắp đặt thì
đó là căn nguyên của nỗi khổ: Diệu Thiện bị Trang Vương sai người tra tấn năm lần bảy lượt, Lưu Hương bị gia đình nhà chồng hành hạ, vu oan giá họa đến thừa
sống thiếu chết Nỗi khổ của ngài Mục Liên trong Mục Liên Thanh Đề là phải
chứng kiến mẹ mình chịu khổ vì hình phạt do những lỗi lầm mà bà gây ra, dù đó
là nỗi khổ sau khi chết Riêng với nhân vật bà Thanh Đề là nỗi khổ chồng lên nỗi khổ Lúc sống bà khổ vì tham sân si, vì “sở cầu bất đắc”, lúc chết xuống địa ngục
bà phải chịu khổ vì luật nhân quả
Con đường để thoát khổ không gì khác hơn là tu tập Bát chánh đạo - tức
con đường tu hành chân chính với tám nhánh (chi) Các nhân vật chính trong nhóm
truyện thơ Nôm tôn giáo đều thực hành bát chánh đạo: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh mạng, chánh nghiệp, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định
Thị Kính chuyên cần tu tập, xin sữa nuôi con Thị Màu là chánh tinh tấn, Lưu Hương dùng lời nói ôn hòa, việc làm chân chính của mình mà cảm hóa được bao
Trang 34nhiêu người, kể cả người gian ác, kể cả loài súc vật hươu nai, đó là chánh ngữ, chánh nghiệp Mục Liên tìm mọi cách cứu mẹ ra khỏi địa ngục Ngạ quỷ là chánh nghiệp Diệu Thiện từ bỏ cuộc sống nhung lụa quyền quý để lên chốn rừng xanh
núi thẳm tu hành, sống cuộc đời khổ hạnh đó là chánh kiến… Việc thực hành bát chánh đạo một cách nghiêm túc, tự nguyện đã giúp các nhân vật thoát khỏi bể khổ
trầm luân của cuộc đời, vượt qua vòng luân hồi sinh tử, vươn lên đến đời sống viên
mãn, hạnh phú.c, cực lạc, quả phúc vẹn tròn Trong Quan Âm Thị Kính: “Truyền
rằng nào tiểu Kính Tâm - Phi thăng làm Phật Quan Âm tức thì” (câu 75 - 76); trong
Nam Hải Quan Thế Âm: “Sắc phong là Quan Thế Âm - Phổ Đà Nham, cả bể Nam mình Ngài” (Bùi Thức Phước, 2015) Trong Lưu Hương diễn nghĩa bảo quyển, nàng Lưu Hương được phi thăng làm Bảo Nguyệt Phật: “Hương nữ đức bị phước
toàn - Bảo Nguyệt tôn Phật khỏi đường oan khiên” (Phan Thanh Đào, 2006)
Phật pháp quan niệm đời là vô thường, vô ngã Vô thường là một trong
những thuyết cơ bản của Phật giáo, coi vạn vật trên thế gian này không có gì là thường trụ thường hằng cả Mỗi vật sinh ra, biến đổi rồi chuyển hóa thành cái khác
Thế giới cũng không đứng yên mà vận động trong từng sát na (sát na: đơn vị tính
thời gian rất ngắn của nhà Phật: nhỏ hơn cả một giây) Các truyện thơ Nôm tôn giáo đã thể hiện rõ cái triết lí vô thường ấy của thế gian, của con người Hãy xem
Quan Âm Thị Kính, đoạn Thị Kính cắt râu mọc ngược của chồng rồi bị vu oan, bị
đuổi về nhà cha mẹ (từ câu 121 - 190), học giả Thiều Chửu gọi tên phần này là
“Thế gian vô thường” Cuộc sống tưởng như êm đềm trôi đi với cảnh “Kẻ đường kim chỉ người người nghề bút nghiên”, nào ngờ sự thể đổi thay quá nhanh “Nước trong bát, đã dời tay - Có còn bốc lại cho đầy được chăng” Thiều Chửu đã giảng giải trong phần “thích” rằng: “Cho hay thế gian đất nước, thân thể còn là vô thường, huống chi là cảnh ngộ của con người Bãi bể nương dâu, nay còn mai mất, trăm năm thân thế, như bóng câu qua cửa, có cái gì là lâu dài, là vững bền Sinh tử tử sinh như bánh xe quay tít, sướng khổ khổ sướng, cũng làm nhân quả cho nhau”
(Thiều Chửu, 2007) Trang Vương trong Nam Hải Quan Thế Âm hôm nay còn là
ông vua hét ra lửa, đánh đông dẹp bắc, tham vọng không dừng, thì ngày mai đã
Trang 35bệnh tật đầy mình, không còn thiết đến ngai vàng, danh vọng, thấy cuộc đời chỉ là phù du, ảo ảnh
Đi liền với vô thường là vô ngã Vô ngã là không có cái ta, tức không có cái
gì tồn tại vĩnh cửu, vì theo lẽ vô thường, vạn vật biến chuyển không ngừng trong từng phút từng giây, từng sát - na Sự vật cũng như con người, có mặt trên đời này
là do duyên sinh, khi duyên tan rã thì sự vật cũng tự diệt Theo đó, cuộc đời này là
cõi tạm, là không có thật Trong Quan Âm Thị Kính có đoạn:
Đoái trông sự thế nực cười Như đem trò dối mà chơi khác gì Phù vân một đóa bay đi Khi thì áo trắng lúc thì muông đen
(Câu 333 - 336) Truyện thơ Nôm tôn giáo còn hướng con người tới đạo giải thoát, thực hành điều thiện Đức Phật Thích Ca đã dạy đại ý rằng: Nước biển chỉ có một vị, đó là vị mặn Đạo của Ngài cũng chỉ có một vị, đó là vị giải thoát Bên cạnh đó, đọc các truyện thơ Nôm tôn giáo, ta hiểu rõ hơn các khái niệm Địa ngục, thiên đường, luân hồi nhân quả, Bồ Tát giới, nhân duyên… và giáo lí nhà Phật về các khái niệm ấy
Như vậy, trên cơ sở phân tích một số đặc điểm nổi bật của kiểu truyện thơ Nôm tôn giáo, ta thấy rõ ràng đây là một tiểu loại đặc sắc, khu biệt, đầy hấp dẫn đặt trong tương quan với các truyện thơ Nôm cùng thời, xứng đáng có được vị trí trong dòng chảy văn học trung đại Việt Nam
1.2 Truyện thơ Nôm Quan Âm Thị Kính
Quan Âm Thị Kính quả là một tác phẩm có sức sống lâu bền và sự ảnh
hưởng mạnh mẽ trong nền văn hóa, văn học dân tộc Đã mấy trăm năm trôi qua kể
từ khi tác phẩm ra đời và được lưu truyền, từ giới nghiên cứu phê bình đến các độc giả bình dân vẫn không thôi bàn bạc về nó Các vấn đề được nói đến là: tác giả của
truyện Nôm Quan Âm Thị Kính là ai? Có những dị bản nào và đâu là văn bản gốc? Hình tượng và cốt truyện Quan Âm Thị Kính tồn tại dưới những loại hình, thể loại
văn bản nào…
Trang 361.2.1 Vấn đề tác giả
Các nhà nghiên cứu cho rằng đa số truyện thơ Nôm tôn giáo có xu hướng khuyết danh hóa Khuyết danh vì nhiều lí do, có cả vấn đề lịch sử, vấn đề thư tịch, không loại trừ cả lí do quan niệm của tác giả Theo Nguyễn Văn Sâm (2015), “đối với một nhà sư, sự vô danh trong việc trước tác còn quan trọng hơn vì mang ý nghĩa triết lí về kiếp nhân sinh không trường tồn, chỉ là một mắt xích trong chuỗi thời gian thường tồn của cái chân linh mỗi người”, sở dĩ tác giả gạt bỏ tên mình ra khỏi tác phẩm vì coi cái tên của mình vốn không quan trọng, nhất là khi tác giả ấy
lại là một người tu hành Tác giả của truyện thơ Quan Âm Thị Kính đến nay vẫn là
một ẩn số, lâu nay vẫn được xem là truyện khuyết danh Các văn bản Nôm cổ
truyện Quan Âm Thị Kính không đề tên tác giả (có bản ghi “Vô danh thị”), không
có lời dẫn Bản in bằng chữ quốc ngữ đầu tiên năm 1911 của Nguyễn Văn Vĩnh
cũng không ghi tên tác giả Cuốn Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam của các tác giả
Văn Tân, Nguyễn Hồng Phong, Nguyễn Đổng Chi, Vũ Ngọc Phan năm 1958 đã
đặt Quan Âm Thị Kính vào loại tác phẩm khuyết danh và xếp ở thế kỉ XVIII (Dẫn
theo Phạm Đức Duật, 1996) Trong tình hình nghiên cứu văn học những năm 60 của thế kỉ XX, Thanh Lãng đặt câu hỏi: “Tác giả là ai? Là một nhà tôn giáo hay một bậc sĩ phu? Cuốn truyện này ra đời vào thời nào? Chưa ai khảo cứu được cho đích đáng Có lẽ tác giả nó đã sống vào những năm cuối thế kỉ XVIII hay đầu thế
kỉ XIX Là một nhà thơ muốn dùng văn chương truyền bá đạo Phật, đi ngược lại phong trào bài bác hay dửng dưng với đạo Phật của đầu thế kỉ XIX” (Thanh Lãng, 1967) Với nỗ lực tìm tòi, khảo cứu, bảo tồn các văn kiện Hán Nôm của giới nghiên
cứu, hiện nay tồn tại hai giả thuyết về tác giả của Quan Âm Thị Kính như sau:
Giả thuyết thứ nhất cho rằng tác giả Quan Âm Thị Kính là Đỗ Trọng Dư
(1786? - 1868?), một danh sĩ đời Gia Long Trong cuốn Lược truyện các tác gia Việt Nam do Trần Văn Giáp chủ biên xuất bản lần đầu năm 1962, Tạ Phong Châu, Nguyễn Văn Phú, Nguyễn Tường Phượng và Đỗ Thiện đã xác định tác giả Quan
Âm Thị Kính chính là: “Đỗ Trọng Dư, người làng Đại Mão, huyện Siêu Loại (sau
là phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh cũ, nay thuộc tỉnh Hà Bắc) Không biết ông sinh và mất năm nào Năm 1819 (Gia Long thứ 18), ông đậu Hương cống cử (cử
Trang 37nhân), làm quan đến Tri huyện, rồi bị cách Tác phẩm của ông còn lại có: Một áng
văn Nôm Quan Âm Thị Kính (theo gia phả họ Đỗ)” Trong sách Huấn địch thập điều xuất bản năm 1971, Đỗ Hữu Mục cũng nhận định Đỗ Trọng Dư - một trong
những nhân vật quan trọng của nhà Nguyễn, đậu thứ 20 trên 23 cử nhân trúng cách
khoa Kỷ Mão 1819, sau bị cách chức vĩnh viễn - chính là tác giả của Quan Âm Thị Kính Và gần đây, trong cuốn Đỗ Trọng Dư - con người và tác phẩm: Quan Âm Thị Kính âm chất diễn Nôm (2008), tác giả Dương Xuân Thự trên cơ sở đối chiếu
gia phả dòng họ Đỗ ở Bắc Ninh và những nghiên cứu kĩ lưỡng của mình, đã một lần nữa khẳng định Đỗ Trọng Dư chính là người đã diễn Nôm tích truyện này đầu tiên Gia phả họ Đỗ ở Bắc Ninh viết:
Tiên quân nhanh nhẹn sáng suốt, có tài lạ thường, làm thơ không nặn nọt,
mở miệng thành vần, văn chương có nhiều kì thú (…) Ngoài 80 tuổi vẫn không lúc nào ngồi rỗi, không dừng giấy bút… Lúc bình sinh trước thuật
rất nhiều, nhưng thất lạc gần hết, chỉ còn bộ Tứ tự sử lược, bộ Nam phong giải trào, bộ Quan Âm Thị Kính, bộ Âm chất giải âm…”
(Dương Xuân Thự, 2008) Sau này, khi Đỗ Trọng Dư mất đi, con trai là cử nhân Đỗ Trọng Vĩ đã chép lại tác phẩm này (1876) Cuộc đời nhiều thăng trầm cùng những biến cố của thời cuộc loạn li đã được ông giãi bày trong các trước tác: “Đỗ Trọng Dư đã gửi nỗi
niềm tâm sự vu oan vào tác phẩm của ông: Quan Âm Thị Kính” (Dương Xuân Thự, 2008) Ngoài Quan Âm Thị Kính, ông còn viết cuốn Âm chất diễn Nôm, Hành kinh thi, Lạng hành thi tập, Tự tri ngâm…
Hướng nghiên cứu thứ hai cho rằng tác giả Quan Âm Thị Kính phải là
Nguyễn Cấp (? - ?), người thôn Thượng, xã Nguyên Khiết, huyện Thọ Xương, nay thuộc Hà Nội Đi đầu cho hướng nghiên cứu này là nhà Hán học kì cựu Hoa Bằng
Hoàng Thúc Trâm (1902 - 1977) Trong bài viết Quan Âm tân truyện, tức Quan
Âm Thị Kính xuất hiện từ bao giờ và ai là tác giả đăng trên Tạp chí văn học số 6 (năm 1970), ông đã khẳng định: Nguyễn Cấp là người đã viết Quan Âm tân truyện Sau này khi in ra chữ quốc ngữ, người ta mới đổi tên thành Quan Âm Thị Kính (Dẫn theo Dương Mai Oanh, 2012) Sách Quốc sử di biên của Phan Thúc Trực
Trang 38cũng nhắc đến chuyện Thiên Trường Tri phủ Nguyễn Cấp vì dính líu kiện tụng mà phải ẩn dật khắp trong Nam ngoài Bắc Sau nhờ Tham tán xứ Lạng Giang là Nguyễn Công Trứ chở che, cho ẩn náu nơi núi rừng, ông gọt tóc sống đời tu hành
tại đây, cuối đời, ông viết Quan Âm tân truyện để giãi bày lòng mình Sách viết:
“Cấp cùng Đỗ Trọng Dư xã Đại Mão, chơi thân với nhau, Cấp có làm Quan Âm tân truyện, để tỏ tình trọng, lại làm bài biện luận về việc cắt tóc, cho Dư vặn hỏi (làm đối thoại)” (Phan Thúc Trực, 2009) Ngoài Quan Âm tân truyện, Nguyễn Cấp còn viết Tam tự kinh quốc âm ca và Lý tưởng truyện…Tương truyền, Nguyễn Cấp
đã dựa vào chùa Bổ Đà để hư cấu ngôi chùa Vân Tự trong truyện, nơi Thị Kính tu
hành Theo đó, có thể suy luận rằng, trong nhà Đỗ Trọng Dư cũng có văn bản Quan
Âm tân truyện, nên con cháu tưởng rằng tác phẩm này do Đỗ Trọng Dư viết
Những giả thuyết trên đây đều có cơ sở khoa học, song chưa có giả thuyết nào đưa ra được bằng chứng xác đáng về tác giả của truyện Nguyễn Huệ Chi nhận định: “Chưa rõ hai giả thuyết trên, thuyết nào gần chân lý hơn Cũng có thể cả hai người, Nguyễn Cấp và Đỗ Trọng Dư đều có liên quan đến việc cho ra đời tác phẩm
Quan Âm tân truyện mà một người đóng vai trò khởi đầu và một người góp phần hoàn chỉnh…” (Đỗ Đức Hiểu và cộng sự, 2004) Điều đáng lưu ý là bản in sớm nhất Quan Âm chính văn tân truyện hiện phát hiện được là bản chữ Nôm do Thịnh
Văn Đường ấn hành năm Mậu Thìn 1868, như vậy khó có thể khẳng định rằng Đỗ Trọng Dư là người diễn ca đầu tiên được, vì bản của Đỗ Trọng Dư đến năm 1876 mới được in ra giấy
1.2.2 Vấn đề văn bản
Vấn đề văn bản truyện Quan Âm Thị Kính cũng được giới nghiên cứu quan
tâm, bởi hiện nay tồn tại nhiều dị bản, kể cả các văn bản Nôm cũng có nhiều:
Truyện Quan Âm Thị Kính bản in năm 1868 mang tiêu đề là Quán Âm Chú Giải Tân Truyện, bằng chữ Nôm Bản này gồm 788 câu thơ lục bát và một lá thư
của tiểu Kính Tâm gửi cho cha mẹ được viết theo lối văn biền ngẫu
Bộ Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu, Hà Nội, 1993, quyển 2,
số thứ tự 2776 nhắc đến 9 bản in (Trần Nghĩa, 1993) Trong đó 4 bản đang được
lưu giữ ở Viện nghiên cứu Hán Nôm là: AB.48: Quan Âm Tống Tử Bản hạnh,
Trang 39Quán Văn Đường, in năm Thành Thái Giáp Ngọ 1884, 56 trang, 17x12.5cm;
AB.638: Quan Âm chính văn tân truyện, Phúc Yên (An) hiệu, in năm Khải Định thứ 4 (1919), 42 trang, 19x23cm, có chữ Hán; AB.639: Quan Âm tống tử bản hạnh,
62 trang, các trang 12, 18 và 20 đã bị mất, được chép lại, 19 x 13.5cm; AB.219:
Quan Âm chú giải tân truyện, Thịnh Văn Đường in năm Tự Đức Mậu Thìn 1868,
54 trang, 17 x 12.5cm, có chữ Hán; 5 bản hiện lưu giữ ở trường Sinh ngữ Đông
phương Pháp Bản in Quan Âm chú giải tân truyện (còn gọi là Quan Âm chính văn tân truyện) do Thịnh Văn Đường in năm Tự Đức Mậu Thìn 1868 là bản quan trọng
nhất, được dùng để phiên âm ra chữ quốc ngữ nhiều lần
Trong bảng liệt kê các văn bản Nôm dùng trong Tự điển – Việt Nam từ điển: mục 54 ghi: Bản in Quan Âm Diễn ca toàn truyện, xuất xứ: Bửu Hoa Các tàng bản,
Bính Thân 1896
Bản in đầu tiên bằng chữ quốc ngữ do Nguyễn Văn Vĩnh ấn hành năm 1911
Năm 1929, Tân Dân thư quán (Hà Nội) xuất bản Quan Âm Thị Kính truyện dẫn giải, bao gồm 30 đoạn nhỏ, do tác giả Đinh Xuân Hội biên tập
Năm 1943, Thiều Chửu soạn cuốn Giải thích truyện Quán Âm Thị Kính, tác
giả chủ yếu dùng triết lí Phật học để giải thích nội dung và câu chữ trong truyện Đây là một công trình quan trọng, đã được tái bản nhiều lần và được nhiều người dùng như là tư liệu đáng tin cậy để khảo cứu
Văn bản do Dương Quảng Hàm giới thiệu tại lần xuất bản duy nhất năm
1961 (Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội) gồm 786 câu lục bát Trong cuốn Việt Nam thi văn hợp tuyển (tái bản nhiều lần), Dương Quảng Hàm một lần nữa giới thiệu lược trích Quan Âm Thị Kính và khẳng định tác phẩm có 786 câu lục bát, chia 5
hồi
Nhà xuất bản Tân Việt năm 1953 đã in Quán Âm Thị Kính, bản do Thi
Nham Đinh Gia Thuyết đính chính và chú thích Năm 1996, nhà xuất bản Đồng Tháp tái bản cuốn này
Bản của Tâm Minh Ngô Tằng Giao, do Diệu Phương xuất bản năm 2008, soạn giả đã dựa vào các văn bản xưa, nhất là bản của cụ Thiều Chửu, để kể lại câu
Trang 40chuyện bằng 1226 câu lục bát, thay thế những điển tích, Hán tự khó hiểu bằng những lời lẽ bình dị giúp quần chúng dễ hiểu hơn…
Cũng theo Nguyễn Huệ Chi (2004), trong quá trình lưu truyền, người ta đã
tự ý sửa lại hoặc thêm thắt Đó là một phần lí do tác phẩm có nhiều dị bản Thậm
chí có bản viết mới hoàn toàn như Truyện Thị Kính lưu hành ở vùng Nghệ Tĩnh Các bản in Quan Âm Thị Kính cơ bản giống nhau về nội dung, cốt truyện, hệ thống
nhân vật Song về từ ngữ có đôi chỗ khác nhau, có thể do phương ngữ vùng miền,
cách phiên âm tiếng Nôm, hoặc các từ ngữ có khuôn vần giống nhau (như tu hành
- tu thành, làm - lắm), trong quá trình lưu truyền (có cả truyền miệng) sinh ra nhiều
dị bản Chỉ cần đem đối chiếu 3 câu mở đầu ta cũng thấy được sự khác nhau đó: Bản của Thiều Chửu (tái bản năm 2003) ghi:
Nhân sinh thành Phật dễ đâu
Tu hành cứu khổ rồi sau mới thành
Ai hay một dạ làm lành
(Câu 1 - 3) Bản của Đinh Gia Thuyết (1996) lại ghi:
Nhân sinh thành Phật dễ đâu
Tu hành có khổ rồi sau mới thành
Ai hay vững dạ làm lành
(Câu 1 - 3)
Bản Quan Âm chính văn tân truyện do Phúc An hiệu tàng bản, năm Khải
Định thứ 4 (1919) ghi là: Ai hay bền dạ làm lành Câu 144, bản của Thiều Chửu
(2003) và Đinh Gia Thuyết (1996) cùng ghi: “Rằng: từ gảy khúc loan hoàng đến nay”, bản của Dương Quảng Hàm (1968) lại ghi: “Rằng: từ gảy khúc phượng