1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nâng cao hiệu quả kiểm soát hoạt đông chuyển giá của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh bình dương

155 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 155
Dung lượng 1,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thông thường, xã hội chỉ nhìn vào hiện tượng định giá chuyển giao mà kết luận có doanh nghiệp này đang thực hiện các hành vi chuyển giá hàm ý không tốt nhưng lại không nhìn vào bản chất

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài “Nâng cao hiệu quả kiểm soát hoạt động chuyển giá

của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Bình Dương” là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện và hoàn thành dưới sự hướng dẫn

khoa học của Thầy PGS.TS Phan Đức Dũng Đề tài được xuất phát từ tình hình thực

tế công tác kiểm soát chuyển giá đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Bình Dương Các số liệu thu thập trong quá trình nghiên cứu là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng

TÁC GIẢ

Nguyễn Thị Hạnh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tác giả xin gửi lời cảm ơn đến tất cả Quý Thầy cô đã tham gia giảng dạy và trang bị kiến thức cho tác giả trong thời gian theo học tại Trường Đại học Thủ Dầu Một Đặc biệt, tác giả muốn gửi đến Thầy PGS.TS Phan Đức Dũng tấm lòng biết ơn sâu sắc, nhờ sự hướng dẫn tận tình, những kiến thức quý báu truyền đạt của Thầy đã giúp cho tác giả hoàn thành bài nghiên cứu một cách tốt nhất

Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn đến các đồng chí, đồng nghiệp ở Cục Thuế Tỉnh Bình Dương và các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp có liên quan đã nhiệt tình giúp đỡ tác giả trong quá trình nghiên cứu đề tài

Mặc dù đã cố gắng, nổ lực hết mình nhưng do kiến thức và khả năng nhận biết vấn đề có hạn nên không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót

Tác giả sẽ tìm hiểu và nghiên cứu tiếp những vấn đề còn hạn chế, thiếu sót trong điều kiện có thể

TÁC GIẢ

Nguyễn Thị Hạnh

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG BIỂU vii

TÓM TẮT viii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1.Tính cấp thiết của đề tài 1

2.Mục tiêu nghiên cứu 3

3.Câu hỏi nghiên cứu 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 5

7 Bố cục đề tài 5

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU TRƯỚC 6

1.1 Các công trình nghiên cứu nước ngoài 6

1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước 11

1.3 Nhận xét và xác định khoảng trống nghiên cứu 13

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 14

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 15

2.1 Cơ sở lý thuyết về chuyển giá ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 15

2.1.1 Khái niệm về doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài 15

2.1.2 Chuyển giá ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 15 2.1.3 Nguyên nhân của chuyển giá 19

2.1.4 Dấu hiệu nhận biết chuyển giá 21

2.1.5 Các hoạt động chuyển giá 22

2.2 Khái niệm về kiểm soát chuyển giá 23

2.3 Các phương pháp định giá thị trường 24

2.4 Các lý thuyết nền có liên quan đến chuyển giá 28

Trang 6

2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách chuyển giá của các doanh nghiệp có

vốn đầu tư nước ngoài 34

2.6 Mô hình nghiên cứu và giả thuyết 43

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 44

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 45

3.1 Quy trình nghiên cứu 45

3.2 Nghiên cứu định tính 46

3.3 Nghiên cứu định lượng 51

3.3.1 Nguồn thông tin thu thập 51

3.3.2 Mẫu nghiên cứu 51

3.3.3 Phân tích dữ liệu 53

3.3.3.1 Thống kê mô tả 54

3.3.3.2 Đánh giá thang đo bằng Cronbach’s Alpha 54

3.3.3.3 Phân tích nhân tố khám phá EFA 55

3.3.3.4 Phân tích hồi quy bội 56

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 58

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 59

4.1 Thực trạng kiểm soát chuyển giá đối với các doanh nghiệp FDI trên địa bàn tỉnh Bình Dương 59

4.1.1 Tình hình kinh tế - xã hội tình Bình Dương 59

4.1.2 Thực trạng chuyển giá của các doanh nghiệp FDI trên địa bàn tỉnh Bình Dương 61

4.1.3 Thực trạng kiểm soát chuyển giá đối với các DN FDI trên địa bàn tỉnh Bình Dương 62

4.2 Thống kê mô tả 64

4.3 Kiểm định độ tin cậy thang đo 65

4.4 Kiểm định thang đo thông qua phân tích nhân tố khám phá EFA 68

4.4.1 Phân tích nhân tố khám phá (EFA) cho biến độc lập 68

4.4.2 Phân tích nhân tố khám phá (EFA) cho biến phụ thuộc 70

4.5 Mô hình nghiên cứu sau khi đánh giá thang đo 71

Trang 7

4.6 Kiểm định mô hình nghiên cứu và các giả thuyết 72

4.6.1 Phân tích tương quan 72

4.6.2 Phân tích hồi quy 75

4.6.3 Dò tìm các vi phạm giả định cần thiết 78

4.6.4 Kiểm định các giả thuyết 79

4.7 Bàn luận kết quả nghiên cứu 82

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 86

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 87

5.1 Kết luận 87

5.2 Hàm ý chính sách 87

5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 94

KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 95

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96

PHỤ LỤC 1: PHIẾU KHẢO SÁT CHÍNH THỨC 100

PHỤ LỤC 2: DANH SÁCH CHUYÊN GIA PHỎNG VẤN 104

PHỤ LỤC 3: BẢNG KHẢO SÁT CHUYÊN GIA 105

PHỤ LỤC 4: KẾT QUẢ KHẢO SÁT CHUYÊN GIA 107

PHỤ LỤC 5: KHẢO SÁT CHUYÊN GIA 108

PHỤ LỤC 6: Ý KIẾN CHUYÊN GIA VỀ XÂY DỰNG THANG ĐO 112

PHỤ LỤC 7: DANH SÁCH KHẢO SÁT 116

PHỤ LỤC 8: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 130

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ITP International Transfer Pricing – Chuyển giá quốc tế FDI Foreign Direct Investment - Đầu tư trực tiếp nước ngoài MNCs Multinational Corporation - Công ty đa quốc gia

TNDN Thu nhập doanh nghiệp

SXKD Sản xuất kinh doanh

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Tóm tắt các kết quả nghiên cứu trước 10

Bảng 3.1: Thang đo các thành phần 49

Bảng 3.2: Tỷ lệ hồi đáp 53

Bảng 4.1: Thông tin mẫu 64

Bảng 4.2: Bảng kết quả phân tích Cronbach’s Alpha 66

Bảng 4.3: Bảng kết quả phân tích EFA các biến độc lập 69

Bảng 4.4: Bảng kết quả phân tích EFA các biến phụ thuộc 71

Bảng 4.5: Bảng tóm tắt giả thuyết trong mô hình nghiên cứu sau đánh giá thang đo 72

Bảng 4.6: Bảng kết quả phân tích tương quan Pearson 73

Bảng 4.7: Bảng chỉ tiêu đánh giá độ phù hợp của mô hình 75

Bảng 4.8: Bảng kiểm định độ phù hợp của mô hình 75

Bảng 4.9: Bảng thông số thống kê của từng biến trong mô hình hồi quy 76

Bảng 4.10: Bảng tóm tắt kết quả kiểm định giả thuyết 82

Hình 4.1: Biểu đồ phần dư chuẩn hóa 78

Trang 10

TÓM TẮT

Thực hiện chính sách “trải thảm đỏ” với nhiều ưu đãi để thu hút vốn đầu tư nước ngoài, hiện Bình Dương đang là địa phương có được nhiều dự án đầu tư nước ngoài đứng thứ ba của cả nước sau thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội Việc thu hút đầu tư nước ngoài đóng góp vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của Bình Dương Bên cạnh, cũng tồn tại nhiều bất cập mà đặc biệt là hiện tượng định giá chuyển giao, trốn thuế ở các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đã và đang tồn tại Tuy vậy, nhưng việc thực hiện chính sách định giá chuyển giao cũng là cần thiết cho các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài nhằm bảo tồn vốn đầu tư để tránh các rủi

ro trong môi trường sản xuất kinh doanh Với mục tiêu xác định các nhân tố ảnh hưởng và định lượng mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố ảnh hưởng đến chính sách định giá chuyển giao, tác giả đã tìm hiểu và đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển giá của doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tại Bình Dương Từ đó, đưa ra những khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát chuyển giá của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Bình Dương

Với kết quả nghiên cứu được thực hiện dựa trên phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với nghiên cứu định lượng Tác giả thu thập dữ liệu bằng các bảng câu hỏi, sau đó số liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm SPSS phiên bản 20.0 với một số phân tích chủ yếu như: thống kê mô tả, kiểm định độ tin cậy của thang đo thông qua hệ số Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích tương quan và hồi quy tuyến tính

Kết quả phân tích hệ số Cronbach’s Alpha cho biết độ tin cậy của thang đo dùng để đo lường các thành phần của 7 nhóm nhân tố đều lớn hơn 0,6 nghĩa là thang đo phù hợp với kiểm định mô hình lý thuyết của đề tài

Kết quả phân tích nhân tố EFA: Kiểm định Barlett: Sig = 0.000 < 5%: Bác

bỏ giả thuyết H0, các biến quan sát trong phân tích EFA có tương quan với nhau trong tổng thể Hệ số KMO = 0.739 > 0.5: phân tích nhân tố là cần thiết cho dữ liệu

Có 7 nhân tố được rút trích từ phân tích EFA với: Giá trị EigenValues của các nhân

tố đều > 1: đạt yêu cầu Giá trị tổng phương sai trích = 59.918% (> 50%): phân tích

Trang 11

nhân tố khám phá đạt yêu cầu Như vậy, 7 nhân tố được rút trích này giải thích cho 59.918% biến thiên của dữ liệu Khác biệt về hệ số tải nhân tố của các biến quan sát giữa các nhân tố đều > 0.3 cho thấy các nhân tố có giá trị phân biệt cao

Kết quả phân tích tương quan: Phân tích tương quan Pearson cho thấy mối quan hệ giữa các biến độc lập với biến phụ thuộc đều có Sig<0,05, chứng tỏ các biến có sự tương quan giữa các biến độc lập với biến phụ thuộc

Kết quả hồi quy tuyến tính: kết quả bảng thông số thống kê của từng biến trong mô hình hồi quy cho thấy tầm quan trọng của các biến này trong mô hình đối với Chính sách định giá chuyển giao của các DN như sau: Nhân tố Chính sách tỷ giá có hệ số Beta là 0.273 nên có tầm quan trọng nhất đối với Chính sách định giá chuyển giao của các DN Thứ 2 là nhân tố Chính sách thuế với hệ số Beta là 0.241 Đứng thứ 3 Lạm phát có hệ số Beta là 0.208 Thứ 4 là nhân tố Thể chế với hệ số Beta là -0.115 Thứ 5 là Chính sách giáo dục quốc gia có hệ số Beta là -0.116 Thứ

6 là là Môi trường pháp lý có hệ số Beta là -0.203 và cuối cùng là Môi trường kinh

tế xã hội với hệ số Beta là -0.215 Từ kết quả nghiên cứu trên, tác giả đưa ra những quan điểm khuyến nghị định hướng nâng cao hiệu quả kiểm soát chuyển giá đối với doanh nghiệp đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Bình Dương

Trang 12

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bình Dương là một tỉnh có nhiều doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài đang hoạt động Đến cuối năm 2018, tỉnh Bình Dương có 3.478 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn đăng ký 31,8 tỷ đô la Mỹ, trong đó có 2.653 doanh nghiệp FDI đang hoạt động Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Bình Dương tăng đáng kể và Bình Dương hiện là địa phương đứng thứ 3 cả nước về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, sau Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội Việc thu hút đầu tư nước ngoài đóng góp vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của Bình Dương như: chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cải thiện năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước, tăng kim ngạch xuất khẩu của nền kinh tế, tăng năng suất lao động, tạo việc làm và cải thiện thu nhập cho người lao động Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được cũng đã tồn tại nhiều bất cập: các dự án nước ngoài tập trung vào khai thác các ưu đãi đầu tư, tận dụng nguồn nhân công giá rẻ, khai thác tài nguyên thô gây ô nhiễm môi trường, không chú trọng chuyển giao công nghệ, đóng góp ngân sách hạn chế và đặc biệt là nổi lên hiện tượng định giá chuyển giao, trốn thuế ở một số tập đoàn đa quốc gia, kể cả các tập đoàn hàng đầu thế giới (Phan Đức Dũng, 2018) Số lượng các giao dịch thương mại xuyên biên giới diễn ra giữa các công ty liên kết ngày một tăng, môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, vấn đề tối đa hóa lợi nhuận cho tổng thể tập đoàn luôn là mục tiêu quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư nước ngoài Ngoài việc nổ lực nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đầu tư, định giá chuyển giao hay còn gọi

là chuyển giá (transfer pricing) được xem là một trong những phương pháp mà các nhà đầu tư thường áp dụng nhằm mục đích tránh thuế, từ đó tổng lợi ích thu được sẽ gia tăng

Trong thực tiễn hiện nay, về góc độ quản lý nhà nước, thường có cái nhìn không thiện cảm về các chính sách định giá chuyển giao của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, điều này hoàn toàn đúng nếu xét về hiện tượng Tuy nhiên, nếu xét về bản chất, vấn đề là tại sao các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thường thiết lập một chính sách định giá chuyển giao, thì sẽ có cái nhìn khách

Trang 13

quan hơn Thông thường, xã hội chỉ nhìn vào hiện tượng định giá chuyển giao mà kết luận có doanh nghiệp này đang thực hiện các hành vi chuyển giá (hàm ý không tốt) nhưng lại không nhìn vào bản chất của vấn đề này, chẳng hạn vấn đề bảo toàn vốn đầu tư liên quan đến rủi ro về tỷ giá, rủi ro về lạm phát hay rủi ro về thảm họa môi trường, … thì chính sách định giá chuyển giao là cần thiết cho những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (hàm ý tốt) (Phan Đức Dũng, 2018)

Cùng với chính sách “trải thảm đỏ” với nhiều ưu đãi để thu hút đầu tư nước ngoài, Bình Dương cũng đang đối mặt với vấn nạn định giá chuyển giao của các doanh nghiệp này Theo thống kê, Bình Dương cũng có trên 50% doanh nghiệp đầu

tư nước ngoài báo cáo thua lỗ từ năm 2006 đến nay Trong thời gian qua, ngành Thuế tỉnh Bình Dương cũng tập trung chống chuyển giá ở các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài có quan hệ liên kết, báo cáo lỗ nhiều năm nhưng vẫn mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, qua kết quả thanh kiểm tra các doanh nghiệp này

đã truy thu, truy hoàn, phạt hơn 988 tỷ, giảm khấu trừ 136,95 tỷ và buộc doanh nghiệp giảm lỗ hơn 4.192 tỷ đồng, nhưng ngành thuế tỉnh Bình Dương cũng như các địa phương khác trong cả nước vẫn chưa kết luận được có trường hợp nào là vi phạm quy định về chuyển giá

Xuất phát từ thực tiễn ở Bình Dương, tác giả lựa chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả kiểm soát hoạt động chuyển giá của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Bình Dương” để nghiên cứu các nhân tố ảnh

hưởng đến chính sách định giá chuyển giao của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Bình Dương Qua đó, nhằm giúp cho các cơ quan quản lý nhà nước ở Bình Dương về vấn đề định giá chuyển giao của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có cái nhìn khoa học hơn, đồng thời, giúp cho việc đề ra các chủ trương hoàn thiện chính sách kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài có chọn lọc, chính sách về kiểm soát chuyển giá trên địa bàn tỉnh Bình Dương ngày càng phù hợp hơn, trong đó, có các chính sách liên quan nhiều hơn đến nội tại của nền kinh tế Bình Dương chứ không đơn thuần là các văn bản pháp quy chỉ để kiểm soát các hoạt động định giá chuyển giao tại các doanh nghiệp này

Trang 14

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát là nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách

chuyển giá của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Bình Dương Từ đó,

đề xuất các hàm ý chính sách nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát hoạt động chuyển giá của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Bình Dương

Mục tiêu cụ thể:

- Xác định và xây dựng mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách chuyển giá của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Bình Dương

- Đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chính sách chuyển giá của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Bình Dương

- Đề xuất các hàm ý chính sách nhằm kiểm soát hoạt động chuyển giá của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Bình Dương

3 Câu hỏi nghiên cứu

- Các nhân tố nào ảnh hưởng đến chính sách chuyển giá của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Bình Dương?

- Những nhân tố này có ảnh hưởng như thế nào đến chính sách chuyển giá của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Bình Dương?

- Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố này như thế nào đến chính sách chuyển giá của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Bình Dương?

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu: của đề tài là các nhân tố ảnh hưởng đến chính

sách định giá chuyển giao của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Trang 15

5 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện thông qua hai phương pháp: phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng

- Nghiên cứu tính:

+ Sử dụng phương pháp thu thập thông tin: thu thập các báo cáo tài chính của một số doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Bình Dương; Các báo cáo kết quả thanh tra doanh nghiệp đầu tư nước ngoài của Tổng Cục Thuế và Cục thuế tỉnh Bình Dương; một số kết luận thanh tra các vi phạm về nghĩa vụ thuế, nghi vấn chuyển giá của Thanh tra Bộ Tài chính, Kiểm toán Nhà nước; Các văn bản quy phạm pháp luật, các báo cáo, đề án, chương trình có liên quan của Bộ Tài Chính, Bộ

kế hoạch – đầu tư, Tổng Cục Thống kê, Tổng Cục Thuế và Cục Thuế tỉnh Bình Dương Bên cạnh đó, còn có các luận án tiến sĩ kinh tế, luận văn thạc sĩ kinh tế, các bài báo khoa học, bài báo thời sự trong nước và nước ngoài có liên quan đến doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài và hoạt động chuyển giá

+ Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng để phân tích các số liệu thống kê, kết quả xử lý số liệu từ phần mềm SPSS để thấy được tác động của các yếu tố của ảnh hưởng đến chính sách định giá chuyển giao trong các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài và liên kết các luận điểm nghiên cứu thành một thể thống nhất nhằm thể hiện được hầu hết các nội dung về vấn đề cần nghiên cứu Đồng thời, giúp trả lời các câu hỏi nghiên cứu một cách logic phù hợp với quy luật, bản chất của vấn

đề

+ Phương pháp so sánh: phương pháp này được sử dụng để tìm hiểu sự khác biệt trong việc tìm kiếm các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách định giá chuyển giao của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài và so sánh kết quả nghiên cứu của tác giả với kết quả của các nghiên cứu trước đã được đề cập đến trong phần tổng quan các công trình nghiên cứu

Bên cạnh đó, với phương pháp định tính tác giả xây dựng và hoàn thiện bảng phỏng vấn: từ mục tiêu ban đầu, dựa trên cơ sở lý thuyết, tác giả xây dựng bảng câu hỏi định tính Tiếp đến sẽ phỏng vấn sâu với 10 cán bộ thuộc các cơ quan quản lý

Trang 16

nhà nước đối với các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Bình Dương nhằm hiệu chỉnh bảng phỏng vấn cho phù hợp với tình hình thực tế

- Nghiên cứu định lượng: với kỹ thuật thu thập dữ liệu là phỏng vấn qua bảng câu hỏi đóng dựa trên quan điểm, ý kiến đánh giá của doanh nghiệp đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Bình Dương Toàn bộ dữ liệu hồi đáp sẽ được xử lý với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS 20.0 Thông tin thu thập sẽ được xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0 Thang đo sau khi được đánh giá bằng phương pháp hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích hồi quy tương quan được sử dụng để kiểm định mô hình nghiên cứu Kết quả nghiên cứu định lượng sẽ xác định nhân tố tác động, mức độ tác động của các nhân tố đến chính sách định giá chuyển giao của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Việc thực hiện nghiên cứu đề tài này có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận cũng như thực tiễn

Ý nghĩa lý luận, đóng góp vào nguồn tài liệu lý thuyết chính sách chuyển giá tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Kiểm định mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách chuyển giá của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài với bằng chứng thực nghiệm

Ý nghĩa thực tiễn, kết quả của nghiên cứu của đề tài là cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp phù hợp trong công tác kiểm soát hoạt động chuyển giá của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Bình Dương

7 Bố cục đề tài

Bố cục luận văn này được chia thành 5 chương như sau:

Chương 1: Tổng quan các đề tài nghiên cứu trước

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận

Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách

Trang 17

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU TRƯỚC

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thương mại quốc tế trong giai đoạn hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay, phương thức, thủ thuật chuyển giá của các doanh nghiệp (DN) ngày càng tinh vi, phức tạp thì việc nghiên cứu để cung cấp bằng chứng thực nghiệm về chuyển giá càng được quan tâm, Chính phủ các nước cũng đặc biệt chú trọng đến việc quản lý các hoạt động thương mại quốc tế nhằm kiểm soát hoạt động chuyển giá của các DN Trong quá trình thực hiện nghiên cứu tác giả tham khảo một số nghiên cứu:

1.1 Các công trình nghiên cứu nước ngoài

Eden (2003), đã vận dụng mô hình hồi quy đa biến, sử dụng bộ dữ liệu về

hàng hóa nhập khẩu của Cục Thống kê lao động Hoa Kỳ- BLS từ 06/1998 đến 03/2000 và tập trung xem xét mối quan hệ giữa cơ cấu thị trường, đặc tính sản phẩm và chuyển giá, cụ thể:

Pijkt = α CONTROLS + β IFT + θ MARKET + φ POLICY + γ IFT * MARKET + ψ IFT * POLICY + ε

bộ so với giá thị trường càng lớn; Quy mô của doanh nghiệp đa quốc gia càng lớn thì càng có nhiều khả năng chuyển giá Trong điều kiện Chính phủ, chênh lệch thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) khuyến khích thao túng giá chuyển giao; Khi thuế suất thuế TNDN nước ngoài thấp hơn ở Mỹ thì những công ty đa quốc gia (MCNs) chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, khi thuế suất nước ngoài cao hơn ở Mỹ thì

Trang 18

nghĩa vụ thuế tổng thể của DN giảm nhưng lại tăng chi phí thuế quan; Biến “Rủi ro chính trị” tác động tiêu cực đến việc định giá theo nguyên tắc thị trường, nhất là với các sản phẩm khác biệt và công nghệ cao; Việc kiểm soát ngoại hối làm giá nhập khẩu của Mỹ tăng Như vậy, tác giả đã tìm thấy bằng chứng trực tiếp, mạnh mẽ về chuyển giá do sự không hoàn hảo của cả thị trường và Chính phủ

Nghiên cứu của Zeki Doğan và cộng sự (2013) về “Các yếu tố ảnh hưởng

đến việc lựa chọn phương pháp và xác định giá chuyển nhượng trong các công ty đa quốc gia: Một trường hợp nghiên cứu về Vương quốc Anh”

Kết quả nghiên cứu chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến việc xác định giá chuyển nhượng và lựa chọn các phương pháp trong điều khoản của các công ty mẹ

và các công ty con được tách thành bốn nhóm: Yếu tố pháp lý, Yếu tố chính trị xã hội, Yếu tố kinh tế bên ngoài, Yếu tố kinh tế nội bộ

Nghiên cứu của Afifah Nazihah và cộng sự (2019) về “Ảnh hưởng của

thuế, sự ủng hộ ban quản trị, cơ chế thưởng và quy mô doanh nghiệp đối với chuyển giá (bằng chứng Indonesia)”

Nghiên cứu này nhằm phân tích ảnh hưởng của thuế, sự ủng hộ ban quản trị,

cơ chế thưởng và quy mô doanh nghiệp đối với chuyển giá trong lĩnh vực sản xuất Nghiên cứu này đã chọn 28 công ty sản xuất được lựa chọn bằng cách sử dụng kỹ thuật lấy mẫu có chủ đích từ tổng số 153 công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Indonesia giai đoạn 2013-2017 Kết quả của hồi quy dữ liệu bảng với mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên cho thấy thuế, cơ chế thưởng và quy mô doanh nghiệp có tác động tích cực đáng kể đến chuyển giá Tuy nhiên, sự ủng hộ ban quản trị không ảnh hưởng đến chuyển giá

Theo Henry Fayol (1949), “kiểm soát là việc kiểm tra để khẳng định mọi

việc có được thực hiện theo đúng kế hoạch hoặc các chỉ dẫn và các nguyên tắc đã được thiết lập hay không, từ đó chỉ ra các yếu kém và các sai phạm cần phải điều chỉnh, đồng thời ngăn ngừa chúng không được phép tái diễn” Gravelle, J.G (2010) cho rằng, tài sản vô hình rất khó xác định đúng giá trị của nó (như tiền bản quyền, tiền sở hữu trí tuệ) và cũng khó xác định giá của chúng trong doanh nghiệp liên kết Trên thực tế, Gruber, H (2003) đã phát hiện ra nguy cơ định giá chuyển giao trong

Trang 19

việc xác định giá tài sản vô hình Các công ty có cơ hội lớn để tham gia vào định giá chuyển giao thông qua chuyển giao tài sản vô hình giữa các doanh nghiệp liên kết có mức thuế khác nhau

Theo Hatem Elsharawy (2006), mỗi quốc gia có một cơ chế chính sách và

pháp luật khác nhau, do đó lãnh đạo doanh nghiệp cần phải hiểu biết về pháp luật tại nước sở tại trước khi tiếp nhận nhiệm vụ lãnh đạo tại mỗi quốc gia Khi Ban Lãnh đạo có trình độ cao, hiểu biết về pháp luật và có đạo đức kinh doanh thì khả năng gian lận trong định giá chuyển giao rất thấp và ngược lại nhận thức, hiểu biết các quy định pháp luật của Ban Lãnh đạo cũng như kế toán trong doanh nghiệp liên kết không cao thì khả năng gian lận trong định giá chuyển giao rất lớn Hatem Elsharawy (2006) cho rằng môi trường pháp luật cũng có ảnh hưởng đến các hoạt động định giá chuyển giao Các yếu tố từ nền kinh tế đóng vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng đến các hoạt động định giá chuyển giao quốc tế Vì vậy, cần thiết nghiên cứu các yếu tố của nền kinh tế ảnh hưởng đến định giá chuyển giao trong các công ty đa quốc gia Đặc điểm về thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, buộc doanh nghiệp phải sử dụng công cụ tài chính phái sinh, để: (i) gia tăng giá trị doanh nghiệp (Froot và cộng sự, 1993); (ii) giảm chi phí phá sản dự kiến và tăng giá trị doanh nghiệp (Smith và Stulz, 1985); (iii) giảm nguy cơ rủi ro tìm ẩn hoặc quản lý rủi ro dự kiến; (iv) bù đắp những rủi ro kinh doanh vốn có (Danthine, 1978); (v) giảm thiểu rủi ro, giảm chi phí vốn vay, ổn định thu nhập Do đó, sử dụng công cụ tài chính phái sinh góp phần quản trị rủi ro và kiểm soát nền kinh tế Theo khái niệm bản chất xã hội của kế toán (Davis và cộng sự, 1982), kế toán góp phần mang lại lợi ích cho xã hội nhằm duy trì và phát triển bền vững xã hội Tuy nhiên, với sự bất đối xứng thông tin kế toán sẽ dẫn đến sự kém phát triển của thị trường tài chính

hệ quả là ảnh hưởng đến các thị trường còn lại Ngoài ra, theo Young (1996), chức năng kế toán là cung cấp thông tin minh bạch cho thị trường hoạt động Quan điểm của Hopwood (1994) cho rằng trong việc thiết lập các quy định, nguyên tắc, chuẩn mực lại được thực hiện bởi nhu cầu của thị trường trong đó bao gồm thị trường vốn, thị trường hàng hóa, thị trường chứng khoán Theo Watts (2006), kế toán góp phần trong quá trình định hướng thị trường Theo quan điểm này, việc tuân thủ các quy

Trang 20

định kế toán nhằm thực hiện công bố báo cáo tài chính sẽ làm cân bằng các mục tiêu của các đối tượng khác nhau, dựa vào các thị trường khác nhau chẳng hạn như việc sử dụng báo cáo tài chính cho các hợp đồng, đầu tư, định giá, Có thể dễ nhận diện nhân tố thị trường là nhân tố có ảnh hưởng đến kế toán tài chính, giữa hàng hóa – kế toán và nhân tố thị trường có mối quan hệ tương quan cùng chiều Như vậy, một thị trường cạnh tranh hoàn hảo và hoạt động hiệu quả với đầy đủ thông tin

về giá cả, chất lượng sẽ làm tăng khả năng áp dụng kế toán công cụ tài chính phái sinh và ngược lại Thị trường sẽ phân bổ vốn và phòng ngừa rủi ro hiệu quả trong điều kiện thông tin kế toán hoàn hảo Do đó, kế toán tài chính đóng vai trò quan trọng để đảm bảo các thông tin có liên quan và đáng tin cậy được công bố (Merino

và Neimark, 1982) Nhân tố pháp lý là cơ sở không thể thiếu để mô tả, đánh giá, phân tích, góp phần thúc đẩy thông tin kế toán khách quan, minh bạch Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu sự bất đối xứng thông tin thông qua quá trình thiết lập, ban hành các quy định về kế toán, về chính sách kinh tế, trong

đó, kế toán có sự tương tác với quy định mang tính pháp lý trong nền kinh tế thị trường Theo quan điểm của Gipper và cộng sự (2013), nhân tố pháp lý có ảnh hưởng đáng kể đến chuẩn mực kế toán được thiết lập, ban hành và thực hiện Ảnh hưởng pháp lý xảy ra khi có sự thay đổi các quy định từ các cơ quan ban hành có nghĩa là một quy định pháp lý được ban hành phải đạt được mục tiêu, phù hợp với chính sách kinh tế, xã hội và các nguyên tắc kế toán (Kothari và cộng sự, 2010) Các cơ quan ban hành các quy định pháp lý phải đảm bảo mang lợi ích xã hội, hoàn thiện sự thất bại thị trường (Posner, 1974) Mặc khác, thông tin kế toán là thông tin

dễ sai lệch bởi tính chủ quan của người lập hoặc do động cơ hay mục đích của nhà quản trị trong việc công bố thông tin do đó để đảm bảo lợi ích xã hội, nhà nước tập trung vào việc ban hành tất cả các quy định liên quan đến kế toán nhằm đạt được thông tin kế toán tốt nhất, đáp ứng nhu cầu thông tin cho tất cả các thành phần kinh

tế, đồng thời giảm thiểu thông tin bất đối xứng Hoạt động của doanh nghiệp đặt trong cộng đồng và xã hội có nghĩa là hoạt động của doanh nghiệp này có thể ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp khác trong mối quan hệ kinh tế - xã hội, cần phải có các quy định mang tính pháp lý, nhằm đảm bảo lợi ích kinh tế cho toàn xã

Trang 21

hội Do đó, kế toán được đặt trong một khuôn khổ mang tính quy chuẩn Điều này cho thấy giữa kế toán và nhân tố pháp lý có mối quan hệ tương quan cùng chiều trong việc kiểm soát chính sách định giá chuyển giao của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Nguyên tắc kế toán, chuẩn mực kế toán là một phần của một quá trình định hướng thị trường (Watts, 2006) Trong doanh nghiệp, nhà quản trị là người ra quyết định kinh tế, tổ chức, quản lý các hoạt động trong đơn vị không thể tách rời bộ máy kế toán Do đó, kế toán phải được kiểm tra, giám sát thông qua các quy định hơn là để cho nhà quản trị tự do lựa chọn cách thức thực hiện kế toán hoặc

tự do thực hiện báo cáo kế toán quản trị Làm thế nào để thiết lập các quy định về chuẩn mực, chính sách kế toán đã khó mà khi thực hiện, áp dụng lại càng khó hơn? Theo Peltzman (1976), các doanh nghiệp phải tuân thủ các quy định kế toán mang tính bắt buộc thực hiện, nhưng lại được chủ động lựa chọn chính sách kế toán theo

hướng có lợi nhất cho công ty

Bảng 1.1 Tóm tắt nhân tố tác động đến chuyển giá của các nghiên cứu trước:

(2003)

Zeki Doğan

và cộng

sự (2013)

Afifah Nazihah

và cộng

sự (2019)

Hatem Elsharawy (2006)

Gipper

và cộng

sự (2013)

Trang 22

1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước

Theo nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Thanh, Phan Đức Dũng, Nguyễn Thị Liên Hoa (2000a), “Các biện pháp chống chuyển giá tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại TP HCM” Đề tài nghiên cứu khoa học, Sở Khoa học công nghệ môi trường TP HCM, các tác giả đã trình bày hoạt động của các công ty đa quốc gia ở Việt Nam, nêu lên được những thực trạng của vấn đề chuyển giá và đánh giá các biện pháp chống chuyển giá đang được áp dụng tại Việt Nam trong thời gian này có phù hợp hay không Hơn nữa, vấn đề chống chuyển giá được Việt Nam cũng như các nước trên thế giới quan tâm đó là làm cách nào để xác định giá thị trường trong các giao dịch liên kết giữa các công ty đa quốc gia, thì mới có thể giải quyết được phần nào vấn nạn chuyển giá Điều này đòi hỏi cả doanh nghiệp và cơ quan thuế cần phải chuẩn bị làm quen để khắc phục dần những khó khăn này Bên cạnh

đó, các tác giả đã tập trung tìm hiểu những khái niệm cơ bản liên quan đến công ty

đa quốc gia cũng như quá trình chuyển giá, tác động của việc chuyển giá và phương pháp chống chuyển giá Đồng thời, các tác giả cũng đã phân tích ý nghĩa và các phương pháp cơ bản để xác định giá thị trường trong giao dịch liên kết nhằm phục

vụ cho quá trình chống chuyển giá Nhóm nghiên cứu còn tập trung tìm hiểu những kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới về vấn đề chống chuyển giá để từ đó có thể tìm ra những bài học hữu ích, những ứng dụng thực tiễn giúp hoàn thiện hơn nữa công tác chống chuyển giá ở Việt Nam

Theo Nguyễn Thị Liên Hoa (2003), cho rằng chính sách chuyển giá và chiến lược bán phá giá tại các công ty có quan hệ liên kết, tác giả đã chỉ ra rằng các dấu hiệu nhận biết hoạt động chuyển giá, những dấu hiệu vi phạm về chế độ kế toán, thống kê và chỉ ra thế nào là có mối quan hệ liên kết Theo tác giả, quan hệ liên kết

là quan hệ mà bên này trực tiếp hoặc gián tiếp điều hành, kiểm soát, góp vốn hoặc đầu tư vào bên kia hoặc trực tiếp, gián tiếp cùng chịu sự điều hành, kiểm soát, góp vốn hoặc đầu tư của một bên khác, hoặc cùng tham gia trực tiếp, gián tiếp vào điều hành, kiểm soát, góp vốn hoặc đầu tư vào một bên khác

Nguyễn Thị Quỳnh Giang (2010) luận văn nghiên cứu về đề tài “Chuyển

giá trong các công ty đa quốc gia ở Việt Nam”, đã cho biết chuyển giá là một trong

Trang 23

những hình thức gian lận thương mại khá tinh vi đã được áp dụng ở nhiều tập đoàn

đa quốc gia trên thế giới từ rất lâu và Việt Nam cũng không nằm trong các quốc gia ngoại lệ Luận văn nghiên cứu các vấn đề chuyển giá như hình thức, hành vi chuyển giá của các công ty đa quốc gia, trong đó có nêu các phương pháp chống chuyển giá như: Phương pháp định giá chuyển giao trên cơ sở giá tự do có thể so sánh được, phương pháp giá bán lại, phương pháp giá vốn cộng lãi, phương pháp chiết tách lợi nhuận, phương phap lợi nhuận ròng của các nghiệp vụ chuyển giao Luận văn khái quát kinh nghiệm chống chuyển giá của Mỹ, Trung Quốc và các nước ASEAN, tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam; Đánh giá thực trạng hoạt động chuyển giá của các công ty đa quốc gia ở Việt Nam từ đó kiến nghị một số giải pháp hạn chế hành vi chuyển giá của công ty Đa Quốc Gia

Phan Đức Dũng (2018), “Xây dựng mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến

chính sách định giá chuyển giao trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam”, tác giả đã chỉ ra rằng hiện tượng định giá chuyển giao theo quan điểm của nước tiếp nhận đầu tư không chỉ gây thiệt hại cho nước chủ nhà do bị thất thu thuế, giảm phần lợi nhuận bên góp vốn của nước chủ nhà do giá trị góp vốn của

họ thấp mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến thương mại quốc tế Theo quan điểm của doanh nghiệp thì việc thiết lập chính sách định giá chuyển giao giúp bảo tồn vốn đầu tư khi bị rủi ro về tỷ giá, rủi ro về lạm phát hay rủi ro về thảm họa môi trường, Tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách định giá chuyển giao gồm: lạm phát, chính sách thuế, tỷ giá hối đoái, chính sách giáo dục, môi trường văn hóa, môi trường pháp lý, thể chế xã hội để làm cơ sở cho việc nghiên cứu định lượng xem nhân tố nào có ảnh hưởng mạnh nhất đến chính sách định giá chuyển giao Qua đó giúp cho cơ quan quản lý nhà nước có cái nhìn khoa học hơn về vấn đề định giá chuyển giao của doanh nghiệp đầu tư nước ngoài để hoàn thiện chính sách kinh tế vĩ mô ngày càng phù hợp hơn, trong đó có các chính sách liên quan nhiều hơn đến nội tại nền kinh tế chứ không đơn thuần là văn bản pháp quy chỉ để kiểm soát chuyển giá của các doanh nghiệp này

Trang 24

1.3 Nhận xét và xác định khoảng trống nghiên cứu

Từ tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước về chuyển giá,

có thể thấy vấn đề này đã được nhiều nhà nghiên cứu, nhà quản lý quan tâm, tuy vậy vẫn còn nhiều vấn đề đang có ý kiến khác nhau cần được làm rõ, như:

Vấn đề chuyển giá là rất phức tạp và luôn biến đổi vì nó gắn liền với hoạt động thương mại nội bộ trong công ty có quan hệ liên kết và chính sách thuế ở mỗi quốc gia Mỗi quốc gia, mỗi địa phương đều có những quy định riêng, những chính sách ưu đãi trong thu hút FDI và giám sát hành vi chuyển giá khác nhau Chính vì vậy, cần tiếp tục nghiên cứu về chuyển giá, bổ sung, cập nhật các vấn đề lý thuyết

để bắt kịp với xu hướng mới trong quá trình toàn cầu hóa

Với kết quả thu thập được trong phần tổng quan nghiên cứu, giúp cho tác giả xác định được lỗ hỏng trong nghiên cứu là chính sách định giá chuyển giao của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không hẳn là hành vi trốn thuế của doanh nghiệp mà còn là kỹ thuật để bảo tồn vốn đầu tư và lợi ích của các cổ đông Do vậy, các nhân tố như thuế, lạm phát, giáo dục, văn hóa, tỷ giá, thể chế xã hội, môi trường

sẽ có ảnh hưởng đến chính sách định giá chuyển giao của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Những nghiên cứu về thực trạng chuyển giá ở Việt Nam tuy có nhiều, nhưng thường ở mức độ khái quát cao, đa số các nghiên cứu khi đề cập đến ảnh hưởng của chuyển giá đến kinh tế Việt Nam thường nhấn mạnh vào khía cạnh thất thu thế, các tác động ảnh hưởng khác tuy được nêu ra trong nghiên cứu nhưng chưa được đánh giá sâu Chính vì vậy, mối quan hệ lợi ích giữa thực hiện các chính sách ưu đãi để thu hút nguồn vốn FDI với việc thực hiện các biện pháp ngăn chặn chuyển giá cần tiếp tục nghiên cứu và thảo luận một cách thấu đáo

Qua nghiên cứu các tài liệu liên quan đến đề tài cũng như nghiên cứu thực trạng kiểm soát hoạt động chuyển giá của các doanh nghiệp FDI trên địa bàn tỉnh Bình Dương, Luận văn mong muốn được góp phần bổ sung cơ sở lý luận và thực tiển về kiểm soát hoạt động chuyển giá, qua đó đề xuất các hàm ý chính sách hữu

Trang 25

hiệu để hoàn thiện hệ thống pháp luật về kiểm soát hoạt động chuyển giá ở Tỉnh Bình Dương đạt hiệu quả hơn

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chương 1, trình bày các nghiên cứu trong nước và ngoài nước về các vấn đề định giá chuyển giao, chuyển giá, kiểm soát chuyển giá, các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển giá từ đó làm cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu và đưa ra các giả thuyết nghiên cứu đồng thời giúp cho người đọc nắm được nội dung của các công trình nghiên cứu của các tác giả khác đối với các vấn đề có liên quan trực tiếp cũng như gián tiếp đến đề tài mà tác giả thực hiện Xác định khoảng trống trong nghiên cứu

và đưa ra hướng nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển giá của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Bình Dương

Trang 26

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1 Cơ sở lý thuyết về chuyển giá ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

2.1.1 Khái niệm về doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài

Doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) hiểu theo nghĩa Tiếng Anh là doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (Foreign Direct Investment) Tuy nhiên, hiện nay, trong các văn bản pháp luật của Việt Nam, việc định danh loại hình doanh nghiệp này chưa thực sự rõ ràng Theo đó, Luật Đầu tư

2005 (đã hết hiệu lực) phân loại: Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam; doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại

Tuy nhiên, theo quy định của Luật Đầu tư 2014 không đề cập trực tiếp loại hình doanh nghiệp này mà chỉ định nghĩa một cách khái quát tại Khoản 17 Điều

3 Luật Đầu tư 2014 như sau: Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông Như vậy, có thể hiểu, doanh nghiệp FDI là doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài, không phân biệt tỷ lệ vốn của bên nước ngoài góp là bao nhiêu Doanh nghiệp có vốn đầu

tư trực tiếp của nước ngoài bao gồm: Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, doanh

nghiệp liên doanh giữa nước ngoài và các đối tác trong nước

2.1.2 Chuyển giá ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước

ngoài

2.1.2.1 Khái niệm chuyển giá

Có nhiều quan niệm khác nhau về chuyển giá, xin lược trích một số khái niệm như sau:

Lymer và Haseldine (2002) cho rằng: Chuyển giá là việc thực hiện chính sách giá đối với hàng hóa, dịch vụ và tài sản được chuyển dịch giữa các thành viên trong tập đoàn qua biên giới mà không theo giá thị trường nhằm tối thiểu hóa số thuế của Công ty đa quốc gia (MNCs) trên toàn cầu Đây cũng là khái niệm được nhiều nghiên cứu tại Việt Nam sử dụng

Trang 27

Theo Li (2005), chuyển giá quốc tế (ITP –International Transfer Pricing) là quá trình định giá của hàng hóa và dịch vụ được chuyển giữa các công ty có quan

hệ liên kết ở các quốc gia khác nhau Còn Gunaydin (1999, trích bởi Dogan, Deran

và Koksal, 2013) cho rằng chuyển giá là thuật ngữ được sử dụng đại diện cho các giá trị của các giao dịch giữa các công ty con trong cùng một tập đoàn, hoạt động tại các quốc gia khác nhau

Theo Phan Thị Thành Dương (2006), chuyển giá là một hành vi do các chủ thể kinh doanh thực hiện bằng cách thay đổi giá trị trao đổi hàng hóa, dịch vụ trong quan hệ với các bên liên kết nhằm tối thiểu hóa tổng số thuế phải nộp của các đối tác liên kết Đối tượng tác động chính của hành vi chuyển giá là giá cả Chuyển giá

là việc thực hiện chính sách giá đối với hàng hóa, dịch vụ được chuyển dịch giữa các thành viên trong tập đoàn qua biên giới không theo giá thị trường nhằm tối thiểu hóa số thuế phải nộp trên toàn cầu

MNCs thường nắm bắt và vận dụng những quy định khác biệt về thuế giữa các quốc gia, các ưu đãi về thuế để xây dựng và áp dụng chính sách giá giao dịch trong nội bộ tập đoàn Giá chuyển giao có thể được định ở mức cao hay thấp tùy vào lợi ích đạt được từ những giao dịch này (Tổng cục Thuế, 2011)

Chuyển giá là việc thực hiện chính sách giá đối với hàng hóa, dịch vụ và tài sản được chuyển dịch giữa các chủ thể liên kết qua biên giới không theo giá thị trường mà theo hướng có lợi, nhằm giúp DN giảm thiểu nghĩa vụ thuế, tối đa hóa lợi nhuận, từ đó chuyển vốn đầu tư hoặc lợi nhuận về nước, chiếm lĩnh thị trường (đặc biệt là MNCs); Thanh lý thiết bị, máy móc công nghệ kém hiện đại với giá cao (Dương Văn An, 2013)

Theo Ngô Quang Trung (2014), chuyển giá là việc áp đặt giá cả một cách chủ quan trong dịch giao liên kết không chịu tác động của quy luật cung cầu trên thị trường, dẫn đến sự phản ánh sai lệch kết quả kinh doanh của các bên tham gia, gây bất bình đẳng trong thực hiện nghĩa vụ thuế do xác định không chính xác cơ sở tính thuế Dù có nhiều cách diễn đạt khác nhau, song, nhìn chung các nghiên cứu đều cùng thống nhất quan điểm: Chuyển giá là việc các chủ thể kinh tế có quan hệ liên kết thực hiện chính sách giá đối với hàng hóa, dịch vụ và tài sản được chuyển dịch

Trang 28

giữa các bên với nhau nhưng không theo giá thị trường nhằm tối thiểu hóa số thuế

phải nộp để tối đa hóa lợi nhuận của cả tập đoàn trên toàn cầu

2.1.2.2 Định giá chuyển giao

Định giá chuyển giao là việc thiết lập giá cho những giao dịch nội bộ (tức là giao dịch giữa các bên liên quan) đối với hàng hóa, dịch vụ, tài sản vô hình và dòng vốn trong tập đoàn đa quốc gia (Eden 2003) Các giao dịch nội bộ cho phép các công ty đa quốc gia thực hiện “hành vi đa quốc gia” của nó để bù đắp cho chi phí hoạt động ở nước ngoài và đạt được lợi thế cạnh tranh Cho nên khi thực hiện, thao túng giá chuyển giao (Transfer Pricing Manipulation – TPM) là chiến lược thiết lập giá chuyển giao bên trên hoặc bên dưới chi phí cơ hội để tránh sự kiểm soát của Chính phủ và những khác biệt trong quy định giữa các quốc gia (Horst 1971, Eden 1998) Điều này có nghĩa là định giá chuyển giao liên kết với chuyển dịch lợi nhuận giữa những khu vực có thuế suất khác nhau

Phương pháp được thiết lập để xác định “định giá chuyển giao” đúng được gọi là phương pháp định giá theo nguyên tắc thị trường (arm’s length priciple- ALP), thông qua phương pháp này, hai hay nhiều chi nhánh của một công ty đa quốc gia nên thực hiện giao dịch với chi nhánh khác giống như là hai công ty độc lập với nhau Trong thực hiện, điều này có nghĩa là giá được dùng trong giao dịch này phải bằng với giá thị trường hiện tại đối với từng sản phẩm

Trong thực tế, việc định giá chuyển giao đúng hay việc định giá theo nguyên tắc ALP là rất khó áp dụng đối với cả công ty và cơ quan thuế Nguyên nhân của việc này bao gồm cả những nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan Nguyên nhân khách quan là những khó khăn của công ty khi xác định giá tài sản vô hình và dịch vụ, bởi vì việc xác định dựa trên chi phí hay có thể so sánh cũng không

có thể mà không tốn chi phí Về phía cơ quan thuế, sự thiếu hụt thông tin để so sánh cũng như thiếu hụt chuyên gia với kỹ năng chuyên môn trong việc định giá các tài sản riêng biệt là những nguyên nhân chủ yếu Nguyên nhân còn lại là do công ty cố tình thao túng giá chuyển giao Trong những tập đoàn đa quốc gia, định giá chuyển giao giữ một vai trò quan trọng cho cả kế toán quản trị và kế toán vì mục đích thuế

Trang 29

Thông thường mục tiêu sau cùng của việc này là nhằm phân bổ lợi nhuận giữa các khu vực

Việc định giá chuyển giao không chỉ cần thiết cho công tác quản trị của các công ty có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài mà còn là phương pháp giúp Nhà nước xác định được giá trị của các giao dịch có quan hệ liên kết, phòng tránh gian lận trong thương mại và xác định có hành vi chuyển giá hay không

Các hình thức thao túng chuyển giá như: định giá thấp hàng xuất khẩu từ nơi

có thuế suất cao đến nơi có thuế suất thấp – tạo ra lợi nhuận thấp hơn ở khu vực có thuế cao; định giá cao hàng xuất khẩu từ nơi có thuế suất thấp đến nơi có thuế suất cao – tạo ra lợi nhuận cao hơn ở nơi có thuế suất thấp; giao dịch gián tiếp qua một nước thứ ba tính chi phí hóa đơn cho chi nhánh ở khu vực thuế cao bằng các giao dịch nội bộ bởi chi nhánh có thuế thấp; tập trung quyền sở hữu tài sản vô hình tại những khu vực có thuế suất thấp

Thao túng giá chuyển giao, ngoại trừ tác động tích cực lên mục tiêu chuyển vốn của công ty, có nhiều tác động xấu lên các thành phần khác nhau trong xã hội Tác hại của hoạt động chuyển giá có thể phân tích theo các khía cạnh về quyền lợi của lực lượng lao động, quản lý nguồn lực, chất lượng thông tin cho phát triển và đầu tư của các doanh nghiệp, những thách thức với việc thực hiện các chính sách liên quan đến thuế của Chính phủ

Chuyển giá làm mất đi doanh thu thuế của ngân sách quốc gia, đe dọa đến sự phát triển kinh tế Tránh thuế làm tình trạng nghèo đói trở nên dai dẳng và tạo ra sự bóp méo kinh tế nghiêm trọng, gây cản trở quyết định đầu tư trong nền kinh tế Trong một số trường hợp, quốc gia tiếp nhận đầu tư có thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp thấp hơn nên trở thành người hưởng lợi từ hoạt động chuyển giá của các công ty đa quốc gia Vì vậy các quốc gia này cố ý làm lơ để các công ty đa quốc gia thực hiện hành vi chuyển giá, làm nổi lên sự cạnh tranh về chính sách thuế của các quốc gia Về lâu dài khi có sự biến đổi về môi trường kinh doanh quốc tế thì các quốc gia này sẽ gánh chịu hậu quả là phải đương đầu với khó khăn tài chính do các hành vi chuyển giá nhằm thu hồi vốn nhanh sẽ làm thay đổi cơ cấu vốn của nền kinh tế quốc gia tiếp nhận đầu tư, phản ánh không chính xác sức mạnh và cơ hội

Trang 30

đầu tư của nền kinh tế và khủng hoảng sẽ xảy ra Thông qua hoạt động chuyển giá nhằm chiếm thị phần khi mới tham gia vào thị trường, các công ty đa quốc gia sẽ tiến hành các chiêu thức quảng cáo, khuyến mãi làm lũng đoạn thị trường Thông qua chuyển giá, các công ty đa quốc gia sẽ thực hiện kế hoạch thôn tính doanh nghiệp trong nước, các công ty đa quốc gia sẽ trở nên độc quyền, kiểm soát giá cả

và mất dần tính tự do của thị trường Các hoạt động chuyển giá làm phá sản kế hoạch phát triển nền kinh tế quốc dân của nước tiếp nhận đầu tư Chính phủ sẽ gặp khó khăn trong hoạch định chính sách vĩ mô và không thể thúc đẩy sản xuất phát triển Không ngăn chặn kịp thời, các quốc gia tiếp nhận đầu tư về lâu dài sẽ phải phụ thuộc về mặt kinh tế và tiếp sau đó là sự chi phối về mặt chính trị Ngoài ra, hoạt động chuyển giá sẽ gây ra tình trạng mất cân đối trong cán cân xuất nhập khẩu quốc tế của quốc gia đó

Như vậy, có thể thấy hoạt động chuyển giá của các công ty đa quốc gia trong nhiều trường hợp tác động tiêu cực đến nền kinh tế - xã hội của nước tiếp nhận đầu

tư Nhiều nhà kinh tế trên thế giới nghiêm túc nghiên cứu hiện tượng chuyển giá đã đưa ra kết luận: Tác động tiêu cực của chuyển giá là lớn hơn, nhiều hơn so với lợi ích do chuyển giá mang lại cho nước xuất khẩu vốn, lẫn nước nhập khẩu vốn Cho nên Chính phủ các nước đã và đang tìm giải pháp kiểm soát chuyển giá trong đầu tư quốc tế thúc đẩy các nghiên cứu về chuyển giá

Từ những nội dung đã nêu, tác giả thống nhất dùng thuật ngữ “Chuyển giá” (Transfer Pricing) để chỉ hành vi định giá giao dịch giữa các bên có quan hệ liên kết không theo giá thị trường “Định giá chuyển giao” thể hiện hành vi xác định giá cả khi thực hiện giao dịch Theo tác giả thuật ngữ “chuyển giá” cô đọng, xúc tích và hàm chứa ý nghĩa là chuyển các lợi ích thông qua giá

2.1.3 Nguyên nhân của chuyển giá

Theo Celik (2000) thì chuyển giá được sử dụng để tăng tính chủ động của từng đơn vị thành viên của Tổng công ty Nó có thể cung cấp một phương tiện

để đánh giá và so sánh hiệu suất của các đơn vị khác nhau Chuyển giá có thể được

sử dụng để tạo động lực cho các nhà quản lý tối đa hóa doanh thu và lợi nhuận hoặc

Trang 31

tạo cơ hội để so sánh giữa các lựa chọn khác nhau về bán hàng và quyết định mua hàng giữa các chi nhánh

Theo Ngô Quang Trung (2014), hiện tượng chuyển giá của các DN FDI xuất phát từ sự khác biệt về thuế suất thuế TNDN giữa Việt Nam và các nước Hiện nay ngành công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam còn khá yếu, buộc các DN phải nhập khẩu nguyên liệu từ bên ngoài, vì thế có cơ hội để thực hiện thủ thuật chuyển giá nhằm thu lợi nhuận tối đa Hơn nữa, hệ thống luật pháp của Việt Nam vẫn chưa hoàn thiện, còn nhiều kẽ hở và thường có độ trễ so với tình hình phát triển của đất nước

Theo Đào Phú Quý (2014b), các DN, MNCs không bao giờ từ bỏ các cơ hội, các biện pháp để tối đa hóa lợi nhuận, kể cả hành vi chuyển giá, gian lận giá, gian lận thương mại , trong đó, chuyển lợi nhuận qua chuyển giá sẽ khó bị phát hiện hơn so với các gian lận khác và kể cả trong trường hợp bị phát hiện thì việc xử lý cũng không hề đơn giản bởi Chính phủ của mỗi nước thường có xu hướng bảo vệ

DN của mình vì lợi ích quốc gia Thêm vào đó, sự ưu đãi quá mức đối với các DN FDI, sự khác biệt về môi trường kinh doanh, đầu tư, về chính sách, pháp luật, thể chế giữa các quốc gia đã tạo ra động cơ và những điều kiện để MNCs xây dựng và triển khai chiến lược chuyển giá của họ

Không chỉ đồng tình với các quan điểm trên, Phương Ly (2015) còn chỉ rõ chế tài xử phạt của Việt Nam không đủ sức răn đe; Công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán còn nhiều bất cập, chưa đủ sức phát hiện vi phạm; Quản lý nhà nước còn yếu kém, năng lực, trình độ của cán bộ công chức còn hạn chế là nguyên nhân gây

ra chuyển giá

Làm rõ hơn vấn đề này, Dương Văn An (2013) cho rằng: nguyên nhân sâu

xa của chuyển giá chính là việc chia quyền đánh thuế giữa các quốc gia, theo đó, thu nhập sẽ được chuyển về quốc gia, vùng lãnh thổ có thuế suất thấp hoặc nước xuất khẩu đầu tư

Phan Thị Thành Dương (2006); Tổng cục Thuế (2011); Hồng Phương Linh (2011); Ngô Quang Trung (2014) đều thống nhất rằng: Sở dĩ giá cả có thể được xác định lại trong những giao dịch liên kết là do: (1) Xuất phát từ quyền tự do định đoạt

Trang 32

trong kinh doanh, các chủ thể hoàn toàn có quyền mua hay bán hàng hóa, dịch vụ với giá mà họ mong muốn; (2) Xuất phát từ mối quan hệ gắn bó chung về lợi ích nhóm liên kết nên sự khác biệt về giá giao dịch được thực hiện giữa các chủ thể có cùng lợi ích không làm thay đổi lợi ích toàn cục; (3) Việc quyết định chính sách giá giao dịch giữa các thành viên trong nhóm liên kết không thay đổi tổng lợi ích chung nhưng có thể thay đổi tổng nghĩa vụ thuế của họ Thông qua định giá, nghĩa vụ thuế được chuyển từ nơi bị điều tiết cao sang nơi thấp hơn và ngược lại, do sự khác nhau

về chính sách thuế của các quốc gia Từ đó, nghiên cứu thấy rằng: tối thiểu hóa số thuế phải nộp nhằm tối đa hóa lợi nhuận có vai trò cực kỳ quan trọng trong quyết định chuyển giá Trên thực tế, chuyển giá chỉ có ý nghĩa trong các giao dịch liên kết, việc định giá cao hay thấp tùy thuộc vào lợi ích đạt được từ những giao dịch đó,

nó hoàn toàn khác với việc khai báo giá thấp để trốn thuế nhưng sau đó vẫn thanh toán đầy đủ theo giá đã thỏa thuận Các DN nắm bắt và vận dụng những khác biệt

về thuế hoặc ưu đãi thuế giữa các quốc gia để hưởng lợi có vẻ như hoàn toàn hợp pháp Hơn thế nữa, hành vi chuyển giá không chỉ diễn ra từ nơi có thuế suất cao sang nơi có thuế suất thấp hơn để tránh thuế mà theo Nguyễn Quang Tiến (2012) nó còn bao gồm cả chiều ngược lại do công ty mẹ muốn thu hồi vốn nhanh hoặc để thực hiện chiến lược kinh doanh Vì thế, vô hình chung, chuyển giá đã gây bất bình đẳng về lợi ích, tạo ra sự khác biệt trong ưu thế cạnh tranh Biểu hiện cụ thể của chuyển giá là giao kết mang tính áp đặt chủ quan về giá của các chủ thể liên kết Nếu giá giao kết không tương ứng với giá thị trường thì nhiều khả năng giao dịch

có biểu hiện chuyển giá

2.1.4 Dấu hiệu nhận biết chuyển giá

Theo Nguyễn Thị Quỳnh Giang (2010), dấu hiệu nhận biết chuyển giá trong một DN có quan hệ liên kết là: (1) DN bị lỗ hai năm liên tiếp trở lên, sau giai đoạn mới thành lập; (2) DN có các nghiệp vụ chuyển giao từ các DN liên kết ở những quốc gia có thuế suất thấp; (3) DN có tình hình lãi và lỗ luân phiên nhau hoặc tình hình lãi lỗ phát sinh không bình thường; (4) DN có tỷ suất lợi nhuận nhỏ hơn nhiều

so với các DN khác trong cùng ngành; (5) DN có tỷ suất lợi nhuận thấp hơn nhiều

Trang 33

so với các DN khác trong cùng tập đoàn; (6) DN có chi phí sản xuất thực tế khá thấp

Trong khi đó, theo Võ Phan Sử (2013), biểu hiện của DN có thể có chuyển giá trong mối quan hệ liên kết là: (1) Lỗ trên 03 năm hoặc lỗ âm nguồn vốn chủ sở hữu nhưng vẫn hoạt động, tăng doanh thu và quy mô; (2) Hiệu quả kinh doanh không đáng kể nhưng luôn có sự tài trợ từ các khoản vay của các bên liên kết; (3) Chỉ có một khách hàng hoặc vài khách hàng trong nhiều năm, thường bán sản phẩm chỉ bằng giá thành sản xuất; (4) Cùng một hàng hóa dịch vụ trong DN nhưng giá bán ở thị trường nội địa cao hơn giá xuất khẩu; (5) Công ty phải trả nhà cung cấp hàng hóa hoặc phải thu khách hàng có mối liên kết trong nhiều năm không thanh toán công nợ nhưng vẫn phát sinh giao dịch; (6) Xuất xứ hàng hóa có sự tham gia từ

Dù còn nhiều quan điểm khác nhau, song, nhìn chung các nghiên cứu đều thống nhất rằng dấu hiệu rõ nhất để nhận biết chuyển giá chính là DN khai báo lỗ liên tục nhiều năm, có trường hợp lỗ mất vốn chủ sở hữu nhưng vẫn duy trì SXKD, thậm chí là tăng quy mô, mở rộng sản xuất - đây là một bất hợp lý trong kinh doanh

2.1.5 Các hoạt động chuyển giá

Từ những nghiên cứu và bằng chứng thực nghiệm nêu trên cho thấy hoạt động chuyển giá diễn ra trên phạm vi toàn cầu, với hình thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, phức tạp:

- Chuyển giá thông qua chuyển giao tài sản hữu hình

- Chuyển giá thông qua chuyển giao tài sản vô hình, gồm:

(1) Chuyển giá thông qua hoạt động nghiên cứu phát triển và Marketing

Trang 34

(2) Chuyển giá thông qua mạng lưới bán hàng toàn cầu và bí quyết quản

lý chất lượng sản phẩm

(3) Chuyển giá thông qua công nghệ, bí quyết sản xuất, kinh doanh (4) Chuyển giao quyền sáng chế (đóng góp cho quá trình hình thành, duy trì và phát triển tài sản vô hình)

(5) Phân chia chi phí hình thành tài sản vô hình

(6) Chuyển giao tài sản vô hình thông qua việc phái cử nhân viên

- Chuyển giá thông qua cung ứng dịch vụ

- Chuyển giá thông qua hoạt động tín dụng

Đồng thời, Tổng cục Thuế (2011) và Đào Phú Quý (2014a) cũng chỉ rõ các loại hình DN FDI có khả năng có hoạt động chuyển giá gồm:

- DN FDI tại Việt Nam thực hiện sản xuất sản phẩm ở khâu trung gian

- DN FDI chuyên sản xuất sản phẩm theo hợp đồng

- DN FDI thực hiện hoàn thiện sản phẩm khâu cuối cùng

2.2 Khái niệm về kiểm soát chuyển giá

Theo Từ điển tiếng Việt của Trung tâm từ điển học thuộc Viện Ngôn ngữ học (1998), kiểm soát là xem xét để phát hiện, ngăn chặn những gì trái với quy định

Theo GS.TS Nguyễn Quang Huynh (1998), kiểm soát được hiểu là tổng thể các phương sách để nắm lấy và điều hành các đối tượng hoặc khách thể quản lý và

có thể hiểu, kiểm soát là cấp trên kiểm soát cấp dưới thông qua các biện pháp hoặc chính sách, đơn vị này kiểm soát đơn vị khác thông qua việc ảnh hưởng hoặc chi phối đáng kể dựa trên quyền lợi và lợi ích, nội bộ đơn vị kiểm soát lẫn theo nội quy

và quy chế

Từ những cách hiểu về “kiểm soát” như trên với bản chất của hoạt động chuyển giá, có thể hiểu kiểm soát chuyển giá là hoạt động giám sát, kiểm tra, thanh tra để phát hiện và xử lý hành vi lợi dụng định giá chuyển giao trong giao dịch của các DN có mối quan hệ liên kết để tối thiểu hóa nghĩa vụ với nhà nước, từ đó đảm bảo xác định nghĩa vụ thuế của DN có quan hệ liên kết phù hợp với giá thị trường

tự do Kiểm soát hoạt động chuyển giá của các DN có vốn FDI là hoạt động của cơ

Trang 35

quan nhà nước có thẩm quyền nhằm kiểm soát hoạt động chuyển giá của đối tượng kiểm soát là các DN FDI

Kiểm soát chuyển giá bao gồm nhiều hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm mục tiêu nắm bắt chính xác thông tin về các giao dịch của các

DN có quan hệ liên kết để đảm bảo việc xác định nghĩa vụ thuế của các DN liên kết được dựa trên cơ sở giá thị trường tự do Đồng thời, tất cả các hoạt động chức năng nhằm kiểm soát chuyển giá phải được thể chế hóa thành pháp luật Các hoạt động kiểm soát chuyển giá của cơ quan nhà nước, bao gồm:

- Quản lý kê khai thuế là hoạt động nắm bắt toàn bộ thông tin kê khai, tính thuế, xác định nghĩa vụ thuế của người nộp thuế

- Giám sát là theo dõi, kiểm tra có thực hiện đúng quy định pháp luật hay không

- Kiểm tra thuế là hoạt động của cơ quan thuế trong việc xem xét tình hình thực tế của đối tượng kiểm tra, từ đó, đối chiếu với chức năng, nhiệm vụ, yêu cầu đặt ra đối với đối tượng kiểm tra để có những nhận xét, đánh giá về tình hình chấp hành nghĩa vụ thuế của đối tượng kiểm tra

- Thanh tra thuế là hoạt động kiểm tra của tổ chức chuyên trách làm công tác kiểm tra của cơ quan thuế đối với đối tượng thanh tra nhằm phát hiện, ngăn chặn và

xử lý những hành vi trái pháp luật

2.3 Các phương pháp định giá thị trường

Trong lĩnh vực kiểm soát chuyển giá, Chính phủ Việt Nam xây dựng các phương pháp định giá thị trường đối với các giao dịch của các bên liên kết theo Nghị định 20/2017/NĐ-Cp ngày 24/02/2017 như sau:

2.3.1 Phương pháp so sánh giá giao dịch độc lập (Comparable Uncontrolled Price Method - CUP): dựa vào đơn giá của sản phẩm trong giao

dịch độc lập để xác định đơn giá sản phẩm trong giao dịch liên kết khi các giao dịch này có điều kiện giao dịch tương đương nhau Nguyên tắc của phương pháp này là

so sánh trực tiếp thông tin của giao dịch và các thông tin độc lập Đây được xem là phương pháp lý tưởng nhất có thể áp dụng cho tất cả các giao dịch liên kết Tiêu thức ưu tiên khi sử dụng phương pháp này là đặc tính của sản phẩm

Trang 36

2.3.2 Phương pháp giá bán lại (Resale Price Method – RSM): dựa vào giá

bán lại (hay giá bán ra) của sản phẩm do doanh nghiệp bán cho bên độc lập để xác định giá mua vào của sản phẩm đó từ bên liên kết Giá mua vào của sản phẩm từ bên liên kết được xác định trên cơ sở giá bán ra của sản phẩm trong các giao dịch độc lập trừ (-) lợi nhuận gộp trừ (-) các chi phí khác được tính trong giá sản phẩm mua vào (nếu có) (ví dụ: thuế nhập khẩu, phí hải quan, chi phí bảo hiểm, vận chuyển quốc tế) Phương pháp này thích hợp với các hoạt động trong ngành thương mại – có các nghiệp vụ mua đi bán lại các sản phẩm hàng hóa Tuy nhiên, khi sử dụng phương pháp này không thể sử dụng tỷ lệ lãi gộp bình quân để xác định tỷ lệ khấu trừ này

2.3.3 Phương pháp giá vốn cộng lãi (Cost Plus Method – CPM):

Phương pháp giá vốn cộng lãi dựa vào giá vốn (hoặc giá thành) của sản phẩm do doanh nghiệp mua vào từ bên độc lập để xác định giá bán ra của sản phẩm

đó cho bên liên kết Giá bán ra của sản phẩm cho bên liên kết được xác định trên cơ

sở lấy giá vốn (hoặc giá thành) của sản phẩm cộng (+) lợi nhuận gộp

+ Lợi nhuận gộp được tính theo tỷ suất lợi nhuận gộp trên giá vốn (hoặc giá thành) sản phẩm bán ra và giá vốn (hoặc giá thành) sản phẩm bán ra, phản ánh mức lợi nhuận hợp lý tương ứng với chức năng hoạt động của doanh nghiệp và điều kiện thị trường

Tỷ suất lợi nhuận gộp trên giá vốn (hoặc giá thành) được xác định bằng giá trị chênh lệch giữa doanh thu thuần và giá vốn (hoặc giá thành) sản phẩm chia (:) cho giá vốn (hoặc giá thành) Giá vốn (hoặc giá thành) sản phẩm bán ra bao gồm chi phí sản xuất trực tiếp, gián tiếp và không bao gồm chi phí hoạt động tài chính như: chi phí bản quyền, lãi tiền vay,

Trường hợp doanh nghiệp không hạch toán riêng được giá vốn (hoặc giá thành) sản phẩm bán ra, chi phí bán hàng và chi phí quản lý chung thì giá vốn (hoặc giá thành) sản phẩm bán ra làm căn cứ tính lợi nhuận gộp sẽ bao gồm toàn bộ các khoản chi phí này

+ Trường hợp doanh nghiệp có chức năng đại lý thu mua sản phẩm không có quyền sở hữu sản phẩm và được hưởng hoa hồng đại lý theo tỷ lệ phần trăm (%)

Trang 37

trên chi phí thu mua sản phẩm thì tỷ lệ đó được coi là tỷ suất lợi nhuận gộp trên giá vốn

Tiêu thức ưu tiên cho phương pháp này là yếu tố chức năng của doanh nghiệp nên thường được áp dụng trong một số trường hợp sau:

+ Công ty sản xuất, chế biến, lắp ráp, chế tạo và bán cho các bên liên kết, gia công chế biến và phân phối

+ Giao dịch giữa các bên liên kết thực hiện hợp đồng liên doanh, hợp đồng hợp tác kinh doanh để sản xuất, lắp ráp, chế tạo, chế biến sản phẩm hoặc thực hiện các thỏa thuận về cung cấp các yếu tố đầu vào và bao tiêu sản phẩm đầu ra

+ Giao dịch cung cấp dịch vụ các bên liên kết

So với 2 phương pháp trước, phương pháp giá vốn cộng lãi có một số khó khăn khi xác định chi phí Trong một số trường hợp không thể xác định mối liên hệ giữa chi phí và giá thị trường Thị trường thường trả giá cao cho những sản phẩm

có kiểu dáng riêng hay thương hiệu riêng Có nhiều trường hợp doanh nghiệp có thể tạo ra những sản phẩm rất có giá trị chỉ với chi phí rất thấp và ngược lại, do áp lực cạnh tranh các doanh nghiệp có xu hướng hạ thấp giá bán

2.3.4 Phương pháp so sánh lợi nhuận (Transactional Net Margin Method – TNMM): Phương pháp so sánh lợi nhuận dựa vào tỷ suất sinh lời của

sản phẩm trong các giao dịch độc lập được chọn để so sánh làm cơ sở xác định tỷ suất sinh lời của sản phẩm trong giao dịch liên kết khi các giao dịch này có điều kiện giao dịch tương đương nhau Các tỷ suất sinh lời được tính bằng lợi nhuận (thu nhập) thuần trước thuế thu nhập doanh nghiệp trên doanh thu thuần, trên chi phí hoặc trên tài sản của hoạt động sản xuất kinh doanh theo quy định của chế độ kế toán và báo cáo tài chính Lợi nhuận (thu nhập) thuần trước thuế thu nhập doanh nghiệp có thể được cộng thêm (+) chi phí lãi tiền vay hoặc khấu hao tài sản cố định

để xác định hiệu quả sản xuất, kinh doanh trước khi chi trả các khoản chi phí này

Trong trường hợp nếu không tồn tại các giao dịch độc lập có thể so sánh đối chiếu với công ty con thì ta có thể lấy lợi nhuận thu được trong các chuyển giao c1o thể so sánh được của hai doanh nghiệp không liên kết khác làm cơ sở Tuy nhiên, khi các nghiệp vụ chuyển giao phát sinh có mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ

Trang 38

với nhau thì khó có thể áp dụng phương pháp này do khó tìm được giao dịch tương ứng để so sánh

2.3.5 Phương pháp tách lợi nhuận (Profit Split Method – PSM)

Phương pháp tách lợi nhuận dựa vào lợi nhuận thu được từ một giao dịch liên kết tổng hợp do nhiều doanh nghiệp liên kết thực hiện để xác định lợi nhuận thích hợp cho từng doanh nghiệp liên kết đó theo cách các bên độc lập thực hiện phân chia lợi nhuận trong các giao dịch độc lập tương đương

Giao dịch liên kết tổng hợp do nhiều doanh nghiệp liên kết tham gia là giao dịch mang tính chất đặc thù, duy nhất, bao gồm nhiều giao dịch liên kết có liên quan chặt chẽ với nhau về các sản phẩm độc quyền hoặc các giao dịch liên kết khép kín giữa các bên liên kết có liên quan

Phương pháp tách lợi nhuận có 2 cách tính:

+ Cách tính thứ nhất: phân bổ lợi nhuận cho từng bên liên kết trên cơ sở chi

phí đóng góp; theo đó, lợi nhuận của mỗi doanh nghiệp liên kết tham gia trong giao dịch được xác định trên cơ sở phân bổ tổng lợi nhuận thu được từ giao dịch liên kết tổng hợp theo tỷ lệ chi phí đóng góp thực tế trong giao dịch liên kết của doanh nghiệp đó trong tổng chi phí thức tế để tạo ra sản phẩm cuối cùng

+ Cách tính thứ hai: phân chia lợi nhuận theo 2 bước như sau:

Bước thứ nhất: phân chia lợi nhuận cơ bản: mỗi doanh nghiệp tham gia giao

dịch liên kết được nhận phần lợi nhuận cơ bản tương ứng với các chức năng hoạt động của mình Phần lợi nhuận cơ bản này phản ánh giá trị lợi nhuận của giao dịch liên kết tổng hợp mà doanh nghiệp thu được do thực hiện chức năng hoạt động của mình và chưa tính đến các yếu tố đặc thù và duy nhất

Bước thứ hai: phân chia lợi nhuận phụ trội: mỗi doanh nghiệp tham gia giao

dịch liên kết được nhận tiếp phần lợi nhuận phụ trội tương ứng với tỷ lệ đóng góp tạo ra tổng lợi nhuận phụ trội (tức là tổng lợi nhuận thu được trừ (-) tổng lợi nhuận

cơ bản đã phân chia ở bước thứ nhất) của giao dịch liên kết tổng hợp Phần lợi nhuận phụ trội này phản ánh lợi nhuận của giao dịch liên kết tổng hợp mà doanh nghiệp thu được ngoài phần lợi nhuận cơ bản nhờ các yếu tố đặc thù và duy nhất

Trang 39

Phương pháp này cũng thường được áp dụng cho trường hợp các bên liên kết cùng tham gia nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới hoặc phát triển sản phẩm là tài sản vô hình độc quyền; các giao dịch trong quy trình sản xuất, kinh doanh chuyển tiếp giữa các bên liên kết từ khâu nguyên vật liệu đến thành phẩm cuối cùng

để lưu thông sản phẩm, gắn liền với việc sở hữu hoặc quyền sở hữu trí tuệ duy nhất

2.4 Các lý thuyết nền có liên quan đến chuyển giá

2.4.1 Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric Information Theory)

Dựa theo quy luật về sự cân bằng giữa cung và cầu trong kinh tế học vi mô

cổ điển, dựa trên giả định cơ bản là tất cả các bên tham gia giao dịch mua bán hàng hóa và dịch vụ đều chia sẽ những thông tin như nhau trong quá trình ra quyết định kinh tế, tức là không có người bán nào có thể hiểu biết nhiều hơn về những đặc điểm của hàng hóa, dịch vụ so với những người mua, đồng thời không có người mua nào có thể hiểu biết nhiều hơn về chi phí sản xuất, cung ứng hàng hóa, dịch vụ

so với những người bán (Stiglitz, The contribution of the economics of information

to twentieth century economics, 2000; Stiglitz & Walsh, Economics, 2006; Bernheim & Whinston, 2014) Tuy nhiên thực tế lại cho thấy thị trường thông thường vận động không trên cơ sở giả định này, nghĩa là trong một giao dịch, thường sẽ có một bên có hiểu biết (thông tin) nhiều hơn về đặc điểm của hàng hóa, dịch vụ được trao đổi và do đó có thể sẽ có lợi thế khi thực hiện giao dịch so với bên còn lại, đó chính là tình trạng thông tin bất cân xứng (Akerlof, 1970) Sự lựa chọn bất lợi là hiện tượng trong đó bên có thông tin về đặc điểm của hàng hóa, dịch

vụ được trao đổi luôn sẵn sàng hơn trong giao dịch nếu như giao dịch đó gây bất lợi cho bên không có thông tin bởi vì thông tin ẩn giấu (Akerlof, 1970) Rủi ro đạo đức xảy ra khi một bên tham gia giao dịch thực hiện những hành động mà các bên còn lại không thể quan sát được, làm ảnh hưởng đến lợi ích của các bên còn lại trong giao dịch đó ( Holmstrom, 1979; Stiglitz, The contributions of the economics of information to twentieth century economics, 2000; Stiglitz, Information and the Change in the Paradigm in Econamics, 2002) Các nhà kinh tế học cho rằng cả hai hiện tượng: sự lựa chọn bất lợi và rủi ro đạo đức đều là những thất bại của thị trường và những thất bại này có thể và cần được khắc phục trên cơ sở giảm mức độ

Trang 40

bất cân xứng thông tin giữa các bên tham gia giao dịch (Stiglitz & Walsh, Economics, 2006) Theo Spence (1973) đề xướng giải pháp nhằm giảm hậu quả của thông tin bất cân xứng theo hướng lựa chọn bất lợi bằng cách bên có nhiều thông tin

về đặc điểm của hàng hóa, dịch vụ trao đổi có thể chủ động thực hiện những hoạt động tốn kém (costly activity) – được gọi là phát tín hiệu (signaling) – nhằm thuyết phục các bên thiếu thông tin còn lại về chất lượng của hàng hóa, dịch vụ; ngược lại (Stiglitz, The Theory of “Screening”, Education and the Distribution of Income, 1975) đề nghị rằng bên thiếu thông tin về đặc điểm của hàng hóa, dịch vụ có thể chủ động thực hiện những thử nghiệm trong đó yêu cầu các bên có nhiều thông tin

tự phân loại – được gọi là sàng lọc (screening) – và qua đó bộc lộ những hiểu biết của mình về đặc điểm của hàng hóa, dịch vụ Vì thế, vận dụng lý thuyết thông tin bất cân xứng trong mô hình nghiên cứu nhằm diễn giải cho yếu tố môi trường văn hóa và yếu tố thể chế xã hội thông qua nguồn thông tin bất cân xứng xuất phát từ (i) mức độ về kiến thức, hiểu biết, chuyên môn khác nhau, dẫn đến kết quả kiểm tra của những người thực thi chính sách thuế cũng sẽ khác nhau; hoặc có thể (ii) lợi ích nhóm, thông qua hành vi của nhà quản trị và người kế toán viên, từ đó sẽ can thiệp vào hệ thống kế toán sao cho có lợi nhất cho mục tiêu của mình, vì vậy cũng ảnh hưởng đến chính sách định giá chuyển giao tại các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài

(Phan Đức Dũng, 2018)

2.4.2 Lý thuyết tín hiệu (Signal Theory)

Lý thuyết tín hiệu được sử dụng rộng rãi làm nền tảng cho các nghiên cứu giải thích cách thức mà những người quản lý cấp cao nhất của các doanh nghiệp truyền đạt thông tin về chất lượng hay giá trị của doanh nghiệp đến nhà đầu tư bằng cách phát tín hiệu thông qua hoạt động thua lỗ mà vẫn gia tăng đầu tư, chính sách

về cổ tức, công bố thông tin tự nguyện, hoặc lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán uy tín để kiểm toán báo cáo tài chính (Riley, J.G, 2001) Lý thuyết tín hiệu đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành cơ chế công bố thông tin của các doanh nghiệp Thông tin kế toán không được doanh nghiệp trình bày đầy đủ trên báo cáo tài chính hoặc có thể thông tin mà doanh nghiệp trình bày và công bố không đảm bảo chất lượng cho các đối tượng sử dụng, được xử lý dưới dạng chi phí đầu vào hay khấu

Ngày đăng: 21/06/2021, 21:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
9. Ngô Quang Trung (2014), “Vấn đề chuyển giá của các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí nghiên cứu kinh tế, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề chuyển giá của các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Ngô Quang Trung
Năm: 2014
10. Đào Phú Quý (2014b), “Chuyển giá dưới góc nhìn của doanh nghiệp”, Tạp chí Tài chính online, http://tapchitaichinh.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển giá dưới góc nhìn của doanh nghiệp
11. Dương Văn An (2016), “Chuyển giá trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài- Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển giá trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài- Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam
Tác giả: Dương Văn An
Năm: 2016
15. Nguyễn Thị Quỳnh Giang, 2010, “Chuyển giá trong các công ty đa quốc gia ở Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển giá trong các công ty đa quốc gia ở Việt Nam
17. Huỳnh Thiên Phú (2009), “Chuyển giá của MNCs trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế”, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển giá của MNCs trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Huỳnh Thiên Phú
Năm: 2009
18. Hồng Phương Linh (2011), “Kiểm soát và chống chuyển giá đối với các DN FDI tại Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm soát và chống chuyển giá đối với các DN FDI tại Việt Nam
Tác giả: Hồng Phương Linh
Năm: 2011
19. Nguyễn Duy Hiếu (2013), “Hoạt động chuyển giá của các DN FDI tại TP HCM từ góc độ nhà quản lý”, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động chuyển giá của các DN FDI tại TP HCM từ góc độ nhà quản lý
Tác giả: Nguyễn Duy Hiếu
Năm: 2013
5. Moritz Hiemann and Stefan Reichelstein (2012), “Transfer Pricing in Multinational Corporations: An IntergratedManagement and TaxPerspective” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Transfer Pricing in Multinational Corporations: An IntergratedManagement and TaxPerspective
Tác giả: Moritz Hiemann and Stefan Reichelstein
Năm: 2012
6. “Practical Manual on Transfer Pricing for Developing Countries”, 2013 7. “Practical Manual on Transfer Pricing for Developing Countries”, 2018 8. Arrow, K. (1974) The limits of organization (1st ed.), New York, Norton Sách, tạp chí
Tiêu đề: Practical Manual on Transfer Pricing for Developing Countries”, 2013 7. “Practical Manual on Transfer Pricing for Developing Countries
10. Bernard,A.B.; Jensen, J.B.; Schott, P.K.(2006), “Transfer pricing by U.S –Based Multinational firms” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Transfer pricing by U.S –Based Multinational firms
Tác giả: Bernard,A.B.; Jensen, J.B.; Schott, P.K
Năm: 2006
1. Transfer Price, https://www.investopedia.com/terms/t/transferprice.asp 2. Essay The Political Nature of Accounting Standard Setting, Tháng 09/2011, https://www.bartleby.com/essay/The-Political-Nature-of-Accounting-Standard-Setting-FKCBG243VJ Link
3. Economic Consequences and the Political Nature of Accounting Standard Setting, Tháng 01/2010, https://profalbrecht.wordpress.com/2010/01/06/economic-consequences-and-the-political-nature-of-accounting-standard-setting/ Link
12. Nguyễn Đại Thắng (2016), Kiểm soát hoạt động chuyển giá của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, Luận án tiến sĩ Kinh tế, Học viện Tài chính Khác
13. Đỗ Thiên Anh Tuấn (2014), Chuyển giá trong các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam, Chương trình giảng dạy Kinh tế Fulbright Khác
14. Nguyễn Thị Hồng Vân (2012), Giải pháp tăng cường chống chuyển giá trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Học viện Tài chính Khác
16. Phan Thị Thành Dương (2010), Pháp luật về kiểm soát chuyển giá, Luận án tiến sĩ Luật học, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh Khác
20. Nguyễn Quang Huynh (1998), Lý thuyết kiểm toán, NXB tài chính, Hà Nội Khác
9. Afifah Nazihah, Azwardi, Luk Luk Fuadah (2019), The Effect Of Tax, Tunneling Incentive, Bonus Mechanisms, And Firm Size On Transfer Pricing (Indonesian Evidence), Journal of Accounting, Finance and Auditing Studies5/1 (2019) 1-17 Khác
11. Barringer, M.; Milkovich, G. (1998) A theoretical exploration of the adoption and design of flexible benefit plans: A case of human resource innovation, Academy of Management Review, 23, 2, 305-324 Khác
12. Cheng Hui, Wu Zhan Xia (2014), Research on the factors of transfer pricing of Chinese enterprises, International Conference on Behavioral Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w