TÓM TẮT LUẬN VĂN Sau gần 10 năm thực hiện, Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ Quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đề tài “ Hoàn thiện nội dung tổ chức công tác kế toán tại các trường Trung học cơ sở thuộc Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Thủ Dầu Một” là công trình nghiên cứu của tác giả dưới sự giúp
đỡ, hướng dẫn khoa học của thầy PGS.TS Trần Phước Số liệu và kết quả
trong luận văn này trung thực và được công bố lần đầu tiên
Bình Dương, ngày … tháng… năm 2018
Tác giả thực hiện
Dương Hồng Cúc
Trang 2TÓM TẮT LUẬN VĂN
Sau gần 10 năm thực hiện, Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ Quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập cho thấy, việc
mở rộng trao quyền tự chủ cho đơn vị sự nghiệp đã góp phần nâng cao số lượng và chất lượng dịch vụ công; tạo điều kiện cho người dân có thêm cơ hội lựa chọn, tiếp cận các dịch vụ công với chất lượng ngày càng cao, đồng thời, góp phần cải thiện từng bước thu nhập của người lao động tại các đơn vị sự nghiệp, giảm dần sự phụ thuộc vào ngân sách nhà nước Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện, Nghị định 43/2006/NĐ-CP đã bộc lộ những hạn chế, bất cập cần được sửa đổi như các đơn vị sự nghiệp chưa được giao quyền tự chủ một cách đầy đủ; chưa thực sự khuyến khích các đơn vị có điều kiện vươn lên tự chủ ở mức cao hơn Do đó, việc ban hành Nghị định 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập (gọi tắt là Nghị định 16) đã kịp thời đáp ứng yêu cầu đổi mới, phát triển của hoạt động sự nghiệp công trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Những thay đổi của Nghị định 16 liên quan đến việc phân loại đơn vị sự nghiệp công lập, cơ chế tự chủ, cơ chế giá đã tác động đến công tác quản trị cũng như hạch toán kế toán tại mỗi đơn vị sự nghiệp công lập, đặt
ra yêu cầu phải sửa đổi, hoàn thiện các quy định hướng dẫn chế độ kế toán các đơn
vị hành chính sự nghiệp Tuy nhiên, tại thời điểm khảo sát thực hiện nghiên cứu, Bộ Tài chính vẫn chưa ban hành quy định sửa đổi bổ sung Quyết định số 19/2006/QĐ-BTC Về việc ban hành Chế độ kế toán hành chính sự nghiệp, Bộ Tài chính ban hành ngày 30 tháng 03 năm 2006 nhất là đối với các đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ hoàn toàn giống như hoạt động của các doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp
Trang 3Vì vậy, việc nghiên cứu Đề tài “Hoàn thiện nội dung tổ chức công tác kế
toán tại các trường Trung học cơ sở thuộc Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Thủ Dầu Một” nhằm tìm hiểu, xác định những khó khăn, tồn tại trong việc tổ chức
công tác kế toán cho các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực giáo dục là cần thiết
Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra những tồn tại hạn chế: tổ chức công tác kế toán chưa được chú trọng; hệ thống Báo cáo tài chính còn mang tính hình thức, chế độ số sách kế toán chưa được thực hiện đồng đều,…
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bài luận văn này tác giả xin gửi lời cảm ơn đến:
Trường Đại học Thủ Dầu Một nơi tác giả theo học khóa cao học đầu tiên của trường;
Đặc biệt tác giả xin dành lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến thầy hướng dẫn của mình là PGS.TS Trần Phước, người thầy đã hướng dẫn, dìu dắt, giúp đỡ cũng như chỉ bảo cho tác giả những thiếu sót trong suốt quá trình
thực hiện đề tài luận văn “ Hoàn thiện nội dung tổ chức công tác kế toán tại các trường Trung học cơ sở thuộc Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Thủ Dầu Một”;
Quý thầy, cô đã tận tình giảng dạy, truyền đạt cho tác giả những kiến thức quý báu, những kinh nghiệm thực tiễn trong thời gian tác giả học tập; Gia đình, bạn bè lớp cao học kế toán CH15KT đã hỗ trợ đồng hành cùng tác giả trong suốt thời gian qua;
Cuối cùng do thời gian cũng như kinh nghiệm thực hiện luận văn có hạn, chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót, những hạn chế tồn tại Tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý Thầy, Cô.
Bình Dương, ngày tháng năm 2018
Tác giả thực hiện
Dương Hồng Cúc
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
2 CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 2
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 4
4 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 4
5 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5
7 DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 6
8 Ý NGHĨA KHOA HỌC THỰC TIỄN VÀ CÁC ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI: 6
9 KẾT CẤU ĐỀ TÀI 7
CHƯƠNG 1 8
CƠ SỞ LÝ LUẬN TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG 8
1.1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG 8
1.1.1 Khái niệm đơn vị sự nghiệp công 8
1.1.2 Phân loại đơn vị sự nghiệp công 9
1.1.3 Đơn vị sự nghiệp công trong lĩnh vực giáo dục đào tạo 11
1.2 HỆ THỐNG VĂN BẢN PHÁP LÝ VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN CÔNG TRONG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG CỦA VIỆT NAM 12
1.3 NỘI DUNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG 13
1.3.1 Tổ chức vận dụng hệ thống chứng từ kế toán 14
1.3.2 Tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản kế toán 17
1.3.3 Tổ chức vận dụng hệ thống sổ kế toán 18
1.3.4 Tổ chức lập và cung cấp thông tin qua hệ thống nộp báo cáo tài chính 21
1.3.5 Tổ chức bộ máy kế toán 23
1.3.6 Tổ chức phân tích, kiểm tra kế toán 25
1.3.7 Ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác kế toán 25
Trang 6KẾT LUẬN CHƯƠNG I 26
CHƯƠNG 2 27
THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THUỘC PHÒNG GIAÓ DỤC ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT 27
2.1 GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT VỀ PHÒNG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT 27
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển Phòng GDĐT thành phố TDM 27
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Phòng Giáo dục 27
2.2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THUỘC PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT 33
2.2.1 Phương pháp thu thập dữ liệu và khảo sát 33
2.2.2 Kết quả khảo sát 37
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 68
CHƯƠNG 3 69
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN NỘI DUNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÁC TRƯỜNG THCS THUỘC PHÒNG GDĐT THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT 69
3.1 QUAN ĐIỂM , NGUYÊN TẮC VÀ CƠ SỞ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN 69
3.1.1 Quan điểm 69
3.1.2 Nguyên tắc 69
3.1.3 Cơ sở đề xuất giải pháp hoàn thiện nội dung tổ chức công tác kế toán 70
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN NỘI DUNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN 70 3.2.1 Vận dụng kế toán quản trị cho đơn vị sự nghiệp công lập 70
3.2.2 Hoàn thiện các quy chế quản lý và dự toán tại các trường 73
3.2.3 Hoàn thiện hệ thống chứng từ kế toán 74
3.2.4 Hoàn thiện sử dụng tài khoản kế toán 75
3.2.5 Hoàn thiện hệ thống sổ kế toán 76
Trang 73.2.6 Hoàn thiện việc lập và nộp báo cáo tài chính 76
3.2.7 Hoàn thiện tổ chức bộ máy kế toán 77
3.2.8 Hoàn thiện công tác kiểm tra kế toán 79
3.2.9 Hoàn thiện ứng dụng công nghệ thông tin vào kế toán 81
3.3 KIẾN NGHỊ 82
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 86
KẾT LUẬN 87
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ, HÌNH
BẢNG 2.1 – Tổng hợp tình hình tự chủ tài chính kinh phí hoạt động
BẢNG 2.2 – Thống kê các loại sổ kế toán các trường sử dụng
BẢNG 2.3 – Thống kê các loại báo cáo Kế toán các trường sử dụng
SƠ ĐỒ 1.1 – Nội dung tổ chức công tác kế toán
SƠ ĐỒ 2.1 – Sơ đồ tổ chức hoạt động của các trường THCS hiện nay
SƠ ĐỒ 2.2 – Quy trình lập, ký, luân chuyển và kiểm tra chứng từ
SƠ ĐỒ 2.3 - Quy trình trả lương cho CBCNV qua tài khoản cá nhân
SƠ ĐỒ 3.1 – Đề xuất của tác giả về bộ máy tổ chức kế toán cho các trường THCS
HÌNH 2.1 - Biểu đồ thể hiện loại hình ĐVSN tại đơn vị khảo sát
HÌNH 2.2 - Biểu đồ thể hiện trình độ chuyên môn hiện nay của kế toán
12 trường
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Phòng Giáo dục và Đào tạo Thành phố Thủ Dầu Một (TDM) là cơ quan hành chính trực thuộc Ủy ban nhân dân thành phố TDM, tỉnh Bình Dương có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân thành phố TDM quản lý nhà nước về lĩnh vực giáo dục Hiện Phòng Giáo dục và Đào tạo Thành phố TDM quản lý 40 đơn vị thuộc các cấp học: Mầm non, Tiểu học và Trung học cơ sở
Sau gần 40 năm hoạt động mặc dù đã có những đóng góp đáng kể trong hoạt động “trồng người”, nhưng mô hình tổ chức hoạt động của các cơ sở đào tạo đã bộc
lộ những bất cập từ quản lý, tổ chức kế toán ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động như việc cung cấp thông tin giữa cơ quan chủ quản và đơn vị trực thuộc còn chưa thống nhất, các quyết định ban hành chưa kịp thời, chưa dựa vào thực tế từng đơn vị Các báo cáo nặng tính hình thức chưa đánh giá được hiệu quả sử dụng nguồn kinh phí của đơn vị, đơn vị chủ quản chưa nắm bắt kịp thời các hoạt động phát sinh của đơn
vị
Tại Bình Dương, theo hiểu biết của tác giả chưa có một công trình nào nghiên cứu về giải pháp “Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại các trường Trung học cơ sở thuộc Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương
Do đó việc đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại các trường THCS thuộc Phòng GDĐT thành phố TDM, tỉnh Bình Dương là điều cần thiết, đáp ứng nhu cầu thực tiễn Đó cũng là nguyên nhân tác giả chọn đề tài “Hoàn thiện nội dung tổ chức công tác kế toán tại các Trường Trung học cơ sở thuộc Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Thủ Dầu Một”
để làm luận văn thạc sĩ của mình Xuất phát từ quá trình tìm hiểu về đề tài nghiên cứu, luận văn sẽ tập trung vào các vấn đề chính như những vấn đề cơ bản về tổ
Trang 11chức công tác kế toán trong các đơn vị sự nghiệp, thực tế tổ chức công tác kế toán tại 12 trường THCS thuộc Phòng GDĐT thành phố TDM, tỉnh Bình Dương Luận văn phân tích những ưu điểm và tồn tại từ đó đưa ra một số giải pháp cụ thể nhằm tiếp tục hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại các trường Trung học cơ sở trong thời gian tới
2 CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
- Nguyễn Thị Thu Hương (2013), thực hiện nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện công tác kế toán tại các đơn vị sự nghiệp thuộc Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Đà Nẵng” nhằm: (i) Hệ thống hóa các vấn đề cơ bản về công tác kế toán trong các đơn vị sự nghiệp; (ii) Nghiên cứu thực trạng công tác kế toán trong các đơn vị
sự nghiệp thuộc Sở khoa học và công nghệ Đà Nẵng, từ đó đề xuất những giải pháp hoàn thiện công tác kế toán phục vụ cho quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp thuộc Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Đà Nẵng[ 18 ]
- Võ Thị Tuyết Nga (2014), thực hiện nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện công tác
kế toán ở các đơn vi sự nghiệp thuộc sở Tư pháp tỉnh Quảng Nam” nhằm: (i) làm rõ những vấn đề cơ bản về tổ chức công tác kế toán ở đơn vị sự nghiệp; (ii) Phân tích đánh giá thực trạng công tác kế toán ở các đơn vị sự nghiệp thuộc Sở Tư pháp tỉnh Quảng Nam, từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác kế toán ở các đơn vị
sự nghiệp thuộc Sở Tư pháp tỉnh Quảng Nam [ 19 ]
- Đặng Thị Thảo Nguyên ( 2015), thực hiện nghiên cứu đề tài “ Hoàn thiện công tác kế toán tại các đơn vị sự nghiệp thuộc Sở Xây Dựng Thành phố Đà Nẵng” nhằm (i) phân tích và đánh giá thực trạng công tác kế toán trong các đơn vị sự nghiệp thuộc Sở xây dựng thành phố Đà Nẵng Kết quả là đã đưa ra 4 giải pháp (Hoàn thiện công tác lập dự toán tại các đơn vị sự nghiệp thuộc Sở xây dựng, Hoàn thiện công tác kế toán các phần hành cơ bản ở các ĐVSN tại Sở xây dựng, Hoàn
Trang 12thiện công tác quản lý tài chính tại các ĐVSN thuộc Sở xây dựng thành phố Đà Nẵng, Hoàn thiện công tác kiểm kê, quyết toán.) [ 20 ]
- ThS Nguyễn Thị Minh Phương (2014), Mục tiêu của bài viết “ Vai trò của
kế toán hành chính sự nghiệp trong quản lý ngân sách” trên Tạp chí Tài chính số 5-
2014 là quan tâm biện pháp để hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại các đơn vị ( Nêu vai trò của công tác kế toán HCSN, Nhiệm vụ của công tác kế toán HCSN, Tổ chức công tác kế toán trong đơn vị HCSN, Về Tổ chức quy trình kế toán, Về tổ chức
bộ máy kế toán trong đơn vị HCSN) [ 21 ]
- Ths Lâm Thị Thảo Trang ( 2013), thực hiện đề tài nghiên cứu “Hoàn thiện nội dung tổ chức công tác kế toán tại các đơn vị sự nghiệp giáo dục đại học thuộc đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh ” nhằm (i) những vấn đề lý luận về tổ chức công tác kế toán tại các ĐVSNCL; (ii) Nghiên cứu thực trạng tổ chức công tác
kế toán tại các ĐVSN Giáo dục đại học thuộc Đại học quốc gia- Hồ Chính Minh, từ
đó tác giả đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện nội dung tổ chức công tác kế toán tại các ĐVSN thuộc Đại học quốc gia-Hồ Chí Minh [ 22 ]
Nhìn chung đề tài mà các tác giả trước nghiên cứu đã phần nào hoàn thiện công tác kế toán tại các đơn vị mà tác giả thực hiện đề tài đồng thời cơ quan mà các tác giả nghiên cứu thuộc đơn vị dự toán cấp II (là đơn vị trực thuộc đơn vị dự toán cấp I, có trách nhiệm nhận dự toán ngân sách của đơn vị dự toán cấp I và phân bổ cho đơn vị dự toán cấp III, có trách nhiệm tổ chức điều hành quản lý kính phí của
cấp mình và đơn vị dự toán cấp dưới) trong khi đề tài “ Hoàn thiện nội dung tổ chức công tác kế toán tại các Trường Trung học cơ sở thuộc Phòng Giáo dục Đào tạo thành phố Thủ Dầu Một” của tác giả thuộc đơn vị dự toán cấp III (là đơn vị dự
toán trực tiếp sử dụng kinh phí từ đơn vị cấp II, có trách nhiệm tổ chức thực hiện quản lý kinh phí của đơn vị mình) Tác giả nhấn mạnh thực trạng tổ chức bộ máy kế toán cũng như việc vận dụng kế toán quản trị vào khu vực công và nhu cầu cần thiết
Trang 13xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ đồng bộ hóa quy trình thu, chi và sử dụng nguồn học phí.
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là khảo sát thực trạng công tác tổ chức kế toán
và đưa ra được một số giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại các trường Trung học cơ sở thuộc Phòng Giáo dục Đào tạo thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương
4 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
- Cơ sở lý luận tác giả căn cứ để thực hiện đề tài là những cơ sở nào?
- Thực trạng tổ chức công tác kế toán tại các tại các trường THCS thuộc Phòng GDĐT thành phố TDM
- Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại các trường THCS thuộc Phòng GDĐT thành phố TDM
5 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tổ chức công tác kế toán tại các trường THCS thuộc Phòng GDĐT thành phố TDM
Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu tổ chức công tác kế toán tại các trường Trung học cơ sở thuộc Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố TDM, cụ thể:
+ Trường THCS Nguyễn Thị Minh Khai
+ Trường THCS Chu Văn An
+ Trường THCS Định Hòa
+ Trường THCS Trần Bình Trọng
+ Trường THCS Nguyễn Văn Cừ
Trang 14+ Trường THCS Nguyễn Viết Xuân
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, cụ thể sử dụng:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Đọc các quy chế hoạt động, nội dung tổ chức công tác kế toán Tài liệu sách, tạp chí, Internet, các đề tài nghiên cứu đã được công bố nhằm hệ thống cơ sở lý luận
về tổ chức công tác kế toán các đơn vị sự nghiệp công lập
-Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Sử dụng phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi để khảo sát thực trạng tổ chức công tác kế toán tại các trường THCS thuộc phòng GDĐT thành phố TDM với khách thể là kế toán tại các trường
- Phương pháp phân tích:
So sánh lý thuyết với thực tiễn và nhận xét, đánh giá tổ chức công tác kế toán
- Phương pháp thống kê mô tả: Tính các giá trị max, min, trung bình… để
mô tả thực trạng đơn vị
Trang 15
- Phương pháp thống kê toán học
Ứng dụng thống kê toán học để xử lý kết quả khảo sát thực trạng tổ chức công tác kế toán thông qua các số liệu thu được từ việc điều tra bằng bảng hỏi, bằng phương pháp phỏng vấn và từ phương pháp quan sát để từ đó lập bảng so sánh, phân tích, tổng hợp số liệu và rút ra nhận xét
7 DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU
Dữ liệu thứ cấp: được thu thập thông qua giáo trình, văn bản pháp luật, tạp chí chuyên ngành, nguồn thông tin tại các trường THCS
Dữ liệu sơ cấp: được thu thập bằng cách tiến hành điều tra bảng câu hỏi
8 Ý NGHĨA KHOA HỌC THỰC TIỄN VÀ CÁC ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI:
Luận văn đã phân tích, đánh giá thực trạng nội dung tổ chức công tác kế toán qua đó thấy được những ưu điểm và những mặt còn tồn tại cũng như những nguyên nhân dẫn đến kết quả đó, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện nội dung tổ chức công tác kế toán tại các trường THCS thuộc Phòng GDĐT thành phố TDM, tỉnh Bình Dương Kết quả nghiên cứu chỉ ra hạn chế như: (i) Số liệu báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán chưa đầy đủ; (ii) Việc xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ hiện nay chưa thật sự triệt để mà còn mang tính hình thức; (iii) Các văn bản pháp quy mới liên quan đến lĩnh vực kế toán tài chính đơn vị thường cập nhật qua Internet, báo chí là nhiều, văn bản giấy thì thường trễ so với thời gian ban hành đồng thời đưa ra giải pháp phù hợp (i) Xây dựng mô hình bộ máy kế toán kết hợp kế toán tài chính và kế toán quản trị (ii) Hoàn thiện tổ chức chứng từ kế toán
Trang 169 KẾT CẤU ĐỀ TÀI
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, luận văn được chia thành 03 chương
- Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức công tác kế toán tại các đơn vị sự nghiệp công lập;
- Chương 2: Thực trạng tổ chức công tác kế toán tại các trường Trung học cơ sở thuộc Phòng Giáo dục và đào tạo thành phố Thủ Dầu Một;
- Chương 3: Giải pháp hoàn thiện nội dung tổ chức công tác kế toán tại các trường Trung học cơ sở thuộc Phòng Giáo dục và đào tạo thành phố Thủ Dầu Một
Trang 17CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI
CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG 1.1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG
1.1.1 Khái niệm đơn vị sự nghiệp công
Nhà nước thiết lập hệ thống ĐVSN để đảm nhận nhiệm vụ cung cấp các dịch
vụ công trong các ngành, lĩnh vực, trong đó, các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, khoa học và công nghệ, văn hóa, thể thao chiếm số lượng lớn ĐVSNCL được xác định là bộ phận cấu thành bộ máy CQNN và chịu sự QLNN cả
về tổ chức cũng như hoạt động Trước đây, không có sự phân biệt cơ chế quản lý giữa ĐVSNCL với các CQNN, giữa người làm việc trong các ĐVSNCL với trong CQNN
Khái niệm về ĐVSNCL vẫn chưa được ghi nhận trong văn bản pháp luật cho đến khi Quốc hội thông qua Luật Viên chức năm 2010 Khoản 1 Điều 9 Luật Viên chức quy định, ĐVSNCL là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước [3, tr2] Cũng theo Luật Viên chức năm 2010, viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại ĐVSNCL theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị [3, tr1]
Theo Điều 2, Nghị định số 16/2015/NĐ-CP quy định ĐVSNCL là đơn vị do
cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ QLNN [7, tr1]
Như vậy, ĐVSNCL được nhận diện thông qua các yếu tố sau đây:
- Được thành lập bởi cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị,
tổ chức chính trị - xã hội theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định;
Trang 18- Là bộ phận cấu thành trong tổ chức bộ máy của CQNN, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội;
- Có tư cách pháp nhân; Cung cấp dịch vụ công, phục vụ QLNN;
- Viên chức là lực lượng lao động chủ yếu, bảo đảm cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của đơn vị Trong đó, đặc trưng của ĐVSN để phân biệt với cơ quan hành chính nhà nước, ĐVSN ngoài công lập và các cơ quan, tổ chức khác là vị trí pháp lý, tính chất hoạt động và đội ngũ viên chức
Các ĐVSN được các CQNN, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo trình tự, thủ tục chặt chẽ và là bộ phận cấu thành trong cơ cấu tổ chức CQNN nhưng không mang quyền lực nhà nước, không có chức năng QLNN như: xây dựng thể chế, thanh tra, xử lý vi phạm hành chính… Các ĐVSNCL bình đẳng với các tổ chức, cá nhân trong quan hệ cung cấp dịch vụ công.[11]
1.1.2 Phân loại đơn vị sự nghiệp công
Theo Điều 4, Chương I “NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG” , Nghị định 55/2012/NĐ-CP ngày 28/06/2012 “ Quy định về thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn
vị sự nghiệp công lập’’
Việc phân loại đơn vị sự nghiệp công lập dựa trên các căn cứ sau:
1.1.2.1 Căn cứ vào ngành, lĩnh vực hoạt động của đơn vị sự nghiệp công gồm có:
- ĐVSN giáo dục – Đào tạo và Dạy nghề
Trang 19- Cơ sở giáo dục mầm non
- Các trường tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông
- Các trung tâm kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp, trung tâm giáo dục, thường xuyên…
- Các trường đại học, cao đẳng, học viện
1.1.2.2 Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ phục vụ quản lý nhà nước hoặc thực hiện nhiệm vụ được giao và cung cấp dịch vụ công của đơn vị sự nghiệp công gồm:
- Đơn vị được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự
- Đơn vị chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự
1.1.2.3 Xét dưới góc độ vị trí pháp lý: ĐVSNCL có thể chia thành 5 loại:
- Đơn vị thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ
- Đơn vị thuộc Tổng cục, Cục
- Đơn vị thuộc UBND cấp tỉnh
- Đơn vị thuộc cơ quan chuyên môn của UBND cấp tỉnh
- Đơn vị thuộc UBND cấp huyện
1.1.2.4 Nghị định số 16/2015/NĐ-CP quy định cơ chế tự chủ của ĐVSNCL Chính phủ ban hành ngày 14/02/2015, chia ĐVSNCL thành 4 loại:
- ĐVSN công tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư;
- ĐVSN công tự bảo đảm chi thường xuyên;
- ĐVSN công tự bảo đảm một phần chi thường xuyên (do giá, phí dịch vụ sự nghiệp công chưa kết cấu đủ chi phí, được Nhà nước đặt hàng, giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp công theo giá, phí chưa tính đủ chi phí);
Trang 20- ĐVSN công do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên (theo chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao, không có nguồn thu hoặc nguồn thu thấp)
1.1.3 Đơn vị sự nghiệp công trong lĩnh vực giáo dục đào tạo
* Khái niệm
Đơn vị sự nghiệp giáo dục đào tạo công lập là đơn vị sự nghiệp thuộc sở hữu nhà nước, do nhà nước thành lập gắn liền với chức năng cung ứng dịch vụ giáo dục đào tạo cho xã hội và được nhà nước cấp phát kinh phí hoạt động
* Đặc điểm
Bên cạnh những đặc điểm của đơn vị sự nghiệp công lập, đơn vị sự nghiệp trong lĩnh vực giáo dục đào tạo còn có những đặc trưng cơ bản, thể hiện sự khác biệt về chức năng, nhiệm vụ trong họat động của mình:
Thứ nhất hoạt động của đơn vị giáo dục đào tạo công lập mang tính định hướng của nhà nước trong từng thời kỳ, đặc biệt đối với hoạt động đào tạo;
Thứ hai đơn vị sự nghiệp giáo dục cung ứng các dịch vụ công đặc biệt vì sản phẩm của nó là tri thức;
Thứ ba đơn vị sự nghiệp giáo dục đào tạo công lập sử dụng chính con người
để giáo dục đào tạo con người;
Thứ tư hoạt động sự nghiệp trong các đơn vị sự nghiệp giáo dục đào tạo mang tính kết nối cao giữa gia đình, nhà trường và xã hội;
Thứ năm, năm học không trùng với năm ngân sách
Tóm lại: Đơn vị sự nghiệp trong lĩnh vực giáo dục đào tạo có những đặc
trưng cơ bản, thể hiện sự khác biệt về chức năng, nhiệm vụ trong họat động như đã nêu trên Do vậy kế toán trong tổ chức này cũng có những khác biệt như:
- Nhân sự kế toán thường được định biên ít;
Trang 21- Tổ chức kế toán theo hướng kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ;
- Kế toán khoản thu học phí đều phải chịu sự kiểm soát của kho bạc;
- Kế toán khoản thu từ hoạt động biếu tặng tài trợ chưa có hướng dẫn chi tiết
từ cơ quan cấp trên
1.2 HỆ THỐNG VĂN BẢN PHÁP LÝ VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN CÔNG TRONG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG CỦA VIỆT NAM
Hiện nay, các ĐVSN công phải tuân thủ các quy định về công tác kế toán như:
- Thông tư 107/2017/TT-BTC Về việc Hướng dẫn chế độ hành chính sự nghiệp, Bộ tài chính ban hành ngày 10 tháng 10 năm 2017 (áp dụng từ ngày 01/01/2018)
- Luật Kế toán số 88/2015/QH13, Quốc hội ban hành ngày 20 tháng 11 năm
- Quyết định số 19/2006/QĐ-BTC Về việc ban hành Chế độ kế toán HCSN,
Bộ Tài chính ban hành ngày 30 tháng 03 năm 2006
- Thông tư số 185/2010/TT-BTC hướng dẫn sửa đổi, bổ sung Chế độ kế toán HCSN ban hành kèm theo Quyết định số 19/2006/QĐ-BTC ngày 30/3/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ Tài chính ban hành ngày 15 tháng 11 năm 2010
- Nghị định số 163/2016/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật ngân sách, Chính phủ ban hành ngày 21 tháng 12 năm 2016
- Nghị định số 16/2015/NĐ-CP Quy định cơ chế tự chủ của ĐVSNCL, Chính phủ ban hành ngày 14 tháng 02 năm 2015
Trang 22- Và một số văn bản pháp quy khác
Trong quá trình hoạt động, các ĐVSN phải có trách nhiệm chấp hành quy định của Luật NSNN, các tiêu chuẩn định mức, các quy định về chế độ kế toán HCSN do Nhà nước ban hành Cụ thể là đáp ứng yêu cầu về quản lý kinh tế - tài chính, tăng cường quản lý kiểm soát chi quỹ NSNN, quản lý tài sản công, nâng cao chất lượng công tác kế toán và hiệu quả quản lý trong các ĐVSN Vì thế, công tác
kế toán trong ĐVSN công phải đảm bảo được tính thống nhất giữa kế toán và yêu cầu quản lý của nhà nước và đơn vị; đảm bảo sự thống nhất về nội dung, phương pháp của kế toán với các chế độ kế toán hiện hành của Nhà nước; đảm bảo sự phù hợp với đặc thù của đơn vị
1.3 NỘI DUNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÁC ĐƠN VỊ
- Tổ chức kiểm tra kế toán.[1, tr8-18]
- Ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức công tác kế toán
Trang 23Sơ đồ 1.1 - Nội dung tổ chức công tác kế toán
1.3.1 Tổ chức vận dụng hệ thống chứng từ kế toán
Chứng từ kế toán là căn cứ pháp lý để chứng minh cho nghiệp vụ phát sinh, là căn cứ ghi sổ kế toán nên phải lập, ký, luân chuyển, kiểm tra đúng theo quy định của nhà nước Các ĐVSN công phải căn cứ vào đặc điểm hoạt động cũng như nhu cầu
về dữ liệu đầu vào của hệ thống kế toán, để vận dụng chế độ chứng từ kế toán vào đơn vị một cách phù hợp [16]
Theo điều 3, Luật Kế toán (2015, tr2): Chứng từ kế toán là những giấy tờ và vật mang tin phản ánh nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh và đã hoàn thành, làm căn cứ ghi sổ kế toán [1]
Chế độ chứng từ kế toán áp dụng cho ĐVSN công được nhà nước quy định thống nhất Theo chế độ kế toán, chứng từ kế toán được phân theo các chỉ tiêu sau
- Chỉ tiêu lao động tiền lương
- Chỉ tiêu vật tư
- Chỉ tiêu tiền tệ
- Chỉ tiêu tài sản cố định
NỘI DUNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN
hệ thống tài khoản
kế toán
Tổ chức vận dụng
hệ thống
sổ kế toán
Tổ chức lập và cung cấp thông tin BCTC
Tổ chức
bộ máy
kế toán
Tổ chức kiểm tra
kế toán
Ứng dung công nghệ thông tin trong tổ chức công tác kế toán
Trang 24Theo điều 16, Luật Kế toán (2015, tr9): Chứng từ kế toán phải có các nội dung chủ yếu sau đây: [1]
+ Tên và số hiệu của chứng từ kế toán;
+ Ngày, tháng, năm lập chứng từ kế toán;
+ Tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc cá nhân lập chứng từ kế toán; + Tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc cá nhân nhận chứng từ kế toán;
+ Nội dung nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh;
+ Số lượng, đơn giá và số tiền của nghiệp vụ kinh tế, tài chính ghi bằng số; tổng số tiền của chứng từ kế toán dùng để thu, chi tiền ghi bằng số và bằng chữ; + Chữ ký, họ và tên của người lập, người duyệt và những người có liên quan đến chứng từ kế toán
- Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính liên quan đến hoạt động của đơn vị hành chính sự nghiệp đều phải lập chứng từ kế toán Chứng từ kế toán chỉ lập 1 lần cho một nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh;
- Nội dung chứng từ phải rõ ràng, trung thực với nội dung nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh;
- Chữ viết trên chứng từ phải rõ ràng, không tẩy xóa, không viết tắt;
- Số tiền viết bằng chữ phải khớp, đúng với số tiền viết bằng số;
- Chứng từ kế toán phải được lập đủ số liên theo quy định cho mỗi chứng từ
- Mọi chứng từ kế toán phải có đủ chữ ký theo chức danh quy định trên chứng
từ mới có giá trị thực hiện Riêng chứng từ điện tử phải có chữ ký điện tử theo quy định của pháp luật Tất cả các chữ ký trên chứng từ kế toán đều phải ký bằng bút bi hoặc bút mục, không được ký bằng mực đỏ, bằng bút chì, hoặc dấu khắc sẵn chữ ký, chữ ký trên chứng từ kế toán dùng để chi tiền phải ký theo từng liên Chữ ký trên
Trang 25chứng từ kế toán của một người phải thống nhất và phải giống với chữ ký đã đăng
ký theo quy định, trường hợp không đăng ký chữ ký thì chữ ký lần sau phải thống nhất với chữ ký các lần trước đó
- Các đơn vị hành chính sự nghiệp chưa có chức danh kế toán trưởng thì phải
cử người phụ trách kế toán để giao dịch với KBNN, Ngân hàng, chữ ký kế toán trưởng được thay bằng chữ ký của người phụ trách kế toán của đơn vị đó Người phụ trách kế toán phải thực hiện đúng nhiệm vụ, trách nhiệm và quyền quy định cho
kế toán trưởng
- Chữ ký của Thủ trưởng đơn vị (hoặc người được ủy quyền), của kế toán trưởng (hoặc người được ủy quyền) và dấu đóng trên chứng từ phải phù hợp với mẫu dấu và chữ ký còn giá trị đã đăng ký tại KBNN hoặc Ngân hàng Chữ ký của kế toán viên trên chứng từ phải giống chữ ký trong sổ đăng ký mẫu chữ ký Kế toán trưởng (hoặc người được ủy quyền) không được ký “thừa ủy quyền” của Thủ trưởng đơn vị Người được ủy quyền không được ủy quyền lại cho người khác
- Các đơn vị hành chính sự nghiệp phải mở sổ đăng ký mẫu chữ ký của thủ quỹ, thủ kho, các nhân viên kế toán, kế toán trưởng (và người được ủy quyền), Thủ trưởng đơn vị (và người được ủy quyền) Sổ đăng ký mẫu chữ ký phải đánh số trang, đóng dấu giáp lai do Thủ trưởng đơn vị (hoặc người được ủy quyền) quản lý để tiện kiểm tra khi cần Mỗi người phải ký ba chữ ký mẫu trong sổ đăng ký
Tất cả các chứng từ kế toán do đơn vị lập hoặc từ bên ngoài chuyển đến đều phải tập trung vào bộ phận kế toán đơn vị Bộ phận kế toán phải kiểm tra toàn bộ chứng từ kế toán đó và chỉ sau khi kiểm tra, xác minh tính pháp lý của chứng từ thì mới dùng những chứng từ đó để ghi sổ kế toán
Trang 261.3.2 Tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản kế toán
Theo điều 22,23 Luật Kế toán (2015, tr11,12): Tài khoản kế toán là phương pháp kế toán dùng để phân loại và hệ thống hóa các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh theo nội dung kinh tế và theo trình tự thời gian tài khoản kế toán phản ảnh và kiểm soát thường xuyên liên tục, có hệ thống tình hình về tài sản, tiếp nhận và sử dụng kinh phí do ngân sách nhà nước cấp và các nguồn kinh phí khác cấp, thu, chi, hoạt động, kết quả hoạt động và các khoản khác ở các đơn vị hành chính sự nghiệp
Hệ thống tài khoản kế toán áp dụng cho các đơn vị hành chính sự nghiệp do
Bộ Tài chính quy định thống nhất về loại tài khoản, số lượng tài khoản, ký hiệu, tên gọi và nội dung ghi chép của từng tài khoản
Hệ thống tài khoản kế toán HCSN xây dựng theo nguyên tắc dựa vào bản chất
và nội dung hoạt động của đơn vị HCSN có vận dụng nguyên tắc phân loại và mã hóa của hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp và hệ thống tài khoản kế toán nhà nước
Hệ thống tài khoản kế toán áp dụng cho các đơn vị HCSN do Bộ tài chính quy định gồm 07 loại, từ Loại 1 đến Loại 6 là các tài khoản trong bảng cân đối tài khoản
và Loại 0 là các tài khoản ngoài Bảng cân đối tài khoản
- Tài khoản loại 1 gồm 3 chữ số thập phân
- Tài khoản loại 2 gồm 4 chữ số thập phân
- Tài khoản loại 3 gồm 5 chữ số thập phân
Cụ thể như sau:
Loai 1: Tiền và vật tư bao gồm 7 tài khoản: 111,112, 113,121,152,153,155
Loại 2: Tài sản cố định bao gồm 5 tài khoản :211,213,214,221,241
Trang 27Loại 3: Thanh toán bao gồm 12 tài khoản: 311, 312,313,331, 332,333, 334,
335, 336, 337, 341, 342
Loại 4: Nguồn kinh phí bao gồm 10 tài khoản: 411, 412, 413, 421, 431, 441,
461, 462, 465, 466
Loại 5 :Các khoản thu bao gồm 03 tài khoản : 511,521,531
Loại 6 :Các khoản chi bao gồm 06 tài khoản: 631,635,642,643,661,662
Loại 0: Tài khoản ngoài bảng gồm 07 tài khoản: 001, 002, 004, 005, 007, 008, 009
Các đơn vị HCSN phải căn cứ vào hệ thống tài khoản kế toán ban hành theo quyết định này để lựa chọn tài khoản áp dụng cho đơn vị đơn vị được bổ sung thêm các tài khoản từ cấp 2 trở đi (ngoại trừ các tài khoản đã quy định) để phục vụ cho yêu cầu quản lý của cấp mình Trường hợp muốn bổ sung tài khoản cấp 1 thì phải được Bộ tài chính chấp thuận bằng văn bản trước khi thực hiện
1.3.3 Tổ chức vận dụng hệ thống sổ kế toán
Theo điều 24,25 Luật Kế toán (2015, tr13) Sổ kế toán dùng để ghi chép, hệ thống và lưu giữ toàn bộ các nhiệm vụ kinh tế, tài chính đã phát sinh theo nội dung kinh tế và theo trình tự thời gian có liên quan đến đơn vị hành chính, sự nghiệp Các đơn vị hành chính sự nghiệp đều phải mở sổ kế toán, ghi chép, quản lý, bảo quản, lưu trữ sổ kế toán theo đúng quy định của Luật Kế toán, Nghị định
số 128/2004/NĐ-CP ngày 31/5/2004 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Kế toán áp dụng trong lĩnh vực kế toán nhà nước và Chế độ kế toán này
Đối với các đơn vị kế toán cấp I và cấp II (Gọi tắt là cấp trên) ngoài việc mở sổ
kế toán theo dõi tài sản và sử dụng kinh phí trực tiếp của cấp mình còn phải mở sổ
kế toán theo dõi việc phân bổ dự toán, tổng hợp việc sử dụng kinh phí và quyết toán kinh phí của các đơn vị trực thuộc (đơn vị kế toán cấp II cấp III) để tổng hợp báo
Trang 28cáo tài chính về tình hình sử dụng kinh phí và quyết toán với cơ quan quản lý cấp trên và cơ quan tài chính đồng cấp
Mỗi đơn vị kế toán chỉ có một hệ thống sổ kế toán cho một kỳ kế toán năm Sổ
kế toán gồm: Sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết Đối với đơn vị tiếp nhận kinh phí viện trợ của các tổ chức, cá nhân nước ngoài, theo yêu cầu của nhà tài trợ, thì đơn vị nhận viện trợ phải mở thêm sổ kế toán chi tiết theo dõi quá trình tiếp nhận
và sử dụng nguồn kinh phí viện trợ để làm cơ sở lập báo cáo tài chính theo yêu cầu của nhà tài trợ
Tùy theo hình thức kế toán đơn vị áp dụng, đơn vị phải mở đầy đủ các sổ kế toán tổng hợp, sổ kế toán chi tiết và thực hiện đầy đủ, đúng các quy định của hình thức kế toán về nội dung, trình tự và phương pháp ghi chép đối với từng mẫu sổ kế toán Nhà nước quy định bắt buộc về mẫu sổ, nội dung và phương pháp ghi chép đối với các loại sổ tổng hợp (Sổ Cái, Sổ Nhật ký) quy định mang tính hướng dẫn đối với các loại sổ kế toán chi tiết, thẻ kế toán chi tiết
Sổ kế toán phải được quản lý chặt chẽ, phân công rõ ràng trách nhiệm cá nhân giữ và ghi sổ Sổ kế toán giao cho nhân viên nào nhân viên đó phải chịu trách nhiệm
về những điều ghi trong sổ suốt thời gian giữ và ghi sổ
Sổ kế toán phải ghi kịp thời, rõ ràng, đầy đủ theo các nội dung của sổ Thông tin, số liệu ghi vào sổ kế toán phải chính xác, trung thực, đúng với chứng từ kế toán Việc ghi sổ kế toán phải theo trình tự thời gian phát sinh của nghiệp vụ kinh tế, tài chính Thông tin, số liệu ghi trên sổ kế toán của năm sau phải kế tiếp thông tin,
số liệu ghi trên sổ kế toán của năm trước liền kề Sổ kế toán phải ghi liên tục từ khi
mở sổ đến khi khóa sổ
Sổ kế toán phải được mở vào đầu kỳ kế toán năm hoặc ngay sau khi có quyết định thành lập bắt đầu hoạt động của đơn vị kinh tế
Trang 29Việc ghi sổ kế toán phải dùng bút mực, không dùng mực đỏ và bút chì để ghi
sổ kế toán Số và chữ viết phải rõ ràng, liên tục có hệ thống, khi ghi hết trang phải cộng số liệu của từng trang để mang số cộng trang sang đầu trang kế tiếp Sổ kế toán không được viết tắt, không được ghi xen thêm vào phía trên hoặc phía dưới, không ghi chồng đè, không được bỏ cách dòng Nếu không ghi hết trang sổ phải gạch chéo phần không ghi Cấm tẩy xóa, cấm dùng chất hóa học để sửa chữa Khi sửa chữa sổ phải sử dụng các phương pháp sửa chữa theo quy định trong Luật Kế toán và Chế độ
Hình thức kế toán trên máy vi tính
Mỗi hình thức sổ đều có một đặc điểm riêng, hệ thống sổ kế toán riêng, ưu và nhược điểm khác nhau phù hợp với từng đơn vị, các đơn vị tùy vào đặc điểm cũng như điều kiện của đơn vị mình mà lựa chọn hình thức sổ phù hợp và hiện nay các
trường THCS thực hiện theo hình thức chứng từ ghi sổ (Phụ lục 03)
Đặc trưng cơ bản của hình thức kế toán chứng từ ghi sổ là việc ghi sổ kế toán tổng hợp được căn cứ trực tiếp từ “Chứng từ ghi sổ” dùng để phân loại, hệ thống hóa và xác định nội dung ghi Nợ, ghi Có của nghiệp vụ kinh tế tài chính đã phát sinh.Việc ghi sổ kế toán dựa trên cơ sở chứng từ ghi sổ sẽ được tách biệt thành hai quá trình riêng biệt
Ghi theo trình tự thời gian nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh trên sổ đăng
ký chứng từ ghi sổ
Ghi theo nội dung kinh tế của nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh trên Sổ cái
Trang 30Hàng ngày hoặc định kỳ, căn cứ vào chứng từ kế toán đã được kiểm tra để lập chứng từ ghi sổ, đối với nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh thường xuyên, có nội dung kinh tế giống nhau được sử dụng để lập “Bảng tổng hợp chứng từ kế toán cùng loại‟ để lập Chứng từ ghi sổ Chứng từ ghi sổ sau khi lập xong chuyển đến kế toán trưởng hoặc người phụ trách kế toán duyệt sau đó chuyển cho bộ phận kế toán tổng hợp vào sổ đăng ký Chứng từ ghi sổ và ghi vào Sổ cái
Cuối tháng sau khi ghi hết Chứng từ ghi sổ lập trong tháng vào sổ đăng ký chứng từ ghi sổ và Sổ cái, kế toán tiến hành khoá Sổ cái để tính ra số phát sinh Nợ,
số phát sinh Có và số dư cuối tháng của từng tài khoản Căn cứ vào sổ đăng ký chứng từ ghi sổ và Sổ cái, sau khi kiểm tra, đối chiếu khớp đúng số liệu thì sử dụng
để lập: Bảng cân đối số phát sinh và Báo cáo tài chính
Các sổ, thẻ kế toán chi tiết : căn cứ vào các chứng từ kế toán hoặc các chứng từ
kế toán kèm theo “ Bảng tổng hợp chứng từ kế toán cùng loại” được sử dụng để ghi vào các sổ, thẻ kế toán chi tiết, lấy số liệu sau khi khóa sổ để lập “Bảng tổng hợp chi tiết” theo từng tài khoản Sau khi kiểm tra, đối chiếu khớp, đúng các số liệu trên bảng tổng hợp chi tiết của các tài khoản được sử dụng để lập báo cáo tài chính
1.3.4 Tổ chức lập và cung cấp thông tin qua hệ thống nộp báo cáo tài chính
Báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân sách dùng để tổng hợp tình hình về tài sản, tiếp nhận và sử dụng kinh phí ngân sách của Nhà nước; tình hình thu, chi và kết quả hoạt động của đơn vị hành chính sự nghiệp trong kỳ kế toán, cung cấp thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu cho việc đánh giá tình hình thực trạng của đơn vị, là căn cứ quan trọng giúp cơ quan nhà nước, lãnh đạo đơn vị kiểm tra, giám sát điều hành hoạt động của đơn vị
Trang 31Báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân sách phải lập đúng theo mẫu biểu quy định, phản ánh đầy đủ các chi tiết đã quy định, phải lập đúng kỳ hạn, nộp đúng
thời gian và đầy đủ báo cáo tới từng nơi nhận báo cáo
Hệ thống chỉ tiêu báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân sách phải phù hợp
và thống nhất với chỉ tiêu dự toán năm tài chính và Mục lục ngân sách nhà nước, đảm bảo có thể so sánh được giữa số thực hiện với số dự toán và giữa các kỳ kế toán với nhau Trường hợp lập báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân sách có nội dung và phương pháp trình bày khác với các chỉ tiêu trong dự toán hoặc khác với báo cáo tài chính kỳ kế toán năm trước thì phải giải trình trong phần thuyết minh báo cáo tài chính
Phương pháp tổng hợp số liệu và lập các chỉ tiêu trong báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân sách phải được thực hiện thống nhất ở các đơn vị hành chính sự nghiệp, tạo điều kiện cho việc tổng hợp, phân tích, kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện dự toán ngân sách Nhà nước của cấp trên và các cơ quan quản lý nhà nước
Số liệu trên báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân sách phải chính xác, trung thực, khách quan và phải được tổng hợp từ các số liệu của sổ kế toán
Các cơ quan Tài chính, Kho bạc Nhà nước, Thuế và các đơn vị khác có liên quan, có trách nhiệm phối hợp trong việc kiểm tra, đối chiếu, điều chỉnh, cung cấp
và khai thác số liệu về kinh phí và sử dụng kinh phí, quản lý sử dụng tài sản và các hoạt động khác có liên quan đến tình hình thu, chi ngân sách nhà nước và các hoạt động nghiệp vụ chuyên môn của đơn vị hành chính sự nghiệp
Hệ thống báo cáo tài chính và báo cáo quyết toán áp dụng cho các đơn vị SNCL hiện nay được thực hiện theo Quyết định số 19/2006 /QĐ – BTC ngày 30/3/2006 của Bộ trưởng Bộ tài chính về việc Ban hành Chế độ kế toán HCSN (Từ ngày 01/01/2018 theo Thông tư 107/2017/TT-BTC ngày 10/10/2017 của Bộ Tài chính) và các văn bản pháp quy khác hiện hành bao gồm:
Trang 32- Bảng tổng hợp chứng từ quyết toán
- Sổ chi tiết hoạt động (mẫu số: S61-H)
- Bảng cân đối tài khoản (Mẫu B01-H)
- Tổng hợp tình hình kinh phí và quyết toán kinh phí đã sử dụng (Mẫu B02-H)
- Báo cáo chi tiết kinh phí hoạt động ( Mẫu F02- 1 H)
- Bảng đối chiếu dự toán kinh phí ngân sách cấp theo hình thức rút dự toán tại kho bạc nhà nước (mẫu F02- 3aH)
- Bảng đối chiếu tình hình tạm ứng và thanh toán tạm ứng kinh phí ngân sách tại kho bạc nhà nước (Mẫu F02-3bH)
- Báo cáo thu chi hoạt động sự nghiệp và hoạt động SXKD (B03-H)
- Báo cáo tình hình tăng, giảm TSCĐ (B04-H)
- Báo cáo kinh phí chưa sử dụng năm trước chuyển sang (B05-H)
1.3.5 Tổ chức bộ máy kế toán
Để thực hiện được chức năng, nhiệm vụ hạch toán kế toán trong một đơn vị cần tổ chức bộ máy kế toán hợp lý Bộ máy này được xây dựng trên cơ sở định hình được khối lượng công tác kế toán và tổ chức hệ thống thông tin kế toán đạt chất lượng
Tổ chức bộ máy kế toán đơn vị HCSN là tổ chức sử dụng nhân sự để thực hiện công tác kế toán trong đơn vị HCSN Tổ chức bộ máy kế toán ở đơn vị HCSN được
tổ chức theo ngành dọc phù hợp với các cấp dự toán theo quy định của Luật ngân sách nhà nước Tổ chức bộ máy kế toán trong đơn vị HCSN gồm các vấn đề sau:
- Xác định số lượng người cần phải có trong bộ máy
- Phân công, phân nhiệm để thực hiện các phần hành kế toán
Trang 33- Xác lập mối quan hệ giữa các bộ phận trong bộ máy kế toán cũng như các bộ phận khác có liên quan trong đơn vị, để thu thập, luân chuyển, xử lý dữ liệu, cung cấp thông tin
- Xây dựng kế hoạch công tác, quy trình làm việc của bộ phận kế toán nhằm đảm bảo quy định của Nhà nước, đạo đức nghề nghiệp
Tùy theo quy mô của đơn vị mà hệ thống kế toán đơn vị có thể tổ chức theo
mô hình tập trung hay phân tán:
- Mô hình tập trung: Tất cả công việc kế toán đuợc thực hiện tại phòng kế toán Đơn vị chỉ mở một bộ sổ kế toán, tổ chức một bộ máy kế toán để thực hiện toàn bộ công tác kế toán từ thu nhận, ghi sổ, xử lý thông tin trên hệ thống báo cáo phân tích
và tổng hợp của đơn vị
Hình thức này thích hợp với đơn vị có quy mô nhỏ, tổ chức trên địa bàn tập trung, có phương tiện tính toán và truyền tin hiện đại với ưu, nhược điểm nhất định
* Ưu điểm
+ Đảm bảo sự lãnh đạo tập trung, thống nhất, thuận lợi cho việc kiểm tra, giám
sát và báo cáo kế toán đồng thời thuận tiện cho sự phân công công việc kế toán, trang bị máy móc, phương tiện tính toán
+ Cung cấp thông tin cho quản lý chính xác kịp thời về hoạt động kinh tế, tài
chính của đơn vị
+ Cho phép tổ chức bộ máy công tác kế toán gọn nhẹ, tiết kiệm chi phí
* Nhược điểm : nếu địa bàn hoạt động phân tán, trình độ trang bị phương tiện
kỹ thuật ghi chép chưa cao thì việc kiểm tra, giám sát của kế toán trưởng và lãnh đạo đơn vị đối với mọi hoạt động ở các đơn vị trực thuộc sẽ bị hạn chế
Hình thức này thích hợp với đơn vị có quy mô nhỏ, tổ chức trên địa bàn tập trung, có phương tiện tính toán và truyền tin hiện đại
Trang 34- Mô hình phân tán: công việc kế toán được phân cấp cho các bộ phận trực thuộc thực hiện một phần, sau đó phòng kế toán căn cứ vào số liệu do các bộ phận, đơn vị trực thuộc cung cấp để thực hiện tổng hợp và lập báo cáo cho từng đơn vị
1.3.6 Tổ chức phân tích, kiểm tra kế toán
Đơn vị HCSN phải có trách nhiệm thực hiện kiểm tra tình hình công tác kế toán tại đơn vị Ngoài ra việc kiểm tra kế toán còn phải được thực hiện bởi cơ quan cấp trên và cơ quan tài chính cho tất cả các kỳ hoạt động của đơn vị Nội dung kiểm tra bao gồm:
- Kiểm tra việc chấp hành chính sách, quy định về quản lý tài chính;
- Kiểm tra việc tổ chức vận dụng chế độ kế toán: Tổ chức vận dụng hệ thống chứng từ kế toán, tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản kế toán, tổ chức vận dụng hệ thống sổ kế toán, tổ chức lập và cung cấp thông tin qua hệ thống báo cáo tài chính
- Kiểm tra tính cập nhật và xác thực thông tin do kế toán thu thập, ghi nhận
và cung cấp
- Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch và quy trình làm việc tại đơn vị
Định kỳ đơn vị HCSN phải tổ chức phân tích tình hình hoạt động của đơn
vị nhằm kiểm tra tình hình sử dụng kinh phí nhà nước, tình hình chấp hành dự toán, định mức, tiêu chuẩn chi tiêu, đánh giá hiệu quả công tác và kiến nghị các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị
1.3.7 Ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác kế toán
Công nghệ thông tin đã góp phần làm thay đổi toàn diện lĩnh vực kế toán, thể hiện rõ nhất ở phương thức xử lý dữ liệu và cung cấp thông tin kế toán có những bước nhảy vọt so với quy trình xử lý kế toán thủ công trước đây
Trang 35Ngày nay với sự phát triển của công nghệ thông tin, việc sử dụng máy tính trong công tác kế toán gần như là bắt buộc Tin học hóa công tác kế toán không chỉ giải quyết được vấn đề cung cấp thông tin nhanh chóng, thuận lợi mà nó còn làm cho năng suất lao động tăng, tạo điều kiện thuận lợi tinh giản bộ máy kế toán đồng thời đảm bảo tính kịp thời, thống nhất giúp cho người quản lý nắm bắt các số liệu về tài chính, cơ sở vật chất của các đơn vị trực thuộc một cách nhanh chóng và đầy đủ
KẾT LUẬN CHƯƠNG I
Trong chương 1 tác giả đã khái quát được cơ sở lý luận về công tác kế toán tại ĐVSN công, phân loại đơn vị sự nghiệp công Tiếp đó tác giả giới thiệu khái quát hệ thống văn bản pháp lý của Việt Nam và đưa ra nội dung tổ chức công tác kế toán ở ĐVSNCL Đây là nền tản lý thuyết để tác giả có cơ sở nghiên cứu thực trạng
ở chương 2 khi tác giả đi vào phân tích thực trạng tổ chức công tác kế toán tại các Trường THCS Thuộc Phòng GDĐT thành phố Thủ Dầu Một
Trang 36CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THUỘC PHÒNG GIAÓ DỤC
ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
2.1 GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT VỀ PHÒNG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển Phòng GDĐT thành phố TDM
Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Thủ Dầu Một được hình thành từ tháng 5/1975, ban đầu Phòng Giáo dục có tên là Phòng Giáo dục Huyện Châu Thành Từ đầu năm 1976 Phòng Giáo dục Huyện Châu Thành tách thành Phòng Thanh tra Giáo dục và hoạt động tại trường Chung Dương nay thuộc trường Mẫu
giáo Hoa Lan
Cuối năm 1976 đến đầu năm 1977 Phòng chuyển về trường Nguyễn Trãi , đến năm 1979 chuyển về Trường Nghĩa An nay thuộc trường Mẫu giáo Sơn Ca để hoạt động
Năm 1986 Phòng Giáo dục chuyển về trụ sở Ban kế hoạch thuộc địa điểm hiện nay đang hoạt động Từ năm 1986 đến nay Phòng có tên là Phòng Giáo dục thị
xã Thủ Dầu Một , hoạt động trên địa bàn thị xã Thủ Dầu Một
Từ khi thành lập đến nay cơ quan Phòng Giáo dục và Đào tạo đã đạt được rất nhiều thành quả về công tác Giáo dục, phát huy tính chất, hiệu quả trong lĩnh vực trên địa bàn thị xã
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Phòng Giáo dục
2.1.2.1 Chức năng
Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Thủ Dầu Một là đơn vị trực thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo Bình Dương Phòng chịu sự quản lý về chuyên môn của Sở
Trang 37Giáo dục và Đào tạo và sự chỉ đạo của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương
Phòng có chức năng tham mưu, giúp Uỷ ban nhân dân thành phố thực hiện chức năng quản lý nhà nước về các lĩnh vực Giáo dục và Đào tạo bao gồm: Mục tiêu chương trình và nội dung Giáo dục và Đào tạo; tiêu chuẩn nhà giáo và tiêu chuẩn cán bộ quản lý giáo dục, tiêu chuẩn cơ sở vật chất, thiết bị trường học và đồ chơi trẻ em; quy chế thi cử và cấp văn bằng, chứng chỉ; bảo đảm chất lượng giáo dục và đào tạo
2.1.2.2 Nhiệm vụ và quyền hạn
Tùy thuộc vào chức năng, nhiệm vụ đặc điểm riêng của mỗi cơ quan khác nhau
mà văn phòng làm việc của mỗi cơ quan có nhiệm vụ khác nhau
Phòng Giáo dục có nhiệm vụ là xây dựng kế hoạch và hướng dẫn các trường Trung học cơ sở, Tiểu học, Mầm non… thực hiện các chương trình dạy và học tại các trường trong thành phố Thủ Dầu Một theo chỉ tiêu giáo dục của Tỉnh và Uỷ ban Thành phố Phối hợp thực hiện các chương trình kế hoạch có liên quan đến ngành Giáo dục và chịu trách nhiệm về kết quả công tác Giáo dục
Ngoài ra Phòng giáo dục còn phải thu thập, xử lý, sử dụng thông tin từ Sở Giáo dục đưa xuống, thường xuyên kiểm tra các trường tại các địa phương, duy trì hoạt động thường xuyên và liên tục
2.1.2.3 Cơ cấu tổ chức của Phòng Giáo dục
Bộ máy làm việc của Phòng Giáo dục được quy định từ trên xuống đứng đầu Phòng là Trưởng phòng và sau là Phó Trưởng phòng
Trang 38- Trưởng phòng:
Là người chịu trách nhiệm chung mọi trách nhiệm công việc chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra việc triển khai thực hiện nhiệm vụ Đồng thời có trách nhiệm phân công công việc cho cán bộ, nhân viên cấp dưới, bố trí nhân sự, đề nghị khen thưởng kỹ luật, lập xét duyệt, kế hoạch trong phạm vi quyền hạn
+ Chuyên viên Thanh tra – Thi đua
+ Chuyên viên Xây dựng cơ bản – Thư viện Thiết bị
+ Nhân viên Kế toán, Thủ qũy
+ Nhân viên Văn thư
- Bộ phận Chuyên Môn gồm có: Mầm Non, Tiểu Học, Trung học cơ sở, Phổ cập giáo dục, Đoàn đội
Căn cứ vào tính chất của các lĩnh vực chuyên môn và yêu cầu công tác , Trưởng phòng ban hành Quy chế quy định về chức năng , nhiệm vụ của từng lĩnh vực Các tổ trưởng chuyên môn chịu trách nhiệm trước Trưởng phòng về việc thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn được Trưởng phòng giao cho
Trang 39- Lãnh đạo, cán bộ, công chức, nhân viên đảm bảo sự thống nhất trong công tác chỉ đạo, nâng cao năng lực, học tập
- Mỗi cán bộ nhân viên các bộ phận thuộc Phòng Giáo dục và Đào tạo được giao một số nhiệm vụ, quyền hạn và chịu trách nhiệm về công tác của mình Cán bộ nhân viên thực hiện nhiệm vụ trong phạm vi quyền hạn được xác định đồng thời có trách nhiệm phối hợp cộng tác với đồng nghiệp để đảm bảo hiệu quả, hiệu lực trong công tác quản lý của Phòng Giáo dục và Đào tạo
Ngoài ra các đoàn thể như các trường học trong và ngoài công lập phải chịu sự chỉ đạo, giám sát của Phòng Giáo dục và Đào tạo Chịu trách nhiệm công tác đối với Phòng Giáo dục và Đào tạo, các đơn vị trường học có nhiệm vụ, chức năng đôn đốc đơn vị mình thực hiện tốt công tác dạy và học nhằm đạt được kết quả tốt nhất
2.1.2.4 Thông tin chung về hệ thống các trường THCS trực thuộc Phòng GDĐT thành phố TDM:
Trường trung học là cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục quốc dân.Trường có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng
* Nhiệm vụ và quyền hạn của trường trung học
Trường trung học có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
- Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo mục tiêu, chương trình giáo dục phổ thông dành cho cấp THCS và cấp THPT do Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Công khai mục tiêu, nội dung các hoạt động giáo dục, nguồn lực và tài chính, kết quả đánh giá chất lượng giáo dục
- Quản lý giáo viên, cán bộ, nhân viên theo quy định của pháp luật
- Tuyển sinh và tiếp nhận học sinh; vận động học sinh đến trường; quản lý học sinh theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo
- Thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục trong phạm vi được phân công
Trang 40- Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực cho hoạt động giáo dục Phối hợp với gia đình học sinh, tổ chức và cá nhân trong hoạt động giáo dục
- Quản lý, sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất, trang thiết bị theo quy định của Nhà nước
- Tổ chức cho giáo viên, nhân viên, học sinh tham gia hoạt động xã hội
- Thực hiện các hoạt động về kiểm định chất lượng giáo dục
- Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật
* Loại hình và hệ thống trường trung học
Trường trung học được tổ chức theo hai loại hình: công lập và tư thục
- Trường công lập do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập và Nhà nước trực tiếp quản lý Nguồn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và kinh phí cho chi thường xuyên chủ yếu do ngân sách nhà nước bảo đảm;
- Trường tư thục do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép Nguồn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và kinh phí hoạt động của trường tư thục là nguồn ngoài ngân sách nhà nước
* Các trường THCS thuộc Phòng GDĐT thành phố Thủ Dầu Một hiện nay
+ Trường THCS Nguyễn Thị Minh Khai
+ Trường THCS Chu Văn An