24 người nộp NSNN và sau đó, phải nộp đầy đủ, đúng thời hạn vào KBNN theo quy định tại Thông tư 328/2016/TT-BTC; trường hợp cơ quan Thuế ủy nhiệm thu tiền mặt đối với số thuế phải nộp củ
Trang 11
UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
NGUYỄN THỊ THU SƯƠNG
HOÀN THIỆN KIỂM SOÁT NỘI BỘ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI PHÒNG GIAO DỊCH THỦ DẦU MỘT,
KHO BẠC NHÀ NƯỚC BÌNH DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: KẾ TOÁN
MÃ SỐ: 8340301
Trang 22
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngân sách nhà nước là nơi tập trung quỹ tiền tệ lớn nhất của một nước và nó được xem là công cụ điều chỉnh kinh tế xã hội mang tính vĩ mô đối với định hướng phát triển sản xuất, điều tiết thị trường và giúp bình ổn giá cả Nhà nước muốn vận hành đất nước mình đi theo đúng với những hoạch định kinh tế thì phải cần đến nguồn lực ngân sách Với vai trò quan trọng như vậy, Việt Nam nói chung, tỉnh Bình Dương nói riêng cũng không nằm ngoài xu hướng chung đó và cũng cần có những biện pháp hữu hiệu trong quá trình tổ chức thu ngân sách nhà nước
Trong những năm qua, tỉnh Bình Dương đã có những kết quả rất khả quan trong việc tập trung nguồn thu vào NSNN Theo số liệu thống kê 6 tháng đầu năm 2018, tỉnh Bình Dương đứng thứ ba của cả nước về doanh số thu nội địa, riêng lĩnh vực thu thuế xuất nhập khẩu thì đứng thứ sáu của cả nước Thủ Dầu Một là thành phố trực thuộc tỉnh Bình Dương, được công nhận là đô thị loại I, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có vị trí tương đối thuận lợi cho việc giao lưu với các huyện, thị trong tỉnh
và cả nước Cách Thành phố Hồ Chí Minh 30km, Thủ Dầu Một nằm trong vành đai vệ tinh của trung tâm kinh tế lớn là Thành phố Hồ Chí Minh Thủ Dầu Một có nhiều lợi thế và cơ hội phát triển mạnh lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ, thu hút vốn đầu tư trong
và ngoài nước, trao đổi buôn bán quốc tế và đặc biệt là việc sớm tiếp thu và ứng dụng các thành tựu khoa học trong sản xuất, quản lý Đây là điều kiện thuận lợi để mời gọi đầu tư trong và ngoài nước đầu tư ở các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ, từ đó tập trung hiệu quả nguồn thu ngân sách nhà nước trên địa bàn
Để đáp ứng được với nhiệm vụ tập trung nguồn thu một cách kịp thời, đầy đủ, hiệu quả và chính xác đòi hỏi hệ thống kiểm soát thu NSNN phải thật sự ổn định, chặt chẽ và hiện đại Nhiệm vụ của hệ thống kiểm soát thu không chỉ là việc hạch toán đầy
đủ, kịp thời nguồn thu mà còn là việc thực hiện điều tiết nguồn thu, phân tích số thu và kết xuất được những loại báo cáo với những tiêu chí cần thiết nhằm cung cấp kịp thời
số liệu thu NSNN cho các cấp lãnh đạo địa phương trong quá trình điều hành NSNN
Đứng trước thực tế hiện nay, hệ thống kiểm soát thu NSNN tại KBNN các cấp
đã có những tiến bộ đáng kể trong việc hiện đại hóa, ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình kiểm soát thu NSNN Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đạt được, hệ thống kiểm soát thu NSNN vẫn còn đó những hạn chế nhất định như: việc áp dụng các quy định trong công tác tập trung nguồn thu vào NSNN chưa thật sự hữu hiệu, nguy cơ thất thu và bị chiếm dụng nguồn thu còn cao, hoạt động kiểm soát trong quá trình tổ chức thu nộp vào NSNN còn bộc lộ nhiều hạn chế,…
Chính vì vậy, việc cải cách hệ thống KSNB thu NSNN qua KBNN nhằm tạo ra một cơ chế quản lý chặt chẽ, an toàn, hiệu quả theo hệ thống KSNB khu vực công được xem là một việc làm tất yếu hiện nay Từ những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài:
Trang 33
“Hoàn thiện kiểm soát nội bộ Thu Ngân sách Nhà nước tại Phòng Giao dịch Thủ Dầu Một, Kho bạc Nhà nước Bình Dương” để nghiên cứu
2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu chung
Tìm hiểu KSNB tại Phòng Giao dịch Thủ Dầu Một, Kho bạc Nhà nước Bình Dương; đánh giá ưu - nhược điểm, nguyên nhân của những hạn chế ảnh hưởng đến KSNB thu NSNN tại đơn vị
2.1.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá thực trạng kiểm soát nội bộ thu NSNN tại Phòng Giao dịch TDM, trực thuộc KBNN Bình Dương Thông qua việc đánh giá những ưu, nhược điểm của KSNB thu NSNN tại Phòng Giao dịch DM, xác định nguyên nhân của những hạn chế làm ảnh hưởng đến KSNB thu NSNN tại đơn vị
- Đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện KSNB thu NSNN tại đơn vị phù hợp hơn trong thời gian tới
2.2 Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng KSNB thu NSNN tại Phòng Giao dịch Thủ Dầu Một, KBNN Bình Dương có những ưu, nhược điểm và hạn chế nào? Nguyên nhân của những hạn chế đó?
- Thông qua những giải pháp nào để hoàn thiện KSNB thu NSNN tại Phòng Giao dịch Thủ Dầu Một, KBNN Bình Dương?
Câu hỏi nghiên cứu là nội dung định hướng cho quá trình phân tích cơ sở lý luận, thực trạng tại địa phương, làm cơ sở cho khảo sát và đề ra giải pháp khả thi trong những chương sau
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống kiểm soát nội bộ cấp thành phố (quận, huyện) trực thuộc KBNN tỉnh, cụ thể là KSNB thu NSNN tại Phòng Giao dịch Thủ Dầu Một trực thuộc Kho Bạc nhà nước Bình Dương
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian nghiên cứu: tại Phòng Giao dịch Thủ Dầu Một, trực thuộc KBNN Bình Dương – nơi tác giả đang làm việc Đối tượng khảo sát là CBCC tại Phòng Giao dịch Thủ Dầu Một, Phòng KTNN, Phòng Thanh tra và 08 KBNN huyện, thị trực thuộc KBNN tỉnh Bình Dương Số liệu được thu thập từ báo cáo thu NSNN tại Phòng Giao dịch Thủ Dầu Một của các năm 2013, 2014, 2015, 2016, 2017
- Thời gian nghiên cứu: luận văn thực hiện từ tháng 04/2018 đến tháng 10/2018
4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 4- Sử dụng phương pháp thống kê, mô tả để đánh giá thực trạng KSNB thu NSNN thông qua kết quả khảo sát từ Bảng câu hỏi đánh giá
- Sử dụng phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp để tìm hiểu nguyên nhân của những hạn chế và tìm ra giải pháp hoàn thiện KSNB thu NSNN tại Phòng Giao dịch TDM
Lý thuyết nền sử dụng là INTOSAI, trong đó chú trọng sử dụng INTOSAI 2016 làm lý thuyết nền trong nghiên cứu thực hiện luận văn
5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Trên cơ sở đánh giá KSNB thu NSNN tại Phòng Giao dịch Thủ Dầu Một, xác định được những ưu, nhược điểm, nguyên nhân của những hạn chế ảnh hưởng đến KSNB thu NSNN tại Phòng Giao dịch Thủ Dầu Một; đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện KSNB thu NSNN tại đơn vị góp phần phục vụ cho công tác quản lý tập trung nguồn thu vào NSNN tại Phòng Giao dịch Thủ Dầu Một được tốt hơn trong thời gian tới
6 Kết cấu của đề tài
Đề tài “Hoàn thiện KSNB thu NSNN tại Phòng Giao dịch Thủ Dầu Một, KBNN Bình Dương” gồm 4 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài Chương 2: Cơ sở lý luận về KSNB và KSNB thu NSNN qua KBNN
Chương 3: Thực trạng KSNB thu NSNN tại Phòng Giao dịch Thủ Dầu Một, KBNN Bình Dương
Chương 4: Giải pháp hoàn thiện KSNB thu NSNN tại Phòng Giao dịch Thủ Dầu Một, KBNN Bình Dương
Trang 55
CHƯƠNG I TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRƯỚC
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Các nghiên cứu ở nước ngoài về đề tài KSNB đã được nhiều tác giả đề cập đến
và được công bố rộng rãi trên các tạp chí, website điện tử với nhiều khía cạnh, nhiều lĩnh vực khác nhau, tác giả cũng đã tìm hiểu và tham khảo có chọn lọc một số bài báo
để phục vụ cho nghiên cứu của mình
Đầu tiên là nghiên cứu của Ndamenenu Koranteng Douglas vào năm 2011, luận văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh, trường Đại học Kwame Nkrumah về đề tài “Internal control and its contributions to organizational efficiency and effectiveness: A case study of Ecobank Ghana Limited” [21] Mục đích nghiên cứu của tác giả là cung cấp
cơ sở, khuôn khổ khái niệm và tiêu chuẩn mà các tổ chức có thể áp dụng để đánh giá
hệ thống KSNB và tầm ảnh hưởng của KSNB đến hiệu quả hoạt động của tổ chức Nói cách khác, nghiên cứu này cung cấp ngôn ngữ chung, kiến thức và cách thức để các tổ chức đánh giá và cải tiến hệ thống KSNB và tầm ảnh hưởng của KSNB của họ Đối tượng nghiên cứu là KSNB và những đóng góp của nó đến tính hữu hiệu và hiệu quả trong các hoạt động của tổ chức Phạm vi nghiên cứu là Ngân hàng Eco ở Ghana, một trong những ngân hàng hàng đầu ở Ghana Phương pháp nghiên cứu là tổng hợp, đánh giá dựa trên những phản hồi khảo sát tại 12 chi nhánh của ngân hàng ECO trong khu vực Ghana Tác giả đã tìm hiểu, xác định thực trạng hệ thống KSNB tại ngân hàng, ý thức nhân viên, thẩm định các biện pháp được thông qua để nâng cao hiệu quả của việc KSNB trong quản lý tại ngân hàng Từ các quá trình nghiên cứu ở trên, tác giả đưa ra kết luận như sau: qua nghiên cứu thực trạng, tác giả nhận thấy nếu việc thiết lập đơn vị KSNB chỉ giới hạn tại trụ sở chính (đơn vị này có trách nhiệm kiểm soát toàn
bộ hoạt động ở trụ sở chính và các chi nhánh trực thuộc) và việc kiểm soát chỉ được thực hiện tuân thủ định kỳ (hàng tháng) theo phân chia trách nhiệm thì có thể nói việc kiểm soát nội bộ chỉ đang ở mức theo dõi, hệ thống KSNB hoạt động chưa thực sự hữu hiệu và hiệu quả Hay nói cách khác, một cá nhân hay đơn vị đang được giao quá nhiều công việc, trách nhiệm cũng như quyền hạn và hoạt động KSNB chỉ mang tính chất đối phó Trong một tổ chức, Ban lãnh đạo có trách nhiệm thiết lập hệ thống quản
lý nội bộ, kiểm toán viên là người giữ vai trò tư vấn, giám sát và đánh giá tính hữu hiệu và hiệu quả của hệ thống KSNB nên được thiết lập, tổ chức và phân công trách nhiệm thực hiện ở từng đơn vị để việc kiểm soát được thực hiện ở mức chủ động, đảm bảo sự tuân thủ thường xuyên, việc kiểm soát được thực hiện càng nhiều thì tính hiệu quả càng cao Đồng thời tác giả cũng đề xuất việc luân phiên nhân viên kiểm toán nội
bộ theo khoảng thời gian nhất định để tránh tình trạng gian lận, lạm dụng quyền hành
và trách nhiệm
Trang 66
Tiếp theo về lĩnh vực KSNB trong khu vực công với bài nghiên cứu của nhóm tác giả Nunuy Nur Afiah và Peny Cahaya, đăng trên tạp chí Procedia – Social and Behavioral Sciences năm 2015 “The effect of the implement of Government internal control system (GICS) on the quality of financial report of the local government: a research in district, city and provincial government in South Sumatela” [22] Mục đích bài nghiên cứu là kiểm chứng sự ảnh hưởng của KSNB đối với chất lượng báo cáo tài chính và hiệu quả quản lý ở khu vực công Đối tượng nghiên cứu là KSNB Phạm vi nghiên cứu là 18 thành phố, huyện và tỉnh ở khu vực phía Nam Sumatela Phương pháp nghiên cứu là sử dụng bảng câu hỏi khảo sát được thiết kế theo dạng thang đo Likert, dữ liệu thu thập được xử lý bằng cách phân tích sơ đồ đường (path analysis) Kết quả thu được như sau: Hệ thống KSNB của chính quyền có sự ảnh hưởng tích cực
và đáng kể đối với chất lượng của báo cáo tài chính Chất lượng của báo cáo tài chính
có ảnh hưởng tích cực và đáng kể đến các nguyên tắc quản lý hiệu quả Cải thiện chất lượng báo cáo tài chính là yếu tố chính ảnh hưởng đến việc cải thiện hiệu quả quản lý Hay nói cách khác, thông qua báo cáo tài chính có chất lượng, hệ thống KSNB đã đem lại hiệu quả trong việc quản lý
Tác giả cũng tìm hiểu thêm về lĩnh vực KSNB ngoài khu vực công qua nghiên cứu của Ndembu Zipporah Nijoki vào năm 2015 (luận văn thạc sĩ ngành tài chính, trường đại học Nairobi) về đề tài “The effect of internal controls on the financial performance of manufacturing firms in Kenya” [23] Mục đích nghiên cứu của tác giả
là cung cấp cấp cái nhìn sâu sắc về hệ thống KSNB, cơ sở để nâng cao hiệu quả hoạt động và giúp các nhà quản lý hiểu cách hoạt động, cách thức thực hiện KSNB và phát hiện rò rỉ doanh thu Đối tượng nghiên cứu là hiệu quả của việc KSNB đối với hoạt động tài chính của các công ty sản xuất tại Nairobi, Kenya Phạm vi nghiên cứu là nghiên cứu tập trung ở 35 công ty sản xuất ở Nairobi, Kenya Phương pháp nghiên cứu
là thống kê mô tả và phân tích suy luận dữ liệu được thực hiện bằng cách sử dụng các biện pháp có xu hướng trung tâm và phân tích tương quan Pearson Dữ liệu thứ cấp thu thập được từ các báo cáo hàng năm của công ty sản xuất giai đoạn 2013-2014 Các dữ liệu thứ cấp được phân tích bằng cách sử dụng phân tích hồi quy đa biến Kết quả nghiên cứu cho thấy là môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro và công nghệ thông tin liên lạc có mối quan hệ tích cực tới hoạt động tài chính của các công ty sản xuất Hầu hết các công ty sản xuất quy mô lớn đã đầu tư mạnh cho hệ thống KSNB để có thể giảm thiểu gian lận Công ty sản xuất quy mô nhỏ thường không đầu tư nhiều cho việc KSNB, thiếu kiểm tra quy trình độc lập và đánh giá các hoạt động kiểm soát trên cơ sở liên tục, do những hạn chế về tài chính Các công ty sản xuất (ở Kenya) nếu đầu tư hiệu quả vào hệ thống KSNB có kết quả hoạt động tài chính tốt hơn so với các công ty sản xuất không đầu tư hay có hệ thống KSNB yếu Đánh giá kiểm soát kế toán nội bộ trong các công ty sản xuất là một lĩnh vực quan trọng Hệ thống KSNB phải được thiết
kế, duy trì và liên tục đánh giá lại KSNB yếu có thể cản trở tính hiệu quả trong các
Trang 77
hoạt động của công ty, nhân viên và đặt họ ở vị trí mà họ có thể bị cám dỗ để tham gia vào các hoạt động gian lận
Cuối cùng là nghiên cứu của tác giả Emmanuel Osei boakye về đề tài: “The role
of internal control in the public sector: A case study of Edweso Government hospital” [20] Bài nghiên cứu được tác giả chia sẻ rộng rãi trên phương tiện điện tử Research Gate vào tháng 8 năm 2016 Tác giả nhận thấy có rất nhiều hoạt động gian lận trong khu vực công do hệ thống KSNB yếu kém Các tổ chức khu vực công không có chính sách và hệ thống để kiểm tra các hoạt động gian lận trong khu vực công Luật tài chính
và các quy định được đưa ra với nổ lực ngăn chặn và kiểm soát gian lận nhưng không hiệu quả do việc kiểm tra và hệ thống KSNB khu vực công quá yếu Do đó, tác giả xây dựng đề tài với mục đích nghiên cứu của tác giả là nhằm giúp các tổ chức công ở Ghana thực hiện KSNB có hiệu quả Điều này đảm bảo rằng nhà nước hoàn thành nhiệm vụ của mình, đạt được các mục tiêu của mình trong việc cung cấp và bảo vệ tài nguyên của chính phủ Bên cạnh đó, nó sẽ giúp việc quản lý bệnh viện công Edweso trong việc thiết lập và thực hiện hiệu quả việc KSNB để đạt được mục tiêu và mục đích Cuối cùng tác giả mong muốn nghiên cứu này là cơ sở cho sinh viên và các nhà nghiên cứu khác sử dụng như là một nguồn thông tin và tham khảo để phát triển tiếp các nghiên cứu khác Đối tượng nghiên cứu của đề tài là KSNB tại khu vực công Phạm vi nghiên cứu là ban quản lý và nhân viên của bệnh viện công Edweco, tổng số người tham gia nghiên cứu là 109 người Phương pháp nghiên cứu là nghiên cứu mô tả
và sử dụng một nghiên cứu mẫu điển hình Tác giả nghiên cứu, kiểm định tính hiệu quả của hệ thống KSNB tại bệnh viện công Edweso, xách định mối liên hệ của hệ thống KSNB đối với sự hài lòng của nhân viên, hiểu được những thách thức trong việc xây dựng và thực hiện hệ thống KSNB tại bệnh viện công Kết quả nghiên cứu cho thấy hệ thống KSNB tại bệnh viện công đang hoạt động có hiệu quả, công việc được phân chia và phân cấp trách nhiệm rõ ràng, cụ thể Nhân viên tuân thủ theo các hướng dẫn, quy định đề ra bởi ban lãnh đạo Nhân viên cũng hài long với những chính sách
và chế độ bệnh viện đưa ra đóng vai trò làm động lực thúc đẩy tinh thần làm việc và sự gắn bó của nhân viên với tổ chức Tuy nhiên, bệnh viện vẫn phải luôn đối mặt với một
số thách thức như: vẫn còn yếu kém trong quản lý, ban quản lý thiếu quyết đoán trong việc đưa ra các quyết định kinh doanh, hướng dẫn sai lệch cho nhân viên; Nhân viên thường xuyên hiểu sai, hiểu nhầm những hướng dẫn của cấp trên hoặc gây ra lỗi trong công việc do bất cẩn, mệt mõi; Báo cáo tài chính chưa được bảo quản và lưu trữ tốt, dễ dàng bị chỉnh sửa bởi bất cứ nhân viên hoặc cá nhân bên ngoài Từ thực trạng trên, tác giả đưa ra một số đề xuất như sau: Ban quản lý phải liên tục tổ chức các khóa đào tạo
và phát triển cho nhân viên bệnh viện về hệ thống KSNB trước khi thực hiện nhiệm vụ nhằm nâng cao hiệu quả công việc; Theo thời gian nên có sự rà soát hệ thống KSNB
để thực hiện các hoạt động cải tiến, giúp thay đổi các quy định yếu kém nhằm phù hợp cho các hoạt động hiện tại; Cần có sự xem xét lại chính sách về sự hài lòng của nhân
Trang 88
viên trong bệnh viện để đảm bảo rằng các tiêu chuẩn mới có thể được kết hợp để thực hiện và phát triển; Giám sát và hướng dẫn cho nhân viên phải rõ ràng và súc tích để ngăn chặn quá trình ra quyết định kém và sai sót không cần thiết Điều này có thể được thực hiện bằng cách cho nhân viên định hướng đúng về các nhiệm vụ khác nhau mà họ thực hiện
Bảng 1.1: Tổng hợp các nghiên cứu ngoài nước
STT TÁC GIẢ TÊN BÀI BÁO,
CÔNG TRÌNH
ĐÃ CÔNG BỐ
NĂM CÔNG
BỐ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
KIẾN THỨC/KẾT LUẬN CÓ THỂ ỨNG DỤNG CHO
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
2011 Tổng hợp,
đánh giá dựa trên những phản hồi khảo sát
- Tầm quan trọng của việc xây dựng hệ thống KSNB ở cấp đơn vị
- Phân quyền trách nhiệm để
hệ thống kiểm soát được thực hiện hữu hiệu và hiệu quả
2015 Sử dụng
bảng câu hỏi khảo sát được thiết kế
Ảnh hưởng của KSNB đến chất lượng báo cáo tài chính và hiệu quả trong quản
Trang 99
the quality of financial report of
government: a research in district, city and provincial
government in South Sumatela
theo thang
đo Likert,
dữ liệu xử
lý bằng cách phân tích sơ đồ đường
lý ở khu vực công
03 Ndembu
Zipporah
Nijoki
The effect of internal controls
on the financial performance of manufacturing firms in Kenya
2015 Phương
pháp nghiên cứu
là thống kê,
mô tả và phân tích, suy luận dữ liệu
- Mức độ ảnh hưởng của KSNB ở cấp đơn vị
- Trách nhiệm của các đối tượng có liên
A case study of Edweso
Government hospital
2016 Phương
pháp nghiên cứu
là mô tả và
sử dụng một nghiên cứu mẫu điển hình
- Sự cần thiết của việc rà soát
và điều chỉnh hệ thống KSNB thường xuyên để đảm bảo tính hiệu quả
- Tầm quan trọng của chính sách quản lý
1.2 Các nghiên cứu ở trong nước
Trang 10là khách hàng giao dịch với KBNN Quận 10
Nguyễn Trần Phú (2014), đề tài “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát thu, chi NSNN tại TP.HCM”, luận văn thạc sĩ kinh tế chuyên ngành kế toán, trường Đại học Khoa học công nghệ TP.HCM [16] Mục tiêu nghiên cứu: tác giả phân tích thực trạng về hệ thống thu, chi NSNN của TP.HCM và những nội dung có liên quan mật thiết đến vấn
đề này như cơ cấu thu, chi; các nội dung chi tiết về thu, chi NSNN hiện hành từ đó đề xuất những giải pháp chung, những giải pháp cụ thể và kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống kiểm soát thu, chi NSNN tại TP.HCM trong giai đoạn hiện nay Phương pháp nghiên cứu: tác giả sử dụng phương pháp điều tra, phân tích, tổng hợp, tư duy, thống
kê và so sánh đối chiếu Kết quả nghiên cứu: góp phần lý giải trên phương diện khoa học những lý luận cơ bản về kế toán thu, chi NSNN; qua đó đề xuất những giải pháp chung, những giải pháp cụ thể và kiến nghị trong việc hoàn thiện hệ thống kế toán thu, chi NSNN phù hợp với tình hình thực tế trên địa bàn TP.HCM
Lê Thị Phương Nam (2014), đề tài “Hoàn thiện hệ thống KSNB tại KBNN Bình Thuận”, luận văn thạc sĩ kinh tế chuyên ngành kế toán, trường Đại học Khoa học công nghệ TP.HCM [17] Tác giả đánh giá thực trạng hệ thống KSNB tại Kho bạc, sử dụng phần mềm TABMIS quản lý nguồn lực tài chính Nhà nước tại đơn vị Với mục đích nhằm hoàn thiện hệ thống KSNB tại Kho Bạc tác giả đang công tác Mục tiêu nghiên cứu: Hệ thống hóa các cơ sở lý luận liên quan đến những nội dung về hệ thống KSNB theo COSO và INTOSAI, phân tích làm rõ hệ thống KSNB tại KBNN Bình Thuận, đưa ra những giải pháp cụ thể và kiến nghị để hoàn thiện hệ thống KSNB tại KBNN Bình Thuận Phương pháp nghiên cứu: Chủ yếu sử dụng phương pháp thống
Trang 1111
kê khảo sát để rút ra một số nguyên tắc chung và kết hợp một số kỹ thuật thống kê phân tích định lượng để làm cơ sở cho các kết luận Kết quả nghiên cứu: tác giả đã đề xuất được các giải pháp và kiến nghị từ trước mắt đến lâu dài, từ giải pháp tổng quát đến giải pháp cụ thể dựa trên những kinh nghiệm rút ra được từ quá trình thực thi nhiệm vụ gắn liền với thực tế tại Kho Bạc tác giả đang công tác
Chu Quốc Huy (2017), đề tài “Hoàn thiện KSNB kiểm soát chi thường xuyên NSNN tại KBNN Chư Sê”, Luận văn thạc sĩ kinh tế chuyên ngành kế toán, trường Đại học Tôn Đức Thắng [18] Mục tiêu nghiên cứu: Tác giả đánh giá sự tác động của các nhân tố cấu thành hệ thống KSNB đến công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN tại KBNN Chư Sê nhằm tìm ra các hạn chế, yếu kém, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN tại KBNN Chư Sê Phương pháp nghiên cứu: Tác giả sử dụng phương pháp quan sát, thống kê mô tả, phân tích, tổng hợp, so sánh, diễn giải đồng thời liên hệ cả lý thuyết và thực tế để có một cái nhìn
cụ thể, rõ ràng nhất về thực trạng KSNB tại đơn vị Tác giả sử dụng lý thuyết INTOSAI 2004 với 5 nhân tố của KSNB là môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát kết hợp với các văn bản pháp lý khác của Bộ Tài cính (BTC), KBNN để vận dụng có trọng tâm, đảm bảo đúng định hướng, đúng mục đích cho đề tài của mình Kết quả nghiên cứu: từ việc rút ra được những mặt hạn chế, yếu kém qua đánh giá thực trạng, tác giả đề xuất các biện pháp khắc phục để hoàn thiện KSNB kiểm soát chi thường xuyên NSNN tại KBNN Chư Sê trong những năm tới
Huỳnh Minh Hiếu (2017), đề tài “Hoàn thiện KSNB quy trình thu thuế XNK tại Chi cục Hải quan VSIP” Luận văn Thạc sĩ kinh tế chuyên ngành kế toán, Trường Đại học Thủ Dầu Một [19] Mục tiêu nghiên cứu: Tác giả đánh giá thực trạng hệ thống KSNB quy trình thu thuế XNK tại Chi cục Hải quan VSIP năm 2014 đến năm 2016, từ
đó đề xuất các giải pháp và kiến nghị cần thiết nhằm tăng cường hiệu quả KSNB quy trình thu thuế XNK tại Chi cục Hải quan VSIP Phương pháp nghiên cứu: Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính bằng cách quan sát thực tế hệ thống KSNB tại Chi cục, tìm hiểu quy trình nghiệp vụ thu thuế, các văn bản, chính sách pháp luật Hải quan, Thuế, Quy chế KSNB tại Cục Hải Quan Bình Dương; Tác giả sử dụng phương pháp thống kê, mô tả để đánh giá thực trạng KSNB quy trình thu thuế XNK thông qua kết quả khảo sát từ Bảng câu hỏi đánh giá Kết quả nghiên cứu: Tác giả đánh giá thực trạng hệ thống KSNB tại Chi cục Hải quan VSIP, công tác quản lý thu thuế qua các giai đoạn 2014, 2015, 2016 và làm rõ nét về tầm quan trọng trong quản lý thu thuế XNK, từ đó đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện KSNB quy trình thu thuế XNK tại Chi cục Hải quan VSIP
Bảng 1.2: Tổng hợp các nghiên cứu trong nước
Trang 1212
STT TÁC
GIẢ
TÊN BÀI BÁO, CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ
NĂM CÔNG
BỐ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
KIẾN THỨC/KẾT LUẬN CÓ THỂ ỨNG DỤNG CHO ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
01 Bùi
Thanh
Huyền
Hoàn thiện hệ thống KSNB tại KBNN
thành phố Hồ Chí Minh
2011 Quan sát, phỏng
vấn các CBCC, thu thập tài liệu
từ sổ điều chỉnh,
sổ từ chối khách hàng, bài viết trên diễn đàn KBNN
TP.HCM
- Cung cấp một cái nhìn tổng quan về
hệ thống KSNB ngành KBNN nói chung và KBNN Quận 10 nói riêng
- Tác giả cũng đưa
ra một số biện pháp hoàn thiện hệ thống KSNB rất hữu ích với thực tế hiện tại của hệ thống KBNN hiện nay
02 Nguyễn
Trần
Phú
Hoàn thiện hệ thống kiểm soát thu, chi NSNN tại TP.HCM
2014 Phương pháp
điều tra kết hợp phân tích, tư duy, thống kê và
so sánh đối chiếu
Góp phần lý giải trên phương diện khoa học những lý luận cơ bản về kế toán thu, chi NSNN, đồng thời đưa ra nhóm giải pháp rất thiết thực nhằm hoàn thiện
Trang 1313
hệ thống kiểm soát thu, chi NSNN tại TP.HCM
03 Lê Thị
Phương
Nam
Hoàn thiện hệ thống KSNB tại KBNN Bình Thuận
2014 Sử dụng chủ yếu
phương pháp thống kê, khảo sát kết hợp kỹ thuật thống kê phân tích định lượng để làm cơ
sở cho các kết luận
Đề xuất những giải pháp từ tổng quát đến cụ thể dựa trên những kinh nghiệm trong quá trình thực thi công vụ nhằm hoàn thiện
hệ thống KSNB tại đơn vị
04 Chu
Quốc
Huy
Hoàn thiện KSNB kiểm soát chi thường xuyên NSNN tại KBNN Chư
Sê
2017 Sử dụng phương
pháp quan sát, thống kê mô tả, phân tích, tổng hợp, so sánh, diễn giải đồng thời liên hệ cả lý thuyết và thực tế
để có một cái nhìn cụ thể, rõ ràng nhất về thực trạng KSNB tại đơn
vị
Từ việc rút ra được những mặt hạn chế, yếu kém qua đánh giá thực trạng, tác giả đề xuất các biện pháp khắc phục để hoàn thiện KSNB kiểm soát chi thường xuyên NSNN tại KBNN Chư Sê trong những năm tới
05 Huỳnh
Minh
Hiếu
Hoàn thiện KSNB quy trình thu thuế
2017 Sử dụng phương
pháp nghiên cứu định tính bằng
Thông qua đánh giá thực trạng hệ thống KSNB tại
Trang 1414
XNK tại Chi cục Hải quan VSIP
cách quan sát thực tế hệ thống KSNB tại đơn vị kết hợp sử dụng phương pháp thống kê, mô tả
để đánh giá thực trạng KSNB quy trình thu thuế XNK thông qua bảng câu hỏi đánh giá
Chi cục Hải quan VSIP và làm rõ nét
về tầm quan trọng trong quản lý thu thuế XNK, tác giả
đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện KSNB quy trình thu thuế XNK tại Chi cục Hải quan VSIP
1.3 Nhận xét các công trình nghiên cứu trước và xác định khoảng trống nghiên cứu
Các công trình nghiên cứu ở trên là nguồn tham khảo quý giá vế kiến thức KSNB; những kết luận và kinh nhiệm rút ra từ các đề tài có thể được áp dụng trong nhiều lĩnh vực, làm tài liệu nghiên cứu cho các nhà quản lý và cho chính tác giả
Tuy nhiên, để đi sâu phân tích cho đề tài nghiên cứu của mình, tác giả nhận thấy một số hạn chế như sau:
Các công trình nghiên cứu trước, nhìn chung đã có nghiên cứu về khía cạnh KSNB, mối liên hệ giữa KSNB khu vực công với KSNB tại KBNN, với kiểm soát chi thường xuyên qua KBNN, với kiểm soát quy trình thu tại cơ quan Hải Quan,… Nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu vấn đề KSNB riêng biệt trong lĩnh vực thu NSNN qua KBNN để tác giả có thể kế thừa và phát huy
Mặt khác, theo nhận biết của tác giả, cho đến thời điểm hiện tại, chưa có một công trình nghiên cứu chính thức nào được tìm hiểu và đánh giá thực trạng về khía cạnh KSNB thu NSNN trên địa bàn thành phố TDM, tỉnh Bình Dương Do đó, việc nghiên cứu vấn đề này là một điều vô cùng cần thiết, mở đường cho những nghiên cứu tiếp theo về sau trong lĩnh vực thu NSNN qua KBNN; thông qua đó, đề tài này cũng đánh giá một cách trực diện, cụ thể thực trạng việc tổ chức thực hiện KSNB thu NSNN tại Phòng Giao dịch TDM giai đoạn từ năm 2013 – 2017, đề ra giải pháp hoàn thiện KSNB thu NSNN tại Phòng Giao dịch TDM trong thời gian tới
Trang 1515
KẾT LUẬN CHƯƠNG I
Nội dung chính của chương này giúp tác giả nắm được bức tranh toàn cảnh về các công trình nghiên cứu của các tác giả khác nhau ở trong và ngoài nước đối với các vấn đề có liên quan trực tiếp cũng như gián tiếp đến đề tài mà tác giả đang nghiên cứu Trên cơ sở đánh giá các công trình nghiên cứu đó, tác giả xác định được các hạn chế, khoảng trống nghiên cứu, từ đó, xác định được tính cấp thiết nhu cầu cần nghiên cứu của đề tài
Đồng thời, qua việc tìm hiểu các nghiên cứu đã được công bố, tác giả đã nắm được cơ bản khung lý thuyết cần áp dụng cũng như gia tăng thêm kiến thức và sự hiểu biết của bản thân về vấn đề cần nghiên cứu Từ đó, giúp tác giả có định hướng cho việc xây dựng cơ sở lý thuyết, phương pháp nghiên cứu làm nền tảng cho tác giả đi sâu phân tích, phát triển luận văn của mình
Trang 1616
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ VÀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ
THU NSNN QUA KBNN
2.1 GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT HỆ THỐNG KSNB [1]
2.1.1 Lịch sử ra đời và phát triển của hệ thống KSNB
Thuật ngữ “Kiểm soát nội bộ” (KSNB) bắt đầu xuất hiện từ cuộc cách mạng công nghiệp (cuối thế kỷ 19) và được sử dụng vào đầu thế kỷ 20 trong các tài liệu về kiểm toán Khi đó, KSNB được hiểu như là một biện pháp để bảo vệ tiền tệ, tránh sự gian lận của các các nhân viên
Trãi qua nhiều năm, thuật ngữ này dần mở rộng, KSNB không chỉ bảo vệ tài sản (bảo vệ tiền) mà còn bảo đảm việc ghi chép kế toán chuẩn các, giúp nâng cao hiệu quả hoạt động, khuyến khích việc tuân thủ chính sách được đưa ra bởi nhà quản lý Trong một công bố của Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA-American Institute of Certified Public Accounttants) (năm 1936) đã đưa ra khái niệm KSNB là
“Các biện pháp và cách thức được chấp nhận và được thực hiện trong một số tổ chức
để bảo vệ tiền và các tài sản khác, cũng như kiểm tra sự chính xác trong ghi chép sổ sách”
Việc mở rộng khái niệm về KSNB không chỉ dừng lại ở các nghiên cứu hay báo cáo được ban hành, mà còn được đưa vào văn bản Luật (Luật về chống hối lộ nước ngoài) Khi các vụ gian lận kinh tế xuất hiện ngày càng nhiều, vai trò của KSNB
là ngăn ngừa những khoản thanh toán bất hợp pháp và giảm thiểu các vụ gian lận Song song đó, Ủy ban chứng khoán Hoa Kỳ (SEC-Securities anh Exchange) bắt buộc các công ty phải báo cáo việc KSNB công tác kế toán của đơn vị mình cho công chúng Yêu cầu này muốn thực hiện cần phải có bộ tiêu chuẩn chung để đánh giá tính hữu hiệu của KSNB Do đó, Ủy ban COSO (Committee of Sponsoring Organizations) trực thuộc Hội đồng quốc gia về chống gian lận báo cáo tài chính Hoa Kỳ (hay còn được gọi là Ủy ban Treadway) đã được thành lập năm 1985 Ủy ban COSO được thành lập dưới sự bảo trợ của 5 tổ chức nghề nghiệp là:
- Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA- American Institute of Certified Public Accounttants)
- Hiệp hội Kế toán Hoa Kỳ (AAA-American Accounting Association)
- Hiệp hội Quản trị viên tài chính (FEI-Fnancial Executies Institute)
- Hiệp hội Kế toán viên quản trị (IMA-Institute of Management Accountants)
- Hiệp hội Kế toán viên nội bộ (IIA-Institute of Internal Auditors)
COSO được thành lập nhằm mục đích nghiên cứu về KSNB Báo cáo được COSO đưa ra năm 1992 là báo cáo đầu tiên trên thế giới đưa ra khuôn mẫu lý thuyết
về KSNB một cách đầy đủ và có hệ thống Ở thời điểm đó, báo cáo này định nghĩa đầy
đủ nhất về KSNB, dùng từ KSNB thay cho KSNB về kế toán Báo cáo tuy chưa thật
Trang 1717
sự hoàn chỉnh nhưng cũng đã chỉ ra được 5 yếu tố cấu thành KSNB bao gồm: Môi trường kiểm soát; Đánh giá rủi ro; Hoạt động kiểm soát; Thông tin và truyền thông; Giám sát Nghiên cứu này là cơ sở lý thuyết cho hàng loạt các nghiên cứu về KSNB ở nhiều lĩnh vực, được phát triển theo hướng quản trị, hướng công nghệ thông tin, hướng kiểm toán độc lập và phát triển chuyên sâu cho từng ngành nghề cụ thể
2.1.2 Lịch sử ra đời và phát triển của KSNB trong khu vực công
2.1.2.1 Sự ra đời của báo cáo INTOSAI 2016
Các nghiên cứu về KSNB ngày càng được phát triển mạnh, chuyên sâu vào các loại tổ chức hoặc các loại hình hoạt động khác nhau Trong khu vực công, KSNB cũng rất được quan tâm Để nhận diện rõ hơn về KSNB trong khu vực công, tác giả trình bày tóm tắt quá trình phát triển như sau:
- Hướng dẫn về KSNB của Tổ chức quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao INTOSAI (International Organnization of Supreme Audit Istitutions) đã được ban hành vào năm 1992 Tài liệu này đề cập đến việc tích hợp các lý luận chung về KSNB của báo cáo COSO 1992 và những điểm đặc thù của khu vực công nhằm đảm bảo sự hợp lý để đạt được các mục tiêu: hữu hiệu và hiệu quả, sự tin cậy của Báo cáo tài chính và sự tuân thủ các quy định, pháp luật của tổ chức (INTOSAI 1992)
- Năm 2001, Bản hướng dẫn của INTOSAI đã cập nhật thêm khía cạnh giá trị đạo đức để nhấn mạnh tầm quan trọng của hành vi đạo đức trong việc ngăn chặn và phát hiện sự gian trá, tham nhũng trong khu vực công và tầm quan trọng của các báo cáo thông tin phi tài chính so với INTOSAI 1992, được công bố vào năm 2004 (được xem là INTOSAI 2004)
- Dựa trên nền tảng cơ sở của INTOSAI 2004, INTOSAI 2013 đã cập nhật, bổ sung thêm những nguyên tắc (phân công, phân nhiệm, bất kiêm nhiệm, ) và các phương pháp KSNB (Phân chia nhiệm vụ, An ninh điện tử, Bảo vệ vật chất,…) INTOSAI 2013 có những cập nhật sau:
+ Hướng dẫn về quản trị rủi ro, KSNB và biện pháp để giảm thiểu gian lận, từ
đó giúp cải thiện hiệu quả hoạt động cũng như tăng cường sự giám sát của tổ chức, trong đó có cả yếu tố ERP (Enterprise Resource Planning-Hoạch định nguồn lực doanh nghiệp) trong quản lý
+ Cập nhật thay đổi trong môi trường kinh doanh, môi trường hoạt động
+ Mở rộng mục tiêu báo cáo và mục tiêu kinh doanh: mục tiêu tài chính và phi tài chính
- Năm 2013, sau khi COSO tiến hành cập nhật và ban hành Khung COSO Framework 2013, INTOSAI cũng giới thiệu phiên bản cập nhật của mình Khung INTOSAI Framework 9100 (được xem là INTOSAI 2013)
- Bản cập nhật INTOSAI 2016, có khái niệm và mục tiêu tương tự như INTOSAI 2013, tuy nhiên cập nhật thêm khung quy tắc nghề nghiệp INTOSAI (IFPP- INTOSAI Framework of Professional Pronouncements), bao gồm các quy định, hướng
Trang 18Theo INTOSAI (1992), trang 5, KSNB được định nghĩa như sau: “KSNB là cơ
cấu của một tổ chức, bao gồm nhận thức, phương pháp, quy trình và các biện pháp của người lãnh đạo nhằm đảm bảo sự hợp lý để đạt được các mục tiêu của tổ chức: Thúc đẩy các hoạt động hữu hiệu, hiệu quả và có kỷ cương cũng như chất lượng của sản phẩm, dịch vụ phù hợp với nhiệm vụ của tổ chức; Bảo vệ các nguồn lực không bị thất thoát, lạm dụng, lãng phí, tham ô và vi phạm pháp luật; Khuyến khích tuân thủ pháp luật, quy định của nhà nước và nội bộ; Xây dựng và duy trì các dữ liệu tài chính
và hoạt động, lập báo cáo đúng đắn và kịp thời”
Khái niệm KSNB theo INOSAI 2004 được định nghĩa như sau: “KSNB là một
quá trình liên tục, bị chi phối bởi nhà quản lý và các nhân viên trong đơn vị, nó được thiết lập để đối phó với các rủi ro và cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu chung của tổ chức”
Theo định nghĩa này, 05 đặc điểm quan trọng trong KSNB cần được làm rõ:
- KSNB là một quá trình: KSNB không phải là một hoạt động riêng lẽ, mà đơn
vị và được kết hợp với nhau thành một thể thống nhất giúp đơn vị đạt được mục tiêu của mình
- KSNB chịu sự chi phối của con người: KSNB được thiết kế và vận hành bởi con người (từ cấp lãnh đạo đến CBCC hay viên chức) Mục tiêu do con người định ra, thiết lập cơ chế kiểm soát và vận hành chúng Để hệ thống KSNB hoạt động một cách hữu hiệu thì từng cá nhân trong tổ chức phải hiểu được trách nhiệm, quyền hạn của mình, hướng các hoạt động của cá nhân đến mục tiêu chung của tổ chức
- KSNB được thiết lập để đối phó với rủi ro: có rất nhiều rủi ro tiềm ẩn trong việc vận hành, hoạt động của một tổ chức KSNB giúp tổ chức sớm nhận diện, có kế hoạch phòng ngừa và chủ động đối phó với những rủi ro tìm ẩn, từ đó tối đa hóa khả năng đạt được mục tiêu
- KSNB cung cấp một sự đảm bảo hợp lý: một hệ thống dù chặt chẽ đến đâu cũng vẫn tồn tại một số rủi ro và hạn chế tiềm ẩn KSNB có thể giúp ngăn chặn, phát hiện những sai phạm nhưng không thể đảm bảo tuyệt đối chúng không bao giờ xảy ra
Do đó, KSNB chỉ có thể cung cấp một sự đảm bảo hợp lý trong việc đạt được mục tiêu của tổ chức chứ không thể đảm bảo tuyệt đối
Theo hướng dẫn của INTOSAI 2013, trang 6, KSNB được định nghĩa như sau:
“KSNB là một quy trình thống nhất linh hoạt liên tục cập nhật các thay đổi mà một tổ
chức đang đối mặt Quản lý và nhân viên của tất cả các bộ phận phải tham gia vào quy trình này để chỉ ra các rủi ro và để cung cấp sự đảm bảo hợp lý các thành tựu về các mục tiêu chung và sứ mệnh của đơn vị”
Trang 1919
Khái niệm kiểm soát nội bộ ở Việt Nam
Theo Điều 39, Luật kế toán Việt Nam năm 2015 đã khái niệm: “KSNB là việc
thiết lập và tổ chức thực hiện trong nội bộ đơn vị kế toán các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ phù hợp với quy định của pháp luật nhằm đảm bảo phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời rủi ro và đạt được yêu cầu đề ra”
Theo VAS 315 – Xác định và đánh giá rủi ro các sai sót trọng yếu thông qua tìm hiểu về đơn vị được kiểm toán và môi trường của đơn vị: KSNB là quy trình do Ban quản trị, Ban giám đốc và các cá nhân khác trong đơn vị thiết kế, thực hiện và duy trì để tạo sự đảm bảo hợp lý về khả năng đạt được mục tiêu của đơn vị trong việc đảm bảo độ tin cậy của BCTC, đảm bảo hiệu quả, hiệu suất hoạt động, tuân thủ pháp luật
và các quy định có liên quan
2.1.3 Mục tiêu của KSNB trong khu vực công
Các hoạt động của một tổ chức là nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra Mục tiêu của các tổ chức trong khu vực công thường liên quan đến các dịch vụ và lợi ích cộng đồng Các mục tiêu bao gồm:
Mục tiêu hoạt động: thực hiện các công việc theo trật tự (có tổ chức và khoa học), có đạo đức, đạt hiệu quả kinh tế nhằm đạt được tính hữu hiệu và hiệu quả trong hoạt động của đơn vị
Mục tiêu về báo cáo: báo cáo cung cấp các thông tin tài chính và phi tài chính kịp thời, phù hợp cho các đối tượng có liên quan bên trong và bên ngoài đơn vị Đơn
vị và cá nhân trong đơn vị có trách nhiệm trong việc đưa ra quyết định và các hành động bao gồm việc quản lý ngân sách công, đảm bảo sự công bằng, đảm bảo hiệu suất công việc Điều này được thực hiện bằng cách phát triển, duy trì và sẵn sang giải trình
và báo cáo thông tin tài chính và phi tài chính
Mục tiêu tuân thủ: tuân thủ công ước quốc tế, pháp luật của quốc gia và các quy định có liên quan Các tổ chức công phải tuân theo luật, các quy định về việc thu, chi công và cách thức vận hành
Mục tiêu về quản lý nguồn lực: mục tiêu này có thể được xem như là phần chi tiết hóa mục tiêu về hoạt động của đơn vị, tầm quan trọng của việc sử dụng hợp lý nguồn ngân sách, tránh lạm dụng, lãng phí nguồn lực quốc gia
2.1.4 Trách nhiệm của các đối tượng có liên quan đến KSNB
Ban lãnh đạo là người chịu trách nhiệm tổng thể trong việc điều hành toàn bộ
hệ thống KSNB như xây dựng các quy trình, ban hành, thực hiện, giám sát hoạt động KSNB của tổ chức Ban lãnh đạo phải tạo được tiếng nói chung vì nó tác động đến tính chính trực cũng như giá trị đạo đức và một số nhân tố khác trong môi trường kiểm soát
Ban lãnh đạo phải có năng lực, cái nhìn khách quan, nắm rõ các hoạt động của
tổ chức để tổ chức, điều hành, sắp xếp hoạt động theo đúng mục tiêu, sứ mạng đã đề ra của tổ chức và hoàn thành trách nhiệm của chính mình
Trang 2020
Nếu Ban lãnh đạo thiếu năng lực hoặc thiếu kinh nghiệm có thể dẫn đến tình trạng không kiểm soát được hoặc kiểm soát chồng chéo các hoạt động đang và sắp diễn ra Ban lãnh đạo không có đạo đức, thiếu trung thực, cố ý điều chỉnh kết quả các báo cáo nhằm mục đích đem lại lợi ích cá nhân sẽ gây ra tình trạng mất trật tự trong tổ chức, không đạt được mục tiêu và sự phát triển của tổ chức
2.1.5 Các thành phần cơ bản tạo nên hệ thống KSNB trong khu vực công
Theo INTOSAI 2016, đưa ra năm thành phần cấu thành của KSNB, bao gồm: Môi trường kiểm soát, Đánh giá rủi ro, Hoạt động kiểm soát, Thông tin và truyền thông, và Giám sát
2.1.5.1 Môi trường kiểm soát
Môi trường kiểm soát phản ánh sắc thái chung của một tổ chức, nó chi phối ý thức kiểm soát của mọi thành viên trong tổ chức và là nền tảng đối với các bộ phận khác của KSNB Các nhân tố trong môi trường kiểm soát bao gồm:
- Sự liêm chính và giá trị đạo đức: là nhân tố quan trọng, tác động đến việc thiết
kế, thực hiện và giám sát các nhân tố khác của KSNB Giá trị đạo đức chính là văn hóa của tổ chức, là những quy tắc ứng xử của cán bộ công chức, những chuẩn mực đạo đức
mà cấp quản lý mong muốn xây dựng nhằm hạn chế những hành vi gian lận, tham nhũng ảnh hưởng xấu đến tổ chức
- Năng lực của đội ngũ nhân viên: gồm trình độ hiểu biết và kỹ năng làm việc cần thiết để thực hiện công việc một cách có kỷ cương, trung thực, tiết kiệm, đạt được hiệu quả cũng như có được sự am hiểu đúng đắn về trách nhiệm của bản thân trong việc thiết lập hệ thống KSNB
- Cơ cấu tổ chức: là việc xác định quyền hạn và trách nhiệm của từng bộ phận trong tổ chức Một cơ cấu tổ chức phù hợp sẽ có tác động tốt đối với môi trường kiểm soát; ngược lại, nếu cơ cấu tổ chức không phù hợp sẽ không đảm bảo được các thủ tục kiểm soát Một cơ cấu tổ chức hiệu quả bao gồm những nội dung: sự phân quyền và trách nhiệm; quyền hạn và trách nhiệm báo cáo; hệ thống báo cáo phù hợp
Ngoài ra, cơ cấu tổ chức có thể bao gồm một đơn vị KSNB độc lập với các bộ phận khác, và đơn vị KSNB này cần báo cáo trực tiếp tình hình hoạt động bên trong đơn vị được kiểm soát lên bộ phận quản lý cao nhất trong tổ chức
- Chính sách nhân sự: gồm việc tuyển dụng nhân sự, định hướng, đào tạo và giáo dục, đánh giá, khen thưởng và phúc lợi, kỷ luật và có ảnh hưởng đáng kể đến sự hiệu quả trong môi trường kiểm soát Vì vậy, khi quyết định tuyển dụng nhân sự đảm bảo mỗi cá nhân cần và phải đáp ứng về trình độ chuyên môn, năng lực và giá trị đạo đức cũng như kinh nghiệm để thực hiện công việc của họ
2.1.5.2 Đánh giá rủi ro
Mọi tổ chức luôn đối mặt với nhiều rủi ro xuất phát từ bên trong hoặc bên ngoài, việc đánh giá rủi ro là rất quan trọng vì nó ghi nhận những sự kiện đe dọa đến mục tiêu kiểm soát, bao gồm các bước:
Trang 2121
- Xác định rủi ro: bao gồm bên trong và bên ngoài ở cấp toàn đơn vị Liên quan đến khu vực công, các yếu tố rủi ro bên trong như là sự quản lý thiếu minh bạch, yếu kém, không coi trọng đạo đức nghề nghiệp cũng như năng lực của CBCC, các yếu tố bên ngoài như sự thay đổi về chính sách, pháp luật, văn bản
- Đánh giá rủi ro: Để kiểm soát được rủi ro, người lãnh đạo phải có phương pháp đánh giá rủi ro như: xây dựng tiêu chí đánh giá rủi ro, sắp xếp thứ tự các rủi ro, phân bổ nguồn lực giải quyết rủi ro, và xác định được những tác hại mà rủi ro gây ra ảnh hưởng đến mục tiêu của đơn vị
- Phát triển các biện pháp ứng phó rủi ro: Tùy vào từng loại rủi ro mà người lãnh đạo sẽ có các biện pháp thích hợp để hạn chế rủi ro ở mức thấp nhất Biện pháp ứng phó rủi ro có thể bao gồm: phân tán rủi ro, chấp nhận rủi ro, tránh né rủi ro và xử
lý hạn chế rủi ro
Khi các điều kiện về kinh tế thay đổi như chính sách của nhà nước, luật pháp, công nghệ sẽ làm rủi ro thay đổi thì việc đánh giá rủi ro cũng nên thường xuyên xem xét lại, điều chỉnh cho phù hợp với từng thời kỳ
2.1.5.3 Hoạt động kiểm soát
Hoạt động kiểm soát là những hoạt động được thiết lập dựa trên chính sách và thủ tục nhằm giảm thiểu, đối phó rủi ro, và đảm bảo các mục tiêu đề ra được thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Hoạt động kiểm soát có thể bao gồm:
- Xét về mục đích, hoạt động kiểm soát gồm có:
+ Kiểm soát phòng ngừa: là những chính sách và thủ tục kiểm soát được xác lập nhằm ngăn ngừa những hành vi sai sót, giảm thiểu khả năng xảy ra gian lận, phát hiện rủi ro và những tác động ảnh hưởng đến việc hoàn thành mục tiêu của đơn vị
+ Kiểm soát phát hiện: là những chính sách và thủ tục kiểm soát được xác lập nhằm phát hiện kịp thời những hành vi sai sót, hoặc gian lận nào đó đã được thực hiện ảnh hưởng đến việc hoàn thành mục tiêu của đơn vị
+ Kiểm soát bù đắp: là những chính sách và thủ tục kiểm soát được xác lập nhằm thay thế những hoạt động kiểm soát yếu kém, không hiệu quả ảnh hưởng đến việc hoàn thành mục tiêu của đơn vị
- Xét về chức năng, hoạt động kiểm soát gồm có:
+ Thủ tục ủy quyền và phê duyệt: ủy quyền cho cấp dưới là cách thức chủ yếu nhằm đảm bảo rằng chỉ có những nghiệp vụ được phê duyệt đúng như mong muốn của lãnh đạo, người được ủy quyền chỉ được thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong phạm
vi, trách nhiệm mà họ ủy quyền Thủ tục ủy quyền phải được thể hiện bằng văn bản, nội dung, điều khoản cụ thể phải được truyền đạt rõ ràng
+ Phân công nhiệm vụ: việc phân chia trách nhiệm, tránh kiêm nhiệm nhiều công việc đối với một người nhằm giảm rủi ro về những sai sót, lãng phí, hoặc phát hiện hành vi sai trái do một bộ phận hay cá nhân được giao một công việc từ lúc bắt đầu cho đến khi kết thúc
Trang 2222
Tuy nhiên, việc phân chia trách nhiệm có thể bị vô hiệu hóa do sự thông đồng giữa các cá nhân trong tổ chức làm phá hủy sự hữu hiệu của hệ thống KSNB Vì vậy, nhà quản lý cần phải kiểm tra, đánh giá thường xuyên các hoạt động kiểm soát và mối quan hệ giữa các cá nhân thực hiện nhiệm vụ
Trong một số trường hợp đơn vị có quy mô nhỏ, có ít nhân viên thì việc phân chia trách nhiệm không thể thực hiện được Khi đó, nhà lãnh đạo phải có nhận biết được rủi ro và bù đắp bằng những biện pháp khác như: luân chuyển nhân viên, thay đổi vị trí việc làm, đảm bảo một người không xử lý mọi mặt nghiệp vụ trong một thời gian dài
2.1.5.4 Thông tin và truyền thông
Thông tin: được coi là một trong những loại tài sản quan trọng nhất đối với bất
kỳ cơ quan nào vì nó ảnh hưởng đến việc đánh giá, ra quyết định điều khiển các hoạt động trong đơn vị Khả năng ra quyết định của Lãnh đạo đơn vị bị ảnh hưởng bởi chất lượng của những thông tin như:
- Tính phù hợp: Thông tin cung cấp là cần thiết cho công việc, nghiệp vụ mà lãnh đạo đang quan tâm;
- Tính chính xác: thông tin phản ánh phải đúng nội dung bản chất tình huống;
- Tính kịp thời: Thông tin phải được cung cấp đúng lúc, đúng thời điềm theo yêu cầu của các nhà quản trị;
- Tính đầy đủ và hệ thống: nguồn cung cấp thông tin phải phản ánh đầy đủ mọi khía cạnh của tình huống giúp người lãnh đạo có thể đánh giá vấn đề một cách toàn diện;
- Tính bảo mật: Thông tin phải được cung cấp đúng người phù hợp với quyền hạn và trách nhiệm của họ
Một hệ thống thông tin thích hợp phải tạo ra các báo cáo về hoạt động tài chính, vấn đề tuân thủ, hỗ trợ cho việc điều hành, kỹ năng ban hành quyết định của người lãnh đạo, cũng như việc ghi chép kịp thời, phân loại đúng các sự kiện, xem xét, sàng lọc thông tin bên trong lẫn bên ngoài
Truyền thông: là một phần của hệ thống thông tin, truyền đạt các thông tin cần thiết liên quan đến các bộ phận bên trong lẫn bên ngoài đơn vị, từ cấp trên xuống cấp dưới, hoặc thông tin xuyên suốt toàn bộ tổ chức Để đạt được kết quả chính xác, việc cho, nhận và truyền dữ liệu giữa các bên có liên quan đến thông tin phải được thông báo rõ ràng, xuyên suốt và mỗi cá nhân phải hiểu được vai trò, trách nhiệm của bản thân họ trong KSNB
2.1.5.5 Giám sát
Giám sát là quá trình mà người quản lý đánh giá chất lượng hoạt động của các thành phần trong 05 yếu tố hình thành nên hệ thống KSNB có tồn tại và vận hành đúng theo thiết kế, phù hợp với từng giai đoạn hay không Việc giám sát phải được thực hiện thường xuyên, định kỳ hoặc kết hợp cả hai
Trang 2323
- Giám sát thường xuyên: thông qua việc đóng góp ý kiến của khách hàng, hoặc các nhân viên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ hàng ngày nhằm phát hiện những hiện tượng vi phạm luật lệ, hoặc các biến động bất thường trong việc thực thi quy trình KSNB của nhân viên
- Giám sát định kỳ: thường được thực hiện thông qua các cuộc kiểm toán định
kỳ do kiểm toán viên nội bộ hoặc kiểm toán viên độc lập, những yếu kém được thông báo cho lãnh đạo cấp cao để có biện pháp sửa đổi lại cho phù hợp với từng giai đoạn
2.2 NỘI DUNG THU NSNN QUA KBNN
2.2.1 Khái niệm NSNN và thu NSNN
NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định
để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước (Luật NSNN 2015)
Thu ngân sách là hệ thống các khoản thu, phản ánh các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính nhằm hình thành quỹ ngân sách nhà nước đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước (Nguyễn Trần Phú, 2014)
2.2.2 Phạm vi các khoản thu NSNN (Luật NSNN 2015)
- Toàn bộ các khoản thu từ thuế, lệ phí;
- Toàn bộ các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do cơ quan nhà nước thực hiện, trường hợp được khoán chi phí hoạt động thì được khấu trừ; các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nhà nước thực hiện nộp NSNN theo quy định của pháp luật;
- Các khoản viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ chức, cá nhân ở ngoài nước cho Chính phủ Việt Nam và chính quyền địa phương;
- Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật
2.2.3 Nguyên tắc quản lý thu NSNN (Điều 3 - TT328/2016/TT-BTC)
Việc tổ chức thu NSNN được thực hiện theo quy định của Luật NSNN, Luật Quản lý thuế và quy định khác của pháp luật về thu NSNN Mọi cơ quan, tổ chức, đơn
vị, cá nhân, kể cả các tổ chức và cá nhân nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nghĩa vụ chấp hành nộp đầy đủ, đúng hạn các khoản thuế, phí, lệ phí và các khoản phải nộp khác vào NSNN qua tài khoản của KBNN tại NHTM hoặc nộp trực tiếp vào KBNN theo đúng quy định hiện hành của pháp luật; trường hợp không nộp hoặc chậm nộp mà không được pháp luật cho phép thì bị xử lý theo quy định hiện hành của pháp luật
Về nguyên tắc, các khoản thu NSNN phải được nộp qua ngân hàng hoặc nộp trực tiếp tại KBNN Trường hợp ở những địa bàn có khó khăn trong việc nộp qua ngân hàng hoặc nộp trực tiếp tại KBNN hoặc không tổ chức thu tiền tại địa điểm làm thủ tục hải quan, thì cơ quan thu được trực tiếp thu hoặc ủy nhiệm cho tổ chức thu tiền mặt từ
Trang 2424
người nộp NSNN và sau đó, phải nộp đầy đủ, đúng thời hạn vào KBNN theo quy định tại Thông tư 328/2016/TT-BTC; trường hợp cơ quan Thuế ủy nhiệm thu tiền mặt đối với số thuế phải nộp của các hộ khoán, thì thực hiện theo quy định của Bộ Tài chính
và hướng dẫn của Tổng cục Thuế Các khoản viện trợ không hoàn lại bằng tiền (trừ các khoản viện trợ nước ngoài trực tiếp cho các dự án) phải chuyển tiền nộp kịp thời vào thu NSNN
Tất cả các khoản thu NSNN được hạch toán bằng đồng Việt Nam, chi tiết theo niên độ ngân sách, mục lục NSNN và được phân chia cho các cấp ngân sách theo tỷ lệ phần trăm (%) do cấp có thẩm quyền quy định Các khoản thu NSNN bằng ngoại tệ được quy đổi ra đồng Việt Nam theo tỷ giá hạch toán ngoại tệ tại thời điểm hạch toán
Việc hoàn trả các khoản thu NSNN được thực hiện theo quy định tại Điều 10 Thông tư 328/2016/TT-BTC Quy trình thu, thủ tục thu, nộp, miễn, giảm, hoàn trả các khoản thu NSNN phải được thông báo và niêm yết công khai tại cơ quan thu và KBNN nơi giao dịch trực tiếp với người nộp NSNN
2.2.4 Trách nhiệm của KBNN trong việc hạch toán kế toán, báo cáo, quyết toán thu NSNN (Điều 12 - TT328/2016/TT-BTC)
- KBNN tổ chức hạch toán kế toán thu NSNN theo quy định của Bộ Tài chính
về việc hướng dẫn chế độ kế toán nhà nước áp dụng cho, hệ thống thông tin quản lý ngân sách và kho bạc (TABMIS), đảm bảo đúng niên độ ngân sách và mục lục NSNN; việc hạch toán số thu NSNN vào tài khoản của KBNN tại ngân hàng được thực hiện theo quy định của Bộ Tài chính về việc quản lý và sử dụng tài khoản của KBNN mở tại NHNN Việt Nam và các NHTM
- Trường hợp các khoản thu NSNN bằng chuyển khoản qua ngân hàng hoặc thu trực tiếp tại KBNN thiếu hoặc sai yếu tố để hạch toán thu NSNN, thì KBNN hạch toán vào tài khoản chờ xử lý các khoản thu của cơ quan Thuế, cơ quan Hải quan tương ứng; đồng thời, truyền đầy đủ dữ liệu về số đã thu NSNN được hạch toán vào các tài khoản này cho cơ quan Thuế hoặc cơ quan Hải quan theo quy trình đối chiếu, trao đổi thông tin thu NSNN giữa các cơ quan trong ngành tài chính Sau đó, KBNN lập thư tra soát bằng phương thức điện tử có gắn chữ ký số gửi cơ quan Thuế, cơ quan Hải quan để kiểm tra, đối chiếu, bổ sung thông tin và chuyển nộp NSNN theo quy định
- Đối với các khoản tạm thu, tạm giữ khác (ngoài các khoản thu quy định), KBNN hạch toán vào tài khoản tạm thu, tài khoản tạm giữ, KBNN căn cứ vào quyết định hành chính hoặc văn bản, chứng từ hợp pháp, hợp lệ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (cơ quan quyết định việc tạm thu, tạm giữ, cơ quan được giao quản lý khoản tạm giữ) Đến cuối ngày 31 tháng 12 năm hiện hành, các khoản tạm thu, tạm giữ chưa có quyết định xử lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền được chuyển số dư sang năm sau tiếp tục theo dõi xử lý
- Đối với các cơ quan, đơn vị có phát sinh khoản thu NSNN được giữ lại để chi theo chế độ quy định, định kỳ phải lập báo cáo chi tiết các khoản thực thu, thực chi gửi
Trang 252.3 KIỂM SOÁT NỘI BỘ THU NSNN QUA KBNN
2.3.1 Nội dung kiểm soát (Mục 1 và Mục 2 Thông tư 328/2016/TT-BTC) 2.3.1.1 Về chứng từ thu NSNN
- Có các loại chứng từ thu NSNN như sau:
+ Lệnh thu NSNN: Là chứng từ do cơ quan thu phát hành (mẫu số C1-01/NS ban hành kèm theo Thông tư 328/2016/TT-BTC) yêu cầu KBNN, NHTM nơi người có nghĩa vụ nộp NSNN mở tài khoản thực hiện trích tài khoản của người nộp NSNN để nộp NSNN theo quy định của Luật NSNN và Luật Quản lý thuế
+ Giấy nộp tiền vào NSNN: (mẫu số C1-02/NS ban hành kèm theo Thông tư số 84/2016/TT-BTC ngày 17/06/2016 của Bộ Tài chính hướng dẫn thủ tục thu nộp NSNN đối với các khoản thuế và thu nội địa): là chứng từ dùng để hạch toán thu NSNN
+ Bảng kê nộp thuế: Được thực hiện theo mẫu số 01/BKNT ban hành kèm theo Thông tư số 84/2016/TT-BTC
+ Biên lai thu phí, lệ phí, thu phạt vi phạm hành chính: Được thực hiện theo quy định tại Thông tư số 153/2012/TT-BTC ngày 17/09/2012 của Bộ Tài chính hướng dẫn việc in, phát hành, quản lý và sử dụng các loại chứng từ thu tiền phí, lệ phí thuộc NSNN; Thông tư số 153/2013/TT-BTC ngày 31 tháng 10 năm 2013 của Bộ Tài chính quy định về thủ tục thu, nộp tiền phạt, biên lai thu tiền phạt và kinh phí từ NSNN bảo đảm hoạt động của các lực lượng xử phạt vi phạm hành chính; Thông tư số 105/2014/TT-BTC ngày 07/08/2014 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 153/2013/TT-BTC Trường hợp KBNN lập và in biên lai thu từ chương trình máy tính hoặc cho phép NHTM nơi KBNN mở tài khoản được lập và in biên lai thu từ chương trình máy tính, mẫu biên lai thu in từ chương trình do KBNN quy định, phù hợp với quy định tại Thông tư số 153/2012/TT-BTC
+ Các chứng từ rút tiền từ tài khoản của đơn vị tại KBNN để nộp NSNN (Giấy rút dự toán NSNN; Giấy rút vốn đầu tư; Ủy nhiệm chi chuyển khoản, chuyển tiền điện tử): Được thực hiện theo quy định của Bộ Tài chính về hướng dẫn chế độ kế toán nhà nước áp dụng cho hệ thống thông tin quản lý ngân sách và kho bạc (TABMIS) và các văn bản hướng dẫn thực hiện
+ Chứng từ giao dịch của ngân hàng (ủy nhiệm chi; giấy nộp tiền mặt vào tài khoản): Là các chứng từ dùng cho người nộp NSNN để trích tài khoản của mình hoặc nộp tiền mặt để chuyển nộp NSNN vào tài khoản của KBNN tại ngân hàng Biểu mẫu
Trang 26- Trường hợp thu ngân sách nhà nước bằng giấy nộp tiền (giữa KBNN và NHTM nơi KBNN mở tài khoản hoặc giữa điểm giao dịch KBNN và trụ sở KBNN), căn cứ dữ liệu thu NSNN do NHTM chuyển đến (hoặc điểm giao dịch KBNN), KBNN
in phục hồi 01 liên Bảng kê Giấy nộp tiền vào NSNN (mẫu số C1-06/NS ban hành kèm theo Thông tư số 328/2016/TT-BTC) để làm căn cứ hạch toán thu NSNN và lưu
2.3.1.2 Các hình thức thu NSNN qua KBNN
- Thu bằng chuyển khoản:
+ Thu bằng chuyển khoản từ tài khoản của người nộp NSNN tại ngân hàng, ngân hàng thực hiện trích tài khoản của người nộp NSNN chuyển vào tài khoản của KBNN để ghi thu NSNN
+ Thu bằng chuyển khoản từ tài khoản của người nộp NSNN tại KBNN, KBNN thực hiện trích tài khoản của người nộp NSNN để ghi thu NSNN
+ Thu bằng phương thức điện tử, bao gồm: Qua dịch vụ nộp thuế điện tử trên cổng thông tin điện tử của Tổng cục thuế hoặc cổng thanh toán điện tử của Tổng cục Hải quan; Qua dịch vụ thanh toán điện tử của NHTM như ATM, Internetbanking, Mobile banking, POS hoặc các hình thức thanh toán điện tử khác
- Thu bằng tiền mặt: có hai hình thức: Thu bằng tiền mặt trực tiếp tại KBNN; Thu bằng tiền mặt tại NHTM để chuyển nộp vào tài khoản của KBNN
+ Thu bằng tiền mặt qua cơ quan thu hoặc tổ chức được cơ quan thu ủy nhiệm thu Hình thức này được áp dụng đối với các khoản thuế, phí, lệ phí của các hộ kinh doanh không cố định, không thường xuyên, không có tài khoản tại KBNN hoặc NHTM và có khó khăn trong việc nộp tiền vào KBNN (do ở xa điểm thu của KBNN hoặc xa NHTM); hoặc người nộp NSNN nộp tiền mặt tại điểm làm thủ tục hải quan, nhưng tại địa điểm đó KBNN hoặc NHTM nơi KBNN mở tài khoản không tổ chức điểm thu; hoặc cơ quan Thuế ủy nhiệm thu tiền mặt đối với số thuế phải nộp của các
hộ khoán Cơ quan thu hoặc tổ chức được cơ quan thu ủy nhiệm thu có trách nhiệm thu tiền từ người nộp NSNN, sau đó nộp toàn bộ số tiền đã thu được vào KBNN hoặc NHTM nơi KBNN mở tài khoản theo đúng thời hạn quy định
Trang 2727
+ Thu qua các tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thu phạt trực tiếp hoặc được ủy nhiệm thu phạt theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính và các văn bản hướng dẫn Luật
+ Ủy ban nhân dân cấp xã được phép thu các khoản thuộc nhiệm vụ thu của ngân sách cấp xã; sau đó, làm thủ tục nộp tiền vào KBNN cấp huyện hoặc nộp vào quỹ của ngân sách xã để chi theo chế độ quy định (trường hợp các xã ở vùng sâu, vùng xa chưa có điều kiện giao dịch thường xuyên với KBNN) Việc tổ chức thu, nộp ngân sách xã được thực hiện theo quy định của Bộ Tài chính về quản lý ngân sách xã và các hoạt động tài chính khác của xã, phường, thị trấn
2.3.1.3 Phối hợp thu và ủy nhiệm thu NSNN với các NHTM
- KBNN cấp tỉnh, KBNN cấp huyện được thực hiện phối hợp thu và ủy nhiệm thu NSNN bằng tiền mặt (kể cả thu phạt vi phạm hành chính) với NHTM nơi KBNN
mở tài khoản (tài khoản thanh toán hoặc tài khoản chuyên thu) theo quy định tại Thông tư 328/2016/TT-BTC và các thỏa thuận phối hợp thu NSNN giữa KBNN, Tổng cục Thuế / Tổng cục Hải quan và NHTM
- Việc ủy nhiệm thu NSNN bằng tiền mặt cho NHTM nơi KBNN (cấp tỉnh, cấp huyện) mở tài khoản do Giám đốc KBNN cấp tỉnh quyết định
* Nội dung phối hợp thu và ủy nhiệm thu NSNN với các NHTM
Hiện Phòng Giao dịch TDM thực hiện mở tài khoản chuyên thu tại 5 hệ thống NHTM trên địa bàn (Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam; Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam; Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam; Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam; Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội) để tổ chức phối hợp thu và ủy nhiệm thu NSNN bằng tiền mặt Quy trình thủ tục mở và sử dụng tài khoản chuyên thu của Phòng được thực hiện theo quy định tại Thông tư số 315/2016/TT-BTC ngày 30 tháng
11 năm 2016 của Bộ Tài chính quy định về quản lý và sử dụng tài khoản của Kho bạc Nhà nước tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các ngân hàng thương mại
2.3.2 Thủ tục và quy trình kiểm soát
2.3.2.1 Các căn cứ để KBNN thực hiện thủ tục và quy trình kiểm soát thu NSNN
- Luật NSNN số 83/2015/QH13 được Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 25/06/2015;
Trang 28- Thông tư số 84/2016/TT-BTC ngày 17/06/2016 của Bộ Tài chính hướng dẫn thủ tục thu nộp NSNN đối với các khoản thuế và thu nội địa;
- Thông tư 328/2016/TT-BTC ngày 26/12/2016 của Bộ Tài chính hướng dẫn thu và quản lý các khoản thu NSNN qua KBNN;
- Thông tư số 77/2017/TT-BTC ngày xx/xx/2017 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện kế toán nhà nước áp dụng cho Hệ thống thông tin quản lý Ngân sách và Kho bạc (TABMIS);
- Công văn số 4946/QĐ-KBNN ngày xx/xx/2017 hướng dẫn thực hiện Thông
tư 77/2017/TT-BTC ngày xx/xx/2017 của Bộ Tài chính;
- Quyết định số 699/QĐ-KBNN ngày 25/07/2013 của KBNN về việc ban hành quy trình nghiệp vụ thí điểm thanh toán song phương (TTSP) điện tử giữa KBNN với các NHTM;
2.3.2.2 Thủ tục kiểm soát thu NSNN
* Người nộp thuế nộp tiền thuế qua ngân hàng phối hợp thu và ngân hàng phối hợp thu đồng thời có ủy nhiệm thu với Kho bạc Nhà nước (Điều 17 và 18 -
TT184/2015/TT-BTC và Điều 9 – TT84/2016/TT-BTC)
1 Người nộp thuế kê khai các thông tin liên quan đến số tiền phải nộp cho từng loại tiền ghi trên bảng kê nộp thuế (mẫu số 01/BKNT) hoặc lập tại chương trình kê khai nộp tiền trên Cổng thông tin điện tử của cơ quan Thuế, Hải quan gửi chi nhánh, điểm giao dịch của ngân hàng phối hợp thu để thực hiện nộp tiền thuế hoặc yêu cầu trích chuyển tiền nộp thuế
2 Hệ thống của ngân hàng kiểm tra thông tin người nộp thuế kê khai, đối chiếu với thông tin truy vấn trên Cổng thanh toán điện tử của Thuế, Hải quan và thực hiện
xử lý như sau:
a) Trường hợp thông tin phù hợp với thông tin truy vấn trên Cổng thanh toán điện tử: trích tiền hoặc thu tiền của người nộp thuế để chuyển ngay vào tài khoản thu của Kho bạc Nhà nước mở tại ngân hàng ủy nhiệm thu; đồng thời truyền ngay dữ liệu thông tin thu đến Cổng thanh toán điện tử, và lập giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước; trường hợp thu tiền và hạch toán sau thời điểm “cut off time” (là thời điểm các NHTM tạm dừng để thực hiện đối chiếu số thu trong ngày): chậm nhất vào đầu giờ của ngày làm việc tiếp theo (trừ ngày làm việc cuối cùng của năm), phải chuyển ngay vào tài khoản thu của Kho bạc Nhà nước Đối với ngày làm việc cuối cùng của năm
Trang 29c) Trường hợp thông tin người nộp thuế kê khai nhưng không có trên Cổng thanh toán điện tử, ngân hàng thông báo cho người nộp thuế để kiểm tra lại thông tin trên tờ khai nộp thuế và phản hồi lại bộ phận hỗ trợ (điện thoại và địa chỉ trên Cổng thông tin điện tử các cơ quan thu) để được xử lý, trường hợp các cơ quan thu chưa xử
lý, ngân hàng căn cứ thông tin kê khai của người nộp thuế để thực hiện: trích tiền hoặc thu tiền của người nộp thuế chuyển ngay vào tài khoản thu của Kho bạc Nhà nước mở tại ngân hàng ủy nhiệm thu; đồng thời truyền ngay dữ liệu thông tin thu đến Cổng thanh toán điện tử và lập giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước;
d) Trường hợp người nộp thuế cung cấp bảng kê nộp thuế được lập trên Cổng thông tin điện tử cơ quan thu, ngân hàng nhập vào chương trình thu nộp thuế mã số định danh hồ sơ hoặc sử dụng máy quét thông tin mã vạch để lấy toàn bộ thông tin giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước và thực hiện các bước tiếp theo như điểm a đã trình bày ở trên
3 Đối với Cơ quan thu là hải quan, sử dụng hệ thống điện tử tự động để kiểm tra thông tin do ngân hàng gửi qua Cổng thanh toán điện tử, thực hiện:
a) Trường hợp phù hợp với thông tin Cổng thanh toán điện tử, cơ quan hải quan
tự động cập nhật thông tin thu, hạch toán thanh khoản nợ, xác nhận hoàn thành nghĩa
vụ thuế, thông quan hàng hóa, tính tiền chậm nộp (nếu có) theo quy định
b) Trường hợp không phù hợp với thông tin trên Cổng thanh toán điện tử (sai các thông tin liên quan trên thông điệp chuyển tiền), thông báo mã lỗi cho ngân hàng
và từ chối cập nhật thông tin nộp tiền vào hệ thống tác nghiệp của hải quan, sau khi ngân hàng đã chỉnh sửa phù hợp tiếp tục thực hiện các bước tiếp theo quy định tại điểm a đã trình bày ở trên;
4 Sau khi nhận được thông tin chuyển tiền do ngân hàng ủy nhiệm thu chuyển đến, Kho bạc Nhà nước thực hiện hạch toán kế toán số tiền phát sinh vào tài khoản thu nộp tiền thuế hoặc vào tài khoản tương ứng của cơ quan thu theo quy định
Cuối ngày hoặc chậm nhất vào đầu ngày làm việc tiếp theo, Kho bạc Nhà nước truyền bảng kê chứng từ nộp ngân sách qua trung tâm dữ liệu của Bộ Tài chính
5 Sau khi nhận được thông tin hạch toán thu nộp tiền thuế do Kho bạc Nhà nước gửi đến, Hệ thống điện tử tự động của cơ quan thuế, hải quan cập nhật thông tin
và hạch toán kế toán thanh toán với ngân sách nhà nước theo quy định
* Nộp thuế qua ngân hàng chưa phối hợp thu (Điều 19 –
TT184/2015/TT-BTC và Điều 9 – TT84/2016/TT-TT184/2015/TT-BTC)
Trang 3030
1 Người nộp thuế thực hiện:
a) Lập 03 liên giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước;
b) Xác định số tiền thuế phải nộp cho từng loại thuế, kê khai đầy đủ các thông tin về thu ngân sách theo mẫu số C1-02/NS, gửi ngân hàng để nộp tiền hoặc yêu cầu trích chuyển tiền nộp thuế;
c) Trường hợp người nộp thuế nộp tiền thuế vào tài khoản khác nhau, thì lập riêng giấy nộp tiền tương ứng với từng tài khoản thu
2 Ngân hàng căn cứ thông tin giấy nộp tiền do người nộp thuế kê khai, thực hiện trích tiền từ tài khoản của người nộp thuế và chuyển tiền ngay trong ngày làm việc hoặc chậm nhất vào đầu ngày làm việc tiếp theo trong trường hợp hết giờ chuyển tiền vào tài khoản thu của Kho bạc Nhà nước mở tại ngân hàng ủy nhiệm thu đảm bảo đầy đủ các thông tin mà người nộp thuế kê khai và thực hiện:
a) Xử lý các liên giấy nộp tiền:
Liên 1: Làm chứng từ ghi nợ tài khoản tiền gửi của người nộp thuế;
Liên 2: Gửi cho người nộp thuế;
Liên 3: Gửi cho ngân hàng được Kho bạc Nhà nước ủy nhiệm thu
Trường hợp, ngân hàng chưa phối hợp thu chuyển thông tin và chuyển tiền qua giao dịch điện tử đã ký số đến ngân hàng ủy nhiệm thu thì không yêu cầu người nộp thuế lập liên 3 giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước;
b) Ngân hàng phải ghi đầy đủ các thông tin trên giấy nộp tiền của người nộp thuế vào chứng từ chuyển tiền cho Kho bạc Nhà nước hoặc ngân hàng ủy nhiệm thu
Trường hợp không có thông tin về mục lục ngân sách, ngân hàng chưa phối hợp thu thực hiện điền mã Chương “999”, mã Tiểu mục “9999” vào thông tin trên chứng từ chuyển tiền cho ngân hàng ủy nhiệm thu của Kho bạc Nhà nước hoặc để trống các thông tin này
3 Ngay sau khi nhận được thông tin chuyển tiền do ngân hàng chưa phối hợp thu chuyển đến, ngân hàng phối hợp thu đồng thời là ủy nhiệm thu kiểm tra thông tin trên lệnh chuyển tiền, đối chiếu với thông tin truy vấn trên Cổng thanh toán điện tử và thực hiện xử lý như sau:
a) Trường hợp thông tin trên lệnh chuyển tiền phù hợp với thông tin truy vấn trên Cổng thanh toán điện tử, ngân hàng ủy nhiệm thu có trách nhiệm: chuyển tiền ngay vào tài khoản thu của Kho bạc Nhà nước để hạch toán thu ngân sách nhà nước, chuyển thông tin thu tới Kho bạc Nhà nước; đồng thời truyền ngay dữ liệu thông tin thu đến Cổng thanh toán điện tử;
b) Trường hợp thông tin trên lệnh chuyển tiền chưa phù hợp với thông tin truy vấn trên Cổng thanh toán điện tử (chưa phù hợp các thông tin liên quan, trừ thông tin
về số tiền): trong vòng 01 (một) ngày làm việc, ngân hàng ủy nhiệm thu gửi thư tra soát cho ngân hàng chưa phối hợp thu yêu cầu người nộp thuế làm rõ, sửa đổi, bổ sung đảm bảo thông tin phù hợp trước khi chuyển tiền
Trang 3131
b1) Trong vòng 01 (một) ngày làm việc, ngân hàng chưa phối hợp thu có trách nhiệm yêu cầu người nộp thuế bổ sung thông tin và cung cấp đầy đủ thông tin tra soát gửi ngân hàng ủy nhiệm thu;
b2) Sau khi nhận được thông tin tra soát từ ngân hàng chưa phối hợp thu, ngân hàng ủy nhiệm thu chuyển tiền ngay vào tài khoản thu của Kho bạc Nhà nước để hạch toán thu ngân sách nhà nước, chuyển thông tin thu tới Kho bạc Nhà nước;
b3) Trường hợp quá 03 ngày không nhận được thông tin từ ngân hàng chưa phối hợp thu, ngân hàng ủy nhiệm thu chuyển tiền ngay vào tài khoản thu của Kho bạc Nhà nước để hạch toán chờ tra soát với ngân sách, chuyển thông tin thu tới Kho bạc Nhà nước
c) Trường hợp kiểm tra thông tin người nộp thuế kê khai nhưng không có thông tin trên Cổng thanh toán điện tử, ngân hàng ủy nhiệm thu phản hồi lại bộ phận hỗ trợ của cơ quan thu để được xử lý, nếu cơ quan thu chưa xử lý, ngân hàng ủy nhiệm thu thực hiện theo điểm b trình bày ở trên
Trường hợp ngân hàng không bổ sung thông tin thì căn cứ thông tin kê khai của người nộp và thực hiện chuyển tiền ngay vào tài khoản thu của Kho bạc Nhà nước, hạch toán chờ tra soát với ngân sách
Sau khi người nộp thuế bổ sung thông tin phù hợp cho ngân hàng chưa phối hợp thu chuyển ngân hàng ủy nhiệm thu, thì tiếp tục thực hiện theo quy định giống như trường hợp người nộp thuế nộp tiền thuế qua ngân hàng phối hợp thu đã trình bày
ở trên
Chú ý: Người nộp thuế, ngân hàng chưa phối hợp thu tự chịu trách nhiệm về việc chậm cung cấp thông tin hoặc thông tin không chính xác làm ảnh hưởng đến quá trình xử lý, hạch toán, thanh khoản nợ và thông quan hàng hóa tại của cơ quan hải quan
* Nộp thuế trực tiếp tại Kho bạc Nhà nước (Điều 20 – TT184/2015/TT-BTC
và Điều 9 TT84/2016/TT-BTC)
1 Người nộp thuế xác định số tiền thuế phải nộp cho từng loại thuế, kê khai đầy đủ nhu cầu các thông tin về thu ngân sách trên bảng kê nộp thuế (theo mẫu số 01/BKNT ban hành kèm theo Thông tư này, hoặc lập tại chương trình trên Cổng thông tin điện tử hải quan, gửi Kho bạc Nhà nước để nộp tiền hoặc trích chuyển tiền nộp thuế
2 Kho bạc Nhà nước kiểm tra thông tin người nộp thuế kê khai, đối chiếu với thông tin truy vấn trên Cổng thanh toán điện tử thuế, hải quan và xử lý như sau:
a) Trường hợp thông tin phù hợp với thông tin truy vấn trên Cổng thanh toán điện tử thuế, hải quan, Kho bạc Nhà nước thực hiện:
a1) Trích tiền hoặc thu tiền của người nộp thuế để chuyển vào tài khoản thu nộp tiền thuế tại Kho bạc Nhà nước;
Trang 32b) Trường hợp thông tin chưa phù hợp với thông tin trên Cổng thông tin điện tử thuế, hải quan, thực hiện:
b1) Trường hợp chưa phù hợp về mã số thuế, tên người nộp thuế, số tiền thuế,
số tờ khai, mã nội dung kinh tế (mã chương, mã tiểu mục), Kho bạc Nhà nước yêu cầu người nộp thuế sửa đổi, bổ sung thông tin bảng kê nộp thuế phù hợp với thông tin từ Cổng thông tin điện tử hải quan trước khi chuyển tiền;
b2) Trường hợp chưa phù hợp về thông tin mục lục ngân sách (mã nội dung kinh tế) nhưng người nộp thuế không thực hiện sửa đổi, bổ sung thông tin, Kho bạc Nhà nước hạch toán vào tài khoản chờ xử lý của cơ quan hải quan Sau đó phối hợp với cơ quan hải quan kiểm tra và bổ sung thông tin theo quy định
c) Trường hợp kiểm tra thông tin người nộp thuế kê khai nhưng không có thông tin trên Cổng thanh toán điện tử hải quan, Kho bạc Nhà nước phản hồi lại bộ phận hỗ trợ của Tổng cục Hải quan để được xử lý, nếu cơ quan hải quan chưa xử lý, Kho bạc Nhà nước căn cứ thông tin người nộp thuế kê khai trên bảng kê nộp thuế và truy vấn các thông tin còn lại khác (trừ nội dung kinh tế) trong cơ sở dữ liệu trên Cổng thanh toán điện tử hải quan để thực hiện:
c1) Trích tiền từ tài khoản của người nộp thuế hoặc thu tiền của người nộp thuế
và hạch toán vào tài khoản chờ xử lý các khoản thu của cơ quan hải quan gửi cơ quan hải quan để bổ sung thông tin liên quan;
c2) Sau khi bổ sung thông tin phù hợp thì Kho bạc Nhà nước tiếp tục thực hiện các bước theo quy định tại điểm a đã trình bày ở trên
d) Trường hợp người nộp thuế cung cấp bảng kê nộp thuế được lập trên Cổng thông tin điện tử hải quan, Kho bạc Nhà nước nhập vào chương trình thu nộp thuế mã
số định danh hồ sơ hoặc sử dụng máy quét thông tin mã vạch để lấy toàn bộ thông tin giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước và thực hiện các bước tiếp theo điểm a đã trình bày ở trên
3 Sau khi nhận được thông tin hạch toán thu nộp tiền thuế do Kho bạc Nhà nước chuyển đến, Hệ thống điện tử tự động của cơ quan hải quan cập nhật, hạch toán
kế toán thanh khoản nợ và số thu thuế, xác nhận hoàn thành nghĩa vụ về thuế và thông quan hàng hóa, tính tiền chậm nộp (nếu có) cho người nộp thuế theo quy định
Trang 331 Đối chiếu giữa KBNN và NHTM nơi KBNN mở tài khoản:
a) Sau thời điểm “cut off time”, các đơn vị KBNN và NHTM nơi KBNN mở tài khoản (tài khoản thanh toán hoặc tài khoản chuyên thu) thực hiện đối chiếu toàn bộ thông tin, số liệu về số đã thu NSNN (chi tiết theo từng chứng từ truyền / nhận giữa các đơn vị KBNN và NHTM) trên tài khoản của KBNN tại NHTM, bao gồm cả các khoản thu NSNN phát sinh sau thời điểm “cut off time” của ngày làm việc liền kề trước đó, các khoản thu NSNN phát sinh vào ngày nghỉ trước đó (nếu có) và các khoản thu NSNN phát sinh đến thời điểm “cut off time” của ngày làm việc hiện tại
b) Nguyên tắc đối chiếu:
- Số phát sinh, số dư trên tài khoản của KBNN tại NHTM phải khớp đúng với
số liệu trên các tài khoản tương ứng tại KBNN
- Dữ liệu đối chiếu trong ngày giữa các NHTM và KBNN phải đảm bảo khớp đúng, chi tiết theo từng giao dịch
- Đối với ngày làm việc cuối tháng, năm, KBNN và NHTM phải phối hợp để việc hạch toán các khoản thu NSNN khớp đúng số liệu trong tháng, năm ngân sách
- Trường hợp KBNN cấp tỉnh, KBNN cấp huyện ủy nhiệm thu bằng biên lai thu cho NHTM nơi KBNN mở tài khoản đối với các khoản thu phí, lệ phí, thu phạt vi phạm hành chính, thì phải đối chiếu khớp đúng theo tổng số món, tổng số tiền, số tiền từng món Hàng tháng, KBNN, NHTM nơi KBNN mở tài khoản và các cơ quan ra quyết định xử phạt thực hiện đối chiếu, xác nhận số liệu chi tiết theo từng cơ quan ra quyết định xử phạt
c) Việc đối chiếu số dư tài khoản của KBNN tại các NHTM được thực hiện theo quy định hiện hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và NHTM nơi KBNN mở tài khoản, số dư trên tài khoản của KBNN vào thời điểm cuối tháng, cuối năm sau khi
đã thực hiện đối chiếu phải được NHTM nơi KBNN mở tài khoản và KBNN xác nhận,
ký, đóng dấu đầy đủ để đảm bảo tính hợp pháp của chứng từ
2 Đối chiếu giữa KBNN và NHTM mà KBNN không mở tài khoản: KBNN không thực hiện đối chiếu số đã thu NSNN với các NHTM mà KBNN không mở tài khoản Việc thanh toán, chuyển tiền và đối chiếu từ NHTM phục vụ người nộp NSNN
về ngân hàng nơi KBNN mở tài khoản được thực hiện theo Thông tư số NHNN ngày 31 tháng 12 năm 2014 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn về dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt
46/2014/TT-3 Hạch toán kế toán, báo cáo, quyết toán thu ngân sách nhà nước
Trang 3434
a) KBNN tổ chức hạch toán kế toán thu NSNN theo quy định của Bộ Tài chính
về việc hướng dẫn chế độ kế toán nhà nước áp dụng cho hệ thống thông tin quản lý ngân sách và kho bạc, đảm bảo đúng niên độ ngân sách và mục lục NSNN; việc hạch toán số thu NSNN vào tài khoản của KBNN tại ngân hàng được thực hiện theo quy định của Bộ Tài chính về việc quản lý và sử dụng tài khoản của KBNN mở tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các NHTM
b) Trường hợp các khoản thu NSNN bằng chuyển khoản qua ngân hàng hoặc thu trực tiếp tại KBNN thiếu hoặc sai yếu tố để hạch toán thu NSNN, thì KBNN hạch toán vào tài khoản chờ xử lý các khoản thu của cơ quan Thuế, cơ quan Hải quan tương ứng; đồng thời, truyền đầy đủ dữ liệu về số đã thu NSNN được hạch toán vào các tài khoản này cho cơ quan Thuế hoặc cơ quan Hải quan theo quy trình đối chiếu, trao đổi thông tin thu NSNN giữa các cơ quan trong ngành tài chính
Sau đó, KBNN lập thư tra soát bằng phương thức điện tử có gắn chữ ký số gửi
cơ quan Thuế, cơ quan Hải quan để kiểm tra, đối chiếu, bổ sung thông tin và chuyển nộp NSNN theo quy định
c) Đối với các khoản tạm thu, tạm giữ khác (ngoài các khoản thu quy định tại Khoản 2 Điều này), KBNN hạch toán vào tài khoản tạm thu, tài khoản tạm giữ Khi xử
lý các khoản trên tài khoản tạm thu, tài khoản tạm giữ, KBNN căn cứ vào quyết định hành chính hoặc văn bản, chứng từ hợp pháp, hợp lệ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (cơ quan quyết định việc tạm thu, tạm giữ, cơ quan được giao quản lý khoản tạm giữ) Đến cuối ngày 31 tháng 12 năm hiện hành, các khoản tạm thu, tạm giữ chưa
có quyết định xử lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền được chuyển số dư sang năm sau tiếp tục theo dõi xử lý
d) Đối với các cơ quan, đơn vị có phát sinh khoản thu NSNN được giữ lại để chi theo chế độ quy định, định kỳ phải lập báo cáo chi tiết các khoản thực thu, thực chi gửi cơ quan tài chính Căn cứ lệnh ghi thu, ghi chi ngân sách do cơ quan tài chính chuyển đến, KBNN thực hiện hạch toán thu, hạch toán chi NSNN
e) Việc báo cáo định kỳ tình hình thu NSNN, báo cáo kế toán, quyết toán thu NSNN, hoàn trả khoản thu NSNN của ngân sách các cấp được lập theo đúng mẫu biểu, mục lục NSNN và thời hạn quy định của Bộ Tài chính
4 Nguyên tắc xử lý sai sót
a) Sai sót phát sinh, tại đơn vị nào, đơn vị đó phải chịu trách nhiệm và chủ động xác định nguyên nhân sai sót, khắc phục hậu quả, đồng thời gửi thư tra soát hoặc thông báo đến các đơn vị liên quan để phối hợp, xử lý theo quy định;
b) Các khoản chuyển tiền thừa, tiền thiếu được xử lý theo quy định về sai sót phát sinh trong quá trình hạch toán
Các trường hợp chuyển thừa tiền và đề nghị hoàn trả phải đảm bảo không ảnh hưởng đến tờ khai được cơ quan hải quan đã hạch toán trừ nợ, xác nhận hoàn thành nghĩa vụ về thuế và thông quan hàng hóa;
Trang 3535
c) Trong mọi trường hợp điều chỉnh, khi chứng từ thu nộp tiền thuế đã được Kho bạc Nhà nước truyền sang cơ quan thu, thì các chứng từ điều chỉnh hoặc trả lại chứng từ có liên quan đều phải truyền cho cơ quan thu để theo dõi, tránh việc lợi dụng, thất thoát nguồn thu ngân sách;
d) Trường hợp ngân hàng sai sót chuyển thừa tiền so với yêu cầu của người nộp thuế và cơ quan hải quan đã sử dụng thông tin nộp tiền để hạch toán, trừ nợ, xác nhận hoàn thành nghĩa vụ thuế và thông quan hàng hóa Ngân hàng có trách nhiệm thông báo (bằng văn bản) tới cơ quan thuế, hải quan và đồng gửi Kho bạc Nhà nước về việc chuyển tiền thừa Căn cứ ý kiến của cơ quan thuế, hải quan, Kho bạc Nhà nước phối hợp xử lý;
đ) Các ngân hàng, chi nhánh ngân hàng phối hợp thu nơi chuyển tiền phát sinh sai sót, chậm chuyển tiền vào ngân sách nhà nước, ngân hàng phải chịu trách nhiệm và chủ động xác định nguyên nhân sai sót, khắc phục hậu quả với ngân sách, đồng thời gửi thư tra soát hoặc thông báo đến cơ quan hải quan, ngân hàng ủy nhiệm thu, Kho bạc Nhà nước để phối hợp, xử lý
2.3.2.4 Quy trình kiểm soát thu NSNN
Sơ đồ 2.1: Quy trình nghiệp vụ thu NSNN qua KBNN
(Nguồn: quy trình ISO tại Phòng Giao dịch TDM)
Các bước của quy trình cụ thể như sau:
Trang 3636
Bước 1:
+ Bước 1a: Người nộp thuế mang bảng kê nộp thuế (mẫu số 01/BKNT ban
hành theo Thông tư 84/2016/TT-BTC), chứng từ trích tiền từ tài khoản tiền gửi của đơn vị tại KBNN (Giấy rút dự toán ngân sách, Giấy rút vốn đầu tư, Ủy nhiệm chi chuyển khoản chuyển tiền điện tử, Giấy rút trợ cấp cân đối ngân sách,…) đến giao dịch với KTV thu của KBNN để làm thủ tục nộp thuế bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản
+ Bước 1b: Người nộp thuế đến các NHTM để làm thủ tục nộp thuế bằng tiền
mặt hoặc trích tài khoản tiền gửi của đơn vị tại NHTM để nộp thuế bằng chuyển khoản
+ Bước 1c: Người nộp thuế đến gặp Thủ quỹ KBNN, kê các loại tiền để nộp
NSNN bằng tiền mặt
Bước 2:
+ Bước 2a: Đối với chứng từ thu bằng tiền mặt do khách hàng chuyển đến:
KTV thực hiện kiểm tra thông tin thu nộp trên bảng kê nộp thuế (tên đơn vị nộp, mã số thuế, MLNSNN, cơ quan thu, số tờ khai hải quan, số tiền nộp bằng số bằng chữ,…) nếu đã đảm bảo đầy đủ và chính xác thì nhập vào chương trình thu thuế trực tiếp (TCS) để truy xuất dữ liệu về người nộp thuế, in 02 liên giấy nộp tiền vào NSNN, ký tên lên các liên chứng từ giấy nộp tiền, đóng dấu “Kế toán” và chuyển thủ quỹ để thu tiền
+ Bước 2b:
- Đối với các chứng từ điện tử nhận từ các NHTM (đã thực hiện Ủy nhiệm thu hoặc phối hợp thu với KBNN) và NHNN truyền về ở chương trình TCS_TT: KTV KBNN kiểm tra thông tin trên chứng từ điện tử (tên đơn vị nộp, mã số thuế, MLNSNN, cơ quan thu, số tờ khai hải quan, số tiền giữa chi tiết từng mục thu và số tiền tổng số, tỷ lệ điều tiết cho các cấp ngân sách,…) nếu chứng từ đảm bảo đầy đủ thông tin và khớp đúng thì tiến hành hạch toán vào thu NSNN ở chương trình TCS_TT theo quy định Trường hợp các chứng từ điện tử do các ngân hàng truyền về còn thiếu thông tin thì hạch toán vào tài khoản chờ xử lý để tra soát với các ngân hàng hoặc cơ quan thu để bổ sung thông tin cho đầy đủ mới tiến hành hạch toán thu NSNN
- Đối với các chứng từ chuyển khoản (Giấy rút dự toán ngân sách, Giấy rút vốn đầu tư, Ủy nhiệm chi chuyển khoản chuyển tiền điện tử, Giấy rút trợ cấp cân đối ngân sách,…) do khách hàng mang đến KBNN, KTV thu kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của chứng từ, nếu đã khớp đúng thì tiến hành hạch toán vào thu NSNN ở chương trình TCS_TT, nếu sai thì trả chứng từ cho khách hàng điều chỉnh lại Tùy từng trường hợp
cụ thể mà KTV thu có thể hạch toán thêm bút toán ở phân hệ GL của chương trình TABMIS theo đúng hướng dẫn hạch toán tại công văn 4946/KBNN-KTNN ngày 29/09/2017 của KBNN về việc hướng dẫn thực hiện Chế độ kế toán NSNN và hoạt động nghiệp vụ KBNN
Trang 37- Đối với chứng từ giấy thu NSNN bằng chuyển khoản do KTV thu chuyển đến: KTT KBNN kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp của chứng từ giấy, nếu có sai sót thì vào chương trình TCS nhấn vào nút “chuyển trả” đồng thời chuyển chứng từ giấy lại cho KTV thu để điều chỉnh lại; nếu đã khớp đúng thì ký đầy đủ lên các liên của chứng
từ và tiến hành phê duyệt trên chương trình TCS_TT và TABMIS (nếu có)
+ Bước 3b: Toàn bộ chứng từ thu ở chương trình TCS_TT, sau khi được KTT
phê duyệt sẽ được kết nối điện tử sang các cơ quan thu (Thuế, Tài chính, Hải quan) để các cơ quan thu kịp thời nắm bắt được tình hình nộp thuế của các đối tượng và làm cơ
sở cho cơ quan Hải quan làm thủ tục thông quan hàng hóa cho các DN
Bước 4:
+ Bước 4a: Thủ quỹ KBNN tiếp nhận chứng từ giấy về thu NSNN bằng tiền
mặt do KTV thu chuyển đến và thực hiện quy trình thu tiền mặt theo đúng hướng dẫn tại Công văn số 3636/KBNN-KQ ngày 01/08/2017 của KBNN về việc hướng dẫn chế
độ quản lý tiền mặt, giấy tờ có giá, tài sản quý trong hệ thống KBNN
+ Bước 4b: Sau khi thu tiền mặt của khách hàng, Thủ quỹ ký tên và đóng dấu
“Đã thu tiền” lên các liên của chứng từ thu NSNN, trả 01 liên chứng từ cho khách hàng, các liên còn lại chuyển trả cho KTV thu NSNN
Bước 5:
+ KTV thu nhận lại chứng từ thu NSNN bằng chuyển khoản do KTT đã xử lý xong chuyển đến, tách 01 liên để báo nợ cho khách hàng, 01 liên báo có cho cơ quan thu (nếu có)
+ Cuối ngày KTV thu thực hiện chạy giao diện để chuyển toàn bộ dữ liệu thu từ chương trình TCS_TT sang TABMIS; đồng thời in bảng liệt kê chứng từ S2-07 ở chương trình TCS (ban hành kèm theo Thông tư 08/2013/TT-BTC), bảng liệt kê bút toán S2-06 ở phân hệ GL của chương trình TABMIS, thực hiện đối chiếu số liệu số liệu giữa 2 chương trình đảm bảo số liệu khớp đúng, sau đó thực hiện in toàn bộ báo cáo thu trong ngày chuyển KTT kiểm soát Trường hợp số liệu thu giữa hai chương trình chưa khớp đúng, phải tìm nguyên nhân và báo cáo KTT để xử lý
Bước 6:
KTT kiểm tra các loại báo cáo do KTV thu chuyển đến, nếu số liệu đã bảo khớp đúng thì tiến hành phê duyệt trên báo cáo giấy, thực hiện khóa sổ ngày trên chương trình TCS_TT, kết xuất dữ liệu thu trong ngày, ký số và chuyển dữ liệu điện tử cho
Trang 3939
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Trong chương này, tác giả trình bày một số nội dung cơ bản về hệ thống KSNB: lịch sử ra đời và phát triển của hệ thống KSNB, sự phát triển của KSNB trong khu vực công, mục tiêu của KSNB trong khu vực công, 05 thành phần cơ bản tạo nên KSNB trong khu vực công: Môi trường kiểm soát, Đánh giá rủi ro, Hoạt động kiểm soát, Thông tin và truyền thông, Giám sát
Để củng cố KSNB thu NSNN tại Phòng Giao dịch TDM, tác giả trình bày tổng quan về thu NSNN, khái niệm, đặc điểm thu NSNN; nội dung, quy trình và thủ tục kiểm soát, đối tượng tham gia kiểm soát thu NSNN,…
Tóm lại, hệ thống KSNB đóng một vai trò quan trọng quyết định đến mục tiêu thu NSNN Nó giúp cho Phòng Giao dịch TDM có thể kiểm soát được CBCC tại đơn
vị, nguồn thu NSNN và mọi mặt hoạt động của đơn vị Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, những rủi ro ảnh hưởng tới nguồn thu NSNN ngày càng đa dạng, phức tạp Do vậy, việc không ngừng hoàn thiện hệ thống KSNB luôn là vấn đề cấp thiết cho ngành KBNN nói chung và Phòng Giao dịch TDM nói riêng
Trang 4040
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG KSNB THU NSNN TẠI PHÒNG GIAO DỊCH THỦ DẦU MỘT,
02 bộ phận nghiệp vụ: Kế toán nhà nước và Tổng hợp Nhiệm vụ chính của Phòng là thực hiện tập trung nguồn thu và kiểm soát chi NSNN (gồm chi thường xuyên và chi đầu tư XDCB) trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một Trụ sở chính: tọa lạc tại số 184 Đại lộ Bình Dương, phường Phú Hòa, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương
Số điện thoại giao dịch: 0274.3834589 Số Fax: 0274.3822855
Hiện nay, số lượng biên chế tại Phòng gồm 13 CBCC (trong đó có 02 lãnh đạo Phòng và 11 CBCC), được tăng thêm 03 biên chế so với lúc mới thành lập để bổ sung cho 02 bộ phận nghiệp vụ, nâng số lượng CBCC tại bộ phận kế toán lên 08 người và
bộ phận Tổng hợp thành 03 người
Trong suốt thời gian gần 10 năm hoạt động, Phòng Giao dịch TDM luôn cố gắng phấn đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, phối hợp với các cơ quan thu và NHTM trên địa bàn tập trung đầy đủ, kịp thời mọi nguồn thu vào NSNN; đồng thời kiểm soát chặt chẽ các khoản chi NSNN theo đúng chế độ quy định, công tác an toàn kho quỹ luôn được đảm bảo tuyệt đối
3.1.2 Bộ máy tổ chức và chức năng nhiệm vụ
Về bộ máy tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Phòng Giao dịch Thủ Dầu Một được quy định bởi Quyết định số 695/QĐ-KBNN ngày 16/07/2015 của KBNN quy định nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của KBNN ở huyện, quận, thị
xã, thành phố thuộc tỉnh Theo đó, Phòng chịu sự quản lý trực tiếp của KBNN tỉnh Bình Dương về tổ chức, biên chế, công tác chuyên môn nghiệp vụ, đồng thời thực hiện chức năng tham mưu cho UBND thành phố Thủ Dầu Một quản lý nhà nước về quỹ NSNN, các quỹ tài chính nhà nước theo quy định của pháp luật
Tính đến thời điểm 31/12/2017, tổng số CBCC tại phòng là 13 người (02 nam
và 11 nữ), trong đó: trình độ đại học là 11 người, trình độ cao học là 02 người Ban lãnh đạo Phòng gồm 02 người (đều là nữ): 01 Trưởng phòng và 01 Phó phòng Đồng chí Trưởng phòng là người chịu trách nhiệm toàn diện trước Ban Giám đốc KBNN