Mặc dù ở tất cả các ngôn ngữ, chức năng cơ bản nhất của chào hỏi là để xác nhận việc nhận biết sự có mặt của đối tượng giao tiếp, thể hiện sự quan tâm và khẳng định hoặc xác nhận mối qua
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
VÕ THỊ NGỌC TRÂM
HÀNH VI CHÀO HỎI CỦA NGƯỜI VIỆT
VÀ HỆ THỐNG BÀI TẬP DẠY HÀNH VI CHÀO HỎI
CHO HỌC SINH TIỂU HỌC
Chuyên ngành: GIÁO DỤC HỌC (GIÁO DỤC TIỂU HỌC)
Mã số: 60.14.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS NGUYỄN TRÍ
HÀ NỘI, NĂM 2009
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Táác giả xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu học đã nhiệt tình giảng dạy, giúp đỡ tác giả trong quá trìưh hoàn thành luận văn
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo và các em học sinh các trường tiểu học đã giúp đỡ trong quá trình điều tra khảo sát thực trạng, cũng như thực nghiệm sư phạm
Đặc biệt, tác giả xin chân thành cảm ơn PGS TS Nguyễn Trí, người đã trực tiếp hướng dẫn tác giả thực hiện luận văn này
Cuối cùng, tác giả xin cảm ơn bạn bè và gia đình đã động viên và giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình hoàn thành luận văn
* Trong quá trình nghiên cứu và hồn thành luận văn, mặc dù đã cố gắng nhưng luận văn vẫn khơng thể tránh khỏi những thiếu sĩt, hạn chế Tác giả rất mong nhận được sự đĩng gĩp ý kiến của thầy cơ và các bạn đồng nghiệp để
đề tài được hồn thiện hơn Xin chân thành cảm ơn
Hà Nội, tháng 10 năm 2009
Tác giả
Võ Thị Ngọc Trâm
Trang 3DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
SKLN : Sự kiện lời nĩi SKLNCH : Sự kiện lời nĩi chào hỏi NTLN : Nghi thức lời nĩi
NTCH : Nghi thức chào hỏi
BTNV : Biểu thức ngữ vi PNNV : Phát ngơn ngữ vi
HVTT : Hành vi trung tâm TTTDN : Tham thoại tiền dẫn nhập TTDNTT : Tham thoại dẫn nhập trung tâm TTHĐ : Tham thoại hồi đáp
HVCHHĐ : Hành vi chào hỏi hồi đáp
THGT : Tình huống giao tiếp
Trang 4MUÏC LUÏC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 8
Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 8
A CƠ SỞ LÍ LUẬN 8
I HÀNH VI NGÔN NGỮ 8
1 HVNN – Động từ ngữ vi (ĐTNV), biểu thức ngữ vi (BTNV) và phát ngôn ngữ vi (PNNV) 8
1.1 HVNN 8
1.2 ĐTNV, BTNV và PNNV 9
2 HVNN ở lời trực tiếp và HVNN ở lời gián tiếp 10
2.1 HVNN ở lời trực tiếp 10
2.2 HVNN gián tiếp 12
II SỰ KIỆN LỜI NÓI 14
1 Tham thoại 14
2 Cặp thoại (cặp trao đáp) 14
3 Sự kiện lời nói 15
III HV, NGHI THỨC VÀ SKLN CHÀO HỎI TRONG HỘI THOẠI 16
1 HVCH 16
1.1 HVCH 16
1.2 Hành vi đáp lời chào (hành vi chào hỏi hồi đáp) 17
1.3 HVCH trong hội thoại và phép lịch sự trong giao tiếp 17
2 Nghi thức chào hỏi (NTCH) 19
2.1 NTCH 19
2.2 NTCH trong hội thoại 20
3 SKLN chào hỏi (SKLNCH) 21
B CƠ SỞ THỰC TIỄN 21
I ĐẶC ĐIỂM TÂM SINH LÍ CỦA HS TIỂU HỌC 21
1 Đặc điểm nhận thức 22
1.1 Đặc điểm nhận thức cảm tính 22
1.2 Đặc điểm nhận thức lí tính 22
2 Đặc điểm ngôn ngữ 22
II CHƯƠNG TRÌNH TIẾNG VIỆT TIỂU HỌC VÀ VIỆC DẠY HỘI THOẠI 23
Trang 51 Mục tiêu – Nội dung chương trình Tiếng Việt tiểu học 23
Mục tiêu chương trình Tiếng Việt tiểu học 23
1.2 Nội dung chương trình Tiếng Việt tiểu học 23
2 Hội thoại và hành vi chào hỏi trong chương trình Tiếng Việt tiểu học 25
2.1 Hội thoại trong chương trình Tiếng Việt tiểu học 25
2.2 Hành vi chào hỏi trong chương trình tiểu học 29
3 Bài tập dạy hành vi chào hỏi ở tiểu học 30
II THỰC TRẠNG DẠY VÀ HỌC HỘI THOẠI, DẠY HVCH CHO HS TIỂU HỌC HIỆN NAY 32
1 Thực trạng dạy hội thoại ở trường tiểu học 32
2 Thực trạng học HVCH ở trường tiểu học 34
Tiểu kết chương I 35
Chương II: HVCH CỦA NGƯỜI VIỆT VÀ HỆ THỐNG BÀI TẬP DẠY HVCH CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 36
A HVCH VÀ VĂN HOÁ CHÀO HỎI (VHCH) CỦA NGƯỜI VIỆT 36
I HVCH CỦA NGƯỜI VIỆT 36
1 Mở đầu cuộc giao tiếp 36
1.1 HVCH trực tiếp và HVCHHĐ 36
1.1.1 Kiểu 1: HVCH có chứa động từ “thưa” 36
1.1.2 Kiểu 2: HVCH có chứa động từ “chào” 38
1.1.2.1 Chỉ có hành động chào 38
1.1.2.2 Hành động chào kết hợp với HĐNN khác 44
1.1.3 Kiểu 3: HVCH có chứa động từ “kính chào” 46
1.1.4 Kiểu 4: HVCH có chứa động từ “chào mừng, chào đón” 48
1.1.5 Kiểu 5: HVCH có chứa cụm động từ “((xin) cho phép) Sp1 được gửi đến (tới) Sp2 lời chào…” 49
1.2 HVCH gián tiếp và HVCHHĐ 49
1.2.1 Dùng lời hô gọi để chào 50
1.2.2 Hỏi để chào 55
1.2.3 Khen để chào 60
1.2.4 Chê để chào 61
1.2.5 Tự giới thiệu để chào 62
1.2.6 Mời để chào 63
1.2.7 Chúc mừng để chào 64
Trang 61.2.8 Thông báo để chào 65
1.2.9 Trách móc để chào 66
1.2.10 Xin lỗi để chào 68
1.2.11 Xin phép để chào 68
1.2.12 Chửi để chào 69
2 Kết thúc cuộc giao tiếp 70
2.1 HVCH trực tiếp và HVCHHĐ 70
2.1.1 Kiểu 1: HVCH có chứa động từ thưa 71
2.1.2 Kiểu 2: HVCH có chứa động từ (xin) chào 71
2.1.3 Kiểu 3: HVCH có chứa ĐTNV (xin) kính chào 72
2.1.4 Kiểu 4: HVCH có chứa ĐTNV tạm biệt 72
2.2 HVNN gián tiếp và HVCHHĐ 73
2.2.1 Kiểu 1: Hứa hẹn để chào 73
2.2.2 Kiểu 2: Thông báo để chào 74
2.2.3 Kiểu 3: Mời để chào 74
2.2.4 Kiểu 4: Chúc để chào 75
2.2.5 Kiểu 5: Đề nghị để chào 76
2.2.6 Kiểu 6: Xin phép để chào 76
3 Các yếu tố phi ngôn ngữ trong chào hỏi 76
II NTCH CỦA NGƯỜI VIỆT 78
III SKLNCH CỦA NGƯỜI VIỆT 78
1 Một số đặc điểm khái quát của SKLNCH 79
2 Cấu trúc của SKLNCH 79
2.1 SKLNCH mở đầu cuộc giao tiếp 79
2.2 SKLNCH kết thúc cuộc giao tiếp 81
IV VHCH CỦA NGƯỜI VIỆT 84
1 Đặc điểm lời chào của người Việt 84
1.1 Mang tính lịch sử 84
1.2 Chịu sự chi phối bởi mối quan hệ liên cá nhân, tình huống giao tiếp 85
1.3 Có sự khác biệt giữa các vùng, miền, thành thị và nông thôn 86
1.4 HVCH có thể được thực hiện gián tiếp thông qua các HVNN khác 87
2 Sự ảnh hưởng của văn hoá nước ngoài trong lời chào của người Việt 88
Tiểu kết phần A – Chương II 89
B HỆ THỐNG BÀI TẬP DẠY HVCH CHO HSTH 91
Trang 7I CÁC NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG BÀI TẬP 91
1 Đảm bảo tính khoa học 91
2 Đảm bảo tính sư phạm 92
3 Gợi nhu cầu, hứng thú của HS khi thực hiện bài tập 92
II GIỚI THIỆU TỔNG THỂ HỆ THỐNG BÀI TẬP 92
1 Giới thiệu tổng thể hệ thống bài tập 92
2 Mục đích xây dựng bài tập 93
III MÔ TẢ HỆ THỐNG BÀI TẬP 97
IV SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP 118
Tiểu kết phần B – Chương II 118
CHƯƠNG III: THỬ NGHIỆM SƯ PHẠM 119
I KHÁI QUÁT CHUNG 119
1 Mục đích thực nghiệm 119
2 Đối tượng thử nghiệm 119
3 Nội dung thử nghiệm 119
4 Thời gian thử nghiệm 120
II TỔ CHỨC THỬ NGHIỆM 120
1 Chuẩn bị thử nghiệm 120
2 Tiến hành thử nghiệm 120
3 Kết quả thử nghiệm 120
III KẾT QUẢ RÚT RA TỪ THỬ NGHIỆM SƯ PHẠM 123
PHẦN KẾT LUẬN 125 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Chào hỏi, cũng như những hành động nói năng khác, thể hiện đặc trưng văn hóa của mỗi dân tộc Mặc dù ở tất cả các ngôn ngữ, chức năng cơ bản nhất của chào hỏi là để xác nhận việc nhận biết sự có mặt của đối tượng giao tiếp, thể hiện sự quan tâm và khẳng định hoặc xác nhận mối quan hệ hoặc vị thế của những người giao tiếp hoặc nhóm người giao tiếp với nhau; song ở những ngôn ngữ khác nhau, cách thức cụ thể trong chào hỏi lại không như nhau Do đó, mỗi dân tộc khác nhau sẽ có những cách chào hỏi rất khác nhau, và người Việt cũng vậy
Văn hoá chào hỏi (VHCH) là lĩnh vực quan trọng trong đời sống tinh thần của mỗi dân tộc Đặc biệt đối với người Việt nó còn đóng vai trò đánh giá con người Người Việt từ xưa đã nói “Lời chào cao hơn mâm cỗ”, điều đó càng chứng tỏ lời chào có vị trí quan trọng đối với người Việt
Hành vi chào hỏi (HVCH) được thể hiện dưới nhiều hình thức nhằm duy trì, củng cố có hiệu quả mối quan hệ giữa những người tham gia giao tiếp, là sợi dây tình cảm để gắn kết những con người trong xã hội với nhau Đây cũng là một hành
vi (HV) thuộc lĩnh vực nhạy cảm về phép lịch sự trong quan hệ của loài người Hiện nay, trong xu thế hội thoại và phát triển toàn cầu, trong sự giao thoa văn hoá giữa các cộng đồng, việc tìm hiểu các HV ngôn ngữ (HVNN), trong
đó có HVCH là cần thiết
HVCH được sử dụng trong mọi cuộc giao tiếp, là nghi thức đầu tiên mà các nhân vật giao tiếp tham gia hội thoại phải dùng đến, nó không phải là mục đích chính của cuộc giao tiếp, nhưng nếu chúng ta phạm sai lầm trong HV này thì có thể cuộc giao tiếp không còn diễn ra như mong muốn nữa, thậm chí kết thúc S.A Amonasvili có nói “Sắc thái đặc biệt của lời chào dễ mến, đôn hậu, kích thích tinh thần, niềm vui học tập, hạnh phúc của sự tiếp xúc – chẳng lẽ không xứng đáng để xem xét nó như một biện pháp giáo dục tình yêu, lòng tin cậy giữa con người với con người và niềm hy vọng vào con người hay sao? Bạn hãy chào một người bằng một giọng khinh thường hoặc bằng giọng biểu thị niềm vui sướng gặp gỡ thì bạn sẽ thấy, cũng chỉ những từ ấy thôi được phát
âm theo những cách khác nhau, nó sẽ thay đổi quan hệ của người ta với bạn.” [26; 28] Vì vậy, việc đi vào nghiên cứu HV này là điều cấp thiết
Trang 91.2 Sách giáo khoa (SGK) hiện nay đã dạy lời chào cho học sinh (HS)
từ lớp 1 và chính thức dạy ở lớp 2 HS được học Nói và đáp lời chào hỏi với những nhân vật giao tiếp, tình huống giao tiếp (THGT) khác nhau: bố mẹ, thầy cô, bạn bè,…
Việc đưa HVCH vào dạy trong nhà trường tiểu học là một bước tiến trong lịch sử dạy học Bởi lẽ đây là lần đầu tiên có một cuốn sách đã chú ý đến việc dạy HVCH, đã xây dựng được một số bài tập theo hướng thực hành giao tiếp để dạy HV này
Tuy nhiên, khi dạy HVCH, SGK lại tách một sự kiện lời nói (SKLN), một cặp thoại thành hai hoạt động riêng lẻ, tách rời nhau (HV chào và HV đáp lời chào) Mặt khác, SGK cũng chưa chú ý đến các biểu hiện khác nhau cũng như những đặc trưng VHCH của người Việt
HVCH còn được dạy ở các lớp 3, 4 và 5, nhưng chủ yếu dạy trong các THGT chính thức (viết thư, báo cáo, họp tổ, thuyết trình, tranh luận, trao đổi
ý kiến với người thân,…) Chương trình cũng chưa triển khai dạy HVCH trong THGT không chính thức, trong đời sống sinh hoạt hằng ngày
cần nghiên cứu HVCH của người Việt để làm cơ sở cho các kiến nghị
về hệ thống bài tập dạy HVCH ở tiểu học
Với những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu “Hành vi chào hỏi của người Việt và hệ thống bài tập dạy hành vi chào hỏi cho học sinh tiểu học”
2 Lịch sử đề tài nghiên cứu
Vận dụng lý thuyết Dụng học vào nghiên cứu các HVNN trong khoảng thời gian gần đây được chú ý và tiến hành rầm rộ
1989, luận văn sau đại học của Nguyễn Văn Lập “Bước đầu tìm hiểu nghi thức lời nói tiếng Việt” đã khái quát những tiêu chí nhận diện phát ngôn
nghi thức lời nói (NTLN) tiếng Việt và đi sâu vào phân loại, miêu tả NTLN theo phạm vi giao tiếp Tác giả đã tách HVCH thành hai HVNN: HVCH và hành vi từ biệt, hai HV này đã được tác giả khái quát thành những công thức
cụ thể Luận văn là sự vận dụng thành công lý thuyết HVNN và lý thuyết NTLN, tác giả đã tìm hiểu những công thức chào tiêu biểu lặp đi lặp lại trong giao tiếp với tần số cao
Năm 1994 Nguyễn Thị Đan nghiên cứu Bước đầu tìm hiểu cấu trúc hội thoại: Cuộc thoại - Đoạn thoại (trên cơ sở tìm hiểu một số cuộc thoại mua bán ngày nay và thời bao cấp trước kia), trên cơ sở nghiên cứu hoạt động
Trang 10phát ngôn trong hội thoại của người mua và người bán, từ đó tìm hiểu cấu trúc cuộc thoại mua bán gồm 3 phần: mở thoại, thân thoại, kết thoại, đi sâu nghiên cứu từng loại đoạn thoại này để so sánh với cuộc thoại thời bao cấp
Luận án PTS của Phạm Thị Thành (năm 1995), “Nghi thức lời nói tiếng Việt qua các phát ngôn: chào, cám ơn, xin lỗi”, tác giả đã chia phát ngôn
chào thành hai loại: chào một cách tường minh – phát ngôn có động từ “chào” (5 cấu trúc), chào một cách hàm ẩn – phát ngôn không có động từ “chào” (7 cấu trúc) Thành công của luận án là tác giả đã xây dựng được cấu trúc của lời chào và nêu đặc điểm của phát ngôn này về mặt ngữ nghĩa và cấu trúc; lý giải
sự hình thành của các phát ngôn nghi thức, tường minh, hàm ẩn; phân tích những ảnh hưởng của các yếu tố xã hội, dân tộc, tâm lý đến nội dung ngữ nghĩa và cấu trúc của phát ngôn nghi thức
Năm 1996, Đinh Thị Hà, Lê Thị Thu Hoa, Nguyễn Thị Ngận trong các luận văn Thạc sĩ đã nghiên cứu cấu trúc của một số động từ nói năng biểu thị các HVNN như nhóm “bàn, tranh luận, cãi”, nhóm “khen, tặng, chê” hay
Năm 1999, Đào Thị Thuý Nga nghiên cứu đề tài “Cấu trúc ngữ nghĩa,
chức năng của các thành phần tạo nên các phát ngôn ngữ vi mời và rủ”
Trong luận án tiến sĩ năm 2000, Phạm Văn Thấu nghiên cứu cấu trúc chức năng cặp thoại nhằm góp phần nghiên cứu một cách toàn diện lý thuyết hội thoại Tiến hành xây dựng những chuẩn mực ngôn ngữ ở mặt từ ngữ, ngữ pháp, văn hoá làm cơ sở đó để xây dựng các mô hình cặp thoại chuẩn mực, nhất là chuẩn mực về nghi thức văn hoá cho giao tiếp đời thường với đề tài
“Cấu trúc liên kết của cặp thoại”
Trang 11Cũng năm 2001, Chữ Thị Bích nghiên cứu đề tài “Hành vi cho, tặng trong sự kiện lời nói cho, tặng”, Trịnh Thanh Hà với đề tài “Cặp thoại điều khiển trong sự kiện lời nói điều khiển”, “Cặp thoại thỉnh cầu (Xin) trong sự kiện lời nói thỉnh cầu” – luận án của Nguyễn Thị Vân Anh
Năm 2002, Đào Nguyên Phúc đã đi vào nghiên cứu và triển khai sâu hơn
về HV xin phép trong “Sự kiện lời nói xin phép” Trong luận văn thạc sĩ “Lời chào của người Thái Việt Nam”, Cầm Bạch Thiêm đã trình bày cơ sở lý
thuyết về HVNN, phép lịch sự của lời chào, nghiên cứu lời chào gặp mặt và chia tay của người Thái Việt Nam với các nội dung: phân loại các kiểu chào, cấu tạo, nội dung, hoàn cảnh sử dụng và lời đáp của mỗi kiểu chào, rèn luyện
kỹ năng viết câu, lập luận, tổ chức, trình bày một vấn đề khoa học của các
hình thức chào trong hoạt động giao tiếp hàng ngày của người Thái
Luận văn thạc sĩ khoa học “Hành vi trách và sự kiện lời nói trách” năm
2004 của Nguyễn Thu Hạnh đã xây dựng một khái niệm về HV trách để từ đó rút ra các đặc trưng của HV, tìm ra các dạng BTNV trách và mô tả phát ngôn trách, mô tả về SKLN trách ở mặt cấu trúc, tính chất và các thành phần cấu tạo nên lời nói trách Đưa ra các chỉ dẫn sử dụng HV trách đảm bảo hiệu quả
và lịch sự
“Dạy học nghi thức lời nói cho học sinh lớp 2 qua phân môn Tập làm văn” của thạc sĩ Nguyễn Thị Thu Hương (năm 2005), đã nghiên cứu nội dung
và phương pháp dạy học NTLN cho học sinh lớp 2 trong nhà trường tiểu học;
đề xuất một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học NTLN trong phân môn Tập làm văn cho học sinh lớp 2; thực nghiệm dạy học phân môn Tập làm văn
có nội dung luyện NTLN theo các biện pháp và bài tập đề xuất
“Sự kiện lời nói chê trong tiếng Việt” của Nguyễn Thị Hoàng Yến (năm
2006), đã nghiên cứu cấu trúc các BTNV chê, phát ngôn ngữ vi (PNNV) chê
và cấu trúc SKLN chê, HV chê trong sử dụng của người Việt Nam
Trong bài nghiên cứu, thạc sĩ Nguyễn Thị Hồng Ngân đã nêu một số cấu trúc lời chào của người Việt
Năm 2006, luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Hồng Thuý “Xây dựng hệ thống bài tập rèn kĩ năng nghiên cứu hội thoại cho học sinh lớp 4”
Năm 2007, Trịnh Bảo Trâm, Nguyễn Thị Ngọc Diễm, Dương Tuyết Hạnh đã đi vào nghiên cứu một số HVNN như xin lỗi, xin – mượn – vay, nhờ
Trang 12Nhìn chung, các đề tài đều đi vào nghiên cứu từng HVNN trên các phương diện cấu trúc và ngữ nghĩa Tuy nhiên, các đề tài chưa đi sâu vào khía cạnh văn hoá trong giao tiếp của từng HVNN
Mặc dù, có nhiều công trình đã nghiên cứu HVCH của người Việt, nhưng xét về ý nghĩa, hiệu lực của HVCH trong giao tiếp cũng như hệ thống bài tập dạy HV này cho HS tiểu học (HSTH) cần phải có công trình nghiên cứu làm rõ hơn vấn đề này
3 Đối tượng – phạm vi và giới hạn nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- HVCH của người Việt hiện đại
- Hệ thống bài tập dạy HVCH cho HSTH
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu HVCH của người Việt hiện đại trên các phương diện: ngữ cảnh giao tiếp xuất hiện HVCH, cấu trúc của HVCH, SKLN chào hỏi (SKLNCH), nghĩa và ngữ cảnh sử dụng, VHCH của người Việt (chỉ nghiên cứu những lời chào dành cho những cuộc giao tiếp mặt đối mặt)
- Xây dựng hệ thống bài tập dạy HVCH cho HSTH
3.3 Giới hạn nghiên cứu
Nghiên cứu HVCH trong tiếng Việt hiện đại
4 Mục đích nghiên cứu
- Luận văn nhằm nghiên cứu HVCH của người Việt hiện đại ở các phương diện và các thành phần cấu thành nên HVCH, phục vụ cho việc dạy trong nhà trường
- Nghiên cứu bài tập dạy HVCH trong SGK
- Trên cơ sở nghiên cứu HVCH của người Việt và bài tập dạy HV này trong SGK hiện nay, chúng tôi đề xuất hệ thống bài tập dạy cho HSTH chào hỏi
5 Giả thuyết khoa học
Các kết quả nghiên cứu HVCH trong tiếng Việt hiện đại là cơ sở để xây dựng bài tập về HVCH cho HSTH người dạy sẽ có tài liệu cụ thể hơn để dạy HV này, HS không những nắm chắc HVCH mà còn thấm nhuần VHCH của người Việt
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 13- Nghiên cứu những lý thuyết về HVNN và HVCH, nghi thức chào hỏi (NTCH), SKLNCH của người Việt hiện đại
- Khảo sát, phân tích thực trạng dạy học HVCH ở nhà trường tiểu học hiện nay
- Đề xuất hệ thống bài tập dạy HSTH HVCH
7 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu các tài liệu về HVNN, về hội thoại, về cách xây dựng bài tập hội thoại, nghiên cứu các HVCH, NTCH được người Việt sử dụng,… để rút ra những kết luận cần thiết Nghiên cứu riêng lẻ từng
bộ phận của vấn đề từ các tài liệu, sau đó liên kết thông tin thu được, tổng hợp khái quát thành các luận điểm làm cơ sở cho việc đề ra giả thuyết khoa học của luận văn
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Nhóm phương pháp này nhằm tác động vào đối tượng có trong thực tiễn
để bộc lộ các bản chất vận động của đối tượng ấy Chúng tôi sử dụng những phương pháp cơ bản sau:
7.2.1 Phương pháp điều tra, khảo sát
Tiến hành khảo sát trên đối tượng HS bằng phiếu bài tập và phỏng vấn Khảo sát thực trạng dạy học hội thoại của giáo viên thông qua phiếu điều tra thăm dò ý kiến giáo viên
7.3.2 Phương pháp phỏng vấn
- Phỏng vấn GV, những người có kinh nghiệm giảng dạy, chúng tôi tìm hiểu thực trạng dạy học NTCH trong dạy học môn Tiếng Việt nói chung, trong phân môn Tập làm văn nói riêng Từ đó có cái nhìn đúng đắn về vấn đề quan tâm, tìm giải pháp tốt nhất có thể
- Phỏng vấn HS: Nhằm kiểm tra xem HS thực hành NTCH như thế nào, tiến hành một cuộc thoại, một cuộc giao tiếp như thế nào để từ đó có những định hướng đúng đắn cho đề tài
7.3.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Đây là một phương pháp được sử dụng trong luận văn Qua thực nghiệm, mới có thể xem xét, phân tích, đánh giá, kết luận về thực tiễn để đề xuất
Trang 14phương án và điều chỉnh phương án sao cho khả thi Chúng tôi tiến hành kiểm nghiệm tính khả thi của tài liệu dạy học đã thiết kế
7.3 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng toán thống kê để phân tích kết quả điều tra thực trạng, kết quả thực nghiệm sư phạm, kiểm tra độ tin cậy của tài liệu thiết kế
8 Đóng góp của luận văn
Luận văn góp phần vào việc hoàn thiện nghiên cứu HVCH của người Việt trên phương diện: nội dung – đặc điểm, hoàn cảnh sử dụng, HVCH và HVCH hồi đáp (HVCHHĐ), VHCH để từ đó thấy được hiệu lực của HVCH Trên cơ sở những kết quả nghiên cứu được chúng tôi triển khai xây dựng bài tập dạy HVCH cho HSTH
9 Cấu trúc của luận văn
Luận văn được chia làm 3 phần chính:
1 Phần mở đầu: lí do chọn đề tài, lịch sử vấn đề nghiên cứu, đối tượng –
phạm vi và giới hạn nghiên cứu, mục đích nghiên cứu, giả thuyết khoa học, nhiệm vụ nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đóng góp mới của luận văn
2 Phần nội dung: Gồm 3 chương
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương II: HVCH của người Việt và hệ thống bài tập dạy HVCH cho HSTH Chương III: Thử nghiệm sư phạm
3 Phần kết luận
Ngoài những phần trên, luận văn còn có các phần như danh mục từ viết tắt, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục
Trang 15PHẦN NỘI DUNG Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
- HVOL là những HV mà người nói thực hiện ngay khi nói năng Hiệu quả của chúng là những hiệu quả ngôn ngữ, có nghĩa là chúng gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng ở người nhận [6; 89]
O Ducrot nói rõ thêm về HVOL là ở chỗ chúng thay đổi tư cách pháp nhân của người đối thoại Chúng đặt người nói và người nghe vào những nghĩa vụ và quyền lợi mới so với tình trạng của họ trước khi thực hiện HVOL
người nói nói “Em chào cô ạ.” thì người được chào sẽ phản ứng lại bằng
những lời nói có nội dung tương ứng với câu chào đó Ví dụ, người nghe có
Trang 16thể đáp lại bằng phát ngôn “Chào em.” Lời đáp tuỳ vào thiện ý, hiểu biết của người nghe Nếu người nghe không đáp lại thì theo nguyên tắc hội thoại sẽ bị coi là không lịch sự Vì lẽ đó mà O Ducrot cho rằng HVOL làm thay đổi tư cách pháp nhân của những người đối thoại Nghĩa là khi thực hiện HVOL cả người nói và người nghe đều bị ràng buộc vào những “nghĩa vụ và quyền lợi mới so với tình trạng của họ trước khi thực hiện HV đó” [6; 90] Đây cũng là điểm phân biệt giữa HVOL với HV tạo lời và HV mượn lời
Như vậy, HVOL mang tính chủ định của người nói, rõ nhất là đích giao tiếp mà người nói đặt ra khi sử dụng mỗi HVOL Mỗi HVOL khi được thực hiện đều đòi hỏi sự cộng tác của người cùng giao tiếp
Điều kiện để ĐTNV thực hiện đúng chức năng của chúng:
- Chủ thể nói phải ở ngôi thứ nhất (người nói Sp1)
- Bổ ngữ của động từ phải ở ngôi thứ hai
- Phải được dùng ở thời hiện tại (hiện tại phát ngôn)
- Không có các động từ chỉ các tình thái khác nhau của động từ như đã,
sẽ, đang,
Ví dụ: Tôi xin chào bác sĩ
Ở ví dụ trên, động từ chào là ĐTNV, động từ này được dùng đúng chức
năng ngữ vi: ở thời hiện tại, không có các phụ từ chỉ thời gian, chủ ngữ - người nói chào (tôi) được dùng ở ngôi thứ nhất
Nếu không hội đủ các điều kiện trên thì ĐTNV vẫn được dùng như các động từ miêu tả thông thường
Ví dụ: Nó đã chào anh rồi mà
Động từ chào ở câu trên được dùng như động từ miêu tả vì nó ở thời quá
khứ bởi từ “đã” quy định
1.2.2 BTNV
BTNV là một kiểu cấu trúc biểu thị một HVOL BTNV là dấu hiệu ngữ pháp – ngữ nghĩa của các HVOL Nhờ các BTNV chúng ta nhận biết được các HVOL
Trang 17Austin đã dựa vào sự có mặt hay vắng mặt của ĐTNV để chia BTNV làm 2 loại: BTNV tường minh (trực tiếp) và BTNV nguyên cấp (hàm ẩn, gián tiếp) BTNV tường minh (trực tiếp) là những biểu thức có chứa ĐTNV ở chức năng ngữ vi
Ví dụ: Chào bác sĩ
BTNV nguyên cấp (BTNV hàm ẩn, BTNV gián tiếp) là BTNV không chứa ĐTNV ở chức năng ngữ vi
Ví dụ: A: Anh dạo này trông trắng trẻo đấy
B: Cám ơn, chào anh Anh đi làm về à?
Câu “Anh dạo này trông trắng trẻo đấy.” là câu chào của A đối với B
Mặc dù trong câu chào không có ĐTNV chào nhưng câu mang ý nghĩa chào
hỏi, được dùng với mục đích giao tiếp
1.2.3 PNNV
GS TS Đỗ Hữu Châu cho rằng “PNNV là phát ngôn – sản phẩm của một HVOL nào đó khi HV này được thực hiện một cách trực tiếp, chân thực PNNV tối thiểu là phát ngôn chỉ có BTNV Trong giao tiếp thường ngày, PNNV thường mở rộng, có BTNV và các thành phần mở rộng ” Nói khác đi thì một PNNV có nồng cốt chính là BTNV và phần mở rộng Có thể hiểu một PNNV như sau :
Ví dụ : Dạ chào giáo sư ạ
Các phát ngôn trên là PNNV, sản phẩm HVOL chào hỏi, HVCH này được thực hiện một cách trực tiếp, chân thực Trong các phát ngôn trên: “chào giáo sư” là BTNV chào hỏi “Dạ”, “ạ” là thành phần mở rộng của BTNV chào hỏi
2 HVNN ở lời trực tiếp và HVNN ở lời gián tiếp
2.1 HVNN ở lời trực tiếp
Trang 182.1.1 Sơ lược về HVNN ở lời trực tiếp
HVNN ở lời trực tiếp là những HVNN chân thực, được thực hiện đúng với đích ở lời, đúng với điều kiện sử dụng của chúng [6; 145]
HVOL trực tiếp có sự phù hợp giữa mục đích phát ngôn với hình thức câu chữ được dùng để thực hiện mục đích
Trong tiếng Việt, có nhiều động từ dùng với mục đích chào hỏi như động từ: thưa, chào, kính chào, chào mừng, chào đón, tạm biệt, cụm động từ “((xin) cho phép) Sp1 được gửi đến (tới) Sp2 lời chào…”, …
Như vậy, HVCH trực tiếp là HV trong đó người nói sử dụng các ĐTNV “thưa, chào, kính chào, chào mừng, chào đón, tạm biệt”, cụm động
từ “((xin) cho phép)) Sp1 được gửi đến (tới) Sp2 lời chào…” theo đúng chức năng ngữ vi của chúng
Ví dụ: Thưa ông con mới về
Chào bạn
Dạ kính chào giáo sư ạ
Chào mừng (chào đón) quý khách đã đến với cửa hàng chúng tôi Thưa dì con về
Tạm biệt Lan nhé
Đan Trường xin gửi lời chào trân trọng tới quí vị khán giả
Bảy phát ngôn trên đều thể hiện HVCH trực tiếp, đều chứa BTNV chào
hỏi tường minh, có ĐTNV thưa, chào, kính chào, chào mừng, chào đón, tạm biệt, cụm động từ “((xin) cho phép) Sp1 được gửi đến (tới) Sp2 lời chào…” làm hạt nhân
Người Việt thường sử dụng HVCH trực tiếp trong các tình huống mở đầu hay kết thúc cuộc giao tiếp
2.1.2 Các điều kiện sử dụng HVOL trực tiếp
Điều kiện sử dụng các HVOL là những điều kiện mà một HVOL phải đáp ứng để nó có thể diễn ra thích ứng với ngữ cảnh của sự phát ngôn ra nó [6; 111] Austin xem các điều kiện sử dụng HVOL là những “điều kiện may mắn” [6; 112]
Searle gọi chúng là điều kiện sử dụng hay điều kiện thoả mãn Mỗi HVOL đòi hỏi có một hệ những điều kiện Mỗi điều kiện là một điều kiện cần còn toàn bộ điều kiện là điều kiện đủ Có tất cả bốn điều kiện: [6; 116]
Trang 191 Điều kiện sử dụng mệnh đề: chỉ ra bản chất của nội dung HV Nội dung mệnh đề có thể là một mệnh đề đơn giản, một hàm mệnh đề, một hành động ở người nói hay một hành động của người nghe
2 Điều kiện chuẩn bị: bao gồm những hiểu biết của người phát ngôn về năng lực, lợi ích, ý định của người nghe về các quan hệ giữa người nói, người nghe
3 Điều kiện chân thành: chỉ ra các trạng thái tâm lí tương ứng của người phát ngôn
4 Điều kiện căn bản: điều kiện đưa ra kiểu trách nhiệm mà người nói hoặc người nghe bị ràng buộc khi HVOL đó phát ra
Từ 4 điều kiện trên suy ra các điều kiện thoả mãn của HVCH:
- Điều kiện nội dung mệnh đề: không có nội dung mệnh đề nào
- Điều kiện chuẩn bị: A vừa gặp B hoặc vừa được giới thiệu với B (hoặc
A sẽ chia tay với B)
- Điều kiện chân thành: không có
- Điều kiện căn bản: nhằm bày tỏ một cách lịch sự rằng A đã nhận biết được B (hoặc A sẽ chia tay với B khi cuộc giao tiếp kết thúc)
2.2 HVNN gián tiếp
2.2.1 Sơ lược về HVNN gián tiếp
HVNN ở lời gián tiếp là loại HV mà người nói sử dụng HVNN này nhưng nhằm đạt những hiệu lực ở lời của HVNN khác
Ví dụ:
A vừa bước vào nhà B, cất tiếng:
A: Bác đang nấu cơm đấy à?
B: Chào bác, mời bác vào nhà xơi nước
Phát ngôn A có cấu trúc hỏi, nhưng không nhằm để thực hiện HV hỏi mà mục đích chính là A muốn thông báo cho B biết sự có mặt của mình, và muốn
mở đầu một cuộc giao tiếp với B qua việc bày tỏ thái độ quan tâm, hỏi han thân mật Như vậy, lời nói trực tiếp là một phát ngôn hỏi, song HV mà nguời
A muốn hướng vào là chào, mở đầu cuộc giao tiếp thân tình
Đỗ Hữu Châu nói về một HVNN gián tiếp như sau: “Một HV được sử dụng gián tiếp là một HV trong đó người nói thực hiện một HVOL này nhưng
Trang 20nhằm làm cho người nghe dựa vào những hiểu biết ngôn ngữ và ngoài ngôn ngữ chung cho cả hai người, suy ra hiệu lực ở lời của một HVNN khác” [6; 146] Nhận định “dựa vào những hiểu biết ngôn ngữ và ngoài ngôn ngữ chung cho cả hai người” để suy ra một hiệu lực ở lời của một HV khác (tức hiệu lực
ở lời gián tiếp) chính là những căn cứ, những dấu hiệu để nhận biết HVNN gián tiếp Thực chất những hiểu biết ngoài ngôn ngữ chính là những nhân tố ngữ cảnh như : người giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp Còn những hiểu biết ngôn ngữ là những hiểu biết về ý nghĩa nội dung của BTNV trực tiếp (tức là hiểu biết cái lõi của PNNV) và về quan hệ ngữ nghĩa của các thành phần tạo nên nội dung của BTNV trực tiếp với các nhân tố của ngữ cảnh, đặc biệt là nhân tố người nói và người nghe
Các HVNN gián tiếp là một trong những phương thức tạo ra tính mơ hồ
về nghĩa trong lời nói Tuy nhiên, không phải tuỳ tiện muốn dùng HVOL trực tiếp nào để tạo ra HVOL gián tiếp cũng được
Trong thực tế giao tiếp, không chỉ những “HVOL hỏi” mà hầu như tất cả các HVOL đều có thể được dùng để thực hiện gián tiếp các HV khác
Ví dụ:
Hoà và Minh gặp nhau trong một bữa tiệc:
Minh: Cái áo cậu mặc đẹp đấy
Hoà : À, chào Cậu vẫn khoẻ chứ?
Phát ngôn A là phát ngôn khen, nhưng đặt trong hoàn cảnh giao tiếp trên
nó không chỉ nhằm mục đích khen mà mục đích chính của nó là nhằm thực hiện HVCH, mở đầu cho cuộc giao tiếp mới nên mới có lời chào của B đáp lại
“À, chào Cậu vẫn khoẻ chứ?”
Như vậy, có thể nói mỗi một HVOL đều có khả năng dùng để thực hiện một hoặc một số HV gián tiếp khác
2.2.2 Cơ sở nhận diện HVOL gián tiếp
Theo một số tác giả, các yếu tố sau là cơ sở nhận diện HVOL gián tiếp:
- Hoàn cảnh giao tiếp: được hiểu là bối cảnh chung mà ở đó câu nói được nói
ra là nhân tố quan trọng giúp người nghe nhận biết được nghĩa hàm ẩn của câu
- Các thao tác suy ý
- Dựa vào các ước định xã hội
Trang 21- Dựa vào các sự vi phạm các quy tắc điều khiển hành động ngôn ngữ Searle cho rằng cơ chế của HVOL gián tiếp là ở các điều kiện sử dụng của các HVOL
Sử dụng HVNN gián tiếp làm phong phú hơn hoạt động ngôn ngữ trong đời sống giao tiếp, giúp chúng ta nói được nhiều hơn những điều mình nói ra
Như vậy, HVCH gián tiếp là HV trong đó nguời nói thực hiện một hoặc một số HVOL này nhưng nhằm làm cho người nghe dựa vào điều kiện thoả mãn của HVCH để suy ra hiệu lực ở lời chào hỏi
Ví dụ:
A: Chào hai bác
B: Mời bác xơi cơm
Phát ngôn B là một lời mời, nhưng mục đích của nó không phải là mời A xơi cơm, theo phong tục của người Việt thì nó là lời chào xã giao
Ví dụ:
A: Hương sắp lấy chồng rồi đấy chị ạ! Chị biết chưa?
B: Chào cô Cô nghe tin này khi nào?
Phát ngôn A có cấu trúc của phát ngôn thông báo, nhằm thông báo những tin cần thiết liên quan đến các nhân vật giao tiếp Phát ngôn này đã phát ra tín hiệu thân thiện của chủ thể giao tiếp gửi tới đối tượng giao tiếp Đây là cơ sở để phát ngôn này đóng vai trò xác lập quan hệ giao tiếp, mở đầu cho cuộc tiếp xúc Phát ngôn A là phát ngôn thông báo nhưng nhằm mục đích chào hỏi
II SỰ KIỆN LỜI NÓI
1 Tham thoại
Tham thoại là phần đóng góp của từng nhân vật hội thoại vào một cặp thoại nhất định [6; 316]
Ví dụ:
(1) Sp1: Hôm nay đi đâu mà mặc đẹp vậy?
(2) Sp2: Cám ơn nha Mà cậu đi đâu đấy?
Ví dụ trên gồm hai lượt lời (1 và 2), lượt lời (1) có một tham thoại – tham thoại hỏi nhưng được sử dụng như lời chào; lượt lời (2) gồm 2 tham thoại, một tham thoại đáp lời chào và một tham thoại hỏi
2 Cặp thoại (cặp trao đáp)
Trang 22Cặp thoại là đơn vị lưỡng thoại nhỏ nhất của cuộc thoại, là đơn vị cơ sở của hội thoại [6; 315]
- Cặp thoại được cấu thành từ các tham thoại
3 Sự kiện lời nói
Theo G.Yule, SKLN (speech event) là “Một hoạt động ngôn ngữ trong
đó những người tham gia tác động lẫn nhau thông qua ngôn ngữ bằng một cách đã quy ước nhằm đạt một mục đích nào đấy Mỗi SKLN được tạo nên bởi một cặp thoại trung tâm, trong cặp thoại đó đích của hoạt động ở lời dẫn nhập quyết định đích của SKLN chứa nó Tên gọi của hoạt động ở lời dẫn nhập của cặp thoại trung tâm cũng là tên gọi của SKLN đó”
Theo Lý thuyết hội thoại “Một SKLN có thể tối giản (chỉ có một tham thoại dẫn nhập trung tâm (TTDNTT) và TTHĐ); hoặc phức hợp ngoài HVTT (tường minh hay hàm ẩn) còn có các HV thứ yếu phục vụ cho, xoay quanh HVTT, làm cho HVTT phát huy được tận lực hiệu quả của mình
Như vậy, SKLN là một khái niệm quan trọng trong Lý thuyết hội thoại
Nó là đơn vị hội thoại có tính chất lưỡng thoại, là đơn vị bậc trên của cặp thoại và dưới đoạn thoại SKLN có thể là một cặp thoại đơn, một cặp thoại
mở rộng hay tổ hợp của một số cặp thoại Nghĩa là một SKLN có thể trùng với đoạn thoại hay là thành phần tạo thành đoạn thoại
Trong hội thoại, người tham gia giao tiếp tác động với nhau không phải thông qua những HVOL riêng lẻ mà thông qua sự tổ hợp các HVOL thành
những SKLN
Xét về mặt cấu trúc thì SKLN có thể chia thành những dạng sau:
Trang 23a) SKLN có cấu trúc đơn: (có cấu trúc trùng với cặp thoại)
Đó là những SKLN chỉ có một tham thoại dẫn nhập (TTDN) một và TTHĐ b) SKLN có cấu trúc phức: có cấu trúc lớn hơn cặp thoại:
Ví dụ: Thưa ông con mới về
Khi phát ngôn trên kết thúc thì cũng là lúc người cháu thực hiện xong HVCH của mình đối với người ông
Nếu căn cứ theo cách phân loại HVOL của Austin thì HVCH thuộc nhóm ứng xử (behabitives) Các HV thuộc nhóm này là những HV bộc lộ phản ứng của người nói đối với cách xử sự của người khác về một vấn đề nào đó
Còn căn cứ theo cách phân loại của Searle thì HVCH thuộc nhóm biểu cảm (còn gọi là bộc lộ - expressives) Các HV thuộc nhóm này là những HV bày tỏ, bộc lộ thái độ, trạng thái tâm lí của người nói đối với một số hoàn cảnh, tình thế nhất định được nêu trong phần nội dung mệnh đề
Hành vi là toàn bộ nói chung những phản ứng, cách cư xử biểu hiện ra
bên ngoài của một người trong một hoàn cảnh cụ thể nhất định [21 ; 423]
Chào theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên được hiểu như sau :
1 Tỏ bằng lời nói hoặc cử chỉ thái độ kính trọng hoặc quan tâm đối với
ai, khi gặp nhau hoặc khi từ biệt Chào thầy giáo Chào từ biệt Ngả mũ chào
2 Tỏ thái độ kính cẩn trước cái gì thiêng liêng, cao quí Đứng nghiêm
chào cờ
3 Mời ăn uống hoặc mua hàng Tiếng chào cao hơn mâm cỗ Nhà hàng
chào khách
Trang 24Trong đề tài này, chúng tôi quan tâm đến định nghĩa thứ nhất
Chào hỏi là chào bằng lời nói khi gặp nhau (nói khái quát) [21; 134]
Do đó có thể hiểu chào hỏi là một HV dùng lời nói để bày tỏ thái độ, tình cảm của một người đối với một hoặc một nhóm người khi gặp mặt hoặc khi từ biệt
Như vậy, theo chúng tôi, HVCH là một HVOL, dùng để bày tỏ thái độ, tình cảm của Sp1 đối với Sp2 khi mở đầu hay kết thúc cuộc giao tiếp
1.2 HV đáp lời chào (HVCHHĐ)
Đáp lời chào là một biểu hiện lịch sự của người nhận được lời chào Nếu được nhận lời chào mà không đáp lại bị coi như là khinh người, thiếu tôn trọng đối với người trao lời chào
Có nhiều cách khác nhau để đáp lời chào: đáp bằng lời chào, các yếu tố phi ngôn ngữ (cười, gật đầu, vẫy tay,…) hoặc không đáp lại
Dựa trên định nghĩa về chào hỏi, HVCH đã xây dựng ở trên, có thể định
nghĩa HV đáp lời chào như sau: HV đáp lời chào (HVCHHĐ) là một HVOL của Sp2 nhằm đáp lại lời chào của Sp1 bằng những cách thức khác nhau dựa trên những quan hệ tình cảm, thái độ của Sp2 đối với Sp1 khi tiến hành cuộc giao tiếp đó
1.3 HVCH trong hội thoại và phép lịch sự trong giao tiếp
1.3.1 HVCH trong hội thoại
HVCH là HV diễn ra đầu tiên (hoặc cuối cùng) khi các nhân vật giao tiếp tham gia hội thoại, nhằm làm cho cả người nói và người nghe cảm thấy bầu không khí thoải mái, hữu nghị khi giao tiếp
Trong hội thoại, HVCH phụ thuộc vào nhiều yếu tố: nhân vật giao tiếp, THGT, và mục đích giao tiếp
- Nhân vật giao tiếp (những người tham gia hội thoại): người Việt đặc biệt chú trọng đến vai vế, tuổi tác, nghề nghiệp, địa vị xã hội,… Chính những yếu tố này quy định thứ bậc, vai của những người tham gia giao tiếp
- THGT: Tuỳ vào THGT mà lời chào của các nhân vật giao tiếp khác nhau + THGT chính thức: mang tính chất bắt buộc, theo những quy định của
xã hội như trong các cuộc họp, hội nghị, trong nhà trường,… Lời chào trong những tình huống này mang tính chất trang trọng, lịch sự, tôn nghiêm
Trang 25+ THGT không chính thức: là những THGT không mang tính bắt buộc
mà có thể tự do giao tiếp theo tuổi tác, vị trí xã hội, quan hệ, theo sự thương lượng, thoả thuận của các đối tượng tham gia hội thoại Giao tiếp không chính thức diễn ra trong các lĩnh vực sinh hoạt của đời sống như gia đình, trên đường phố, ở các nơi công cộng,… Vì vậy, lời chào trong những tình huống này mang tính chất thân mật, lịch sự
Ví dụ:
Con đi học mẹ nhé!
Bà ạ
Lan đấy ư?
Lâu rồi không gặp, dạo này mày có khoẻ không?
Bác đang làm gì đấy?
…
+ THGT nửa chính thức: vừa mang tính chất chính thức vừa mang tính chất không chính thức Giao tiếp nửa chính thức diễn ra trong các cơ quan, nhà máy, công trường, trong các cuộc họp ở cấp thấp như tổ, nhóm, phường,… Tuỳ theo thái độ đối với công việc mà lựa chọn cách giao tiếp chính thức hay không chính thức
Ví dụ:
Trong cuộc họp ở khối phố, nếu chủ trì coi cuộc họp là cuộc gặp mặt, trao đổi ý kiến giữa những người hàng xóm, thì chủ trì sẽ chào như sau:
- Thưa bà con cô bác!
(Ví dụ trong luận án Phó tiến sĩ của Phạm Thị Thành – 1995)
1.3.2 HVCH và phép lịch sự trong giao tiếp
Trong hoạt động giao tiếp hội thoại, phép lịch sự được đưa lên hàng đầu, nói năng lịch sự tạo bầu không khí thân thiện, thoải mái khi giao tiếp Một lời chào lịch sự, đúng phép tuy chưa thể quyết định sự thành công hay thất bại
Trang 26của cuộc giao tiếp nhưng nếu không có HVCH để mở đầu hay kết thúc này thì hiệu quả giao tiếp sẽ bị giảm Người Việt đánh giá rất cao vai trò của lời chào,
nó không những đóng vai trò quan trọng trong giao tiếp mà còn đóng vai trò rất lớn trong việc đánh giá nhân cách của con người
Cũng như những khái niệm khác của ngữ dụng học, lịch sự bao gồm cả không lịch sự
Ví dụ1:
Hai người bạn rất thân, tình cờ gặp lại nhau sau một thời gian:
Nam: Ê, Minh, đúng là mày đấy chứ?
Minh: Trời đất, thằng quỷ, lâu quá không thấy mày
Lời chào trên xét về mối quan hệ của hai người – thân tình, THGT – không chính thức, thì đây là lời chào lịch sự giữa hai người bạn thâm giao
Một HVCH được xem là lịch sự hay không lịch sự còn tuỳ thuộc phần lớn vào các đối tượng tham gia giao tiếp là ai, và cuộc giao tiếp đó diễn ra trong tình huống nào (chính thức, không chính thức hay nửa chính thức)
Như vậy, có thể hiểu một HVCH lịch sự là một HVCH làm thoả mãn mọi đối tượng tham gia giao tiếp, làm cho họ cảm thấy bầu không khí thân thiện, hữu nghị, thể hiện được sự quan tâm, sự tôn trọng thể diện của nhau
Một HVCH không lịch sự là một HVCH làm cho đối tượng giao tiếp không thoải mái, cảm thấy thể diện âm tính của mình bị xúc phạm
2 NTCH
2.1 NTCH
Chào hỏi là một trong các NTLN mà con người sử dụng trong giao tiếp
Trang 27Theo Formanovskja, NTLN có thể được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng
và nghĩa hẹp Theo nghĩa rộng, NTLN là những qui tắc của HV lời nói được
xã hội tạo dựng và mang đậm bản sắc dân tộc, nhằm tổ chức nên một khuôn mẫu NTLN cho mọi cuộc giao tiếp Chính ở đây tạo nên một cơ cấu điều chỉnh về mặt xã hội những mối quan hệ tương tác trong giao tiếp giữa người nói và người nghe theo trục quan hệ: trên – dưới, già – trẻ, thân – sơ, quen –
lạ cũng như cơ cấu về tất cả những điều cho phép và cấm đoán đối với cách
sử dụng này hay khác trong những trường hợp cụ thể nào đó Theo nghĩa hẹp, NTLN là tổng thể các đơn vị thông báo thống nhất theo chủ đề và tình huống được vạn thành để thiết lập, duy trì và chấm dứt sự tiếp xúc lời nói với người
đối thoại (Dẫn theo luận án Phó tiến sĩ của Phạm Thị Thành – 1995)
Trong luận án Phó tiến sĩ, Phạm Thị Thành cũng nêu định nghĩa về NTLN: NTLN là tổng thể các phát ngôn có tính chất khuôn mẫu điển hình, bền vững, mang đậm đặc thù dân tộc, được xã hội qui định, nhằm ứng xử thuận lợi trong các THGT nghi thức
Hay trong quyển Một số vấn đề dạy hội thoại cho học sinh tiểu học,
PGS TS Nguyễn Trí cũng nêu một định nghĩa về NTLN, NTLN là những lời nói được xã hội qui thành chuẩn mực, được dùng trong giao tiếp [36, 111]
Như vậy, qua 3 định nghĩa trên, chúng tôi có thể hiểu NTLN là những lời nói có tính chất khuôn mẫu, công thức được xã hội qui thành chuẩn mực, mang đậm bản sắc dân tộc, được sử dụng trong cuộc giao tiếp
Dựa vào định nghĩa về NTLN, chúng tôi định nghĩa NTCH như sau : NTCH
là một trong các NTLN, có tính chất khuôn mẫu, công thức được xã hội qui thành chuẩn mực, mang đậm bản sắc dân tộc dùng để chào hỏi khi mở đầu (kết thúc) cuộc giao tiếp Hay nói một cách đơn giản NTCH là những cấu trúc, kiểu câu chuẩn mực dùng để chào hỏi khi các đối tượng tham gia vào hoạt động giao tiếp
2.2 NTCH trong hội thoại
Trong hội thoại, các nhân vật giao tiếp sử dụng những cấu trúc, những công thức đã được xã hội hoá vào hoàn cảnh phù hợp với từng đối tượng, từng THGT cụ thể Tuỳ theo đối tượng hội thoại mà các nhân vật giao tiếp lựa chọn những cấu trúc, công thức phù hợp
Trang 28Và chính trong giao tiếp, trong hội thoại chính thức và không chính thức
mà các cấu trúc NTCH được hình thành Chỉ có trong giao tiếp, chỉ có trong hội thoại mới sử dụng và nảy sinh ra những NTCH
Tuỳ theo vùng, miền; tuỳ theo đối tượng (quan hệ, thứ bậc, vai vế, tuổi tác, nghề nghiệp, địa vị xã hội,…); tuỳ theo THGT (chính thức, không chính thức hay nửa chính thức) mà người nói và người nghe sử dụng những NTCH phù hợp
3 SKLNCH
3.1 Khái niệm
SKLNCH là một hoạt động ngôn ngữ, trong đó chủ thể chào hỏi và đối tượng tiếp nhận HVCH dùng ngôn ngữ để tương tác lẫn nhau theo những cách thức nào đó nhằm đưa HVCH đạt được hiệu lực nhất định
Trong một SKLNCH thì HVCH đóng vai trò là HVTT Cũng cần nói thêm rằng, đích mà người nói (Sp1) đặt ra ở HVNN trung tâm mới chỉ là mong muốn của người nói, trong thực tế giao tiếp, đích đó có đạt được hay không còn tuỳ thuộc vào sự cộng tác tích cực hay tiêu cực của người nghe (Sp2), vào quá trình thương lượng hội thoại
3.2 Cấu trúc của SKLNCH
Khi một cuộc giao tiếp diễn ra thì HVCH cũng bắt đầu xuất hiện để mở
ra cuộc giao tiếp, đồng thời nó cũng là HVNN kết thúc cuộc giao tiếp nên có thể chia một SKLNCH thành hai phần: SKLNCH mở đầu cuộc giao tiếp và SKLNCH kết thúc cuộc giao tiếp Mỗi SKLNCH sẽ có cấu trúc như sau: SKLNCH mở đầu cuộc giao tiếp:
Trang 291 Đặc điểm nhận thức
Ở tiểu học, đặc điểm nhận thức cảm tính chiếm ưu thế hơn nhận thức lí tính, các em nhìn nhận sự vật thường bằng tri giác, cảm giác, hiểu được cái bên ngoài của sự vật – hiện tượng hơn là bản chất bên trong của sự vật Có thể nói, nhận thức của HS tiểu học còn nặng tính cảm tính
1.1 Đặc điểm nhận thức cảm tính
Tri giác của HS tiểu học mang tính đại thể, ít đi sâu vào chi tiết và mang tính không chủ động, do đó các em phân biệt những đối tượng còn chưa chính xác, dễ mắc sai lầm
Ở các lớp đầu cấp, tri giác của trẻ em thường gắn liền với hành động, với hoạt động thực tiễn của trẻ
Đặc điểm tri giác đượm màu cảm xúc, chưa có khả năng quan sát tinh tế, chú ý đến các chi tiết ngẫu nhiên, chưa có khả năng tổng hợp
Học sinh cuối bậc Tiểu học đã có khả năng tìm các dấu hiệu đặc trưng cho sự vật, biết phân biệt các sắc thái của chi tiết
Tri giác của các em lúc này mang tính mục đích và có phương hướng rõ ràng, có khả năng quan sát tinh tế
1.2 Đặc điểm nhận thức lí tính
Khả năng tư duy của HS tiểu học: tính trực quan cụ thể vẫn còn thể hiện ở các lớp đầu bậc học và chuyển dần sang tính khái quát ở các lớp cuối cấp học Khả năng tưởng tượng:
- Tưởng tượng của HS tiểu học phát triển hơn trẻ mẫu giáo
- Quá trình tưởng tượng còn tản mạn và ít tổ chức
- Hình ảnh tưởng tượng chưa gọt giũa, chưa được bền vững
- Cuối bậc tiểu học tính trực quan tưởng tượng của các em giảm, có em
có khả năng tưởng tượng sáng tạo
Trang 30Ngôn ngữ của trẻ tiểu học đã phát triển hơn lứa tuổi tiền học đường Tuy nhiên, khả ngôn ngữ chưa phát triển mạnh thể hiện qua việc các em hiểu vấn
đề nhưng chưa biết cách diễn đạt, hay khi làm văn các em hay có trường hợp lập từ, diễn đạt khô khan, nghèo ý,…
II CHƯƠNG TRÌNH TIẾNG VIỆT TIỂU HỌC VÀ VIỆC DẠY HỘI THOẠI
1 Mục tiêu – Nội dung chương trình Tiếng Việt tiểu học
1.1 Mục tiêu chương trình Tiếng Việt tiểu học
Vấn đề dạy học tiếng mẹ đẻ là vấn đề được bàn cãi nhiều, kể cả ở những nước mà tiếng mẹ đẻ đã có vị trí xứng đáng trong nhà trường phổ thông từ rất lâu Với những mục tiêu đề ra khác nhau thì chương trình cũng khác nhau, bởi
lẽ nội dung chương trình được xây dựng dựa vào mục tiêu dạy học
Chương trình Tiếng Việt mới ban hành theo quyết định ngày 9/11/2001 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, xây dựng mục tiêu của chương trình Tiếng Việt như sau:
1 Hình thành và phát triển ở HS kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói,
đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi Thông qua việc dạy và học Tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác
tư duy
2 Cung cấp cho HS những kiến thức sơ giản về tiếng Việt và những hiểu
biết sơ giản về xã hội, tự nhiên, con người, văn học, văn hoá của Việt Nam và nước ngoài
3 Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen gìn giữ sự trong
sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách của con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Chương trình Tiếng Việt tiểu học mới đưa mục tiêu giao tiếp bằng tiếng Việt, hình thành kĩ năng nghe, nói, đọc, viết lên hàng ưu tiên Những kiến thức về tiếng Việt, cùng các kiến thức về xã hội, tự nhiên và con người, văn hoá, văn học được cung cấp cho HS một cách sơ giản Trong chương trình mới, hoạt động giao tiếp vừa là đích số một, vừa là phương tiện của dạy học tiếng Việt
1.2 Nội dung chương trình Tiếng Việt tiểu học
Trang 31Nội dung chương trình tiếng Việt tiểu học gồm những bộ phận sau:
- Kĩ năng sử dụng tiếng Việt (đọc, nghe, nói, viết)
- Tri thức tiếng Việt (một số hiểu biết tối thiểu về ngữ âm, chính tả, ngữ nghĩa, ngữ pháp,…)
- Tri thức về văn học, xã hội và tự nhiên (một số hiểu biết tối thiểu về sáng tác văn học và cách tiếp cận chúng, về con người và về đời sống tinh thần và vật chất của họ, về đất nước và dân tộc Việt Nam,…)
Nội dung này được sắp xếp theo hai giai đoạn phát triển:
1 Giai đoạn 1 (các lớp 1, 2, 3) nội dung dạy học có nhiệm vụ hình thành
những cơ sở ban đầu cho việc học đọc, học viết, định hướng việc học nghe, học nói trên cơ sở vốn tiếng Việt mà các em đã có Học đọc, học viết có vị trí đặc biệt quan trọng trong giai đoạn này
Yêu cầu cơ bản với HS ở giai đoạn này là đọc thông thạo và hiểu đúng một văn bản ngắn, viết rõ ràng, viết đúng chính tả, nghe chủ động, nói chủ động, rành mạch
Những bài học ở giai đoạn này chủ yếu là những bài thực hành đọc, viết, nghe, nói Tri thức tiếng Việt không được dạy thành bài riêng mà được rút ra
từ những bài thực hành, được HS tiếp thu một cách tự nhiên qua hoạt động thực hành
2 Giai đoạn 2 (lớp 4, 5) nội dung chương trình nhằm phát triển kĩ năng
đọc, viết, nghe, nói ở mức độ cao hơn, hoàn thiện hơn
Ở giai đoạn này, HS bước đầu được cung cấp những khái niệm cơ bản về một số đơn vị ngôn ngữ và qui tắc sử dụng tiếng Việt làm nền móng vững chắc cho các kĩ năng tiếng Việt Bên cạnh những bài tập thực hành như ở giai đoạn trước, các em còn được học những bài tri thức tiếng Việt như ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp,… Những bài học này không được trình bày dưới dạng lí thuyết đơn thuần mà chủ yếu vẫn bằng cách nhận diện, phát hiện trên những ngữ liệu đã được đọc, viết, nghe, nói, từ đó khái quát thành những khái niệm cơ bản, ban đầu Chương trình Tiếng Việt tiểu học sau 2000 mỗi năm học 35 tuần lễ, gồm
8 phân môn Số tiết học các phân môn theo các lớp được phân bố trong chương trình khung như sau:
Trang 32Phân
môn
Lớp
Học vần
Tập đọc
Kể chuyện
Chính
tả
Tập viết
Luyện
từ
và câu
Tập làm văn
Tổng cộng
2 Hội thoại và hành vi chào hỏi trong chương trình Tiếng Việt tiểu học
2.1 Hội thoại trong chương trình Tiếng Việt tiểu học
Lần đầu tiên, chương trình môn Tiếng Việt ở tiểu học đưa hội thoại thành một nội dung học tập Nói như PGS TS Nguyễn Trí thì đây là một bước tiến mới trong lịch sử dạy học tiếng Việt
Nội dung chương trình cụ thể như sau:
LỚP 1
1 Kĩ năng
1.1 Nghe
- Nghe – trả lời câu hỏi và kể lại những mẩu chuyện có nội dung đơn giản
- Nghe, viết khổ thơ, đoạn văn ngắn
1.2 Nói
- Nói lời chào hỏi, chia tay trong gia đình, trường học
- Trả lời câu hỏi, đặt câu hỏi đơn giản (theo mẫu)
- Kể lại những mẩu chuyện được nghe kể trên lớp (kết hợp nhìn tranh minh hoạ và đọc lời gợi ý dưới tranh)
- Nói về mình và người thân bằng một vài câu
Trang 332 Kiến thức ngữ pháp
- Dấu chấm, dấu chấm hỏi
- NTLN: chào hỏi, chia tay
ơn, xin lỗi, khẳng định, phủ định, đồng ý, an ủi, chia vui, khen ngợi trong các tình huống giao tiếp ở trường học, gia đình, nơi công cộng
- Trả lời và đặt câu hỏi đơn giản
- Kể một mẩu chuyện hoặc một đoạn của câu chuyện được nghe
- Nói lời tự giới thiệu đơn giản về bản thân, gia đình, bạn bè, trường lớp theo gợi ý
2 Kiến thức tập làm văn
- Sơ giản về đoạn văn và nội dung của đoạn văn
- Một số NTLN: chào hỏi, chia tay, cảm ơn, xin lỗi, yêu cầu, đề nghị,…; đáp lời chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi,…
- Nghe – viết đoạn văn, đoạn thơ, bài thơ ngắn
- Ghi lại một vài ý kiến khi nghe văn bản ngắn, có nội dung đơn giản 1.2 Nói
- Dùng lời nói phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp chính thức trong sinh hoạt lớp, sinh hoạt Đội
Trang 34- Đặt câu hỏi về vấn đề chưa biết, trả lời câu hỏi của người đối thoại
- Kể lại từng đoạn hoặc kể toàn bộ câu chuyện đơn giản đã được nghe
- Thuật lại nội dung chính của bản tin ngắn hoặc văn bản khoa học thường thức có nội dung phù hợp với lứa tuổi
- Phát biểu ý kiến trong cuộc họp; giới thiệu hoạt động của tổ, lớp, chi đội; trình bày miệng báo cáo ngắn (đã viết theo mẫu) về hoạt động của tổ, lớp, chi đội
2 Kiến thức tập làm văn
- Sơ giản về bố cục văn bản
- Sơ giản về bố cục đoạn văn
- Một số nghi thức giao tiếp chính trong sinh hoạt ở trường, lớp; điền vào giấy tờ in sẵn: thư, đơn, báo cáo, thông báo,…
- Nghe và thuật lại các bản tin, nhận xét một vài chi tiết trong bản tin
- Nghe – viết chính tả đoạn văn, đoạn thơ, bài thơ
- Nghe – ghi lại một số thông tin của văn bản đã nghe
- Đoạn văn kể chuyện, miêu tả (đồ vật, cây cối, con vật)
- Bài văn kể chuyện, miêu tả (tả đồ vật, tả cây cối, tả con vật) Một số văn bản thông thường: đơn, thư, tờ khai in sẵn
- Một số quy tắc giao tiếp trong trao đổi, thảo luận; thư, đơn
LỚP 5
Trang 351 Kĩ năng
1.1 Nghe
- Nghe và kể lại câu chuyện Nhận xét về nhân vật trong truyện
- Nghe – thuật lại bản tin, văn bản phổ biến khoa học
- Nghe và tham gia ý kiến trong trao đổi, thảo luận
- Nghe – viết chính tả một đoạn văn, đoạn thơ, bài thơ
- Nghe – ghi chép một số thông tin, nhân vật, sự kiện,…
1.2 Nói
- Kể câu chuyên đã nghe, đã đọc; thuật lại sự việc đã chứng kiến hoặc tham gia
- Trao đổi, thảo luận về đề tài phù hợp với lứa tuổi; bày tỏ ý kiến, thái
độ về vấn đề đang trao đổi, thảo luận
- Giới thiệu về lịch sử, văn hoá, các nhân vật tiêu biểu,… của địa phương
2 Kiến thức tập làm văn
- Sơ giản về liên kết câu, đoạn văn
- Văn miêu tả (tả người, tả cảnh)
- Văn bản thông thường: đơn, báo cáo thống kê, biên bản, chương trình hoạt động
- Một số quy tắc giao tiếp trong trao đổi, thảo luận
Về hội thoại, các em được học và thực hành các NTLN, nghi thức giao tiếp, qui tắc giao tiếp Trong đó, các kiến thức về giao tiếp trong trao đổi, thảo luận nhóm được nhấn mạnh và được bố trí học ở 2 lớp (lớp 4 và 5)
Nhưng một hạn chế có thể thấy trong chương trình hiện nay đó là chưa chú ý đầy đủ đến các hiểu biết về giao tiếp trong đời thường HS mới được học những đơn vị hội thoại riêng lẻ - cặp thoại (trao – đáp), mà trong khi đó cặp thoại lại bị tách ra thành hai đơn vị riêng (trao và đáp), chưa có sự liên kết
Trang 36các cặp thoại để phát triển đề tài hội thoại mà chủ yếu chú trọng đến cách mở đầu, kết thúc cuộc thoại Mặt khác, đề tài hội thoại chỉ liên quan đến việc học hành, rất dễ gây nhàm chán cho HS nên có những đề tài khai thác được tất
cả các vốn sống, vốn kinh nghiệm của HS như đề tài về gia đình, bạn bè, thể dục – thể thao, vui chơi, giải trí, … để HS có thể học và hành trong các môi trường giao tiếp phù hợp với lứa tuổi
Qua nghiên cứu, có thể thấy chương trình đã chú trọng đến việc dạy hội thoại bên cạnh nội dung dạy độc thoại Tuy nhiên, nếu căn cứ vào số lượng các nội dung luyện tập có thể thấy nội dung độc thoại chiếm số lượng lớn hơn hội thoại Ở các lớp cuối cấp, độc thoại càng được dạy nhiều hơn
Nhìn chung, bên cạnh những ưu điểm, chương trình mới dạy hội thoại hiện nay cũng còn những hạn chế cần phải xem xét
2.2 HVCH trong chương trình tiểu học
Chào hỏi là HV đầu tiên mà mọi nhân vật giao tiếp đều phải dùng đến trong cuộc giao tiếp, là HV đầu tiên mà tất cả mọi người tham gia giao tiếp đều phải thực hiện Vì vậy, có thế nói đây là HV khá quan trọng trong giao tiếp
Chương trình tiểu học mới đã dạy HVCH cho HS ngay giai đoạn 1 của cấp học, các em được học HV này ở 2 khối lớp (lớp 1 và 2) Nội dung học tập được nâng cao dần theo sự phát triển nhận thức của HS Cụ thể như sau:
LỚP 1
- Nói lời chào theo THGT cho trước (1 bài)
- Nói lời chào của nhân vật theo tình huống của bài học (1 bài)
LỚP 2
- Nói lời chào với các nhân vật giao tiếp khác nhau trong các THGT cụ thể
- Nói lời chào kết hợp với lời tự giới thiệu
- Đáp lời chào trong các THGT cho trước với các nhân vật giao tiếp khác nhau
Trang 37- Trao đổi ý kiến với người thân
LỚP 5
- Báo cáo thống kê
- Thuyết trình, tranh luận
SGK Tiếng Việt hiện nay đã dạy lời chào cho HS từ lớp 1 và chính thức dạy ở lớp 2
Chương trình dạy lời chào hỏi ở lớp 1 đơn giản, chỉ nhằm mục tiêu dạy cho HS biết phải chào hỏi khi ra khỏi nhà, khi gặp người lớn (cô giáo, bác đưa thư,…)
Đến lớp 2, HS được học nói và đáp lời chào với những tình huống gần gũi, quen thuộc với cuộc sống đời thường của HS HS được học nói và đáp lời chào trong những THGT khác nhau với những nhân vật giao tiếp khác nhau như nói lời chào
bố mẹ để đi học, chào thầy cô khi đến trường, chào bạn khi gặp nhau ở trường,… Đối với lớp 4, 5 chủ yếu dạy HVCH trong các THGT chính thức: họp tổ, họp nhóm., báo cáo, thuyết trình,… HS làm quen với cách chào hỏi trong các cuộc giao tiếp qui thức
3 Bài tập dạy HVCH ở tiểu học
LỚP 1
a Nói lời chào theo THGT cho trước (1 bài) (Tiếng Việt 1, tập hai – tr 74) Tập nói lời chào
- của bé với mẹ trước khi bé vào lớp
- của bé với cô trước khi bé ra về
b Nói lời chào của nhân vật theo tình huống của bài học (1 bài) (Tiếng Việt 1, tập hai – tr 137)
Nói lời chào của Minh:
- khi gặp bác đưa thư
- khi mời bác uống nước
LỚP 2
a Bài tập lựa chọn lời nói phù hợp với THGT
Đề bài tập gồm vài câu miêu tả THGT Sau đó, đề bài đưa ra yêu cầu HS đưa ra lời chào phù hợp
Đề bài có thể có tranh minh hoạ hay không có tranh minh hoạ cho THGT
Ví dụ: Nói lời của em: (Tiếng Việt 2, tập một – tr 20)
Trang 38- Chào bố, mẹ để đi học
- Chào thầy, cô khi ở trường
- Chào bạn khi gặp nhau ở trường
b Bài tập tập sử dụng lời chào
Đầu bài tập này gồm một lời trao (hay lời đáp) Cũng có khi SGK dùng tranh minh hoạ mô tả THGT, trong đó một nhân vật nói lời trao (hay lời đáp)
HS sẽ căn cứ vào các dữ kiện đã cho, thực hành đáp lời (hay trao lời)
Ví dụ1: Viết lời đáp của Nam vào vở (Tiếng Việt 2, tập hai – tr 19)
- Chào cháu
- …
Ví dụ2: Theo em, các bạn học sinh trong hai bức tranh dưới đây sẽ đáp lại thế nào? (Tiếng Việt 2, tập hai – tr 19)
c Bài tập kết hợp lời chào với lời tự giới thiệu
Nhắc lại lời của các bạn trong tranh: (Tiếng Việt 2, tập một – tr 20)
d Bài tập viết thư
Được tin bị bão, bố mẹ em về thăm ông bà Em hãy viết một bức thu ngắn (giống bưu thiếp) thăm hỏi ông bà (Tiếng Việt 2, tập một – tr 94)
LỚP 3
a Báo cáo, họp tổ (nhóm): Đề bài yêu cầu HS tự lập một báo cáo rồi trình bày, hoặc tổ chức một cuộc họp tổ với nhau về một vấn đề nào đó dưới
sự điều khiển của tổ trưởng (nhóm trưởng)
Ví dụ: Dựa theo cách tổ chức họp tổ mà em đã biết, hãy cùng các bạn tổ chức một cuộc họp tổ (Tiếng Việt 3, tập 1 – tr 95)
b Viết thư
HS tập viết một bức thư ngắn theo những gợi ý cho trước
Ví dụ: Dựa vào mẫu bài tập đọc Thư gửi bà, em hãy viết một bức thư ngăn cho người thân: (Tiếng Việt 3, tập 1 – tr 83)
Dòng đầu thư: Nơi gửi, ngày… tháng… năm…
Lời xưng hô với người nhận thư (ông, bà, chú, bác,…) chính là lời chào của người viết thư cho người nhận thư
Nội dung thư: (4, 5 dòng): thăm hỏi, báo tin cho người nhận thư Lời chúc và lời hứa hẹn,…
Cuối thư: Lời chào, chữ kí và tên
LỚP 4
Trang 39a Viết thư: HS viết một bức thư hoàn chỉnh theo mẫu cho sẵn mà các em
đã học trong phần lí thuyết
Ví dụ: Viết thư gửi một bạn ở trường khác để thăm hỏi và kể cho bạn nghe tình hình lớp và trường em hiện nay (Tiếng Việt 4, tập 1 – tr 34)
b Trao đổi ý kiến với người thân:
Ví dụ: Em và người thân cùng đọc một truyện nói về một người có nghị lực, có ý chí vươn lên Em trao đổi với người thân về tính cách đáng khâm phục đó
Hãy cùng bạn học đóng vai người thân để thực hiện cuộc trao đổi trên
LỚP 5
Lớp 5 các em được học báo cáo thống kê, thuyết trình, tranh luận Qua các bài này các em học được cách để lập và cách báo cáo trước mọi người một vấn đề nào đó, biết cách trình bày và tranh luận về một vấn đề nào đó
* Nhận xét: Việc đưa HVCH vào dạy trong nhà trường tiểu học là một bước tiến trong lịch sử dạy học Bởi lẽ đây là lần đầu tiên có một cuốn sách đã chú ý đến việc dạy HVCH, đã xây dựng được một số bài tập theo hướng thực hành giao tiếp để dạy HV này
Tuy nhiên, SGK lớp 2 xây dựng cho HS nói lời và đáp lời chào hỏi tách bạch nhau, HS được học lời trao ở học kì I và học lời đáp ở học kì II, điều này
có một ưu thế là HS học lời đáp thì phải nói lời trao, HS dễ dàng ôn tập và rèn luyện các NTLN Nhưng theo chúng tôi nghĩ, một cặp trao – đáp phải đi kèm với nhau, có lời trao thì phải có lời đáp, có như vậy mới có sự liên tục trong giao tiếp HS dễ dàng ý thức được sự luân phiên lượt lời trong giao tiếp, cũng như có thái độ đúng với những lời trao mà người đối diện trao cho mình Hơn nữa, nếu dạy lời trao và đáp tách ra như vậy thì sẽ rất khó cho giáo viên trong viêc dạy HS thực hành NTLN, vì thật ra HS không có gì để thực hành Ví dụ:
HS nói lời chào bố mẹ khi đi học, 2 em HS lên sắm vai, chỉ có một em thực hành nói lời chào còn HS còn lại đứng nghe rồi về, em này không được thực hành gì, vì nếu em nói gì thì cũng sẽ vượt ra ngoài giới hạn của chương trình
Và đặc biệt trong hội thoại, người tham gia giao tiếp tác động lẫn nhau không phải thông qua những HVOL riêng lẻ mà thông qua sự tổ hợp các HVOL thành những SKLN tức là đặt hành vi nói năng đó trong toàn bộ lời nói, nhưng SGK hiện nay lại chia nhỏ một SKLN thành những HV riêng lẻ để
Trang 40dạy Phải chăng đây là một điều mà cần xem xét lại khi dạy NTCH cho HS tiểu học?
Bên cạnh đó SGK chỉ dừng lại ở việc dạy những lời chào khi gặp mặt, còn cách chào hỏi tạm biệt, kết thúc cuộc giao tiếp thì chưa được đề cập đến Mặt khác, SGK chủ yếu dạy lời chào theo cấu trúc …+ Chào + Đại từ nhân xưng + … mà chưa dạy HS các kiểu chào khác, bởi vì trong thực tế, HS không chỉ có sử dụng kiểu chào này mà còn sử dụng nhiều kiểu chào khác như: Chào + tên, tên, dùng các câu hỏi có tính chất như lời chào, các câu cảm thán có tính chất như lời chào, các yếu tố phi ngôn ngữ thay cho lời chào,… Ngoài ra, SGK chưa dạy cho HS cách chào như thế nào là lịch sự, tại sao chào như thế này thì được coi là vô lễ trong trường hợp này nhưng lại coi là lịch sự trong trường hợp kia
Ví dụ: Khi gặp bạn, HS chào “Bạn.” như thế thì được coi là lịch sự; nhưng khi gặp bà của mình, HS chào “Bà.” cũng với giọng điệu như khi chào bạn thì bị đánh giá là vô lễ
Như vậy, rõ ràng với một cấu trúc chào, nhưng không phải chúng ta sử dụng được cho mọi đối tượng, mà cần phải phù hợp với vai vế, vị thế, tuổi tác, địa vị,… chúng ta cần phải dạy cho HS biết được điều đó
Bên cạnh đó, lời chào lịch sự còn phải kết hợp với các yếu tố phi ngôn ngữ, với cử chỉ, điệu bộ của nét mặt, giọng điệu,…
Ví dụ: “Dạ cháu chào bà ạ!” rõ ràng nếu xét về câu chữ, về cấu trúc của
nó thì đây là một câu chào rất lịch sự của người cháu đối với bà, nhưng nếu đứa bé cũng nói câu chào đó với thái độ gắt gỏng, mắt nhìn chỗ khác thì lại là lời chào thiếu lễ độ khi dạy HS nói lời chào cần phải chú ý dạy HS những yếu tố phi ngôn ngữ kèm theo
Ở các lớp 3, 4 và 5 HVCH cũng được dạy trong các tiết luyện tập thực hành làm một báo cáo thống kê, họp tổ, nhóm, trao đổi ý kiến,… nhưng cũng chỉ chú trọng đến việc dạy HVCH trong các THGT chính thức, còn trong các THGT đời thường thì chương trình không đề cập đến Nhưng trong cuộc sống hằng ngày, đặc biệt đối với HSTH thì hầu như rất ít dung đến các THGT mang tính chất qui thức
Như vậy, bên cạnh ưu điểm lớn là SGK đã xây dựng hệ thống bài tập dạy chào hỏi cho HS, giúp HS thực hành NTCH thì cũng còn những hạn chế cần khắc phục như trên đã phân tích