1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Công giáo ở tỉnh sông bé từ năm 1975 đến năm 1997

117 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 5,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ đó đến nay, c ng với sự biến đổi của xã hội loài người, các loại hình tôn giáo ngày càng phong phú và tôn giáo đang thể hiện là một trong những bộ phận quan trọng cấu thành đời sống x

Trang 2

BÌNH DƯƠNG, NĂM 2019

Trang 3

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn đều trung thực, đảm bảo độ chính xác cao nhất Các tài liệu tham khảo và trích dẫn có xuất xứ rõ ràng Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình

Tác giả luận văn

Phạm Thị Vân Anh

Trang 4

Để có luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ rất nhiều từ cơ quan, gia đình, và thầy cô

Nhân đây, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý cơ quan, nơi tôi đang công tác, và gia đình đã luôn đồng hành, khích lệ, tạo điều kiện cho tôi được học tập, nâng cao trình độ chuyên môn của mình Bên cạnh đó, tôi xin gửi lời tri ân đến quý thầy cô, những người đã giảng dạy cho tôi trong suốt thời gian qua Nhờ những bài giảng vô cùng lý thú của quý thầy cô, tôi đã bổ khuyết được phần nào những kiến thức quan trọng về Lịch sử Việt Nam nói riêng, thế giới nói chung

Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Văn Hiệp, người hướng dẫn khoa học Với sự chỉ bảo tận tình của thầy, tôi đã hoàn thành luận văn của mình

Tác giả luận văn

Phạm Thị Vân Anh

Trang 5

Bảng 3.1: Danh sách giáo xứ mới ở tỉnh Sông Bé giai đoạn 1986 – 1997 61 Bảng 3.2: Số lƣợng giáo dân theo các giáo xứ ở tỉnh Sông Bé năm 1995 63

Trang 6

Lời cam đoan i

Lời cám ơn ii

Danh mục Bảng iii

Mục lục iv

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 7

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài 7

4.1 Đối tượng nghiên cứu 7

4.2 Phạm vi nghiên cứu 7

5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 8

5.1 Nguồn tài liệu 8

5.2 Phương pháp nghiên cứu 8

6 Đóng góp của đề tài 8

7 Bố cục của đề tài 9

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TỈNH SÔNG BÉ VÀ TÌNH HÌNH CÔNG GIÁO TỈNH SÔNG BÉ TRƯỚC NĂM 1975 10

1.1 Đặc điểm tự nhiên và địa lý hành chính qua các thời ì 10

1.1.1 Đặc điểm tự nhiên 10

1.1.2 Biến đổi hành chính qua các thời ì 12

1.2 Đặc điểm inh tế - xã hội 16

1.2.1 Đặc điểm inh tế 16

1.2.2 Đặc điểm xã hội và tôn giáo 17

1.3 Công giáo Tỉnh Sông Bé trước năm 1975 18

1.3.1 Quá trình du nhập của công giáo vào tỉnh Sông Bé 18

1.3.2 Công giáo tỉnh Sông Bé sau hi du nhập đến năm 1975 23

Trang 7

2.1 Hệ thống tổ chức của Công giáo tỉnh Sông Bé năm 1975 đến năm 1986 36

2.1.1 Giáo phận 36

2.1.2 Giáo hạt, Giáo xứ 39

2.1.3 Giáo dân 43

2.2 Hoạt động của Công giáo tỉnh Sông Bé từ năm 1975 đến năm 1986 44

2.2.1 Hoạt động của giáo hội 44

2.2.2 Hoạt động của một số Giáo xứ tỉnh Sông Bé 45

2.3 Đóng góp của Công giáo đối với sự phát triển của tỉnh Sông Bé 51

2.3.1 L nh vực Kinh tế 51

2.3.2 L nh vực chính trị 52

2.3.3 L nh vực văn hóa, xã hội 55

CHƯƠNG 3: CÔNG GIÁO TỈNH SÔNG BÉT NĂM 1986 Đ N NĂM 1997 59

3.1 Hệ thống tổ chức của Công giáo tỉnh Sông Bé năm 1986 đến năm 1997 59

3.1.1 Giáo phận 59

3.1.2 Giáo hạt, giáo xứ 61

3.1.3 Giáo dân 62

3.2 Hoạt động của cộng đồng Công giáo tỉnh Sông Bé từ năm 1986 đến năm 1997 64

3.2.1 Hoạt động của giáo hội 64

3.2.2 Hoạt động của một số Giáo xứ ở tỉnh Sông Bé từ năm 1986 đến năm 1997 67

3.3 Chuyến biến trong nếp sống đạo của Công giáo ở tỉnh Sông Bé 1986 – 1996) 74

3.3.1 Nếp sống đạo cộng đoàn 74

3.3.2 Nếp sống đạo gia đình 76

3.3.3 Nếp sống đạo cá nhân 79

Trang 8

3.4.1 Chuyển biến về đời sống kinh tế 80

3.4.2 Chuyển biến trong đời sống chính trị 82

3.4.3 Chuyển biến về đời sống xã hội 84

K T LUẬN 86

TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

PHỤ LỤC 94

Trang 9

Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội hình thành từ rất sớm trong lịch sử phát triển của loài người Là một hiện tượng văn hóa tinh thần đã ịp thời đáp ứng nhu cầu tìm hiểu thế giới, giải tỏa tạm thời những bức xúc chưa giải quyết được trong cuộc sống của đa số dân chúng Từ đó đến nay, c ng với sự biến đổi của xã hội loài người, các loại hình tôn giáo ngày càng phong phú và tôn giáo đang thể hiện là một trong những bộ phận quan trọng cấu thành đời sống xã hội loài người Qua những chức năng xã hội, tôn giáo hông chỉ thỏa mãn nhu cầu tâm linh mà t y vào thời ỳ lịch sử cụ thể còn có vai trò và ảnh hưởng rất lớn đối với đời sống của con người trong các l nh vực inh tế, văn hóa, xã hội… Tôn giáo vì thế cũng có những đóng góp nhất định vào sự phát triển của xã hội

Trên thế giới hiện nay, có rất nhiều loại hình tôn giáo hác nhau như: Đạo Phật, Đạo Hồi, Đạo Tin Lành Trong số đó có Công giáo với số lượng tín đồ lớn

và có ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động trên toàn thế giới nói chung cũng như

ở Việt Nam nói riêng

Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo, bên cạnh tôn giáo nội sinh còn có các tôn giáo du nhập từ bên ngoài như: Phật giáo, Đạo giáo, Thiên chúa giáo…

So với Phật giáo và Nho giáo, Công giáo du nhập vào Việt Nam muộn hơn vào hoảng thế ỉ XVI Buổi đầu Công giáo du nhập vào miền Bắc, sau đó Công giáo cũng theo làn sóng di dân di cư vào v ng Trung Bộ, Nam Bộ, Đông Nam bộ

Quá trình hình thành và truyền bá các tôn giáo ở m i địa phương trong lịch sử vào những thời điểm lịch sử hác nhau, c ng những nét riêng biệt của m i tôn giáo Mặt hác, cũng như các tỉnh hác, sau hi thống nhất đất nước thì tỉnh Sông Bé được tổ chức lại và bước vào quá trình xây dựng inh tế, văn hóa – xã hội với nhiều thành tựu đáng ể Bên cạnh đó, Tỉnh cũng gặp hông ít trở ngại, thách thức trên bước đường phát triển Trong những vấn đề đáng được quan tâm

có vấn đề tôn giáo Sông Bé là một trong nhiều tỉnh thu hút một số lượng lớn các

cư dân ở v ng hác đến lập nghiệp, trong quá trình di dân đó có những cư dân Công giáo đã góp phần tạo nên cộng đồng Công giáo ở đây Công giáo vào tỉnh

Trang 10

Sông Bé từ hoảng thế ỉ XVIII và trải qua quá trình phát triển theo bối cảnh của tỉnh Sông Bé và đất nước

Quá trình phát triển inh tế – xã hội đã thu hút tín đồ Công giáo đến định

cư và tham gia sinh hoạt tôn giáo đòi hỏi phải có sự quan tâm của nhà nước Bên cạnh đó, tình hình Công giáo ở tỉnh Sông Bé từ 1975 đến năm 1997 có sự phát triển nhanh chóng về số lượng giáo dân và có những chuyển biến trong đời sống

xã hội, inh tế, chính trị của giáo dân tỉnh Sông Bé

Đời sống tôn giáo và tín ngưỡng ở tỉnh Sông Bé trong những năm sau giải phóng trở nên há sôi động Quan hệ giữa tôn giáo trong tỉnh cũng được mở rộng với các địa phương trong nước và nước ngoài Tình hình đó đã tác động hông nhỏ đến sự phát triển và ổn định về mọi mặt của tỉnh, cả mặt tích cực cũng như những mặt hạn chế Bởi l tình hình trong nước và trên thế giới về vấn đề tôn giáo và dân tộc là những vấn đề hông chỉ mang tính chất chính trị, mà còn liên quan đến sự phát triển inh tế - xã hội Tôn giáo cho đến nay vẫn là một nhu cầu, nguyện vọng trong cuộc sống tâm linh của một bộ phận quần chúng nhân dân Tất cả những hía cạnh đó, đã làm cho vấn đề tôn giáo nói chung và Công giáo ở Tỉnh Sông Bé trở nên phức tạp, đòi hỏi phải có sự hiểu biết và thái độ ứng xử thích hợp, nhất là công tác quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo

Việc nghiên cứu Công giáo ở tỉnh Sông Bé giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1997 s là cơ sở cho việc nghiên cứu Công giáo Bình Dương sau này và mối liên hệ giữa Công giáo Tỉnh Bình Dương với các tỉnh hác, nhất là tỉnh Bình Phước, là một tỉnh tách ra từ tỉnh Sông Bé Từ những lý do nêu trên tác giả muốn tìm hiểu đề tài “Công giáo ở tỉnh Sông Bé từ năm 1975 đến năm 1997” cho bài luận văn tốt nghiệp của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Liên quan đến Công giáo hiện đã có các công trình được chia theo nhóm

như sau:

2.1 Công trình nghiên cứu về Công giáo ở Việt Nam

Trong những năm gần đây có rất nhiều công trình nghiên cứu về Công giáo ở nhiều góc độ hác nhau như sử học, nhân học, xã hội học, văn hóa học và

Trang 11

tôn giáo học Nhiều công trình đã lý giải sâu những vấn đề về Công giáo và những đóng góp của Công giáo đối với vấn đề phát triển inh tế - xã hội ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Cuốn sách Công giáo Đàng Trong: Thời giám mục Pigneau 1771 – 1799

(Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 1992) nghiên cứu sâu việc hoạt động của Giám mục Pigneau ở Ấn Độ, Cao Miên (1771 – 1778) đến việc đi cầu viện cho Nguyễn Phúc Ánh 1784 – 1789) Qua đó, cung cấp nhiều tư liệu về hoạt động của Công giáo ở Đàng Trong, mối quan hệ giữa việc truyền đạo và việc giúp Nguyễn Ánh cầu viện đánh nhà Tây Sơn

Dưới góc độ lịch sử, có công trình Thiên Chúa giáo ở Thành phố Hồ Chí Minh (Nhà xuất bản Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2007) giới thiệu những

vấn đề, sự kiện, nhân vật nổi bật trong lịch sử hình thành và phát triển của giáo đoàn Thiên chúa giáo ở thành phố từ thế kỷ XVII đến nay, một quá trình tuy quanh co về lộ trình nhưng nhất quán về phương hướng đồng thời thống nhất với

xu thế chung với giáo hội Việt Nam, trong đó tiến trình dân tộc Việt Nam mở

lòng ra để đón nhận một giá trị mới, làm phong phú thêm cho đời sống tâm linh của người Việt vốn rất trọng nhu cầu tâm linh - là nhu cầu hết sức cần thiết và không thể tách rời khỏi đời sống dân tộc như đã được minh định trong Hiến Pháp

nước Cộng hòa Xã hội Chủ ngh a Việt Nam là sợi chỉ xuyên suốt và ngày càng

trình hiện như một xu thế không thể đảo ngược

Bên cạnh đó, tác giả Trương Bá Cần với các công trình Lịch sử phát triển công giáo ở Việt Nam (tập 1 và tập 2), Nhà xuất bản Tôn giáo, 2 8) đề cập đến

những vấn đề về lịch sử phát triển Công giáo ở Việt Nam Việc sử dụng phương pháp phân tích phê khảo sử liệu đã phân tích những vấn đề về công cuộc truyền giáo và việc phát triển Công giáo ở Đàng Trong qua các giai đoạn từ 1615 –

1639, 1640 – 1645, 1640 – 1645; Công giáo Việt Nam thời vua Gia Long (1802 – 1820); Công giáo Việt Nam những năm đầu triều vua Minh Mạng (1820 – 1832); Công giáo Việt Nam những năm cấm cách dưới triều vua Minh Mạng (1832 – 1841); Công giáo Việt Nam dưới thời vua Thiệu Trị (1841 – 1847)

Trang 12

Dưới góc độ nghiên cứu sử học, cuốn sách Công giáo Việt Nam: Thời kỳ triều Nguyễn (1802 – 1883) (Nguyễn Quang Hưng, Nhà xuất bản Tôn giáo,

2 9) đã đề cập đến quá trình du nhập và phát triển của Công giáo ở Việt Nam thời kỳ triều Nguyễn (1802 – 1883) Tác giả Nguyễn Quang Hưng cho biết xuất phát từ bối cảnh chính trị - xã hội và tôn giáo Việt Nam thế kỷ XVII – XVIII, các thừa sai châu Âu đã phát triển đạo Công giáo ở Việt Nam Trên cơ sở nguồn tư liệu châu bản triều Nguyễn, cuốn sách đã phục dựng lại quá trình truyền bá Công giáo ở Việt Nam thế kỷ XVII – XVIII Tác giả cho biết vấn đề nghi lễ của Công giáo là một trong những lý do cơ bản của các cuộc cấm đạo từ triều Nguyễn Ngoài những vấn đề trên, cuốn sách còn đề cập đến vấn đề chính sách hai mặt của Gia Long đối với Công giáo, chính sách của Minh Mạng đối với Công giáo, Thiệu trị và người Công giáo, Công giáo dưới thời Tự Đức đến năm 1883

Tác giả Nguyễn Hồng Dương với các cuốn sách Tổ chức xứ, họ đạo Công giáo ở Việt Nam: Lịch sử - hiện tại và những vấn đề đặt ra Nhà xuất bản Khoa

học xã hội, 2 11) Tác giả trình bày những vấn đề về quá trình hình thành xứ, họ đạo và tổ chức xứ, họ đạo Công giáo trong lịch sử; sự hình thành những đặc trưng cơ bản của làng Công giáo và sự chuyển hướng của làng Công giáo qua khảo sát, nghiên cứu chủ yếu trên địa bàn Bắc Bộ Trên cơ sở những vấn đề về hình thành tổ chức xứ, họ đạo, tác giả Nguyễn Hồng Dương so sánh với việc hình thành tổ chức xứ, họ đạo và đời sống của người Công giáo hiện nay

Liên quan đến vấn đề đời sống của người Công giáo, tác giả Nguyễn Hồng

Dương có công trình Nếp sống đạo của người công giáo Việt Nam Nhà xuất bản

Khoa học xã hội, 2 11) đề cập đến những vấn đề đời sống của người Công giáo ở Việt Nam Tác giả cho rằng nếp sống của người Công giáo góp phần phát triển văn hóa truyền thống của người Việt Nam Ngoài ra, tác giả Nguyễn Hồng Dương còn đề cập đến những đóng góp của đạo Công giáo đối với cách mạng

Việt Nam qua tác phẩm Linh mục Phạm Bá Trực và đường hướng Công giáo đồng hành cùng dân tộc trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 - 1954) Cuốn sách gồm 7 chương, trình bày những vấn đề về cuộc đời, thân thế và

sự nghiệp linh mục Phạm Bá Trực; đường hướng người Công giáo đồng hành

Trang 13

cùng dân tộc (1946 – 1954), kháng chiến chống Pháp; những đóng góp của Công giáo đối với cách mạng Việt Nam giai đoạn 1946 – 1954

Tiếp cận dưới góc độ nhân học và xã hội học, cuốn sách Cấu hình xã hội: Cộng đồng Công giáo Bắc di cư tại Nam bộ: Từ kích thước cộng đồng đến kích thước cá nhân, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia, 2 15) của Nguyễn Đức Lộc đã

khảo cứu những vấn đề về cộng đồng và cá nhân - Quan điểm lý thuyết, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu; tổng quan về hai cộng đồng Công giáo di

cư năm 1954 tại Nam bộ: Hố Nai và Sông Bé; gia đình, dòng họ người Công giáo

di cư; tổ chức cộng đồng theo giáo xứ v ng Công giáo di cư - Một quá trình tái sản xuất cấu trúc cộng đồng; bộ máy quản lý nhà nước và cấu trúc quyền lực trong v ng Công giáo di cư; nền tảng giáo dục ép Giáo dục của giáo hội Công giáo và của xã hội) và xu hướng lựa chọn nghề nghiệp của giáo dân Công giáo; những chiến lược sống của người Công giáo di cư trong bối cảnh xã hội đương đại

2.2 Công trình nghiên cứu về Công giáo ở Sông Bé

Mạc Đường với cuốn sách Vấn đề d n tộc ở ông , Nhà xuất bản Tổng

hợp Sông Bé, 1985 có đề cập đến sự truyền giáo của một số giáo s vào cộng đồng các dân tộc ở v ng đất Sông Bé

Cao H ng chủ biên) với tác phẩm ông ịch sử chiến tranh nh n d n

30 năm (1945 – 1975), Nhà xuất bản Tổng hợp Sông Bé, 199 , đề cập sơ lược

đến sự phát triển của tín đồ Công giáo ở tỉnh Sông Bé từ hi du nhập hoảng thế

ỉ XVII đến năm 199

Vũ Đức Thành, Thủ Dầu Một – ình Dương đất ành chim đậu, Nhà xuất

bản Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 1999, tác giả tập hợp những bài viết về

sự phát triển của Bình Dương, trong đó có đề cập đến công giáo ở Sông Bé nhưng với cách hái lược về sự phát triển của Công giáo trong tỉnh Sông Bé

Kỷ yếu giáo phận Phú Cường 1965 – 2005, Nhà xuấ bản Tôn giáo, 2005,

kỷ yếu nói đến sự phát triển của giáo phận Phú Cường, lịch sử hình thành cũng như phát triển của các giáo xứ trong giáo phận Phú Cường và các hoạt động của giáo phận từ năm 1965 đến năm 2 5

Trang 14

Một trong những công trình nghiên cứu há đầy đủ về sự du nhập và phát triển của Công giáo ở v ng đất Thủ Dầu Một – Bình Dương phải kể đến bộ sách

Địa chí ình Dương (4 tập) xuất bản năm 2 1 Bộ sách biên soạn nhiều l nh

vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, thành phần dân cư, đặc điểm tự nhiên nên đã sử dụng nhiều cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu từ nhiều chuyên ngành như lịch sử, dân tộc học, xã hội học, kinh tế học, xã hội học Thông qua các nghiên cứu về lịch sử phát triển một số cộng đồng giáo xứ ở Bình Dương như giáo xứ Lái Thiêu, giáo xứ Chánh Tòa, giáo xứ Búng, giáo xứ Dầu Tiếng… đã

làm rõ một vấn đề về sự du nhập và phát triển của đạo Công giáo ở Bình Dương

Kỷ yếu giáo xứ Lái Thiêu, Nhà xuất bản Thời đại, 2 12, ỷ yếu chủ yếu đề

cập đến lịch sử phát triển của giáo xứ Lái Thiêu và một số hoạt động của giáo xứ

Tổng giáo phận thành phố Hồ Chí Minh, 150 năm chủng viện thánh Giuse Sài Gòn 1863 – 2013, Nhà xuất bản Tôn giáo, 2 13, tác giả đề cập đến quá trình

hình thành và phát triển của chủng viện Sài Gòn, các hóa đào tạo của chủng viện từ năm 1863 – 2013

Nghiên cứu về tôn giáo nói chung và Công giáo nói riêng ở Bình Dương cũng được chú ý trong những năm gần đây Tiếp cận dưới góc độ triết học tôn

giáo, luận văn cao học Sự du nhập và phát triển Thiên Chúa giáo tại ình Dương của tác giả Lê Văn Long đã đề cập đến các vấn đề về sự du nhập của Công giáo

ở ình Dương; thực trạng và những tác động của Công giáo đối với đời sống xã

hội; một số giải pháp phát triển Công giáo trong giai đoạn hiện nay Ngoài ra, tác giả Lê Văn Long cho rằng ảnh hưởng của Công giáo ở Bình Dương trên nhiều phương diện, trong đó tác động đến đời sống xã hội của các cộng đồng cư dân ở Bình Dương

Những công trình trên của các tác giả chủ yếu thể hiện một cách tổng quát

về tình hình Công giáo ở Việt Nam từ hi du nhập đến ngày nay và lịch sử hình thành một số giáo xứ trong tỉnh Sông Bé Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống về Công giáo ở tỉnh Sông Bé từ năm 1975 đến năm 1997 Do vậy, trên cơ sở ế thừa và phát triển những nội dung, vấn đề đã

Trang 15

được nghiên cứu ở một số công trình trên Luận văn cố gắng phục dựng bức tranh Công giáo tỉnh Sông Bé từ năm 1975 đến năm 1997

3 Mục đích nghiên cứu

Về phương diện hoa học: Việc nghiên cứu Công giáo tỉnh Sông Bé từ năm

1975 đến năm 1997 s góp phần tái hiện bức tranh tổng thể về cộng đồng Công giáo trong tỉnh Sông Bé sau hi đất nước hoàn toàn giải phóng đến hi hi tỉnh Sông Bé được tách tỉnh Trên cơ sở đó, luận văn cung cấp những tư liệu, những thông tin, những đánh giá hái quát về hệ thống tổ chức, hoạt động của giáo hội

và giáo dân, những chuyển biến trong đời sống xã hội của đồng bào Công giáo cũng góp phần vào sự phát triển chung về inh tế, xã hội của tỉnh Sông Bé

Về thực tiễn: nghiên cứu Công giáo tỉnh Sông Bé từ sau ngày giải phóng đến trước hi tách tỉnh, từ thực tiễn hoạt động của giáo hội, những chính sách, giải pháp của giáo hội và chính sách tôn giáo của tỉnh nhằm ổn định đời sống cho giáo dân s là cơ sở để có thể tổng ết thành chuyên đề liên quan đến công tác quản lý tôn giáo của tỉnh, inh nghiệm để các giai đoạn sau có thể học tập và rút inh nghiệm trong mối quan hệ giữa tôn giáo và chính quyền Là tài liệu học tập, nghiên cứu các vấn đề về tôn giáo địa phương

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là Công giáo ở tỉnh Sông Bé từ năm 1975 đến năm

1997, bao gồm quá trình du nhập, hệ thống tổ chức, sự phát triển của đạo Từ đó nhìn nhận các hoạt động của giáo hội Công giáo và những chuyển biến nếp sống đạo và đời sống xã hội của cộng đồng Công giáo tỉnh Sông Bé

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Mặc d đề tài giới hạn phạm vi thời gian nghiên cứu Công giáo ở tỉnh Sông Bé từ năm 1975 – 1997 Luận văn chia làm 2 giai đoạn chính Giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1986 là giai đoạn từ hi thống nhất đất nước đến trước hi đất nước ta thực hiện đường lối đổi mới và giai đoạn 1986 đến năm 1997 là giai đoạn đất nước bắt đầu bước vào thực hiện đường lối đổi mới và hội nhập quốc tế đến

hi tách tỉnh Sông Bé thành tỉnh Bình Dương và Bình Phước

Trang 16

Về hông gian, luận văn nghiên cứu về Công giáo trong phạm vi tỉnh Sông Bé

5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

5.1 Nguồn tài liệu

Để thực hiện đề tài, luận văn chủ yếu tiếp cận, hai thác nguồn tài liệu:

- Những văn bản của Đảng, Nhà nước và chính quyền Sông Bé về vấn đề tôn giáo, công giáo trong thời ỳ qua

- Những tài liệu hiện lưu ở Ban Tôn giáo về tình hình tôn giáo ở Sông Bé giai đoạn 1975 – 1997

- Các công trình nghiên cứu về Công giáo của những tác giả là giáo dân của Công giáo và những công trình nghiên cứu của các nhà hoa học Các tài liệu của Tòa giám mục Phú Cường

Ngoài ra, tôi còn hai thác một số tạp chí: tập san hội Khoa học lịch sử Bình Dương, tạp chí Nghiên cứu tôn giáo…

D số lượng tài liệu chưa được tập hợp thật đầy đủ, song là cơ sở giúp luận văn giải quyết những vấn đề do đề tài đặt ra

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu vấn đề này tác giả sử dụng chủ yếu phương pháp lịch sử và phương pháp Logic Đề tài còn có sử dụng phương pháp hác như thống ê, phân tích, tổng hợp để thực hiện đề tài một cách hoa học và hệ thống

6 Đóng góp của đề tài

Tìm hiểu về Công giáo ở tỉnh Sông Bé, luận văn góp phần dựng lại bức tranh tổng thể của Công giáo trên địa phận tỉnh Sông Bé thông qua sự phát triển các cơ sở hoạt động, hệ thống tổ chức, giáo dân Những chuyển biến trong nếp sống đạo và đời sống văn hóa của cộng đồng Công giáo trong những năm 1975 đến năm 1997 Từ đó nhận thấy những chuyển biến trong đời sống xã hội, inh

tế, chính trị và nếp sống đạo của cộng đồng Công giáo tỉnh Sông Bé

Luận văn góp phần nhìn nhận lại những hoạt động của Công giáo đối với đời sống xã hội tỉnh Sông Bé thông qua những hoạt động xã hội thiết thực của đạo trong các l nh vực giáo dục, y tế…

Trang 17

Luận văn đã sưu tầm, tập hợp tài liệu, số liệu phân tích để làm r sự phát triển của Công giáo tỉnh Sông Bé, hi được hoàn thành là một nguồn tài liệu tham hảo cho các đề tài nghiên cứu về sau hi muốn tìm hiểu về Công giáo tỉnh Sông Bé và tài liệu tham hảo cho công tác nghiên cứu tôn giáo địa phương

nhiên và địa lý hành chính qua các thời ì, đặc điểm inh tế - xã hội và hái quát

sự du nhập, phát triển của Công giáo tỉnh Sông Bé trước năm 1975

Chương 2: Công giáo tỉnh Sông Bé từ năm 1975 đ n năm 1986:

Chương này gồm 3 mục chính là trình bày hệ thống tổ chức, một số hoạt động của giáo hội, giáo xứ Từ đó, đưa ra một số chuyển biến trong đời sống inh tế,

chính trị, xã hội của Công giáo tỉnh Sông Bé từ năm 1975 đến năm 1986

Chương 3: Công giáo tỉnh Sông Bé từ năm 1986 đ n năm 1997:

Chương này gồm 4 mục chính là trình bày hệ thống tổ chức của Công giáo trong tỉnh, hái quát một số hoạt động của giáo hội và giáo xứ Từ hoạt động của Công giáo ở Sông Bé s có những chuyển biến trong nếp sống đạo và chuyển biến

trong đời sống inh tế, chính trị, xã hội của giáo dân

Trang 18

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TỈNH SÔNG BÉ VÀ TÌNH HÌNH CÔNG

GIÁO TỈNH SÔNG BÉ TRƯỚC NĂM 1975 1.1 Đặc điểm t nhiên và địa hành chính qua các thời kì

Nai, phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh và phía Nam giáp Sài Gòn

Khi mới thành lập, tỉnh Sông Bé có 14 huyện: Bến Cát, B Đăng, Bù Đốp, Châu Thành, Chơn Thành, Dầu Tiếng, D An, Đồng Xoài, Hớn Quản, Lái Thiêu, Lộc Ninh, Phú Giáo, Phước Bình, Tân Uyên và thị xã Thủ Dầu Một Tỉnh

lị đặt tại thị xã Thủ Dầu Một

Sông Bé là một tỉnh lớn về diện tích tự nhiên với 9.859 m2 nhưng lại là một tỉnh có dân số ít ở miền Đông Nam Bộ Mật độ trung bình chỉ hơn 64 người m2 , có nơi còn có mặt độ dân cư thấp hơn chỉ hoảng 14 người m2

.[17; 259]

Sông Bé là nơi giáp với miền núi của Nam Tây Nguyên và miền đồng bằng Nam bộ Đây là mái Nam của Trường Sơn Việt Nam, mà xưa các nhà địa chất nước ngoài như Emille hay Jean Fromahet gọi là Nam Sơn Vì địa hình của tỉnh Sông Bé rất đa dạng, mang tính chất tổng hợp, có đặc tính vừa cao nguyên, trung du vừa đồng bằng: phía Bắc là v ng núi cao mang dáng dấp cao nguyên nhưng độ cao thấp Ở phía Nam của tỉnh mang dáng dấp đồng bằng nhưng địa hình hông bằng ph ng

Trang 19

Nằm giữa các tỉnh đồng bằng và Tây Nguyên, giáp với Sài Gòn và nước bạn Campuchia, Sông Bé có vị trí quan trọng trong giao thông đường bộ giữa các

v ng Chiều dài quốc lộ và liên tỉnh lộ hoảng 1.8 m Mật độ đường bộ là 189km/1000 km2 Trong hệ thống đường bộ nổi lên đường quốc lộ 13, đây là con đường chiến lược quan trọng xuất phát từ Sài Gòn, chạy dọc suốt các tỉnh từ Nam lên Bắc, xuyên nước bạn Campuchia, đến tận biên giới Thái Lan Đây là con đường có ý ngh a chiến lược cả về quân sự và inh tế Đường quốc lộ 14 chạy từ Tây Ninh qua Dầu Tiếng, Chơn Thành, Đồng Xoài, B Đăng xuyên suốt vùng Tây Nguyên bao la, là con đường chiến lược quan trọng cả trong chiến tranh và xây dựng hòa bình, đường Trường Sơn – đoạn cuối đường mòn Hồ Chí Minh, nối Bình Long, Lộc Ninh với Tây Nguyên đại ngàn Ngoài ra còn có liên tỉnh lộ 1A từ Thủ Dầu Một đi Phước Long; liên tỉnh lộ 13 từ Chơn Thành đi Đồng Phú, Dầu Tiếng; liên tỉnh lộ 16 từ Tân Uyên đi Phước V nh và một số tuyến đường liên xã, liên thôn 5; 20]

Về sông ngòi, tỉnh có 3 con sông lớn: Sông Bé, sông Sài Gòn, sông Đồng

Nai Sông Bé dài 36 m, là phụ lưu của sông Đồng Nai, bắt nguồn từ v ng đồi

núi tỉnh Đắc Lắc, chảy uốn húc theo chiều dài của tỉnh, nhập vào sông Đồng Nao ở Hiếu Liêm Lòng sông hẹp, có nhiều thác như Thác Mơ, Thác Mẹ, Thác Đơm; m a mưa nước chảy xiết, m a hô nước cạn Do đó, giá trị giao thông vận tải của Sông Bé bị hạn chế nhiều Về quân sự, Sông Bé vừa thuận lợi, vừa gây trở

ngại ông Đồng Nai bắt nguồn từ Cao nguyên Lâm Viên Lâm Đồng) dài 635

m, nhưng chỉ chảy qua lãnh thổ của Sông Bé ở hai đoạn Phước Long và Tân Uyên, dài 60 km Sông Đồng Nai có giá trị lớn về cung cấp nước tưới cho nền nông nghiệp ở Tân Uyên, Phước Long, giao thông vận tải đường thủy thuận lợi

và cung cấp thủy sản cho nhân dân trong tỉnh Sông Sài Gòn dài 256 m, bắt

nguồn từ đồi cao huyện Lộc Ninh chảy giữa hai tỉnh Sông Bé và Tây Ninh đến Bến Cát chảy giữa hai tỉnh Sông Bé và thành phố Hồ Chí Minh Ở thượng lưu, sông hẹp rộng hoảng 2 m) uốn húc quanh co, từ dầu tiếng được mở rộng dần đến Thị xã 2 m) Sông Thị Tính là phụ lưu của sông Sài Gòn bắt nguồn từ Đồi

Trang 20

Cam Xe, huyện Bình Long chảy qua Bến Cát rồi đổ vào sông Sài Gòn ở đập Ông

là đất xám chiếm hoảng 36.5 diện tích thích hợp trồng các loại cây lương thực như hoai, sắn, đ … Đất ph sa phân bố ở dọc lưu vực các con sông thích hợp

để trồng lúa, rau… Mặt hác, trong lòng đất còn có các loại hoáng sản có thể dễ dàng hai thác như cao lanh ở Tân Uyên, Bến Cát, Thuận An, bô xít ở Đồng Phú, Phước Long

Về hí hậu, nằm trong v ng nhiệt đới ẩm và mang tính chất chung của hí hậu v ng Nam bộ Nóng quang năm, mưa nhiều, chia thành hai m a r rệt M a mưa từ tháng 5 đến tháng 11 và m a hô từ tháng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình trong tỉnh nằm trong hoảng 260

- 270 Lượng mưa trung bình từ 18 – 2200mm Khí hậu Sông Bé có những thuận lợi cơ bản là v ng đất mưa nắng thuận hòa Do hí hậu nhiệt đới ẩm và đất đai màu mỡ nên rừng ở Sông Bé rất phát triển Rừng chiến 67,2 diện tích tự nhiên của tỉnh Rừng có nhiều loại cây g quý và nhiều loại cây thuốc, thực phẩm và động vật quý hiếm

Rừng vừa có giá trị về inh tế vừa có giá trị về quân sự

1.1.2 Bi n đổi hành chính qua các thời kì

Năm 1698, Thống suất Nguyễn Hữu Kỉnh tên đọc là Cảnh) được cử vào Nam inh lý, lập phủ Gia Định gồm hai huyện: Phước Long ể từ tả ngạn sông Sài Gòn ra bờ biển Đông) và Tân Bình ể từ hữu ngạn sông Sài Gòn tới sông Vàm Cỏ Đông) Năm 18 8, Phước Long được đổi thành phủ gồm bốn huyện: Bình An, Phước Chánh, Long Thành, Phước An; Tân Bình cũng thành phủ gồm bốn huyện: Bình Dương, Tân Long, Thuận An, Phước Lộc

Trang 21

Phủ Phước Lộc là địa bàn của dinh Trấn Biên sau đổi ra tỉnh Biên Hòa Phủ Tân Bình là địa bàn của dinh Phiên Trấn sau đổi ra tỉnh Gia Định Ở buổi đầu hi mới hai hoang lập ấp, qui chế hành chính còn lỏng lẻo “người 2 huyện” được phép sinh sống làm ăn xen nhau Như người huyện Phước Long có thể sang lập nghiệp trong huyện Tân Bình, vì thế trong huyện Tân Bình có tổng Phước Lộc Và người huyện Tân Bình sang lập nghiệp bên huyện Phước Long, vì thế trong huyện Phước Long có tổng Bình An Sau này, Phước Lộc và Bình An thành huyện

Huyện Bình An và huyện Bình Dương tuy thuộc hai tỉnh hác nhau, nhưng c ng ở hai bên bờ sông Sài Gòn xưa gọi là sông Tân Bình) nên có nhiều mối quan hệ thân thiết họ hàng Chỉ cần qua một húc đò ngang là trao đổi hàng hóa và giao lưu văn hóa được ngay Hai bên còn gần nhau hơn nữa: về phía Bắc huyện Bình An, xứ Dầu Tiếng ở ngay tả ngạn sông Sài Gòn ể từ rạch Thị Tính tới biên giới Campuchia, đương thời thuộc địa phận huyện Bình Dương Đó là địa phận tổng Dương Hòa Hạ, một trong sáu tổng của huyện Bình Dương Dương Hòa Hạ, Dương Hòa Thượng, Dương Hòa Trung, Bình Trị Hạ, Bình Trị Thượng, Bình Trị Trung)

Năm 1834, gọi Nam Kỳ là lục tỉnh: Biên Hòa, Phiên An từ 1836 cải thành Gia Định), Định Tường, V nh Long, An Giang, Hà Tiên Năm 1837, huyện Bình An chia ra hai huyện Bình An Thủ Dầu Một) và Ngãi An Thủ Đức) Năm

1841, huyện Bình Dương chia ra hai huyện: Bình Dương Sài Gòn) và Bình Long (Hóc Môn, Củ Chi)

Năm 1859, Pháp đánh chiếm Gia Định Sau hi háng chiến thất bại, Huế phải í hiệp ước 1862 nhượng cho Pháp ba tỉnh: Biên Hoà, Gia Định, Định Tường Năm 1867, Pháp chia lục tỉnh cũ ra hai mươi bốn tỉnh mới Pháp chia cắt lại địa phận và đặt tên cho các tỉnh mới lập lúc đầu gọi là địa hạt) Dưới thời Pháp hai bên bờ sông Sài Gòn là hai tỉnh Gia Định và Thủ Dầu Một Tỉnh Gia Định nằm trên hữu ngạn, gồm thêm quận Thủ Đức nằm bên tả ngạn nguyên là huyện An Ngãi thuộc tỉnh Biên Hoà) Tỉnh Thủ Dầu Một tựu trung nằm trên tả

Trang 22

ngạn và trên địa phận huyện Bình An cộng với địa bàn tổng Dương Hòa Hạ tức

xứ Dầu Tiếng, nguyên thuộc Bình Dương, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định)

Không ể hai huyện Bình Long 1841) và Ngãi An 1837) sinh sau đẻ muộn, chỉ tồn tại một thời gian ngắn thì hai huyện Bình Dương Gia Định) và Bình An Biên Hoà) đã có những lúc thiết lập địa phận trao đổi nhau Tình hình

đó éo dài đến cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 và suốt thời háng chiến chống Pháp chín năm với hiệp định Geneve 1954

Chính quyền Sài Gòn hông chịu hiệp thương thống nhất, rồi ngày

22 1 1956 ra sắc lệnh số 143NV để “thay đổi địa giới và tên đô thành Sài Gòn – Chợ Lớn c ng các tỉnh và tỉnh l tại Việt Nam” V ng sơn cước của tỉnh Thủ dầu Một được tách riêng để thành lập tỉnh mới là tỉnh Phước Long và tỉnh Bình Long, phần còn lại thành lập tỉnh Bình Dương 46; 217]

Từ hoảng thời gian 1957 đến năm 1959, địa bàn Sông Bé hi ấy chia làm

3 tỉnh:

Tỉnh Bình Dương thành lập ngày 3/8/1957, tỉnh l sở đặt tại thị xã Phú Cường, gồm các quận hành chính Lái Thiêu, Búng, Châu Thành, Phú Cường, Bến Cát, Bến Súc và Củ Chi Cuộn Củ Chi nằm ở giữa ngận Sông Sài Gòn, thời Phong Kiến thuộc Huyện Bình Dương, thời Pháp thuộc tỉnh Gia Định, nay là huyện Củ Chi thuộc Thành Phố Hồ Chí Minh Tỉnh Bình Dương nằm giữa các tỉnh Gia Định, Long An, Tây Ninh, Bình Long, Phước long, Long Khánh và Biên Hoà Tỉnh Bình Dương: năm 1956 – 1963, gồm hai quận Trị Tâm – Củ Chi, nguyên xưa nhất là đất thuộc huyện Bình Dương Tỉnh Bình Dương có diện tích 2.237,8 km2 chia ra sáu quận: Châu Thành 171,4 m2), Bến Cát 616 m2

), Phú Giáo (562,4km2), Lái Thiêu (68,1km2), Củ Chi 443,8 m2), Trị Tâm 376,1 m2

) Bốn quận trên thuộc địa phận huyện Bình An Biên Hoà), hai quận sau Củ Chi, Trị Tâm) thuộc địa phận tỉnh Bình Dương Gia Định) Hai quận nguyên thuộc Bình Dương rộng tới 819,9 m2

Tỉnh Bình Long thành lập ngày 1 7 1957 l sở đặt tại thị xã An Lộc xưa

là Hớn Quảng) Chia ra 3 quận là Lộc Ninh, Châu Thành An Lộc và Cẩm Xe

Tỉnh Bình Long mang tên này cũng có lý do tương tự: như đã nói trên, huyện

Trang 23

Bình Dương mới lập hồi năm 1841, trên một phần đất của huyện Bình Dương Huyện Bình Long hi ấy chia ra sáu tổng: Long Tuy Thượng, Long Tuy Hạ, Long Tuy Trung, Bình Thạnh Thượng, Bình Thạnh Hạ, Bình Thạnh Trung Năm

tổng đặt ở Củ Chi – Hóc Môn, riêng tổng Bình Thạnh Thượng nằm ở tả ngạn

sông Sài Gòn từ ngả ba rạch Thị Tính đổ lên thay cho địa phận tỉnh Bình Dương Hoà Hạ cũ, trước 1841) Giới hạn tổng này lên tới biên th y Campuchia, tức cũng là một phần của tỉnh mới lập nằm ở phía Bắc Thủ Dầu Một thời Pháp Có l

vì thế người ta đặt tên cho tỉnh mới đó nằm ở Bắc Bình Dương) là Bình Long

Tỉnh Phước Long nằm ở phía Đông Bắc hai tỉnh Bình Dương và Bình Long, chỉ là một phần đất nhỏ của huyện Phước Long xưa lập từ 1698) Lấy lại tên này để hỏi mai một địa danh có lịch sử lâu đời vậy

Từ năm 1965, tỉnh Phước Thành thành lập rồi giải thể Tỉnh này nằm ở biên giới phía Đông tỉnh Bình Dương, hông liên quan gì tới phía Tây bên sông Sài Gòn và Gia Định Ngày 15 1 1963, tỉnh mới lấy tên Hậu Ngh a được thành lập Tỉnh này nằm giữa các tỉnh: Gia Định, Long An, Tây Ninh và Bình Dương Bình Dương phải chia một phần đất cho Hậu Ngh a: quận Củ Chi chia ra hai quận là quận Củ Chi 2 6,8 m2) cho thuộc về Hậu Ngh a và quận Phú Hoà (237km2) cho thuộc về Bình Dương

Địa bàn tỉnh Sông Bé từ năm 1969 đến năm 1975 bao gồm các tỉnh Bình

Dương, Bình Long, Phước Long và một phần tỉnh Biên Hòa Địa bàn tỉnh Sông

bé nằm trên địa phần của 114 xã 42; 234]

Sau ngày thống nhất 1975, việc phân thiết lại và đặt tên mới cho các tỉnh rất sôi nổi Một số tỉnh bị giải thể, một số tỉnh được mở rộng tháng 2 1976 chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ban hành nghị định về việc giải thể hu, hợp nhấ tỉnh ở miền Nam Việt Nam, theo nghị định này ở miền Nam có 21 đơn vị hành chính trực thuộc chính phủ Trong đó, Tỉnh Sông

Bé được sáp nhập từ hai tỉnh Thủ Dầu Một và Bình Phước, địa bàn rộng, địa hình phức tạp, vừa có miền núi, biên giới, vừa có đồng bằng và trung du, có diện tích 9.532,72km2, dân số 1.177.874 người Tỉnh l đặt tại Thủ Dầu Một và có 14 huyện 50; 13]

Trang 24

Tỉnh Bình Dương có diện tích tự nhiên 2.718,5 m2, dân số 646.317 người; gồm bốn đơn vị hành chánh cấp huyện: thị xã Thủ Dầu Một, các huyện Thuận An, Tân Uyên, Bến Cát Tỉnh l đặt tại thị xã Thủ Dầu Một

Tỉnh Bình Phước có diện tích tự nhiên 6.814,22 m2

dân số 531.557 người; gồm năm đơn vị hành chánh cấp huyện: Đồng Phú, Lộc Ninh, Phước Long, Bù Đăng, Bình Long Tỉnh l đặt tại thị trấn Đồng Xoài thuộc huyện Đồng Phú)

Đầu năm 1996, tỉnh Sông Bé có 9 đơn vị hành chính gồm thị xã Thủ Dầu Một tỉnh l ) và 8 huyện: Bến Cát, Bình Long, B Đăng, Đồng Phú, Lộc Ninh, Phước Long, Tân Uyên, Thuận An Ngày 6/11/1996, ỳ họp thứ 1 Quốc hội hóa IX ra nghị quyết chia tỉnh Sông Bé để tái lập tỉnh Bình Dương và tỉnh Bình Phước Tỉnh Bình Dương gồm thị xã Thủ Dầu Một và 3 huyện: Bến Cát, Tân Uyên, Thuận An, tỉnh lị đặt tại thị xã Thủ Dầu Một Tỉnh Bình Phước gồm 5 huyện: Bình Long, B Đăng, Đồng Phú, Lộc Ninh, Phước Long, tỉnh lị đặt tại thị trấn Đồng Xoài, huyện Đồng Phú 46; 224]

1.2 Đặc điểm kinh t - xã hội

1.2.1 Đặc điểm inh t

Sông Bé bắt nguồn từ v ng rừng núi đất đỏ Tây Nguyên, từ bao đời chảy

từ Bắc xuống Nam làm tr phú cho mảnh đất này đã trở thành tên gọi thân thương của một tỉnh hợp nhất sau ngày giải phóng hoàn toàn miền nam, thống

Tỉnh Sông Bé trong những ngày đầu miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước đã ra sức tập trung phát triển inh tế và xã hội Từ năm

1976 – 1986, trong quá trình thực hiện tỉnh Sông Bé cơ bản đã xóa bỏ giai cấp tư

Trang 25

sản inh doanh thương nghiệp, vật tư và hoàn thành cơ bản cải tạo nông nghiệp dưới hình thức tập đoàn sản xuất và hợp tác xã Sản xuất nông nghiệp có nhiều tiến bộ, dần dần phát triển toàn diện, các thế mạnh của tỉnh bắt đầu được củng cố

và phát huy hiệu quả Diện tích trồng lúa, cây công nghiệp lâu năm cũng dần được mở rộng về sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp thì sản lượng hàng năm tăng trên dưới 1 , trong đó tiểu thủ công nghiệp chiếm 7 tổng giá trị sản lượng, chủ yếu là hàng vật liệu xây dựng, sành sứ, sơn mài, đồ g

Trong giai đoạn năm 1986 đến năm 1996, tỉnh từng bước xóa bỏ cơ chế quản lý inh tế tập trung, quan liêu, bao cấp, hình thành cơ chế quản lý mới, huy động được mọi thành phần inh tế phát triển sản xuất inh doanh về sản xuất nông nghiệp: tỉnh đã sớm chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp, phát huy thế mạnh cây, con ở từng v ng, phát triển sẩn xuất hàng hóa với nhiều thành phần inh tế, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu Về sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp: nhiều xí nghiệp quốc doanh được xây dựng và mở rộng

1.2.2 Đặc điểm hội và tôn giáo

Trong lịch sử phát triển xã hội, Sông Bé là v ng đất chủ yếu sinh sống bằng nông nghiệp Đất đai màu mỡ, hí hậu thuận hòa, với sự lao động cần c của nông dân, công việc hai phá, cấy trồng tiến hành thuận lợi Sau nhiều năm lao động, một số người trở thành trung nông Tuy vậy, trong quán trình lao động, một số người bị phân hóa xã hội, cầm cố ruộng đất cho tầng lớp há giả hoặc địa chủ, đi tìm v ng đất hác để hai phá, lập nghiệp Từ đặc điểm đó, tầng lớp trên

ở nông thôn trong tỉnh chiếm tỉ lệ thấp so với các tỉnh ở hu vực Đồng bằng Sông Cửu Long Tầng lớp trên ở nông thôn chủ yếu là phú nông và một số rất ít địa chủ nhỏ từ nơi hác đến

Ở Sông Bé, bần nông và trung nông chiếm đa số; phú nông Nông dân Sông Bé, trong đó có đồng bào các dân tộc miền núi có tinh thần cách mạng cao

và lực lượng to lớn đóng góp sức người, sức của cho cách mạng và háng chiến

Qua những lần hai thác thuộc địa của thực dân Pháp, ở Sông Bé đã hình thành một tầng lớp mới – tầng lớp công nhân cao su và công nhân xe lửa

Trang 26

Một đặc điểm nổi bật của dân cư ở Sông Bé là sự quy tụ cư dân đến từ nhiều v ng miền trong cả nước c ng các dân tộc bản địa mà hình thành Cư dân

có quê gốc từ các tỉnh Bắc bộ, Trung bộ, miền Đông, miền Tây Nam Bộ, người Tây Nguyên đều có mặt, chung sức với đồng bào các dân tộc Xtiêng, Mơ Nông,

Mạ, Tà Mun, Khmer xây dựng, bảo vệ, định cư trên v ng đất Sông Bé màu mỡ

Có thể nói, Sông Bé là hình ảnh thu nhỏ những tính chất, sắc thái của đại gia đình các dân tộc, các v ng trong cả nước

Về tín ngưỡng, tôn giáo ở tỉnh Sông Bé có nhiều tôn giáo: đạo Phật, được truyền vào Sông bé từ cuối thế ỉ XVI, hi lớp người Kinh đầu tiên di cư từ phía Bắc vào sinh sống, từ đó phát triển rộng ra toàn tỉnh.[5; 26]

Đạo Thiên chúa vào Sông Bé hoảng đầu thế ỉ XVII, hi các nhà truyền giáo phương Tây theo thương nhân ngoại quốc đến v ng đất này “Hiện nay số tín đồ Thiên chúa giáo trong Tỉnh có hoảng 8 nghìn người Tin lành hoảng 4 nghìn người Tuyệt đại bộ phận đồng bào theo đạo Thiên chúa, Tin lành tại ch

và từ miền Bắc di cư vào đều là người lao động, mang truyền thống bất huất của dân tộc Việt Nam, một lòng ính Chúa yêu nước, “sống phúc âm trong lòng dân tộc”.” 5; 26]

Đạo Cao Đài ra đời ở Nam Bộ vào đầu thế ỉ XX, được truyền vào Sông

Bé với ba hệ phái Cao Đài Tây Ninh, Cao Đài Chơn Lý, Chỉnh Đạo Bến Tre Tín

đồ trong tỉnh có hoảng 45 người 5; 26]

1.3 Công giáo Tỉnh Sông Bé trước năm 1975

1.3.1 Quá trình du nhập của công giáo vào tỉnh Sông Bé

Trong tiếng Việt, thuật ngữ Công giáo được d ng để dịch chữ καθολικος, catholicus hoặc catholique, với ý ngh a đó là “đạo chung, đạo phổ quát” đón nhận mọi người, chứ hông riêng cho dân tộc hay quốc gia nào Các văn iện tiếng Việt của Giáo hội hoặc Hội đồng Giám mục Việt Nam đều d ng chữ “Công giáo”, Ban Tôn giáo Chính phủ Việt Nam cũng d ng chữ “Công giáo”

Quá trình du nhập công giáo vào tỉnh Sông Bé trước năm 1975 có nhiều điểm chung với sự du nhập của Công giáo vào xứ Đàng trong, gắn chặt với sự

Trang 27

hình thành và hoạt động của các giáo phận, giáo xứ, giáo hạt trên địa bàn tỉnh Sông Bé

Cuối thế ỷ XVI đầu thế ỷ XVII, quá trình giao thương giữa Việt Nam với các nước phương Tây như Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh, Pháp và với Nhật Bản

ở Châu Á diễn ra mạnh m để trao đổi hàng hóa và vũ hí quân sự Thời gian này, Công giáo cũng mở rộng truyền giáo đến hắp nơi trên thế giới

Giáo hoàng Alexandre VI đã ban sắc chỉ "Inter Caetera" ngày 4 tháng

5 năm 1493, phân chia theo hướng Đông Tây quả địa cầu cho hai vương quốc Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, theo đó v ng đất bờ phía Tây Phi Châu và v ng Đông

Ấn, bao quát từ Ấn Độ, Xiêm La, Malacca, Sumatra, Java, Đại Việt, Trung hoa và Nhật Bản, được đặt dưới chế độ bảo trợ của Bồ Đào Nha Phần lại của thế giới mới được đặt dưới chế độ bảo trợ của Tây Ban Nha

Do sự phân chia này, các thừa sai Bồ Đào Nha hay các quốc tịch hác đều phải tập trung, bị iểm soát tại hải cảng Lisb a để xuống tàu lên đường truyền giáo v ng Đông Ấn Sử liệu Pháp ghi lại rằng vào năm 1516 có một nhà hàng hải Bồ Đào Nha tên là Fernao Perez de Andrade đã đến tận bờ biển Việt Nam Trong bộ “Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục” được soạn thảo dưới triều Tự Đức có nói đến chỉ dụ cấm đạo Công giáo

Các làng trên nay lần lượt thuộc các huyện Trực Ninh, Hải Hậu và Xuân Trường, tỉnh Nam Định Tuy nhiên những chi tiết liên hệ tới Inácio trong tiếng

Bồ Đào Nha, Ignacio hoặc Íñigo trong tiếng Tây Ban Nha ngày nay không còn được ghi nhớ, và do đó hông ai biết r về tông tích, cũng như về công cuộc truyền đạo của vị thừa sai thứ nhất này Mặc d vậy, với dấu tích đầu tiên trong tài liệu sử chính thống, nhiều nhà sử học Công giáo Việt Nam đã chọn năm 1533

là năm hởi đầu cho đạo Công giáo tại Việt Nam

Để thuận lợi hơn trong vấn đề truyền giáo, ngày 3 tháng 11 năm

1534, Giáo hoàng Phaolô III ban Sắc chỉ "Aequum Reputamus" thiết lập Giáo phận Goa hởi từ mũi Hảo Vọng Nam Phi) đến Nhật Bản, bao gồm quốc gia Đại Việt Ngày 4 tháng 2 năm 1557, Giáo hoàng Phaolô IV ký sắc chỉ “Pro Exellenti Praeminentia” thiết lập Giáo phận Malacca, bao gồm lãnh thổ Indonesia,

Trang 28

Malaysia, Xiêm, Cam Bốt, Chàm, Đại Việt, Trung Hoa và Nhật Bản Năm 1558, giáo s Jorge da Santa Lucia, Dòng Đa Minh Bồ Đào Nha, được phong Giám mục tiên hởi Giáo phận Malacca Đến ngày 23 tháng 1 năm 1576, Giáo hoàng Grêgôriô XIII ban Sắc chỉ “Super Specula Militantis Ecclesiae”, thành lập Giáo phận Macao, tách ra từ Giáo phận Malacca, gồm lãnh thổ Trung Hoa, Đại Việt và Nhật Bản

Mặc d cả hai giáo phận Malacca và Macao đều thuộc "quyền bảo trợ" của Bồ Đào Nha, tuy nhiên đã có rất nhiều nhà truyền giáo thuộc nhiều dòng tu

và hội thừa sai hác đã đến Việt Nam Năm 1596 thầy dòng người Tây Ban Nha tên là Don Diego d‟Averte đã đặt chân đến Huế, nhưng bị đuổi đi ngay Năm 1614 những nhà truyền giáo Dòng Tên theo chân các thương nhân người Bồ Đào Nha từ Macao, qua phía nam Trung Hoa, để đến Việt Nam Các bề trên Dòng Tên còn thành lập h n một tổ chức truyền giáo tại Đàng Trong

la Mission de Cochinchine) năm 1615

Những n lực truyền giáo đầu tiên hông đạt được thành tựu thường trực Các cộng đoàn chính thức đầu tiên được các vị thừa sai Dòng Tên thuộc nhiều quốc tịch dưới quy chế bảo hộ của Bồ Đào Nha thành lập Giai đoạn này éo dài

từ năm 1615 tới năm 1659, vào c ng thời điểm lãnh thổ Việt Nam bị chia cắt thành hai miền, lấy sông Gianh làm ranh giới Phía Nam gọi là Đàng Trong, do các chúa Nguyễn cai quản Phía Bắc gọi là Đàng Ngoài do vua Lê, chúa Trịnh nắm quyền

Các linh mục Dòng Tên theo chân Thánh Phanxicô Xaviê truyền giáo tại Nhật Bản từ năm 1549, bị Mạc chúa Tokugawa Hidetada ra sắc lệnh trục xuất hỏi đất Ph Tang năm 1614, đã tập trung tại Macao Từ inh nghiệm truyền giáo ở Trung Quốc và Nhật Bản, các thừa sai rất quan tâm đến việc học ngôn ngữ, phong tục Việt Nam và giảng đạo bằng tiếng Việt Các linh mục Dòng Tên

ở lại Việt Nam cho tới năm 1788 Vắng bóng đi trong một thời gian 169 năm (1788 – 1957)

Ngày 15 tháng 1 năm 1615, hai linh mục Francesco Buzomi và Diego Carvalho c ng các trợ s đến Cửa Hàn, Đà Nẵng Tiếp theo các linh mục hác

Trang 29

như Francisco de Pina, Christoforo Borri, Alexandre de Rhodes, Girolamo Maiorica đều đến Đàng Trong trước Năm 1626, linh mục Julien Baldinotti ra Đàng Ngoài tìm hiểu tình hình, được chúa Trịnh Tráng tiếp đãi nồng hậu Ngày

19 tháng 3 năm 1627, hai linh mục Alexandre de Rhodes và Pedro Marquez cập bến Cửa Bạng, Thanh Hóa, hởi đầu công cuộc truyền giáo tại Đàng Ngoài Vì nhu cầu học hỏi tiếng Việt lúc đó được chỉ có thể viết bằng chữ Nôm, ngoài việc chữ Hán được d ng làm văn tự chính thức), các giáo s bắt đầu ghi lại âm tiết tiếng Việt dưới dạng chữ Latinh Các giáo s đã có gắng tổ chức giáo hội bằng cách tập trung hắp nơi từng nhóm thanh thiếu niên và cả người đã đứng tuổi thiện chí, sống đời độc thân và c ng với các linh mục trong giáo xứ hay là trong các nơi xa xôi hẻo lánh để chia sẻ việc truyền đạo, nhất là chuyện dạy giáo

lý cho dân chúng và cũng giúp nâng cao đời sống nhân bản xã hội của người dân

Chữ Quốc ngữ ban đầu chỉ được d ng để giúp các nhà truyền giáo sử dụng để ghi cách phát âm tiếng Việt Kho tàng văn chương Hán Nôm Công giáo cũng rất lớn, tuy nhiều giáo s chỉ có thể nói tiếng Việt qua cách học chữ Quốc ngữ phiên âm) mà hông thể viết chữ Nôm Chỉ riêng giáo s Girolamo Maiorica, trong hoảng 1632 – 1656, đã viết 45 tác phẩm lớn nhỏ bằng chữ Nôm, nổi tiếng nhất là cuốn “Các Thánh Truyện” viết năm 1646 Nhiều tác phẩm bị hư hỏng và mất mát do thời gian, chiến tranh và bách hại tôn giáo

Ngày 3 tháng 7 năm 1645, linh mục Alexandre de Rhodes rời Việt Nam

về Roma để báo cáo cho Tòa Thánh Vantican về những tiến triển mau chóng trong việc truyền đạo tại Việt Nam, nhất là xin gửi một số Giám mục đến truyền giáo tại Việt Nam, nơi mà ông gọi là "cánh đồng truyền giáo phì nhiêu" để củng

cố nền móng cho Giáo hội tại nước này Ông được Tòa Thánh cho phép đi hắp nước Pháp đi tìm iếm những linh mục sẵn sàng xung phong và tiếp tục công việc đã hởi sự với nhiều thành quả may mắn Tại đây mới có Hội Thừa sai Paris (Missions Étrangères de Paris), ra đời năm 1658 và được chấp nhận năm 1664 dưới thời Giáo hoàng Alexanđê VII

Ngày 9 tháng 9 năm 1659, Giáo hoàng Alexanđê VII qua sắc chỉ Super Cathedram quyết định thiết lập ở Việt Nam hai giáo phận tách ra từ giáo phận

Trang 30

Macao, và chọn hai người thừa sai thuộc Hội Thừa sai Paris làm Đại diện Tông Tòa Giáo phận Đàng Trong từ sông Gianh trở vào Nam, gồm cả phần đất Chiêm Thành, Chân Lạp do Giám mục Pierre Lambert de la Motte cai quản Giáo phận Đàng Ngoài từ sông Gianh trở ra Bắc, gồm cả Lào do Giám mục François Pallu cai quản

Giám mục Pigneau de Béhaine, quen gọi là Bá Đa Lộc, Đại diện Tông tòa Đàng Trong 1771-1799), đã hết lòng giúp đỡ Nguyễn Phúc Ánh, hi ông đang

bị hốn đốn bởi cuộc vây hãm của quân Tây Sơn Giám mục này đã đưa hoàng

tử Nguyễn Phúc Cảnh lúc bấy giờ mới lên 4 tuổi) sang Pháp và vận động người Pháp giúp đỡ tàu chiến, vũ hí để Nguyễn Phúc Ánh chống Tây Sơn và chúa Trịnh

Ngày 26/11/1744, linh mục Bênêdíctô XIV cử linh mục Hilario Costa Hy Giáo phận Đông Đàng Ngoài làm Khâm sứ Tòa Thánh inh lý Đàng Trong, Cam Bốt và Chăm Qua 1 phiên họp được tóm lại trong hoảng 26 trang hổ lớn), linh mục Adrien Launay ghi lại: “Tại Lai-thiu Lái Thiêu), năm 1747 có 4 giáo hữu” Qua việc phân chia v ng để các thừa sai truyền giáo, ít nhất tại Lái Thiêu

có hai nhóm truyền giáo: dòng Tên và Phanxicô Như vậy, các Kitô hữu chạy trốn Nhà Nguyễn cấm đạo 1617-1665) đã tới đây làm ăn sinh sống để an tâm giữ đạo Tháng 7 1789, linh mục Bá Đa Lộc chuyển Chủng viện ở Chantaburi Thái Lan) về Lái Thiêu chừng 4 chủng sinh) và cử thừa sai Boisserand làm giám đốc Như thế, ở v ng đất “Phú Cường” đã có nhiều họ đạo thuộc giáo phận Đàng Trong

Năm 1821, linh mục Jean Baptiste Taberd tên Việt là Từ) được bổ nhiệm coi sóc Lái Thiêu Sáu năm sau 1827), ngài nhận được sắc Tòa Thánh bổ nhiệm

là giám mục Giáo phận Tây Đàng Trong, tháng 6 năm 183 , được tấn phong ở Thái Lan do linh mục Bregnieres và trở về đặt Tòa Giám mục tại Lái Thiêu Ngày 2/3/1844, Đức Grêgôriô XVI chia đôi Giáo phận Đàng Trong: Giáo phận Đông và Tây Phần đất thuộc Giáo phận Phú Cường ngày nay đã thành lập nhiều

cơ sở, Giáo xứ như: Lái Thiêu, Búng, Tân Quy, Tha La, Brơ-Lam… thuộc Giáo phận Tây Đàng Trong

Trang 31

Năm 185 , Tòa Thánh cắt nguyên phần đất Cambodia hỏi giáo phận Tây Đàng Trong, lập Giáo phận mới, gọi tên là Giáo phận Nam Vang Phần đất Phú Cường thuộc Giáo phận Tây Đàng Trong Đầu năm 1849, linh mục Lefèbvre tấn phong giám mục cho linh mục Miche Mịch tại Lái Thiêu Tháng 8/1856, linh mục Lefèbvre bị trục xuất sang Singapore, nhưng năm 1857, lại có mặt tại Lái Thiêu để coi sóc Giáo phận

Ngày 03/02/1924, Tòa thánh Vatican ý sắc lệnh đổi tên các giáo phận miền Đông Dương Tòa Thánh đổi tên các Giáo phận ở Việt Nam theo địa bàn hành chính, nơi đặt Tòa Giám mục, Giáo phận Tây Đàng Trong được đổi thành Giáo phận Sài Gòn Theo thống ê năm 1938, trên phần đất của Giáo phận Phú Cường hiện nay, số người Công Giáo còn thưa thớt, với 11 Giáo xứ và 13.799 giáo hữu

Từ những năm 1862 đến năm 1945, quá trình phát triển của đạo công giáo

ở Sông Bé gắn liền với cuộc viễn chinh xâm lược của thực dân Pháp xâm lược Việt Nam Từ hi hai trung tâm nghiên cứu cao su được pháp thành lập tại Ông Yêm, Bến cát và 3 công ty cao su lớn nhất của Pháp đều lập đồn điền tại Thủ Dầu Một thì các giáo s phương Tây đã tiến hành xây dựng nhà thờ và truyền giáo, làm tín đồ Công giáo tăng lên nhanh chóng Mặt hác, suốt từ cuối thế ỉ XIX đến giữa thế ỉ XX, nhân dân nhiều v ng di cư về v ng Sông Bé trong đó có tín đồ công giáo há đông

Từ giữa thế ỉ XVIII đến trước năm 1954, sự du nhập của đạo công giáo vào Việt Nam nói chung vào Sông Bé nói riêng đã làm cho đời sống tinh thần của cư dân thêm phong phú và Công giáo trong giai đoạn này cũng từng bước phát triển và mở rộng cả về cơ sở hoạt động và cả về số lượng giáo dân

1.3.2 Công giáo tỉnh Sông Bé sau khi du nhập đ n năm 1975

Suốt nền Đệ Nhất Cộng hòa Việt Nam 1956 – 1963), Tổng thống Ngô Đình Diệm - một người Công giáo s ng đạo - đã có những chính sách tạo điều iện cho Giáo hội Công giáo dấn thân phục vụ xã hội một cách rộng rãi Cuối năm 1954, M – Diệm đưa lên Thủ Dầu Một trên 1 ngàn đồng bào công giáo di

cư từ Bắc vào Nam và được bố trí theo cụm dân cư Được bổ sung một số lượng

Trang 32

tín đồ há lớn và chức sắc công giáo từ miền Bắc, miền Trung di cư vào nên số giáo dân tăng dần từ cuối năm 1954 đến năm 1965 tăng lên nhanh chóng, hông chỉ vậy hàng loạt các giáo xứ, giáo họ được thành lập ở nhiều huyện, thị của tỉnh

Ngày 14 1 1965, Đức Phaolô VI ban sắc chỉ “In Animo Nostro”, cắt năm tỉnh: Bình Dương, Bình Long, Phước Thành, Hậu Ngh a và Tây Ninh thuộc Tổng Giáo phận Sài Gòn để thành lập Giáo phận mới Phú Cường và đặt linh mục Giuse Phạm Văn Thiên làm giám mục tiên hởi Năm 1966, hi mới thành lập Giáo phận Phú Cường, con số chính thức được ghi nhận là 51.488 Kitô hữu trên tổng số 715 dân chiếm 7,2 ): 43 linh mục, 6 Giáo hạt: Bình Long, Lạc An, Phú Cường, Phước Thành, Tây Ninh và Tha La; 39 Họ đạo có cha sở hiện diện

và 1 6 thánh đường lớn nhỏ 39; 35]

Về vật chất, năm 1967, linh mục Giuse Thiên cho xây dựng Tiểu Chủng viện ở Gò Cầy, lập Trung tâm Bác Ái ở Lái Thiêu; năm 1968, xây dựng trường Thánh Giuse; năm 197 tiếp nhận Dòng Con Đức Mẹ từ Cambodia về định cư tại Phú Cường; năm 1972, xây dựng Tòa Giám mục và năm 1974 xây dựng Tu viện Lời Chúa lo cho công cuộc truyền giáo Về tinh thần, Giám mục đã tổ chức sinh hoạt giáo phận theo tinh thần và đường hướng của Công đồng Chung Vatican II.[43; 36]

Các giáo xứ, giáo họ tỉnh Sông Bé cơ bản thuộc giáo phận phú Cường quản lý Đến năm 1974, giáo phận Phú Cường có 5 494 giáo dân trên tổng số

887 56 người trong 49 giáo xứ; họ đạo và 58 linh mục; 3 đại chủng sinh; 35 nam tu s ; 171 nữ tu; 5 trường trung, tiểu học; 13 cơ sở từ thiện bác ái 43; 36]

Giáo phận Phú Cường được thành lập giữa lúc chiến tranh đang hoành hành dữ dội Từ ngày thành lập đến năm 1975, giáo phận nằm trong những v ng chiến hu trọng điểm nổi tiếng luôn xảy ra nhiều chiến trận ác liệt như: chiến hu

Đ, Dương Minh Châu, v ng Tam Giác Sắt, địa đạo Củ Chi hoặc trận chiến Bình Long đỏ lửa, căn cứ Phạm H ng và Trung ương cục R ở Xamat Tân Biên

Nhìn chung, thời ì 1954 đến năm 1975, các xứ đạo đã được thành lập và chủ yếu nằm bao quanh các căn cứ quân sự, án ngữ các nút giao thông chỉnh yếu của quốc lộ 13, 14, mặc d được chính quyền Sài Gòn ưu ái nhưng cũng hông

Trang 33

tránh hỏi ảnh hưởng của chiến tranh tàn phá, hoạt động tôn giáo bị xáo động và

số lượng giáo dân giảm dần, có giáo xứ, giáo họ còn bị xóa tên Giai đoạn này, tín đồ công giáo phân hóa theo hai hướng chính: một số nhỏ là bị chính quyền Sài Gòn lợi dụng, lôi éo biến họ thành lực lượng xung ích trong việc thực hiện

âm mưu chia cắt đất nước, chống lại phong trào yêu nước Hai là, tín đồ Công giáo ủng hộ cách mạng, chiến đấu bảo vệ đất nước

Hoạt động tôn giáo của một số giáo xứ trong tỉnh Sông Bé từ năm 1954 –

1975 đã có những bước thăng trầm c ng với hoàn cảnh lịch sử như:

Tại giáo xứ Lộc Ninh nằm phía Bắc của Giáo phận Phú Cường, tiếp giáp

một phần với đất Campuchia

Vào đầu thế ỷ XX, nơi đây vẫn còn là một v ng đất hoang sơ, rừng rú, dân cư sống rải rác ít người gồm người Kinh, đồng bào S tiêng, Khmer, Châu Ro, Châu Mạ, do đất đỏ Bazan rất thích hợp để trồng cây công nghiệp, nên năm

1911, người Pháp đã đến Lộc Ninh hai hẩn đất để lập đồn điền trồng cao su, công ty Socíeté des Caout-Choues đã ra đời từ đó

Số nhân công tại địa phương quá ít ỏi, hông đủ đáp ứng nhu cầu cho công việc nên chủ đồn điền đã phải tuyển mộ thêm từ những v ng xa xôi hác, từ miền Bắc Thái Bình, Nam Định, Sơn Tây…) đến miền Trung Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam ) đã lũ lượt về Lộc Ninh c ng với dân Nam bản địa tạo thành một đội ngũ công nhân đông đảo hoảng hơn 2 người

Để tiện quản lý và đạt ết quả cao trong công việc về mặt hành chánh, chia thành 1 hu, thường gọi là làng - về mặt tinh thần, trong m i làng, họ cho xây một ngôi nhà thờ nho nhỏ để công nhân đến đọc inh cầu nguyện Ngôi Nhà thờ Lộc Ninh đầu tiên được xây ở làng 3 Trong thời gian này, linh mục Gioan B

Lê Quang Bạch ở Quản Lợi thường xuyên lên làm mục vụ cho Lộc Ninh

Để xứng với một làng trung tâm có dân mộ phu miền Bắc đa số là người Công giáo thì việc xây dựng một ngôi nhà thờ lớn và hang trang hơn để dân các làng tập trung về dự lễ ngày Chúa Nhật và những ngày lễ trọng là điều hợp lý và cần thiết, nên chủ hãng đã cho xây dựng ngôi Nhà thờ Lộc Ninh thứ 2 với cơ sở vật chất há đầy đủ cho một chính xứ vào năm 1954

Trang 34

C ng năm đó, hiệp định Genève được ý ết 2 7 1954) chia đôi hai miền Nam - Bắc, Antoine Vitte, một Linh mục thừa sai MEP) đang ở Hà Nội, đã theo dòng người di cư từ Bắc vào Nam Năm 1955, Ông được Tòa Giám mục Sài Gòn bổ nhiệm làm Cha sở Lộc Ninh Từ hi có linh mục coi sóc, Giáo xứ Lộc Ninh chính thức được thành lập, chọn Đức Mẹ Vô Nhiễm làm bổn mạng của Giáo xứ Đồng thời cũng thành lập nhiều hội đoàn như: hội Con Đức Mẹ, hội Thánh Giuse, hội Thánh Vinh Sơn, Legio Mariae, Thiếu nhi Thánh Thể, Ca đoàn Cêcilia

Lễ Thánh Thể được tổ chức rất lớn hàng năm, Mình Thánh Chúa được iệu trọng thể trên những con đường lớn của v ng Lộc Ninh Là một thừa sai nên hoạt động từ thiện, mở mang truyền giáo cũng được cha sở đặc biệt quan tâm, những người nghèo bất ể lương giáo, bất ể sắc tộc, m i thứ năm hàng tuần đều được cấp phát nhu yếu phẩm, thuốc men, y phục; những nạn nhân chiến cuộc cũng được ngài lưu tâm cứu chữa rất nhiều, đặc biệt là những bệnh nhân phong

c i Mặt hác, cha xứ cũng đã xây dựng lại chợ Lộc Ninh sau hi chợ cũ bị chiến tranh tàn phá

Năm 197 , linh mục Antôn Vitte được giám mục Giuse Phạm Văn Thiên

bổ nhiệm về Giáo xứ Tích Thiện, thuận tiện lập làng c i Sốc Bế Linh mục Tôma Phan Minh Chánh được bổ nhiệm làm Cha xứ Lộc Ninh

Tháng 01/1972, khi linh mục Tôma Chánh được giám mục Giuse Phạm Văn Thiên bổ nhiệm về làm Cha sở Tân Châu, thì linh mục Giêrônimô Đàm Quang Quý được ngài bổ nhiệm phụ trách xứ Lộc Ninh, Cha sở mới ở được hoảng 3 tháng thì chiến cuộc b ng nổ dữ dội, linh mục trở về Tòa Giám Mục đúng một ngày thì Lộc Ninh được giải phóng

Kể từ đó, Giáo xứ Lộc Ninh hông có chủ chăn, công việc cuộc sống lại

bế tắc, giáo dân sống đạo âm thầm và luôn lo sợ bom đạn chiến tranh Hậu quả của chiến tranh là đau thương và mất mát, giáo dân v ng Lộc Ninh hói lửa cũng chịu chung số phận, những ngôi nhà thờ người Pháp xây dựng trong các làng hầu hết đều bị bom đạn tàn phá, nguyên vẹn chỉ còn lại Nhà thờ Lộc Thiện làng 1)

và Nhà thờ Lộc Tấn làng 5), Nhà thờ Lộc Ninh tuy chỉ bị hư hại một phần

Trang 35

nhưng do quân đội giải phóng đóng quân tại đó nên giáo dân hông tiện đến đây đọc inh cầu nguyện Giáo dân cũng tản mác hắp nơi vì bom đạn vẫn thường xuyên thả trên mảnh đất này, rất nhiều người đã tìm cách ra hỏi v ng giải phóng

để tìm đến những nơi an toàn hác sinh sống và giữ đạo Giáo xứ Lộc Ninh hầu như ch ng còn sinh hoạt trong những năm sau đó.[39; 136-137]

Tại giáo xứ T n Ch u, Ấp Thủ Chánh, Thị trấn Chơn Thành, Bình Long:

Tháng 3 196 , hoàn thành ngôi nhà nguyện đầu tiên, rộng 6m, dài 1 m, mái tranh vách đất Đầu năm 1961, hởi công xây dựng nhà thờ Cuối năm 1961, hoàn thành nhà thờ đầu tiên, mái tôn vách ván Song song với việc xây dựng nhà thờ, cha xứ thành lập các hội đoàn theo từng lứa tuổi: Ngh a Binh Thánh Thể Thiếu nhi); Con Đức Mẹ Thanh niên, nữ); Thanh Lao Công Thanh niên nam); Đoàn Ái Trợ Gia trưởng); Đoàn Hiền mẫu Hiền mẫu); Đoàn liên minh Thánh Tâm các ông, bà lão); Hội Lêgio Mariae; Hội Đạo Binh Xanh

Tháng 06/1963, linh mục Gioan M Phan Công Bình được thuyên chuyển

về xứ Kim Thượng Gia Kiệm Long Khánh) và linh mục Antôn Phan S Nguyên

về nhận xứ Tân Châu

Năm 1964, linh mục Antôn Phan S Nguyên làm lại nhà xứ và ổn định mọi sinh hoạt của Giáo xứ.Tháng 01/1968, vì chiến tranh ngày càng tàn hốc, Giáo xứ Tân Châu phải rời Xóm Ruộng để di chuyển ra cạnh quốc lộ 13 cách Chơn Thành 4 m về hướng Nam Đầu năm 197 , xây dựng và mở trường trung học thăng tiến cho con em trong xứ và cả hu vực Chơn Thành

Đầu năm 1971, linh mục Phanxicô Ngô Viết Năng được Tòa Giám Mục

bổ nhiệm về làm Cha phó Năm 1973, linh mục Antôn Phan S Nguyên được Tòa Giám mục bổ nhiệm làm bề trên Tu viện Lời Chúa và linh mục Phanxicô Xaviê Ngô Viết Năng trở thành cha Chánh xứ Tân Châu Cuối năm 1974, vì lý do chiến tranh, giáo dân đã di tản trong một thời gian ngắn 39; 124-125]

Tại giáo xứ Thượng Phúc, xã Lạc An, huyện Tân Uyên: Biến cố thời cuộc

1954 đã đưa nhiều xứ đạo từ miền Bắc vào miền Nam lập nghiệp Lạc An, Tân Uyên, Biên Hoà nay thuộc Bình Dương), lúc đó đây là miền đất hoang vu nằm cạnh con sông Đồng Nai hiền hoà, dân cư thưa thớt Do địa bàn có sông nước và

Trang 36

ruộng đồng nên linh mục Đaminh Đinh An Khang và bà con giáo dân đã dừng chân chọn v ng đất này làm nơi lập nghiệp

Giáo xứ gồm họ nhà xứ và nhiều họ trong 24 giáo họ như: Cam Châu, Khúc Mai, Đông Hà, Đông Hồ, Đông T nh, Duyên Trữ lập nên một giáo xứ mới với tên gọi là Thượng Phúc Tên gọi này là tên của nhà xứ ở miền Bắc, Giáo Phận Thái Bình Linh mục Đaminh Đinh An Khang là cha xứ tiên hởi của giáo

xứ mới, giáo dân lúc đó hoảng chừng 3 người, thuộc giáo phận Sài Gòn

D nhiều hó hăn, nhưng ngay lễ Phục Sinh đầu tiên trên đất miền Nam: tháng 2 năm 1955, những gì cần cho một giáo xứ đã hình thành: linh mục Đaminh Khang đã dựng nên một ngôi nhà thờ bằng tranh tre vách lá, c ng với những ngôi nhà tranh vách đất của bà con giáo dân được dựng lên

Năm 1956 có 2 đợt di dân đi Rạch Giá, Lâm Đồng, nhiều xứ đạo như Bích

Du, Vạn Đồn đi tìm đất hứa, bà con Thượng Phúc hoảng một nửa cũng ra đi Giáo xứ Hà Xá qua sông để lập nghiệp, còn lại một số bà con giáo xứ Hà Xá ở lại thành một hu họ Lúc này giáo xứ Thượng Phúc có bốn giáo hu: hu Văn Côi,

hu Mông Triệu, hu Vô Nhiễm và hu Hà Xá Đông giáp giáo xứ Vân Đồn, Tây giáp giáo xứ Ngọc Đồng, Nam giáp sông Đồng Nai, Bắc giáp rừng

Vừa xây dựng ổn định giáo xứ, thì ngày 2 9 1957, linh mục Đaminh vâng lời bề trên chuyển đến trông coi giáo xứ Ngọc Đồng, Lạc An và linh mục Hoàng Duy Thanh về giáo xứ với tinh thần hăng say của một linh mục trẻ, cương trực, tháo vát Ngài bắt tay vào việc xây dựng các hội đoàn, củng cố sự đoàn ết Chỉ một thời gian ngắn sau hi nhận chức, vào năm 1958, ngài đã phát động xây dựng ngôi thánh đường cột èo g vuông, xây tường bán iên cố Đặc biệt ngài

đã xây tháp hông iến trúc sư, hông sư, hông sắt thép đứng vững gần 5 năm ể cả thời bom đạn Cũng thời gian này, ngôi nhà xứ chạy dài lợp ngói, xây

tô cũng được hoàn thành

Năm 196 , chiến tranh càng ác liệt, đời sống ngày một hó hăn, một số đông giáo dân tìm về thành thị sinh sống, trong đó có giáo xứ Vân Đồn chỉ còn lại một số ít bà con giáo dân được sáp nhập vào giáo xứ Thượng Phúc lập thành hai giáo hu: hu Vân Am và hu Đức Tường Như vậy, từ thời điểm trên, giáo

Trang 37

xứ Thượng Phúc gồm 6 giáo hu: giáo hu Vân Am, giáo hu Đức Tường, giáo

hu Văn Côi, giáo hu Mông Triệu, giáo hu Vô Nhiễm và giáo khu Hà Xá

Năm 1966, do tình hình inh tế m i ngày thêm hó hăn, đất đai canh tác ngày một thu hẹp vì chiến tranh, đường xá lưu thông hó hăn, cách sông cách

đò, nên linh mục Hoàng Duy Thanh đã đưa một số bà con giáo dân tình nguyện

về v ng Bà Quẹo, quận Tân Bình, để lập nghiệp Nơi đây giờ đã trở thành một giáo xứ lên tới 1 giáo hữu, mang tên giáo xứ Văn Côi, Bình Thuận thuộc Tổng Giáo phận Thành Phố Hồ Chí Minh

Trong thời gian này Giáo xứ Thượng Phúc được linh mục Giuse Phan Quang Tú ở Ngọc Đồng và linh mục Đaminh Trần Trung Trực ở Hoàng Châu quản nhiệm Ngày 14 tháng 9 năm 1967, linh mục Giuse Nguyễn Ngọc Ban được Đức Giám Mục sai về làm chính xứ Mặc dầu còn nhiều hó hăn, chiến cuộc rất

ác liệt với biến cố Mậu Thân, lòng người lo âu ngao ngán nhưng ngài vẫn động viên hích lệ mọi người củng cố các hội đoàn Đặc biệt ngài vận động trong và ngoài xứ tr ng tu lại Thánh Đường, nâng cao nhà thờ lên 1m

Ngày 1 tháng 1 năm 197 , linh mục Giuse đi giáo xứ Chơn Thành và linh mục Phêrô Lưu Đức Tân được bổ nhiệm về Thượng Phúc; đây là thời điểm bom rơi, đạn nổ chết chóc, giao tranh ác liệt, ngày đêm người người nơm nớp lo

sợ Có linh mục là ch dựa tinh thần làniềm an ủi cho dân Chúa Rồi biến cố tháng 8 năm 1974 giao tranh b ng nổ toàn bộ Xã Lạc An gồm 8 xứ đạo do bom đạn cày xới đổ nát, giáo dân phải di tản Thời gian sau loạn lạc trở về chưa ịp xây dựng lại thì giải phóng 3 tháng 4 năm 1975; có thể nói linh mục Phêrô đã đồng lao cộng hổ với đoàn chiên trong những năm hết sức hó hăn và ngày 03 tháng 5 năm 1975, linh mục rời giáo xứ.[35, 4-6]

Tại giáo xứ à Trà: Nhà thờ Bà Trà đã được xây dựng từ năm 1941 do

linh mục Robert Keller, một linh mục thuộc hội Thừa Sai Ba Lê MEP), lúc đó đang làm cha sở họ đạo Búng thực hiện Lúc đầu, họ đạo Bà Trà trực thuộc họ đạo Búng, c ng với các họ Bến Sắn, Bình Sơn Ngày 14 1 1965, giáo phận Phú Cường đựơc thành lập, tách ra từ tổng giáo phận Sài Gòn, họ đạo Bà Trà trực thuộc giáo xứ Chánh Toà Phú Cường Vì là một họ đạo nhỏ với một số ít gia đình

Trang 38

Công giáo sống rải rác thụôc hu vực Bình Chuẩn và Tân Phước Khánh, nên trước đây họ đạo Bà Trà đựơc trao cho rất nhiều cha quản nhiệm coi sóc Hằng tuần các cha chỉ đến dâng một thành lễ vào sáng Chúa Nhật với một vài chục tín hữu dự lễ Việc phục vụ và coi sóc nhà thờ đựơc trao cho các dì Mến Thánh Giá Thủ Thiêm với sự cộng tác của một vài gia đình sống chung quanh nhà thờ

Tại giáo xứ ình ơn Thuận An): Thời ỳ Trịnh Nguyễn phân tranh, ở

Quảng Ngãi có ông Nguyễn Văn Bình, sau hi thi đ bản Nhãn, được cử giữ chức Tri Châu, làm quan trong thời loạn lạc, nhiều phe đảng mạnh hiếp yếu, giàu lấn lướt nghèo, số ít người Công Giáo, đặc biệt những người Kitô hữu làm quan,

bị đa số lương dân e đè, nên ông Bình sau 12 năm ở quan trường, cáo bệnh từ chức chuyển qua ngành y dược hiệu Đức Trọng) M i năm, ông thường theo ghe vào Nam trị bệnh, bán thuốc với mộng di cư vào Nam lập nghiệp để dễ bề giữ đạo

Sau hi định cư lập nghiệp được ổn định, hoảng năm 18 2, Ông trở về quê để êu gọi bà con thân thuộc c ng vào Nam lập nghiệp, và đã lập lên xã Hưng Định tên hai người con của ông Bình: cô hai Hưng và anh ba Định) Họ Búng cũng được thành lập gắn liền với Xã Hưng Định

Ngôi thánh đường đầu tiên tọa lạc trên diện tích ,4 ha, cách sông Sài Gòn 1 m, dài chừng 16m, rộng:1 m, cao: 5m, xung quanh ghép ván cây, cao 2m Vào Chúa Nhật đầu tháng, có linh mục Họ đạo Búng đến dâng Thánh lễ

Khi Giáo phận Phú Cường được thành lập cuối năm 1965, linh mục Giuse Phạm Văn Thiên, Giám đốc Đại Chủng viện Thánh Giuse - Sài Gòn, sau khi được nhận chức Giám mục, về nhận địa phận Phú Cường ngày 11 1 1966, Ngài nhận thấy Bình Sơn, một môi trường, một thí điểm truyền giáo, một địa bàn hoạt động rộng lớn, nên đã đặt cử linh mục Giuse Nguyễn Văn Cung, Giám đốc Công Giáo tiến hành địa phận, đến đây mở mang cơ sở văn nhân

Giáo xứ Bình Sơn, trước là họ nhánh của Giáo xứ Búng, dân số vỏn vẹn

2 người là Công Giáo Do Giáo xứ nằm ở địa điểm phức tạp về an ninh và giao

thông; thêm vào đó, nhu cầu truyền giáo được đặt ra trong giáo phận, nên vào

Trang 39

ngày 19 2 197 , Giáo xứ Bình Sơn đã chính thức thành lập theo quyết định của Đức Giám mục Giuse Phạm Văn Thiên

Đức Giám mục Giáo phận Phú Cường đã chính thức bổ nhiệm linh mục Giuse Nguyễn Văn Cung làm Cha sở đầu tiên của Giáo xứ Bình Sơn ể từ ngày nói trên

Tại nhà thờ Chánh Thiện, Hiệp Thành, Thủ Dầu Một: Họ đạo Chánh

Thiện cũng như Họ đạo M Hảo, Bà Lụa và Long Cầu, là những họ nhánh của Nhà thờ Thủ Dầu Một Phú Cường ngày nay)

Quả chuông Nhà thờ Chánh Thiện có ghi niên hiệu 1874, những người cao niên tới tuổi 97 cũng hông r gốc tích Họ đạo đã cưu mang mình, chỉ nghe truyền hẩu thuở xa xưa Người ta ể lại rằng, trước hi là họ nhánh của Nhà thờ Thủ Dầu Một, thời linh mục Joseph Poinat cố Oai, 1878), Họ đạo Chánh Thiện

đã thuộc quyền coi sóc của linh mục thừa sai Chánh xứ Lái Thiêu Theo lời của

cụ cố Phan Văn Lân, thân phụ linh mục Tôma Phan Minh Chánh, ông Nguyễn Văn Bảy, biện họ lâu đời, và ông Trần Văn Biết cho biết, hàng tháng Ban hành giáo phải thuê xe ngựa đón Cha xứ Lái Thiêu về dâng lễ ngày Chúa Nhật Lúc

đó, tuy đã có một nhà nguyện tọa lạc tại địa điểm Ủy ban Nhân dân tỉnh hiện nay, nhưng chỉ dành riêng cho các quan chức và quân nhân người Pháp dự lễ Chúa Nhật, lễ trọng do linh mục tuyên úy người Pháp từ Biên Hòa về dâng lễ Giáo dân người Việt hông được đến dự lễ tại nhà thờ của các quan tây Từ ngày thuộc quyền coi sóc của Cha xứ Thủ Dầu Một, giáo dân đi bộ ra nhà thờ này để dự lễ Khi có Tiểu Chủng viện Thánh Giuse, các cha giáo thay phiên nhau vào dâng lễ Giáo dân rất thưa thớt, chừng trên dưới 4 gia đình

Năm 197 , linh mục Stêphanô Nguyễn Văn Ri phụ trách Họ đạo, nhưng chỉ tới dâng lễ và làm mục vụ rồi trở về Tòa Giám mục Năm 1974, ngài đứng ra iến thiết ngôi nhà thờ thứ ba tại địa điểm hiện nay

Nhà thờ đầu tiên lợp tranh, tọa lạc trên gò bị thiêu rụi trong biến cố 1945 Tới năm 1947, bà Hai Lư, gia đình bác s Hạnh gốc chánh Thiện đi làm ăn phương xa, dâng đất làm nhà thờ thứ hai bằng g , lợp ngói tại thửa đất đã một thời d ng làm lò gốm Họ đạo Chánh Thiện có từ lâu đời, tuy nhiên, chậm phát

Trang 40

triển vì ruộng ít, đất gò công tác năng xuất thấp, thời háng chiến thiếu an ninh, nhất là chưa có xí nghiệp nào Những người há giả đua nhau đi lập nghiệp tại Sài Gòn, Biên Hòa, Thủ Dầu Một

Tại giáo xứ Long Hòa, Dầu Tiếng: Được hình thành từ 1959, với tên gọi

Giáo Xứ Thị Tính, với số tín hữu là 3 người, do một Linh mụctên là Đông hông r tên họ tên thánh) phụ trách

Đến năm 1961 linh mu Giuse Nguyễn Đình Trọng về phụ trách làm chánh

xứ thay cho linh mục Đông Ngôi thánh đường của Giáo xứ hi ấy đuợc xây dựng, toạ lạc đối diện với ngôi nhà thờ hiện nay

Năm 1963, do chiến tranh ác liệt, nhiều người dân phải di tản đi nơi hác, nhà thờ bị tàn phá chỉ còn lại nền gạch đổ nát

Từ 1975, chiến tranh chấm dứt, dân từ nhiều nơi đến lập nghiệp Tuy nhiên số dân hông nhiều, và sống rải rác Đất đai do lâu năm hông người ở đã trở thành rừng Giáo dân sống chen lẫn giữa những người hông Công giáo, hông tổ chức sinh hoạt đạo được, hông có Linh mục, có chăng chỉ là đọc inh trong gia đình

Tại giáo xứ Lễ Trang: Năm 1954, làng Công Giáo Kẻ Riền c ng với linh

mục Đaminh Trần Ngọc Trác di cư vào Nam; sau 7 năm tìm đất, cha con định cư tại Dinh Điền Lễ Trang Giáo xứ Lễ Trang được thành lập vào hoảng đầu năm

1961

Năm 1963, nhà thờ được hởi công xây dựng và được làm phép hánh thành năm 1964, do Đức Tổng Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình chủ sự Trải qua hơn 4 năm do chiến tranh và thiên tai, nhà thờ phải gia cố tr ng tu nhiều lần nhưng vẫn giữ được đường nét cũ cho đến nay

Phía Đông giáp Giáo xứ Phước V nh và Giáo Xứ Truyền Tin Bàu Ao, phía Nam giáp Giáo xứ V nh Hòa, phía Tây giáp Giáo xứ Kỉnh Nhượng và Giáo

Xứ Tân Hiệp Lúc mới thành lập, Giáo xứ có 1.2 người, nhưng năm 1972, linh mục Đaminh Trần Ngọc Trác lại đưa con chiên về Xuân Lộc Duyên Lãng chỉ còn lại 25 gia đình

Ngày đăng: 21/06/2021, 21:46

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm