Các nghiên cứu trong thời gian gần đây về lĩnh vực du lịch đã cho thấy: để phát triển du lịch thì hình ảnh điểm đến du lịch đóng một vị trí cực kỳ quan trọng.. Một điều nữa trong bối cản
Trang 1Mã số: 8340101
BÌNH DƯƠNG – 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Kính thưa quý Thầy Cô, tôi là Huỳnh Cẩm Hằng, học viên cao học khoá 03, trường đại học Thủ Dầu Một Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, tôi đã tự nghiên cứu, tìm hiểu vấn đề trực tiếp, thu thập thông tin và xử lý
dữ liệu thống kê thông qua sự hướng dẫn khoa học của thầy TS Bảo Trung Kết quả nghiên cứu đưa ra trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã có từ trước Các nguồn dữ liệu khác được sử dụng trong luận văn đều có ghi nguồn trích dẫn và xuất xứ
Bình Dương, Ngày 27 tháng 04 năm 2019
Người thực hiện luận văn
Huỳnh Cẩm Hằng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình cao học và luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ
và góp ý nhiệt tình của các thầy cô của trường Đại Học Thủ Dầu Một Tôi xin bày
tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến quý thầy, cô giáo trong khoa Quản trị kinh doanh cùng toàn thể các thầy cô giáo đã trực tiếp tham gia giảng dạy, tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học vừa qua
Trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới TS Bảo Trung, người đã trực tiếp và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành bài luận văn này
Đồng thời tôi xin cảm ơn đến các nhân viên của Sở Thể thao – Văn hóa và
Du lịch tỉnh Bình Dương, các chuyên viên, các anh chị trong lĩnh vực du lịch đã tạo điều kiện để có dữ liệu để viết luận văn
Mặc dù tôi đã cố gắng hoàn thiện luận văn bằng tất cả nhiệt tình và năng lực của mình, tuy nhiên luận văn chắc không thể tránh được thiếu sót, mong nhận được những đóng góp quý báu của các thầy cô
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Bình Dương, ngày tháng năm 2019
Học viên
Huỳnh Cẩm Hằng
Trang 5MỤC LỤC
CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung: 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể: 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
1.6 Kết cấu luận văn 3
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 4
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 5
2.1 Tổng quan về du lịch 5
2.1.1 Khái niệm về du lịch 5
2.1.2 Sản phẩm du lịch 6
2.1.3 Khách du lịch 8
2.1.4 Các loại hình du lịch 8
2.1.5 Các điều kiện về phát triển du lịch 11
2.2 Hình ảnh điểm đến du lịch 12
2.2.1 Khái niệm về hình ảnh điểm đến du lịch 12
2.2.2 Các điều kiện của hình ảnh điểm đến 14
2.2.3 Các nhân tố tạo nên hình ảnh điểm đến du lịch 16
2.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hình ảnh điểm đến du lịch 26
2.3 Các nghiên cứu có liên quan 28
2.3.1 Mô hình nghiên cứu hình ảnh điểm đến du lịch của Fakeye và Crompton 28
2.3.2 Mô hình nghiên cứu hình ảnh điểm đến của Hu và Ritchie 28
Trang 62.3.3 Mô hình nghiên cứu mối quan hệ hình ảnh điểm đến và hành vi của du
khách của Chon 29
2.3.4 Mô hình nghiên cứu thuộc tính đánh giá khả năng thu hút du khách của điểm đến Huế của hai tác giả Bùi Thị Tám và Mai Lệ Quyên 30
2.3.5 Mô hình nghiên cứu hành vi và đánh giá của khách du lịch nội địa đối với điểm đến Đà Nẵng của Hồ Kỳ Minh, Nguyễn Thị Bích Thủy, Nguyễn Việt Quốc 31
2.3.6 Nghiên cứu các yếu tố quyết định sự hài lòng và sự sẵn lòng quay lại của khách nội địa đối với du lịch tỉnh Sóc Trăng của Hồ Lê Thu Trang và Phạm Thị Kim Loan 32
2.3.7 Mô hình nghiên cứu đo lường hình ảnh điểm của du khách quốc tế đối với thành phố Đà Nẵng của tác giả Nguyễn Thị Bích Thủy 33
2.4 Giả thuyết và mô hình nghiên cứu 34
2.4.1 Tài nguyên thiên nhiên 34
2.4.2 Tài nguyên du lịch nhân văn 35
2.4.3 Vui chơi giải trí, mua sắm 38
2.4.4 Bầu không khí du lịch 39
2.4.5 Ẩm thực 39
2.4.6 Cơ sở hạ tầng du lịch 39
2.4.7 Mô hình nghiên cứu đề xuất 40
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 41
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42
3.1 Quy trình nghiên cứu 42
3.2 Xây dựng thang đo 43
3.2.1 Tài nguyên thiên nhiên 43
3.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn 44
3.2.3 Vui chơi giải trí, mua sắm 44
3.2.4 Bầu không khí du lịch 45
3.2.5 Ẩm thực 45
3.2.6 Cơ sở hạ tầng du lịch 46
Trang 73.2.7 Đánh giá chung về hình ảnh điểm đến Bình Dương 46
3.3 Phương pháp lấy mẫu 47
3.4 Phương pháp phân tích 47
3.4.2 Phân tích độ tin cậy (hệ số Cronbach Alpha) 47
3.4.3 Phân tích nhân tố khám phá EFA 48
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 52
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 53
4.1 Tổng quan về ngành du lịch tỉnh Bình Dương 53
4.1.1 Khái quát tỉnh Bình Dương 53
4.1.2 Hiện trạng phát triển du lịch tỉnh Bình Dương 56
4.2 Kết quả nghiên cứu hình ảnh điểm đến dưới góc nhìn du khách 59
4.2.1 Mô tả mẫu khảo sát 59
4.2.2 Phân tích hệ số Cronbach’s alpha 61
4.2.3 Phân tích nhân tố khám phá EFA 64
4.2.4 Mô hình hiệu chỉnh sau khi phân tích nhân tố khám phá 66
4.2.5 Phân tích tương quan hồi qui tuyến tính bội 66
4.2.6 Thảo luận kết quả nghiên cứu 71
TÓM TẮT CHƯƠNG 4 73
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ 74
5.1 Kết luận Error! Bookmark not defined 5.2 Hàm ý quản trị Error! Bookmark not defined 5.2.1 Đối với tài nguyên du lịch nhân văn 74
5.2.2 Đối với ẩm thực 77
5.2.3 Đối với vui chơi giải trí, mua sắm 79
5.2.4 Đối với tài nguyên thiên nhiên 80
5.2.5 Đối với bầu không khí du lịch 81
5.2.6 Đối với cơ sở hạ tầng 82
5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu trong tương lai 83
TÓM TẮT CHƯƠNG 5 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
PHỤ LỤC 88
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Giai đoạn nghiên cứu đề tài 43
Bảng 3.2 Thang đo tài nguyên thiên nhiên 43
Bảng 3.3 Thang đo tài nguyên nhân văn 44
Bảng 3.4 Thang đo vui chơi giải trí, mua sắm 44
Bảng 3.5 Thang đo bầu không khí du lịch 45
Bảng 3.6 Thang đo ẩm thực 45
Bảng 3.7 Thang đo cơ sở hạ tầng 46
Bảng 3.8 Thang đo đánh giá hình ảnh điểm đến Bình Dương 46
Bảng 4.1 Lượng khách du lịch đến Bình Dương 2015-2018 57
Bảng 4.2 Thông tin mẫu nghiên cứu 60
Bảng 4 3 Hệ số Cronbach’s alpha các nhân tố ảnh hưởng đến nâng cao hình ảnh điểm đến Bình Dương 62
Bảng 4.4 Hệ số Cronbach’s alpha nhân tố đánh giá hình ảnh điểm 63
đến Bình Dương 63
Bảng 4.5 Ma trận xoay nhân tố lần 4 65
Bảng 4.6 Tổng hợp kết quả phân tích nhân tố đánh giá hình ảnh điểm đến Bình Dương 66
Bảng 4 7 Ma trận tương quan Pearson 67
Bảng 4.8 Kết quả phân tích hồi qui bội 68
Bảng 4.9 Tóm tắt mô hình (Model Summary b ) 70
Bảng 4.10 ANOVA b 71
Bảng 4.11 Kết quả kiểm định các giả thuyết 72
Trang 10DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 2.1 Mô hình quá trình hình thành hình ảnh điểm đến của du khách 28
Hình 2.2 Mô hình nghiên cứu hình ảnh điểm đến của Hu và Ritchie 28
Hình 2.3 Mô hình quan hệ hình ảnh điểm đến và hành vi khách hàng 29
Hình 2.4 Mô hình nghiên cứu khung lý thuyết về liên hệ giữa khả năng thu hút và khả năng cạnh tranh của điểm đến (TDCA, Vengesayi,S (2003)) 30
Hình 2.5 Các yếu tố du khách quan tâm khi lựa chọn điểm đến của Hồ Kỳ Minh, Nguyễn Thị Bích Thủy và Nguyễn Việt Quốc 31
Hình 2.6 Các yếu tố quyết định sự sẵn lòng quay lại của du khách nội địa 32
Hình 2.7 Mô hình nghiên cứu về hình ảnh điểm đến Đà Nẵng của Nguyễn Thị Bích Thủy 33
Hình 2 8 Mô hình nghiên cứu hình ảnh điểm đến Bình Dương của du khách 40
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu đề tài 42
Hình 4.1 Doanh thu du lịch tỉnh Bình Dương 2015-2018 57
Hình 4 2 Đồ thị phân tán phần dư 69
Hình 4.3 Biểu đồ tần số Histogram 70
Trang 11TÓM TẮT
Đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến hình ảnh điểm đến du lịch tỉnh Bình
Dương” nhằm đề ra những phương hướng thích hợp cho phát triển du lịch tỉnh
Song song đó, xem xét và đánh giá lại hình ảnh của du lịch Bình Dương trên thực tiễn để có một cái nhìn tổng quan và đề xuất các giải pháp giúp cho việc phát triển của du lịch Bình Dương đi đúng hướng hơn
Quy trình nghiên cứu đề tài gồm nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua phỏng vấn sâu với 5 chuyên gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực du lịch nhằm xác định thang đo cho phù hợp điều kiện thực tiễn ở Bình Dương, nghiên cứu định lượng khảo sát 250 bảng câu hỏi thông qua khách du lịch đến Bình Dương và sử dụng phần mềm SPSS để phân tích
dữ liệu
Với lợi thế về điều kiện tự nhiên, cùng với bàn tay xây dựng của con người đã tạo cho Bình Dương nhiều danh lam, thắng cảnh đẹp, các di tích lịch sử - văn hóa - kiến trúc nghệ thuật nổi tiếng, các ngôi chùa cổ kính, làng nghề truyền thống, lễ hội đặc trưng Bình Dương còn nằm trong lưu vực ba con sông lớn gồm: sông Sài Gòn, sông Đồng Nai và sông Bé, mang nặng phù sa tạo nên những cù lao xanh mát, những vườn trái cây tươi tốt, trĩu quả, cùng với các món ăn ẩm thực hấp dẫn, các loại hình dịch vụ được đầu tư xây dựng quy mô hoành tráng, đáp ứng nhu cầu vui chơi, giải trí, nghỉ dưỡng của du khách Mặc dù tiềm năng du lịch của Bình Dương rất lớn, tuy nhiên trong những năm qua, ngành Du lịch Bình Dương phát triển chưa tương xứng Sản phẩm du lịch chưa thực sự hấp dẫn và chưa tạo được sự khác biệt, khả năng cạnh tranh chưa cao, đóng góp cho kinh tế còn thấp
Dựa trên kết quả khảo sát và phân tích tác giả sẽ đưa ra các giải pháp nhằm đánh thức các tiềm năng du lịch của tỉnh, góp phần nâng cao hình ảnh điểm đến Bình Dương
Trang 12CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Lý do chọn đề tài
Trong xu hướng toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, ngành du lịch Việt Nam cũng đã có sự phát triển khá nhanh và ngày càng có tác động tích cực hơn đến nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội đất nước Du lịch được xác định là một ngành kinh tế có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân
và đang hội nhập với trào lưu phát triển du lịch của khu vực và thế giới
Các nghiên cứu trong thời gian gần đây về lĩnh vực du lịch đã cho thấy: để phát triển du lịch thì hình ảnh điểm đến du lịch đóng một vị trí cực kỳ quan trọng Xây dựng được một hình ảnh theo đúng nghĩa của nó là một trong những cách trung thực nhất để giới thiệu địa điểm du lịch đến với tất cả mọi người có nhu cầu hay chưa có nhu cầu đi du lịch, sẽ cho họ một cái nhìn cũng như gợi mở khả năng nhu cầu của họ khi có điều kiện
Hình ảnh điểm đến du lịch là sự phản ánh đặc điểm về các vật thể hoặc văn hoá của một nơi mà khách du lịch cảm thấy đáp ứng một khía cạnh nhu cầu tò mò, thưởng ngoạn, hiểu biết tài nguyên hoặc giải trí của mình Hình ảnh điểm đến là động lực chủ yếu thu hút khách du lịch Một khu vực cần phải có một hoặc nhiều điểm đến hấp dẫn là điểm đến du lịch, nếu không có các điểm đến hấp dẫn sẽ không
có nhu cầu về các dịch vụ du lịch khác
Bình Dương là một tỉnh thuộc khu vực Đông Nam Bộ nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Đây là địa phương có tiềm năng du lịch tương đối đa dạng, Bình Dương có những điều kiện khá thuận lợi để hình thành các loại hình sản phẩm
du lịch dịch vụ phù hợp với nhu cầu thị trường khu vực trọng điểm kinh tế phía Nam như Đồng Nai, thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa – Vũng Tàu Trong những năm vừa qua, hoạt động du lịch Bình Dương nhìn chung có những bước phát triển tương đối mạnh, đạt được những kết quả ban đầu đáng khích lệ Tuy nhiên, ngành
du lịch Bình Dương còn tồn tại một số bất cập như: một số khu vực đang phát triển
tự phát với qui mô nhỏ lẻ ảnh hưởng không nhỏ đến tính bền vững và thương hiệu
du lịch của tỉnh, thị trường du lịch dịch vụ chưa phát triển tương xứng với những
Trang 13điều kiện thuận lợi về vị trí địa lí kinh tế, vai trò của du lịch chiếm tỷ trọng còn thấp trong cơ cấu kinh tế, hoạt động kêu gọi đầu tư phát triển du lịch theo quy hoạch còn chậm, chưa đạt hiệu quả cao, cơ cấu đầu tư du lịch chưa cân đối do đó sản phẩm du lịch đơn điệu
Để khai thác những ưu điểm và hạn chế tối đa những khuyết điểm nhằm phát triển du lịch tỉnh Bình Dương ta phải tìm hiểu rõ hiện trạng du lịch để từ đó có thể
đề ra những phương hướng thích hợp cho phát triển du lịch tỉnh Song song với việc
đó, chúng ta cũng rất cần xem xét và đánh giá lại hình ảnh của du lịch Bình Dương trên thực tiển để có một cái nhìn tổng quan và đề xuất các giải pháp thích hợp giúp cho việc phát triển của du lịch Bình Dương đi đúng hướng hơn Một điều nữa trong bối cảnh cạnh tranh các điểm du lịch của các tỉnh bạn, đã và đang ngày càng phát triển thì yêu cầu ngành du lịch Bình Dương có những nghiên cứu về du lịch, trong
đó nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến hình ảnh điểm đến du lịch tỉnh Bình
Dương” là một trong những nghiên cứu cần thiết và đúng lúc
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Các nhân tố nào ảnh hưởng đến hình ảnh điểm đến du lịch tỉnh Bình Dương ? Các yếu tố hình ảnh điểm đến Bình Dương ảnh hưởng như thế nào đến du lịch tỉnh ?
Trang 14Các nhà quản trị cần làm gì để nâng cao hình ảnh của Bình Dương trong mắt du
khách ?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hình ảnh điểm đến của tỉnh Bình Dương
- Du khách là đối tượng khảo sát chính cho việc nghiên cứu đề tài
1.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Về mặt khoa học, đề tài kiểm định các yếu tố ảnh hưởng đến hình ảnh điểm đến để làm phong phú thêm khoa học hành vi về người tiêu dùng
Về mặt thục tiễn, luận văn góp phần giúp cơ quan quản lý nhà nước, các doanh nghiệp của tỉnh Bình Dương nói riêng và các địa phương khác nói chung tham khảo để có chính sách giải pháp thu hút khách du lịch
1.6 Kết cấu luận văn
Đề tài nghiên cứu gồm có 5 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị
Trang 15TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Trong chương 1 trình bày khái quát về đề tài như là: Lý do chọn đề tài mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu chung và mục tiêu cụ thể Chương này cũng trình bày về đối tượng và phạm vi nghiên cứu, nêu lên ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài góp phần giúp cơ quan quản lý nhà nước, các doanh nghiệp của tỉnh Bình Dương nói riêng và các địa phương khác nói chung tham khảo để có chính sách giải pháp thu hút khách du lịch Tác giả cũng trình bày bố cục luận văn gồm 5 chương
Trang 16CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
2.1 Tổng quan về du lịch
2.1.1 Khái niệm về du lịch
Du lịch đã trở thành một trong những hình thức sinh hoạt khá phổ biến của con người trong thời đại ngày nay Tuy nhiên, thế nào là du lịch xét từ góc độ của người du lịch và bản thân người làm du lịch, thì cho đến nay vẫn còn có sự khác nhau trong quan niệm giữa những người nghiên cứu và những người hoạt động trong lĩnh vực này
Theo Liên hiệp quốc tế các tổ chức lữ hành chính thức (International Union
of Official Travel Oragnization: IUOTO): Du lịch được hiểu là hành động du hành đến một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống,…
Tại hội nghị Liên Hiệp Quốc về du lịch họp tại Rome – Italia (21/8 – 5/9/1963), các chuyên gia đưa ra định nghĩa về du lịch: Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của
họ
Theo các nhà du lịch Trung Quốc: Hoạt động du lịch là tổng hoà hàng loạt quan hệ và hiện tượng lấy sự tồn tại và phát triển kinh tế, xã hội nhất định làm cơ
sở, lấy chủ thể du lịch, khách thể du lịch và trung gian du lịch làm điều kiện
Theo Tổ chức du lịch thế giới (World Tourism Organization): Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành tạm trú với mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc với mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm ở bên ngoài môi trường sống định cư nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền
Theo I I Pirogionic (1985): Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong
Trang 17thời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa
Theo Điều 4, Chương I, Luật du lịch Việt Nam năm 2005, ban hành ngày 14/6/2005: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định [7]
Nhìn từ góc độ thay đổi về không gian của du khách: Du lịch là một trong những hình thức di chuyển tạm thời từ một vùng này sang một vùng khác, từ một nước này sang một nước khác mà không thay đổi nơi cư trú hay nơi làm việc Nhìn từ góc độ kinh tế: Du lịch là một ngành kinh tế, dịch vụ có nhiệm vụ phục vụ cho nhu cầu tham quan giải trí nghỉ ngơi, có hoặc không kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác
Như vậy, chúng ta thấy được du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, bao gồm nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp Nó vừa mang đặc điểm của ngành kinh tế vừa có đặc điểm của ngành văn hóa – xã hội
2.1.2 Sản phẩm du lịch
Theo Luật du lịch năm 2005 của Quốc hội Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thoả mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch Dịch vụ du lịch là việc cung cấp các dịch
vụ về lữ hành, vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, thông tin, hướng dẫn
và những dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch Sản phẩm du lịch
là sự kết hợp những giá trị về vật chất lẫn tinh thần của một quốc gia, một địa phương, một cơ sở nào đó mà du khách đến hưởng thụ và trả tiền Sản phẩm du lịch bao gồm sản phẩm vật thể và phi vật thể, sản phẩm tự nhiên và nhân tạo.[7]
Quan điểm kinh tế hiện đại cho rằng sản phẩm du lịch bao gồm cả sản phẩm phi hình thể và sản phẩm hình thể vì đây là những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu
Trang 18của con người đi du lịch Cho nên sản phẩm du lịch vô cùng đa dạng phong phú, luôn phát triển đổi mới theo sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, lãnh thổ Như vậy, sản phẩm du lịch đều bao gồm một hổn hợp nhiều yếu tố cấu thành khác nhau Trong đó các yếu tố chính là; Những điều hấp dẫn và môi trường tại điểm đến; Các tiện nghi và dịch vụ tại điểm đến; Khả năng dễ tiếp cận của điểm
đến; Những hình ảnh và nhận thức về điểm đến; Giá đối với du khách.[5]
Những điều hấp dẫn và môi trường điểm đến là những yếu tố hợp thành ở điểm đến, quyết định phần lớn ở sự lựa chọn của du khách và ảnh hưởng đến các động cơ của những du khách triển vọng, bao gồm: Các điểm hấp dẫn tự nhiên; các
điểm đến hấp dẫn nhân tạo; các điểm đến hấp dẫn văn hóa; các điểm hấp dẫn xã hội
Các tiện nghi và dịch vụ tại điểm đến là những yếu tố cấu thành được đặt tại điểm đến hay được gắn liền với nó, cho phép du khách ở lại tại đó hay tận hưởng và tham gia những điểm hấp dẫn tại đây, chúng bao gồm: Các dịch vụ nơi ở; Nhà hàng, quán bar và café; Giao thông tại điểm đến; Hoạt động thể thao và giải trí; Các tiện
nghi khác; Các đại lý bán lẻ; Các dịch vụ khác
Khả năng dễ tiếp cận của điểm đến là những khía cạnh giao thông công cộng
và cá nhân của sản phẩm, quyết định đến chi phí, tốc độ và sự thuận tiện của một du khách từ khi rời nhà đến một điểm đến đã lựa chọn, chúng bao gồm: Cơ sở hạ tầng; Trang thiết bị giao thông; Các yếu tố hoạt động; Quy định của Chính phủ
Hình ảnh và nhận thức về điểm đến của du khách nó có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các quyết định mua lấy sản phẩm của họ Hình ảnh về điểm đến không nhất thiết có trong kinh nghiệm hay thực tế, nhưng chúng luôn là động cơ lớn trong du lịch và giải trí Hình ảnh và những mong đợi về các trải nghiệm du lịch được gắn
chặt trong tâm trí du khách triển vọng
Giá đối với du khách là tổng những chi phí đi lại, ăn ở và tham gia vào một loạt những tiện nghi và dịch vụ đã chọn Vì hầu hết các điểm đến đều cung cấp một loạt những điểm hấp dẫn đến một loạt phân khúc, nên giá trong các dịch vụ và lữ
hành cũng có nhiều mức độ khác nhau
Trang 19Như vậy, mỗi trong các yếu tố cấu thành sản phẩm du lịch, dù chúng được kết hợp hay hòa trộn trong trải nghiệm chung của du khách, trên thực tế đều có thể mở
rộng, ít nhiều đều biến động độc lập theo thời gian
2.1.3 Khách du lịch
Theo Luật Du lịch tại điều 4 khoản 2 nêu rõ: Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến [9]
Tuy nhiên, để làm rỏ khái niệm này thì cần phân tích từ nhiều nhân tố khác nhau và từ nhiều quan niệm, nghiên cứu khác nhau
Hiện nay, có không ít khái niệm về khách du lịch do nhiều quan điểm khác nhau, tuy vậy, khái niệm thông dụng thường được dùng: Khách du lịch là người đi
ra khỏi nơi cư trú để nghỉ ngơi, giải trí, tìm hiểu, tham quan, thưởng ngoạn, nghỉ dưỡng chữa bệnh,… trong một thời gian nhất định, có thể một hoặc nhiều ngày có chi tiêu chứ không vì lý do nghề nghiệp và kiếm sống ở nơi đến.[5]
Khách du lịch được phân chia thành hai nhóm cơ bản sau:
- Khách du lịch quốc tế: Theo quy định của Tổng cục du lịch Việt Nam:
"Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đến Việt Nam không quá 12 tháng với mục đích tham quan, nghỉ dưỡng, hành hương, thăm người thân, bạn bè, kinh doanh… trên lãnh thổ Việt Nam [10]
- Khách du lịch nội địa: "Khách du lịch trong nước là công dân Việt Nam, người nước ngoài định cư ở Việt Nam rời khỏi nơi ở của mình không quá 12 tháng
đi tham quan, nghỉ dưỡng, hành hương, thăm người thân, bạn bè, kinh doanh,… trên lãnh thổ Việt Nam".[10]
2.1.4 Các loại hình du lịch
Đối với ngành du lịch nói chung, việc đưa ra các loại hình du lịch là rất phong phú và đa dạng, ứng với mỗi tiêu chí phù hợp với mục đích, quan điểm khi nghiên cứu và ứng dụng trong thực tiển có thể đưa ra nhiều loại hình du lịch khác nhau Do
Trang 20vậy, cho đến nay chưa có một bản phân loại nào đầy đủ cả Với Việt Nam ta, nhiều
chuyên gia về du lịch phân chia các loại hình du lịch theo các tiêu chí như sau: [8]
* Theo môi trường tài nguyên:
- Du lịch văn hóa: Hoạt động chủ yếu diễn ra trong môi trường nhân văn, hoặc hoạt động đó tập trung khai thác tài nguyên du lịch nhân văn
- Du lịch thiên nhiên: Hoạt động chủ yếu diễn ra nhằm thỏa mãn nhu cầu về với thiên nhiên của con người
* Theo mục đích chuyến đi:
- Du lịch tham quan: Hoạt động mang tính hành vi quan trọng của con người
để nâng cao hiểu biết về thế giới xung quanh
- Du lịch giải trí: Hoạt động với mục đích thư giãn, xả hơi, bứt ra khỏi công việc thường nhật căng thẳng để phục hồi sức khỏe
- Du lịch nghỉ dưỡng: Hoạt động với mục đích phục hồi sức khỏe cộng đồng
- Du lịch khám phá: Khám phá thế giới xung quanh, do đó có thể chia ra thành
du lịch mạo hiểm (thể hiện nhu cầu tự thể hiện mình, tự rèn luyện mình, và khám phá bản thân, ) và du lịch tìm hiểu (tìm hiểu về môi trường, phong tục, lịch sử, )
- Du lịch thể thao: Tham gia vào các hoạt động thể thao với mục đích giải trí, không mang tính thi đấu chính thức
- Du lịch lễ hội: Để được tham gia vào các lễ hội, hòa mình vào không khí lễ hội cho những nhu cầu thư giản, giải trí, thể hiện của bản thân
- Du lịch tôn giáo: Kết hợp du lịch trong các chuyến đi vì mục đích tôn giáo
- Du lịch nghiên cứu (học tập): Kết hợp trong chuyến đi vì mục đích học tập, nghiên cứu
- Du lịch hội nghị: Kết hợp du lịch trong chuyến đi vì mục đích hội nghị
- Du lịch thể thao kết hợp: Kết hợp du lịch trong chuyến đi vì mục đích thể thao
- Du lịch chữa bệnh: Kết hợp du lịch trong chuyến đi vì mục đích chữa bệnh
- Du lịch thăm thân: Kết hợp du lịch trong chuyến đi vì mục đích thăm thân
Trang 21- Du lịch kinh doanh: Kết hợp du lịch trong chuyến đi vì mục đích kinh doanh
*Theo lãnh thổ hoạt động:
- Du lịch quốc tế: Bao gồm: Du lịch quốc tế đến và du lịch ra nước ngoài hoặc
du lịch đón khách quốc tế và du lịch gửi khách ra nước ngoài, về cơ bản có sử dụng ngoại ngữ và giao dịch bằng ngoại tệ
- Du lịch nội địa: Hoạt động tổ chức, phục vụ người trong nước đi du lịch, nghỉ ngơi và tham quan các đối tượng du lịch trong quốc gia, về cơ bản không có giao dịch bằng ngoại tệ
- Du lịch quốc gia: Bao gồm toàn bộ hoạt động du lịch của một quốc gia từ việc gửi khách ra nước ngoài đến việc phục vụ khách trong và ngoài nước tham quan, du lịch trong phạm vi nước mình
* Theo đặc điểm địa lý của điểm du lịch: Du lịch miền biển; Du lịch núi; Du
lịch đô thị; Du lịch thôn quê
* Theo phương tiện giao thông: Du lịch đi bộ; Du lịch bằng xe đạp; Du lịch
bằng ô tô; Du lịch bằng tàu hỏa; Du lịch khinh khí cầu; Du lịch bằng máy bay; Du lịch bằng tàu thủy,
*Theo loại hình lưu trú:
* Theo lứa tuổi: Du lịch thiếu niên; Du lich thanh niên; Du lịch trung niên; Du
lịch người cao tuổi; Du lịch kết hợp các lứa tuổi
* Theo độ dài chuyến đi: Du lịch ngắn ngày; Du lịch dài ngày
Trang 22* Theo loại hình tổ chức: Du lịch tập thể; Du lịch cá nhân; Du lịch gia đình
* Theo phương thức hợp đồng: Du lịch trọn gói; Du lịch từng phần,
Ngày nay, thế giới có rất nhiều cách phân loại du lịch dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau do nhu cầu của khách du lịch rất đa dạng nên các loại hình du lịch cũng rất phong phú và ở mỗi nước, mỗi khu vực lại có những hình thức đặc trưng riêng
2.1.5 Các điều kiện về phát triển du lịch
Du lịch được phát sinh và phát triển trên những điều kiện cụ thể có được trong quá trình phát triển của xã hội Các điều kiện đó được xuất phát tự nhiên khi xã hội phát triển và phát sinh nhu cầu cần thiết cho con người Và chúng nằm trong một mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau tạo thành môi trường để phát sinh, phát triển du lịch Mặt khác, bản thân những điều kiện đó cũng trở thành một thành tố của môi trường, nên nó có tác dụng thúc đẩy việc phát triển du lịch, ngược lại cũng có thể làm cản trở sự phát triển du lịch cũng như sự phát triển chung của xã hội.[8]
Chúng ta có thể chia các điều kiện thành 3 nhóm chính như sau:
* Nhóm điều kiện chung:
- Điều kiện an ninh chính trị và an toàn xã hội: Đây là điều kiện đảm bảo cho việc mở rộng các mối quan hệ kinh tế, khoa học - kỹ thuật, văn hóa và chính trị giữa các dân tộc và là điều kiện đầu tiên đảm bảo an toàn, thoải mái cho du khách
- Điều kiện kinh tế: Đây là một yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến sự phát sinh và phát triển du lịch là điều kiện kinh tế chung Nền kinh tế chung phát triển là tiền đề cho sự ra đời và phát triển của ngành kinh tế du lịch
* Nhóm điều kiện làm nảy sinh nhu cầu du lịch:
- Thời gian rảnh rỗi: Một trong những tiêu chí trong định nghĩa du lịch là thời gian rảnh rỗi Nếu không có thời gian rảnh rỗi thì chuyến đi cả họ không thể gọi là
du lịch được
- Khả năng tài chính của du khách tiềm năng: Nền kinh tế phát triển làm cho
Trang 23con người ngày càng có thu nhập cao, họ không chỉ phải ăn no, mặc ấm nữa mà bên cạnh đó cần phải có những nhu cầu về tinh thần là vui chơi, giải trí, thưởng ngoạn, , đây chính là điều kiện phát sinh nhu cầu du lịch
- Trình độ văn hóa: Trình độ văn hóa cũng là một điều kiện quan trong cho phát sinh nhu cầu du lịch
* Nhóm điều kiện cung ứng cho nhu cầu du lịch:
- Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên bao gồm: Vị trí địa lý; Địa hình; Khí hậu; Thủy văn; Thế giới động, thực vật
- Điều kiện kinh tế xã hội và tài nguyên du lịch nhân văn: Giá trị văn hóa, lịch
sử, các thành tựu chính trị và kinh tế có ý nghĩa đặc trưng cho sự phát triển của du lịch ở một điểm, một vùng hoặc một đất nước
- Một số tình hình và sự kiện đặc biệt: Đó có thể là các hội nghị, đại hội, các cuộc hội đàm dân tộc hoặc quốc tế, các cuộc thi Olimpic, các cuộc kỷ niệm tín ngưỡng hoặc chính trị, các đại hội, liên hoan,
- Sự sẵn sàng đón tiếp du khách thể hiện bao gồm: Điều kiện về mặt tổ chức; Điều kiện về mặt kỹ thuật; Điều kiện về mặt kinh tế
2.2 Hình ảnh điểm đến du lịch
2.2.1 Khái niệm về hình ảnh điểm đến du lịch
Những khái niệm về hình ảnh điểm đến du lịch phần lớn được trích dẫn từ nghiên cứu của Crompton (1979) bao gồm niềm tin, ý niệm và những ấn tượng của một con người về điểm đến du lịch Khái niệm này liên quan đến cá nhân, trong khi
đó, những khái niệm khác nhìn nhận hình ảnh điểm đến có thể được chia sẻ bởi những nhóm người
Việc nhận biết này đủ khả năng cho việc phân đoạn thị trường và làm cơ sở xây dựng chiến lược marketing trong chiến lược phát triển du lịch Thêm nữa, những lý do này trước đó đã được Lawson & Baud-Bovy (1977) xác định trong đó bao gồm các hình ảnh cá nhân và hình ảnh khuôn mẫu được chia sẻ bởi các nhóm
du khách và đưa ra khái niệm hình ảnh điểm đến là: Sự biểu hiện của tất cả quá
Trang 24trình nhận biết một cách khách quan, những ấn tượng, định kiến, tưởng tượng, cảm xúc và suy nghĩ của một cá nhân hoặc một nhóm người đối với một điểm đến cụ thể
Tiếp đó, từ đầu thập niên 90, các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực Du lịch như: Gartner (1993); Echtner & J.R.Ritchie (2003) đã khẳng định rằng phần lớn các nghiên cứu hình ảnh điểm đến còn mang tính lý thuyết và chưa thành công trong việc hình thành chính xác về khái niệm và vận dụng vào thực tiễn, không có sự thống nhất về khái niệm và các thành phần của nó
Họ cho rằng, mặc dù được ứng dụng rộng rãi trong bối cảnh thực tế, nhưng khái niệm hình ảnh điểm đến chưa chặt chẽ và thống nhất Điều này một phần là do những đặc điểm của sản phẩm/dịch vụ du lịch là phức tạp, đa lĩnh vực, vô hình và được đánh giá chủ quan nên khó khăn để đo lường về hình ảnh điểm đến Vì thế mà
đã có nhiều cách thể hiện khái niệm về hình ảnh điểm đến và nhiều nghiên cứu đã
cố gắng làm sao hiểu được khái niệm hình ảnh điểm đến một cách cơ bản như: Theo Lawson & Baud-Bovy (1977), hình ảnh điểm đến là sự biểu hiện của tất
cả việc nhận biết một cách khách quan, những ấn tượng, định kiến, tưởng tượng, cảm xúc và suy nghĩ của một cá nhân hoặc một nhóm người về một điểm đến cụ thể”
Theo Echtner và Ritchie (1991, 2003), việc nhận thức về các thuộc tính riêng biệt của điểm đến và ấn tượng tổng thể về điểm đến đó
Theo Kim và Richardson (2003), toàn bộ ấn tượng, niềm tin, ý nghĩ, mong đợi
và tình cảm qua thời gian tích lũy đối với một địa điểm
Như vậy, từ những khái niệm “hình ảnh điểm đến“ đã nêu trên cho thấy, các quan điểm không thống nhất, hình ảnh không ổn định, có bản chất đa lĩnh vực, các yếu tố tạo nên hình ảnh và sự tương tác giữa chúng mang tính chủ quan (tùy thuộc vào khía cạnh đánh giá của mỗi cá nhân), tiến trình tạo lập nó có thể thay đổi theo từng bối cảnh nghiên cứu Hơn nữa, hình ảnh điểm đến có tính động có nghĩa nó thay đổi theo thời gian và không gian Một số nghiên cứu tập trung vào hình ảnh
Trang 25toàn diện của điểm đến, xem nó là ấn tượng toàn diện hơn là tổng các nhân tố của
nó trong khi một số các nhà nghiên cứu khác quan niệm hình ảnh điểm đến được tạo lập từ nhận thức về các thuộc tính của nó Do đó hình ảnh điểm đến cần xem xét cả nhận thức và cảm xúc của khách du lịch cả trong thời gian và sau khi trải nghiệm tại nơi họ đã đến du lịch Chính vì vậy trong luận văn này “Hình ảnh điểm đến” được hiểu là cảm nhận và ấn tượng của khách du lịch về điểm đến trong thời gian và sau khi họ được trải nghiệm
2.2.2 Các điều kiện của hình ảnh điểm đến
Để hình thành một Hình ảnh điểm đến du lịch, trước hết chúng ta cần phải có các điều kiện để hình thành nên một điểm đến du lịch Và đó là những điều kiện cần thiết tạo nên hình ảnh một điểm đến du lịch mà chúng ta có thể giới thiệu, quảng bá
để định vị trong các nhóm du khách một hình ảnh điểm đến du lịch đó Cụ thể những điều kiện cần thiết thỏa mãn cho sự hình thành điểm đến du lịch bao gồm:
- Phải có điều kiện tài nguyên du lịch đa dạng, phong phú, độc đáo và có sức hấp dẫn đối với du khách Ở đó có thể là những hang động với nhiều thạch nhũ kỳ
vĩ, có thế giới động vật hoang dã, phong phú, có nơi nghỉ ngơi, có nơi trú chân, có bãi biển rất đẹp hay thành phố với người dân thân thiện với nhiều lễ hội truyền thống đặc sắc, Đây là một điều kiện cơ bản đầu tiền để hình thành nên một điểm đến du lịch, nó sẽ là một hình ảnh riêng cho điểm đến du lịch này Sức hấp dẫn của điều kiện tài nguyên du lịch là động lực chủ yếu (nhưng không phải là duy nhất) thu hút khách du lịch Trong hệ thống du lịch "Tài nguyên tự nhiên và văn hoá" là tiểu
hệ thống của nơi đến du lịch Một khu vực phải có một hoặc nhiều điểm hấp dẫn là điểm đến du lịch Nếu không có điểm hấp dẫn sẽ không có nhu cầu về các dịch vụ
du lịch khác
- Phải bảo đảm các điều kiện vệ sinh cần thiết Việc xử lý các chất thải và ô nhiễm môi trường cần phải được chú trọng và thực hiện thường xuyên Đây là một điều kiện rất quan trọng trong sự phát triển du lịch nói riêng và phát triển xã hội nói chung Do nhu cầu phát triển kinh tế xã hội nên vấn đề môi trường ngày càng trở nên
ô nhiễm nghiêm trọng, việc hình thành nên một điểm đến du lịch cần phải đảm bảo sự
Trang 26an toàn môi trường trong lành Bên cạnh đó, còn các điều kiện vệ sinh cần thiết khác như vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh an toàn về nguồn nước, không khí,
- Phải được xây dựng tốt, có lối đi thuận tiện và luôn duy trì tốt Điểm hấp dẫn của điểm đến du lịch đã có rồi, tuy nhiên, chúng cần phải được xây dựng tạo thuận lợi không những về mặt cơ sở hạ tầng mà còn tạo cho du khách có thể trải nghiệm các tài nguyên du lịch một cách thoải mái và dễ dàng Chúng ta đã có hệ thống hang động tuyệt vời mà những nhà làm du lịch hay du khách luôn thèm thuồng nhưng không có khả năng (phương cách và đường đi chẳng hạn) giúp họ được trải nghiệm thì cũng sẽ không thể phát sinh được nhu cầu thực tế về du lịch Bên cạnh đó, điều kiện giao thông của điểm đến du lich cũng là nhân tố vô cùng quan trọng tạo nên một hình ảnh thoải mái, hài lòng cho du khách khi được tham gia vào các trải nghiệm ở điểm đến du lịch
- Phải có cơ sở lưu trú như khách sạn, motel, nhà nghỉ, camping, bungalow, Trong cả một hệ thống du lịch thì các cơ sở lưu trú là điều kiện không thể thiếu được Với mục đích đi du lịch của du khách là nghỉ dưỡng, chữa bệnh, vui chơi, giải trí hay nghiên cứu, học tập, thì cũng luôn luôn cần phải có cơ sở lưu trú Ngày nay, người ta không những chỉ đơn thuần là có nơi để lưu trú mà nhu cầu ngày càng cao hơn, với những điều kiện cũng cao hơn làm sao cho du khách tận hưởng được những sự thoải mái hơn, sự hài lòng hơn
- Phải có cửa hàng và các quầy bán hàng, đặc biệt là hàng thực phẩm Bên cạnh sự thoải mái về những điểm hấp dẫn, sự thuận lợi về phong cảnh, môi trường
an lành, nghỉ ngơi, điều kiện tham quan thì việc mua sắm, ăn uống cũng là nhu cầu không thể tách rời của du khách
- Phải được trang bị đầy đủ, đa dạng như nơi tập luyện trang thiết bị y tế, nơi chơi thể thao, bể bơi,… Từ xa xưa trong lịch sử nhân loại, du lịch đã được ghi nhận như một sở thích, một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người Bởi vậy, một điểm đến cần phải xây dựng các khu vui chơi giải trí, các hoạt động thể dục, thể thao, rồi các trung tâm y tế hay các khu thể dục thể hình chẵng hạn
Đây là những điều kiện cần thiết để hình thành nên một điểm đến du lịch, và
để tạo nên một hình ảnh điểm đến việc đầu tiên là phải có điểm đến hấp dẫn bao
Trang 27gồm những điều kiện trên, trên cơ sở được xây dựng một cách cụ thể và mang một hình ảnh đặc trưng cho điểm đến đó Nếu điểm đến đó không có một nét đặc trưng riêng thì không thể hình thành một điểm đến được Và bên cạnh đó, giá cả cũng là một điều kiện tạo lập cho hình ảnh một điểm đến như thế nào trong lòng du khách Tuy nhiên, để hình thành nên một hình ảnh về một điểm đến du lịch chúng ta cần có các chiến lược hữu hiệu nhằm thiết lập được một nét nổi trội khác biệt đối với các điểm đến khác Để từ đó chúng ta có thể định vị một hình ảnh điểm đến cụ thể mang những bản sắc, sắc thái riêng trong lòng du khách Và đó là một trong những vấn đề quan trọng nhất trong lĩnh vực du lịch mà mọi người đang quan tâm và đang hoạt động hàng ngày Việc tạo lập được hình ảnh điểm đến là việc xây dựng và thực hiện các chiến lược có liên quan, dựa trên những yếu tố hình thành nên điểm đến du lịch đó, để có thể làm cho nó nổi bật hơn những tính năng, tác dụng hay những giá trị trải nghiệm mang lại cho du khách khi họ tham gia vào điểm đến đó
2.2.3 Các nhân tố tạo nên hình ảnh điểm đến du lịch
Như phần trên ta đã đề cập, trong thực tế, điểm đến du lịch được hình thành dưới tác động của ba nhóm nhân tố cơ bản và đó cũng chính là những nhóm nhân tố
cơ bản giúp cho chúng ta có thể xây dựng được một hình ảnh điểm đến du lịch cho điểm đến du lịch đó Cụ thể các nhóm nhân tố đó là:
2.2.3.1 Nhóm nhân tố liên quan đến sức hấp dẫn của điểm đến du lịch
Đó là vị trí địa lý, tài nguyên du lịch, các nhân tố kinh tế, xã hội và chính trị và con người Đây là một nhóm nhân quan trọng để hình thành nên một điểm đến du lịch, nó là điểm đầu tiên khơi nguồn cho việc hình thành một điểm đến và nó là cơ
sở tạo nên sức hấp dẫn của một điểm đến trong lòng du khách
- Vị trí địa lý là nhân tố quan trọng để có thể mang lại những nét nổi trội gì, thuận lợi hay khó khăn, nó có thể tham gia và trở thành một nhân tố quyết định đối với một điểm đến hay không Singapore là một đất nước hầu như không có tài nguyên, song vị trí địa lý đã mang lại cho Quốc đảo này những tiềm năng trở thành
"nguồn tài nguyên" vô cùng phong phú và nhiều ưu thế Singapore nằm ở giao nhau
Trang 28của con đường huyết mạch chính, vận chuyển hàng hải giữa Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương và eo biên Malacca Quốc đảo nhỏ bé này được tổ hợp nên bởi hơn 50 hòn đảo trong đó Singapore là hòn đảo lớn nhất, chiếm 9/10 diện tích toàn quốc Địa thế nơi đây phẳng đều, những eo biển giữa các hòn đảo chính là nơi neo đậu thuận tiện của các thuyền bè Nằm tại một trong những giao lộ của thế giới, vị trí chiến lược của Singapore chính là một yếu tố thuận lợi góp phần giúp quốc gia này phát triển thành một trung tâm quan trong trong các lĩnh vực thương mại, viễn thông và du lịch
- Tài nguyên du lịch được hiểu theo nhiều quan điểm khác nhau:
Theo Pirojnik, Cơ sở địa lý dịch vụ và du lịch (Trần Đức Thanh và Nguyễn
Thị Hải biên dịch): Tài nguyên du lịch là những tổng thể tự nhiên, văn hóa lịch sử
và những thành phần của chúng, tạo điều kiện cho việc phục hồi và phát triển thể lực tinh thần của con người, khả năng lao động và sức khỏe của họ, trong cấu trúc
du lịch hiện tại và tương lai, trong khả năng kinh tế kỹ thuật cho phép, chúng được dùng để trực tiếp và giản tiếp sản xuất ra những dịch vụ du lịch và nghỉ ngơi
Theo Ngô Tất Hỗ, Phát triển và quản lý du lịch địa phương, NXB Khoa học
Bắc Kinh, 2000, tr.41 (Trần Đức Thanh và Bùi Thanh Hương biên dịch): Tất cả thế giới tự nhiên và xã hội loài người có sức hấp dẫn khách du lịch, có thể sử dụng cho ngành du lịch, có thể sản sinh ra kinh tế - xã hội và môi trường đều có thể gọi là Tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch được nêu trong Luật Du lịch tại khoản 4, chương 1, Điều 4
là: Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu
du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch.[7]
Như vậy, ta có thể thấy Tài nguyên du lịch được hiểu rất rộng, nó bao trùm tổng thể rất nhiều vấn đề mà chúng có thể trực tiếp, gián tiếp được sử dụng trong lĩnh vực du lịch Và Tài nguyên du lịch chính là một nhân tố quan trọng hàng đầu
Trang 29để tạo ra một sản phẩm du lịch hay việc hình thành nên một điểm đến du lịch Nó có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với phát triển kinh tế xã hội nói chung và ngành
du lịch nói riêng Tài nguyên du lịch chính là mục đích chuyến đi của du khách và nhân tố tạo những điều kiện thuận lợi để đáp ứng các nhu cầu của khách trong chuyến đi Và đó cũng là cơ sở để tạo ra các loại hình du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu
đa dạng, phong phú, ngày càng cao của du khách Nó là một nhân tố cốt yếu để hình thành nên hình ảnh của một điểm đến du lịch, định vị ra trong tâm trí du khách hình ảnh về những sản phẩm du lịch từ các nguồn tài nguyên du lịch ở đây mang lại Tài nguyên du lịch (TNDL) có nhiều loại khác nhau và chúng thường đan xen nhau, vì vậy, để phục vụ cho công tác nghiên cứu thì có nhiều cách phân loại khác
nhau Trong cuốn Tài nguyên du lịch của tác giả Bùi Thị Hải Yến (chủ biên), Phạm
Hồng Long tr 37,38, tác giả đã dựa trên các phân loại khác để đưa ra phân loại Tài nguyên du lịch như sau [1]
Như vậy, trong kết cấu hệ thống TNDL có bao gồm các nhân tố kinh tế - kỹ thuật và bổ trợ khác như: Cơ sở lưu trú, dịch vụ, hạ tầng và các dịch vụ khác, Tuy nhiên, đây được coi như là nguồn tài nguyên đầu vào ban đầu để kết cấu thành sản phẩm du lịch cho điểm đến du lịch
- Điều kiện kinh tế - xã hội và chính trị: Các thành tựu về kinh tế - xã hội và chính trị sẽ là động lực thúc đẩy các nhu cầu du lịch phát triển mạnh mẽ hơn, và ngược lại
+ Phát triển kinh tế - xã hội trước hết là sự tăng trưởng về mặt kinh tế của một nền kinh tế kèm theo những thay đổi về chất lượng cuộc sống xã hội Nó sẽ làm thay đổi tầm tư duy, nhận thức của con người trong xã hội, đời sống sẽ được nâng cao lên cung bậc mới, đồng nghĩa với nhu cầu của con người càng phong phú và đa dạng Cuộc sống của con người ngày càng cao, khi vấn đề cơm áo, gạo tiền có một mức độ đầy đủ nào đó thì chúng ta phát sinh nhu cầu hưởng thụ mới như vui chơi, giải trí, đi du lịch,
Các thành tựu về phát triển kinh tế - xã hội của một điểm đến, một vùng hay
Trang 30một đất nước thường có một sức hấp dẫn đặc biệt đối với khách du lịch Du khách hay so sánh những thành tựu đạt kinh tế đạt được của điểm mình đến với những điểm họ đã đến thăm hay nơi quê hương của họ Để tuyên truyền cho những thành tựu đó nhiều cuộc trưng bày, triển lãm, hội chợ, thường được tổ chức và đã thu hút rất nhiều du khách đến tham quan Và như vậy, đã có rất nhiều thành phố đã trở thành các trung tâm cho những hoạt động triển lãm đó
Việc phát triển kinh tế - xã hội sẽ thúc đẩy cho quá trình phát triển cơ sở hạ tầng, các cơ sở lưu trú, dịch vụ khác và nâng cao vị thế của điểm đến, vùng hay một đất nước trong con mắt của mọi người Và khi đó nó lại trở thành một nguồn tài nguyên du lịch hấp dẫn tạo lập nên một hình ảnh về một điểm đến trong tâm trí của mọi người đặc biệt là du khách
Phát triển kinh tế - xã hội thúc đẩy phát triển du lịch, tuy nhiên du lịch phát triển sẽ là một đóng góp tích cực cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội Chúng được nằm trong một mối quan hệ biện chứng và thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển Bên cạnh đó chúng ta cũng cần xét về những tác động tích cực và tác động tiêu cực
để có những chiến lược đúng đắn tránh gây tổn hại nghiêm trọng đến môi trường xung quanh
+ Các thành tựu về Chính trị cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút
du khách cho một điểm đến
Việt Nam - Điểm đến an toàn và hấp dẫn, không hẳn tự nhiên mà Viêt Nam có được sự đánh giá đó khi du khách đến tham quan tại Việt Nam Đồng ý với những nhận định và thực tế về du lịch Việt Nam cơ bản chưa phát triển xứng tầm với những gì mà chúng ta đang được thiên nhiên ban tặng và đang được sở hữu nó Nhưng, sự ổn định về chính trị chính là một nhân tố tích cực thu hút khách tham quan đến Việt Nam ngày càng đông Trong khi như Ba li, Thái Lan hay nhiều nơi khác trên thế giới đang xảy ra tình trạng bạo động hay khung bố thì bầu không khí chính trị của ta được đảm bảo trong sự ổn định và phát triển Và du khách sẽ được
an tâm khi du lịch nghỉ ngơi, tham quan tại Việt Nam
Trang 31Bầu không khí chính trị ổn định sẽ là một bảo đảm cho sự an toàn của du khách và cũng là nhân tố giúp cho sự thành công của các chuyến đi của du khách
Nó còn là sự bảo đảm cho các cuộc hội thảo, hội nghị, và các cuộc triển lãm, diễn
ra an toàn tốt đẹp
Không những là đảm bảo an toàn cho các cuộc hội, nghị, triển lãm hay khách
du lịch, mà nó trở thành niềm tin cho các doanh nghiệp đến tìm kiếm cơ hội đầu tư làm ăn Điều này không nằm ngoài mối quan hệ biện chứng cho việc phát triển du lịch, phát triển kinh tế - xã hội của điểm đến đó
- Con người là hạt nhân trung tâm cho mọi hoạt động, trong đó có du lịch Hình ảnh điểm đến du lịch dù có như thế nào đi chăng nữa thì vấn đề con người vấn
là nhân tố hàng đầu Nhân tố con người ở đây, bao gồm: Những người làm trực tiếp trong ngành du lịch, những người có liên quan, những người hưởng lợi và cộng đồng dân cư địa phương
2.2.3.2 Nhóm nhân tố đảm bảo giao thông cho khách du lịch đến điểm đến
Đó là những điều kiện đã và có khả năng xây dựng và phát triển mạng lưới và phương tiện giao thông khác nhau
Bên cạnh các yếu tố tạo nên một sức hấp dẫn cho một điểm đến du lịch thì việc xây dựng mạng lưới để đảm bảo cho du khách có được cơ hội đi đến và được tham gia trải nghiệm những sản phẩm du lịch mang lại là điều không thể thiếu Mạng lưới phương tiên giao thông ở đây được nói đến bao gồm nhiều loại:
- Nhóm phương tiện giao thông đường thủy, bao gồm cả đưởng biển và đường sông Căn cứ vào vị trí điểm đến du lịch có thuận lợi cho việc phát triển các loại hình phương tiện đường sông hay không Nếu đây là thủ đô Amsterdam, đô thị đầy kênh rạch, thấp hơn mặt nước biển có nơi từ 4 -5 m, với chiều dài con đê bao quanh khoảng hơn 30.000 mét thì việc phát triển giao thông đường thủy là tất yếu Nó không những giúp cho việc phát triển kinh tế - xã hội mà khi trở thành một trung tâm kinh tế - xã hội quan trọng của Châu Âu nó còn giúp cho các doanh nhân, khách du lịch có điều kiện tham quan khung cảnh thơ mọng, kỳ vỹ này Mạng lưới
Trang 32giao thông đường biển được kết nối với đường sông sẽ là một ưu thế cho việc thông thương và tiếp đốn du khách quốc tế được thuận lợi hơn, mang lại hình ảnh dễ được chấp nhận hơn
- Nhóm phương tiện giao thông đường hàng không sẽ là một lợi thế quan trọng trong việc nhấn mạnh hình ảnh điểm đến du lịch hiện nay Trong thời đại ngày nay, con người có lối sống khẩn trương hơn, họ muốn đi đây đi đó được nhiều hơn Bởi vậy, các phương tiện giao thông ngày nay cần phải có tính cơ động cao hơn, họ không muốn đánh mất nhiều thời gian cho việc ngồi đợi trên các phương tiện giao thông khác nhau
- Nhóm phương tiện giao thông đường bộ Đây là nhóm phương tiện giao thông cơ bản nhất và cũng là một trong những trở ngại nhất để du khách có thể dễ dàng tiếp cận với điểm đến du lịch Dù vị trí điểm đến du lịch ở đầu thì phương tiện giao thông đường bộ cũng không thể thiếu, bởi vậy việc xây dựng mạng lưới giao thông đường bộ là khâu chủ yếu quyết định việc đảm bảo giao thông cho du khách Ngày nay, khi du lịch được phát triển thêm nhiều loại hình mới thì chúng ta cũng có thể đưa ra nhiều loại hình giao thông khác nhau Các loại hình đó cũng chính là những loại hình du lịch theo đúng nghĩa của nó như: Du lịch cáp treo, du lịch trượt tuyết, du lịch đi bộ, du lịch vượt thác, Tuy các loại hình này cũng được xem như là các loại hình du lịch thì chúng ta cũng cần xây dựng mạng lưới giao thông để giúp du khách có thể thuận tiện khi tham gia vào các loại hình du lịch này
2.2.3.3 Nhóm nhân tố đảm bảo cho khách du lịch lưu lại ở điểm đến
Đó là các cơ sở ăn uống, lưu trú, các cơ sở phục vụ vui chơi, giải trí, bảo đảm
an toàn, an ninh,…
Để làm du lịch, chúng ta không chỉ muốn mời họ đến đó chỉ để tham quan, để giới thiệu về một điểm đến hấp dẫn muôn người mà còn giúp cho họ có những phút giây sảng khoái, những phút giây nghỉ ngơi, thư giãn Và biết bao nhu cầu đang tiềm ẩn trong lòng du khách đang chờ dịp để bùng phát và mong muốn được đáp ứng Bởi vậy, chúng ta cần phải giúp du khách có được lý do để lưu lại ở điểm đến
du lịch này trong một thời gian nào đó Điều đó chúng ta làm bằng cách nào, đấy
Trang 33chính là sự bảo đảm bằng các dịch vụ thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch, gồm:
- Các cơ sở ăn uống và nhu cầu thực phẩm: Đây là nhu cầu thiết yếu của con người, tuy vây khách du lịch là nhóm đối tượng khác, họ đi du lịch không phải chủ yếu để ăn mà bên cạnh đó họ còn thưởng thức những hương vị khác mà có thể họ chưa bao giờ được nếm trải Bởi vậy, việc tao ra những món ăn ngon, những món
ăn đặc sản mang trong mình nét văn hóa, lịch sử hay một sự ngẫu hứng nào đó của người đân địa phương Đó chính là những nhu cầu thiết thực cho các cơ sở ăn uống phục vụ du lịch Ngoài ra đó còn là nhân tố đảm bảo sức khỏe cho những chuyến tham quan tiếp theo của du khách mà những người làm du lịch cần phải bảo đảm cho họ Cơ sở ăn uồng phải đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm và cần phải được kiểm tra thường xuyên bởi các cơ quan chức năng
- Các cơ sở lưu trú Tại Nghị định số 39/2000/NĐ-CP, ngày 24/8/2000 của Chính phủ quy định về cơ sở lưu trú du lịch như sau:
Cơ sở lưu trú du lịch là cơ sở kinh doanh buồng, giường và các dịch vụ khác
đủ tiêu chuẩn để phục vụ khách du lịch gồm: Khách sạn; Làng du lịch; Biệt thự kinh doanh du lịch; Căn hộ kinh doanh du lịch; Bãi cắm trại du lịch; Nhà khách, nhà nghỉ
có kinh doanh du lịch; Và (Luật Du lịch 2001) Các cơ sở lưu trú du lịch khác.[7]
Cơ sở lưu trú du lịch được phân thành hai loại:
+ (a) Cơ sở đạt tiêu chuẩn tối thiểu là cơ sở lưu trú du lịch có cơ sở vật chất, trang thiết bị và một số dịch vụ chủ yếu có chất lượng tối thiểu, đáp ứng được nhu cầu cơ bản của khách du lịch về ăn, nghỉ, sinh hoạt trong thời gian lưu trú
+ (b) Cơ sở đạt tiêu chuẩn xếp hạng 1 sao, 2 sao, 3 sao, 4 sao, 5 sao là cơ sở lưu trú du lịch có cơ sở vật chất, trang thiết bị và dịch vụ có chất lượng cao hơn các
cơ sở quy định tại điểm (a) trên đây, đáp ứng được nhu cầu đa dạng của khách du lịch về ăn, nghỉ, sinh hoạt, giải trí theo tiêu chuẩn của từng hạng
Cơ sở du lịch là nhu cầu không thể thiếu đối với du khách, bên cạnh hệ thống
hạ tầng và giao thông đi lại thuận lợi để phát triển các điểm du lịch trọng điểm, nhiều điểm du lịch chất lượng cao cần hình thành và phát huy hiệu quả, làm tăng
Trang 34doanh thu và lượng khách Ngày nay, các nhà làm du lịch càng quan tâm nhiều hơn đến vấn đề cơ sở lưu trú, họ đầu tư các khu Resort, khu nghỉ dưỡng với đầy trang thiết bị tiện nghi để thu hút khách du lịch Đây cũng chính là những cơ sở tạo nên hình ảnh về một điểm đến tiện nghi trong lòng du khách
- Các cơ sở phục vụ vui chơi, giải trí và mua sắm: Đây là một nhóm nhân tố rất quan trọng, tạo cho du khách một sự thoải mái qua những hoạt động mà chính bản thân họ được tự do thực hiện và mang lại cho bản thân
- Các cơ sở phục vụ cho vui chơi giải trí bao gồm: Các cơ sở phục vụ thể thao; Các cơ sở phục vụ trò chơi; Các lễ hội dân gian, văn hóa nghệ thuật; Các cơ
sở mua sắm; Các cơ sở phục vụ thể thao,
- Các cơ sở hạ tầng khác - Bảo đảm sự tiện nghi cho du khách:
+ Hệ thống cung cấp điện:
Là một mạng lưới cung cấp điện gồm các trạm biến áp trung gian, các cụm phát điện được đầu tư xây dựng tại điểm đến, và hệ thống các đường dây kết nối Ngày nay vấn đề cung cấp điện đã đi vào cuộc sống của con người, ở một số nơi còn đang thiếu điện hay vì đặc thù của một điểm đến thì vấn đề cung cấp điện không quá quan trọng Tuy vậy, vấn đề an ninh về điện hiện nay rất quan trọng không thể thiếu được trong các thành phố du lịch, kể cả du lịch hang động,
Điện đã được gắn chặt vào cuộc sống của con người, trong khi biến đổi khí hậu ngày càng trở nên nghiêm trọng thì an ninh điện năng dần trở thành nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống con người Điện năng phục vụ cho các ngành kinh tế và cuộc sống của con người
+ Hệ thống cấp, thoát nước:
Được hình thành dựa trên các nguồn nước của các khu vực nói chung và một điểm đến du lịch nói riêng Qua đó, chúng ta mới có thể xây dựng, hình thành nên một hệ thống cấp, thoát nước phục vụ cho các nhu cầu của con người Một điểm đến du lịch mang trong mình một hệ thống cấp, thoát nước tốt hay xấu, đảm bảo
Trang 35cho du khách với mức độ nào sẽ là một hình ảnh phản chiếu trung thực nhất trong việc phát triển du lịch
* Các nguồn nước ở điểm đến có bao gồm:
Nguồn nước ngọt: Từ ao, hồ, sông, khe, suối, các mạnh nước ngầm, lượng mưa, đập chắn, giữ nước Trữ lượng nước từ các nguồn này mang lại có được đảm bảo cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu cuộc sống con người hay không Việc đánh giá trữ lượng nước là một vấn đề quan trọng trong quá trình thiết
kế xây dựng hệ thống cấp thoát nước của một điểm đến
Nguồn nước mặn: Chủ yếu từ biển, ngoài ra rải rác trên thế giới cũng có một
số hồ chứa nước mặn mà nguyên nhân do được hình thành từ một phần của đại dương Ngày nay, các nhà khoa học cũng xem đây như là một đề tài nghiên cứu và khám phá chúng
Biển là một nhân tố quan trọng trong phát triển du lịch, nếu một điểm đến du lịch nào được sở hữu một diện tích mặt biển lớn, sạch, đẹp sẽ là một lợi thế cực kỳ quan trọng Nó sẽ góp một phần quan trọng trong việc xây dựng hình ảnh về một điểm đến du lịch
*Hệ thống cấp nước:
Hệ thống cấp nước bao gồm hệ thống cấp nước tự nhiên và hệ thống cấp nước
do con người thiết kế xây dựng
Hệ thống cấp nước tự nhiên là hệ thống những ao, hồ, kênh rạch, sông suối được hình thành tự nhiên và con người sử dụng trực tiếp từ đó Ngày nay, do sự phát triển của xã hội đã tác động tiêu cực đến hệ thống cấp nước này, làm cho chúng bị ô nhiễm nghiêm trọng, nhiều nơi không bảo đảm cho các nhu cầu của con người
Hệ thống cấp nước do con người thiết kế xây dựng trên cơ sở các nguồn nước
và hệ thống cấp nước tự nhiên Nó bao gồm các kênh mương thủy lợi, các đập chắn nước, các nhà máy cung cấp nước, hệ thống đường ống dẫn nước, bể chứa nước, hồ nhân tạo, các giếng khoan, đào,…
Trang 36*Hệ thống thoát nước:
Hệ thống thoát nước là đầu ra và cũng như cấp nước nó bao gồm hệ thống thoát nước tự nhiên và hệ thống thoát nước do con người thiết kế xây dựng Việc hình thành tự nhiên hay do con người xây dựng thì cũng là nhân tố quan trong việc đảm bảo vệ sinh và an toàn nguồn nước, chống gây ngập úng và ô nhiễm môi trường Nói chung hiện nay rất nhiều nơi việc xây dựng hệ thống thoát nước đang còn lạc hậu, chưa có tầm nhìn phù hợp với điều kiện phát triển của khu vực đó Nhiều thành phố chỉ cần một trận mưa đủ lớn đã có thể trở thành một biển nước, đây là một vấn đề nan giải cho các điểm đến du lịch hiện tại và tương lai
+ Hệ thống Bưu chính Viễn thông và thông tin liên lạc, bao gồm:
*Hệ thống Bưu chính:
Bưu chính là hệ thống chuyển tải thông tin liên lạc bằng thư tín và bưu phẩm Ngày nay, nhiều phương tiện mang tính thực dụng hơn cho vấn đề trao đổi thông tin, tuy vậy, thư tín là một nét văn hóa và nó đóng một vai trò quan trọng đời sống thường nhật Sự thuận tiện của hệ thống bưu chính sẽ tạo cho du khách dễ dàng trong việc trao gửi hàng hóa, bưu phẩm các thư từ cũng như các bưu thiếp Hệ thống các Bưu điện và các điểm Bưu điện văn hóa, các hòm thư, sẽ giúp cho du khách kết nối được với bên ngoài tốt hơn
*Hệ thống Viễn thông và thông tin liên lạc:
Ngày nay hệ thồng Viễn thông và thông tin liên lạc phát triển rất mạnh mẽ, hệ thống các công ty Viễn thông ra đời, các hệ thống liên lạc được kết nối toàn cầu Đó
là tập đoàn Viễn thông quốc gia, các công ty Viễn thông tư nhân và được hình thành
từ nhà nước, các hệ thống internet và các phương tiện thông tin đại chúng như Đài tiếng nói, Đài truyền hình của Nhà nước và tư nhân Nói chung, ngày nay hệ thống viễn thông và thông tin liên lạc được phát triển phong phú, đa dạng Nó là phương tiện giúp cho du khách thuận tiện trong việc hiểu biết về điểm đến cũng như các nhu cầu khác liên quan ở tại điểm đến
Trang 37+ Hệ thống thu gom, xử lý chất thải:
Đây là hệ thống các cơ quan chức năng cũng như các hệ thống nhà máy, máy móc thiết bị và con người thực hiện các công việc xử lý và bảo vệ môi trường Nó giúp cho môi trường được trong lành, sạch, đẹp đảm bảo cho sức khỏe và cuộc sống của tất cả mọi người ‘‘không có bảo vệ môi trường, sự phát triển sẽ bị suy giảm; nhưng nếu không có sự phát triển, việc bảo vệ môi trường sẽ thất bại’’
+ Hệ thống các trung tâm y tế, bao gồm: Các bệnh viện tuyến cấp trung ương Các bệnh viện tuyến cấp tỉnh / thành phố Các bệnh viện tuyến cấp quận / huyện
Các bệnh viện tuyến cấp thôn / xã Các trạm y tế
Các trung tâm chăm sóc sức khỏe Các phòng khám
Hệ thống giường bệnh
Đội ngũ cán bộ, nhân viên y tế
Vấn đề an toàn, an ninh cho du khách,
Ngoài tất cả những gì hấp dẫn du khách cũng như đảm bảo các nhu cầu cần thiết và sự thuận lợi cho du khách, vấn đề an toàn, an ninh cho du khách có vai trò quan trọng giúp cho du khách an tâm tận hưởng những trải nghiệm du lịch mà điểm đến đó mang lại
Bên cạnh những nhóm nhân tố cơ bản hình thành nên một hình ảnh điểm đến
du lịch thì giá cả cũng chính là một nhân tố tạo nên hình ảnh của một điểm đến du lịch Với một sự định giá khác biệt chính là phương thức tạo lập hình ảnh riêng cho một sản phẩm hay một nhu cầu nào đó
2.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hình ảnh điểm đến du lịch
Ngoài các nhân tố góp phần tạo nên hình ảnh điểm đến du lịch, trong mối quan
hệ biện chứng chúng cũng còn có các mối quan hệ với môi trường xung quanh và
đó chính là các nhóm nhân tố bên ngoài có ảnh hưởng đến hình ảnh điểm đến du
Trang 38lịch mà chúng ta đang xem xét
- Các địa điểm du lịch xung quanh
Các điểm đến du lịch thường được các nhà kinh doanh lữ hành sắp xếp theo từng tour du lịch, bởi vậy sự ảnh hưởng đáng kể về sự thuận tiện cho các điểm đến khác nhau cũng như các mối liên kết có thể cần được xem xét
- Chính sách vĩ mô của chính phủ
Chính sách vĩ mô của nhà nước có sự tác động vào hình ảnh điểm đến du lịch theo nhiều chiều hướng khác nhau Nó có ảnh hưởng khá sâu rộng trong việc quy hoạch phát triển vùng du lịch, điểm du lịch Nó là kiến trúc thượng tầng cho ngành
du lịch nói chung để từ đó đưa ra các định hướng nhằm góp phần nâng cao hình ảnh điểm đến du lịch Các chính sách vĩ mô của nhà nước cũng sẽ xác lập hình ảnh quốc gia trên trường quốc tế và điều đó đã bao trùm lên cho một điểm đến du lịch cụ thể nào đó
- Tình hình kinh tế - chính trị đất nước, quốc tế
Sự ổn định về kinh tế - chính trị đất nước, quốc tế sẽ tạo ra nhiều cơ hội cho sự giao lưu và các mối quan hệ trở nên thuận tiện hơn, tạo tiền đề cho việc xây dựng, hình thành nên hình ảnh điểm đến du lịch
- Thiên tai, địch họa
Các thiên tai, địch họa sẽ là những thách thức đối với ngành du lịch nói chung
và hình ảnh các điểm đến nói riêng Động đất, sóng thần, núi lữa, hạn hán, lụt lội,
là các thảm họa cho loài người Một điểm đến du lịch có vị trí gần với những vùng
có nguy cơ về các thảm họa thiên tai sẽ có một thách thức lớn cho việc tạo lập được một hình ảnh điểm đến an toàn cho du khách Bên cạnh đó, việc thù hằn nhau, cũng như chống phá nhau sẽ là một trở ngại lớn trong phát triển ngành du lịch
- Nhu cầu du khách
Các nhu cầu cầu của khách du lịch là một nhân tố để chúng ta phân tích xem xét và lựa chọn cho hình ảnh điểm đến du lịch Chúng ta có những lợi thế về những
Trang 39loại hình du lịch nào thì chúng ta có thể định vị hình ảnh điểm đến của chúng ta ở những nhóm du khách có nhu cầu đó
2.3 Các nghiên cứu có liên quan
2.3.1 Mô hình nghiên cứu hình ảnh điểm đến du lịch của Fakeye và
Crompton
Theo Fakeye và Crompton (1991), sự phát triển của hình ảnh điểm đến trải qua ba giai đoạn Những kiến thức chung về lịch sử, tin tức, marketing không có tác dụng lớn đến tạo lập hình ảnh cơ bản Hoạt động marketing chỉ có tác đên giai đoạn
bị thuyết phục Sự viếng thăm lịch sử liên quan đến giai đoạn cuối của quá trình Một du khách tiềm năng phát triển phát triển hình ảnh cơ bản dựa trên nhận thức tổng quát về điểm đến tiềm năng
2.3.2 Mô hình nghiên cứu hình ảnh điểm đến của Hu và Ritchie
Mô hình nghiên cứu hình ảnh điểm đến của Hu và Ritchie được đo lường bởi các thuộc tính
Hình 2.2 Mô hình nghiên cứu hình ảnh điểm đến của Hu và Ritchie
Hình 1 1 Mô hình quá trình hình thành hình ảnh điểm đến của du khách
Hình 2.1 Mô hình quá trình hình thành hình ảnh điểm đến của du khách
Trang 40Công trình nghiên cứu của hai tác giả Hu và Ritchie tập trung nghiên cứu các thuộc tính ảnh hưởng đến hình ảnh tổng thể điểm đến du lịch của một điểm đến như: điều kiện tự nhiên, xã hội, văn hóa, dịch vụ, môi trường… có tác động đến hình ảnh tổng thể điểm đến du lịch Tuy nhiên công trình vẫn còn mang tính bao quát chưa nêu lên cụ thể các yếu tố, các thuộc tính đối với từng loại hình du lịch tập trung của du khách khi tham quan một địa điểm du lịch
2.3.3 Mô hình nghiên cứu mối quan hệ hình ảnh điểm đến và hành vi của
du khách của Chon.
Hình 2.3 Mô hình quan hệ hình ảnh điểm đến và hành vi khách hàng
Đây là mô hình nghiên cứu mang tính khái quát cao nêu lên mối quan hệ giữa hình ảnh điểm đến và hành vi của khách du lịch khi đến tham quan môt địa danh, môt địa điểm du lịch Đây là công trình nghiên cứu của tác giả Chon đã được chứng minh tính khoa học cao trong việc đưa ra cơ sở lý luận và chứng minh các thuộc tính trong mô hình có ảnh hưởng rất lớn đến hình ảnh điểm đến du lịch