LỜI CAM ĐOANTôi xin cam đoan đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệpcủa nhân viên kế toán tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh BìnhDương” là công trình nghiên
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung: nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp của nhân viên kế toán tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Bình Dương Cụ thể hoá mục tiêu chung gồm các mục tiêu cụ thể.
Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu này như sau:
- Hiểu được nhân tố nào ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp của nhân viên kế toán tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Bình Dương.
- Nhận dạng các nhân tố ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp của nhân viên kế toán tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Bình Dương.
- Kiểm định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến đạo đức nghề nghiệp của nhân viên kế toán tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Để làm rõ các mục tiêu, trọng tâm của luận văn trả lời ba câu hỏi sau:
-Các nhân tố nào ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp của nhân viên kế toán tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Bình Dương?
-Có mối quan hệ nào giữa các nhân tố như: (1) Mức độ thâm niên, (2) Tín ngưỡng, (3) Môi trường pháp lý, (4) Trình độ học vấn, (5) Môi trường làm việc và (6) Quan hệ công việc với đạo đức nghề nghiệp của nhân viên kế toán tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Bình Dương hay không?
-Những nhân tố này có ảnh hưởng như thế nào đến đạo đức nghề nghiệp của nhân viên kế toán tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh BìnhDương?
Phương pháp nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
4.1 Phương pháp nghiên cứu định tính: trong phương pháp này tác giả tham khảo các tài liệu như sách, báo, tạp chí và các công trình nghiên cứu đã công bố về đạo đức nghề nghiệp kế toán.
Mục tiêu của nghiên cứu: nhằm khám phá và hiệu chỉnh, bổ sung thang đo dự kiến sao cho phù hợp với đối tượng khảo sát tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Đối tượng của nghiên cứu: là những chuyên gia (Những giảng viên đại học chuyên môn kinh tế, quản trị và luật học; luật sư; cán bộ Tòa án thị xã Thuận An; cán bộ Ủy ban tỉnh Bình Dương) làm việc lâu năm ở tỉnh Bình Dương.
Phương pháp thu thập dữ liệu: tiến hành thảo luận trực tiếp theo bảng thảo luận đã chuẩn bị trước Câu hỏi thảo luận không có câu trả lời được hỏi trực tiếp để phản ánh ý định của từng cá nhân, giúp tác giả khám phá ảnh hưởng các nhân tố đến đạo đức nghề nghiệp của nhân viên kế toán của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Bình Dương, nhằm kiểm chứng xem những đánh giá của họ có phù hợp với mô hình hay không Sau khi phỏng vấn các chuyên gia, dựa trên dữ liệu thu thập được tiến hành hiệu chỉnh bảng câu hỏi Bảng câu hỏi hiệu chỉnh này sẽ trao đổi với các đối tượng tham gia một lần nữa Quá trình nghiên cứu định tính kết thúc khi các câu hỏi thảo luận cho kết quả lặp lại với các kết quả trước đó mà không tìm thấy sự thay đổi gì khác mới chính thức sử dụng cho nghiên cứu định lượng.
4.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng:trên cơ sở các nhân tố ảnh hưởng đã được xác định bằng phương pháp nghiên cứu định tính, tác giả sẽ tiến hành nghiên cứu định lượng như sau:
Mục tiêu của nghiên cứu: để kiểm định thang đo và mô hình nghiên cứu lý thuyết. Đối tượng của nghiên cứu: các nhân viên kế toán tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Bình Dương.
Phương thức thực hiện: phương pháp định lượng được thực hiện thông qua bảng câu hỏi chính thức để tiến hành thu thập dữ liệu định lượng, bảng câu hỏi sử dụng thang đo Likert 05 điểm.
Tác giả sử dụng phần mềm SPSS 20.0 để xử lý dữ liệu bao gồm:
-Thực hiện phân tích thống kê mô tả dữ liệu nghiên cứu.
-Đánh giá độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach’alpha.
-Kiểm định sự hội tụ của thang đo và rút ra nhân tố khám phá EFA.
-Phân tích nhân tố khám phá EFA: xác định các nhân tố trích có
“Eigenvalues” lớn hơn 1.0, KMO lớn hơn 0.5 và nhỏ hơn 1, tỷ lệ phần trăm tổng phương sai trích được của các nhân tố lớn hơn 50%.
-Phân tích ma trận tương quan.
-Phân tích hồi quy tuyến tính bội.
-Kiểm định mức độ phù hợp của mô hình nghiên cứu.
Ý nghĩa khoa học của đề tài
Đề tài điều chỉnh và bổ sung thang đo các nhân tố ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp của nhân viên kế toán tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Bình Dương Kết quả nghiên cứu trong đề tài góp phần bổ sung vào kho tàng tri thức chung trong lĩnh vực đạo đức nghề nghiệp kế toán đối với các doanh nghiệp tại Việt Nam Kết quả nghiên cứu trong đề tài góp phần hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại tỉnh Bình Dương nhận diện được các nhân tố then chốt ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp của nhân viên kế toán tại đơn vị, qua đó đưa ra các giải pháp phù hợp để hạn chế tình trạng vi phạm đạo đức nghề nghiệp kế toán.
Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nghiên cứu này bao gồm 05 chương: Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến luận văn Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị
TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN
Các nghiên cứu liên quan đến luận văn
1.1.1 Nghiên cứu của Eynon G et al (1997)
Năm 1997, Eynon G et al đã đưa ra mô hình nghiên cứu “Factors that Influence the moral Reasoning Abilities of Accountants: Implications for Universities and the Profession” Với nghiên cứu này, Eynon G et al đã đưa ra các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đạo đức của các kế toán viên như: tuổi tác, giới tính, chính trị xã hội, quan hệ công việc với đồng nghiệp, khóa học đạo đức.
Kết quả của nghiên cứu đã chỉ ra rằng, khóa học đạo đức là vô cùng quan trọng và tác động mạnh mẽ đến khả năng quyết định đạo đức của các kế toán viên Đồng thời Eynon G et al đề xuất nên đưa vào chương trình giảng dạy chính quy cũng như các khóa học ngoại khóa một số khóa học đạo đức Nhân tố tuổi tác và giới tính, qua kết quả nghiên cứu cũng cho thấy những kế toán viên có tuổi tác càng cao thì khả năng tuân thủ đạo đức nghề nghiệp càng thấp Bên cạnh đó, nhân tố giới tính theo tác giả chứng minh trong lĩnh vực kế toán thì nữ giới có khả năng quyết định đạo đức tốt hơn nam giới Những nhân tố còn lại theo kết quả nghiên cứu thì có sự tác động nhưng không quá lớn đến khả năng quyết định đạo đức của các kế toán viên.
Năm 2000, Radtke R.R đã đưa ra mô hình nghiên cứu “The effects of gender and setting on accountants' ethically sensitive decisions” Sử dụng phương pháp lấy mẫu làm cơ sở, nghiên cứu điều tra về mức độ nhận thức của người làm kế toán Mẫu là 51 nhân viên kế toán được lấy từ hai công ty kế toán công và tư nhân sẽ tham gia vào một nghiên cứu về “phản ứng đối với các tình huống nhạy cảm về mặt đạo đức” Trong đó, độ tuổi trung bình là 34, 20 nữ giới (39%) và 31 nam giới (61%) Một số lượng lớn (20) của các đối tượng là từ kế toán công, trong khi hầu hết còn lại là các ngành công nghiệp làm việc tại các công ty dầu khí (23), bảo hiểm (4), sản xuất (2) và các ngành công nghiệp khác (2).
Công cụ khảo sát gồm có hai phần:
• Phần thứ nhất là các chủ đề xoay quanh 16 tình huống nhạy cảm về mặt đạo đức kế toán Với mỗi tình huống, các đối tượng được yêu cầu đưa ra các hành động xử lý của chính bản thân họ về các vấn đề trên theo từng mức độ: có, có thể là có, không chắc chắn, có thể không và không.
• Phần thứ hai là đo dữ liệu nhân khẩu học.
Kết quả của nghiên cứu này chỉ ra rằng không có sự khác biệt trong các quyết định đạo đức kế toán của nữ giới và nam giới Cụ thể, gần hai phần ba các tình huống nhạy cảm về mặt đạo đức cho thấy giới tính không gây ảnh hưởng quá nhiều đến việc ra quyết định đạo đức kế toán Điều này ngụ ý rằng nữ giới và nam giới đều sở hữu những giá trị đạo đức tương tự nhau.
Mặc dù vậy, nghiên cứu này vẫn còn một số giới hạn Đầu tiên là cuộc khảo sát đã gợi ý ra các câu trả lời cho các tình huống nhạy cảm về đạo đức kế toán, những phản hồi này có thể không đại diện hết cho các phản ứng của kế toán với các tình huống được đưa ra Thứ hai là cỡ mẫu khảo sát tương đối nhỏ gây ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu Ngoài ra với nghiên cứu trên, Radtke R.R. chỉ định cụ thể nhân tố giới tính ảnh hưởng tới đạo đức kế toán Trong khi đó, vẫn còn nhiều nhân tố khác ảnh hưởng đến đạo đức kế toán như: môi trường làm việc, tuổi tác
1.1.3 Nghiên cứu của Cohen J.R and Bennie N.M (2006)
Năm 2006, Cohen J.R and Bennie N.M đã chính thức công bố nghiên cứu “The applicability of a contingent factors model to accounting ethics research” Với nghiên cứu này, Cohen J.R and Bennie N.M đã đưa ra các yếu tố tác động đến đạo đức kế toán như: tầm quan trọng của hậu quả, tiêu chuẩn pháp lý, xác suất có hiệu lực, tức thời, khoảng cách và nồng độ hiệu ứng.
Mục đích của nghiên cứu này là kiểm tra xem một mô hình yếu tố ngẫu nhiên được phát triển bởi Jones (1991) có liên quan trong lĩnh vực đạo đức kế toán hay không Sử dụng mẫu của 37 nhà quản lý kiểm toán Úc và đối tác của tất cả công ty kế toán đa quốc gia “Big Four”, Cohen J.R and Bennie N.M thấy rằng mô hình theo ngữ cảnh do Jones phát triển có thể giúp hướng dẫn nghiên cứu đạo đức kế toán bằng cách phân lập các yếu tố liên tục ảnh hưởng đến quyết định đạo đức.
Kết quả của nghiên cứu cho thấy tầm quan trọng của hậu quả, tiêu chuẩn pháp lý, xác suất có hiệu lực là 3 yếu tố quan trọng tác động đến đạo đức kế toán. Đồng thời khoảng cách và nồng độ hiệu ứng cũng có những tác động đến đạo đức kế toán Nhân tố tức thời thì tác động không đáng kể.
Nghiên cứu mô hình của Jones (1991) trong một ngữ cảnh được xem là rất hạn chế Đây là cơ hội cho nghiên cứu đạo đức kế toán trong tương lai để khám phá cách tiếp cận tổ chức có quy trình quản lý rủi ro rõ ràng.
1.1.4 Nghiên cứu của Maree K.W and Radloff S (2007)
Maree K.W and Radloff S (2007) với nghiên cứu “Factors affecting ethical judgement of South African chartered accountants” Trong nghiên cứu này, các nhân tố được dùng để khảo sát sự tác động đến đạo đức kế toán gồm có: Quy tắc ứng xử chuyên nghiệp của SAICA (Bộ quy tắc ứng xử chuyên nghiệp do Viện kế toán Nam Phi cấp), môi trường làm việc và tuổi tác.
Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ bảng câu hỏi Bảng câu hỏi đã được gửi qua mail cho tất cả các kế toán viên đăng ký với SAICA.
Kết quả nghiên cứu cho thấy Bộ quy tắc ứng xử chuyên nghiệp của SAICA có sự tác động mạnh mẽ tới sự phán xét đạo đức Với SAICA, cố gắng tạo ra và duy trì một nền văn hóa đạo đức mạnh mẽ sẽ hỗ trợ việc tuân thủ đạo đức chuyên môn kế toán được thực hiện nghiêm túc hơn.
Xét về môi trường làm việc, Maree K.W and Radloff S đã chỉ ra việc phán xét đạo đức kế toán sẽ không bị ảnh hưởng Một kế toán viên với phẩm chất đúng mực dù làm việc ở một môi trường nghiêm túc, hay môi trường có xảy ra các gian lận thì khả năng phán xét của kế toán cũng không bị ảnh hưởng.
Nhưng xét về tuổi tác, ở nghiên cứu này cho thấy có mối quan hệ rõ ràng giữa tuổi tác và phán xét đạo đức kế toán Những người trẻ tuổi sẽ có lập trường đạo đức kế toán vững chắc hơn.
Nhận xét các nghiên cứu trước
Chủ đề đạo đức kế toán đã thu hút được sự quan tâm đáng kể trong vài năm qua song song với sự xuất hiện của các vụ bê bối kế toán toàn cầu khác nhau Những vụ bê bối kế toán như Enron, WorldCom và Kanebo ở nước ngoài và một loạt bất thường tài chính trên thế giới Do hậu quả của Enron, WorldCom, Kanebo và những thất bại tương tự khác, áp lực cho tính minh bạch về đạo đức nghề nghiệp kế toán tăng lên Do đó, việc nghiên cứu để xác các nhân tố ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp của nhân viên kế toán có ý nghĩa hết sức quan trọng trong quá trình khôi phục lại danh tiếng cho nghề nghiệp kế toán Chính vì lẽ đó mà các nghiên cứu về mảng đề tài này cũng chiếm số lượng đáng kể.
Thứ nhất, các nghiên cứu này hoặc là gắn liền với các nước có thị trường phát triển, hoặc là gắn với nền kinh tế xã hội riêng biệt, với đặc thù tôn giáo, nền chính trị, luật pháp và bối cảnh văn hóa đặc trưng của quốc gia mà các nhà nghiên cứu tham gia vào Ở Việt Nam, một đất nước trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa sẽ không phù hợp để áp dụng kết quả nghiên cứu Điển hình là các nghiên cứu về sự ảnh hưởng của tôn giáo, sự tín ngưỡng được tiến hành ở các quốc gia có các đặc thù về tôn giáo, về sự tín ngưỡng như Trung Quốc (Phật giáo, Đạo giáo ), Malaysia (Hồi giáo, ), còn đối với Việt Nam thì không có quốc đạo riêng, đa số các tôn giáo đều du nhập từ các khu vực khác Nét riêng biệt về nền chính trị, luật pháp của mỗi quốc gia mỗi khác, mặc dù tất cả những điều này đều đưa đến kết quả tích cực nhất có thể.
Thứ hai, nội dung các công trình nghiên cứu mà tác giả tìm hiểu chủ yếu đi vào phân tích một số nhân tố tác động đến đạo đức nghề nghiệp kế toán theo sự đặc thù của mỗi quốc gia Do vậy, kết quả của những nghiên cứu này chỉ phù hợp với một số quốc gia Điều kiện nghiên cứu và kết quả của một số nghiên cứu còn khá mới và chưa phù hợp tình hình thực tế của Việt Nam.
Ngoài ra, các bài viết chủ yếu sử dụng phương pháp so sánh, phân tích, diễn giải nên tính khách quan và tính thuyết phục của các bài viết còn hạn chế.
Tuy nhiên, các nghiên cứu này là tiền đề, là cơ sở để tác giả lựa chọn, xác định các nhân tố ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp của nhân viên kế toán Với tổng thể các nghiên cứu trên thế giới như trên, cùng với các nhận xét vừa nêu, có thể thấy chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống các nhân tố như:
(1) Mức độ thâm niên, (2) Tín ngưỡng, (3) Môi trường pháp lý, (4) Trình độ học vấn, (5) Môi trường làm việc và (6) Quan hệ công việc ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp của nhân viên kế toán tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Bình Dương Ngoài ra, tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnhBình Dương chưa có công trình nghiên cứu nào về đạo đức nghề nghiệp kế toán theo phương pháp định lượng Do đó, về mặt thực tiễn, luận văn này sẽ là một tham khảo hữu ích giúp các doanh nghiệp nhỏ và vừa nâng cao đạo đức nghề nghiệp của nhân viên kế toán một hiệu quả, nhằm hạn chế các hành vi vi phạm đạo đức nghề nghiệp của nhân viên kế toán trên địa bàn tỉnh Bình Dương.
Chương này đã trình bày các nghiên cứu có liên quan trên thế giới và kết quả nghiên cứu của họ Trong đó, kết quả nghiên cứu được lược khảo liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp của nhân viên kế toán Việc kế thừa những kết quả đạt được của các nghiên cứu đó có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc xác định mục tiêu nghiên cứu này Từ đó xác định các vấn đề cần tiếp tục thực hiện, làm cơ sở xác định mục tiêu nghiên cứu.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Các khái niệm liên quan
Hiện nay trên thế giới có rất nhiều tác giả nghiên cứu về đạo đức cho rằng: đạo đức là không thể thiếu trong một xã hội văn minh và hiện đại Điển hình có thể nói đến Adam Smith (1790)- một nhà kinh tế học, một nhà triết gia đạo đức- đã có quan điểm về đạo đức bắt nguồn từ bản chất xã hội, đạo đức không phải là một cái gì đó chúng ta có thể tính toán mà nó được thể hiện qua những phẩm chất của sự thận trọng, công lý, sự tận tâm và tự chủ.
Cũng có quan điểm cho rằng đạo đức theo nghĩa rộng hơn, đề cập đến hành vi của con người liên quan đến những gì là đạo đức tốt và xấu, đúng và sai. Đó là việc áp dụng các giá trị để ra quyết định Những giá trị này bao gồm sự trung thực, công bằng, trách nhiệm, tôn trọng và từ bi (Norton, 2009).
Một nhận định khác về đạo đức có nghĩa là làm điều đúng đắn, và tìm cách tuân theo hành vi đạo đức (Alleyne P.et al., 2014).
“Nếu nhìn theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin thì đạo đức sinh ra trước hết là từ nhu cầu phối hợp hành động trong lao động sản xuất vật chất, trong đấu tranh xã hội, trong phân phối sản phẩm để con người tồn tại và phát triển Cùng với sự phát triển của sản xuất, các quan hệ xã hội, hệ thống các quan hệ đạo đức, ý thức đạo đức, hành vi đạo đức cũng theo đó mà ngày càng phát triển, ngày càng nâng cao, phong phú, đa dạng và phức tạp” (Hồ Thị Thảo và cộng sự, 2014).
Nếu xét theo nhìn nhận của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thì Chủ tịch Hồ Chí Minh không đưa ra định nghĩa đạo đức là gì, nhưng trong sử dụng, thuật ngữ đạo đức được dùng với 3 nghĩa:Rộng, hẹp, và rất hẹp.
“Nghĩa rộng: Đạo đức là hình thái ý thức xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc và làm giàu tính người trong các quan hệ xã hội, kể cả trong các quan hệ chính trị, tư tưởng.
Nghĩa hẹp: Đạo đức là các qui tắc, chuẩn mực dùng điều chỉnh hành vi con người trong quan hệ giữa người với người trong hoạt động sống.
Nghĩa rất hẹp: Đó là hành vi đạo đức, hành vi đạo đức là hành động cá nhân thể hiện quan niệm của cá nhân về nghĩa vụ đối với xã hội và đối với người khác, thể hiện lương tâm hoặc bổn phận cá nhân trong những hoàn cảnh đặc thù không lặp lại” (Hoàng Anh Tuấn, 2013).
Tóm lại, theo quan điểm của tác giả có thể hiểu rằng đạo đức là tập hợp những quan điểm của một xã hội về cách sống, về thế giới Để từ đó con người có thể điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích của cộng đồng xã hội. Một số nguyên tắc về đạo đức căn bản cần được tuân thủ trong cách ứng xử giữa người với người được đưa ra như: sự lương thiện, thẳng thắn, tính có trách nhiệm, ngay thẳng, trung thực…
2.1.2 Khái niệm đạo đức nghề nghiệp
Số lượng bài nghiên cứu trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng về đạo đức nghề nghiệp hiện còn đang hạn chế Chính vì thế, đạo đức nghề nghiệp chưa được định nghĩa một cách rõ ràng và thống nhất. Đến năm 1996, Hiệp hội Kế toán Quốc tế (International Federation of Accountants – IFAC) có nhận định như sau: “Đạo đức nghề nghiệp là những nguyên tắc, giá trị, chuẩn mực hay quy tắc hành vi có tác dụng hướng dẫn các quyết định, quy trình và hệ thống của tổ chức theo cách có thể đóng góp phúc lợi cho những người hữu quan chính, và tôn trọng quyền của tất cả cử tri hữu quan đối với hoạt động của thành viên hiệp hội”.
Trong kinh doanh, đạo đức nghề nghiệp là một tiêu chuẩn đạo đức dựa trên hành vi, được sử dụng để phân biệt giữa chấp nhận và không thể chấp nhận
(Ferrel et al., 2001) Đạo đức cũng có thể được định nghĩa là một bộ quy tắc và nguyên tắc bao gồm trách nhiệm giữa các chuyên gia, dù là đồng nghiệp, khách hàng hay xã hội nói chung (Otalor and Eiya, 2013).
Trong các nghiên cứu trước đây, các quan điểm và định nghĩa về đạo đức nghề nghiệp được phát biểu khác nhau Nhưng nhìn chung đạo đức nghề nghiệp vẫn xoay quanh các nguyên tắc căn bản mà những người hành nghề cần tuân thủ để giúp cho nghề nghiệp phát triển tốt đẹp Thực hiện theo các tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp sẽ tạo tiền đề cho việc nâng cao chất lượng lao động trong lĩnh vực nghề nghiệp Các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp còn tùy vào đặc điểm từng ngành nghề mà sẽ không giống nhau Ví như đạo đức trong kinh doanh sẽ khác với đạo đức trong giáo dục hay đạo đức trong nghề y
2.1.3 Khái niệm đạo đức nghề nghiệp kế toán
Trên thế giới có nhiều quan điểm về đạo đức nghề nghiệp kế toán: Đạo đức nghề nghiệp kế toán là dựa trên các nguyên tắc về sự trung thực, chính xác, tin cậy, tránh các lời chỉ trích và đánh giá môi trường, tôn trọng đồng nghiệp theo sự riêng tư của họ (Kaveh M., 2014). Đạo đức kế toán có thể định nghĩa là nguyên tắc đạo đức hoặc giá trị sử dụng kế toán để tránh gian lận Điều này hỗ trợ khái niệm rằng đạo đức kế toán là tiêu chuẩn để duy trì tất cả các báo cáo tài chính chống gian lận, sai lệch và các hình thức khác (Kokthunarinan and Marko H., 2016). Ở Bồ Đào Nha có Bộ luật đạo đức kế toán chứng chỉ Bồ Đào Nha với những nguyên tắc cơ bản về đạo đức nghề nghiệp như sau:
Năng lực kỹ thuật/nghiệp vụ:kế toán viên phải thực hiện nhiệm vụ của mình một cách siêng năng và có trách nhiệm, sử dụng kiến thức và kỹ thuật cần thiết, tôn trọng pháp luật cũng như các nguyên tắc kế toán và đạo đức.
Tính quyết định:kế toán viên và cộng tác viên của họ giữ bí mật chuyên nghiệp về các sự kiện và tài liệu được đưa vào kiến thức của họ, trực tiếp hoặc gián tiếp, trong việc thực hiện nhiệm vụ của họ.
Tính công bằng:kế toán đảm bảo sự đối xử bình đẳng và chú ý đến tất cả các dịch vụ mà họ phục vụ, trừ khi được quy định trong các tiêu chuẩn hợp đồng đã thoả thuận. Độc lập: kế toán vẫn không đổi so với bất kỳ áp lực nào xuất phát từ lợi ích riêng của mình hoặc bên ngoài các hoạt động, để không làm tổn hại đến sự độc lập về kỹ thuật của họ.
Tính toàn vẹn: kế toán sẽ được hướng dẫn bởi các tiêu chuẩn trung thực và đức tin tốt.
Một số lý thuyết nền có liên quan
Các nhà kinh tế đang tiếp cận câu hỏi tại sao người ta không tuân thủ luật pháp, bắt đầu bằng cách xây dựng một lý thuyết dựa trên giả định về hành vi của con người, là nền tảng của tất cả các nền kinh tế; cụ thể là các cá nhân nói chung hành động hợp lý trong việc đánh giá chi phí và lợi ích của bất kỳ hoạt động nào đã chọn Ý nghĩa ở đây là người làm nghề kế toán liên tục tìm kiếm lợi ích từ nơi mình làm việc ngoài số tiền lương thực tế đã được trả Đối lập với suy nghĩ ở đây là sự không tuân thủ sẽ tăng lên khi nhận thức của người làm nghề kế toán là nơi họ làm việc không thực hiện trả công xứng đáng cho công sức của họ (Ladi and Henry, 2015).
Khi áp dụng lý thuyết kinh tế vào nghiên cứu này, tác giả kỳ vọng rằng khi các nhân tố trong mức độ thâm niên được đảm bảo thì đạo đức nghề nghiệp của kế toán tại các doanh nghiệp càng cao.
2.2.2 Lý thuyết lợi ích xã hội
Thị trường sẽ hoạt động không hiệu quả nếu để bản thân nó tự điều chỉnh mà không có bất kỳ sự can thiệp nào Chính vì thế, theo lý thuyết này, các quy định cần được thiết lập nhằm đáp ứng yêu cầu của cộng đồng xã hội trong việc điều chỉnh sự bất công hoặc hoạt động không hiệu quả của thị trường, qua đó bảo vệ lợi ích chung của xã hội.
Lý thuyết này giải thích cho sự can thiệp của Nhà nước vào những vấn đề khác nhau, trong đó có lĩnh vực kế toán (Pigou A.C., 2013) Áp dụng vào lĩnh vực kế toán, lý thuyết này giải thích vai trò của việc đưa ra các thể chế để đảm bảo sự độc lập của tổ chức này trong việc xây dựng các chuẩn mực kế toán.
Khi áp dụng lý thuyết lợi ích xã hội vào nghiên cứu này, tác giả kỳ vọng rằng khi các nhân tố trong môi trường pháp lý được đảm bảo thì đạo đức nghề nghiệp của kế toán tại các doanh nghiệp càng cao.
2.2.3 Lý thuyết thế tục hóa
Những nhà tư tưởng lớn của thế kỷ 19 như Auguste Comte, Herbert Spencer, Émile Durkheim, Max Weber, Karl Marx và Sigmund Freud, tất cả đều tin rằng với sự phát triển của xã hội công nghiệp, tôn giáo sẽ mất dần tầm quan trọng và sẽ không còn có ý nghĩa nữa Trước đó, trong thời kỳ Khai sáng, những lý thuyết gia xã hội đã tiên đoán về sự thắng thế của tư duy khoa học trong thời kỳ hiện đại đối với tư tưởng thần học Trong phần lớn thời gian ở thế kỷ 20, niềm tin về sự suy tàn của tôn giáo cũng là ý tưởng chủ đạo trong khoa học xã hội, khi mà sự thế tục hoá được xếp ngang hàng với quá trình hành chính hóa, hợp lý hoá, và đô thị hoá như là những cuộc cách mạng chủ đạo của lịch sử làm biến đổi những xã hội nông nghiệp thời Trung đại sang những quốc gia công nghiệp hiện đại Wright Mills trong tác phẩm The Sociological Imagination (1959) đã tóm tắt quá trình này như sau: “Đã có thời thế giới chứa đầy những cái thiêng – trong tư tưởng, thực hành, và thể chế Sau thời kỳ Cải cách và Phục hưng, những lực lượng hiện đại hóa đã quét qua địa cầu và thế tục hóa, một quá trình lịch sử theo sau nó, đã nới lỏng sự ngự trị của cái thiêng Đến một lúc nào đó trong tương lai, cái thiêng sẽ biến mất hoàn toàn ngoại trừ, có lẽ, trong lĩnh vực riêng tư”.
Lý thuyết thế tục hóa về sự suy giảm vai trò của tôn giáo đặt cơ sở trên hai luận điểm chính Một là sự hình thành một thế giới quan duy lý dẫn đến sự xói mòn niềm tin tôn giáo Hai là sự chuyên biệt hóa chức năng xã hội trong xã hội công nghiệp hóa dẫn đến sự suy yếu chức năng của các tổ chức tôn giáo đối với đời sống xã hội và tiếp theo sau là sự suy yếu của chính tôn giáo.
Khi áp dụng lý thuyết thế tục hóa vào nghiên cứu này, tác giả kỳ vọng rằng khi các nhân tố về tín ngưỡng khi được đảm bảo thì đạo đức nghề nghiệp của kế toán tại các doanh nghiệp càng cao.
2.2.4 Lý thuyết bất định của các tổ chức
Lý thuyết này dựa trên luận cứ cho rằng: “Không có một hệ thống quản trị hiệu quả duy nhất nào là phù hợp cho tất cả các tổ chức và phù hợp cho mọi hoàn cảnh bởi lẽ những đặc điểm riêng biệt của hệ thống và hiệu quả của nó sẽ phụ thuộc vào những đặc thù riêng của tổ chức và những tác nhân thuộc về ngữ cảnh” (Otley, 1980; Ferreira and Otley, 2005) Ferreira and Otley (2005) khi áp dụng lý thuyết này trong lĩnh vực quản lý, đã cho rằng: “Những nhân tố có liên quan đến môi trường bên ngoài, chiến lược, văn hóa, cơ cấu tổ chức, công nghệ, quy mô, quyền sở hữu có tác động đến hiệu quả của các tổ chức”.
Lý thuyết bất định của các tổ chức được nhiều tác giả nghiên cứu trong lĩnh vực kế toán sử dụng làm cơ sở nền tảng để giải thích mối quan hệ giữa các nhân tố như: quy mô doanh nghiệp, kiểm toán độc lập, trình độ học vấn của nhân viên, hỗ trợ của nhà quản trị… và hiệu quả của công tác kế toán trong các doanh nghiệp (Chapellier P.et al., 2010; Ahmad K and Zabri S.M., 2015).
Khi áp dụng lý thuyết bất định của tổ chức vào nghiên cứu này, tác giả kỳ vọng rằng khi các nhân tố về trình độ học vấn và môi trường làm việc được đảm bảo thì đạo đức nghề nghiệp của kế toán tại các doanh nghiệp càng cao.
2.2.5 Lý thuyết về tâm lý học xã hội của tổ chức
Lý thuyết này cho rằng: “Hiệu quả của quản trị do năng suất lao động quyết định, nhưng năng suất lao động không chỉ do các yếu tố vật chất quyết định mà còn do sự thỏa mãn các nhu cầu tâm lý xã hội của con người” (Hellriegel D And Slocum J.W., 1986).
Lý thuyết còn được gọi là lý thuyết hành vi, bao gồm những quan điểm trong quản trị nhấn mạnh đến vai trò của các yếu tố tâm lý, tình cảm, và quan hệ xã hội của con người trong công việc.
Lý thuyết này bắt đầu xuất hiện ở Mỹ vào thập niên 30 Nhưng đến những năm 60, lý thuyết này mới được phát triển mạnh bởi các nhà tâm lý học Theo nghiên cứu của tác giả Doughlas Mc Gregorcho rằng: “Con người sẽ thích thú với công việc nếu có được những điều kiện thuận lợi và vì vậy họ có cơ hội để có thể đóng góp nhiều hơn cho tổ chức”.
Khi áp dụng lý thuyết về tâm lý học xã hội của tổ chức vào nghiên cứu này, tác giả kỳ vọng rằng khi các nhân tố trong quan hệ công việc được đảm bảo thì đạo đức nghề nghiệp của kế toán tại các doanh nghiệp càng cao.
Các nhân tố ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp của nhân viên kế toán
Dựa trên cơ sở lý thuyết, khảo lược các nghiên cứu trước đây và thực tiễn tại địa bàn, trong nghiên cứu này tác giả đề xuất các nhân tố với biến phụ thuộc là đạo đức nghề nghiệp của nhân viên kế toán tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các biến độc lập gồm: mức độ thâm niên, trình độ học vấn, tín ngưỡng, môi trường pháp lý, môi trường làm việc, quan hệ công việc.
Eweje and Brunton (2010) đã có nhận định khi một cá nhân bắt đầu giai đoạn phát triển nghề nghiệp của mình, họ sẽ tìm kiếm sự thỏa thuận cho lợi ích cá nhân của bản thân họ và cũng chính vì lý do này mà họ chấp nhận vi phạm giá trị đạo đức nghề nghiệp.
Khi thời gian làm việc của họ tăng thêm đồng nghĩa với việc kinh nghiệm tích lũy cho bản thân cũng tăng lên, kéo theo đó là cơ hội việc làm thay thế phát sinh, mức thu nhập của họ tăng lên và họ sẽ có được vị trí công việc mới Để đạt được các lợi ích cá nhân, họ chấp nhận giá trị đạo đức bị giảm đi.
Nikoomaram H et al (2013) đã có được bằng chứng cho thấy mức độ thâm niên của kế toán càng lâu năm thì khả năng vi phạm đạo đức càng cao. Trong khi đó, Costa A.J et al (2016); Feil A.A et al (2017) thì lại có kết quả nghiên cứu hoàn toàn ngược lại Tác giả cũng có quan điểm tương đồng với Costa A.J.et al.(2016); Feil A.A et al.(2017) rằng nhân tố mức độ thâm niên có ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp.
Kohlberg (1981) đưa ra giả thuyết rằng những người hiểu rõ hơn về các vấn đề phức tạp sẽ hiển thị các mức độ phức tạp hơn về lý luận đạo đức Căn cứ vào quan điểm này, các nhà nghiên cứu thường xuyên đưa ra giả thuyết mối quan hệ tích cực giữa trình độ học vấn và đạo đức nghề nghiệp Theo kinh nghiệm, các bằng chứng dường như không ủng hộ quan điểm này, nhà nghiên cứu không tìm thấy mối liên hệ giữa đánh giá về trình độ học vấn và đạo đức nghề nghiệp (Swaidan et al., 2003), trong khi những nghiên cứu khác thì kết quả cho thấy có mối quan hệ tiêu cực (Chiu, 2003).
Trình độ học vấn cao hơn có thể khuyến khích mọi người xem xét đầy đủ hơn các quan điểm thay thế hoặc tình tiết giảm nhẹ hơn là đánh giá các vấn đề đạo đức nghề nghiệp phức tạp trong các điều khoản tuyệt đối hẹp Nếu vậy, một mối quan hệ tiêu cực giữa trình độ học vấn và sự nghiêm khắc của đạo đức nghề nghiệp có thể được giải thích theo Kohlberg (1981).
Các nghiên cứu của Nikoomaram H et al (2013); Feil A.A et al.(2017) đều có quan điểm rằng nhân tố trình độ học vấn có ảnh hưởng tới đạo đức nghề nghiệp Ngược lại với quan điểm trên, Lam K.C and Shi G (2008) với nghiên cứu của họ đã cho thấy trình độ học vấn hoàn toàn không ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp Riêng tác giả thấy rằng, trình độ học vấn sẽ là nhân tố có sự tác động mạnh đến đạo đức nghề nghiệp kế toán.
Nếu cho rằng tín ngưỡng là trạng thái tâm lý của con người đối với thế lực thiêng, là một bộ phận của tôn giáo và không thể tách rời khỏi tôn giáo, là cơ sở hình thành nên tôn giáo Ở Việt Nam, một đại diện tiêu biểu của nhóm quan điểm này là Đặng Nghiêm Vạn Trong công trình Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam, ông đã phân tích khá rõ khái niệm tín ngưỡng với tư cách là đức tin tôn giáo, tín ngưỡng không hoàn toàn tách rời khỏi tôn giáo: “Nếu hiểu tín ngưỡng là niềm tin thì có một phần ở ngoài tôn giáo, nếu hiểu là niềm tin tôn giáo (belief, believe, theo nghĩa hẹp, croyance religieuse) thì tín ngưỡng chỉ là một bộ phận chủ yếu cấu thành của tôn giáo”.
“Tôn giáo là niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang tính thiêng liêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách hư ảo, nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế cũng như ở thế giới bên kia” (Đặng Nghiêm Vạn, 2012). Đức hạnh của sự tín ngưỡng đã đóng một vai trò tích cực trong việc phát triển các quan điểm đạo đức của kế toán Đối với những kế toán tin vào một Đấng Tạo Hóa, cố gắng làm những gì đúng trong mắt Ngài tạo ra một mệnh lệnh đạo đức lớn hơn các tổ chức nhân loại một mình Tín ngưỡng là một trong những yếu tố quyết định thường xuyên về giá trị đạo đức (Emerson and McKinney,
2010) Phau and Kea (2007) nhận thấy rằng những người có sự tín ngưỡng sẽ có xu hướng tự coi mình là đạo đức hơn những người không có tín ngưỡng Sự tín ngưỡng giúp họ sẽ hành xử trung thực Người có sự tín ngưỡng biết rằng họ chịu trách nhiệm về hành vi của họ trong tương lai, cũng như trong thế giới này Họ nhận thức được rằng những hành động tốt sẽ được khen thưởng và làm sai sẽ bị trừng phạt dù sớm hay muộn.
Các nghiên cứu của Lam K.C and Shi G (2008); Saat M.M.et al.(2009);Feil A.A et al (2017) đều cho rằng nhân tố tín ngưỡng có ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp Tác giả cũng có cùng quan điểm với kết luận trên.
Môi trường pháp lý là một trong những nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp và quan trọng tới vấn đề đạo đức nghề nghiệp Qua hơn 20 năm đổi mới, do đòi hỏi của thực tiễn khách quan và sức ép khi gia nhập WTO, môi trường pháp lý của nước ta đã có những tiến bộ đáng kể Đó là điều không thể phủ nhận Tuy nhiên, bàn về tác động của môi trường pháp lý tới vấn đề đạo đức nghề nghiệp, có thể khẳng định rằng, hiện nay môi trường pháp lý của các nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng chưa tạo ra sức ép để các người làm nghề phải quan tâm và chú ý tới việc nâng cao giá trị đạo đức nghề nghiệp.
Không phải bất cứ ngành nghề nào cũng nhận được sự tôn trọng và có địa vị nhất định trong xã hội như ngành giáo dục, ngành luật sự, ngành bác sĩ nhưng bất cứ ngành nghề nào cũng buộc phải chịu sự chi phối của luật pháp, với những đặc thù của mỗi một ngành nghề mà sẽ có những quy định riêng biệt cho mỗi ngành nghề đó Đã có quy định, hiển nhiên bắt buộc phải thực hiện, nếu có cá nhân nào vi phạm đạo đức nghề nghiệp đã được luật quy định sẽ bị kỉ luật Để từ đó các cá nhân biết điều chỉnh và chi phối các hành vi của bản thân trong quá trình hành nghề.
Các nghiên cứu của Maree K.W and Radloff S (2007); Lam K.C and Shi
G (2008) đều cho rằng nhân tố môi trường pháp lý có ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp Ngược lại với quan điểm này, Cohen J.R and Bennie N.M (2006) cho rằng nhân tố môi trường pháp lý không có ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp Tác giả cũng có cùng quan điểm với quan điểm của Maree K.W and Radloff S (2007); Lam K.C and Shi G (2008).
Trong một môi trường làm việc, các hành vi đạo đức cá nhân được hình thành và bị tác động bởi những yếu tố xung quanh như: quyền lợi, khen thưởng và xử phạt, cơ sở vật chất, phương tiện làm việc, Điều này có thể hiểu rằng các chuẩn mực và hành vi đạo đức cá nhân sẽ bị các nhân tố trên tác động đến.Richtermeyer et al (2006) cho rằng “đạo đức ở môi trường làm việc cung cấp bối cảnh có thể thúc đẩy phản ứng của một cá nhân đối với tình trạng tiến thoái lưỡng nan về đạo đức tại nơi làm việc”. Ở một môi trường làm việc mà các chế độ phúc lợi của người hành nghề được quan tâm thì không có cá nhân nào khước từ quyền lợi của họ Nếu họ làm tốt sẽ được khen thưởng và ngược lại Đồng thời phương tiện làm việc ít nhiều cũng tạo các cơ hội cho hành vi gian lận, giữa phương tiện làm việc thủ công và hiện đại Với phương tiện thủ công sẽ dễ dàng bị gian lận trong quá trình làm việc vì nó phụ thuộc phần lớn vào hoạt động của con người.
Nhiều nhà nhiên cứu như Akman V (2014); Kokthunarinan and Marko H.
Mô hình nghiên cứu đề xuất và giả thuyết nghiên cứu
Qua phân tích các nghiên cứu trước về các nhân tố ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp của nhân viên kế toán, mỗi nhà nghiên cứu đều đưa ra nhân tố hoặc nhóm các nhân tố ảnh hưởng khác nhau.
Nhìn chung, tác giả quan điểm có 6 nhân tố tác động mạnh nhất đến đạo đức nghề nghiệp của nhân viên kế toán đó là: (1) Mức độ thâm niên; (2) Tín ngưỡng; (3) Môi trường pháp lý; (4) Trình độ học vấn; (5) Môi trường làm việc;
(6) Quan hệ công việc Các nhân tố còn lại tác động không đáng kể và không phù hợp với không gian nghiên cứu ở Việt Nam.
Trên cơ sở tìm hiểu và kế thừa những kết quả nghiên cứu của các tác giả đã trình bày trong chương 1 và chương 2, một số quan điểm của tác giả Tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu như sau:
(Nguồn: Mô hình do tác giả đề xuất)
Hình 2.1: Mô hình nghiên cứu Đạo đức nghề nghiệp của nhân viên kế toán
Trong mô hình nghiên cứu này, biến phụ thuộc là đạo đức nghề nghiệp của nhân viên kế toán tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Bình Dương, biến độc lập gồm có 6 nhân tố gồm: (1) Mức độ thâm niên; (2) Tín ngưỡng; (3) Môi trường pháp lý; (4) Trình độ học vấn; (5) Môi trường làm việc và (6) Quan hệ công việc.
Bảng 2.1: Đo lường các biến của các nghiên cứu trước
Nikoomaram H et al (2013); Costa A.J et al.
Nikoomaram H et al (2013); Feil A.A et al.
Lam K.C and Shi G (2008); Saat M.M et al.
Cohen J.R and Bennie N.M (2006); Maree K.W and Radloff S (2007); Lam K.C and Shi
Maree K.W and Radloff S (2007); Akman V. (2014); Kokthunarinan and Marko H (2016)
(Biến độc lập) G Eynonet al.(1997)
7 Đạo đức nghề nghiệp của nhân viên kế toán
G Eynon et al (1997); Radtke R.R (2000); Maree K.W and Radloff S (2007); Lam K.C. and Shi G (2008); Saat M.M et al (2009); Nikoomaram H et al (2013); Akman V. (2014); Kokthunarinan and Marko H (2016); Costa A.J et al (2016); Feil A.A et al (2017); Gatu P.N (2017)
(Nguồn: Tổng hợp của tác giả)
Từ mô hình nghiên cứu trên, tác giả xây dựng các giả thuyết nhằm xem xét sự tác động của các nhân tố đến đạo đức nghề nghiệp của nhân viên kế toán tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa, cụ thể:
Giả thuyết H1– Mức độ thâm niên càng cao thì đạo đức nghề nghiệp của nhân viên kế toán tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa càng cao.
Giả thuyết H2 – Trình độ học vấn càng cao thì đạo đức nghề nghiệp của nhân viên kế toán tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa càng cao.
Giả thuyết H3 – Các cá nhân làm nghề kế toán có sự tín ngưỡng thì đạo đức nghề nghiệp của nhân viên kế toán tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa càng cao.
Giả thuyết H4 – Môi trường pháp lý càng rõ ràng và đầy đủ thì đạo đức nghề nghiệp của nhân viên kế toán tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa càng cao.
Giả thuyết H5 – Môi trường làm việc trung thực, minh bạch, nghiêm khắc và công bằng thì đạo đức nghề nghiệp của nhân viên kế toán tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa càng cao.
Giả thuyết H6 – Quan hệ công việc rõ ràng, công tâm thì đạo đức nghề nghiệp của nhân viên kế toán tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa càng cao.
Chương 2 đã trình bày về các khái niệm liên quan đến nghiên cứu, giới thiệu về loại hình doanh nghiệp nhỏ và vừa, các nguyên tắc cơ bản về đạo đức nghề nghiệp kế toán và các nhân tố ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp Các nguyên tắc cơ bản về đạo đức nghề nghiệp này được trình bày theo từng quan điểm cụ thể, như là theo quan điểm của Bộ luật đạo đức kế toán chứng chỉ Bồ Đào Nha, theo quan điểm của Thông tư số: 70/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính Việt Nam Theo mỗi quan điểm thì các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp kế toán sẽ có những điểm khác nhau về cách đánh giá nhưng nhìn chung cũng khá giống nhau về mặt ý nghĩa Đây chính là cơ sở lý thuyết mà nghiên cứu sẽ vận dụng để tìm hiểu các nhân tố nào sẽ có ảnh hưởng tới đạo đức nghề nghiệp kế toán Đồng thời, nghiên cứu cũng dựa vào các nghiên cứu có liên quan đã trình bày trong chương 1 và chương 2 để xác định được 6 nhân tố ảnh hưởng tới đạo đức nghề nghiệp của nhân viên kế toán tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm: mức độ thâm niên, trình độ học vấn, tín ngưỡng, môi trường pháp lý, môi trường làm việc và quan hệ công việc Đồng thời chương này cũng trình bày các lý thuyết nền như: lý thuyết kinh tế, lý thuyết lợi ích xã hội, lý thuyết thế tục hóa, lý thuyết bất định của các tổ chức và lý thuyết về tâm lý học xã hội của tổ chức.