1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Văn hóa nam bộ qua tiểu thuyết con nhà nghèo của hồ biểu chánh

89 36 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thế nhưng, chúng tôi muốn khẳng định rằng Hồ Biểu Chánh không chỉ thành công ở những tác phẩm phóng tác từ cốt truyện của nước ngoài mà các tác phẩm lấy cảm hứng từ những con người, nhữn

Trang 2

Được sự phân công của Khoa Ngữ Văn trường đại học Thủ Dầu Một, và được sự đồng ý của thầy hướng dẫn Th.S Trần Duy Khương tôi đã thực hiện đề tài:

“văn hóa Nam Bộ qua tiểu thuyết Con nhà nghèo của Hồ Biểu Chánh”

Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban giám hiệu trường đại học Thủ Dầu Một, các thầy cô trong Khoa Ngữ Văn và đặc biệt là Th.S Trần Duy Khương – người đã nhiệt tình hướng dẫn tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Trong quá trình thực hiện khóa luận khó tránh khỏi những điều thiếu sót, tôi mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy cô để khóa luận của tôi được hoàn chỉnh hơn

Tôi xin chân thành cả ơn và xin kính chúc quý thầy cô dồi dào sức khỏe, thành công trong cuộc sống

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong khóa luận là trung thực và chưa được công bố trong các công trình khác

Sinh viên (ký tên)

Vũ Thị Lan

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

1.1 Về phía tác giả 1

1.2 Về phía tác phẩm 3

1.3 Về bản thân người nghiên cứu đề tài 4

2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 4

3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 7

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 8

4.1 Đối tượng nghiên cứu 8

4.2 Phạm vi nghiên cứu 8

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 9

5.1 Phương pháp liên ngành 9

5.2 Phương pháp so sánh 9

5.3 Phương pháp thống kê 9

5.4 Phương pháp cấu trúc – chức năng 9

5.5 Phương pháp phân tích, tổng hợp 10

6 CẤU TRÚC KHÓA LUẬN 10

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 11

1.1 Khái quát về đất và người Nam bộ 12

1.2 Điều kiện tự nhiên Nam bộ 12

1.3 Điều kiện lịch sử - xã hội vùng Nam bộ 14

1.4 Hồ Biểu Chánh 15

1.4.1 Cuộc đời Hồ Biểu Chánh 15

Trang 5

1.5 Tiểu kết 21

CHƯƠNG 2: VĂN HÓA TỔ CHỨC CỦA NGƯỜI NAM BỘ QUA TIỂU THUYẾT“CON NHÀ NGHÈO” CỦA HỒ BIỂU CHÁNH 23

2.1 Văn hóa tổ chức đời sống tập thể 23

2.1.1 Văn hóa tổ chức gia đình – gia tộc 24

2.1.1.1 Tổ chức gia đình 24

2.1.1.2 Tổ chức gia tộc 37

2.1.2 Văn hóa tổ chức làng xã 39

2.2 Văn hóa tổ chức đời sống cá nhân 45

2.2.1 Tín ngưỡng 46

2.2.2 Phong tục - tập quán 51

2.2.3 Văn hóa giao tiếp và nghệ thuật ngôn từ 52

2.2.4 Các loại hình nghệ thuật - giải trí 58

2.3 Tiểu kết 59

CHƯƠNG 3: VĂN HÓA ỨNG XỬ VỚI MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN CỦA NGƯỜI NAM BỘ QUA TIỂU THUYẾT CON NHÀ NGHÈO CỦA HỔ BIỂU CHÁNH 60

3.1 Phương thức ăn mặc 60

3.1.1 Văn hóa ẩm thực 60

3.1.2 Văn hóa trang phục 65

3.2 Cư trú và giao thông 69

3.2.1 Cư trú 69

Trang 6

3.3.1 Phương thức mưu sinh của tầng lớp bị trị 75

3.3.2 Phương thức mưu sinh của tầng lớp thống trị 79

3.4 Tiểu kết 81

KẾT LUẬN 82

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến cách mạng tháng Tám năm 1945 có một vị trí rất quan trọng trong tiến trình phát triển lịch sử văn hóa của Việt Nam Trong giai đoạn văn hoá này, ý thức và tâm lý của người Việt Nam có nhiều thay đổi lớn lao Mặt khác, nền văn hóa và tâm hồn người Việt đến thời kỳ này đã vượt

và thoát dần khỏi giới hạn ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa để tiếp xúc với văn hoá thế giới

Bên cạnh đó, tiểu thuyết Việt Nam nói chung đã đạt được nhiều thành tựu:

đa dạng về khuynh hướng thẩm mỹ, phong phú về số lượng tác phẩm Đặc biệt, chữ Quốc ngữ ra đời đã làm cho tiểu thuyết có một vị trí nhất định trong văn học theo đúng với giá trị của nó Ngoài các nhóm nhà văn, nhà thơ ở miền Bắc và miền Trung, văn học Nam Bộ trong thời kỳ này cũng có những đóng góp nhất định, và đại diện cho văn học Nam Bộ thời kỳ lúc bấy giờ có thể kể đến một số tác giả như

Hồ Biểu Chánh, Trần Chánh Chiếu…

1.1 Về phía tác giả

Hồ Biểu Chánh là một nhà văn lớn của miền Nam Ông có một gia tài đồ sộ với hơn 100 tác phẩm về tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện thơ, biên khảo, cải lương, hát bội, hài kịch v.v, nhưng được phổ biến và rộng rãi hơn cả là tiểu thuyết

Ông là một trong số những nhà văn đầu tiên của văn học Việt Nam sáng tác bằng chữ Quốc Ngữ Đồng thời, ông đã đi tiên phong và lập công đầu trong việc đưa tiểu thuyết mới từ tình trạng phôi thai đến giai đoạn trưởng thành Chúng ta có

thể kể ra một số bộ tiểu thuyết tiêu biểu như: Con nhà nghèo, Con nhà giàu, Ai làm

được, Cay đắng mùi đời, Cha con nghĩa nặng, Chúa tàu Kim Quy, Ngọn cỏ gió đùa, Khóc thầm, Thần thông ngôn…

Trang 8

Hồ Biểu Chánh còn là cây bút sáng giá của nền văn học Việt Nam hiện đại Một số ý kiến cho rằng Hồ Biểu Chánh sở dĩ được thành công như vậy là nhờ phóng tác từ các nguyên tác của các nhà văn nước ngoài Chẳng hạn, ba tác phẩm

Sans Famille của Hector Malot, Le Comte de Monte Cristo của Alexandre Dumas,

và Les Misérables của Victo Hugo, dưới ngòi bút của Hồ Biểu Chánh đã lần lượt trở thành Cay đắng mùi đời, Chúa tàu Kim Quy và Ngọn cỏ gió đùa, cả ba tác phẩm

này đã hoàn toàn trở thành thành viên trong kho tiểu thuyết không chỉ của riêng Hồ Biểu Chánh mà của cả Việt Nam Thế nhưng, chúng tôi muốn khẳng định rằng Hồ Biểu Chánh không chỉ thành công ở những tác phẩm phóng tác từ cốt truyện của nước ngoài mà các tác phẩm lấy cảm hứng từ những con người, những sự kiện hiện diện ngay trên chính quê hương đất nước cũng được ông thể hiện rất hay, giàu ý nghĩa và mang một giá trị nhất định Ông chỉ vay mượn cốt truyện và học tập những phương pháp, kĩ năng viết tiểu thuyết của một số tác giả tiểu thuyết Pháp chứ ông không hề sao chép hoàn toàn Ông dựa vào những cái mình đã học được để tạo cho bản thân một lối viết và phong cách đặc trưng

Hơn nữa, Hồ Biểu Chánh không chỉ là một nhà văn mà còn là một nhà văn

hóa lỗi lạc Các tác phẩm của ông thể hiện rõ những sắc thái của văn hóa Nam Bộ

Có thể nói rằng, ngoài những chức năng định sẵn, văn chương còn có một vai trò nhất định trong việc phản ánh văn hóa Bất kỳ ai đọc tác phẩm của nhà văn Hồ Biểu Chánh cũng nhận thấy một điều là ông đã truyền tải kiến thức văn hóa Nam Bộ đến độc giả theo cảm nhận và phong cách của riêng ông

Bên cạnh đó, tuy là một tác giả có số lượng tác phẩm đồ sộ, nội dung tác phẩm có giá trị sâu sắc, phản ánh hiện thực xã hội cao độ và tính hàm chứa văn hóa đậm đặc, nhưng do có sự trở ngại về việc lưu hành ấn phẩm trong thời kì nửa đầu thế kỉ XX mà các độc giả miền Bắc còn khá xa lạ với cái tên Hồ Biểu Chánh Họ chỉ gần gũi với những cái tên quen thuộc như Nguyễn Tuân, Nam Cao, Thạch Lam, Nguyên Hồng, Vũ Trọng Phụng cùng những bộ tiểu thuyết đình đám… Thông qua

đề tài nghiên cứu này, chúng tôi hi vọng hoạt động tiếp nhận văn học cũng như văn

Trang 9

hóa sẽ được công bằng hơn và có sự giao lưu qua lại giữa các độc giả của các vùng miền khác nhau Có như vậy thì mới phản ánh được những đặc trưng văn hóa, xã hội được thể hiện trong các tác phẩm văn học Đồng thời, các tác phẩm văn học được lưu truyền rộng rãi và phát triển theo đúng nghĩa của nó

Hồ Biểu Chánh là người con của phương Nam, cho nên các tác phẩm của ông mang đậm hương sắc Nam Bộ mà chúng ta không thể nào nhầm lẫn với các nhà văn khác Tiểu thuyết ông viết có cốt truyện khá đơn giản, nhưng hàm chứa những triết lý sâu sắc: Thiện thắng ác, ở hiền gặp lành Lối hành văn trong các tác phẩm của ông luôn đậm chất Nam Bộ, từ giọng điệu đến việc miêu tả con người Những cuốn tiểu thuyết của ông đều được thể hiện dưới ba dạng: Tiểu thuyết phóng tác từ các tiểu thuyết nước ngoài (chủ yếu là văn học Pháp), tiểu thuyết được cải biến từ truyện thơ Nôm và tiểu thuyết lấy bối cảnh và những vấn đề đặt ra trong xã hội lúc bấy giờ

Những tác phẩm của Hồ Biểu Chánh gắn liền với hiện thực xã hội đương thời Ông xuất thân từ gia cảnh nghèo khó, cơ cực cho nên đề tài mà ông hướng tới

và thành công nhất có lẽ là đề tài nông thôn Cùng với đó là nỗi niềm cảm thông sâu sắc với số phận người nông dân chân lấm tay bùn Những tác phẩm mà ông viết ra như là một sự đồng cảm trước mảnh đời cơ cực của những người nông dân đang phải đối mặt với một xã hội bất công Từ đó, người đọc có thể suy ngẫm để hiểu thêm những cảnh đời ngang trái, những thân phận nhỏ bé bị vùi dập, để biết được

Hồ Biểu Chánh không hề bôi đen hay tô hồng hiện thực mà chỉ nói lên hiện thực Những tác phẩm của Hồ Biểu Chánh mang lại cho người đọc một cái nhìn khách quan và chân thực hơn về cuộc đời

1.2 Về phía tác phẩm

Tiểu thuyết “Con nhà nghèo” ra đời vào năm 1930, là một trong số 64 bộ

tiểu thuyết mà Hồ Biểu Chánh đã để lại cho nền văn học Việt Nam trong những năm nửa đầu thế kỉ XX Nội dung mà Hồ Biểu Chánh thể hiện trong tiểu thuyết

Trang 10

“Con nhà nghèo” là cuộc sống khổ cực và thân phận nhỏ bé, bị vùi dập của người

nông dân trong chế độ xã hội thực dân nửa phong kiến Bên cạnh đó, tiểu thuyết

cũng thể hiện một triết lý nhân sinh sâu sắc: “Ở hiền gặp lành”, “Gieo nhân nào,

gặp quả nấy”

Tiểu thuyết Con nhà nghèo được đạo diễn Hồ Ngọc Xum (hãng phim TFS)

chuyển thể thành phim (1999) Đạo diễn Hồng Vân, Minh Hoàng đã chuyển thể tiểu

thuyết “Con nhà nghèo” thành vở cải lương (2011) Tất cả đều được đông đảo

công chúng đón nhận

1.3 Về bản thân người nghiên cứu đề tài

Văn hóa là nền tảng tinh thần, là động lực, mục tiêu phát triển của xã hội Trong văn hoá Việt Nam hiện nay, vùng đất Nam Bộ đã ngày càng khẳng định được những giá trị to lớn trên các phương diện xã hội Việc nhìn nhận lại diện mạo của văn hoá Nam Bộ đã dần dần trở thành một xu hướng nổi bật trong giới nghiên cứu học thuật Do đó, việc nghiên cứu về văn hoá Nam Bộ qua tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh cũng sẽ góp phần khẳng định lại những đặc trưng nổi bật của vùng văn hoá

trẻ tuổi này Cho nên, chúng tôi thực hiện đề tài “Người Nam Bộ qua tiểu thuyết

Con nhà nghèo của Hồ Biểu Chánh” với hi vọng là sẽ đưa tới cho người đọc một

cái nhìn mới hơn về văn hóa Nam Bộ qua ngòi bút của Hồ Biểu Chánh

2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

Trong những năm gần đây, văn hóa và con người Việt Nam đã được nghiên cứu một cách nghiêm túc Văn hóa thể hiện tầm cao và chiều sâu về trình độ nhận thức của một dân tộc, là sự kết tinh những giá trị tốt đẹp nhất trong quan hệ giữa người với người, với xã hội và với thiên nhiên Đồng thời, văn hóa cũng là điều kiện sinh tồn của mỗi con người, là thành tựu của từng tộc người và là cái để phân biệt giữa cộng đồng người này với cộng đồng người khác Đặc biệt, Nam Bộ là vùng đất có ưu thế mạnh về kinh tế, ngoại thương, là nơi tập trung nguồn nhân lực dồi dào nhất cả nước Do vậy, việc nhìn nhận lại về đất và người Nam Bộ đã trở

Trang 11

thành một vấn đề trọng tâm trong giới nghiên cứu ở Việt Nam Chúng ta có thể nhắc qua một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về đất và người Nam Bộ như:

Trong quyển Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ, Trần Ngọc Thêm nhận định: “Nông dân Tây Nam Bộ trong các tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh là những

người ít khi lưu giữ sự hận thù cháy bỏng trong lòng, không bao giờ tính toán thủ đoạn” [8;717] Ông còn cho rằng: “Điều kiện tự nhiên thuận tiện, ưu đãi cho cuộc sống khiến con người không phải lo khéo léo lấy lòng người khác để tồn tại Với sông rạch chằng chịt, ruộng đồng bao la, nếu con người không chịu nổi sự áp bức, thống trị của quan lại hay địa chủ ở nơi này thì người nông dân chỉ cần xuống ghe xuồng đi qua nơi khác tìm vùng đất hứa” [8; 706] Qua đánh giá của Trần Ngọc

Thêm, chúng ta có thể biết được là do điều kiện tự nhiên và xã hội thuận lợi cho nên người dân Nam Bộ đã có được những tính cách đặc trưng như tính bộc trực, thẳng

thắn, thật thà, chất phác

Trong quyển Văn hóa dân gian người Việt ở Nam Bộ, nhóm tác giả Thạch

Phương, Hồ Lê, Huỳnh Lứa, Nguyễn Quang Vinh cũng đưa ra đánh giá khách quan:

“Khách từ phương xa có dịp đến Nam Bộ, tiếp xúc với bà con cô bác xứa này – dù

đó là người dinh ở chợ, hay người quê ở rẫy, ruộng – đều cảm nhận thấy ngay hơi

ấm của tình người, của lòng người rộng rãi, bao dung, của cách cư xử nhân nghĩa, hồn nhiên như đã thấm vào máu thịt Người ta nói tới lòng hiếu khách của bà con, niềm nở dốc hết hạt gạo cuối cùng, giọt rượu cuối cùng cho bạn mới Người ta nói đến cách đếm trái cây miệt vườn ở Nam Bộ với chục 12, chục 14, thậm chí chục 16 Người ta nói đến lòng khao khát nhân nghĩa, thấm vào câu hát ru em:

Tìm vàng tìm bạc dễ tìm, Tìm câu nhân nghĩa khó tìm, em ơi!” [19; 533]

Có thể nói, người dân Nam Bộ vô cùng hiếu khách Họ sẵn sàng sẻ chia những gì quý nhất cho mọi người để đổi lấy thân tình Vì lẽ đó mà tính nhân nghĩa luôn được người dân Nam Bộ đặt lên hàng đầu

Trang 12

Kinh tế Nam Bộ phát triển gắn liền với sự ra đời của các thương cảng lớn

Trong quyển Nam Bộ vài nét lịch sử - văn hóa, Trần Thuận lần lượt nhắc tới các cảng: “Cảng thị Cù lao Phố có được vị trí tối ưu là trung tâm tụ hội mang tính chất

“chợ đầu mối” của khu vực, được khai phá sớm, dồi dào nông lâm sản” [23;65]; “ Cảng thị Hà Tiên ra đời và hưng thịnh vào thế kỉ XVIII Với vị trí thuận lợi nhìn ra vịnh Thái Lan, lại có thể giao thương với nội địa của Campuchia, Hà Tiên đã trở Thành nơi buôn bán của ghe thuyền các nơi” [23;67]; “Cảng thị Ba Thắc, một trung tâm buôn bán lớn, một khu đô thị thương mại trù phú nhất ở vùng đất cực Nam, hình thành và phát triển vào thế kỉ XVIII” [23; 87]

Theo như nhận xét của TS Nguyễn Văn Kha:“Những nét cơ bản của tính

cách con người Nam Bộ như sự phiêu lưu, hào phóng, sĩ khí hiên ngang, tình nghĩa, năng động, sáng tạo… được xem như những nét bản sắc nằm trong hệ giá trị của tính cách con người Việt Nam, biểu hiện trong đời sống cá nhân và cộng đồng người cụ thể, làm phong phú, đa dạng tính cách dân tộc Việt Nam” [24] Như vậy,

qua nhận xét của TS Nguyễn Văn Kha, chúng ta có thể thấy rằng ở con người Nam

Bộ hội tụ đầy đủ những phẩm chất, tính cách đáng quý của dân tộc Việt Nam

Tác giả Trần Phú Huệ Quang cũng có nhận xét: “Người miền Tây được tôi

luyện trong môi trường sống bất ổn, bấp bênh, xa lạ và chông gai, giá trị cao nhất của việc mở rộng lòng là để cùng sinh tồn Như một quy luật của triết lý âm dương, cảm giác bơ vơ, sợ hãi trước môi trường sống mới lớn bao nhiêu, thì “tấm lòng”,

“tình người” rộng mở lớn bấy nhiêu” [27] Từ ý kiến trên, chúng ta phần nào cũng

có thể cảm nhận được tấm lòng bao dung, gần gũi và quý trọng tình người của người dân Nam Bộ

Quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh, Đinh

Trí Dũng nhận định: “Hồ Biểu Chánh đã đứng về phía người nghèo để lột trần bộ

mặt xấu xa cũng như thủ đoạn làm giàu của những Cai tổng Luông (Thầy thông ngôn), bà Cai Hiếu (Con nhà nghèo)… Cảnh Cai tuần Bưởi vừa bị ức hiếp, bắt nạt, vừa phải đóng một năm 300 giạ lúa tốt cho bà Cai Hiếu, để rồi sau đó vẫn bị thu lại

Trang 13

ruộng quả là những chi tiết điển hình cho những bất công giai cấp ở nông thôn Nam Bộ lúc bấy giờ” [22]

Các công trình trên tuy có nhìn nhận về đời sống và tính cách của con người Nam Bộ, nhưng chưa có công trình nào thật sự nghiên cứu sâu về hình tượng người

Nam Bộ thông qua tác phẩm “Con nhà nghèo” của Hồ Biểu Chánh để thấy rõ đặc

trưng văn văn hóa của Nam Bộ Do vậy, việc phân tích những nét văn hoá đặc sắc của người Nam Bộ được Hồ Biểu Chánh lồng ghép trong các tác phẩm văn chương

là một trong những điều cần thiết để đóng góp vào việc nhìn nhận lại diện mạo của văn hoá Nam Bộ

3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Hồ Biểu Chánh không chỉ viết nhiều mà những tác phẩm ông viết còn chứa đựng giá trị nhân văn sâu sắc Trong cùng một tác phẩm văn học của Hồ Biểu Chánh, ngoài việc cảm nhận những giá trị thuần văn chương ra, chúng ta còn có thể cảm nhận được những nét văn hóa đặc sắc của vùng đất Nam Bộ Trong số các

tác phẩm viết về con người Nam Bộ ấy, “Con nhà nghèo” được xem là một tác

phẩm điển hình nhất

Qua đề tài này, chúng tôi cũng muốn đưa nền văn hóa Nam Bộ đến gần hơn với mọi người, với mục đích là góp một phần nào đó để bảo vệ và phát huy nền văn hóa truyền thống của dân tộc Đồng thời, việc thực hiện đề tài này còn giúp cho người thực hiện có được cái nhìn tổng quát, khách quan hơn về văn hóa thông qua các tác phẩm văn học Người thực hiện đề tài vừa có cơ hội tìm hiểu sâu hơn

về văn hóa của từng vùng miền, vừa tích lũy thêm được những kinh nghiệm sống

có ích rút ra được từ những giá trị văn hóa

Mỗi nền văn hóa đều có cái riêng của nó, vẻ đẹp độc đáo của nó, không nền văn hóa nào cho dù rực rỡ hơn có thể thay thế được Qua công trình nghiên cứu, chúng tôi muốn hướng tới việc làm sáng tỏ những đóng góp của Hồ Biểu Chánh về văn hóa Nam Bộ Đồng thời, công trình này sẽ góp phần phục dựng một bức tranh

Trang 14

toàn cảnh tương đối đầy đủ về văn hóa Nam Bộ đầu thế kỉ XX thông qua những

mảnh ghép rời là các tác phẩm của Hồ Biểu Chánh nói chung và tiểu thuyết “Con nhà nghèo” nói riêng

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh đề cập rất nhiều đến các phương diện khác nhau về văn hóa của cư dân Nam Bộ, từ cách tổ chức, ứng xử đến những nét tính cách đặc trưng Do vậy, chúng tôi lấy hình tượng người Nam Bộ được Hồ Biểu Chánh đề cập đến trong tác phẩm để làm đối tượng nghiên cứu, nhằm làm sáng tỏ những đặc trưng văn hóa của Nam Bộ

về mảnh đất và con người Nam Bộ qua từng cử chỉ, lời nói, hành động của nhân vật Tuy nhiên, một tác phẩm văn chương không phải là một quyển biên khảo, do

vậy, văn hoá Nam Bộ thông qua tiểu thuyết “Con nhà nghèo” cũng không được Hồ

Biểu Chánh thể hiện một cách hoàn chỉnh, mà chủ yếu là tập trung đến một số nét đặc trưng văn hoá của người Việt ở Nam Bộ như: cách thức tổ chức gia đình và mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, văn hoá giao tiếp - ứng xử, những tập tục trong ăn mặc… Do vậy, trong công trình này, chúng tôi chỉ đề cập đến một số mảng vấn đề về văn hoá Nam Bộ được tác giả nhắc đến trong tác phẩm

Trang 15

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

5.1 Phương pháp liên ngành

Để có thể đưa đến một cái nhìn chính xác và khách quan, chúng tôi phải vận dụng các kiến thức về văn hóa, lịch sử, tôn giáo, tâm lý… để phân tích giá trị của các tác phẩm văn học

5.3 Phương pháp thống kê

Bên cạnh đó, chúng tôi sử dụng phương pháp thống kê để thấy rõ được những từ phương ngữ Nam Bộ nào xuất hiện bao nhiêu lần, những tình tiết nào giống nhau và xuất hiện với mật độ ra sao… Những con số này sẽ phục vụ cho việc nhận định về tính cách, nhận thức của người Nam Bộ được chính xác và chân thực hơn

5.4 Phương pháp cấu trúc – chức năng

Để giúp cho công trình tăng tính thuyết phục, chúng tôi cũng phải sử dụng đến phương pháp cấu trúc – chức năng Phương pháp này giúp chúng tôi lý giải rõ hơn ý nghĩa của các tín ngưỡng, phong tục tập quán, lời ăn tiếng nói hằng ngày, hình thức giải trí, phương thức mưu sinh cũng như trong cách ăn uống và trong trang phục của người Nam Bộ

Trang 16

5.5 Phương pháp phân tích, tổng hợp

Trong quá trình nghiên cứu thì phân tích là một bước vô cùng quan trọng Thông qua tài liệu tham khảo, qua quá trình đọc và thống kê, chúng tôi tiến hành phân tích để làm rõ được những nét văn hóa đặc trưng của Nam Bộ được thể hiện qua tiểu thuyết Con nhà nghèo của nhà văn Hồ Biểu Chánh Sau đó, dựa trên những

dữ liệu đã được phân tích, chúng tôi sẽ tiến hành tổng hợp nội dung theo một hệ thống khoa học và hợp lý

6 CẤU TRÚC KHÓA LUẬN

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung chính của khoá luận này sẽ được triển khai thành các chương sau:

Trang 17

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

Đi cùng với chiều dài lịch sử, Nam Bộ đã không ngừng chuyển mình để khoác lên một diện mạo mới về văn hóa Vùng văn hóa Nam Bộ gồm có 17 tỉnh thành lớn nhỏ và 2 thành phố Trực thuộc Trung ương với đầy đủ những nét đặc trưng riêng, tạo nên một không gian văn hóa rộng lớn Đầu tiên kể đến là 5 tỉnh và một thành phố ở tiểu vùng văn hóa Đông Nam Bộ: Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Tây Ninh, thành phố Hồ Chí Minh Kế đến là 12 tỉnh và 1 thành phố thuộc tiểu vùng văn hóa Tây Nam Bộ: Long An, Tiền Giang, Bạc Liêu, Kiên Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Đồng Tháp, An Giang, Hậu Giang, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Cà Mau, thành phố Cần Thơ

Những thuận lợi về mặt tự nhiên cũng như xã hội đã thúc đẩy vùng đất Nam

Bộ ngày càng phát triển sầm uất Song hành cùng sự phát triển ấy là sự ra đời của hàng loạt những khu đô thị Trong đó Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố đông dân nhất, đồng thời cũng là trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục quan trọng của Việt Nam Hiện nay, Thành phố Hồ Chí Minh là một trong hai đô thị loại đặc biệt ở Việt Nam Còn Cần Thơ, đây là một thành phố trực thuộc Trung ương, là đô thị hạt nhân của Tây Nam, là trung tâm kinh tế của vùng Đồng Bằng sông Cửu Long và một thời được mệnh danh là “Tây Đô” Vũng Tàu – Thành phố du lịch biển, đây chính là trung tâm du lịch biển đầu tiên của Việt Nam Đặc biệt, huyện đảo Phú Quốc thuộc tỉnh Kiên Giang cũng được xếp vào đô thị loại hai, và được mệnh danh là “Đảo Ngọc” – hòn đảo lớn nhất Việt Nam

Bên cạnh sự phát triển toàn diện với tốc độ nhanh chóng ấy, vùng văn hóa Nam Bộ đã xây dựng được một nền móng vững chắc, là bàn đạp thúc đẩy cho nền kinh tế - văn hóa – xã hội phát triển nhảy vọt, đó là hệ thống sân bay với quy mô trong nước và quốc tế Những sân bay nổi tiếng như: Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất

là sân bay chính khu vực Nam Bộ, với các tuyến bay nội địa và ngoại địa; sân bay

Trang 18

quốc tế Cần Thơ, với tuyến bay Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Phú Quốc, Côn Đảo Sân bay quốc tế Phú Quốc, với các tuyến bay Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ; sân bay Côn Đảo, tuyến bay Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ; sân bay Rạch Giá với tuyến bay Thành phố Hồ Chí Minh; sân bay Cà Mau, tuyến bay Thành phố Hồ Chí Minh

1.1 Khái quát về đất và người Nam bộ

Nam Bộ tuy là vùng đất còn khá trẻ nhưng lại là trung tâm giao lưu của nhiều nền văn hóa khác nhau, không chỉ văn hóa trong nước mà còn cả nước ngoài Vào đầu thế kỷ XVI, chúa Nguyễn Hoàng đã kêu gọi đông đảo bộ phận người Việt

ở Bắc Bộ và Trung Bộ vào Nam lập nghiệp, khai khẩn đất hoang Như vậy, với khoảng gần 400 năm hình thành, vùng đất Nam Bộ này tuy chưa có tiến trình lịch

sử - văn hóa đủ dài so với vùng đất Miền Bắc, nhưng cũng không hẳn là ít những đặc sắc văn hóa để có thể hình thành nên một vùng văn hóa Nam Bộ với những sắc thái và đặc trưng riêng Nếu nhìn một cách tổng thể, bao quát hơn thì chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng văn hóa Nam Bộ đã có bước phát triển vượt bậc Ở Nam

Bộ vừa có dáng dấp của nền văn hóa lúa nước truyền thống Bắc Bộ, vừa có những nét hiện đại do ảnh hưởng của nền văn hóa phương Tây mang lại

1.2 Điều kiện tự nhiên Nam bộ

Địa hình trên toàn vùng Nam Bộ nói chung khá bằng phẳng, bao gồm bình nguyên và bán bình nguyên Đây là vùng có độ cao trung bình thấp nhất Việt Nam Phía Đông và Đông Nam giáp biển Đông, phía Tây giáp Vịnh Thái Lan, phía Bắc giáp Trung Bộ Với vị trí địa lý thuận lợi như thế này, Nam Bộ chính là đầu mối giao thương quan trọng để phát triển kinh tế, thương mại với các nước trong khu vực và quốc tế Tuy nhiên, đặc điểm địa hình và địa chất cũng có sự khác biệt khá lớn khi nội phân vùng văn hoá Nam Bộ thành hai tiểu vùng nhỏ đó là: Đông Nam

Bộ và Tây Nam Bộ Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi chỉ tập trung

đề cập đến tiểu vùng Tây Nam Bộ bởi trong tiểu thuyết “Con nhà nghèo” thì Hồ

Trang 19

Biểu Chánh đã tập trung miêu tả tính cách cũng như đời sống của con người miền Tây

Tây Nam Bộ, hay còn gọi với cái tên khá thân thuộc là vùng đồng bằng sông Cửu Long, có diện tích khoảng 40.548,2 km2 Địa hình ở đây khá thấp, với độ cao trung bình thấp nhất nước, chỉ vào khoảng 0,7 – 1,2m so với mực nước biển Đồi núi chủ yếu tập trung ở phía Tây là dãy Thất Sơn ở An Giang, với núi Cấm cao 718m; dãy Hàm Ninh ở Kiên Giang, cao nhất là núi Chúa 602m

“Do đất thấp mà trong dân gian có tên gọi vùng phía Tây sông Hậu là ‘miệt dưới’ so với vùng sông Tiền là ‘miệt trên’; đến lượt mình, cả không gian Tây Nam

Bộ là ‘miệt dưới’ so với Đông Nam Bộ và Campuchia là ‘miệt trên’ ” [8;69]

Do có sự phân chia độ cao nên địa chất ở mỗi vùng cũng khác nhau Theo

cách gọi của dân gian, thì vùng đất này được gọi là “miệt phù sa”, “miệt vườn”

Đất nhiễm phèn chủ yếu tập trung tại Đồng Tháp Mười và Tứ Giác Long Xuyên Đất mặn thường nằm ở vùng ngập mặn, chủ yếu ở bán đảo Cà Mau Ngoài ra, còn

có các loại đất khác như: đất than bùn ở vùng rừng U Minh, đất xám trên phù sa cổ

ở cực Bắc của đồng bằng sông Cửu Long và đất đồi núi ở phía Tây - Bắc đồng bằng sông Cửu Long Nhìn chung địa hình – địa chất ở đồng bằng sông Cửu Long rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, và đồng bằng sông Cửu Long hiện nay là vựa lúa lớn nhất của Việt Nam

Khí hậu ở Nam Bộ mang tính chất khí hậu nhiệt đới gió mùa và cận xích đạo của một vùng nhiệt đới ẩm Chế độ gió mùa này đã tạo ra hai mùa mưa và mùa khô

rõ rệt Nhiệt độ không khí trung bình của toàn vùng vào khoảng 270C Số giờ nắng trung bình trong năm cao Vì thế, bên cạnh những nguồn lợi từ năng lượng điện mặt trời mang lại thì nguồn năng lượng gió dồi dào ở Nam Bộ cũng đang được khai thác

và đưa vào sử dụng như công trình năng lượng điện gió ở Bạc Liêu

Nam Bộ nổi tiếng là vùng đất với sông ngòi, kênh rạch chằng chịt nên hoạt động buôn bán, đi lại chủ yếu bằng ghe xuồng, tàu thuyền Lượng nước chủ yếu mà

Trang 20

khu vực Nam Bộ sử dụng là nguồn nước từ hệ thống sông Đồng Nai và sông Cửu Long – Phân lưu của sông Mê Kông chảy qua lãnh thổ Việt Nam Hệ thống sông Cửu Long đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình hình thành đồng bằng sông Cửu Long với diện tích lên tới 39.734km² Tổng lượng nước hàng năm của sông

Cửu Long là 4000 tỷ mét khối nước và 100 triệu tấn vật liệu phù sa ngọt “Ước tính

khối lượng phù sa ngọt lắng đọng hàng năm tại Đồng Bằng Sông Cửu Long vào khoảng 1 tỷ mét khối, gần gấp 13 lần khối lượng phù sa ngọt lắng đọng ở đồng bằng Sông Hồng” [8; 69]

Nguồn lợi tự nhiên ở Nam Bộ thể thiện rõ sự đa dạng sinh học của một vùng đất nhiệt đới Nhiều vườn quốc gia, khu dự trữ sinh quyển được tập trung ở Nam

Bộ, chẳng hạn như: ở Đông Nam Bộ có vườn quốc gia Cát Tiên (thuộc ba tỉnh Đồng Nai, Bình Phước, và thuộc một phần của tỉnh Lâm Đồng ở miền Nam Trung Bộ), Bù Gia Mập (Bình Phước), Lò Gò Xa Mát (Tây Ninh), Côn Đảo (Bà Rịa – Vũng Tàu) Tây Nam Bộ thì có vườn quốc gia Tràm Chim (Đồng Tháp), Mũi Cà Mau (Cà Mau), U Minh Thượng (Kiên Giang), U Minh Hạ (Cà Mau), Phú Quốc (Kiên Giang) Phần lớn, các loại động - thực vật quý hiếm đều tập trung ở các vườn quốc gia này

Hơn nữa, lượng phù sa được bồi đắp bởi các hệ thống sông ngòi hàng năm là rất lớn Chính vì thế, thảm thực vật ở Nam Bộ trở nên đa dạng, phong phú Ở vùng biển và ven biển có các hệ sinh thái điển hình như rừng ngập mặn, những dãy san

hô, thảm biển cỏ; ở bãi bồi và vùng triều là nơi cư trú và sinh sản của nhiều loài sinh vật biển như chim cò, ba khía, tôm…

1.3 Điều kiện lịch sử - xã hội vùng Nam bộ

Tiến trình lịch sử của Nam Bộ có những nét khác biệt khá rõ so với các vùng miền khác Nếu như Bắc Bộ và Trung Bộ là những vùng có lịch sử phát triển liên tục và lâu đời thì ở Nam Bộ sự phát triển lịch sử lại phải trải qua nhiều sự gấp khúc Vùng đất Nam Bộ trở nên hoang vu và hẻo lánh hơn sau khi nền văn hó Óc Eo bị

Trang 21

sụp đổ vào cuối thế kỷ thứ VI Sau một khoảng thời gian khá dài, đến tận thế kỷ thứ XVI, người Việt mới đến và khai phá lại vùng đất này Từ một vùng đất hoang sơ, Nam Bộ giờ đây trở thành một vùng đất mới, miền đất hứa của biết bao cư dân từ

bỏ quê hương để dời tới đây

Năm 1679, nhà Minh sụp đổ, hai võ tướng Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch đã mang bộ tướng lên thuyền chạy vào Đàng Trong và được chúa Nguyễn chia cho phần đất để cai quản, đó là Biên Hòa và Mỹ Tho ngày nay Đến cuối thể kỷ XVII, Mạc Cửu đem người Trung Quốc vào lập nghiệp ở Hà Tiên và

quy phục chúa Nguyễn “Người Khmer, có vẻ đến vùng này khai phá sớm hơn,

nhưng sớm nhất cũng chỉ vào khoảng thế kỷ thứ XIII, tức sau khi vương quốc Angco tan vỡ, và nếu đúng như vậy thì người Khmer đến khai thác vùng này cũng chỉ sớm hơn người Việt 2 – 3 thế kỷ Trong số những lưu dân mới đến vùng đồng bằng sông Cửu Long có cả người Chăm Người Chăm đến vùng An Giang, Tây Ninh muộn hơn các tộc người trước đó, mãi đến đầu thế kỷ XIX, họ mới định cư tại đây” [9;268]

1.4 Hồ Biểu Chánh

1.4.1 Cuộc đời Hồ Biểu Chánh

Hồ Biểu Chánh tên thật là Hồ Văn Trung, tự là Biểu Chánh, bút hiệu là Thứ Tiên Ông sinh ngày 1 tháng 10 năm 1885 (năm Ất Dậu) tại làng Bình Thành, tỉnh

Gò Công (nay thuộc huyện Gò Công Đông – tỉnh Tiền Giang)

Năm 1905, Hồ Biểu Chánh thi đỗ bậc Thành Chung Bằng Thành Chung là giai đoạn nối giữa chương trình Pháp và chương trình chữ Quốc Ngữ Đó là bằng thi đậu lớp đệ tứ, tức là lớp 9 Từ năm 1906 – 1946, ông làm việc cho chính phủ Nam Kỳ tự trị Cuối năm 1946, Hồ Biểu Chánh từ bỏ chốn quan trường và dành trọn quãng đời còn lại cho việc sáng tác văn học Ông qua đời ngày 14 tháng 11 năm 1958 (nhằm ngày 23 tháng 9 năm Mậu Tuất) tại tư thất ở quận Phú Nhuận – Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 22

Hồ Biểu Chánh sinh trưởng trong một gia đình gốc nông dân nghèo khó, đông con nên ông phải chịu nhiều vất vả, thiếu thốn Do đó, những tác phẩm của ông đều thấm nhuần tư tưởng nhân đạo, mang một màu sắc khách quan, chân thật Trong tiểu thuyết của mình, ông viết nhiều về giới nông dân, giới thợ thuyền, nói

chung những người cùng cố trong xã hội Ông tự thuật lại đời ông trong Lời di chúc “Còn hai bữa nữa tới ngày ta phải đi, mẹ ta than hết tiền, cha ta mới đi kiếm

người đặng mượn tiền cho ta đi Ta lo quá, sợ không đi được Bữa chót, đến tối mà cũng không thấy cha ta về Ta than nếu có một đồng bạc thì đủ cho ta đi Mẹ ta khuyên ta đừng lo… Thiệt khuya, mẹ ta gói một cặp áo hàng, đi bộ với ta xuống chợ

mà cầm Chủ tiệm chịu cầm ba đồng Mẹ ta xếp giấy bỏ vô túi, còn bạc thì đưa hết cho ta Ta lấy hai đồng mà thôi Mẹ ta không chịu, ép phải lấy hết, rồ 1 i đưa ta xuống tàu Lúc tàu mở dây mà chạy, ta đứng ngó mẹ ta trên cầu tàu, ta chảy nước mắt…” [4;220]

Lên chín tuổi, ông bắt đầu học chữ Nho ở trường làng Vì lo mưu sinh nên cha mẹ ông phải dời tới chợ Giồng ông Huê, lúc này Hồ Biểu Chánh học chữ Quốc Ngữ và chữ Pháp tại trường tổng Vĩnh Lợi vào năm 1896 – 1898, học ở trường tỉnh

Gò Công năm 1898 – 1901 Từ năm 1902 – 1903, Hồ Biểu Chánh được cấp học bổng để học trường trung học Mỹ Tho Rồi từ năm 1904 – 1905 học ở trường Chasseloup – Laubat ở Sài Gòn Cuối năm 1905, ông thi đậu bằng Thành Chung, đậu hạng nhì

Sau khi thi đậu bằng Thành Chung, Hồ Biểu Chánh định gắn đời mình với sự nghiệp trồng người – nghề giáo viên, nhưng một vị thầy cũ đã khuyên ông nên thi vào ngạch ký lục để sau này được lên chức Huyện, Phủ cho có tương lai, cho cuộc sống mưu sinh mới bớt chật vật Từ đó, đúng ba mươi lăm năm, ông làm việc cho chính phủ Pháp và đã thăng dần tới chức Đốc phủ sứ Năm 1906, ông đậu ký lục và được bổ nhiệm làm việc ở dinh Thượng Thơ Sài Gòn Cuộc đời hoạn lộ của ông bắt đầu từ đây, năm 1911, Thống đốc Nam kỳ nghi ông thân thiện với đám nghịch Pháp

Trang 23

của Trần Chánh Chiếu nên dời ông đi Bạc Liêu Tuy vậy, ông vẫn giữ được khí tiết

trong sạch, thanh cao với cương vị của người làm quan Ông nghĩ rằng: “Tuy là tay

sai của quan Pháp, song nếu mình cứ lấy lòng siêng năng ngay thẳng mà làm việc, đừng a dua, đừng bợ đỡ, phải thì ở, không phải thì đi, nói oan dám giận, nói bậy dám cãi, thì phận mình khỏi hổ, mà thiên hạ lại được nhờ nữa” [4;22]

Năm 1920, ông tùng sự tại Văn phòng Thống đốc Nam kỳ Năm 1921, ông thi đậu tri huyện Năm 1927, ông được thăng Tri Phủ, nhậm chức Chủ quận Càng Long (Vĩnh Bình) Năm 1932, ông làm chủ quận Ô Môn (Cần Thơ) Năm 1934, vì bất đồng ý kiến với viên chủ tỉnh, ông phải dời đi quận Phụng Hiệp Năm 1935, ông lại được dời về Sài Gòn Năm 1936, ông được thăng chức Đốc phủ sứ Sau ba mươi năm làm việc, tháng 6 năm 1936, ông xin hồi hưu Tuy nhiên chính phủ Pháp viện

vì lẽ không có người thay thế nên lựu dụng ông cho đến cuối tháng 6 năm 1941

Ngày 4 tháng 8 năm 1941, ông được cử làm Nghị viện Hội đồng Liên bang Đông Dương Đến ngày 26 cùng tháng, ông được củ làm Nghị viện Hội đồng thành phố Sài Gòn kiêm chức phó Đốc lý Từ năm 1942 – 1944, ông là Nghị viện Hội đồng quản trị Sài Gòn Chợ Lớn

Năm 1946, bác sĩ Nguyễn Văn Thinh mời ông lãnh bộ Nội vụ hoặc bộ Thông tin trong Chính Phủ Nam kỳ Công Hòa Tự trị, nhưng vì tuổi cao, sức yếu nên ông chỉ nhận làm cố vấn và Đồng lý văn phòng

Hồ Biểu Chánh mất ngày 4 tháng 11 năm 1958 tại tư thất ở Phú Nhuận, hưởng thọ 74 tuổi Ông được an táng tại Biểu Chánh An tức viên ở xã Thông Tây hội tại quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định (nay thuộc phường 11, quận Gò Vấp, thành phố

Hồ Chí Minh)

1.4.2 Sự nghiệp sáng tác của Hồ Biểu Chánh

Hồ Biểu Chánh đã góp thêm vào lịch sử văn học, lịch sử văn hóa, lịch sử nghiên cứu khoa học xã hội Việt Nam một phong cách văn chương rất Hồ Biểu

Trang 24

Chánh Trong những sáng tác của mình, Hồ Biểu Chánh sử dụng đa số là phương ngữ Nam Bộ với mật độ dày đặc Những từ ngữ Nam Bộ ấy có thể xa lạ với người Việt ngày nay nhưng khi đọc tác phẩm của ông, chúng ta hoàn toàn có thể hiểu và cảm nhận được nội dung mà Hồ Biểu Chánh thể hiện trong tác phẩm

Đồng thời, ông được sinh ra trong lúc nền văn học Việt Nam đang trong buổi giao thời Một mặt, ông vừa tiếp thu nền văn minh phương Tây do người Pháp mang lại; một mặt lại chịu sự ảnh hưởng, chi phối khá sâu sắc của nền văn minh rực

rỡ Trung Hoa với hơn một ngàn năm đô hộ Ông thuộc vào tuýp người đi đầu, vừa tiếp thu nền giáo dục tân thời, vừa am hiểu tường tận văn học truyền thống

Được mệnh danh là một tiểu thuyết gia, một cây bút viết văn xuôi tự sự thành thục bậc thầy ở Nam Bộ, Hồ Biểu Chánh luôn thể hiện tài năng của mình đúng với những gì mà độc giả mong đợi Đề tài chủ đạo trong từng trang viết của ông phần lớn là cuộc sống ở Nam Bộ từ nông thôn đến thành thị những năm đầu thế

kỷ XX Cùng với đó là cách diễn đạt nôm na, bình dị đã phần nào làm tăng thêm giá trị hiện thực trong từng tác phẩm của ông Ông để lại một khối lượng sáng tác không nhỏ: 64 tiểu thuyết, 12 tập truyện ngắn và truyện kể, 12 vở hài kịch và ca kịch, 5 tập thơ và truyện thơ, 8 tập ký, 28 tập khảo cứu – phê bình, ngoài ra còn có các bài diễn thuyết và hai tác phẩm dịch

Với sự cống hiến không ngừng nghỉ, Hồ Biểu Chánh đã danh dự nhận được huy chương hạng nhì năm 1920 và hạng nhất năm 1926; Kim Tiền hạng ba năm 1921; Monisaraphon năm 1924; Chevalier de I’Ordre Royal du Dragon de I’Annam năm 1927; Chevalier de I’Ordre Royal du Dragon Cambodge năm 1927; Bắc đẩu bội tinh (Chevalier de la Légion d’Honneur) năm 1941

Sự nghiệp văn chương của Hồ Biểu Chánh là những đóng góp rất to lớn trong quá trình đổi mới văn học Hồ Biểu Chánh đã đem vào hệ thống tiểu thuyết kể trên những hình ảnh đời thường của người dân Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ

XX Đồng thời những trang viết của ông còn cung cấp cho người đọc một lượng

Trang 25

thông tin khá đầy đủ về lịch sử Nam Bộ qua bàn tay cai trị, chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp

1.4.3 Tiểu thuyết Con nhà nghèo

Nền văn học của Việt Nam rất đa dạng về thể loại, phong phú về đề tài Nhưng đề tài thường được các nhà văn, nhà thơ đề cập đến trong tác phẩm của mình lại là đề tài về cuộc sống hiện thực của người nông dân Trước năm 1945, văn học miền Bắc xuất hiện với ngòi bút cứng cỏi Ngô Tất Tố với các tác phẩm tiêu biểu

như Tắt đèn, Việc làng, Tập án cái đình, Lều chõng… Những tác phẩm của Ngô Tất

Tố luôn thể hiện sự trăn trở, xúc động sâu xa về cảnh ngộ cũng như số phận của người nông dân Việt Nam Vì lẽ đó mà những sáng tác của ông đã tạo một tiếng vang lớn cho nền văn học cũng như xã hội đương thời lúc bấy giờ Sau năm 1945,

văn học hiện thực vẫn được ưu tiên xếp đầu Đó là Vợ nhặt, Làng của Lim Lân; Số

đỏ của Vũ Trọng Phụng; Lão Hạc, Chí Phèo của Nam Cao…tất cả đều thể hiện

cuộc sống muôn hình vạn trạng của người nông dân trong chế độ xã hội phong kiến

Ở Nam Bộ, vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX văn học cũng xuất hiện với những

cái tên quen thuộc như: Sơn Nam, Nguyễn Chánh Sắt, Trần Chánh Chiếu mà nổi

là Hồ Biểu Chánh với tiểu thuyết “Con nhà nghèo”

Tiểu thuyết “Con nhà nghèo” xoay quanh câu chuyện cuộc sống đời thường

khó khăn, vất vả của những người dân nghèo khổ nơi xóm đập Ông Canh Có những câu chuyện mà ngay cả những người trong làng đều kháo nhau, nhưng lại rồi

né tránh, không ai biết rõ câu chuyện đó như thế nào, thậm chí ngay cả người thấu hiểu chuyện đời nhiều cũng không dám bàn tán Đó là câu chuyện xoay quanh gia đình nhà Cai tuần Bưởi ở xóm đập Ông Canh Cuộc sống khó khăn, đến mùa lúa thì

thất thu do trời hạn “Trời muốn giết con nhà nghèo” [2;8], số giạ lúa thu được thì

gia đình Cai tuần Bưởi đong trả cho chủ điền là nhà bà Cai Hiếu là hết, không có dư

là bao nhiêu Vì lo kiếm miếng cơm manh áo cho gia đình nên xong mùa gặt, Cai tuần Bưởi quyết định đi chèo ghe ở Ụ Giữa, tới mùa nước nổi mới về Ở nhà chỉ có

vợ là Thị Tố, cùng với em gái là cô Tư Lựu và đàn con của Cai tuần Bưởi Cậu Hai,

Trang 26

con trai bà Cai Hiếu, mặc dù đã có vợ nhưng thấy cô Tư Lựu mới lớn, xinh đẹp nên

đã qua lại với cô làm cho cô mang thai Cậu Hai hứa hươu hứa vượn với cô, rồi cho

cô tiền bạc, quần áo, xem như là rũ bỏ trách nhiệm Đến mùa, Cai tuần Bưởi đi ghe

về, Thị Tố mới kể sự việc cho Cai tuần Bưởi nghe Lúc này thì cái bụng của cô Tư Lựu cũng ngày càng to và đến kỳ sinh nở Sau khi cô sinh được cả tháng mà vẫn không thấy cậu Hai ngó ngàng gì, Cai tuần Bưởi bèn lên tận nhà cậu Hai để thưa chuyện, xong đều về tay không Vợ Cai tuần Bưởi – Thị Tố - vốn là người thẳng tính nên đã lên nhà cậu Hai nói chuyện cho phải quấy, nhưng cậu vẫn không chịu Không kiềm chế được, Thị Tố đã thưa chuyện với bà Cai và vợ của cậu Hai Có lẽ

vì đồng tiền có sức mạnh hơn sự thật nên Thị Tố bị bà Cai sai Hương quản Kim trong làng bắt giam, đóng trăng, phạt vạ Cuối cùng thì Thị Tố cũng được thả ra do Hương quản Kim là người biết phân biệt phải trái, mặc dù ông đang phải đứng dưới trướng của bà Cai Nhưng sự việc không dừng lại ở đó, bà Cai ép gia đình nhà Cai tuần Bưởi phải dọn đi nơi khác và trả lại ruộng, không cho thuê mướn nữa Vậy là gia đình nhà Cai tuần Bưởi lại dắt díu nhau xuống dưới Bình Phú, quê vợ để làm ăn Chuyện đã qua lâu, về phần cô Tư Lựu, nếu không có số tiền của anh Cu làng dưới giúp đỡ thì mẹ con cô cũng không biết ra sao Đối với cô, anh Cu là ân nhân cứu mạng, còn riêng anh Cu là người thương thầm cô và giúp đỡ cô hết sức có thể, chính vì thế mà cô Tư Lựu đã đồng ý lấy anh Cu Cái nghèo vẫn đeo bám, nên Cai tuần Bưởi lại phải đi ghe, lên Sài Gòn và vô tình gặp lại ba Cam, người em trai đã

bỏ làng đi từ lâu Ít ngày sau, ba Cam về nhà anh chơi, nghe chuyện em gái mình bị như vậy rất bức xúc và hứa sẽ trả thù cho em Tính khí bộc trực, Ba Cam đã ra tay hành hiệp trượng nghĩa, lấy lại danh dự cho em, và đã chuốc phải phiền toái khi rạch mặt cậu Hai Nhưng vì ba Cam lái xe thuê cho thầy kiện Tô Lê nên sự việc không mấy nghiêm trọng Một phần thương em gái nên Ba Cam đã kêu vợ chồng

Tư Lựu lên Sài Gòn để cho anh bao bọc Nhưng cuộc sống nơi Sài Thành không thích hợp với người dân quen cày quen cuốc, nên Ba Cam đã gửi vợ chồng Tư Lựu xuống dưới Bạc Liêu, dưới này đất đai rộng rãi, thoải mái làm ăn, không sợ phải sệt

ai hết Chịu khó làm ăn nên cuộc sống cũng được dư giả, vợ chồng Cai tuần Bưởi

Trang 27

thấy vậy cũng xuống đó làm ăn, tuy không được bằng nhà cô Tư Lựu nhưng cũng hơn ngày trước Vì có chút ruộng đất nên anh Cu ngày nào giờ được lên chức Hương sư, được người ta gọi là Hương sư Cu, cô Tư Lựu là bà Hương sư Hương

sư Cu yêu thương con Lựu như chính con ruột của mình, nuôicon riêng của vợ cho khôn lớn và trở thành thầy Kinh Lý Thầy Kinh Lý về dưới quê cũ của cha mẹ làm với công việc đo đạc ruộng đất Hương cả Trí, chồng cô Ba Thời, là anh em cọc chèo với cậu Hai Nghĩa cũng là quan trong làng; Cậu Hai Nghĩa cũng đã lên chức Hội Đồng Vợ chồng Hương cả Trí có ý muốn làm mai cháu gái, cô Tư Thục – con gái của vợ chồng cậu Hai Nghĩa cho thầy Kinh Lý Dường như thầy Kinh Lý cũng

có vể chấp thuận nhưng lại gởi thơ về thưa với cha mẹ, sợ mang tội bất hiếu Biết được chuyện, gia đình Hương sư Cu rất đỗi ngạc nhiên và khó xử, đành phải nói sự thật cho thầy Kinh Lý biết Khi gia đình nhà Hương cả Trí và cậu Hai biết chuyện,

họ cũng đều rất lấy làm ăn năn, muốn chuộc lại lỗi lầm, và có ý định xin nhận lại thầy Kinh Lý làm con Thầy Kinh Lý là người có ăn học, nên thầy biết rõ phải làm sao cho trọn đạo và hợp lý, thầy quyết định về với cha mẹ mình là Hương sư Cu Còn cô Tư Thục sau khi bị từ chối thì đâm ra sinh tâm bệnh và qua đời Vợ chồng

cô Tư Lựu và Cai Tuần Bưởi ăn ở có đức nên được hưởng cuộc sống sung túc, giàu sang, có của ăn của để, con cái thành tài

Trang 28

cũ Hồ Biểu Chánh chính là nhà văn của nhân dân, viết về nhân dân, luôn đấu tranh cho quyền lợi của nhân dân

Đồng thời, “Con nhà nghèo” cũng là một trong những bộ tiểu thuyết tâm

đắc của Hồ Biểu Chánh khi viết về đề tài người nông dân trong xã hội cũ Toàn bộ tiểu thuyết là một bức tranh toàn cảnh của xã hội Nam Bộ đầu thế kỷ XX Ở trong tác phẩm này, chúng ta bắt gặp những người nông dân nghèo khổ với cuộc sống mưu sinh chật vật, khó khăn Bên cạnh đó, chúng ta còn thấy được lối sống ngang ngược, cậy quyền cậy thế của bọn địa chủ, quan lại

Trang 29

CHƯƠNG 2 VĂN HÓA TỔ CHỨC CỦA NGƯỜI NAM BỘ QUA TIỂU THUYẾT

“CON NHÀ NGHÈO” CỦA HỒ BIỂU CHÁNH

Trong chương này, để tránh sự trùng lặp, chúng tôi đi thẳng vào trình bày văn hóa tổ chức mà không thông qua văn hóa nhận thức Bởi lẽ, văn hóa nhận thức được khảo sát thông qua văn hóa tổ chức và văn hóa ứng xử với môi trường

2.1 Văn hóa tổ chức đời sống tập thể

“Văn hóa” là một khái niệm có ngoại diên rất rộng Nó là một thuật ngữ

xuất hiện từ khá sớm và được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực Tổng Giám

Đốc UNESCO, Federico Mayor đã phải thừa nhận rằng: “Không phải là một nhiệm

vụ dễ dàng Ai nấy đều biết, rất khó định nghĩa văn hóa, có lẽ vì văn hóa định nghĩa chúng ta nhiều hơn là chúng ta định nghĩa văn hóa” [7;36] Chính vì thế, để mang

tính thống quán, chúng tôi chỉ lấy một trong rất nhiều khái niệm, định nghĩa về văn hóa của các nhà nghiên cứu văn hóa học cho công trình nghiên cứu văn hóa Nam

Bộ qua tiểu thuyết “Con nhà nghèo” của Hồ Biểu Chánh “Văn hóa là tổng thể các

giá trị vật chất, tinh thần và ứng xử mang tính biểu trưng, do một cộng đồng người sáng tạo ra và tích lũy được qua quá trình sinh tồn trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và lịch sử - xã hội của mình, cũng như sự hoàn thiện đối với bản thân mình” [1;20]

“Tổ chức đời sống” cũng là một khái niệm khá quen thuộc và gần gũi:“Tổ

chức đời sống tập thể là một bộ phận của văn hóa tổ chức, bao gồm những vấn đề thuộc tầm vĩ mô, liên quan đến cuộc sống của cả cộng đồng” [8;154]

Nằm cùng trong một hệ quy chiếu văn hóa, quan niệm về văn hóa tổ chức

được hiểu theo: “Văn hóa tổ chức là hệ thống các giá trị văn hóa mang tính khế

ước chi phối cách thức con người sắp xếp cuộc sống tập thể của họ, do họ sáng tạo

Trang 30

và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội” [8;154]

2.1.1 Văn hóa tổ chức gia đình – gia tộc

Đúng vậy, gia đình là tế bào của xã hội Qua một cuộc điều tra về thái độ với

gia đình ở trẻ em Việt Nam và trẻ em Mỹ, để điền vào câu nói “Những người tôi

yêu nhất là…”, trẻ em Mỹ thêm vào “bạn bè” còn trẻ em Việt Nam thêm vào “cha mẹ”; “Nhìn về tương lai, quá nửa trẻ em Việt Nam hi vọng làm điều gì tốt cho cha

mẹ, cho gia đình còn không một trẻ em Mỹ nào nghĩ đến chuyện này, mà nói “Tôi thích chiếc ô tô, tôi thích đi du lịch…” [7;121] Như vậy, chúng ta có thể nhận thấy

rằng mức độ nhận thức và suy nghĩ của mỗi người ở mỗi nơi, mỗi vùng là hoàn toàn khác nhau

Đối với mô hình nhỏ là văn hóa gia đình – gia tộc ở Nam Bộ, trên thực tế chưa có một nghiên cứu chu đáo nào về hệ thống gia đình – gia tộc ở Nam Bộ Vậy

nên, chúng tôi sẽ lấy tiểu thuyết “Con nhà nghèo” của Hồ Biểu Chánh để làm cơ

co dãn, cho nên chúng tôi tập trung vào kiểu gia đình truyền thống và những đặc trưng nổi bật của gia đình Nam Bộ để thấy được điểm khác biệt giữa gia đình của từng vùng miền, từng tộc người

Trang 31

Gia đình Nam Bộ có vị trí hết sức quan trọng, thậm chí còn hơn cả gia đình ở Bắc Bộ và Trung Bộ bởi nhiều lẽ Người dân Nam Bộ từ khi dời đi khai khẩn làm

ăn rất coi trọng những nhân tố tạo thành một gia đình Do là dân tứ xứ, thành phần dân cư trong làng dễ biến động, quan hệ công đồng trong làng lỏng lẻo nên gia đình

là nơi mà người ta có thể nương tựa vững chắc nhất Tiếp đến là do hình thức di cư

đơn lẻ, mang tính cá nhân của những cư dân miền Trung vào Nam, ở nơi “đất lạ

người đông”, người ta sống khép lại và gắn chặt với gia đình Cộng thêm cuộc sống

nghèo khổ, thiếu thốn, trình độ học vấn cũng như tiếp xúc với xã hội thấp nên gia

đình là “hạt nhân” chính giúp họ an cư lập nghiệp Vì thế mà vai trò của gia đình

ngày càng được đề cao Trong tác phẩm “Con nhà nghèo”, ở ngay nhan đề đã gợi

cho người đọc những suy nghĩ mông lung về nội dung câu chuyện, đó là câu chuyện

về cuộc sống mưu sinh hằng ngày cùng với những bất công mà con nhà nghèo phải gánh chịu Cuộc sống nghèo khổ của gia đình Cai Tuần Bưởi đã khiến cho những thành viên trong gia đình yêu thương, gắn kết với nhau hơn Do cha mẹ khuất sớm, tình cảm của ba anh em nhà Cai Tuần Bưởi càng thắt chặt Cai Tuần Bưởi nuôi em gái đến lúc trưởng thành Tới lúc dọn nhà xuống Bình Phú, rồi xuống Vĩnh Mỹ, gia đình nhà Cai Tuần Bưởi, nhà cô Tư Lựu chỉ tập trung vào làm ăn, lo kiếm miếng cơm manh áo, một mình gia đình chống chọi với những rắc rối do cái nghèo mang lại và cũng không có mối quan hệ nào với làng xóm láng giềng Chuyện nhà ai nấy

rạng, dù có biết rõ sự thật cũng không lên tiếng: “Thiên hạ họ hay hết, song họ

không dám nói chớ” Chính lối sống “đèn nhà ai nấy rạng” đó đã tạo khoảng cách

khá xa giữa những người hàng xóm láng giềng với nhau Ngày trước, do có nguồn gốc là dân di cư nên những cư dân ở Nam Bộ có lối sống khá khép kín, lối sống này khác hoàn toàn so với lối sống khép kín ở miền Bắc Khép kín ở Nam Bộ là gia đình nào biết gia đình ấy, không quan tâm đến những gia đình khác Còn khép kín ở Bắc Bộ là lối sống khép kín trong một vùng, một làng với nhau, còn những người ở trong làng thì luôn quan tâm, giúp đỡ lẫn nhau, thậm chí còn dám lên tiếng với những việc bất bình để bảo vệ nhau

Trang 32

Không chỉ riêng Hồ Biểu Chánh, đa phần những tác phẩm của các nhà văn

viết về Nam Bộ thường có mô hình “gia đình độc lập” chung như vậy Chẳng hạn, truyện ngắn “Cánh đồng bất tận” của nữ nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, tác giả cũng

chỉ đề cập đến cái hạnh phúc gia đình không trọn vẹn Sự việc người vợ bỏ nhà theo người đàn ông khác đã tạo nên cú sốc mạnh mẽ đến người chồng và hai đứa con Nỗi đau tột cùng đã làm cho người chồng thay đổi tính cách, và hành động theo sự

sai bảo của “men rượu” Hoặc trong truyện ngắn “Cánh đồng hoang” của nhà văn

Nguyễn Quang Sáng, chỉ có duy nhất gia đình một đôi vợ chồng chống chọi với máy bay Mỹ giữa bao la sông nước ở vùng Đồng Tháp Mười… Gần gũi hơn, ở Nam Bộ, chúng ta thường bắt gặp những cái tên; những thương hiệu mang tên đại

diện cho một gia đình, chẳng hạn như “Thầy thuốc gia truyền”; “Thợ gốm truyền

nghề”, hay gần gũi hơn và được nhiều người biết đến đó là tiệm bánh ngọt Á Châu

ABC A, B, C là tên viết tắt của ba người con Anglela (con gái thứ Kao Huy Minh), Bruce (con trai út Kao Hớn Phong) và Christine (con gái đầu Kao Huy Phương) của ông chủ tiệm bánh Kao Siêu Lực Còn ở Bắc Bộ, những con người nơi đây sống

theo “lệ làng”; “hương ước”; “việc làng việc nước”; “ăn cơm nhà vác tù và hàng

tổng”; “việc nhà thì nhác, việc chú bác thì siêng” Đồng thời, chúng ta thường nghe

tới những con phố mang tên làng những làng nghề truyền thống ở Hà Nội như: Phố Hàng Mã, phố Hàng Bông, phố Hàng Gai, phố Hàng Buồm, phố Hàng Bạc, phố Hàng Bát, phố Hàng Tre… Tất cả đều mang hơi hướng của làng xã, của cộng đồng

Như vậy, tính cộng đồng ở miền Bắc thường cao hơn ở miền Nam bởi nhiều

lẽ Thứ nhất là điều kiện khí hậu cũng như tự nhiên ở Bắc Bộ không mấy thuận lợi như ở Nam Bộ, từ đó buộc mọi người phải liên kết lại với nhau để chống chọi với tự nhiên, tìm cách chế ngự thiên nhiên Chính sự liên kết của các gia đình tiểu nông trong làng đã làm nên một mô hình làng xã khăng khít, gắn bó Thứ đến là họ rất coi

trọng tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thắt chặt các quan hệ họ hàng “họ chín đời còn

hơn mười người dưng”, từ đó mà hiện tượng lập họ, lập gia phả được hình thành

Cuối cùng là làng Việt ở Bắc Bộ được bao vây, bảo vệ bởi lũy tre làng dày đặc, có khi cả đời người ta cũng không bước ra khỏi lũy tre làng Người ta chỉ biết có cái

Trang 33

cộng đồng mà họ đang sinh sống, vì thế mà tính liên kết cộng đồng ở Bắc Bộ ngày càng tăng Cho nên, ở Bắc Bộ gắn liền với tính cộng đồng, tập thể; còn ở Nam Bộ gắn liền với tính cá nhân, cái tôi

Từ xưa đến nay, người Nam Bộ có suy nghĩ rất thoáng trong mối quan hệ bình đẳng giữa các thành viên trong gia đình với nhau Đây chính là điểm khác biệt nổi bật giữa gia đình Nam Bộ và gia đình Bắc Bộ, Trung Bộ Gia đình Nam Bộ vẫn

có phân biệt tôn ti, chức vụ trên dưới nhưng không bị đè nặng, gò bó và áp lực giống như gia đình ở Bắc Bộ, Trung Bộ Tất cả thành viên trong gia đình đều có thể tham gia đóng góp ý kiến, xây dựng gia đình; người đàn ông vẫn giữ vị trí trụ cột nhưng không mang tính bảo thủ và độc tôn, chuyên quyền; bất kỳ ai phạm phải lỗi lầm thì đều được phân xử công bằng, không phân biệt đó là người giữ chức vụ gì trong gia đình Khi Mợ Hai Hưởng nghe Thị Tố báo cái tin dữ là chồng Mợ qua lại với em chồng Thị Tố thì Mợ đã không kiềm chế được cảm xúc, quyết định làm rõ

mọi chuyện cho đến nơi đến chốn “ngô ra ngô, khoai ra khoai”: “Má xử sao đó má

xử đi Ở nhà tôi nó làm xấu hổ, nó lấy em Cai Tuần Bưởi có con rồi; Chuyện đã quả như vậy chớ có ai mà bày đặt Má hỏi vợ Cai Tuần Bưởi ở đây nó nói cho má nghe

Đồ khốn nạn thiệt mà Phùng a, cậu Hai mày đâu? Mời cậu Hai mày xuống đây…

Đi lấy thứ tá điền, tá thổ lịch sự dữ! Má hỏi vợ Cai Tuần Bưởi, hỏi đặng thím nói cho mà nghe” [2;55] Những lời lẽ của mợ Hai rất cay nghiệt nhưng do ý thức được

là người có lỗi nên cậu Hai cũng không dám làm lớn, chỉ dám ra oai trước mặt

thằng Phùng cho đỡ mất mặt: “Con quỷ này làm giống gì vậy? Muốn tao đánh bể

đầu hay sao?; Ai cũng tưởng mấy lời thách đố ấy sẽ làm cho cậu hai phải thị oai trừng trị ác phụ, nào dè cậu hai hứ một cái, lầm bầm nói ‘đàn bà khốn nạn’, rồi bỏ

đi vô nhà, chẳng hiểu cậu Hai sợ hay là cậu khinh bỉ” [2;69,70]

Đối với việc giáo dục con cái, người Nam Bộ không còn cái định kiến “Con

hư tại mẹ, cháu hư tại bà” Họ áp dụng quan niệm bình đẳng “bạn bè”, “ngang hàng”, con cái có thể xưng hô với cha mẹ hoặc người lớn hơn là “tôi”; tất nhiên là

mọi thứ đều phải nằm trong giới hạn cho phép Cùng với đó, sự dễ dàng trong cách

Trang 34

suy nghĩ, răn dạy cũng khiến họ đôi khi buông trôi, thả nổi con cái, phó mặc con trong sự dạy dỗ của nhà trường và xã hội Tính thoáng mở này một mặt thể hiện rất

rõ nét tính cách thoáng mở, xem trọng yếu tố cá nhân tích cực của người Nam Bộ trong quan niệm về giáo dục gia đình, nhưng mặt khác, nó cũng mang lại không ít

hệ luỵ “Gia tài của ông Cai để lại, tuy bà Cai còn hưởng huê lợi chớ chưa chia

cho hai con, song sự cho mướn ruộng thì bà Cai giao cho cậu Hai coi; cậu Hai cho

ai mướn bà không cần biết tới, miễn là tới mùa góp số lúa ruộng đủ cho bà thì thôi”

[2;29] Do được nuông chiều, cộng thêm có tiền có bạc nên cậu Hai con bà Cai đã

có những hành động bất nhân, để lại hậu quả khôn lường cho cô Tư Lựu, cậu làm

cho cô Tư có bầu rồi né tránh trách nhiệm: “Ủa! em chú đẻ thì nó đẻ, chú thưa với

tôi làm gì?” [2;35] Không chỉ riêng tác phẩm “Con nhà nghèo” mà trong tác

phẩm “Con nhà giàu” của mình, Hồ Biểu Chánh cũng thể hiện rất rõ phạm trù này

Con cái được ưu ái từ nhỏ sinh ra nhiều thói hư tật xấu, mặc dù ý thức được nhưng rất khó sửa bởi nó đã ăn sâu vào trong tính cách của mỗi con người Nhân vật

Thượng Tứ, đứa con quý tử của bà Kế Hiền nói với bà rằng: “Tại má có tiền nhiều

quá, má cho tôi hoài nên tôi mắc lo ăn xài, có học hành gì được; Ý sao được! Từ hồi nào tới bây giờ tôi xài quen rồi, má không cho nữa sao được Mà bây giờ cha mất rồi, tiền bạc về một tay má, trước sau gì má cũng phải để cho tôi chớ đề cho ai, chuyện gì mà hà tiện không cho tôi xài Má mua cho tôi một cái xe hơi đi má, mua

xe nhỏ chừng vài ba ngàn Có xe đặng tôi tập cầm bánh rồi chiều chiều tôi chở má lên Mỹ chơi chớ” [3;23]

Gia đình ở Nam Bộ không đặt gánh nặng, trách nhiệm lên vai người con trai trưởng hay dâu trưởng, tất cả các con đều được đối xử như nhau Do vậy, người Nam Bộ chỉ gọi là con thứ, bắt đầu từ thứ hai trở đi mà không gọi là con cả hay con trưởng Nguyên nhân là khi cư dân người Việt từ miền Bắc và miền Trung được lệnh của chúa Nguyễn vào Nam khai hoang lập nghiệp, những người con trưởng thường phải ở lại quê hương để thờ cúng ông bà tổ tiên, phụng dưỡng cha mẹ, chăm nom nhà cửa, vườn tược, Những người ra đi thường là con thứ hoặc con út Vì

phải đi “tha phương cầu thực” nên họ lúc nào cũng luôn nhớ về quê hương xứ sở,

Trang 35

nhớ về nơi chôn nhau cắt rốn, nhớ về gia đình cha mẹ nơi quê nhà nên họ không

xưng mình là “cả” mà chỉ xưng là “hai”, rồi người con kế tiếp là “ba”, “tư” Cứ

như vậy, lâu ngày trở thành thói quen, khi sinh con ra người ta thường gọi đứa con

đầu là “thằng hai” chứ không gọi là “thằng cả” hay “con cả” như ở ngoài miền

Bắc

Hơn nữa, người miền Nam rất kiêng kỵ, để ý trong từng lời ăn tiếng nói để tránh việc gọi trùng tên với các vị quan lớn, các vị chức sắc trong làng Ý thức quốc

gia đôi khi không mạnh mẽ bằng ý thức làng xóm “phép vua thua lệ làng” Khi

miền Nam Việt Nam bị Pháp xâm chiếm làm thuộc địa thì cơ chế làng xã cũng thay đổi ít nhiều Ở miền Nam, cơ quan cai trị mỗi xã được gọi là Hội Đồng Tề, trong đó

người đứng đầu gọi là Hương Cả Nếu như gọi người con đầu tiên là “con cả” thì

vô tình lại trùng với tên gọi của người đứng đầu trong xã Hương Cả Điều này người miền Nam có thể suy diễn thành hỗn lão, mỉa mai, không tôn trọng, bị kết

vào cái tội phạm húy Vì vậy, người miền Nam tuyệt đối tránh né tiếng “cả” để gọi người con đầu tiên mà thay vào đó gọi là “anh hai”, “chị hai”, thằng hai”

Sau cùng, người miền Nam không gọi người con đầu tiên là “cả” cũng vì chính sách “tứ bất lập” của chúa Nguyễn Ánh đó là không đặt ngôi hoàng hậu và

đông cung thái tử, không tể tướng, không trạng nguyên và không phong vương cho người ngoài họ Sở dĩ như vậy là ông muốn dành trọn tình cảm của mình cho hai người mà ông yêu thương nhất đó chính là người vợ cả Tống Thị Lan và con trai cả Nguyễn Phúc Cảnh Cả hai đều có công rất lớn và giúp ông nhiều việc hệ trọng Tống Thị Lan là một người vợ chung thủy son sắc, một lòng một dạ với ông ngay

cả khi ông thất thủ Còn con trai Nguyễn Phúc Cảnh đã phải theo Bá Đa Lộc sang Pháp cầu viện giúp ông khi mới lúc bốn tuổi Chính vì thế mà Nguyễn Ánh muốn dành vị trí cao nhất cho hai người mà ông hết mực yêu thương này Từ đó về sau,

đối với Nguyễn Ánh không có gì là “thứ nhất” cả, dù cho có hoàn hảo hay toàn vẹn đến đâu đi chăng nữa thì cũng chỉ là “thứ hai” mà thôi

Trang 36

Ngược lại, đôi khi người con út không kể là trai hay gái lại là người được ưu

ái hơn trong số các người con Bởi vì, gia đình Nam Bộ quan niệm rằng, người con

út là người con sinh ra cuối cùng, chịu nhiều thiệt thòi hơn so với những đứa con trước nên họ cố gắng bù đắp phần thiếu sót cho người con út Bên cạnh đó, do không có quan niệm về vai trò của con trai trưởng, nên anh chị sau khi lớn lên, lấy

vợ gả chồng thì họ đều ra ở riêng, chỉ còn lại con út là ở lại với cha mẹ già, chăm sóc cha mẹ lúc ốm đau, vì vậy mà con út được thương hơn kể cả con gái út, mặc dù

là lấy chồng rồi nhưng đa phần là ở chung với cha mẹ và người chồng của cô gái út

sẽ ở rể Hoặc khi cha mẹ mất sớm, người em út cũng được các anh chị nuôi dưỡng, quan tâm và lo lắng nhiều nhất Trong tác phẩm, cô Tư Lựu được anh trai của mình

là Cai Tuần Bưởi nuôi dưỡng từ lúc nhỏ cho tới lúc trưởng thành.“Còn đứa em út là

gái, tên nó là Lựu, năm nay nó mới được mười tám tuổi, tuy con nhà nghèo ăn mặc lam lũ, song nết na đằm thắm, đi đứng dịu dàng, ăn nói có duyên, mặt mày sáng sủa, nó ở với anh nó thuở nay”[2;7] Bên cạnh đó, Ba Cam – anh ba của Tư Lựu

cũng hết sức yêu thương, hiểu phận tủi của em, lo cho tương lai của em Điều này

được thể hiện qua bức thư mà Ba Cam viết gửi về cho gia đình anh chị dưới quê:

“Được thơ này, dầu anh chị không chịu bỏ xứ mà đi Bạc Liêu đi nữa, thì cũng biểu

vợ chồng con Lựu phải lên ở với em Em trông lắm Nhứt định bữa nào đi thì phải gửi thơ trước cho em biết đặng em vô Chợ Lớn đón tàu em rước Xin anh Hai nói giùm em kính lời thăm vợ chồng anh Ba Rạng” [2;167] Đến khi vợ chồng cô Tư

lên ở với Ba Cam, do quen tay cày tay cuốc, vụng về với công việc bàn giấy nên

anh Ba phải lo tính đường đi nước bước cho em: “Hai em xuống Bạc Liêu ráng lo

làm ăn, đừng có trở về Gò Công Chừng nào giàu có rồi sẽ về, chớ nghèo về họ khinh dễ, không nên về làm chi” [2;166]

Một điều đáng ghi nhận của gia đình ở Nam Bộ là vô cùng coi trọng sự có

mặt của người con rể Nếu gia đình ở Bắc Bộ, Trung Bộ xem sự có mặt của “con

dâu là con”, “con rể là khách” thì ở Nam Bộ là hoàn toàn ngược lại Ngày trước,

người ra đi lập nghiệp, chinh phục vùng đất mới là người con trai Vậy nên, việc chấp nhận cho chàng rể từ phương xa đến, đơn thân độc mã một mình, không có họ

Trang 37

hàng thân thích hoặc chưa đủ sức để lập cơ ngơi riêng đến ở trong nhà vợ cũng là lẽ thường tình Người con rể ở miền Nam không phải chịu áp lực từ gia đình nhà vợ

hay tai tiếng ở ngoài xã hội Họ không phải mang tiếng xấu là “chó chui gầm

chạn”, không phải khổ tâm vì chúng bạn chê cười Nếu người Bắc Bộ quen với việc

cưới dâu về để phụng dưỡng, săn sóc chồng con và cha mẹ chồng thì ở Nam Bộ việc bắt rể, ở rể, là điều rất bình thường và phổ biến Người con rể như là một thành viên chính thức trong gia đình nhà vợ Theo đó, một chân lý được hình thành:

“Nước theo sông, chồng theo vợ” Đôi khi, người con rể út lại là người được hưởng

tài sản của gia đình bên nhà vợ Trong “Con nhà nghèo” Hồ Biểu Chánh cũng thể

hiện rất rõ điều này, chẳng hạn như Vợ chồng bà Hội Đồng tính: “Hổm nay tôi tính,

hễ chồng cưới con Thục rồi tôi mua một chiếc xe hơi cho vợ chồng nó đi chơi Vợ chồng con Thục đi xe hơi mới xứng đáng…” [2;278] Đồng thời, bà Hội Đồng cũng

mong mỏi có được con rể đàng hoàng để hưởng cơ ngơi của bà: “Tôi nghe ổng dục

dặc tôi phát ghét Chắc là ổng không dè vợ chồng tôi giàu, ổng không dè con Thục

sẽ được hưởng một cái gia tài lớn, nên ổng mới làm bộ như vậy chớ gì” [2;729]

Với sự xuất hiện của con rể trong gia đình người dân Nam Bộ đã mang lại một không khí đậm nét dân chủ, gắn kết chặt chẽ hơn giữa các thành viên trong gia đình

Gia đình Nam Bộ không đặt nặng vấn đề “gia phong” theo lối sống tứ đức

(nhân, nghĩa, lễ, trí); hay ngũ thường (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín) trong việc giáo dục các thành viên trong hệ thống gia đình Một vài những lễ giáo mà đạo Nho mang lại không còn thích hợp với thời buổi hiện nay, đặc biệt là trong gia đình của người Nam Bộ Những chuẩn mực của Nho giáo thường mang một ý nghĩa rất to lớn

chẳng hạn như “Một nhà nhân thì cả nước dấy lên đức nhân, một nhà lễ nhượng thì

cả nước dấy lên lễ nhượng” [5;44], tuy nhiên trong quá trình thực hiện lại không

được như vậy, vì thế mà gia đình Nam Bộ cũng không đề cao những tư tưởng quá

xa vời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh: “Nếu không giải phóng phụ nữ

thì không giải phóng một nửa loài người Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa” [6;523] Những hủ tục về Tam tòng (xuất gia tòng

phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tong tử) giờ đã trở nên lạc hậu Trong trường hợp của

Trang 38

Cô Tư Lựu bị cậu Hai Nghĩa hãm hiếp để phải nhận “chữ tiết hạnh không tròn”, nếu như điều này xảy ra đối với gia đình ở Miền Bắc, Miền Trung thì đó là việc tày trời, phải mang tiếng xấu suốt đời vì đã làm dơ bẩn gia đình dòng họ, bôi nhọ gia đình,

bị gọt đầu bôi vôi và đuổi ra khỏi làng; nhưng khi xảy ra ở miền Nam thì lại khác, gia đình ở Nam Bộ lại mềm mỏng hơn, thông cảm hơn cho số phận người phụ nữ, thậm chí còn cưu mang và giúp đỡ nhiều hơn Trước lời than phiền của đứa em dâu

là Tư Lựu, Thị Tố cũng lấy làn động lòng: “Mày buồn cũng phải đó chứ Làm thân

con gái mà chửa oan đẻ lạnh thì tốt bao giờ Nhưng mà tao nghĩ chớ chi mày đi làm

đĩ lấy trai gì rồi chửa đẻ là xấu, cái này mình là tá điền của cậu Hai, mình cũng như là tôi tớ của cậu, cậu biểu sống thì sống, cậu biểu chết thì chết, cậu tới nhà cậu

ám sát, mình làm sao mà dám cự lại với cậu Tao tưởng trong làng này dầu cậu muốn ai đi nữa họ cũng phải chịu, chẳng luận là mày Mày hư đây là tại cậu Hai hãm hiếp, chứ phải tự ý mày muốn hư hay sao mà sợ xấu” [2;43] Người phụ nữ

không chỉ nhận được sự cảm thông từ chính gia đình, mà ngay cả người ngoài cũng hiểu mà muốn chia sẻ cùng Trước cuộc sống nghèo đói, bụng mang dạ chửa, cô Tư Lựu đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình từ anh Cu Người phụ nữ cảm thấy ấm áp hơn khi rào cản về “trinh tiết” được gỡ bỏ, cô Tư được anh Cu chấp nhận lấy làm

vợ, được tôn trọng và được yêu thương hết mực: “Sao lại không cưới… Tôi nói

thiệt với anh Hai chị Hai, nếu cô Tư ưng tôi thì tôi cưới liền; Con của cổ là con của tôi Người ta bỏ tôi nuôi Thằng nhỏ không có cha, tôi lãnh tôi làm cha” [2;156]

Ở gia đình Việt Nam nói chung và gia đình Nam Bộ nói riêng, người đàn ông là người chủ hộ và là một trụ cột vững chắc trong gia đình Nhưng điểm biệt lập

để phân biệt rõ người đàn ông của gia đình Nam Bộ đó chính là thái độ biết nhường nhịn vợ con trong mọi hoàn cảnh, không có tính vũ phu Bởi vì người ta ý thức được rằng phụ nữ là phái yếu, là người phải chăm sóc con cái, nhà cửa cho nên

những việc nặng nhọc thì họ đều làm hết Trong “Con nhà nghèo”, Hồ Biểu Chánh

cũng thể hiện rất rõ điều này, khi mà gia đình Cai tuần Bưởi gặp khó khăn, không

có đủ cơm ăn thì Cai tuần Bưởi vẫn quyết định một mình lam lũ đi chèo ghe thuê để kiếm thêm thu nhập chứ không hề để cho vợ phải đụng tay làm kinh tế chính trong

Trang 39

gia đình Còn khía cạnh “năm thê bảy thiếp” thì trong thời đại nào cũng có và vùng

miền nào cũng có nên chúng tôi không đề cập đến Dù cho Thị Tố, vợ Cai Tuần Bưởi không nghe lời khi đã đến thưa chuyện với bà Cai và mang tai họa vào người

nhưng cai Tuần Bưởi cũng chỉ biết trách mắng vài câu cho thỏa cơn giận: “Mình

quá quắt rồi! Mình báo hại tôi chi vậy hử?; Không làm giống gì, mà sao người ta bắt đóng trăng” [2;62] Hay là Cậu Hai Nghĩa, mặc dù cậu bị vợ mắng chửi xối xả,

mắng chửi trước mặt người làm nhưng cậu vẫn không hề động chân động tay ngoài

những câu nói cửa miệng mang tính dọa nạt: “Ào ào giống gì vậy!” hoặc là “Con

quỷ này mày làm giống gì vậy?”

Trong khi đó, trong “Chiếc thuyền ngoài xa”, Nguyễn Minh Châu đã miêu tả người đàn ông vũ phu, thô bạo, đánh đập vợ con không thương tiếc tay: “Ba ngày

một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng” tiếp đến là “Cứ ngồi nguyên đấy Động đậy tao giết cả mày đi bây giờ” rồi hàng loạt những hành động mang tính bạo lực: “Lão đàn ông lập tức trở lên hùng hổ, mặt đỏ gay, lão rút trong người ra một chiếc thắt lưng của lính ngụy ngày xưa, có vẻ như những điều phải nói với nhau họ đã nói hết, chẳng nói chẳng rằng lão trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà, lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két, cứ mỗi nhát quất xuống lão lại nguyền rủa bằng cái giọng rên

rỉ đau đớn: “Mày chết đi cho ông nhờ Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ!”[10;76] Như vậy, nhà văn có thể chỉ cắt lấy một lát, cưa lấy một khúc, chớ

lấy một khoảnh khắc để phản ánh bi kịch cuộc đời của một con người và bày tỏ về quan niệm niệm nhân sinh trong cuộc sống

Con người sinh ra thì ai cũng muốn có được cuộc sống ấm no hạnh phúc, song do nhiều nhân tố xã hội chi phối nên tính nết cũng như cách cư xử của con người cũng thay đổi theo Và người bị ảnh hưởng nhiều nhất đó chính là người đàn ông, người làm chủ gia đình ở khu vực Bắc Bộ Vai trò của người đàn ông được đẩy lên quá cao, một phần do lễ giáo phong kiến ngày xưa ảnh hưởng quá nặng nề với

tư tưởng “trọng nam khinh nữ”, một phần cũng là do tính bảo thủ, độc tôn của

Trang 40

người đàn ông trong gia đình quá cao Từ đó, việc tôn trọng người phụ nữ trở thành một việc vô cùng xa xôi và hiếm có Người phụ nữ khi chưa lập gia đình thì sống chủ yếu dựa vào cha mẹ; khi đến tuổi thành gia lập thất thì cũng không tự quyết

định được hạnh phúc của bản thân, lúc nào cũng phải tuân theo tư tưởng “cha mẹ

đặt đâu con ngồi đó”, “con cãi cha mẹ trăm đường con hư”; khi về nhà chồng thì

“xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” Người phụ nữ bị tước hết quyền tự do, thay

vào đó là người đàn ông càng ngày càng chiếm vị trí độc tôn trong gia đình Như vậy, thông qua một vài chi tiết trên, chúng ta có thể nhận rõ được người đàn ông, người chồng ở gia đình Nam Bộ rất điềm tĩnh trong việc xử lý các tình huống dù là xấu nhất; đó là cái được, cái hơn của người đàn ông ở Nam Bộ so với người đàn ông ở Bắc Bộ và Trung Bộ

Song cuộc sống không phải là toàn diện, ngoài những mặt tích cực ra thì những nét tính cách của người Nam Bộ cũng có những mặt trái, ví dụ như vì người phụ nữ ở gia đình Nam Bộ sống rất ngay thẳng, thậm chí còn nóng tính, cho nên sự việc dễ dẫn đến phải giải quyết theo chiều hướng căng thẳng Bên cạnh đó, người phụ nữ Nam Bộ không có tính cam chịu, nhẫn nhục cho mọi việc êm xuôi, gia đình

êm ấm như phụ nữ ở Bắc Bộ “Phải quấy” phải rõ ràng, giải quyết ngay chứ không

để tự âm thầm chịu đựng Như mợ Hai Hưởng – Vợ cậu Hai Nghĩa, khi nghe tin cậu

Hai qua lại với cô Tư Lựu thì mợ đã làm ầm ĩ lên: “Đồ khốn nạn quá Thím nói sao

đâu thím vô đây nói lại cho má tôi nghe một chút Đi đi, cho mau” [2;54] Còn hình

ảnh người phụ nữ miền Bắc thì lại tương phản, họ nhẫn nhục vì chồng vì con:

“năm nắng mười mưa dám quản công”

Trong gia đình ở Nam Bộ, người phụ nữ rất được xem trọng Người phụ nữ

là người có sứ ảnh hưởng to lớn đối với hạnh phúc gia đình, là người giữ lửa cho mái ấm gia đình Mặt khác, người phụ nữ là những người lao động đảm đang, có sức làm việc dẻo dai và bền bỉ Khi ngày đầu di cư vào Nam, cuộc sống vật chất còn thiếu thốn, người phụ nữ phải dãi nắng dầm mưa, chịu đựng gian khổ, đối đầu bớt khó khăn Song song với cuộc sống khó khăn, người phụ nữ còn phải đối mặt với sự

Ngày đăng: 21/06/2021, 21:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w