1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Từ hán việt trong thơ nôm hồ xuân hương

104 131 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đã có nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu về bà ở những khía cạnh khác nhau như: tiểu sử, cuộc đời, nghệ thuật thơ,…Và cũng đã có không ít học giả nghiên cứu về vấn đề ngôn ngữ, song về từ Hán

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT

KHOA NGỮ VĂN

- -

BÁO CÁO TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

NIÊN KHÓA 2015 – 2016

TỪ HÁN VIỆT

TRONG THƠ NÔM HỒ XUÂN HƯƠNG

(Do tác giả Kiều Thu Hoạch phiên âm, khảo dị, chú thích)

Sinh viên thực hiện : Phạm Thị Hạnh Lớp : D12NV01

Trang 2

1

TỪ HÁN VIỆT TRONG THƠ NÔM HỒ XUÂN HƯƠNG

(do tác giả Kiều Thu Hoạch phiên âm, khảo dị, chú thích)

Sinh viện thực hiện: Phạm Thị Hạnh – MSSV: 1220810033

Lớp: D12NV01 – Khoa: Ngữ Văn Giảng viên hướng dẫn: Thạc sĩ Nguyễn Văn Ngoạn

I TÓM TẮT

1 Lý do chọn đề tài

Hồ Xuân Hương là một trong năm nữ sĩ tài ba của nền văn học trung đại Việt Nam Đã có nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu về bà ở những khía cạnh khác nhau như: tiểu sử, cuộc đời, nghệ thuật thơ,…Và cũng đã có không ít học giả nghiên cứu về vấn

đề ngôn ngữ, song về từ Hán Việt trong các tác phẩm thơ Nôm của Hồ Xuân Hương thì hầu như chưa có sự quan tâm đích đáng Mà từ Hán Việt có vai trò rất quan trọng trong văn học cũng như trong kho từ vựng tiếng Việt Cũng chính vì mong muốn tìm hiểu sâu hơn những giá trị của từ Hán Việt trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương, vì vậy

chúng tôi lựa chọn Từ Hán Việt trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương làm đề tài nghiên cứu

2 Ý nghĩa của đề tài

Thông qua việc khảo cứu từ Hán Việt trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương, chúng tôi muốn tìm hiểu những giá trị nội dung và nghệ thuật được ghi chép trong sách, góp phần hiểu rõ hơn về mục đích sử dụng, cũng như những giá trị của từ Hán Việt trong

các tác phẩm chữ Nôm của Bà Thông qua việc khảo cứu từ Hán Việt trong thơ Nôm

Hồ Xuân Hương, chúng tôi muốn một lần nữa khẳng định lại tinh thần độc lập dân tộc

trong việc sử dụng chữ Nôm để sáng tác thơ văn nói riêng và ghi chép lịch sử văn hóa của người Việt nói chung Mặt khác, thông qua khảo cứu từ Hán Việt sẽ đưa ra những con số thống kê cụ thể nhằm giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về tài thơ Nôm của Hồ Xuân Hương

3 Sản phẩm của đề tài

Đề tài nghiên cứu sẽ đóng góp cho việc tìm hiểu thêm về cuộc đời và những công hiến của Hồ Xuân Hương cho nghệ thuật viết thơ Nôm Kết quả khảo sát của bài nghiên cứu không chỉ góp phần tìm hiểu về từ Hán Việt trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương mà còn giúp hiểu sâu hơn về vai trò của từ Hán Việt trong việc sáng tác thơ văn nói chung và trong mảng thơ Nôm nói riêng

Công trình này có thể dùng làm tài liệu tham khảo hữu ích phục vụ cho việc học tập nghiên cứu về từ Hán Việt trong thơ văn của người Việt Đồng thời bài nghiên cứu

Trang 3

2

còn phân loại từ Hán Việt trong tập thơ để phần nào đó giúp cho mọi người hiểu rõ hơn về cách cấu tạo của từ Hán Việt

II QUÁ TRÌNH VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1 Quá trình nghiên cứu

Đầu tiên, chúng tôi dựa vào các công trình của các học giả như Nguyễn Tài Cẩn, Đặng Đức Siêu, ê Đình Khẩn, Bùi Hạnh Cẩn, Trần Khải Thanh Thủy, v.v để tìm hiểu khái quát về từ Hán Việt cũng như con người và thơ Nôm Hồ Xuân Hương ở chương một Trên cơ sở đó, chúng tôi tiến hành thống kê tất cả những từ Hán Việt có

trong 84 bài thơ Nôm của Hồ Xuân Hương do tác giá Kiều Thu Hoạch phiên âm, khảo

dị, chú thích, chúng tôi dựa vào cuốn Hán Việt tự điển của Thiền Chiểu để tiến hành thống kê Theo đó, dựa vào tiêu chí cấu tạo từ chúng tôi tiến hành phân loại từ Hán Việt thành ba loại: từ đơn, từ ghép, từ láy Sau khi phân loại, chúng tôi tiếp tục tìm hiểu đặc điểm, vai trò cũng như ý nghĩa của từ Hán Việt bằng việc phân tích từ Hán Việt trong từng ngữ cảnh cụ thể, tìm ra nét chung và nét riêng của lớp từ Hán Việt được Hồ Xuân Hương sử dụng để sáng tác thơ Nôm

2 Kết quả nghiên cứu

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN

Ở chương này, chúng tôi giới thiệu chung về từ Hán Việt, về thân thế, sự nghiệp

của Hồ Xuân Hương và về tập Thơ Nôm Hồ Xuân Hương do tác giả Kiều Thu Hoạch

khảo dị văn bản, phiên âm, chú thích

Từ Hán Việt chiếm khối lượng tương đối lớn, khoảng 70% trong kho từ vựng tiếng Việt Từ Hán Việt du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, bằng cả con đường cưỡng bức lẫn giao lưu văn hoá Đã có những quan điểm về từ Hán Việt, tuy có những khía cạnh khác nhau nhưng tựu trung lại thì đều thống nhất từ Hán Việt là những từ tiếng Việt có nguồn gốc từ tiếng Hán thời Đường - Tống đã xâm nhập vào hệ thống từ vựng tiếng Việt, chịu sự chi phối của các quy luật ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa của tiếng Việt Trong quá trình phát triển ngôn ngữ, từ Hán Việt có những đặc trưng theo phong ngôn của người Việt

Cuộc đời Hồ Xuân Hương cũng như các thi phẩm của bà còn tồn tại nhiều ý kiến khác nhau chưa thực rõ ràng Song tựu trung, các quan điểm đoán định Hồ Xuân Hương sinh trong khoảng thời gian từ năm 1766 đến 1770 và mất trong khoảng thời gian từ 1821 đến 1833 Về thân phụ của bà thì hầu hết các quan điểm đều cho rằng

Trang 4

3

thân phụ của bà là Hồ Phi Diễn Tuy nhiên cũng có ý cho rằng, thân phụ của Hồ Xuân Hương là Hồ Sĩ Danh Hồ Xuân Hương sáng tác khá nhiều nhưng các tác phẩm của bà

do thất lạc hay do thời gian bị mai một nên hiện vẫn còn những tồn nghi về các thi

phẩm của Bà Song, vẫn có thể khẳng định bà có hai tập thơ chính là Lưu Hương ký và

Xuân Hương thi tập

Chương 2

PHÂN LOẠI TỪ HÁN VIỆT TRONG THƠ NÔM HỒ XUÂN HƯƠNG

Ở chương này, chúng tôi tiến hành khảo sát từ Hán Việt được Hồ Xuân Hương

sử dụng để sáng tác thơ Nôm của Bà Đồng thời, chúng tôi còn đưa ra kết quả khảo sát

và phân các loại từ Hán Việt được Hồ Xuân Hương sử dụng trong thơ Nôm của bà theo cấu tạo từ Do dung lượng tương đối nhiều và thời gian nghiên cứu có hạn, chúng tôi chỉ khảo sát từ Hán Việt trong văn bản Thơ Nôm Hồ Xuân Hương do tác giả Kiều Thu Hoạch phiên âm, khảo dị và chú thích

Qua khảo sát văn bản Thơ Nôm Hồ Xuân Hương, do tác giả Kiều Thu Hoạch phiên

âm, khảo dị và chú thích, chúng tôi thống kê được 292 từ Hán Việt Trong đó có 141

từ đơn, 147 từ ghép và 4 từ láy

- Từ đơn là từ có kết cấu đơn thuần, phần nhiều là do một âm tiết, một chữ

biểu thị, ví dụ như từ hoa Song, cũng có những từ đơn không phải chỉ có một chữ (một âm tiết) mà là hai chữ (hai âm tiết) như từ bồ đào, cụ thể chúng tôi đã

trình bày rõ trong khóa luận

- Từ ghép Hán Việt trong văn bản thơ Nôm Hồ Xuân Hương do tác giả Kiều Thu Hoạch phiên âm, khảo dị, chú thích gồm bốn loại:

+ Từ ghép chính phụ là những từ được tạo bởi hai từ đơn ghép lại mà thành trong

đó có một thành tố chính và một thành tố phụ, thành tố phụ đứng trước, thành tố chính đứng sau, ví dụ từ khoáng dã 曠野 (khoáng là mênh mông; dạ là đồng ruộng, ý chỉ đồng ruộng mênh mông)

+ Từ ghép kết hợp hai từ có ý nghĩa giống nhau hoặc gần nhau gồm hai thành tố đẳng lập với nhau không có thành tố nào là chính và cũng không có thành tố nào là phụ, để tạo thành một nghĩa hàm ý “nói chung”, “chỉ chung” hoặc tăng cường sắc thái

ý nghĩa Ví dụ: “cầm sắt” 琴瑟 có nghĩa là “đàn cầm và đàn sắt”, ý chỉ cảnh vợ chồng hòa hợp

Trang 5

4

+ Từ ghép kết hợp hai từ trái nghĩa được tạo bởi những từ có nghĩa trái ngược nhau, để tạo nên nghĩa chung của cả hai thành tố, hoặc tạo ra nghĩa mới, không bao gồm nghĩa riêng của từng thành tố như: “kim cổ” 今古, từ “kim” có nghĩa là “nay”, từ

“cổ” có nghĩa là “xưa”, hai từ này kết hợp với nhau cho ra nghĩa chung là “xưa nay” + Từ ghép kết hợp hai từ thành một chỉnh thể theo một ý nghĩa riêng biệt thì ý nghĩa của từ ghép không phải là nghĩa của hai thành tố gộp lại, cũng không phải là nghĩa của một thành tố mà hai thành tố này kết hợp với nhau sẽ cho ra một nghĩa hoàn toàn khác ví như từ “thiên hạ” 天下, “thiên” là “trời”, “hạ” là “dưới” kết hợp với nhau cho ra một nghĩa mới là “mọi người”

- Từ láy là sản phẩm của phương thức láy, láy lại toàn bộ hay bộ phận hình thức

ngữ âm của tiếng gốc Khi khảo sát thơ Nôm Hồ Xuân Hương chúng tôi không thấy sự

xuất hiện của từ láy hoàn toàn, mà chỉ thấy từ láy bộ phận (lặp lại âm đầu hoặc phần vần) như: yểu điệu (láy vần)

Chương 3

ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÕ VÀ Ý NGHĨA CỦA TỪ HÁN VIỆT

TRONG THƠ NÔM HỒ XUÂN HƯƠNG

Ở chương này, chúng tôi tìm hiểu về đặc điểm, vai trò cũng như ý nghĩa của từ

Hán Việt trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương

Về đặc điểm của từ Hán Việt trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương,

chúng tôi xét trên ba phương diện

 Phương diện ý nghĩa: từ Hán Việt trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương vừa có ý nghĩa từ vựng, vừa có ý nghĩa ngữ pháp rõ ràng

Ví dụ: Duyên chửa trăm năm cũng một đời (bài 23, tr 166)

 Khả năng kết hợp: từ Hán Việt trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương kết hợp được với hầu hết mọi từ loại của hệ thống từ loại tiếng Việt

Ví dụ: Lấy ai khuynh quốc lại khuynh thành (bài 18, tr 156)

 Chức năng ngữ pháp: Có thể làm chủ ngữ, vị ngữ, hay các thành phần phụ khác trong câu

Ví dụ: Trà pha liên tử mà không chuộng (bài 24, tr 168)

Duyên này tác hợp tự ngàn xưa (bài 56, tr 258)

Về vai trò của từ Hán Việt trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương

- Biểu thị sự sang trọng, thanh nhã, cổ kính; sắc thái ý nghĩa trừu tượng, khái quát

Trang 6

5

- Từ Hán Việt được đặt vào những vị trí nhất định, sẽ có những vai trò nhất định:

 Trở thành “nhãn tự” thâu tóm cái thần của cả câu thơ

 Tạo nên cho tứ thơ vẻ đẹp hài hòa, cân đối

 à phương tiện hỗ trợ đắc lực trong việc bộc lộ suy nghĩ, thể hiện trọn vẹn nội dung tư tưởng, chủ đề của thi phẩm

Về ý nghĩa của từ Hán Việt trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương

- Làm phong phú thêm cho ngôn ngữ dân tộc mà đặc biệt là ngôn ngữ trong thơ ca

- Tránh được sự trùng lặp, đơn điệu

- Các điển cố, điển tích Hán Việt được sử dụng làm cho ý thơ ngắn gọn, cô đọng,

hàm súc

- Góp phần quan trọng tạo nên giá trị của nghệ thuật “chơi chữ”

III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

- Kiến nghị

+ Chúng tôi mong muốn có những công trình nghiên cứu chuyên sâu về cuộc đời

và sự nghiệp của Hồ Xuân Hương với những cứ liệu chứng minh có tính thuyết phục hơn và xác đáng hơn

+ Hy vọng có những công trình nghiên cứu sâu hơn về vấn đề từ Hán Việt để hiểu hơn việc sử dụng từ Hán Việt trong sáng tác thơ Nôm của Hồ Xuân Hương

IV TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tài liệu sách

1 Bùi Hạnh Cẩn (1995), Hồ Xuân Hương, thơ chữ Hán, chữ Nôm và giai thoại,

Nhà xuất bản Văn hóa thông tin

2 Nguyễn Tài Cẩn (2004), Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt,

Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Hà Nội

3 Đỗ Hữu Châu (1999), Các bình diện của từ và từ Tiếng Việt, Nhà xuất bản Đại

học quốc gia Hà Nội

Trang 7

6

4 Thiều Chửu (2013), Hán Việt Tự Điển, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin

5 Nguyễn Thiện Giáp (1998), Từ vựng học tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo Dục

6 ê Đình Khẩn (2002), Từ vựng gốc Hán trong tiếng Việt, Nhà xuất bản Đại học

quốc gia TP Hồ Chí Minh

7 Nguyễn ộc (2012), Văn học Việt Nam từ cuối thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX,

Nhà xuất bản Giáo Dục

8 Phan Ngọc (1990), Mẹo giải nghĩa từ Hán Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng

9 Đặng Đức Siêu (2001), Dạy và học từ Hán Việt ở trường Phổ thông, Nhà xuất

bản Giáo Dục

10 Đặng Đức Siêu (2004), Ngữ văn Hán Nôm, Nhà xuất bản Đại học sư phạm

11 Trần Khải Thanh Thủy (2004), Tản mạn về Lưu Hương ký, Nhà xuất bản Thanh

Niên

Tài liệu trên Internet

12 Anh Bùi (2012), Phong cách ngôn ngữ trong thơ Hồ Xuân Hương

th%C6%A1-H%E1%BB%93-Xuan-H%C6%B0%C6%A1ng> Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2016

<https://vi.scribd.com/doc/96252082/Phong-cach-ngon-ng%E1%BB%AF-trong-13 ê Văn Cắt (Thích Tâm Chánh) (2009), Sơ lược về từ Hán Việt trong tiếng Việt

<http://www.vbu.edu.vn/application/uploads/subjects/giaotrinh/tiengvietthuchanh/tamtuk08-TiengVietthuchanh-1.pdf> Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2016

14 Nguyễn Thị Hai, Cách nhận diện từ Hán Việt

<http://www.saigonact.edu.vn/doc/tapchi/tapchiso2/5-cach-nhan-dien-tu-han.pdf> Truy cập ngày 08 tháng 03 năm 2016

15 Kiều Thu Hoạch (2010),Thơ Nôm Hồ Xuân Hương - Từ góc nhìn văn bản học

<http://www.khoavanhocngonngu.edu.vn/home/index.php?option=com_content

&view=article&id=1151:th-nom-h-xuan-hng-t-goc-nhin-vn-bn-hc&catid=65:han-nom&Itemid=153> Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2016

16 Trần Thị Kiều (2012), Ngôn ngữ nghệ thuật trong Xuân Hương thi tập

thi-tap.htm?page=16 > Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2016

<http://123doc.org/document/3185520-ngon-ngu-nghe-thuat-trong-xuan-huong-Tư liệu khảo sát

17 Kiều Thu Hoạch (2008), Thơ Nôm Hồ Xuân Hương, Nhà xuất bản Văn học

Trang 8

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô trong khoa Ngữ Văn, trường Đại Học Thủ Dẩu Một đã cùng với tri thức và tâm huyết của mình để truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho chúng em trong suốt thời gian học tập tại trường Vốn kiến thức được tiếp thu trong những năm tháng ngồi trên giảng đường đại học, không chỉ

là nền tảng cho quá trình nghiên cứu khóa luận mà còn là hành trang quý báu để chúng em bước vào đời một cách vững chắc và tự tin

Để hoàn thành khóa luận này, em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy Nguyễn Văn Ngoạn, đã luôn nhiệt tình, tận tụy, quan tâm giúp đỡ chúng em trong suốt thời gian thực hiện đề tài Nếu không có những lời hướng dẫn, dạy bảo của thầy thì bài thu hoạch này của chúng em rất khó có thể hoàn thiện được Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn thầy

Cuối cùng em xin kính chúc quý Thầy, Cô luôn dồi dào sức khỏe, nhiều niềm vui, hạnh phúc và thành công trong sự nghiệp trồng người Chúc trường Đại học Thủ Dầu Một ngày một phát triển lớn mạnh và đạt nhiều thành tích hơn nữa

Trân trọng cảm ơn!

Trang 9

LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng em Các kết quả nêu trong khóa luận là trung thực và chƣa đƣợc công bố trong các công trình khác

Sinh viên

Phạm Thị Hạnh

Trang 10

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 1

3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

3.1 Mục đích nghiên cứu 3

3.2 Đối tượng nghiên cứu 3

3.3 Phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Cấu trúc khóa luận 4

Chương 1: Cơ sở lí luận 5

1.1 Khái quát chung về từ Hán Việt 5

1.1.1 Khái niệm về từ Hán Việt 7

1.1.2 Các quan điểm về từ Hán Việt 8

1.1.3 Đặc điểm về từ Hán Việt 11

1.1.3.1 Đặc điểm ngữ âm 11

1.1.3.2 Đặc điểm ngữ nghĩa 11

1.1.3.3 Đặc điểm ngữ pháp 12

1.1.3.4 Đặc điểm phong cách 13

1.2 Con người và Thơ Nôm của Hồ Xuân Hương 13

1.2.1 Con người của Hồ Xuân Hương 13

1.2.1.1 Cuộc đời 13

1.2.1.2 Sự nghiệp 18

1.2.2 Khái lược về tập thơ 20

1.2.2.1 Xuất xứ tập thơ 20

1.2.2.2 Nội dung tập thơ 22

Chương 2: Phân loại từ Hán Việt trong Thơ Nôm Hồ Xuân Hương 26

2.1 Tiêu chí và kết quả khảo sát phân loại về mặt cấu tạo 26

Trang 11

2.1.1 Tiêu chí khảo sát phân loại 26

2.1.2 Kết quả khảo sát phân loại 28

2.1.2.1 Từ đơn 28

2.1.2.2 Từ ghép 44

2.1.2.3 Từ láy 64

2.2 Nhận xét chung về từ Hán Việt trong Thơ Nôm Hồ Xuân Hương 65

Chương 3: Đặc điểm, vai trò và ý nghĩa của từ Hán Việt trong Thơ Nôm Hồ Xuân Hương 69

3.1 Đặc điểm của từ Hán Việt trong Thơ Nôm Hồ Xuân Hương 69

3.1.1 Về phương diện ý nghĩa 69

3.1.2 Về khả năng kết hợp 71

3.1.3 Về chức năng ngữ pháp 72

3.2 Vai trò của từ Hán Việt trong Thơ Nôm Hồ Xuân Hương 72

3.3 Ý nghĩa của từ Hán Việt trong Thơ Nôm Hồ Xuân Hương 78

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 85

1 Kết luận 85

2 Kiến nghị 88

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ TƯ LIỆU KHẢO SÁT 90

Trang 12

DANH MỤC BẢNG BIỂU

1 Bảng 2.1.1 Từ Hán Việt trong văn bản Thơ Nôm Hồ

2 Bảng 2.1.2.1 Bảng từ đơn Hán Việt trong văn bản Thơ

5 Bảng 2.1.2.2 c Bảng từ ghép kết hợp hai từ trái nghĩa

trong văn bản Thơ Nôm Hồ Xuân Hương 60

6

Bảng 2.1.2.2 d Bảng từ ghép kết hợp hai từ thành một

chỉnh thể theo một ý nghĩa riêng biệt trong văn bản Thơ

Nôm Hồ Xuân Hương

61

7 Bảng 2.1.2.3 Bảng từ láy Hán Việt trong văn bản Thơ

Trang 13

Các sáng tác của Hồ Xuân Hương được viết ở cả hai dạng là chữ Hán và chữ Nôm Tuy nhiên, nổi bật hơn cả là những bài thơ viết bằng chữ Nôm Cũng vì lẽ đó

mà thi sĩ Xuân Diệu gọi Bà là “Bà chúa thơ Nôm” Đã có nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu về bà ở những khía cạnh khác nhau như: tiểu sử, cuộc đời, nghệ thuật thơ,…

Và cũng đã có không ít học giả nghiên cứu về vấn đề ngôn ngữ, song về từ Hán Việt trong các tác phẩm thơ Nôm của Hồ Xuân Hương thì hầu như chưa có sự quan tâm đích đáng Từ Hán Việt đóng vai trò rất quan trọng trong văn học cũng như trong kho từ vựng tiếng Việt Từ Hán Việt góp phần tạo nên tính hàn lâm, tính trang trọng và đặc biệt hơn nó làm nên vẻ đẹp cổ điển trong mỗi trang thơ Cũng chính vì mong muốn tìm hiểu sâu hơn những giá trị của từ Hán Việt trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương, đặc biệt là việc khảo cứu từ Hán Việt trong thơ Nôm của Bà để thấy được đặc điểm, vai trò và ý nghĩa của việc sử dụng từ Hán Việt trong sáng tác thơ Nôm,

vì vậy chúng tôi lựa chọn Từ Hán Việt trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương làm đề tài

nghiên cứu

2 Lịch sử vấn đề

Từ Hán Việt đã được quan tâm nghiên cứu sâu từ mấy chục năm trở lại đây và

đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng như: chuyên đề Từ Hán Việt với việc giảng

dạy tiếng Việt và Văn học ở trường phổ thông trung học của nhóm tác giả Nguyễn

Ngọc Quang và Huỳnh Chương Hưng [4; tr 12]; hay công trình Dạy và học từ Hán

Việt ở trường Phổ thông của Đặng Đức Siêu (Nhà xuất bản Giáo dục).v.v…

Việc nghiên cứu từ Hán Việt trong thơ văn cũng đã được nhiều nhà nghiên

cứu quan tâm tìm hiểu như: Phạm Tuấn Vũ và Nguyễn Thị Hương Lài với Từ Hán

Việt trong thơ Bà Huyện Thanh Quan (đăng trên tạp chí Sông Trà, năm 2014) Công

trình này tập trung khảo sát và bước đầu nêu ra những nhận định về giá trị thẩm mỹ

Trang 14

2

của lớp từ Hán Việt trong các sáng tác của Bà Huyện Thanh Quan; hay Ngô Đức

Thắng với công trình về Từ ngữ Hán Việt trong tác phẩm Lục Vân Tiên của Nguyễn

Đình Chiểu Công trình đi sâu nghiên cứu về mặt giá trị nghệ thuật ngôn từ được sử

dụng trong tác phầm, mà chủ yếu là lớp từ ngữ Hán Việt được sử dụng trong truyện

thơ Lục Vân Tiên

Việc nghiên cứu thơ Hồ Xuân Hương đã có không ít các học giả quan tâm với các công trình lớn nhỏ khác nhau Các học giả đã đi sâu tìm hiểu nhiều vấn đề

về cuộc đời, về thơ ca của Hồ Xuân Hương, và đã có nhiều công trình nghiên cứu

thực sự có giá trị như Việt Nam hợp tuyển giảng nghĩa của Nguyễn Hữu Tiến và Nguyễn Thành Ý (năm 1925); hay Quốc văn trích diễn của Dương Quảng Hàm (năm 1925); Nam thi hợp tuyển của Nguyễn Văn Ngọc (năm 1927) Và nhiều công

trình nghiên cứu của nước ngoài [28]

Vấn đề ngôn ngữ trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương nói chung cũng được các học giả tìm hiểu, cụ thể trong công trình của Đặng Thanh Hòa với Thành ngữ và tục

ngữ trong thơ Hồ Xuân Hương (in trong tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số 4, năm

2001) Công trình này nhận xét: “Người ta thường bảo “nôm na là cha mánh khóe”

thế nhưng đến với thơ Hồ Xuân Hương thì đó là một ngoại lệ, bởi vì người đọc nhớ đến Hồ Xuân Hương, yêu Xuân Hương lại chính từ cái “mánh khóe” ấy Nếu không

có chất “nôm na”, “mánh khóe”, “xỏ xiên” đầy tinh quái này thì có lẽ đã không có một Hồ Xuân Hương để cho người đời vọng ngưỡng và tôn vinh bà thành bà chúa thơ Nôm trong làng thơ Việt Nam Chính cái chất nôm na trong thơ của bà đã tạo nên một chất xúc tác mãnh liệt trong lòng người đọc Người ta ngây ngất, hỉ ha, khoái trá với cái thứ ngôn ngữ “nhà quê”, “mánh khóe”,… Tất cả những cái đó hoàn toàn xa lạ với sự chau chuốt, gọt giũa, khuôn sáo mà người ta thường bắt gặp trong ngôn ngữ thơ” [8; tr 22]

Đỗ Lai Thúy trong bài viết “Đi tìm phong cách thơ Hồ Xuân Hương” in trong

cuốn Hồ Xuân Hương (nhà xuất bản Văn nghệ TP HCM, năm 1997) đã nhận xét như sau: “… Thơ Hồ Xuân Hương có một kiến trúc ngôn từ khác lạ, một ngôn ngữ

Trang 15

3

khác lạ Đọc thơ bà hoặc bằng sự mẫn cảm, hoặc bằng phương pháp thống kê, có thể chia ra những nét đặc biệt trong cách sử dụng ngôn từ…” [20; tr 90]

Tuy việc nghiên cứu về ngôn ngữ trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương đã giành

được sự quan tâm nghiên cứu, nhưng chưa được các học giả quan tâm khai thác đúng mức, đặc biệt là vấn đề từ Hán Việt thì hầu như chưa có học giả nào tiến hành khảo cứu

Tiếp nối công trình nghiên cứu của các học giả đi trước, chúng tôi mạnh dạn

chọn đề tài Từ Hán Việt trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương, với hy vọng có thể góp phần nhỏ bé trong việc tìm hiểu về thơ Nôm Hồ Xuân Hương đặc biệt là nhóm từ

Hán Việt trong thơ Nôm của Bà

3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Thông qua việc khảo cứu từ Hán Việt trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương, chúng tôi muốn tìm hiểu những giá trị nội dung và nghệ thuật được ghi chép trong sách, góp phần hiểu rõ hơn về mục đích sử dụng, cũng như những giá trị của từ Hán Việt trong các tác phẩm chữ Nôm của Bà

Thông qua việc khảo cứu từ Hán Việt trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương, chúng

tôi muốn một lần nữa khẳng định lại tinh thần độc lập dân tộc trong việc sử dụng chữ Nôm để sáng tác thơ văn nói riêng và ghi chép lịch sử văn hóa của người Việt nói chung Mặt khác, thông qua khảo cứu từ Hán Việt sẽ đưa ra những con số thống

kê cụ thể nhằm giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về tài thơ Nôm của Hồ Xuân Hương

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là từ Hán Việt trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương Các

vấn đề được tiến hành nghiên cứu: khảo sát, thống kê và phân loại từ Hán Việt

trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Khảo sát, thống kê và phân loại từ Hán Việt trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương

(Do dung lượng tương đối nhiều và thời gian nghiên cứu có hạn chúng tôi chỉ dựa

Trang 16

4

trên cơ sở từ quyển Thơ Nôm Hồ Xuân Hương của tác giả Kiều Thu Hoạch, năm

2004, Nhà Xuất Bản Văn học)

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện nội dung, chúng tôi chủ yếu áp dụng các phương pháp nghiên cứu sau: phương pháp thống kê, phân loại (để thống kê và phân loại từ Hán Việt được Hồ Xuân Hương sử dụng trong các sáng tác thơ Nôm bà); phương pháp phân tích, chứng minh (để làm sáng rõ về những giá trị của từ Hán Việt trong thơ Nôm

Hồ Xuân Hương)

5 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận thì nội dung chính được chia làm ba chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lí luận Nội dung chương này giới thiệu khái lược về từ

Hán Việt Bên cạnh đó, chúng tôi còn tìm hiểu về thân thế, sự nghiệp của Hồ Xuân

Hương và một số nét về tập Thơ Nôm Hồ Xuân Hương do tác giả Kiều Thu Hoạch

khảo cứu văn bản, phiên âm, khảo dị, chú thích

Chương 2: Phân loại từ Hán Việt trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương Nội dung

chương này nhằm khảo sát, thống kê số lượng từ Hán Việt được tác giả sử dụng

trong tập thơ và phân loại từ Hán Việt được sử dụng trong thơ Nôm Hồ Xuân

Hương thuộc những từ loại nào trong cấu tạo từ tiếng Việt

Chương 3: Đặc điểm, vai trò và ý nghĩa của từ Hán Việt trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương Nội dung chương này nhằm tìm hiểu những đặc điểm của từ Hán

Việt, qua đó thấy được vai trò và ý nghĩa của chúng trong sáng tác thơ Nôm Hồ

Xuân Hương

Trang 17

5

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN

Ở chương này, chúng tôi giới thiệu chung về từ Hán Việt, về thân thế, sự

nghiệp của Hồ Xuân Hương và về tập Thơ Nôm Hồ Xuân Hương do tác giả Kiều

Thu Hoạch khảo dị văn bản, phiên âm, chú thích

Từ thế kỉ I trước công nguyên, người Hán đã đặt quyền thống trị trên đất Giao Châu và châm dứt sự đô hộ ấy vào thế kỉ X sau công nguyên Trong suốt thời gian này, một khối lượng từ gốc Hán đã du nhập vào vốn từ của người Việt, để đến khi đất nước được độc lập (938) và đến giữa thế kỉ XIX, người Việt vẫn luôn học tập những thành tựu văn minh Trung Hoa, đặc biệt là về lĩnh vực chính trị, văn học nghệ thuật Như vậy, trong khoảng hai ngàn năm ấy, yếu tố Hán vẫn thường trực tác động đến văn hoá Việt, trong đó, lớp từ gốc Hán (được người Việt đọc theo khẩu

âm Việt, gọi là từ Hán Việt) là một minh chứng điển hình Và một điều tất yếu xảy

ra là từ thuần Việt và từ Hán Việt cùng tồn tại trong hệ thống tiếng Việt Trước khi chữ Quốc ngữ ra đời, người Việt đã sử dụng chữ Hán là thứ văn tự chính thống để ghi chép hầu hết các quan hệ xã hội Song, việc dùng chữ Hán của người Việt đã có nhiều biến đổi để phù hợp với văn hóa Việt cả về âm lẫn nghĩa, nhất là về mặt âm

đã được người Việt đọc theo khẩu ngữ của người Việt, vì vậy mà người ta thường gọi là Hán Việt [19; tr 7]

Người Việt mượn chữ Hán của Trung Quốc chủ yếu ở thời cổ đại, điển hình nhất là thời Đường - Tống Chữ Hán thời này, có thể chữ phức tạp (chữ phồn thể), lối hành văn cũng mang tính sách vở (dùng nhiều từ có nghĩa trừu tượng), khó hiểu, mang tính chất bác học nhiều hơn là lời nói thường ngày Do hoàn cảnh lịch sử xã hội lúc ấy mà chữ Hán ở giai đoạn này có sự xâm nhập và ảnh hưởng lớn đến các nước lân cận như Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam Chữ Hán khi xâm nhập vào các nước đã được biến đổi về âm đọc theo phong ngôn của nước đó và quan phương dùng làm văn tự chính thống của mỗi nước Việt Nam ta cũng không nằm ngoại lệ,

Trang 18

6

thời phong kiến người Việt đã sử dụng chữ Hán làm văn tự chính thống của mình, đồng thời dùng chữ Hán để chế ra chữ Nôm nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển văn hóa của người Việt Tuy nhiên, chữ Hán mà người Việt mượn của Trung Quốc thời Đường - Tống và trước đời Đường - Tống đã được người Việt phát âm theo khẩu ngữ, phong ngôn của người Việt và biến đổi theo quy luật phát triển ngôn ngữ của người Việt nên gọi là Hán Việt Trong Hán Việt có nhiều khía cạnh khác nhau như: tiếng Hán Việt, từ Hán Việt, ngữ pháp Hán Việt hay còn gọi ngữ pháp Hán ngữ cổ…

Lĩnh vực mà luận văn hướng tới là “từ Hán Việt”, vì vậy chúng tôi đặt trọng tâm cho vấn đề từ Hán Việt được người Việt sử dụng để ghi chép và sáng tác

Về thuật ngữ “từ Hán Việt”, từ trước đến nay các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học đã đưa ra nhiều quan điểm có những tương đồng và dị biệt nhau Theo Đặng

Đức Siêu trong Dạy và học từ Hán Việt ở trường Phổ thông thì: “Từ Hán Việt là

những từ mượn từ gốc Hán du nhập vào hệ thống từ vựng tiếng Việt, chịu sự chi phối của các quy luật ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa của tiếng Việt còn gọi là từ Việt gốc Hán Theo ông, nó là một thực thể vừa quen vừa lạ” Quen bởi vì các vỏ

ngữ âm của nó đã được Việt hóa đến cao độ nên không xa lạ gì với ngữ cảm, với cảm quan thính giác của người Việt Còn lạ, chủ yếu là do kết cấu ngữ nghĩa của từ

Hán Việt Những từ như: cứu cánh, bình sinh, tỏa chiết, nhân thân, trầm kha,…

chẳng hạn, tuy cũng thường xuyên xuất hiện trong lời nói, trên văn bản, nhưng chẳng phải là dễ hiểu đối với tất cả mọi người [14; tr 4-5] Lê Đình Khẩn, trong bài

Từ vựng gốc Hán trong tiếng Việt cũng cho rằng: “Từ Hán Việt là lớp từ Hán mà tiếng Việt vay mượn từ đời Đường và dựa trên cơ sở âm đọc ở Trường An là âm đọc chính thời bấy giờ…” [10; tr 60] Nguyễn Thiện Giáp trong Giáo trình từ vựng học tiếng Việt (in năm 1998) cũng khẳng định: “Các từ ngữ gốc Hán đọc theo âm Hán Việt gọi tắt là từ Hán Việt” Ông cho rằng: “Tiếng Việt và tiếng Hán đều là những ngôn ngữ có lịch sử lâu đời Trong quá trình tiếp xúc giữa hai ngôn ngữ, tiếng Việt

đã tiếp nhận một khối lượng rất lớn của tiếng Hán để làm giàu thêm kho từ ngữ của mình” [6; tr 241-242] Hiện tượng tiếp nhận này diễn ra không giống nhau trong

Trang 19

7

các thời kì mà theo các nhà ngôn ngữ học thống kê chưa đầy đủ, hiện tượng tiếp nhận này đã để lại trong kho từ vựng tiếng Việt một số lượng lớn các từ Hán Việt, với khoảng 60 - 70 % từ Hán Việt [9; tr 387]

Chúng tôi hiểu từ Hán Việt là lớp từ gốc Hán du nhập vào Việt Nam bằng cả con đường cưỡng bức, sách vở và giao lưu văn hóa, được người Việt biến đổi theo cách phát âm và ngôn phong của người Việt để phù hợp với lịch sử phát triển ngôn ngữ của người Việt, là lớp từ tiếng Việt có nguồn gốc từ tiếng Hán đã nhập vào hệ thống từ vựng tiếng Việt chịu sự chi phối của các quy luật ngữ âm, ngữ pháp, và ngữ nghĩa của tiếng Việt, còn gọi là từ Việt gốc Hán Song, chỉ là những từ Việt gốc Hán (trung cổ) mới liệt kê vào từ Hán Việt Những từ gốc Hán thượng cổ như:

buồng, buồm, bùa, búa, mùa, mùi, múa,… những từ mượn theo con đường khẩu

ngữ kiểu như: tài xế, mì chính, vằn thắn,… những từ loại chỉ mượn âm Hán Việt mà

không mượn nghĩa, chúng tôi không liệt kê vào từ Hán Việt

1.1.1 Khái niệm về từ Hán Việt

Từ Hán Việt là một bộ phận cấu thành kho từ vựng tiếng Việt Trong kho từ vựng tiếng Việt, từ Hán Việt chiếm số lượng lên tới 60 - 70 % từ tiếng Việt, chúng được sử dụng hầu hết ở mọi lĩnh vực đời sống xã hội người Việt, trong giao tiếp cũng như trong việc tạo lập văn bản Ở những lĩnh vực khác nhau, từ Hán Việt có những hàm nghĩa tương ứng với lĩnh vực đó, bởi từ Hán Việt thường có nghĩa bao quát

Như đã nêu trên, từ Hán Việt là những từ tiếng Việt có nguồn gốc từ tiếng Hán thời Đường - Tống đã xâm nhập vào hệ thống từ vựng tiếng Việt, chịu sự chi

phối của các quy luật ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa của tiếng Việt Ví như từ: sư,

hồng, phụ, gia, hay từ pháp chế, quan chế, tài chánh, quân sự, hình sự,… là những

từ gốc Hán có âm đọc, ý nghĩa tương đương với Hán đời Đường - Tống Những từ cũng gốc Hán nhưng có âm trước âm thời Đường - Tống được gọi là từ tiền Hán

Việt hay Hán Việt cổ mà không gọi là từ Hán Việt Ví như từ: mùi, tuổi, chém, múa v.v… bởi những từ này có âm Hán Việt tương ứng là vị, tuế, trảm, vũ… Đối với

những từ chỉ mượn âm Hán Việt mà không mượn nghĩa Hán cũng không được gọi

Trang 20

(Hán Việt) ta với nghĩa người ta (thuần Việt) trong câu thơ Trăm năm trong cõi

người ta (Nguyễn Du, Truyện Kiều); một với nghĩa chìm đắm (Hán Việt), một với

nghĩa số một (thuần Việt) trong câu thơ Một cày một cuốc thú nhà quê (Quốc âm

Thi tập, Nguyễn Trãi) Những từ loại này chỉ có thể là từ thuần Việt (hoặc tiếng Hán Việt chăng ?) mà không gọi là từ Hán Việt, bởi lẽ để được gọi là từ phải đảm bảo được ba yếu tố là hình thể (chữ viết), âm đọc và ý nghĩa

Với định nghĩa như trên, có thể thấy từ Hán Việt chính là những từ có âm đọc, ý nghĩa tương đương với âm thời Đường - Tống, những từ gốc Hán trước đời Đường - Tống, mượn theo khẩu ngữ âm Trung Quốc ngày nay hay những từ mượn

âm Hán mà không mượn nghĩa là những từ không thể đồng nhất nó vào từ Hán Việt Điều này, cũng đồng quan điểm với một số học giả đã nêu ở trên

Xét về mặt lịch sử, một từ Hán Việt là một từ viết ra được bằng chữ khối vuông của Trung Quốc, nhưng lại phát âm theo cách phát âm Hán Việt, người Việt vẫn dùng để đọc mọi văn bản viết bằng chữ Hán, dù đó là của người Hán trung cổ hay của người Việt Xét về chữ, thì chỉ có chữ Hán mà không có chữ Hán Việt, Hán Việt chỉ là một cách phát âm riêng của người Việt về chữ Hán [12; tr 11]

1.1.2 Các quan điểm về từ Hán Việt

Từ trước đến nay, đã có nhiều quan điểm về “từ Hán Việt”, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học đã có những bài viết, những công trình bàn về từ Hán Việt Khảo sát các công trình nghiên cứu đi trước, hầu hết các học giả có điểm chung: từ Hán Việt là từ có nguồn gốc xuất xứ từ tiếng Hán Song sự giải thích về từ Việt gốc Hán ở các quan điểm có những điểm chưa tương đồng: Theo Lê Văn Cắt (Thích

Tâm Chánh), trong Sơ lược về từ Hán Việt trong tiếng Việt, 2009 cho rằng: “Từ

Hán Việt là từ vựng sử dụng trong tiếng Việt bắt nguồn từ tiếng Hán nhưng đọc theo âm Việt, đồng hành với sự ra đời của chữ quốc ngữ ngày nay, và được ghi

Trang 21

9

bằng ký tự La - tinh” [22] Theo quan điểm này, có thể hiểu mọi từ gốc Hán

(Thượng cổ, Trung cổ, hay theo khẩu ngữ - Trung Quốc ngày nay) đều là từ Hán Việt.Nguyễn Thị Hai, trong Cách nhận diện từ Hán Việt lại cho rằng: “từ Hán Việt

là các từ gốc Hán được đọc theo âm Hán Việt Âm Hán Việt là âm đọc của tất cả các từ Hán được Việt hóa theo một con đường như nhau cho tất cả mọi chữ Hán, theo những quy luật chặt chẽ; lấy xuất phát điểm là âm Hán Trung cổ ở các thế kỉ VIII, IX (ứng với thời kỳ triều đại nhà Đường, Trung Quốc) Âm Hán Trung cổ này được Việt hóa từ đầu thời tự chủ (thế kỷ X) khi tiếng Hán đã mất tính cách là một sinh ngữ, do đó phải tuân theo những quy luật ngữ âm của tiếng Việt và phụ thuộc vào thói quen cấu âm của người Việt” [24] Theo quan điểm này, thì từ Hán Việt là

những từ có nguồn gốc từ tiếng Hán nhưng được đọc theo âm ở các thế kỉ VIII và

IX (ứng với thời kì nhà Đường - Trung Quốc) gọi là từ Hán Việt Nghĩa là mọi chữ Hán (trước, trong và sau đời nhà Đường) mà được đọc theo âm Hán Việt đều là từ Hán Việt

Đồng quan điểm với bà có Lê Đình Khẩn, trong bài Từ vựng gốc Hán trong

tiếng Việt cho rằng: “Từ Hán Việt là lớp từ Hán mà tiếng Việt vay mượn từ đời Đường và dựa trên cơ sở âm đọc ở Trường An là âm đọc chính thời bấy giờ…” [10;

tr 60] Nguyễn Thiện Giáp trong Giáo trình Từ vựng học tiếng Việt (bản in năm

1998) khẳng định: “Các từ ngữ gốc Hán đọc theo âm Hán Việt, gọi tắt là từ Hán

Việt” [6; tr 241-242] Đặng Đức Siêu trong Dạy và học từ Hán Việt ở trường Phổ thông cũng cho rằng: “Từ Hán Việt là từ tiếng Việt có nguồn gốc từ tiếng Hán đã nhập vào hệ thống từ vựng tiếng Việt, chịu sự chi phối của các quy luật ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa của tiếng Việt, còn gọi là từ Việt gốc Hán” [14; tr 9] Ông

cũng cho rằng không phải toàn bộ các từ Việt gốc Hán, mọi từ Việt mượn từ tiếng Hán là từ Hán Việt Từ Hán Việt nói ở đây là từ mượn từ gốc Hán và được đọc theo

âm Hán Việt, mà âm Hán Việt được hình thành tương ứng với âm thời Đường -

Tống Những từ Việt gốc Hán có trước âm Hán đời nhà Đường như: tuổi, mùi, múa,

chém, mượn theo con đường khẩu ngữ (nói theo âm Trung Quốc bây giờ) như mì

Trang 22

10

chính, vằn thắn, mượn từ gốc Hán, nhưng chỉ mượn âm (tiếng Hán Việt) mà

không mượn nghĩa Hán không phải là từ Hán Việt [14; tr 9-10]

Chúng tôi đồng quan điểm với Đặng Đức Siêu, Lê Đình Khẩn và Nguyễn Thị Hai rằng từ Hán Việt là những từ tiếng Việt có nguồn gốc từ tiếng Hán du nhập vào tiếng Việt qua nhiều giai đoạn và phương thức khác nhau được đọc theo âm Hán Việt, và chịu sự chi phối của các quy luật ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa của tiếng Việt Vì đọc theo âm Hán Việt là âm đọc của tất cả các từ Hán được Việt hóa theo một con đường như nhau, được hình thành cho tất cả mọi chữ Hán, theo những quy luật khá chặt chẽ; được lấy xuất phát điểm là âm Hán Trung cổ ở các thế kỷ VIII, IX, trước thời tự chủ của dân tộc ta (ứng với thời kỳ triều đại Nhà Đường của Trung Quốc) và phản ánh khá sát cách phát âm này Cách đọc âm Hán Việt được thực hiện cho tất cả các từ Hán nằm trong thư tịch của người Hán, kể cả các thư tịch

có trước đời Đường (thời Tiên Tần, Lưỡng Hán,…) và các thư tịch xuất hiện sau này (thời Nguyên, Minh, Thanh) Dù rằng những thư tịch của Trung Quốc có âm đọc khác với âm Hán Việt (âm thời nhà Đường) nhưng khi âm Hán Việt được hình thành thì người Việt đã đọc các thư tịch này với âm Hán Việt và phát triển nó theo phong ngôn của người Việt Đối với các thư tịch sau thời nhà Đường (Nguyên, Minh, Thanh) của Trung Quốc cũng được người Việt đọc theo âm Hán Việt cho dù những thư tịch này về thể chữ đã có sự biến đổi và phát triển theo phong ngôn của người Trung Quốc nhưng người Việt vẫn đọc các thư tịch này với âm Hán Việt và phát triển nó theo phong vị của người Việt Vì vậy, có thể hiểu rằng mọi từ Hán có

âm đọc theo âm Hán Việt (âm thời nhà Đường) đều được gọi là từ Hán Việt, cho dù

từ Hán đó có trước thời nhà Đường hay sau thời nhà Đường Đây cũng là lí do mà

âm Hán Việt vừa là một sự kiện lịch sử xảy ra ở một thời điểm, vừa là cách đọc chung và phổ biến cho mọi thời kỳ, được sử dụng để đọc và sáng tác văn thơ bằng chữ Hán, nó có tính chất ổn định Do quá trình xâm nhập, giao lưu diễn ra theo từng giai đoạn lịch sử khác nhau (trước đời Đường - Tống, đến Đường - Tống và sau

Đường Tống), những từ du nhập vào Việt Nam trước đời Đường -Tống như buồng,

chè, tuổi,… nay vẫn song song tồn tại với âm từ Hán Việt trong kho từ vựng tiếng

Trang 23

11

Việt người ta gọi là Hán Việt cổ hay tiếng Việt cổ; những từ du nhập từ đời Đường

- Tống như tuế, niên, tiền, hậu, gọi là từ Hán Việt, những từ mượn tiếng Hán Việt

mà không mượn nghĩa, những từ mượn theo con đường khẩu ngữ của tiếng Trung Quốc ngày nay gọi là từ tiếng Việt chứ không phải từ Hán Việt Chúng tôi không đi sâu nghiên cứu về từ Hán Việt mà chúng tôi đặt trọng tâm cho việc thống kê phân loại từ Hán Việt được Hồ Xuân Hương sử dụng để sáng tác thơ Nôm của bà nhằm

để hiểu hơn về vai trò của từ Hán Việt trong thơ Nôm của Hồ Xuân Hương

1.1.3 Đặc điểm về từ Hán Việt

1.1.3.1 Đặc điểm ngữ âm

Chúng tôi đồng quan điểm với học giả Nguyễn Thị Hai trong Cách nhận diện

từ Hán Việt rằng: “Do đặc điểm ngữ âm của tiếng Hán Trung cổ thế kỷ VIII, IX không thật sự tương ứng cả về lượng và chất với hệ thống ngữ âm tiếng Việt thời kỳ

ấy, cho nên khi bị Việt hóa, nó vẫn để lại những dấu ấn ngoại lai nhất định về mặt ngữ âm trong cách đọc âm Hán Việt Chẳng hạn, trong cách đọc âm Hán Việt, không có phụ âm đầu /ɣ/ (g/ gh) và /ʐ/ (r) Sự phân bố vần và thanh điệu trong các

âm tiết Hán Việt và thuần Việt cũng không hoàn toàn như nhau” [24] Ví như mi

(Hán Việt) mày (thuần Việt), liêm (Hán Việt), rèm (thuần Việt) Nhờ vậy, ta có thể

dựa vào những đặc điểm ngữ âm đó để nhận diện từ Hán Việt và từ thuần Việt

1.1.3.2 Đặc điểm ngữ nghĩa

Khác với các từ tiền Hán Việt, các từ Hán Việt vào tiếng Việt muộn hơn, khi

mà tiếng Việt đủ khả năng biểu thị các sự vật, hiện tượng cụ thể trong đời sống Vì vậy, người Việt chỉ lựa chọn những từ ngữ Hán có âm Hán Việt nào có thể lấp chỗ trống trong vốn từ vựng tiếng Việt Những từ này đa số mang nghĩa trừu tượng chỉ các khái niệm thuộc các lĩnh vực triết học, lịch sử, văn học,… Ở tiếng Hán, lúc đầu, chúng là những từ mang nghĩa cụ thể Người Hán có thể dựa vào tính hình tượng

trong văn tự của họ mà hiểu được nghĩa cụ thể của chúng Ví dụ từ tinh 精 (chữ

viết gồm bộ mễ chỉ gạo và thành tố ghi âm thanh) có nghĩa cụ thể là gạo đã được giã trắng Về sau từ này biến chuyển ý nghĩa theo phương thức mở rộng ý nghĩa nên mang nghĩa trừu tượng chỉ cái cốt lõi quý giá nhất

Trang 24

12

Người Việt trước đây, khi tiếp thu từ Hán qua việc học chữ Hán, thì có khả năng nhận thức theo kiểu chiết tự nêu trên của người Hán Nhưng từ khi chữ Quốc ngữ thay thế cho chữ Hán thì những người không có vốn Hán học hoàn toàn không thể có khả năng tri nhận kiểu chiết tự như đã được đề cập ở trên Cảm thức về nghĩa của từ Hán Việt ở đại đa số người Việt lúc này trở nên mơ hồ Những người vốn Hán học mỏng, yếu cũng khó nắm bắt chính xác nghĩa của chúng Song bên cạnh

đó, nhờ những yếu tố đơn tiết Hán Việt đi vào những kết hợp đa tiết mang tính cố định cao, có tính thành ngữ về nghĩa, tạo nên những loạt từ gần nghĩa hoặc đồng nghĩa, cho nên các từ Hán Việt, cả những yếu tố Hán Việt, có khả năng đa hưởng về nghĩa Nghĩa là một từ hay một yếu tố Hán Việt xuất hiện có khả năng kích thích ta liên tưởng đến những trường hợp gần gũi về nghĩa

1.1.3.3 Đặc điểm ngữ pháp

Phần nhiều từ đơn tiết Hán Việt đã ăn sâu vào tiếng Việt, nên rất khó nhận biết

nó là từ ngoại lai Đối với từ đa tiết Hán Việt có thể thấy rõ hơn một số đặc điểm ngữ pháp ở chúng như sau:

Đặc điểm thứ nhất: trật tự các thành tố cấu tạo từ ghép chính - phụ Hán Việt khác với từ ghép chính - phụ thuần Việt Từ ghép chính - phụ Hán Việt, có thành tố phụ đứng trước, thành tố chính đứng sau; từ ghép chính - phụ thuần Việt thì ngược

lại: yếu tố chính trước, phụ sau Ví dụ: pháp chế (Hán Việt), bàn tay (thuần Việt);

quan chế (Hán Việt), cà chua (thuần Việt); độc giả (Hán Việt), mát tay (thuần

Việt); lạc diệp (Hán Việt), làm lành (thuần Việt) Một số từ Hán Việt tuy có cấu

trúc chính phụ (thành tố chính thường chỉ hoạt động; thành tố phụ bổ sung ý nghĩa nào đó cho thành tố chính), nhưng các kết hợp này không bao giờ thay đổi trật tự, ví

dụ: hợp lí, thất học,…

Đặc điểm thứ hai: những từ ghép đẳng lập Hán Việt, ví dụ: hạnh phúc, phú

quý, cơ hàn, tán thưởng, phong phú, thích hợp, trang nghiêm,… khác với từ ghép

đẳng lập thuần Việt ở chỗ là vị trí của các thành tố cấu tạo hầu như cố định, tức cả

kết hợp có tính cố định rất cao (trừ một vài trường hợp như: đơn giản = giản đơn;

tranh đấu = đấu tranh)

Trang 25

13

Đặc điểm thứ ba: trong vốn từ đa tiết Hán Việt, có một số yếu tố (tiền tố hay

hậu tố) có khả năng sản sinh: sĩ, giả, viên, nhân, phi, vô, sở, bất,… Ví dụ: chiến sĩ,

bác sĩ, thạc sĩ, tiến sĩ,…; khán giả, thính giả, độc giả,…; giáo viên, thành viên, hội viên…; phạm nhân, tội nhân, công nhân, thương nhân,…; phi lí, phi nghĩa, phi pháp,…; vô lí, vô can, vô tội, vô danh,…; sở trường, sở đoản, sở hữu, sở nguyện,…; bất công, bất động sản, bất trắc,… những tiền tố, hậu tố có khả năng sản sinh này

thường rơi vào các từ loại thuộc nhóm hư từ nhiều hơn là các từ loại thuộc nhóm thực từ; các từ loại thuộc nhóm phủ định từ nhiều hơn là khẳng định từ

Đặc điểm thứ tư là: từ Hán Việt được sản sinh theo phong ngôn của người Việt:

+ Sử dụng các yếu tố gốc Hán để tạo đơn vị mới, ví dụ: y sĩ, thể công, phi

công, ám ảnh, an trì, tiểu đoàn, đại đội, trung đội, đại tá, thiếu tá,…

+ Kết hợp một yếu tố Hán và một yếu tố thuần Việt để tạo nên đơn vị mới, ví

dụ: binh lính, cướp đoạt, đói khổ, kẻ địch, súng trường, … (những yếu tố Hán Việt

được in đậm)

1.1.3.4 Đặc điểm phong cách

Từ Hán Việt thường mang ý nghĩa trừu tượng, khái quát cho nên thường phù hợp với phong cách sách vở Từ Hán Việt có sắc thái trang trọng, cổ kính, nó không chỉ phù hợp với phong cách sách vở, với không khí giao tiếp trang trọng mà còn phù hợp với cách miêu tả tĩnh tại

1.2 Con người và thơ Nôm của Hồ Xuân Hương

1.2.1 Con người của Hồ Xuân Hương

1.2.1.1 Cuộc đời

Đã có không ít học giả tìm hiểu về cuộc đời của Hồ Xuân Hương, nhưng vẫn chưa có sự thống nhất về thân phụ cũng như năm sinh, năm mất của Bà Khảo sát các công trình nghiên cứu đi trước, hầu hết các học giả đều thống nhất: Hồ Xuân Hương thuộc dòng họ Hồ ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An Song về năm sinh, năm mất và thân phụ của Bà còn có nhiều ý kiến khác nhau

Trang 26

14

Về năm sinh, năm mất: Theo Bùi Hạnh Cẩn, trong Hồ Xuân Hương, thơ chữ Hán, chữ Nôm và giai thoại (Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, 1995), cho rằng: “Hồ Xuân Hương sinh năm 1766 và mất năm 1833, thọ 67 tuổi” [18; tr 25] Ở Thiên tình sử Hồ Xuân Hương (Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 2002), trang 225, Hoàng

Xuân Hãn lí giải Hồ Xuân Hương sinh vào khoảng 1770, khi Hồ Phi Diễn (cha của

Hồ Xuân Hương) gần 70 tuổi Nhưng đến trang 243, ông lại viết rằng: “Nàng (tức

Hồ Xuân Hương) sinh khi cha 70 tuổi, nghĩa là vào năm 1773 ” [7; tr 225-243] Ở

trang 225, ông đoán Hồ Xuân Hương sinh năm 1770, và cha nàng lúc ấy gần 70 tuổi Ở trang 243, lại biện luận Hồ Xuân Hương sinh năm 1773, và đó là khi cha 70 tuổi Điều đó cho thấy, Hoàng Xuân Hãn chỉ đưa ra những nhận định riêng của mình về năm sinh, năm mất của Hồ Xuân Hương chứ không phải khẳng định rõ ràng về năm sinh, năm mất của Hồ Xuân Hương Và gần đây nhất, Trần Nhuận

Minh trong bài Đã xác định được năm sinh, năm mất của Hồ Xuân Hương (in trên

báo Văn nghệ trẻ, số 17, năm 2011) khẳng định Hồ Xuân Hương sinh năm 1772 và mất năm 1822

Như vậy, mỗi học giả đều đưa ra các nhận định khác nhau về năm sinh, năm mất của Hồ Xuân Hương Về phần mình, chúng tôi thiết nghĩ vấn đề năm sinh năm mất của Hồ Xuân Hương còn hết sức mơ hồ, những nhận định mà các học giả đưa

ra chỉ là sự phỏng đoán, chứ chưa có những bằng chứng thuyết phục Song, qua tìm hiểu những công trình nghiên cứu của các học giả, chúng tôi nhận thấy quan điểm của Trần Nhuận Minh là thỏa đáng Tuy một số điều nêu ra trong bài viết của ông không phải là mới, nhưng khác với các nhà nghiên cứu trước nay chỉ giả định, suy đoán, còn Trần Nhuận Minh thì khẳng định, xác quyết Ngay trang đầu của bài viết

ông lập luận rằng: “Xung quanh tiểu sử của nữ sĩ Hồ Xuân Hương, có một số điều

đã được thời gian bạch hóa Đến nay thì bà là vợ kế (chứ không phải vợ lẽ) quan tham hiệp trấn Yên Quảng (tỉnh Quảng Ninh ngày nay) thì đã rõ Bà đã hai lần từ Nghi Tàm (Hồ Tây,Thăng Long) về Yên Quảng thăm người yêu, là ông Trần Phúc Hiển, để lại 2 bài thơ tình chữ Nôm viết bên bờ sông Bạch Đằng và 5 bài thơ viết về Vịnh Hạ Long bằng chữ Hán, đã in trong tập Lưu Hương kí, từ năm 1814, thì cũng

Trang 27

15

đã rõ Như vậy, bà ở hẳn tại Yên Quảng từ năm 1815 đến khi chồng bà bị án tử hình, vì đã nhận hối lộ 700 quan tiền Việc chồng bà chết ở Yên Quảng năm 1919, cũng đã rõ, vì điều đó còn ghi trong Thực lục của nhà Nguyễn Khi vua Minh Mạng

rà soát lại các bản án liên quan đến các quan, ông rất chú ý đến vụ án quan Tham hiệp trấn An Quảng Trần Phúc Hiển, ông phê vào bên cạnh: “Tham nhũng như thế

mà không giết, thì lấy gì mà khuyến liêm” Sau đó, ông đưa ra kết luận: “chính căn

cứ vào các tư liệu mới phát hiện này, mà người ta đã xác định được năm sinh của

Hồ Xuân Hương là 1772, đặc biệt năm mất là 1822 Điều đó đã được dòng họ Hồ Quỳnh Đôi, Nghệ An, quê hương bà, cho khắc vào tấm bia đá lớn, thờ ở ngay đầu làng” [29] Chúng tôi cho rằng, đây là những bằng chứng xác đáng, có tính thuyết

phục cao, làm rõ quan điểm của Trần Nhuận Minh về năm sinh năm mất của Hồ Xuân Hương Chưa kể bài viết của Trần Nhuận Minh còn nhắc đến nơi chôn cất Hồ

Xuân Hương: “Căn cứ vào bài thơ của Tùng Thiện vương Nguyễn Phúc Miên

Thẩm, con vua Minh Mạng, em ruột vua Thiệu Trị nhà Nguyễn, in trong “Thượng sơn thi tập”, thì nơi đó ở bên Hồ Tây và bây giờ có thể là ở lòng hồ, gần bờ hồ”

[29] Theo sự hiểu biết của chúng tôi, bài thơ của Miên Thẩm là nguồn tư liệu cần thiết chứng minh cho thời điểm mà Hồ Xuân Hương qua đời:

“Sen Tịnh-đế nở đầy hồ,

Cô hầu gái hái hoa để cúng thần

Đừng dẫm lên mộ Xuân Hương nhé,

Ở suối vàng nàng còn ôm hận rút nhầm tơ (duyên)

Phấn rụng, cành tàn, một gò đất, Xuân Hương đi về, cỏ xanh xanh

Cho đến giờ u hồn còn như say ngất, Mấy độ gió xuân thổi vẫn không tỉnh.”

Bài thơ Long Biên trúc chi từ thập tứ thủ được sáng tác vào năm 1842, đọc

đoạn 8 và 9 của bài thơ được biết Hồ Xuân Hương mất trước năm 1842, nhưng không biết rõ ràng là mất năm nào, càng không biết Hồ Xuân Hương sinh năm nào

mà chỉ biết năm 1842 Hồ Xuân Hương đã mất Có thể nói, bài thơ dù là cứ liệu văn

Trang 28

16

bản học ngoại biên song cũng phần nào chứng minh quan điểm của ông Trần Nhuận Minh là hoàn toàn thỏa đáng

Về thân phụ: Hồ Phi Tiến căn cứ các gia phả họ Hồ ở làng Quỳnh Đôi,

Quỳnh Lưu, Nghệ An cho rằng kể từ Hồ Hồng là người khai cơ lập nên họ Hồ ở Quỳnh Đôi thì đến Hồ Phi Phúc là đời thứ 11 Hồ Phi Phúc (đổi họ Nguyễn) sinh Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ Cũng đời thứ 11 này, Hồ Phi Diễn sinh

Hồ Xuân Hương Vậy nếu xem Hồ Hồng là thủy tổ (đời thứ nhất) ở Quỳnh Đôi thì đến Hồ Xuân Hương là thuộc đời thứ 12; Nguyễn Huệ cũng thuộc đời thứ 12 (Hồ Xuân Hương và Nguyễn Huệ cùng chung ông tổ 5 đời là Hồ Thế Anh) [31] Dương

Quảng Hàm trong Việt văn giáo khoa thư (in năm 1940) cũng cho rằng: “Hồ Xuân

Hương là con gái ông Hồ Phi Diễn người làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, xứ Nghệ An” [31] Ngoài ra, các học giả Nguyễn Hữu Tiến trong cuốn Giai nhân di mặc (in năm 1915), Song An trong bài Thân thế và văn chương cô Hồ Xuân Hương

(in trên báo Đông Tây số 12, năm 1929) vàhọc giả Hoàng Xuân Hãn trong bài tựa

Hồ Xuân Hương Với Vịnh Hạ Long (in trên tạp chí Khoa học xã hội, số 10 và 11,

năm 1983) đều khẳng định Hồ Xuân Hương là con gái Hồ Phi Diễn [26]

Một số tác giả khác, như giáo sư Trần Thanh Mạikhi công bố việc phát hiện

tập thơ Lưu hương kí trong Tạp chí Văn học số 4, năm 1963, cho rằng cha bà là Hồ

Sỹ Danh (1706 - 1783), có con là Hồ Sỹ Đống làm quan to được phong Hàn lâm

thừa chỉ, hàm Thái bảo Trong Hồ Xuân Hương thơ và đời tác giả Lê Xuân Sơn

cũng cho rằng Hồ Xuân Hương tên thật là Hồ Phi Mai con ông Hồ Sĩ Danh 1783) và là em cùng cha khác mẹ với Hồ Sĩ Đống (1738-1786) là một vị quan đầu

(1706-triều thời chúa Trịnh [23] Trần Khải Thanh Thủy trong cuốn Tản mạn về Lưu

Hương ký cũng khẳng định Hồ Xuân Hương là con của Hồ Sĩ Danh

Như vậy, cũng như năm sinh năm mất, về thân sinh của Hồ Xuân Hương cũng chưa có một sự thống nhất rõ ràng Về phần mình, chúng tôi tán đồng với quan điểm cho rằng Hồ Xuân Hương là con gái của Hồ Phi Diễn Từ những tìm hiểu của bản thân, chúng tôi thiết nghĩ việc học giả Hồ Phi Tiến căn cứ vào gia phả

họ Hồ để chứng minh là hoàn toàn thỏa đáng Bởi lẽ, gia phả là sách ghi chép tên

Trang 29

17

tuổi, tiểu sử, phần mộ, ngày giỗ, của từng người trong gia tộc, theo thứ tự các đời [13; tr 382] Gia phả họ Hồ cũng được ghi lại và không phải ngẫu nhiên mà tên Hồ Phi Diễn được nhắc đến trong gia phả, chưa kể còn nêu rõ là đời thứ 11 Vì vậy, không ngoại trừ khả năng Hồ Phi Diễn chính là cha của nữ sĩ Hồ Xuân Hương Cũng vì lẽ đó chúng tôi cho rằng, dẫn chứng từ gia phả họ Hồ ghi lại có phần thỏa đáng Ở đây, chúng tôi không khẳng định chắc chắn quan điểm nào là chính xác, mà chỉ đưa ra ý kiến cá nhân về vấn đề thân sinh của nữ thi sĩ

Như vậy, thân thế của Hồ Xuân Hương về năm sinh, năm mất cũng như thân phụ của bà còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau Tuy chưa biết rõ thân phụ của

Hồ Xuân Hương là ai, nhưng được biết năm lên 16 tuổi, thân phụ Hồ Xuân Hương qua đời Theo sự nhìn nhận của cha, bà chuyển sang học cụ Đồ xứ, người đỗ đầu khoa thi hương, vốn cũng khá nổi tiếng trong vùng Đến năm 19 tuổi, anh cả mất,

Hồ Xuân Hương theo thầy Đồ lên Vĩnh Phúc mở trường, dựng lớp chiêu sinh học trò Năm năm ở lại huyện Phong Châu, Vĩnh Phúc, bà đã kịp làm quen với những học trò trong vùng, trong đó có Tổng Kình (khi đó còn giữ chức lý trưởng của làng) rồi Bà chấp nhận làm vợ bé ông Tổng Kình khi mới 24 tuổi, chưa được một năm thì

tơ duyên đứt Một thời gian sau, bà được ông phủ Vĩnh Tường đem lòng yêu thương và cưới làm vợ Hai ông bà sinh sống với nhau được hơn 2 năm thì ông phủ Vĩnh Tường trở về Thiên Phủ làm quan để lại nỗi trống vắng không gì lấp nổi trong cuộc đời bà Trước đó hai năm, Xuân Hương quen Nguyễn Du, khi đó vẫn chỉ là sinh đồ, đang tá túc ở nhà anh tại Giám Hồ (Văn Miếu Quốc Tử Giám) Theo lời Bà

thú nhận: “Cuộc tình chốc đã ba năm vẹn” Đến năm 1795, bà về kinh thành Thăng

Long, được ít lâu bà gặp và quen Chiêu Hổ Mối tình với Chiêu Hổ kéo dài độ bốn năm, khi Chiêu Hổ ra làm quan thì mối tình cũng chấm dứt (1800) [18; tr 15-17]

Năm 1802, Hồ Xuân Hương quen Mai Sơn Phủ, khi mối duyên tình bắt đầu nồng thắm, thì ông Mai Sơn Phủ đột ngột trở về Nghệ An để lại mối hoài cảm sầu thương không dứt trong lòng Xuân Hương Những năm sau đó, bà gặp gỡ và làm quen với nhiều văn nhân, tài tử: Tốn Phong, Trần Quang Tĩnh, Trần Ngọc Quán và Trần Phúc Hiển Cuối cùng bà chấp nhận lấy Trần Phúc Hiển Nhưng chưa đầy ba

Trang 30

18

năm (1815 - 1818) thì tai vạ ấp xuống, Trần Phúc Hiển bị khép tội tử hình do ăn hối

lộ bảy trăm quan tiền Xuân Hương nghe tin dữ liền làm đơn đệ lên Vua Gia Long xin ân xá cho chồng nhưng không được Sau đó, Hồ Xuân Hương chán ngán cõi đời trần tục, Bà tìm đến chùa Giải Oan, Yên Tử Sau ba năm tu thân tích thiện, bà trở lại

Cổ Nguyệt đường và mất tại đó, mộ chôn tại làng Phú Thượng, ven Hồ Tây [18; tr 17-23]

Như vậy, có thể thấy cuộc đời Hồ Xuân Hương gặp rất nhiều bấp bênh, trắc trở và điều dĩ nhiên dễ nhận thấy chính những ngang trái, những đắng cay trong đường đời, đường tình là những nhân tố tác động mạnh mẽ và sâu sắc đến những sáng tác thơ ca của nữ thi sĩ họ Hồ

Hồ Xuân Hương sáng tác khá nhiều nhưng tình hình văn bản hết sức phức

tạp Tuy nhiên, vẫn có thể khẳng định bà có hai tập thơ chính là Lưu Hương ký và

Xuân Hương thi tập Theo khảo tả của Hoàng Xuân Hãn, Hồ Xuân Hương có 77 bài

thơ Nôm in ngay từ trước năm 1893 Theo Nhan Bảo, cộng sáu văn bản Hán Nôm thì Hồ Xuân Hương có tới 123 bài thơ Theo Nguyễn Lộc, Hồ Xuân Hương có cả

phần thơ Nôm truyền tụng (55 bài) và những bài khác in trong tập Lưu Hương ký (13 bài) Theo Đào Thái Tôn, có 30 bài thơ chữ Hán và Nôm thuộc về Lưu Hương

ký (đã công bố 22 bài) và 53 bài thuộc loại “thơ Nôm truyền tụng”

Nhìn chung, thơ Xuân Hương còn lại đều do người đời ghi chép lại Tài liệu

ghi chép sớm nhất thơ Hồ Xuân Hương hiện còn là tập Xuân Hương thi tập bằng

chữ Quốc Ngữ của Xuân Lan in năm 1913 Bản chữ Nôm thơ Xuân Hương, giáo sư

Hoàng Xuân Hãn trong bài Hồ Xuân Hương với Vịnh Hạ Long cho biết văn bản

Trang 31

19

chép tay sớm nhất thơ Hồ Xuân Hương là văn bản của Antony Landes, giám đốc Trường Thông ngôn Sài Gòn thuê chép năm 1893, có 62 bài thơ [11; tr 28-282]

Nguyễn Lộc trong Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ

XIX cho rằng: “Trong số trên một trăm bài lâu nay được coi là của Hồ Xuân Hương, thực tế có khoảng trên ba mươi bài phong cách khá thống nhất Số còn lại thì có khía cạnh này, khía cạnh khác giống với những bài trên, nhưng nhìn chung không thuộc phong cách của những bài trên, mà hết sức hỗn tạp Thực tế cho phép chúng ta nghĩ rằng số trên ba mươi bài có phong cách thống nhất kia có nhiều khả năng là của một người sáng tác và đó là sáng tác của Xuân Hương Còn những bài khác, vì có khía cạnh này, khía cạnh khác giống với sáng tác của Xuân Hương, nên người ta mới nhầm lẫn, cho là của Xuân Hương, chứ không phải của bà.” [11; tr

283]

Và sự phức tạp về văn bản thơ Xuân Hương lại thêm một lần phức tạp nữa

với sự xuất hiện của tập Lưu Hương ký

Tháng 10 năm 1964 trên Tạp chí Văn Học, trong bài Trở lại vấn đề Hồ Xuân

Hương, ông Trần Thanh Mại giới thiệu một bài tựa của Nham Giác Phu viết cho tập Lưu Hương ký vào tháng 3 năm 1814 Bài này ghi trong tập thơ chép tay Du Hương Tích động ký Theo bài tựa, Nhan Giác Phu người họ Phan, cùng quận với Hồ Xuân

Hương và Lưu Hương ký là tập thơ của Hồ Xuân Hương Kèm theo bài tựa có hơn

ba mươi bài thơ nói về mối tình của ông ta đối với Hồ Xuân Hương Sau đó Trần

Thanh Mại lại tìm được bản Lưu Hương ký do ông Nguyễn Văn Tú, cử nhân Hán

học, người xã Hành Thiện, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định cung cấp Ông

Trần Thanh Mại giới thiệu tập Lưu Hương ký này như sau: “Có phần chắc bản chép

tập Lưu Hương ký mà ông Nguyễn Văn Tú đã trao cho chúng tôi là phần còn lại của tập thơ mà Nham Giác Phu đã đọc và đã đề tựa, hay ít nhất nó cũng thiếu nhiều

tờ, bản này chỉ có 22 trang giấy viết hàng tám, tổng cộng 30 đầu đề với 52 bài Trong 52 bài này có 24 bài thơ chữ Hán và 28 bài thơ chữ Nôm Trang đầu có đề rõ: Lưu Hương ký - Hoan trung Cổ Nguyệt đường Xuân Hương nữ sĩ tập Hoan

Trang 32

Bản Hồ Xuân Hương thi tập của Xuân Lan 1913 và 1914 (gọi tắt Xuân Lan

1913, Xuân Lan 1914) Theo đánh giá của Hoàng Bích Ngọc đây là những bản Quốc ngữ đầu tiên về thơ Hồ Xuân Hương và là tài liệu có độ “trung thực” cao nhất

trong các bản thơ Nôm truyền tụng mà chúng ta có được Sau đó, tác giả Hoàng

Bích Ngọc còn cho rằng ba tập Xuân Lan hiện còn trong Thư viện Khoa học trung ương là “một tài liệu có giá trị về văn bản học” [25]

Bản khắc ván Xuân Hương thi tập năm 1921 (gọi tắt: Xuân Hương thi tập

1921, hoặc Khắc ván 1921) Hoàng Bích Ngọc cũng cho biết bản này được ấn hành bởi Phúc Văn Đường Ở bản khắc ván 1921 có những bài trùng với bản khắc ván

1914, nhưng chữ nghĩa chính xác hơn (có ý nghĩa và logic hơn), và cho biết nội

dung có các bài sau: 1 Thơ hỏi nguyệt, 2 Thơ gửi cho ông Chiêu Hổ, 3 Thơ ông

Chiêu Hổ họa lại , tổng cộng 73 bài [25]

Như vậy, những tư liệu về các sáng tác của Hồ Xuân Hương lại một lần nữa cho thấy sự phức tạp về con người của nữ thi sĩ họ Hồ Tư liệu cuộc đời đã nhiều rắc rối, mà tư liệu thơ cũng không mấy rõ ràng, dù vậy, đây cũng là những cứ liệu quan trọng và cần thiết để hiểu hơn về phong cách sáng tác của nữ sĩ Hồ Xuân Hương

1.2.2 Khái lược về tập thơ

1.2.2.1 Xuất xứ của tập thơ

Trước hết là tư liệu cho việc tuyển chọn thơ Nôm Hồ Xuân Hương Căn cứ

theo những ghi chép của Đào Thái Tôn trong Hồ Xuân Hương, tiểu sử, văn bản, tiến

trình huyền thoại dân gian hóa (Nhà xuất bản Hội nhà văn, 1999, tr.83-87) Cùng

với sự tra cứu riêng của tác giả Kiều Thu Hoạch, cho đến hiện nay dù mất mát ít nhiều, văn bản thơ Nôm Hồ Xuân Hương trong kho sách của Viện Nghiên cứu Hán

Trang 33

21

Nôm may mắn còn được ba bản khắc ván in và nhiều bản chép tay, tổng cộng khoảng trên 20 văn bản Nôm [32; tr 22]

Nguồn gốc xuất xứ của những văn bản dùng để biên khảo tập Thơ Nôm Hồ

Xuân Hương, thì chưa có sự rõ ràng Việc ghi chép các yếu tố xuất xứ hết sức tuỳ

tiện, không theo một quy cách nào

Cụ thể, ba bản khắc ván đều có ghi năm in sách, nhưng do ai sưu tập, biên soạn, và nội dung sách căn cứ theo nguồn tài liệu nào thì đều không được ghi Ví

dụ: Bản Xuân Hương di cảo trong sách Quốc âm thi tuyển, có phụ in phần “Danh

gia ca vịnh” (Ca vịnh của các tác gia nổi tiếng) Không ghi tên Nhà xuất bản Có ghi năm khắc ván in là: “Long phi Giáp Dần, Xuân, tân san” (Mùa Xuân năm Rồng bay Giáp Dần, bản khắc ván mới) Giáp Dần đây là năm Duy Tân 8 (1914) Bản khắc

ván in Xuân Hương thi tập, có phụ in phần “Danh gia ca vịnh”, do Nhà Phúc Văn

Đường tàng bản khắc ván in Có ghi niên đại là “Long phi Tân Dậu, Xuân, tân san” (Mùa Xuân năm Rồng bay Tân Dậu, bản khắc ván mới) Tân Dậu tức là năm Khải

Định 6 (1921) Bản khắc ván in Xuân Hương thi tập, có phụ in phần thơ của các

tác giả khác (chỉ một vài bài), nhưng không đề ở bìa sách Bản này do Nhà Quan Văn Đường tàng bản khắc ván in Niên đại khắc ván in là năm “Khải Định Nhâm Tuất, Hạ” (Mùa Hè, năm Khải Định, Nhâm Tuất - tức là năm 1922) [32; tr 71-72]

Về các văn bản thơ Nôm Hồ Xuân Hương chép tay, chỉ có hai văn bản Quốc

văn tùng ký và Tạp thảo tập là cho biết tên người biên tập, năm biên tập, còn hầu

hết đều không ghi niên đại sao chép, tên người sao chép cũng như nguồn gốc văn

bản Ví dụ: Bản chép tay Quốc văn tùng ký, văn bản này do Hải Châu Từ -

Nguyễn Văn San biên soạn, trong có chép thơ Nôm Hồ Xuân Hương Bài dẫn ở đầu sách kể tên các tác giả, tác phẩm thơ phú Nôm từ thời Lý - Trần cho đến thời Nguyễn Sơ, và chấm dứt ở nhà thơ Tú Xương (1870 - 1907) Xét các cứ cũng như bằng chứng theo văn bản học thì đây là sách được biên soạn từ thời Tự Đức đến đầu

Duy Tân Bản chép tay Tạp thảo tập Có ghi tên người biên soạn là Ngọc Đình cư

sĩ Nguyễn Trạch Phủ biên tập, năm Khải Định, Kỷ Mùi (1919) Các bản chép tay

khác như: Lĩnh Nam quần hiền văn thi diễn âm tập, chép thơ, ca, phú, văn sách

Trang 34

22

của nhiều tác giả từ thời Lê đến đầu thời Nguyễn; Xuân Hương thi sao phụ Tạp

sao; Xuân Hương thi vịnh, được chép chung trong sách Bách liêu thi văn tập…

đều không ghi tên người biên soạn, sao chép, cũng không ghi niên đại sao chép [32;

tr 71-74]

Như vậy có thể thấy, xuất xứ của nguồn văn bản thơ Nôm Hồ Xuân Hương, cũng chưa có một sự rõ ràng nào Tuy nhiên, dẫu chưa thật đầy đủ những điều mà người nghiên cứu văn bản cần biết, song ít ra cũng còn có cơ sở để tra cứu thêm

1.2.2.2 Nội dung của tập thơ

Trong văn bản Thơ Nôm Hồ Xuân Hương do tác giả Kiều Thu Hoạch biên

soạn mà chúng tôi khảo sát, nhìn chung, những bài thơ trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương tập trung vào bốn đề tài chính: đề tài tình yêu, đề tài người phụ nữ, đề tài tố cáo xã hội phong kiến và đề tài trữ tình yêu đời

* Đề tài tình yêu

Hồ Xuân Hương viết về những tâm sự của mình đối với những người bạn trai,

có khi đó là một tình bạn thắm thiết gần như một tình yêu, có khi đó là một tình yêu thật sự Trong số những người quan hệ với Hồ Xuân Hương có ông Tốn Phong thị, ông Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng họ Trần, ông Sơn Phủ, ông Thanh Liên, ông Chí Hiên, và đặc biệt có cả một “người cũ” là ông Cần chánh học sĩ Nguyễn hầu tức là Nguyễn Du, tác giả Truyện Kiều [11; tr 287]

Một trong số những bài thơ nói về tình cảm chân thành của nhà thơ đối với những người bạn trai của mình, bên cái đằm thắm, dịu dàng, có thêm một chút

ngậm ngùi của những mối tình không trọn vẹn như bài Khóc Tổng Cóc Hay một

bài thơ khác thể hiện rõ tình cảm xót thương của Hồ Xuân Hương đối với một

người chồng, người bạn văn chương là ông phủ Vĩnh Tường trong bài Khấp Vĩnh

Tường quan

* Đề tài người phụ nữ

Trong văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX, Hồ Xuân Hương là nhà thơ nhân đạo chủ nghĩa, bởi vì thơ bà trước hết là tiếng nói tâm tình của người phụ nữ Có thể nói, ngoài văn học dân gian, Hồ Xuân Hương là nhà

Trang 35

23

thơ đầu tiên trong lịch sử văn học dân tộc đã đem đến cho thơ văn tiếng nói của những người phụ nữ lao động có nhiều bất hạnh trong cuộc sống: những tiếng than, tiếng thét, những tiếng căm hờn và những tiếng châm biếm sâu cay Viết về đề tài phụ nữ, nhà thơ thường xoáy sâu vào các ngóc ngách éo le của cuộc đời để nêu lên những bi kịch không kém phần chua chát song bình thường nó bị xóa nhoà trong một cuộc sống vốn dĩ đã rập khuôn theo những chế ước nặng nề của lễ giáo phong kiến Hồ Xuân Hương viết về nỗi khổ của người phụ nữ “lấy chồng chung”, hay nối khổ của người phụ nữ “không chồng mà chửa”,…[11; tr 293-297]

Nếu bài Cảnh chồng chung là tiếng nói phẫn uất chua xót đối với chế độ đa thê bất công mà người phụ nữ phải chịu đựng, thì bài Không chồng mà chửa lại là

một lời nói rất mực khoan dung, độ lượng đối với cảnh ngộ không may của họ Trong một loạt hình tượng nói vể số phận bấp bênh, hẩm hiu của ngưởi phụ nữ như chiếc bánh trôi “Bảy nổi ba chìm với nưóc non”; con ổc nhồi “Đêm ngày lăn lóc đám cỏ hôi”, hay quả mít “da nó sù sì”, nhà thơ chú trọng nêu bật cái đẹp bên trong, cái đẹp tâm hồn của họ

* Đề tài tố cáo xã hội phong kiến thông qua nghệ thuật trào phúng

Hồ Xuân Hương là người phụ nữ đầu tiên dám lên án, tố cáo mạnh mẽ tầng lớp phong kiến thống trị

Xuân Hương phê phán bộ mặt đạo đức giả của những tên quan lại, hám danh Nhà thơ cũng phê phán gay gắt bọn đầu trọc “miệng nam mô, bụng bồ dao găm” Với thái độ dứt khoát, mạnh mẽ nữ thi sĩ đã nói lên tiếng nói tố cáo xã hội phong kiến tãn nhẫn, vô nhân đạo, trà đạp lên quyền sống của con người Thông qua nghệ thuật trào phúng Hồ Xuân Hương nói nhiều đến tính chất giả dối, dốt nát của giai cấp thống trị và coi nó như là bản chất của chúng [11; tr 298-299]

Xuân Hương là một nhà thơ trào phúng, đả kích, song cũng là nhà thơ trữ tình yêu đời Điều đó được biểu hiện trước hết ở lòng yêu mến thiên của nữ sĩ

Cảnh thiên nhiên nhà thơ yêu mến là những cảnh bình thường cũng có hình khối, có cây, có gió, có âm thanh, sắc màu , vẻ đẹp ấy của thiên nhiên làm cho

Trang 36

24

cuộc sống của con người trở nên tươi đẹp hơn Song, với tấm lòng hồn nhiên, yêu đời Xuân Hương đã mang đến cho thiên nhiên chất sống ngồn ngộn như nhựa mùa xuân Thiên nhiên trong thơ Xuân Hương bừng lên những nét sinh động dị thường

trong bài Núi Ba Đèo Cảm hứng trữ tình trong những bài thơ viết về thiên nhiên

của Xuân Hương là một xúc cảm lãng mạn hết sức tươi sáng

Tiểu kết

Trong kho từ vựng tiếng Việt, từ Hán Việt chiếm khối lượng tương đối lớn (khoảng 70%) Bởi vì, từ Hán Việt du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, bằng cả con đường chiến tranh (cưỡng bức) lẫn con đường hoà bình (giao lưu văn hoá) Thời ban đầu của quá trình tiếp nhận tiếng Hán, do ý đồ của Trung Quốc là đồng hoá văn hoá người Việt nên đã truyền dạy chữ viết, phong tục, tập quán… Vì thế, việc tiếp nhận chữ Hán trong giai đoạn này được diễn ra chủ yếu là bằng con đường cưỡng bức Nhưng khi hòa bình lập lại thì triều đình phong kiến vẫn sử dụng chữ Hán trong các khoa thi và cho đến nay, từ Hán Việt vẫn được sử dụng khi đã được “Việt hóa” Như vậy, tuy rằng cách cấu tạo từ Hán cùng với cách phát âm của người Trung Quốc đã có sự biến đổi trong thời gian sử dụng nhưng người Việt vẫn sử dụng vốn từ Hán với cách phát âm tại thời điểm mà nó chính thức du nhập vào Việt Nam (tức từ Hán của đời Đường)

Từ Hán Việt khi du nhập vào Việt Nam được người Việt sử dụng một cách phổ biến và việc người Việt sử dụng song ngữ Việt Hán không những không làm mất đi sự thống nhất của ngôn ngữ mà còn làm cho ngôn ngữ Việt càng thêm đa dạng, uyển chuyển hơn

Vấn đề tiểu sử của Hồ Xuân Hương hết sức mơ hồ và còn nhiều thông tin cần được xác minh Chẳng hạn về năm sinh năm mất thì có nhiều nguồn tư liệu khác nhau như 1766 - 1833, 1770 - 1821, 1822, về thân phụ cũng còn có sự nhập nhằng giữ Hồ Phi Diễn và Hồ Sĩ Danh Về cuộc đời cũng không mấy rõ ràng (cả đường đời và đường tình) Như vậy, có thể nói rằng chính những ngang trái trong tình duyên và trong cuộc đời đã ảnh hưởng đến những sáng tác của bà

Trang 37

25

Hồ Xuân Hương sáng tác khá nhiều nhưng cũng hết sức phức tạp Tuy nhiên,

vẫn có thể khẳng định bà có hai tập thơ chính là Lưu Hương ký và Xuân Hương thi

tập Theo khảo tả của Hoàng Xuân Hãn, Hồ Xuân Hương có 77 bài thơ Nôm Theo

Nhan Bảo, cộng sáu văn bản Hán Nôm thì Hồ Xuân Hương có tới 123 bài thơ Theo Nguyễn Lộc, Hồ Xuân Hương có cả phần thơ Nôm truyền tụng và những bài khác

in trong tập Lưu Hương ký (13 bài) Theo Đào Thái Tôn, có 30 bài thơ chữ Hán và

Nôm thuộc về Lưu Hương ký và 53 bài thuộc loại “thơ Nôm truyền tụng”

Về nội dung, thơ Nôm Hồ Xuân Hương tập trung ở bốn mảng đề tài chính

Thứ nhất là đề tài viết về những tâm sự và mối tình của Hồ Xuân Hương đối với

những người bạn trai, có khi đó là một tình bạn thắm thiết gần như một tình yêu, có

khi đó là một tình yêu thật sự Thứ hai là đề tài về người phụ nữ Thứ ba là đề tài tố

cáo xã hội phong kiến thông qua nghệ thuật trào phúng Cuối cùng là đề tài trữ tình yêu đời

Khác với nhiều nhà thơ đương thời, Xuân Hương là một người không chịu sự ràng buộc của luân lý lễ giáo phong kiến Cuộc đời gặp nhiều biến động đã để lại dấu ấn rõ nét trong sự nghiệp của Xuân Hương, và bằng tài năng sẵn có của mình,

Bà đã tạo nên một phong cách sáng tác độc đáo, không giống với bất kì nhà thơ nào Góp phần làm nên giá trị trong các thi phẩm của Hồ Xuân Hương phải kể đến là yếu

tố ngôn ngữ, đặc biệt là việc sử dụng hệ thống từ Hán Việt trong sáng tác thơ chữ Nôm Cụ thể chúng tôi sẽ trình bày rõ ở chương 2

Trang 38

26

Chương 2 PHÂN LOẠI TỪ HÁN VIỆT TRONG THƠ NÔM HỒ XUÂN HƯƠNG

Ở chương này, chúng tôi tiến hành khảo sát từ Hán Việt được Hồ Xuân Hương

sử dụng để sáng tác thơ Nôm của Bà Đồng thời, chúng tôi còn đưa ra kết quả khảo sát và phân các loại từ Hán Việt được Hồ Xuân Hương sử dụng trong thơ Nôm của

bà theo cấu tạo từ Do dung lượng tương đối nhiều và thời gian nghiên cứu có hạn,

chúng tôi chỉ khảo sát từ Hán Việt trong văn bản Thơ Nôm Hồ Xuân Hương do tác

giả Kiều Thu Hoạch phiên âm, khảo dị và chú thích

2.1 Tiêu chí và kết quả khảo sát phân loại

2.1.1 Tiêu chí khảo sát phân loại

Nghiên cứu tiến hành thống kê từ Hán Việt trong văn bản Thơ Nôm Hồ Xuân

Hương do tác giả Kiều Thu Hoạch phiên âm, khảo dị và chú thích theo tiêu chí từ

Mỗi đơn vị từ lần lượt được mô tả ở các khía cạnh: âm đọc Hán Việt, hình thể chữ Nôm, hình thể chữ Hán, vị trí xuất hiện, nghĩa gốc Hán, nghĩa ngữ cảnh trong câu thơ, tần số xuất hiện Sau khi thống kê, số chữ được xác định là tổng số các chữ khác nhau, và số lượt chữ được hiểu là số lần xuất hiện của chúng trong văn bản Trong trường hợp các từ đồng âm thì sẽ có sự đối chiếu so sánh nghĩa chữ Hán

(ghi trong Tự điển Hán Việt) và nghĩa tiếng Việt (ghi trong Từ điển tiếng Việt) để từ

đó phân loại ra chữ đó là từ thuần Việt hay từ Hán Việt

Đối với những từ du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, hay được Việt hóa cao độ

và được sử dụng như một từ bản ngữ ví như từ: “cao” (高) trong câu thơ Lẩn thẩn

đừng màng dạ thấp cao 吝矧停恾胣湿高 (bài 17, tr 153), “tuy” (雖) trong câu thơ Đường tuy nửa bước xa ngàn dặm 塘雖姅𨀈仍𠦳𨤮 (bài 23, tr 166), “như” (如)

trong câu thơ Thân em như quả mít trên cây 身㛪如果櫗𨕭核 (bài 59, tr 265),

“xuân” (春) trong câu thơ Êm ái chiều xuân tới Khán Đài 淹愛朝春細看薹 (bài 4,

tr.113), Chúng tôi sẽ tiến hành tra cứu trong tự điển Hán Việt để xác định chúng

Trang 39

27

Sau khi có kết quả khảo sát từ Hán Việt trong văn bản Thơ Nôm Hồ Xuân

Hương do tác giả Kiều Thu Hoạch phiên âm, khảo dị và chú thích, chúng tôi sẽ dựa

vào cấu tạo từ và tiến hành chia từ Hán Việt ra thành ba loại chính là: từ đơn, từ ghép và từ láy

Để phân loại từ Hán Việt trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương chúng tôi chủ yếu

dựa theo quan điểm của Đặng Đức Siêu, trong Ngữ văn Hán Nôm tập một, Nxb Đại

học Sự phạm (2004) Từ đơn là từ có kết cấu đơn thuần, phần nhiều là do một âm

tiết, một tự biểu thị (tức nhiên tự đó phải là một từ), ví như hồng 紅, hoa 花, khuyển

犬, tuy nhiên cũng có những từ đơn không phải chỉ có một tự (một âm tiết) mà là

hai tự (hai âm tiết), như quyết đề 駃騠 (ngựa) hay bồ liễu 蒲柳 (cây liễu dương) Cũng có những từ đơn là từ láy như: lung linh 瓏玲 Từ ghép là từ có kết cấu không

đơn thuần, phần nhiều là do hai từ đơn kết hợp với nhau mà tạo thành Theo quan điểm này, từ ghép Hán Việt gồm các loại là: từ ghép trùng lặp, từ ghép kết hợp hai

từ có ý nghĩa giống nhau hoặc gần nhau, từ ghép kết hợp hai từ trái nghĩa, từ ghép kết hợp hai từ có quan hệ chính phụ và từ ghép kết hợp hai từ thành một chỉnh thể theo một ý nghĩa riêng biệt [15; tr 72]

Đối với những từ ghép, do người Việt sáng tạo ra kiểu như: cung nguyệt (宮月), quả phúc (果福),thuyền từ (船慈), do có kết cấu đảo ngược lại so với Hán

Việt cho nên chúng tôi không xếp nó vào loại từ Hán Việt

Từ láy là sản phẩm của phương thức láy, láy lại toàn bộ hay bộ phận hình thức ngữ âm của tiếng gốc (với thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theo quy tắc biến thanh) Là sản phẩm của hình thức láy lại của hình vị gốc Các từ láy có thể phân thành từng kiểu khác nhau Căn cứ vào cách hòa phối ngữ âm có thể phân biệt hai kiểu từ láy: từ láy bộ phận như: “chúm chím”, “đủng đỉnh” ; từ láy toàn bộ như:

“ầm ầm” Từ láy bộ phận được chia làm hai loại: lặp lại phụ âm đầu như: “chắc chắn”, “chí chóe” ; lặp lại phần vần như: “lênh khênh”, “chót vót”, Căn cứ vào

số lần tác động của phương thức láy có thể phân biệt các kiểu từ láy: từ láy đôi (gọn gàng), từ láy ba (dửng dừng dưng) hay từ láy tư (nhí nha nhí nhảnh) [3; tr 345]

Trang 40

28

Đối với từ láy hoàn toàn có kết cấu giống với từ ghép trùng lặp, khi phân loại chúng tôi sẽ căn cứ vào đặc điểm ý nghĩa của từng loại để phân loại từ bởi ý nghĩa của từ láy thường nhấn mạnh hay giảm sắc thái biểu thị của sự vật, hiện tượng còn ý nghĩa của từ ghép trùng lặp thường là biểu thị toàn thể, khắp lượt, liên tục, lặp đi lặp lại

Dựa vào cấu tạo và cách phân loại đã nói ở trên, chúng tôi chia từ Hán Việt trong văn bản thơ Nôm Hồ Xuân Hương theo mô hình ở Bảng 2.1.1

Bảng 2.1.1 Từ Hán Việt trong văn bản Thơ Nôm Hồ Xuân Hương

TỪ HÁN VIỆT TRONG VĂN BẢN

THƠ NÔM HỒ XUÂN HƯƠNG

Từ

đơn

Từ phức

Từ ghép Từ láy bộ phận Kết hợp

hai từ có nghĩa giống hay gần nhau

Kết hợp hai từ trái nghĩa

Kết hợp hai từ có quan hệ chính phụ

Kết hợp hai từ thành từ có nghĩa riêng biệt

Láy phụ âm đầu

Láy vần

yểu điệu

2.1.2 Kết quả khảo sát phân loại

Qua khảo sát văn bản Thơ Nôm Hồ Xuân Hương, do tác giả Kiều Thu Hoạch

phiên âm, khảo dị và chú thích, chúng tôi thống kê được 292 từ Hán Việt trên tổng

số 3974 từ Trong đó có 141 từ đơn, 147 từ ghép và 4 từ láy

2.1.2.1 Từ đơn

Như đã trình bày ở trên, từ đơn là từ có kết cấu đơn thuần, phần nhiều là do

một âm tiết, một chữ biểu thị (tức nhiên chữ đó phải là một từ), ví như: học 學, mai

梅, ngô 吾, khuyển 犬, tuy nhiên cũng có những từ đơn không phải chỉ có một chữ (một âm tiết) mà là hai chữ (hai âm tiết), như quyết đề 駃騠 (ngựa) hay bồ liễu

蒲柳 (cây liễu dương) Cũng có những từ đơn là từ láy như lung linh 瓏玲.Qua

khảo sát khảo sát văn bản Thơ Nôm Hồ Xuân Hương do tác giả Kiều Thu Hoạch

Ngày đăng: 21/06/2021, 21:27

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w