Sự lãnh đạo của Trung ương Cục miền Nam trong cuộc kháng chiến chống chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ ở miền Đông Nam Bộ 1961-1965.. Phong trào đấu tranh của quân và dân trong cu
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
“CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT” CỦA MĨ
Ở MIỀN ĐÔNG NAM BỘ (1961 – 1965)
Chuyên ngành: SƯ PHẠM LỊCH SỬ
Giảng viên hướng dẫn: TS HUỲNH THỊ LIÊM
Sinh viên thực hiện: PHẠM QUỐC TRUNG
Mã số sinh viên: 1156020033
Lớp: D11LS01
BÌNH DƯƠNG, 05/2015
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan 3
MỞ ĐẦU 4
Chương 1 11
SỰ RA ĐỜI CHIẾN LƯỢC “CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT” CỦA MỸ Ở MIỀN NAM VIỆT NAM (1961 – 1965) 11
1.1 Khái quát về hoàn cảnh lịch sử thời kỳ chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ ở miền Nam Việt Nam 11
1.1.1 Khái quát địa lý - hành chính miền Đông Nam Bộ 11
1.1.2 Đặc điểm xã hội – nhân văn và truyền thống yêu nước của nhân dân miền Đông Nam Bộ 13
1.2.Chính sách của Mỹ - Diệm đối với miền Nam 15
1.2.1.Hoàn cảnh lịch sử 15
1.2.2.Sự ra đời chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ (1961-1965) 17
1.3 Sự ra đời Trung ương Cục miền Nam 35
Chương 2 38
SỰ L NH Đ O CỦA TRUN Ư N CỤC MIỀN NAM TRONG CUỘC KHÁN CHIẾN CHỐNG CHIẾN LƯỢC “CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT” CỦA MỸ Ở MIỀN ĐÔN NAM BỘ (1961 - 1965) 38
2.1.Sự lãnh đạo của Đảng Lao Động Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ ở miền Đông Nam Bộ (1961 – 1965) 38
2.2 Sự lãnh đạo của Trung ương Cục miền Nam trong cuộc kháng chiến chống chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ ở miền Đông Nam Bộ (1961-1965) 43
2.3 Phong trào đấu tranh của quân và dân trong cuộc kháng chiến chống chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ ở miền Đông Nam Bộ (1961 – 1965) 46
2.3.1 Đấu tranh quân sự 47
2.3.2 Đấu tranh chính trị 53
2.3.3 Đấu tranh chống phá ấp chiến lược 54
Trang 3Chương 3 58
ĐẶC ĐIỂM VÀ NHỮN BÀI HỌC KINH NGHIỆM TRONG CUỘC KHÁN CHIẾN CHỐNG CHIẾN LƯỢC “CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT” CỦA MỸ Ở MIỀN ĐÔN NAM BỘ (1961-1965) 58
3.1 Đặc điểm của quân và dân trong cuộc kháng chiến chống chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ ở miền Đông Nam Bộ (1961-1965) 58
3.2 Bài học kinh nghiệm của cuộc đấu tranh chống chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, của Mỹ ở miền Đông Nam Bộ (1961-1965) 60
KẾT LUẬN 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
PHỤ LỤC 75
Trang 4Văn Xô - Tr n Lương… g n liền với những chiến công oanh liệt: Bình iã, Bàu Bàng, Phước Long, D u Tiếng, Bến Cát, Lộc Ninh…
Với những lý do trên, ch ng tôi mạnh dạn chọn đề tài “Sự lãnh đạo của Trung ương Cục miền Nam trong cuộc kháng chiến chống chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mĩ ở miền Đông Nam Bộ (1961 – 1965)” để viết khóa luận
tốt nghiệp
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trung ương Cục miền Nam là một bộ phận của Ban chấp hành Trung ương Đảng, được Ban chấp hành Trung ương ủy nhiệm ch đạo toàn bộ công tác của Đảng ở miền Nam Trung ương Cục miền Nam đặt dưới sự lãnh đạo của Ban chấp hành Trung ương, dưới sự ch đạo trực tiếp của Bộ Chính trị Trung ương
Ngày 10/10/1961, ội nghị l n thứ I Trung ương Cục chính thức thành lập Trung ương Cục miền Nam được t chức tại Mã Đà căn cứ địa Chiến khu Đ Ban Thường vụ Trung ương Cục do Ban chấp hành Trung ương ch định
Cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược tiếp sau kháng chiến chống Pháp 1945-1954 nh m thực hiện mục tiêu là để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
Đề tài Sự lãnh đạo của Trung ương Cục miền Nam trong cuộc kháng chiến chống chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” ở miền Đông Nam Bộ 1961 -
1965 t trước đến nay đã thu h t sự quan tâm của không ít cơ quan, cá nhân nghiên cứu trên cả hai hướng lý luận và thực ti n
- Trước hết, tác ph m “Lịch sử miền Đông Nam Bộ và Cực Nam
Trung Bộ kháng chiến (1945 – 1975)”, do Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu 7
biên soạn, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, năm 2011 Ở chương V, của tác
ph m này, tác giả đã trình bày một cách có hệ thống về quá trình phát triển lực
Trang 5lượng, đ y mạnh chiến tranh nhân dân, t ng bước lãnh đạo quân, dân đánh bại chiến tranh đặc biệt của Mỹ, [ 391 – 495].1
- Tác ph m “Đảng lãnh đạo cuộc đấu tranh chống phá “quốc sách”
ấp chiến lược của Mỹ - Ngụy ở miền Nam Việt Nam (1961 – 1965)”, của tác
giả Tr n Thị Thu ương, do nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 2003 Đây là công trình nghiên cứu công phu, hệ thống ngu n tư liệu phong ph và nhận định, đánh giá t nhiều phía Tác Ph m g m ba chương: chương 1 trình bày về chính sách ấp chiến lược trong chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ ở miền Nam 1961-1965 ; chương 2 trình bày về quá trình Đảng lãnh đạo cuộc đấu tranh chống phá “quốc sách” ấp chiến lược của Mỹ - Ngụy ở miền Nam; chương 3 tác giả nêu th ng lợi của cuộc đấu tranh chống, phá “quốc sách”
ấp chiến lược và những bài học kinh nghiệm về lãnh đạo của Đảng
- Sách “Lịch sử Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam (1945
– 1975)”, do PGS.TS Nguy n Q y chủ biên , nhà xuất bản Chính trị quốc gia
năm 2010 Tác ph m này đã trình bày quá trình hình thành và phát triển của t chức Đảng qua m i giai đoạn, qua đó thấy được sự trưởng thành, kinh nghiệm lãnh đạo của Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam góp ph n lý giải nguyên nhân th ng lợi của cách mạng miền Nam nói chung và miền Đông Nam
Bộ nói riêng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
- Sách “Lịch sử Đảng Bộ miền Đông Nam Bộ lãnh đạo kháng chiến
chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945 – 1975)”, do hội đ ng ch đạo
biên soạn lịch sử Đảng bộ miền Đông Nam Bộ, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, năm 2003 Ở tác ph m này, hội đ ng biên soạn đã tái hiện lại quá trình xây dựng
và phát triển của Đảng bộ miền Đông Nam Bộ, sự lãnh đạo, ch đạo của Đảng
bộ với phong trào đấu tranh cách mạng của quân và dân các t nh thuộc miền Đông Nam Bộ giai đoạn 1945 – 1975, giai đoạn trường kỳ kháng chiến của nhân dân ta
Trang 6- Sách “Lịch sử Bộ chỉ huy Miền (1961 – 1976)”, do Bộ quốc ph ng
Quân khu 7, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, năm 2004 Nội dung tác ph m trình bày, giới thiệu cho bạn đọc hiểu về ngu n gốc ra đời, vai tr và t m quan trọng của bộ ch huy miền, qua đó bạn đọc thấy được sự hoàn thành xuất s c vai
tr của mình khi làm tham mưu cho Trung ương Cục miền Nam lãnh đạo phong trào đấu tranh chính trị, đấu tranh v trang; trực tiếp ch huy ch đạo lực lượng chiến đấu chống lại các âm mưu, thủ đoạn k th
- Sách “Lịch sử của cuộc kháng chiên chống Mỹ cứu nước”, tập III,
do Viện lịch sử quân sự Việt Nam thuộc Bộ Quốc Ph ng, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, năm 1997 Nội dung sách ch rõ các đường lối, ch thị của Đảng theo
t ng giai đoạn lịch sử đấu tranh
- Tạp chí “Chính sách bình định của Mỹ - Ngụy trong giai đoạn
chiến tranh đặc biệt và sự thất bại của nó” do tác giả Tr n Văn giàu, công bố
số tạp chí 105, tháng 12 năm 1968 Trong bài viết này, tác giả đã giới thiệu cho người đọc thấy được âm mưu của Mỹ - Diệm thông qua các hình thức bình định miền Nam Tuy nhiên với tinh th n yêu nước, quyết chiến đấu để bảo vệ đất nước, c ng với sự ch đạo kịp thời sáng suốt của Đảng, quân và dân miền Đông Nam Bộ đã t ng bước đánh bại k th
- Luận án của Tiến S Lịch Sử của uỳnh Thị Liêm, bảo vệ tại Đại học
Quốc ia Thành phố H Chí Minh năm 2006 với đề tài: “Phong trào đấu
tranh chống phá ấp chiến lược ở miền Đông Nam bộ thời k chiến tranh đặc biệt (1961 - 1965)” Đây là công trình nghiên cứu công phu và hệ thống với
ngu n tư liệu phong ph t nhiều ngu n lưu trữ khác nhau Trong đó, tác giả đã khái quát một cách hệ thống về chiến lược “chiến tranh đặc biệt” với quốc sách
ấp chiến lược, c ng như phục dựng lại một cách tương đối đ y đủ về phong trào chống, phá ấp chiến lược của nhân dân miền Đông Nam Bộ
- Ngoài ra, c n có nhiều công trình khoa học, luận án, luận văn nghiên cứu về lịch sử chiến tranh, lịch sử kháng chiến Nam bộ, lịch sử kháng chiến các quân khu 7, 8, 9, quân khu Sài n - Chợ lớn và các t nh Nam Bộ có đề cập rải
Trang 7rác đến sự lãnh đạo của Trung ương Cục miền Nam trong đấu tranh chống chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ - Diệm 1961-1965)
Các công trình nêu trên đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự lãnh đạo của Trung ương Cục miền Nam trong đấu tranh chống xâm lược Mỹ - Diệm (1961-1965) Có công trình thì trình bày sơ lược trong mặt b ng chung là lịch sử kháng chiến, có công trình thì chuyên nghiên cứu dưới góc độ khoa học sự đấu tranh của quân dân miền Nam nói chung và miền Đông nói riêng trong cuộc đấu tranh chống chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ - Diệm 1961-1965)
Cho đến nay, chưa có có công trình khoa học nào trình bày một cách hệ thống và toàn diện sự lãnh đạo của Trung ương Cục miền Nam trong đấu tranh chống chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ - Diệm ở miền Đông Nam bộ 1961-1965 Tuy hiên những công trình ấy đã cung cấp nhiều luận cứ khoa học
và tư liệu lịch sử quan trọng để ch ng tôi kế th a và tiếp tục nghiên cứu trong khóa luận này
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Như tên đề tài đã nêu, đối tượng nghiên cứu của khóa luận là “Sự lãnh đạo của Trung ương Cục miền Nam trong đấu tranh đánh bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ - Diệm ở miền Đông Nam Bộ 1961 – 1965 , đặc điểm
và bài học kinh nghiệm của nó trong lịch sử
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian, khóa luận giới hạn thời gian nghiên cứu trong khoảng t năm 1961 – giữa 1965
Về không gian, khóa luận giới hạn phạm vi nghiên cứu ở Đông Nam Bộ
t 196 - 1965 bao g m thành phố Sài n – ia Định và các t nh thuộc: Bình Dương, Biên a, Bà Rịa - V ng Tàu, Tây Ninh, Bình Long, Phước Long, Long Khánh, Bình Tuy, Phước Tuy, Long An, ậu Ngh a
Trang 84 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tài liệu
Để thực hiện đề tài này, tác giả khóa luận đã tham khảo, nghiên cứu tài liệu t các ngu n sau:
- Các tác ph m lý luận chủ ngh a Mác-Lênin, tư tưởng Chí Minh về chiến tranh cách mạng, các sách lịch sử chiến tranh, lịch sử kháng chiến, các luận án, luận văn khoa học Các tác ph m này lưu trữ ở thư viện T nh Bình Dương, thư viện Khoa học T ng hợp Thành Phố Chí Minh, thư viện trường Đại học Thủ D u Một…
- Các văn bản Ch thị, Nghị quyết, tài liệu t ng kết, báo cáo chuyên đề…Trung Tâm Lưu trữ Quốc gia 2, Ph ng khoa học quân sự Quân khu 7
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện Khóa luận, tác giả sử dụng hai phương pháp chính, ph biến của khoa học lịch sử là phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc
Ngoài việc sử dụng hai phương pháp chính trên, khóa luận c n sử dụng các phương pháp liên ngành khác như: so sánh, phân tích, t ng hợp, nh m gi p người đọc hiểu và có cái nhìn toàn diện các vấn đề liên quan đến sự lãnh đạo của Trung ương Cục miền Nam trong đấu tranh chống chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ - Diệm ở miền Đông Nam bộ 1961 - 1965)
5 Đóng góp của khóa luận
Kế th a thành quả nghiên cứu của các công trình khoa học có trước, khóa luận dự kiến góp ph n:
- Trình bày một cách hệ thống, toàn diện chiến lược chiến tranh đặc biệt
và sự lãnh đạo của Trung ương Cục miền Nam trong đấu tranh đánh bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ - Diệm ở miền Đông Nam Bộ 1961 - 1965)
- Bước đ u phân tích đặc điểm và bài học kinh nghiệm trong đấu tranh cách mạng, đánh bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ - Diệm ở miền Đông Nam Bộ 1961 - 1965)
Trang 9Tập hợp, hệ thống hóa số tài liệu sưu t m được phục vụ cho công tác nghiên cứu lịch sử Đ ng thời làm tư liệu tham khảo trong việc giảng dạy, giáo dục lịch sử cho học sinh
6 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài ph n mở đ u, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của khóa luận có 3 chương g m:
Chương 1: Sự ra đời chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ ở miền Nam Việt Nam 1961 - 1965)
Chương 2: Sự lãnh đạo của Trung ương Cục miền Nam trong cuộc kháng chiến chống chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ ở miền Đông Nam Bộ (1961 - 1965)
Chương 3: Đặc điểm và những bài học kinh nghiệm trong cuộc kháng chiến chống chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ ở miền Đông Nam bộ (1961 - 1965)
Trang 10thuận tiện cho việc sử dụng binh khí kỹ thuật tác chiến lớn Do đó, suốt chiều dài cuộc chiến tranh giải phóng, miền Đông Nam Bộ là chiến trường chủ lực, của tác chiến quy mô lớn iá trị chiến lược của chiến trường miền Đông Nam
Bộ với địch c n là vành đai sống c n trong chiến lược ph ng thủ Sài n - trung tâm điều hành chiến tranh của Mỹ
Miền Đông Nam Bộ có địa hình tương đối đa dạng và phức tạp, bao g m:
v ng r ng rậm, n i cao, đ ng b ng, bờ biển và hải đảo, trong đó đ ng b ng chiếm ph n lớn diện tích Địa hình miền Đông Nam Bộ tương đối b ng phẳng,
độ cao so với mực nước biển dịch chuyển trong biên độ t 20 đến 200m Miền Đông Nam Bộ n m ở vị trí chuyển tiếp giữa đ i n i và đ ng b ng, vì vậy ở một
số nơi có một số n i cao n m rải rác, đột xuất và phân bố ở h u kh p các t nh Bà Rịa – V ng Tàu , Đ ng Nai, Bình Phước, Tây Ninh Đáng kể nhất là các n i Bà Đen, n i Cậu,… Nhìn toàn bộ bề mặt địa hình miền Đông Nam Bộ được chia làm ba v ng chính: r ng n i, nông thôn đ ng b ng và đô thị
Miền Đông Nam Bộ n m trong v ng khí hậu nhiệt đới gió m a cận xích đạo, c ng với ph n lớn diện tích đất phì nhiêu, rất thích hợp để tr ng các cây công nghiệp lâu năm như cà phê, cao su, h tiêu Tại v ng đất miền Đông Nam
Bộ này có những đ n điền cao su lớn như: Công ty cao su Miền Đông, công ty cao su Đông Dương, công ty cao su Tây Ninh
Thời tiết trong năm ở miền Đông Nam Bộ được chia thành 2 m a: m a mưa t tháng 5 đến tháng 11; m a khô t tháng 12 đến tháng 4 năm sau Chính yếu tố thời tiết khá phức tạp này c ng đã chi phối đến hoạt động quân sự, kinh
tế, đời sống người dân địa phương
V ng r ng n i và r ng chiếm 1/3 diện tích đất tự nhiên với diện tích 9.475 km2, b t ngu n t cao nguyên Lang-Biang, Di Linh Lâm Đ ng đến khu vực B c Tây Ninh, Bình Long, Phước Long, Biên a, Bà Rịa – V ng Tàu Bên cạnh những cánh r ng nguyên sinh với thảm thực vật và động vật có đ y đủ đặc trưng của v ng r ng nhiệt đới Châu Á ở mạn Đông và Đông B c Đặc điểm địa hình r ng n i v ng Đông Nam Bộ là cao d n t phía Tây lên Đông B c, nơi đây
Trang 11trung tâm phố chợ t nh, thành phố là nơi tập trung của nhóm cư dân người Hoa (Chợ Lớn người Hoa chiếm 75% số dân Các t nh như Tây Ninh, Long An, Bình Dương là nơi tập trung sống chủ yếu của nhóm cư dân người Hoa
C ng với yếu tố lịch sử và sự tr ph của thiên nhiên, v ng đất được xem
là nơi đất lành chim đậu đã quy tụ nhiều cư dân, tôn giáo… t nhiều v ng đến
và sinh sống Vì vậy, ở v ng đất này có khá nhiều tôn giáo khác nhau như: Đạo Phật, đạo Ki Tô, Đạo Cao Đài, Đạo a ảo, Đạo H i Trong đó, Đạo Phật có
số lượng tín đ đông đảo nhất và phân bố kh p các địa phương trong miền, tập trung đông nhất là ở khu vực miền Đông Đạo Thiên Ch a và đạo Tin Lành là hai giáo phái của đạo Kitô, tập trung ở các địa phương như: Bà Rịa – V ng Tàu, Biên a, Bình Dương, Bình Phước, Thành Phố H Chí Minh Đạo Cao Đài có tín đ sống tập trung ở khu vực: Tây Ninh, Long An, Bình Dương, ia Định, Chợ Lớn
Miền Đông Nam Bộ là một v ng đất mới được khai phá, cư dân hội tụ về đây với nhiều lý do khác nhau, nhưng trong họ vẫn luôn c ng chung một điểm
đó là cuộc sống, số phận của những người c ng kh , phải gánh chịu cảnh áp bức, bóc lột, vì lẽ ấy nên khi đặt chân đến v ng đất mới này, họ đã c ng nhau đấu tranh để t n tại, làm chủ thiên nhiên và đấu tranh chống xâm lược đã g n kết
họ thành một khối thống nhất có tinh th n thương yêu đ m bọc và đoàn kết nhất trí cao Qua quá trình đấu tranh để c ng t n tại và phát triển trong điều kiện lịch
sử mới ở v ng đất mới, miền Đông Nam Bộ đã d n d n tạo cho con người ở đây những nét tính cách riêng Đó là tình yêu quê hương, đất nước; là ý chí bất khuất, khảng khái và năng động trước mọi hoàn cảnh khó khăn; là tinh th n chiến đấu táo bạo, kiên cường và trí tuệ mưu lược; là ph m chất tự lực tự cường,
c n c và sáng tạo trong lao động; là tinh th n đoàn kết g n bó và lối ứng xử trung thực, hào hiệp, chân thành Đặc điểm trên c ng chính b t ngu n t tính cách chung của dân tộc, h a quyện và góp ph n nên tính cách của dân tộc Việt Nam
Trong suốt thời gian trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, với sự
Trang 12Điều đó phản ánh rõ so sánh lực lượng trên thế giới đã thay đ i bất lợi cho phe
đế quốc
Bước phát triển mới trên đây của phong trào giải phóng dân tộc c ng là sự sụp đ của chủ ngh a thực dân c và sự khủng hoảng của chủ ngh a thực dân mới đến những năm 1959 – 1960 được đánh dấu b ng sự sụp đ chế độ độc tài của Ba-tit-sta ở Cu Ba và cao trào “Đ ng khởi” ở miền Nam Việt Nam c ng với
sự phát triển của cách mạng Lào
Trong khi Anh, Pháp, những tên tr m thực dân c đã suy yếu, đang quay
về củng cố chính quốc và giữ quyền lợi c n lại ở châu Phi thì chủ ngh a thực dân mới của Mỹ c ng đang bị đ y l i t ng bước, quyền lợi của Mỹ bị đe dọa và buộc Mỹ phải đơn phương đối phó với phong trào đó Không phải ngẫu nhiên
mà Taylor, “kiến tr c sư” của chiến lược toàn c u mới của Mỹ phải th a nhận:
“Ngày nay cuộc chiến tranh không xảy ra ở châu Âu mà là châu Á, châu Phi, châu Mỹ la-tinh”.3
Đế quốc Mỹ buộc phải điều ch nh chiến lược chung “đ y l i chủ ngh a cộng sản” và chiến lược “trả đ a ạt” về quân sự sang “chiến lược vì h a bình”
và chiến lược “phản ứng linh hoạt” về quân sự, h ng giành lại chủ động chiến lược, tiếp tục thực hiện mưu đ bá chủ thế giới Với chiến lược quân sự “phản ứng linh hoạt”
Mỹ chủ trương tiến hành ba loại chiến tranh: chiến tranh đặc biệt, chiến tranh cục bộ và chiến tranh thế giới (b ng v khí hạt nhân trong đó “chiến tranh đặc biệt” được coi là một sáng tạo để đàn áp phong trào giải phóng dân tộc
Với chiến lược mới, Việt Nam là điểm nóng b ng nhất theo quan điểm của Mỹ và trở thành nơi thí điểm các chiến lược chiến thuật của Mỹ, h ng đánh bại cách mạng Việt Nam để r t kinh nghiệm đối phó với phong trào cách mạng thế giới
Khi John Fitzgerald Kennedy lên c m quyền, tình hình chính trị quân sự của Mỹ ngụy ở miền Nam Việt Nam và Lào đã xấu đi nghiêm trọng Ở Nam
Trang 13dự tr Tuy vậy kế hoạch đó vẫn không đáp ứng kịp yêu c u phát triển của tình hình
Đến ngày 11 tháng 5 năm 1961, John Fitzgerald Kennedy mới quyết định chuyển hướng chiến lược ở Nam Việt Nam sang chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, một cuộc chiến tranh không tuyên bố, một cuộc chiến tranh xâm lược của chủ ngh a thực dân mới, để ngăn chặn không cho cộng sản thống trị Nam Việt Nam Ch ng chủ trương: tăng cường cố vấn và viện trợ, bao g m cả quyền cố vấn và chi viện cho lực lượng bảo an, dân vệ Đưa quân chính quy quân đội Sài
n lên 20 vạn, trong đó thành lập thêm 2 sư đoàn bộ binh, phát triển thêm lực lượng không quân và hải quân nh m đủ sức bình định nội địa, kiểm soát biên giới, giới tuyến, v ng biển Đ y mạnh chiến tranh bí mật chống phá miền B c
Đưa 400 lính Mỹ thuộc “lực lượng đặc biệt” và dự kiến triển khai thêm 2 cụm
chiến đấu và 1 tiểu đoàn công binh Mỹ đến Tây Nguyên Thực hiện quyết định trên, John Fitzgerald Kennedy cử phái đoàn Johnson, phó t ng thống sang Việt Nam (11 – 13-5-1961 trao đ i một hiệp định tay đôi giữa Mỹ và Diệm, thăm d việc đưa quân chiến đấu Mỹ vào Nam Việt Nam
Ngày 19 tháng 6 năm 1961, Stalay, tiến s thuộc Viện nghiên cứu Stanpho, c m đ u một phái đoàn 6 người sang Sài n để vạch một chương trình cụ thể chống du kích
Kế hoạch của Stalay chủ trương bình định miền Nam theo 3 giai đoạn: iai đoạn 1: giai đoạn cơ bản nhất của kế hoạch, nh m bình định Nam Việt Nam trong 18 tháng b ng nhiều biện pháp, chủ yếu nhất là biện pháp gom
dân lập “ấp chiến lược” h ng “tát nước bắt cá”, đánh phá cơ sở cách mạng của
ta ở nông thôn Tăng cường lực lượng quân đội Sài n và lực lượng yểm trợ
Mỹ nh m tiêu diệt lực lượng v trang c n non tr của ta Lập hệ thống cứ điểm dọc biên giới, giới tuyến, ngăn chặn sự xâm nhập t bên ngoài vào Tăng cường hoạt động tình báo gián điệp biệt kích
iai đoạn 2: phục h i kinh tế, tăng cường quân đội ngụy và tiếp tục phá hoại miền B c
Trang 14Ngày 17 – 9 – 1961, Thompson chuyên gia quân đội Anh về chống chiến tranh du kích, được Mỹ mời sang Nam Việt Nam làm cố vấn để thực hiện kế hoạch trên
Phong trào cách mạng ở Nam Việt Nam l c này đang phát triển mạnh mẽ làm cho ngụy quyền lo sợ Diệm yêu c u Mỹ có một th a hiệp tay đôi với mức
độ cam kết mạnh hơn, tăng cường viện trợ phương tiện, v khí, lực lượng yểm trợ (chủ yếu là máy bay và người lái , đưa một số đơn vị chiến đấu Mỹ vào miền Nam với danh ngh a huấn luyện để tăng cường giữ vững giới tuyến và Tây Nguyên
Trước yêu c u đó của Diệm, John Fitzgerald Kennedy cử tiếp phái đoàn Taylor, Rostow sang Sài n 18 – 10 đến 1 – 11 – 1961 để xem xét và kết luận tại ch 3 khả năng hành động can thiệp trực tiếp của Mỹ5
- Hoặc can thiệp đánh bại ta b ng 3 sư đoàn Mỹ
- Hoặc đưa tượng trưng một số quân chiến đấu Mỹ sang Nam Việt Nam
để xác lập việc có mặt của Mỹ, n định tay sai
- Hoặc tăng cường mạnh mẽ viện trợ v khí trang bị, huấn luyện cho quân đội Nam Việt Nam
Sau đó đi nghiên cứu ở Nam Việt Nam về, phái đoàn Taylor kiến nghị:
- Đưa vào Nam Việt Nam một lực lượng quân sự đặc nhiệm t 6.000 đến 8.000, có hậu c n h trợ, làm nhiệm vụ t ng dự bị để chi viện cho quân đội Sài
n và được phép hành quân chiến đấu khi c n thiết
- Nếu tình hình miền Nam đối với Mỹ tiếp tục xấu đi thì ném bom miền
B c b ng không quân để làm áp lực
Đề nghị này của Taylor được ph n lớn các chính giới Mỹ tán thành
C ng có nhóm phản đối vì không muốn để Mỹ đơn phương chịu gánh nặng chi phí chiến tranh và sợ tình hình Lào sẽ phức tạp thêm, khó có thể đi tới một th a hiệp về chính trị và đình ch xung đột về quân sự
Trang 15Ngày 14 tháng 11 năm 1961, John Fitzgerald Kennedy chu n y kế hoạch của Stalay và kiến nghị của Taylor Tuy chưa chấp nhận việc đưa ngay 6.000 đến 8.000 lực lượng đặc nhiệm vào Nam Việt Nam và ném bom miền B c, nhưng đã nhấn mạnh việc Mỹ sẽ có những bước can thiệp mạnh mẽ hơn nữa kể
cả hành động của lục quân và không quân Mỹ
Mỹ hy vọng đánh bại cao trào Đ ng khởi của ta b ng chiến lược “chiến tranh đặc biệt” mà nội dung chủ yếu là kế hoạch của Stalay kết hợp với kiến nghị của Taylor với quy mô được nâng d n t ng bước Thực hiện kế hoạch Stalay và Taylor là một bước can thiệp sâu hơn của Mỹ vào Nam Việt Nam với
ý đ đánh nhanh giải quyết nhanh, bình định miền Nam Việt Nam trong 18 tháng t tháng 6 năm 1961 đến tháng 12 năm 1962
Ch ng chủ quan cho r ng, với kế hoạch đó, sẽ r t d n quân Mỹ về nước vào cuối năm 1962 và chiến tranh chống n i dậy của ch ng sẽ kết th c th ng lợi vào cuối năm 1965
Trong h i ký của mình, Johnson nhận xét “John Fitzgerald Kennedy đã có một quyết định cơ bản về Nam Việt Nam, mặc d John Fitzgerald Kennedy lo ngại về việc đem quân chiến đấu Mỹ vào Nam Việt Nam sẽ có thể phá hoại cơ hội ng ng b n ở Lào và sẽ có sự va chạm với Liên Xô trong khi tình hình Béc-lin đã giảm bớt căng thẳng”
Sau g n 1 năm thăm d , nghiên cứu, cuối 1961 chính quyền John Fitzgerald Kennedy đi thực hiện kế hoạch Stalay – Taylor với những chủ trương
và biện pháp sau đây:
Thành lập Bộ tư lệnh Mỹ ở Nam Việt Nam, đưa một số đơn vị “lực lượng đặc biệt” và không quân Mỹ vào miền Nam
Để trực tiếp điều hành cuộc chiến tranh, ngày 8 tháng 2 năm 1962, Mỹ chuyển cơ quan viện (MACV) Paul arkins thay Macgar làm tư lệnh T tháng
5 năm 1962 trở đi, Bộ tư lệnh tiền phương của Mỹ ở Đông Nam châu Á bao
g m cả chiến trường Thái Lan Số lượng cố vấn và lực lượng yểm trợ Mỹ không ng ng được tăng cường theo đà phát triển của quân đội Sài n ngày
Trang 16của Mỹ hình thành hai bộ phận: bộ phận trực tiếp yểm trợ (h a lực, cơ động, hậu
c n và bộ phận cố vấn trực tiếp n m các cơ quan trọng yếu đến các tiểu đoàn bộ binh và các đại đội binh quân chủng, cả địa phương quân và cảnh sát ngụy
Theo số liệu của địch, lực lượng yểm trợ và số cố vấn của Mỹ được tăng
cường qua các năm, 1960: 2.000; 1961: 3900; 1962: 11.300; 1963: 16.300 tăng
8 l n so với năm 1960
Mỹ trực tiếp hoặc thông qua các nước tay sai viện trợ nhiều trang bị binh khí kỹ thuật mới cho quân đội Sài n miền Nam Nhiều đơn vị trực thăng nguyên vẹn và một số lớn thiết giáp nhẹ M.113 được đưa sang chiến trường Nam Việt Nam để thí nghiệm chiến thuật mới: “trực thăng vận”, “thiết xa vận”
Số lượng máy bay t 210 chiếc các loại có 61 trực thăng năm 1961 đã lên tới
627 chiếc có 159 trực thăng năm 1963; số lượng xe cơ giới t 268 chiếc (4 tiểu đoàn năm 1961 đã lên 732 6 tiểu đoàn năm 1963
Viện trợ Mỹ cho Việt Nam c ng tăng lên gấp bội, t 321,7 triệu đô la có
80 triệu đô la v khí cho tài khóa 1960 – 1961 đã lên tới 675 triệu đô la có 150 triệu đô la v khí cho tài khóa 1963 – 1964
Mỹ lôi kéo một số nước chư h u như Nam Triều Tiên, NewZeand tham chiến với Mỹ ở Nam Việt Nam Ch ng t chức nhiều cuộc di n tập của khối SEATO do Mỹ ch huy với giả thiết can thiệp vào cuộc chiến tranh Việt Nam để
đe dọa và gây áp lực với ta
Ra sức tăng cường lực lượng quân đội Sài n, cả quân chủ lực lẫn quân địa phương, đặc biệt ch trọng phát triển lực lượng địa phương, tăng cường khả năng cơ động, nh m đối phó với chiến tranh du kích đang trên đà phát triển ở Nam Việt Nam
Lực lượng n ng cốt để tiến hành “chiến tranh đặc biệt” là lực lượng quân đội Sài n được lực lượng yểm trợ của Mỹ chi viện Vì vậy Mỹ Diệm ch trọng tăng cường quân đội Sài n b ng nhiều kế hoạch nối tiếp nhau Đi đôi với việc tăng cường quân chính quy, Mỹ ch trọng xây dựng những đơn vị biệt kích, những đội biệt động quân, những đơn vị bảo an, dân vệ địa phương để đối
Trang 17phó với phong trào du kích chiến tranh của ta, ngăn chặn những cuộc n i dậy của qu n ch ng
Về lực lượng chủ lực chính quy
Chủ lực quân đội Sài n 152.300 tên g m 7 Sư đoàn bộ binh, 1 Lữ đoàn
d 5d , 1 Lữ đoàn thủy quân lục chiến (3d trong năm 1960 đã tăng lên 206.000 tên g m 9 Sư đoàn bộ binh, 1 Lữ đoàn d 6d , 1 Lữ đoàn thủy quân lục chiến 5d vào cuối năm 1960
Lực lượng chính quy quân đội Sài n trước đây đã t ng được xây dựng
theo phương hướng chu n bị cho một cuộc chiến tranh quy ước trong chiến lược
“tiền tiêu” của Mỹ ở Đông Nam châu Á, như kiểu chiến tranh Triều Tiên, nh m
đối phó với “quân đội miền Bắc” tiến công từ giới tuyến vào Nam, nay phải bị
động chuyển hướng sang chống đỡ với chiến tranh du kích và phong trào nổi
dậy của quần chúng ngay trong nội địa miền Nam
Để đối phó với chiến tranh du kích của ta, Mỹ Diệm chủ trương tăng cường h a lực và phương tiện cơ động cho các đơn vị chủ lực của ch ng, thí điểm và vận dụng ph biến chiến thuật “trực thăng vận” và “thiết xa vận” nh m nhanh chóng cơ động lực lượng, bất ngờ thực hiện bao vây để tiêu diệt các đơn
vị du kích tập trung của ta
Trong hành quân cấp sư đoàn của quân đội Sài n thường được tăng cường thêm thành ph n biệt kích Những đội biệt kích d , biệt động quân và công binh được phát triển g n liền với những đơn vị thiết giáp và trực thăng
Với khả năng trang bị mới và những bước phát triển mới về chiến thuật, hiệu lực chiến đấu của quân đội Sài n được nâng thêm một bước
Trên đà phát triển của lực lượng địa phương, Mỹ Diệm có ý đ r t d n chủ lực quân đội Sài n ra kh i nhiệm vụ chiếm đóng, cơ động hóa để tập trung đánh phá có trọng điểm h ng tiêu diệt những đội v trang của ta Tuy nhiên mãi đến cuối năm 1963, chủ lực quân đội Sài n vẫn không tránh kh i tình trạng phân tán hoạt động t ng tiểu đoàn, thậm chí t ng đại đội M i sư đoàn
ch c n 1 hoặc 2 tiểu đoàn làm dự bị Do bị động đối phó kh p nơi, quân số
Trang 18thiếu hụt nghiêm trọng, nên lực lượng của địch bị co kéo trong mâu thu n giữa phân tán và tập trung không sao giải quyết được
Về lực lượng vũ trang và bán vũ trang địa phương
Mỹ Diệm th a nhận sai l m về chiến lược t trước đó là đã coi nhẹ xây dựng, phát triển lực lượng v trang và bán v trang địa phương nên hậu quả là bị bất ngờ trước cao trào Đ ng khởi của ta ở nông thôn Để kh c phục tình trạng
đó, ch ng tập trung củng cố và phát triển lực lượng bảo an, dân vệ
Lực lượng bảo an nhanh chóng phát triển t 36.000 tên g m 20 tiểu đoàn,
180 đại đội cuối năm 1960 lên tới 86.000 tên g m 49 tiểu đoàn, 259 đại đội, 52 chi đội cơ giới, 18 đại đội tu n giang cuối năm 1963 Bảo an được t chức theo hướng chính quy, hình thành t ng đại đội, tiểu đoàn, tiểu đoàn m i t nh ít nhất
có 1 tiểu đoàn tập trung và nhiều đại đội l được tăng cường thêm một số binh chủng chủ yếu như chi đội cơ giới, pháo binh, giang thuyền, biệt kích nh m đưa khả năng chiến đấu của 1 tiểu đoàn chủ lực để h ng thay chân chủ lực chiếm đóng những vị trí then chốt đ ng thời cơ động ứng cứu trong t ng địa phương
Dân vệ trở thành v trang thoát ly, t ng bước được thống nhất biên chế trang bị và huấn luyện Lực lượng dân vệ t 25.000 tên g m 30 đại đội, 250 trung đội, 750 tiểu đội cuối năm 1960 đã lên tới 96.000 tên g m 128 đại đội,
1050 trung đội, 2.184 tiểu đội cuối năm 1963 Dân vệ được t chức thành t ng đại đội, trung đội, tiểu đội, bao g m cả lực lượng biệt kích dân vệ Nhiệm vụ chủ yếu là chiếm đóng địa phương, kìm kẹp nhân dân tại ấp xã
Lực lượng bảo an, dân vệ với chất lượng được nâng cao, trở thành lực lượng chủ yếu trong nhiệm vụ “ph ng thủ diện địa” thay thế cho chủ lực r t ra
cơ động Mỹ ngụy c n có ý đ đưa bảo an dân vệ t ng bước thoát kh i tình trạng ph ng ngự t nh tại, biến thành lực lượng cơ động ph ng ngự ứng chiến trong t ng địa phương Mặc d , cuối năm 1963, lực lượng bảo an, dân vệ phát triển với số lượng và trang bị, nhưng chất lượng nói chung c n yếu, chưa đủ sức đương đ u với phong trào du kích ngày càng phát triển mạnh, nhất là ở nông thôn, buộc địch phải tiếp tục phân tán chủ lực để h trợ
Trang 19C ng với kế hoạch củng cố và phát triển lực lượng bảo an, dân vệ, một chương trình t chức “thanh niên chiến đấu” được x c tiến do CIA phụ trách t chức, huấn luyện, trang bị, đại thọ v a nh m tăng cường cho mạng lưới tình báo, v a làm lực lượng n ng cốt trong thanh niên bảo vệ các dinh điền, ấp chiến lược Ba trung tâm huấn luyện thanh niên chiến đấu được thiết lập ở a C m
Đà Nẵng , D Tho Sóc Trăng , Buôn Ba Nao Buôn Mê Thuột Nhưng chương trình “thanh niên chiến đấu” gặp thất bại ngay t đ u; t chức và hoạt động của nó không đủ sức đương đ u với các đội du kích của ta
Cuối năm 1962, Mỹ công khai đưa t ng đơn vị hoàn ch nh “Lực lượng
đặc biệt” của Mỹ vào Nam Việt Nam Đ u năm 1963, ch ng thành lập binh chủng “lực lượng đặc biệt” quân đội Sài n để c ng phối hợp hoạt động chống
du kích “Lực lượng đặc biệt” Mỹ có nhiệm vụ huấn luyện và ch huy “lực lượng đặc biệt” này, được phân tán thành t ng toán, toán C n m ở cấp quân đoàn, toán B ở cấp sư đoàn, toán A ch huy các trại dân sự chiến đấu Lực lượng dân sự chiến đấu được phân về các trại ở những v ng tranh chấp, chốt trên các đường hành lang của ta, các n t giao thông, có ch c m sâu vào căn cứ địa của
ta Hệ thống đ n trại dân sự chiến đấu này, một mặt, h trợ cho công tác bình định, nới rộng v ng kiểm soát, mặt khác, tạo ra thế bao vây chia c t các căn cứ liên hoàn của ta Lực lượng dân sự chiến đấu c n được phái ra chiếm đóng dọc biên giới Lào – Việt Nam, Campuchia – Việt Nam để quấy phá vận chuyển của
ta và thu thập tin tức tình báo
Về hệ thống tổ chức chỉ huy quân đội ài n và sử dụng lực lượng Mỹ:
Để tăng cường khả năng ch huy và tận dụng được phương tiện của quân
đội Sài n trong công tác bình định, hình thức t chức quân khu được đổi
thành vùng chiến thuật, các quân đoàn được chuyển t t chức lưu động sang t
chức bán lãnh th với tính chất tạm thời M i quân đoàn đảm trách một v ng chiến thuật, m i sư đoàn đảm trách một khu chiến thuật, dưới khu chiến thuật là tiền khu (t nh và chi khu quận Tư lệnh quân đoàn, sư đoàn đ ng thời c ng là
tư lệnh v ng chiến thuật, khu chiến thuật
Trang 20Biệt khu “thủ đô” Sài n do một Bộ tư lệnh riêng biệt ch huy Tiểu khu trưởng do t nh trưởng kiêm nhiệm nếu t nh trưởng là quân nhân, nếu không thì
t nh phó nội an làm tiểu khu trưởng T y theo tính chất của t ng địa phương,
m i v ng chiến thuật, ngoài 2 sư đoàn chủ lực và các đơn vị bảo an của các tiểu khu thuộc quyền, được tăng cường thêm các binh quân chủng như pháo binh, công binh, thiệt giáp, biệt động quân, các đơn vị đặc biệt (biệt kích , các đơn vị nhảy d và thủy quân lục chiến (khi c n , các đơn vị yểm trợ trực tiếp như không quân, hải quân, tiếp vận Tuy nhiên trong thế bố trí chiến lược chung, lực lượng chủ lực ngụy vẫn phải tập trung có trọng điểm nên nhiều nơi bị sơ hở Lực lượng dự bị và t ng dự bị căng kéo kh p nơi nên v a thiếu lại v a yếu
Lực lượng yểm trợ của Mỹ được bố trí xuống t ng v ng chiến thuật, nhất
là các đơn vị trực thăng, sẵn sàng chi viện chiến đấu Khả năng chi viện cao nhất
l c đó về trực thăng vận c ng như vận tải đường không t 1 đến 2 tiểu đoàn
Để phục vụ cho “chiến tranh đặc biệt” và biến chiến trường miền Nam thành nơi thí nghiệm các chiến thuật, kỹ thuật mới, Mỹ c n thiết lập “cơ quan phát triển khả năng tác chiến” nh m ứng dụng tối đa những phát minh mới về khoa học kỹ thuật quân sự vào cuộc chiến tranhViệt Nam như hóa chất, điện tử truyền tin, dụng cụ điện tử quan sát ban đêm, các thiết bị chụp ảnh ngày đêm
b ng không quân, các phương tiện báo động, các loại thuyền lướt nước và nhiều loại binh khí kỹ thuật mới khác…
Diệm – Nhu lấy chương trình gom dân lập “ấp chiến lược” làm quốc sách, coi đó là “xương sống” của chiến lược “chiến tranh đặc biệt” nh m chống lại chiến tranh du kích, h ng nhanh chóng bình định miền Nam
Qua kinh nghiệm r t ra t cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp trước đây
ở Việt Nam, c ng như t những “làng tập trung” trong cuộc chiến tranh chống
du kích của Anh ở Mã Lai, Mỹ Diệm cho r ng “quốc sách ấp chiến lược” là biện pháp chủ yếu để tiến hành cuộc chiến tranh t ng lực trên nhiều mặt chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội… “Ấp chiến lược” theo ch ng là “một xã hội thu hẹp”, “một tế bào của quốc gia”
Trang 21Mục tiêu cơ bản của “ấp chiến lược” là kìm kẹp được dân để “tát nước b t cá”, cố giành cho được trận địa nông thôn, diệt tr cơ sở của ta, bóp chết ngay t
đ u phong trào n i dậy của qu n ch ng Diệm xem “ấp chiến lược” là “pháo đài chống cộng” để “giành dân giữ đất”
“Ấp chiến lược” c n là kết luận của Mỹ Diệm r t ra t “khu tr mật”,
“khu dinh điền” trước những năm 60, t ng được chính Stalay làm sống lại trong những tháng đ u năm 1961 với tham vọng d n trên 1 triệu dân và 100 “khu tr mật”, nhưng đã bị thất bại Khác với “khu dinh điền”, “ấp chiến lược” nặng nề
về quân sự Thanh niên chiến đấu và dân vệ là lực lượng bán v trang thường xuyên kìm kẹp nhân dân trong “ấp chiến lược”
Để thực hiện kế hoạch gom dân lập “ấp chiến lược”, một bộ máy ch đạo của chính quyền Sài n được t chức t trung ương xuống các t nh và có cả một hệ thống cố vấn Mỹ đi kèm để thường xuyên ch đạo, kiểm tra Tiền của, phương tiện, lực lượng quân sự, đội ng ch huy các ngành, các cấp của ch ng đều được ưu tiên tập trung cho công tác này Một kế hoạch quy mô được đặt ra với dự kiến lập 16.000 “ ấp chiến lược” trong số 17.000 ấp trên toàn miền Nam theo phương châm “t m ăn dâu” qua 3 giai đoạn
iai đoạn 1: lập “ấp chiến lược” ở v ng ch ng kiểm soát
iai đoạn 2: ở v ng tranh chấp
iai đoạn 3: ở v ng giải phóng của ta mà ch ng hy vọng kiểm soát được Trọng điểm bình định tập trung vào các t nh xung quanh Sài n và các
t nh bản lề ở đ ng b ng sông Cửu Long với yêu c u tập trung được 80 vạn dân vào các “ấp chiến lược” và “khu tr mật”
T cuối tháng 7 năm 1961 đến tháng 3 năm 1962, ch ng tập trung thí điểm “ấp chiến lược” ở một số nơi thuộc Tây Ninh, Bình Dương, Biên a, sau
đó đem áp dụng rộng rãi ở một số t nh thuộc đ ng b ng sông Cửu Long Đến tháng 8 năm 1962 Diệm chính thức thực hiện trên toàn miền Nam
Trong v ng ch ng kiểm soát, việc gom dân lập ấp được tiến hành trước hết ở các xã quanh thành phố, thị xã, quận lỵ, dọc các tuyến giao thông chiến
Trang 22lược Thủ đoạn ph biến là tuyên truyền tâm lý, mua chuộc mị dân, ép nhân dân vào các t chức qu n ch ng phản động để khống chế
Ở v ng tranh chấp, thủ đoạn gôm dân chủ yếu là hành quân càn quét dài ngày, chà đi sát lại tửng khu vực, thanh lọc qu n ch ng, cô lập để điều tra phát hiện cơ sở và “cán bộ n m v ng” của ta để tiêu diệt
Đối với dân sống trong “ấp chiến lược”, ch ng tiến hành phân loại các đối tượng, có những biện pháp đối xử khác nhau, cứng r n hay mềm d o theo t ng loại Với những đối tượng mà ch ng cho là nguy hiểm thì thẳng tay đàn áp rất khóc liệt; với những ph n tử dao động thì v a đàn áp, v a mua chuột, dụ d ; với những ph n tử thoái hóa, đ u hàng thì tích cực sử dụng làm loa tuyên truyền và
là ch dựa để ch ng khai thác hoặc đàn áp qu n ch ng
Theo quy định của Mỹ Diệm, tiêu chu n của một “ấp chiến lược” được hoàn thành là khi nào loại tr được du kích của ta, phân loại được qu n ch ng, kìm kẹp được nhân dân trong các t chức phản động, hoàn ch nh hệ thống ph ng thủ, xây dựng lực lượng thanh niên chiến đấu để bảo vệ ấp và b u ban trị sự ấp
Song song với việc gom dân lập “ấp chiến lược” tại nông thôn đ ng b ng
và miền n i, ở các đô thị, thị xã, thị trấn, đặc biệt là ở thành phố Sài n, ch ng
c n ra sức đàn áp khống chế phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên, dân nghèo Ch ng áp dụng nhiều thủ đoạn tàn ác nham hiểm như gây ra những vụ
h a hoạn, đu i nhà t ng khu vực ở những nơi đông dân lao động, khoanh v ng, quy khu để kiểm soát như ở Khánh ội, Bàn Cờ, Thị Nghè, Bình Tánh…
Cho đến tháng 6 năm 1962, việc gom dân lập “ấp chiến lược” của Mỹ Diệm gặp nhiều trở ngại Mỹ ngụy buộc phải hạ thấp ch tiêu t 16.000 xuống 7.000 ấp trong 1962, nhưng kế hoạch đó c ng phải kéo dài hơn vì lực lượng kìm kẹp phải phân tán đối phó trên nhiều hướng: xây dựng ấp mới, củng cố ấp
c đã bị ta đánh phá; chuyển những “ ấp chiến lược” trong những v ng có phong trào du kích mạnh thành những ấp chiến đấu; phân tán thành những lực lượng v trang để bảo vệ ấp; khống chế dân, truy l ng cơ sở cách mạng ngay trong l ng
“ấp chiến lược” Cho đến cuối năm 1962, ch ng mới lập được khoảng 3.900 ấp,
Trang 23chiến lược” được xây dựng đều n m trong v ng ch ng kiểm soát, ven đô thị, thị
xã, thị trấn, dọc các đường giao thông chiến lược quan trọng
So sánh kết quả xây dựng “ấp chiến lược” đạt được vào cuối năm 1962
và tham vọng l c đ u của Satlay muốn nhanh chóng bình định miền Nam trong
18 tháng, Mỹ Diệm ch thực hiện được khoảng ¼ kế hoạch đề ra
Sang năm 1963, Diệm chủ trương hoàn thành kế hoạch “ấp chiến lược” trong khuôn kh một cuộc “t ng tiến công toàn diện” theo phương hướng “tích cực tranh thủ nhân tâm”, “yểm trợ quân sự mạnh”, “tiếp viện và tiếp ứng mau” Mục tiêu đề ra là khống chế được 2/3 dân số nh m “đảo ngược tình thế”
Mặc d kết quả đạt được l c cao nhất (10 – 1963) của ch ng tới 7512 ấp với 8 triệu dân, nhưng ph n lớn “ấp chiến lược” đều không đạt tiêu chu n như
ch ng đề ra Trong những tháng cuối năm 1963, trước cao trào phá “ấp chiến lược” của ta, kế hoạch gom dân lập “ấp chiến lược” của địch không những dậm chân tại ch mà c n tụt l i nghiêm trọng và đi đến thất bại rõ rệt t sau khi Diệm
đ tháng 11 – 1963)
Tăng cường hành quân càn quét h ng tiêu diệt lực lượng v trang c n non
tr của ta, h trợ việc gom dân lập “ấp chiến lược”
Đ y mạnh càn quét đánh phá, loại tr hoạt động du kích của ta ra kh i địa bàn gom dân lập “ấp chiến lược, tiêu diệt lực lượng v trang c n non tr của ta
là một yêu c u bức thiết của Mỹ - Diệm để bảo đảm bình định thành công Với ý
đ đó, mật độ đánh phá càn quét của địch ngày càng tăng Theo số liệu của địch, năm 1961 ch ng đã mở 1253 cuộc hành quân t cấp tiểu đoàn trở lên, năm 1960
ch 300 cuộc, 1962 lên 2577 cuộc trong đó có tới 200 cuộc hành quân b ng “ trực thăng vận” vào năm 1963 lên tới 2948 cuộc hành quân t cấp tiểu đoàn trở lên
Lực lượng sử dụng chủ yếu trong các cuộc hành quân càn quét là chủ lực quân đội Sài n kết hợp với bảo an, dân vệ được lực lượng yểm trợ Mỹ chi viện b ng phi pháo và cơ giới ình thức chiến thuật “trực thăng vận”, “thiết xa vận” được Mỹ Diệm vận dụng ph biến trong các cuộc càn quét đã gây khó
Trang 24T ng thời gian, ch ng tập trung lực lượng quy mô lớn 10 – tiểu đoàn, đánh sâu vào v ng căn cứ, v ng giải phóng của ta t 7 đến 15 ngày nh m tiêu diệt một bộ phận lực lượng v trang tập trung và cơ quan đ u não của ta như: cuộc hành quân ở chiến khu Dương Minh Châu 11 đến 19 – 10 – 1962)
Trong năm 1963, Mỹ - Chính quyền Sài n lập kế hoạch bình định 2 năm 1963 – 1964) với mật danh là AĐ6 được triển khai năm 1963 Nội dung của kế hoạch là t chức những cuộc hành quân liên tục với sự tham gia “tích cực” và “đ ng đều” của toàn bộ lực lượng v trang của ch ng h ng d n bộ đội địa phương và du kích ta vào “thế chạy dài”, “tránh né v nh vi n”, “đ u hàng”
Đi đôi với các cuộc hành quân liên tiếp, Mỹ Diệm tiếp tục xây dựng cơ sở hạ
t ng trong khuôn kh n lực toàn diện chính trị, quân sự, kinh tế, tâm lý, xã hội
Bên canh đó, ch ng ra sức phong t a giới tuyến, biên giới, v ng biển, ngăn chặn chi viện t miền B c, h ng cô lập cách mạng miền Nam
Ngăn chặn chi viện về người, v khí và trang bị tiếp tế của miền B c cho miền Nam nh m cô lập phong trào cách mạng miền Nam là một yêu c u bức thiết mà chính quyền John Fitzgerald Kennedy hết sức coi trọng Phong t a giới tuyến, biên giới, v ng biển trở thành một nội dụng quan trọng của kế hoạch Stalay và Taylor, thậm chí ch ng c n coi đó là “vấn đề số 1”
Ngay t tháng 5 năm 1961, chính quyền John Fitzgerald Kennedy đã đưa
400 quân thuộc “lực lượng đặc biệt” Mỹ vào miền Nam, chu n y chương trình hành động của lực lượng đặc nhiệm và tăng cường mọi khả năng, phương tiện,
nh m bịt biên giới, giới tuyến và các v ng ven biển
Ch ng triển khai mạng lưới “lực lượng đặc biệt” Mỹ và quâm đội Sài n hợp thành một hệ thống đ n trại dọc biên giới Lào – Việt Nam, Campuchia – Việt Nam bao g m 70 căn cứ dọc hành lang, trên các đ u mối giao thông quan trọng, quanh v ng căn cứ của ta để tiến hành điều tra, phát hiện Để duy trì đ n trại nói trên, m i quân đoàn và Bộ tư lệnh “lực lượng đặc biệt” có lực lượng dự
bị 2 – 3 tiểu đoàn sẵn sàng cơ động, ứng cứu, giải vây cho các đ n trại này khi
bị ta đánh phá
Trang 25Ở v ng ven biển, ch ng tăng cường hệ thống đ n bốt khống chế các vịnh, cảng, cửa sông nghi ngờ ta có thể lợi dụng xâm nhập Ch ng sử dụng t 30 đến
40 % lực lượng hải thuyền và 100 % lực lượng giang thuyền vào việc tu n tra, khám xét các tàu thuyền nh m phát hiện và phá hệ thống vận chuyển đường biển của ta, đặc biệt ch trọng v ng ven biển t giới tuyến đến Nha Trang và v ng biển Ph Quốc
Mặc d địch đã tập trung nhiều công sức để bịt giới tuyến, biên giới, bờ biển nh m gây khó khăn cho ta, nhưng về cơ bản vẫn thất bại vì Mỹ ngụy
“không tài nào ngăn chặn được và phải th a nhận “bịt biên giới rất khó”
Đ y mạnh chiến tranh bí mật phá hoại miền B c Việt Nam
Đánh phá miền B c là một bộ phận khăng khít của cuộc chiến tranh xâm lược ở miền Nam Việt Nam của Mỹ Ch ng cho miền B c là “ngu n gốc của mọi vấn đề” Chương trình hành động đánh phá miền B c đã trở thành nghị quyết của Hội đ ng an ninh quốc gia Mỹ NSC52 ngày 11 – 5 – 1961 Đi đôi với quyết định đưa “lực lượng đặc biệt” Mỹ vào miền Nam, chính quyền John Fitzgerald Kennedy ra lệnh bí mật đánh phá miền B c b ng những thủ đoạn sau đây:
Tung những t đặc vụ ra miền B c n m tình hình, t chức những căn cứ
đề kháng bí mật, xây dựng những t chức phá hoại, quấy rối nh , thả những đội biệt kích d xuống những địa bàn xung yếu để gây cơ sở, chu n bị những hành động quân sự, đ y mạnh chiến tranh tâm lý, phóng thanh, rải truyền đơn h ng lung lay tư tưởng nhân dân miền B c Mục tiêu phá hoại trước m t tập trung vào các đường giao thông, các phương tiện vận tải,các kho hàng Chính quyền John Fitzgerald Kennedy c n bí mật ra lệnh mở những đợt hoạt động trên bộ có cả cố vấn Mỹ khi c n
Trước phong trào cách mạng miền Nam phát triển, Mỹ buộc phải thí con bài chính trị thực dân mới Ngô Đình Diệm h ng tạo nên một chính quyền tay sai đ c lực hơn, đáp ứng cho mưu đ leo thang mở rộng chiến tranh xâm lược
Phong trào cách mạng miền Nam t cuộc Đ ng khởi phát triển rộng kh p
Trang 26nặng nề Mỹ g n những thất bại nói trên cho chính sách độc tài gia đình trị của Diệm Ch ng t ng đe dọa nếu Diệm không chịu cải cách dân chủ để giành lại sự ủng hộ của dân ch ng thì Mỹ sẽ thay b ng những tên tay sai khác Tuy Mỹ cho Diệm là “một con ngựa đang thua nhưng so với những tay chân được Mỹ tín dụng thì l c này chưa có tên nào hơn Diệm
Một mặt, Mỹ cố g ng tận dụng vai tr của Diệm và tìm cách xoa dịu phong trào chống Diệm Mặt khác, Mỹ chu n bị những con bài tay sai dự trữ trong hàng ng bọn s quan ngụy và những ph n tử phản động trong các đảng phái đối lập với Diệm
Mặc d có l c Diệm t v nhân nhượng Mỹ nhưng vẫn ngày càng độc tài phát xít hơn Việc đàn áp b t bớ và thanh tr ng hàng loạt những k không theo phe cánh đã làm cho chế độ độc tài gia đình trị của anh em Diệm Nhu ngày thêm
và dân ta làm thất bại về cơ bản các mục tiêu chiến lược của Mỹ Diệm bình định miền Nam trong 18 tháng
Cao trào Đ ng khởi của nhân dân miền Nam Việt Nam đã phát triển thành một cuộc chiến tranh cách mạng Đấu tranh v trang được dấy lên song song với đấu tranh chính trị trên cả 3 v ng chiến lược, đã đánh bại kế hoạch Stalay và Taylor, giành th ng lợi to lớn Nhưng ta c ng chưa đủ mạnh để giáng cho địch những đ n thất bại nặng nề về quân sự hơn nữa nh m tiêu diệt và làm tan rã khối quân đội Sài n, ch dựa chủ yếu “chiến tranh đặc biệt” và kịp thời khai thác sự khủng hoảng về chính trị của ch ng, tạo ra một cục diện mới về chiến
Trang 27chịu t b âm mưu xâm lược, c n tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới với những thủ đoạn mới
Kế hoạch Johnson – Mc Namara năm 1963 – giữa năm 1965
Đế quốc Mỹ buộc phải thay ngựa giữa d ng, giết tên tay sai đ c lực Ngô Đình Diệm mà ch ng t ng d y công nuôi dưỡng đào tạo, xây dựng 15 năm t
1948 đến 1963 , đã đánh dấu sự thất bại thảm hại của kế hoạch Stalay và Taylor
sau g n 3 năm thực hiện chiến lược “chiến tranh đặc biệt” Mc Namara, sau
chuyến đi Việt Nam 19 đến 20 – 12 – 1963 đã phải th a nhận “thực tế t tháng
7 năm 1963 tình hình nông thôn xấu đi rất nhiều so với mức ch ng ta nhận định Việt cộng đã kiểm soát dân số rất cao ở một số t nh then chốt, đặc biệt là phía Nam và Tây Nam Sài n
Chương trình “ấp chiến lược” bị dàn quá m ng Sự thâm nhập của B c Việt Nam vẫn tiếp tục Chiều hướng hiện nay, tr phi có sự thay đ i trong 2 hay
3 tháng tới, nếu không, may m n l m sẽ dẫn tới việc trung lập hóa và có khả năng nhiều hơn là Nam Việt Nam trở thành một quốc gia n m dưới quyền kiểm soát của Việt Cộng6
Diệm đ , mâu thu n giữa Mỹ với quân đội Sài n và giữa quân đội Sài
n với nhau càng thêm sâu s c, dẫn tới cuộc khủng hoảng chính trị càng thêm
tr m trọng triền miên với nhiều cuộc đảo chính liên tiếp trong nội bộ chính
quyền tay sai Ch trong 18 tháng 11-1963 – 6-1965 , ch ng đã tiến hành đến
14 l n đảo chính, riêng trong năm 1964 có tới 5 l n đảo chính và 9 l n âm mưu
đảo chính, 4 l n thay đ i bọn c m đ u ngụy quyền
Chưa đ y một tháng sau khi Diệm đ , ở Mỹ ngày 22 tháng 11 năm 1963, John Fitzgerald Kennedy bị giết Johnson lên thay làm t ng thống, Johson tiếp tục chính sách xâm lược miền Nam Việt Nam của John Fitzgerald Kennedy với quyết định đ u tiên trên cương vị t ng thống là “kiên trì theo đu i các chính sách và những hành động mà Mỹ đã cam kết để giành th ng lợi ở Nam Việt
Trang 28Địch c n ch trọng cải t hệ thống ch huy, biến v ng chiến thuật thành một đơn vị chiến lược hoàn ch nh, r t b một số đ n bốt l để chuyển quân chiếm đóng thành lực lượng cơ động tăng cường cho các trọng điểm bình định nhất là quanh Sài n và các t nh Biên a, Bình Dương, Tây Ninh, ậu Ngh a, Long An, Định Tường
T ngày 22 tháng 2 năm 1964 Mỹ vạch kế hoạch mang tên “chiến th ng”
và được chính thức áp dụng tại các v ng chiến thuật t ngày 1 tháng 4 năm
1964 Tham vọng của kế hoạch này là “tiêu diệt toàn bộ t chức quân sự, chính trị, kinh tế” của ta và bình định miền Nam b ng hai giai đoạn
iai đoạn 1: (1 – 4 – 1964 đến 3 – 12 – 1965) thực hiện bình định có trọng điểm theo thứ tự ưu tiên 1, 2, 3 b ng những cuộc hành quân đánh phá liên tục kết hợp với việc gom dân lập “ấp tân sinh”
iai đoạn 2: sẽ được phát động t đ u năm 1966, t ng tiến công vào các
v ng căn cứ của ta, tiêu diệt các đơn vị chủ lực, phá hoại các cơ sở quân sự của
ta
Trọng điểm bình định ở miền Đông Nam Bộ là v ng “kế hoạch hợp tác I” quanh Sài n Trọng điểm là đánh phá các khu căn cứ ở Long Nguyên, Dương Minh Châu, chiến khu Đ; hành lang xâm nhập quốc lộ 22, a iệp, Đức Huệ, cửa sông óa và các trục giao liên
Trang 29Kế hoạch của ch ng rất lớn nhưng khả năng thực hiện lại rất hạn chế, do
n m trong v ng chính trị của ch ng không n định và phong trào cách mạng miền Nam đang phát triển
Trong năm 1964, địch đã mở khoảng 6.492 cuộc hành quân càn quét đánh phá, trong đó có 3.528 cuộc t cấp tiểu đoàn trở lên Tuy các cuộc đánh phá ngày càng ác liệt nhưng không đáp ứng được mục tiêu đề ra là tiêu diệt lực lượng v trang của ta, ngăn chặn chi viện t miền B c vào miền Nam Oét-mo-rơ-len cho r ng “sự thất bại nghiêm trọng như vậy là một thực tế báo trước “k địch” hình như đang chuyển t chiến tranh du kích và chiến tranh b ng đơn vị
nh sang giai đoạn mới và có lẽ cuối c ng tấn công b ng đơn vị lớn và trụ lại để giữ vững trận địa đã chiến”8
Kế hoạch bình định của địch bị phá sản, mặc d ch ng đã tập trung lực lượng “tấn công có trọng điểm” trước hết nh m vào 8 t nh ở Vành đai Sài n nhưng không thành công, phải hạ thấp ch tiêu xuống 6 t nh và cuối c ng r t xuống 2 t nh Long An Và ậu Ngh a nhưng thực chất ch c n 5 huyện
Tuy nhiên vấn đề mà chính quyền Johnson cho là quan trọng hơn hết là bất lực của ngụy quyền Taylor phải th a nhận: Vấn đề nghiêm trọng hơn cả chiều hướng suy sụp của chương trình bình định có lẽ là sự suy yếu liên miên của chính phủ Trung ương, và nó nghiêm trọng như thế bởi vì nó là nguyên nhân chủ yếu Việt cộng đã chiếm đóng nhiều v ng, có nguy cơ c t đôi Nam Việt Nam
Thử nghiệm chiến lược “chiến tranh đặc biệt” tại Nam Việt Nam trong khuôn kh của chiến lược toàn c u “phản ứng linh hoạt”, đế quốc Mỹ đã tiến hành một kiểu chiến tranh xâm lược thực dân mới, một cuộc chiến tranh thực sự, một cuộc phản công quyết liệt nh m dập t t cuộc chiến tranh cách mạng, h ng duy trì Nam Việt Nam trong quỹ đạo thực dân mới, ngăn chặn bước phát triển mới của phong trào giải phóng dân tộc ở Á, Phi và Mỹ La-tinh
Trang 30- Đ y mạnh đấu tranh v trang phối hợp với đấu tranh chính trị, phá tan
kế hoạch Stalay – Taylor của địch, chu n bị mọi mặt cho t ng khởi ngh a và đối phó với âm mưu của địch
- Tăng cường vận động binh lính và s quan trong quân đội địch, coi dây
là công tác có tính chất chiến lược c n quán triệt trong suốt quá trình cách mạng
- Đ y mạnh công tác mặt trận và dân vận, tập hợp mọi lực lượng tận dụng mọi khả năng chống Mỹ - Diệm
- Tiếp tục xây dựng và mở rộng căn cứ địa
- Cố g ng làm tốt công tác chính quyền ở v ng giải phóng
- Coi trọng và kịp thời đ y mạnh công tác kinh tế, tài chính nh m cải thiện đời sống nhân dân, bảo đảm nhu c u to lớn của cách mạng và đấu tranh chống địch
- Ra sức tuyên truyền, giáo dục và đưa qu n ch ng đô thị ra đấu tranh chống địch, xây dựng và mở rộng cơ sở cách mạng ở đô thị
- Đ y mạnh công tác tuyên truyền giáo dục
- Củng cố xây dựng và phát triển đảng và đoàn
Trung ương Cục miền Nam được gọi là “R” và có rất nhiều tên gọi khác như: A9 1961 ; Anh Trọng 1962 , chín Nam 1960 – 1965 …
Việc thành lập Trung ương Cục miền Nam và t chức Hội nghị l n thứ I Trung ương Cục đã được Trung ương Đảng ch đạo quan tâm sát sao, chuyển hướng cách mạng t khởi ngh a t ng ph n sang đấu tranh v trang, chính trị có
t chức quy mô rộng lớn
Địa bàn miền Đông Nam Bộ là chiến trường giành giật quyết liệt, dai dẳng giữa ta và địch, nơi khởi đ u và c ng là nơi di n ra trận quyết chiến chiến lược cuối c ng kết th c chiến tranh
Với mưu đ xâm lược nước ta, đế quốc Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm đã vạch ra các kế hoạch (Stalay-Taylor và Johnson-Mc Namara , tăng
Trang 31sự lãnh đạo tài tình của Đảng, Đảng ta đã phân tích âm mưu, thủ đoạn của k
th , qua đó đề ra các chính sách, chủ trương, đường lối đấu tranh ph hợp theo
t ng giai đoạn Trung ương Cục miền Nam ra đời nh m tăng cường sự lãnh đạo,
ch đạo của Đảng về mọi mặt, tại ch , đáp ứng kịp thời những yêu c u của cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới
Trang 32tranh chính trị, đ ng thời đ y mạnh đấu tranh v trang lên song song với đấu tranh chính trị, tấn công địch b ng cả hai mặt chính trị và quân sự
Bởi vì: đấu tranh v trang trước đây cốt để làm tự vệ nay c n nâng lên làm nhiệm vụ tiến công và tiêu diệt sinh lực địch, vì vậy, c n phải ra sức xây dựng lực lượng v trang đủ mạnh để tiêu diệt sinh lực địch
Thực hiện sự chuyển hướng đó, Bộ Chính trị ch rõ công tác trước m t của cách mạng miền Nam là: ra sức xây dựng mau chóng lực lượng ta cả về hai mặt chính trị và quân sự, tập hợp đông đảo lực lượng cách mạng trong Mặt trận dân tộc giải phóng, phát động một phong trào đấu tranh mạnh mẽ của qu n
ch ng, tích cực tiêu diệt sinh lực địch, bảo t n và phát triển lực lượng ta, làm tan
rã chính quyền và lực lượng địch trên một phạm vi ngày càng rộng lớn, tiến công làm chủ r ng n i, giành lại toàn bộ đ ng b ng; ra sức xây dựng cơ sở và
đ y mạnh đấu tranh chính trị ở đô thị; tạo điều kiện và n m mọi thời cơ chu n bị đánh đ chính quyền Mỹ-Diệm, giải phóng miền Nam
Bộ Chính trị nhấn mạnh: công tác quan trọng và kh n cấp bậc nhất là phải
ra sức xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng v trang, tiếp tục đ y mạnh đấu tranh b ng mọi hình thức để lấn địch t ng bước, tiến hành đánh đ hoàn toàn địch
Để thực hiện được những công tác quan trọng trên, Bộ Chính trị đã quyết định thống nhất cơ quan cách mạng miền Nam và tăng cường cơ quan ch đạo các cấp, tăng cường sự ch đạo của Trung ương đối với cách mạng miền Nam,
n m vững và mở rộng giao thông liên lạc t Trung ương đến các địa phương
Ch thị về “Phương hướng và nhiệm vụ công tác trước m t của cách mạng miền Nam”, ngày 31-1-1961 của Bộ Chính trị là sự vận dụng và phát triển tinh
th n của nghị quyết Trung ương Đảng l n thứ 15 và nghị quyết Đại hội Đảng l n thứ III vào điều kiện lịch sử cụ thể, với tương quan lực lượng giữa ta và địch đã thay đ i Bản ch thị đó đẵ chứng t sự lãnh đạo sáng suốt hết sức nhạy bén của Đảng ta: trước bước ngoặt của lịch sử cách mạng Đảng đã kịp thời chuyển hướng cuộc đấu tranh của nhân dân ta t khởi ngh a sang chiến tranh cách
Trang 33mạng, nhưng vẫn tiếp tục tiến hành khởi ngh a trong chiến tranh cách mạng, chủ động tạo đà cho cách mạng miền Nam giành th ng lợi hoàn toàn
Thực hiện ch thị trên, ngay trong năm 1961 Đảng ta đã kịp thời ch đạo triển khai những biện pháp chiến lược quan trọng:
Một là: đ y mạnh việc xây dựng lực lượng v trang cả lực lượng tại ch
và các khối cơ động, kiện toàn bộ máy quân sự của Đảng, điều ch nh lại các địa giới quân khu, thành lập các bộ tư lệnh quân khu để ch huy thống nhất các lực lượng v trang ở miền Nam Vào đ u năm 1961 trong bức thư “ ửi anh Mười
C c và Xứ ủy Nam Bộ: đ ng chí Lê Du n đã nhấn mạnh: “chiến tranh sẽ mở rộng Cuộc chiến đấu sẽ ác liệt, phức tạp; đấu tranh chính trị và v trang sẽ di n
ra đ ng thời, nhưng t đây đấu tranh v trang chuyển sang đóng vai tr ngày càng quyết định”.9
Vì vậy, Đảng quyết định đi đôi với xây dựng lực lượng chính trị, phải tăng cường xây dựng lực lượng v trang bao g m cả 3 thứ quân: bộ đội chủ lực,
bộ đội địa phương và dân quân du kích
Ngày 15-2-1961, T ng Quân ủy Trung ương ra ch thị thống nhất các lực lượng v trang miền Nam thành Quân giải phóng miền Nam
Tháng 2-1961, Bộ Chính trị ra “Nghị quyết về nhiệm vụ quân sự trong 5 năm 1961-1965 và phương hướng trước m t của cách mạng miền Nam”
Nghị quyết ch rõ quân và dân ta phải chu n bị đ y đủ về th n và thực lực đảm bảo cho cách mạng miền Nam giành th ng lợi khi thời cơ đến, nhưng c ng phải hành động khéo léo để tránh một cuộc can thiệp v trang lớn của đế quốc, thực hiện kiềm chế Mỹ và th ng Mỹ trên chiến trường miền Nam, đ ng thời phải tích cực chu n bị sẵn sàng đối phó với âm mưu và hành động mở rộng chiến tranh của địch
Để đ y mạnh công tác xây dựng lực lượng v trang tăng cường cho cách mạng miền Nam Bộ Chính trị thông qua kế hoạch quân sự l n thứ 2, quyết định
đ i T ng Quân ủy thành Quân ủy Trung ương và giao nhiệm vụ ch đạo công tác
Trang 34quân sự ở miền Nam Đại tướng Võ Nguyên iáp, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc ph ng làm bí thư Quân ủy, Thượng tướng Văn Tiến D ng, Uỷ viên dự khuyết Bộ Chính trị làm t ng tham mưu trưởng
Thực hiện kế hoạch trên, c ng với sự hiện đại hóa, chính quy hóa lực lượng v trang ở miền B c, lực lượng v trang ở miền Nam đang d n hình thành
3 thứ quân với sự ch huy tập trung thống nhất về mọi mặt, t cấp xã đến cấp miền
Ban quân sự miền do đ ng chí Tr n Lương phụ trách về chính trị, đ ng chí Tr n Văn Quang phụ trách về quân sự Dưới Miền, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định thành lập các quân khu và Bộ tư lệnh các quân khu Nam
Bộ được chia làm 4 quân khu: quân khu miền Đông Nam Bộ T1 , quân khu miền Trung Nam bộ T2 , quân khu miền Tây Nam Bộ T3 và quân khu Sài
n – ia Định T4 Đến tháng 7-1971, ở miền Trung liên khu V c chia thành 2 quân khu: quân khu cực Nam Trung Bộ quân khu VI và quân khu V
g m Trung Bộ và Tây Nguyên được thành lập
Dưới các t nh, huyện, xã đều thành lập các ban quân sự, tại các thị xã có các cơ sở v trang bí mật, các đội biệt động, đội tuyên truyền v trang
Đến ngày 2-8-1961, trung đoàn chủ lực đ u tiên ở miền Nam đã được thành lập tại chiến khu Dương Minh Châu mang tên Q761 Tháng 5-1962, Đảng
ủy và Bộ tư lệnh quân khu 5 quyết định thành lập 3 trung đoàn chủ lực đ u tiên của quân khu Đây chính là những lực lượng làm n ng cốt cho lực lượng v trang của cách mạng miền Nam ngày càng được tăng lên
ai là: Tăng cường xây dựng lực lượng chính trị, phát động qu n ch ng đấu tranh, mở rộng và phát triển Mặt trận thu h t mọi t ng lớp chống đế quốc
Mỹ và tay sai Nhiệm vụ trước tiên Đảng c n phải tập trung thực hiện là tuyên truyền, giáo dục qu n ch ng về đường lối, chính sách của Đảng và chương trình của Mặt trận Dân Tộc giải phóng miền Nam, về sự suy yếu, khủng hoảng của địch, khả năng và sức mạnh của qu n ch ng Nhiệm vụ cấp bách là phải tập hợp đông đảo lực lượng và phát động qu n ch ng đấu tranh để đánh đ chính quyền