LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành đề tài khóa luận “Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đối với Myanmar trong giai đoạn cầm quyền của Tổng thống B.Obama 2009 – 2014”, tôi xin gửi lời cả
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
KHOA SỬ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NIÊN KHÓA 2011 – 2015
SỰ ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI
CỦA HOA KỲ ĐỐI VỚI MYANMAR
TRONG GIAI ĐOẠN CẦM QUYỀN CỦA TỔNG THỐNG B.OBAMA (2009 – 2014)
Chuyên ngành :SƯ PHẠM LỊCH SỬ Giảng viên hướng dẫn :THS LÊ THỊ BÍCH NGỌC Sinh viên thực hiện :NGUYỄN QUANG HIỂN MSSV :1156020007
Lớp :D11LS01
Bình Dương, 05/2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài khóa luận “Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đối với Myanmar trong giai đoạn cầm quyền của Tổng thống B.Obama (2009 – 2014)”, tôi xin gửi lời cảm ơn đến người thân và gia đình đã luôn động
viên, ủng hộ tôi, đến tất cả bạn bè đã giúp đỡ tôi trong việc tìm kiếm nguồn tài liệu tham khảo và đưa ra những ý kiến đóng góp cho khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn
Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến tất cả quý thầy cô trong khoa
Sử, trường Đại học Thủ Dầu Một đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình học tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Thạc sĩ Lê Thị Bích Ngọc – người trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, cô đã tận tình chỉ bảo và từng bước hướng dẫn tôi trong suốt quá trình từ soạn thảo đề cương cho đến lúc hoàn thiện khóa luận
Tuy nhiên, do hạn chế về nguồn tư liệu và khả năng nghiên cứu của bản thân cho nên khóa luận sẽ không tránh khỏi những khiếm khuyết cần được góp ý, sửa chữa Kính mong được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô để khóa luận được hoàn thiện hơn
Một lần nữa xin trân trọng cảm ơn!
Bình Dương, tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Quang Hiển
Trang 4MỤC LỤC
Trang
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN
MỞ ĐẦU 1
1.Lý do chọn đề tài 1
2.Mục đích nghiên cứu 2
3.Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4.1Đối tượng nghiên cứu 5
4.2Phạm vi nghiên cứu 5
5.Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu 5
6.Đóng góp của đề tài 6
7.Bố cục của đề tài 6
NỘI DUNG 8
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA HOA KỲ ĐỐI VỚI MYANMAR TRƯỚC GIAI ĐOẠN CẦM QUYỀN CỦA TỔNG THỐNG B.OBAMA (1947 – 2008) 8
1.1Vài nét về Myanmar 8
1.2Khái quát chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đối với Myanmar trong giai đoạn 1947 – 1990 11
1.3Khái quát chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đối với Myanmar trong giai đoạn 1990 – 2008 12
CHƯƠNG 2 SỰ ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA HOA KỲ ĐỐI VỚI MYANMAR TRONG GIAI ĐOẠN CẦM QUYỀN CỦA TỔNG THỐNG B.OBAMA (2009 – 2014) 19
2.1 Cơ sở điều chỉnh chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đối với Myanmar trong giai đoạn cầm quyền của Tổng thống B Obama (2009 – 2014) 19
2.1.1 Nhân tố bên trong 19
2.1.2 Nhân tố bên ngoài 21
Trang 52.2 Những nội dung điều chỉnh cơ bản trong chính sách đối ngoại của Hoa
Kỳ đối với Myanmar trong giai đoạn cầm quyền của Tổng thống
B.Obama (2009 – 2014) 31
2.2.1 Lĩnh vực kinh tế 31
2.2.2 Lĩnh vực chính trị – ngoại giao 34
2.2.3 Lĩnh vực an ninh – quân sự 38
CHƯƠNG 3 ĐÁNH GIÁ SƠ BỘ VỀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA HOA KỲ ĐỐI VỚI MYANMAR TRONG GIAI ĐOẠN CẦM QUYỀN CỦA TỔNG THỐNG B.OBAMA (2009 – 2014) VÀ TRIỂN VỌNG THỰC THI CHÍNH SÁCH NÀY TRONG THỜI GIAN SẮP TỚI 41
3.1 Đánh giá sơ bộ về sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đối với Myanmar trong giai đoạn cầm quyền của Tổng thống B.Obama (2009 – 2014) 41
3.2 Triển vọng thực thi chính sách ở Myanmar trong thời gian sắp tới 45
3.3 Một số kiến nghị về đối sách của Việt Nam trong những năm tới 49
KẾT LUẬN 54
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
Trang 6NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
Bình Dương, tháng 5 năm 2015
GV HƯỚNG DẪN
(Ký và ghi rõ họ tên)
Trang 7NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN
Bình Dương, tháng 5 năm 2015
GV PHẢN BIỆN
(Ký và ghi rõ họ tên)
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hoa Kỳ là một quốc gia điển hình hướng tới phát huy các giá trị của mình trên thế giới, thông qua đó tạo dựng ảnh hưởng đến toàn cầu Mỗi sự điều chỉnh chính sách của Hoa Kỳ đối với bất kỳ quốc gia nào trên thế giới đều thu hút sự quan tâm đặc biệt của các nước khác Khu vực Đông Nam Á trong mỗi giai đoạn Tổng thống Hoa Kỳ khác nhau có chính sách đối ngoại với khu vực này khác nhau, khi Tổng thống B.Obama cầm quyền đã có những điều chỉnh để phù hợp với sự thay đổi của Hoa Kỳ trong bối cảnh mới theo hướng gia tăng coi trọng khu vực châu Á – Thái Bình Dương nói chung, khu vực Đông Nam Á nói riêng Tổng thống B.Obama cho rằng quan hệ với Đông Nam Á mới có vai trò quan trọng đối với lợi ích của Hoa Kỳ tại khu vực châu Á Vậy nên Hoa Kỳ cần có một chiến lược lâu dài, ổn định đối với Đông Nam Á mới là cơ sở cho chính sách thực tế và bền vững
Quan hệ giữa Hoa Kỳ và Myanmar không được thuận lợi phát triển từ sau khi kết quả của cuộc bầu cử tại Myanmar vào năm 1990 với ưu thế thuộc về phe đối lập không được chính quyền quân sự ở Myanmar chấp nhận Tuy nhiên, trước những cải cách dân chủ mạnh mẽ và những tiến bộ mà Myanmar đã đạt được từ đầu năm
2011 đến nay, do đó, Hoa Kỳ đã tuyên bố điều chỉnh chính sách đối với nước này
Cụ thể là các cuộc viếng thăm Myanmar của các quan chức cấp cao của Hoa Kỳ diễn ra liên tục trong những năm gần đây, mà nổi bật nhất là chuyến thăm của Tổng thống B.Obama vào ngày 19/11/2012 Đây được xem là biểu hiện của sự ủng hộ mạnh mẽ của Hoa Kỳ đối với cuộc cải cách của Myanmar Việc điều chỉnh chính sách này cũng là một phần trong kế hoạch quay trở lại châu Á được Hoa Kỳ tuyên
bố tháng 11/2011
Việc điều chỉnh chính sách của Hoa Kỳ đối với Myanmar trong giai đoạn cầm quyền của Tổng thống B.Obama thực chất chỉ bắt nguồn từ việc Hoa Kỳ muốn giảm dần ảnh hưởng và bành trướng của Trung Quốc đối với quốc gia này, nhằm ngăn chặn một nước bất kỳ hoặc một khu vực nào có khả năng nổi lên nhằm thách thức mục tiêu bá chủ toàn cầu của Hoa Kỳ Sự điều chỉnh này giúp đưa ra những đánh giá, nhận xét chính xác hơn, dự báo về triển vọng phát triển mối quan hệ này trong tương lai, đem lại thời cơ nhất định và đồng thời cũng tạo ra những thách thức về sự
Trang 9cạnh tranh giữa các cường quốc, điều mà các nước trong khu vực ASEAN nói riêng
và các nước trên thế giới nói chung đang quan tâm
Trong nỗ lực triển khai điều chỉnh chính sách đối ngoại ở Myanmar nhằm tranh thủ và tăng cường quyền lực ở nước này với các cường quốc khác Điều chỉnh này của Hoa Kỳ giúp Myanmar ngày càng nâng cao vị thế của chính nước này trong
tổ chức khu vực và quốc tế Ngoài ra, điều chỉnh chính sách này không chỉ tác động đến quan hệ hai nước Hoa Kỳ - Myanmar mà còn tác động đến quan hệ giữa Myanmar với các nước khác Chính điều này tạo điều kiện cho tăng cường hợp tác giữa các nước trong khu vực với Myanmar mà Việt Nam là một bộ phận của khu vực Đông Nam Á, nên Việt Nam đối mặt với cả thuận lợi lẫn khó khăn Vì vậy, Việt Nam cần vận động một cách khéo léo để đạt được nhiều lợi ích hơn, phải thận trọng từng bước trong cả quan hệ với Hoa Kỳ, Myanmar
Vậy liệu Hoa Kỳ dưới chính quyền B.Obama sẽ đi theo chiều hướng cởi mở, thân thiện, đa phương hơn so với một Hoa Kỳ từng hết sức ngao mạn thời chính quyền G W Bush? Chính sách này có tiếp tục thực hiện được không? Chính quyền B.Obama sẽ thực hiện với những nội dung cụ thể nào trong quá trình thực thi? Và
sự điều chỉnh này có tác động gì đối với Myanmar, Hoa Kỳ? Tất cả những câu hỏi
này đã thôi thúc tôi quyết định chọn đề tài: “Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đối với Myanmar trong giai đoạn cầm quyền của Tổng thống B.Obama (2009 – 2014)” làm đề tài nghiên cứu và bảo vệ khóa luận tốt nghiệp của
mình
2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài này thực hiện nhằm hướng tới các mục đích cụ thể sau:
Một là, khái quát chính sách Hoa Kỳ đối với Myanmar trong giai đoạn từ năm
1947 đến năm 2008, tìm hiểu và tiến tới phân tích những cơ sở, mục tiêu dẫn đến sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đối với Myanmar trong giai đoạn cầm quyền của Tổng thống B.Obama
Hai là, tìm hiểu nội dung triển khai điều chỉnh chính sách đối ngoại đối với Myanmar thời Tổng thống B.Obama từ năm 2009 đến 2014 Từ đó, đánh giá vị trí
và vai trò của Myanmar trong chiến lược của Hoa Kỳ ở khu vực Đông Nam Á
Trang 10Ba là, đưa ra một vài nhận xét, cũng như cái nhìn tổng quan về những bước chuyển biến trong chính sách của Hoa Kỳ đối với Myanmar từ năm 2009 đến năm
2014 Qua đó, bước đầu đánh giá tác động của việc điều chỉnh chính sách đối với Myanmar và với Hoa Kỳ, triển vọng của việc điều chỉnh này đối với Myanmar trong thời gian sắp tới Đồng thời, đưa ra một số kiến nghị về đối sách của Việt Nam trong chuyển biến mới ở khu vực
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Xuất phát từ tác động nhanh chóng và sâu sắc, chính sách đối ngoại của Hoa
Kỳ đối với các nước trên thế giới nói chung và với các nước Đông Nam Á nói riêng, đã và luôn trở thành vấn đề được các nhà nghiên cứu hay các Viện khoa học không chỉ trong nước và đặc biệt ở nước ngoài quan tâm Có một số công trình đề cập đến vấn đề này được xuất bản thành sách
Một số công trình tiêu biểu như: “Quan hệ Hoa Kỳ – ASEAN 2001 – 2020”
của GS TS Nguyễn Thiết Sơn, Nxb Từ điển Bách khoa, năm 2012, trong tác phẩm này nêu quan hệ giữa Hoa Kỳ và ASEAN trong bối cảnh quốc tế và khu vực từ năm
2001 đến năm 2020, chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ với ASEAN trên các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, an ninh và triển vọng về mối quan hệ Hoa Kỳ – ASEAN trong những năm tới
“Các vấn đề nghiên cứu về Hoa Kỳ” của PGS TS Nguyễn Thái Yên Hương
và PGS TS Tạ Minh Tuấn, Nxb Giáo dục Việt Nam, năm 2011 Trong tác phẩm này tập hợp nhiều bài viết, công trình nghiên cứu của nhiều nhà nghiên cứu khoa học xoay quanh vấn đề về Hoa Kỳ trọng tâm ở nhiều khía cạnh như: lịch sử, văn hóa, xã hội Hoa Kỳ, chính trị, chính sách đối ngoại
“Myanmar: Cuộc cải cách vẫn đang tiếp diễn” của PGS TS Nguyễn Duy Dũng, Nxb Từ điển Bách khoa, năm 2013 Trong tác phẩm này cung cấp nhiều
thông tin về đất nước và con người Myanmar, nhất là về cuộc cải cách mà quốc gia này đang tiến hành, dự báo xu hướng và triển vọng phát triển của Myanmar
Ngoài ra còn có các công trình: “Chính sách của Hoa Kỳ đối với ASEAN trong
và sau chiến tranh lạnh” của tác giả Lê Khương Thùy, Nxb Khoa học xã hội Hà
Nội, năm 2003 “Chính sách đối ngoại Hoa Kỳ: động cơ của sự lựa chọn thế kỷ
XXI” của tác giả Bruce W Jentlesson, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2004
Trang 11“Chiến lược an ninh quốc gia của Mỹ với Đông Nam Á sau Chiến tranh lạnh” của
PGS TS Nguyễn Hoàng Giáp, TS Nguyễn Thị Quế, ThS Nguyễn Thị Lệ,
“Mianmar lịch sử và hiện tại” của Đại sứ Chu Công Phùng, Nxb Chính trị quốc gia
– Sự thật, Hà Nội, năm 2011…
Bên cạnh đó, gần đây cũng có luận văn nghiên cứu liên quan đến chủ đề này
như “Vấn đề Myanmar trong quan hệ Mỹ – ASEAN” của tác giả Văn Trung Hiếu,
luận văn thạc sĩ, Đại học Khoa học xã hội & Nhân văn TPHCM, năm 2010 Đề tài này cung cấp cái nhìn tổng quan về chính sách Đông Nam Á của Hoa Kỳ đầu thế kỷ XXI, đồng thời tập trung phân tích nhân tố Myanmar trong quan hệ giữa Hoa Kỳ và
ASEAN “Đông Nam Á trong chiến lược toàn cầu hóa của Mỹ thời kỳ chiến tranh
lạnh” của tác giả Trần Thị Thu, luận văn thạc sĩ, Đại học Khoa học xã hội & Nhân
văn TPHCM, năm 2009.“Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ ở khu vực
Đông Nam Á từ G.W.Bush đến B.Obama” (từ năm 2001 – nay) của tác giả Lê Thị
Bích Ngọc, luận văn thạc sĩ, Đại học Khoa học xã hội & Nhân văn TPHCM, năm
2013 “Sự điều chỉnh chính sách của Mỹ đối với Mi – an – ma từ 2009 đến 2013:
Nguyên nhân và tác động”, của tác giả Nguyễn Thị Thùy Dung, Luận văn thạc sĩ
quan hệ quốc tế, Học viện Ngoại giao, năm 2014
Ngoài ra tôi còn tìm thấy những thông tin, tư liệu bổ ích phục vụ cho việc nghiên cứu được đăng trên các trang web Nghiên cứu Biển Đông, tạp chí Nghiên cứu quốc tế, tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, tạp chí Châu Mỹ ngày nay…
Nhìn chung, qua các công trình, quan hệ giữa Hoa Kỳ với các nước Đông Nam Á trong những năm đầu của thế kỷ XXI được phản ánh trên nhiều lĩnh vực Tuy nhiên riêng về đề tài tôi thực hiện về điều chỉnh chính sách đối ngoại của Hoa
Kỳ với Myanmar chưa có một công trình nào nghiên cứu cụ thể, mà chỉ là những bài báo được đăng trên các tạp chí khoa học do các nhà nghiên cứu tìm hiểu Những bài viết này đều chỉ cung cấp về một khía cạnh cụ thể mà không có cái nhìn khái quát và toàn diện về sự điều chỉnh chính sách ở Myanmar nói riêng và với khu vực Đông Nam Á nói chung Vì đề tài này có phần liên quan đến sự điều chỉnh và biện pháp thực hiện chính sách được triển khai của chính quyền B.Obama hiện nay nên khi thực hiện đề tài tôi không thể tiếp cận một cách đầy đủ mà chủ yếu kế thừa từ sách, báo, mạng Internet và báo chí trong nước Vì vậy, tôi gặp chút khó khăn trong
Trang 12việc tổng hợp và phân tích tài liệu nên khi đưa ra nhận xét, đánh giá thì tôi cần phải cân nhắc để thể hiện được tính khách quan và khái quát nhất về vấn đề này
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Khóa luận tập trung nghiên cứu và phân tích sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đối với Myanmar trong giai đoạn cầm quyền của Tổng thống B.Obama Trong đó, khóa luận tập trung vào sự điều chỉnh chính sách về lĩnh vực kinh tế, chính trị – ngoại giao và an ninh – quân sự của Hoa Kỳ đối với Myanmar – những lĩnh vực liên quan đến việc định hướng phát triển của Myanmar theo hướng gần gũi với Hoa Kỳ
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của khóa luận lấy mốc từ năm 2009 đến năm 2014 tương ứng với giai đoạn cầm quyền của Tổng thống B.Obama Nội dung chính của khóa luận sẽ tập trung phân tích điều chỉnh chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đối với Myanmar từ năm 2009 đến năm 2014
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu
Đề tài “Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đối với Myanmar trong giai đoạn cầm quyền của Tổng thống B.Obama (2009 – 2014)” dựa trên hệ
thống các quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng về cơ sở lý luận của phương pháp nghiên cứu xuyên suốt trong quá trình làm khóa luận
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp logic nhằm làm nổi bật nội dung cốt lõi của vấn đề Ngoài ra, tôi còn dựa trên những nguồn tài tài liệu sẵn có, kết hợp với phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh đối chiếu… từ đó tôi đưa ra nhận xét, đánh giá riêng để làm rõ vấn đề, đồng thời cũng giúp người đọc có cái nhìn khái quát về quan hệ giữa Hoa Kỳ và Myanmar trong giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2014
Nguồn tài liệu bao gồm có các sách chuyên khảo, công trình nghiên cứu, báo – tạp chí khoa học, các luận văn thạc sĩ và tài liệu trên các trang web…
Trang 136 Đóng góp của đề tài
Thông qua việc phân tích những điều chỉnh trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đối với Myanmar thời kỳ Tổng thống B.Obama và thực tế triển khai chính sách ở đây để cho thấy vai trò, vị trí quan trọng của Myanmar nói riêng và khu vực Đông Nam Á nói chung trong chiến lược toàn cầu mới của Hoa Kỳ Đồng thời, còn chỉ ra những tác động phức tạp trong quá trình thực hiện điều chỉnh chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đối với các nước trong khu vực và đối với Việt Nam Ngoài những tác động của điều chỉnh chính sách này ra, còn có triển vọng quan hệ Hoa Kỳ
và ASEAN trong những năm tới
Qua những vấn đề mà tôi tập trung làm rõ, tôi mong muốn kết quả nghiên cứu đạt được của khóa luận này có thể trở thành tài liệu tham khảo hữu ích cho những ai muốn tìm hiểu và nghiên cứu về chính sách của Hoa Kỳ ở Myanmar nói riêng, Đông Nam Á và ở châu Á – Thái Bình Dương nói chung
Chương này chủ yếu tập trung cung cấp cái nhìn tổng quát về chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đối với Myanmar từ khi chính thức đặt quan hệ đối ngoại (năm 1947) đến trước nhiệm kỳ của Tổng thống B.Obama, tức là vào năm 2008, với hai giai đoạn 1947 – 1990 và 1990 – 2008
CHƯƠNG 2 SỰ ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA HOA
KỲ ĐỐI VỚI MYANMAR TRONG GIAI ĐOẠN CẦM QUYỀN CỦA TỔNG THỐNG B OBAMA (2009 – 2014)
Chương này đề cập đến sự tất yếu phải điều chỉnh chính sách của Hoa Kỳ đối với Đông Nam Á nói chung và Myanmar nói riêng Có thể kể đến sự điểu chỉnh này xuất phát từ những yếu tố bên trong nội bộ Hoa Kỳ cũng như sự thay đổi của thế giới, quan trọng là định hướng của chính quyền B.Obama và những bước phát triển
Trang 14vượt bậc của Đông Nam Á, của Myanmar Nội dung điều chỉnh của chính sách này chủ yếu trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị – ngoại giao và an ninh – quân sự
CHƯƠNG 3 ĐÁNH GIÁ SƠ BỘ VỀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA HOA KỲ ĐỐI VỚI MYANMAR TRONG GIAI ĐOẠN TỔNG THỐNG B.OBAMA (2009 – 2014) VÀ TRIỂN VỌNG THỰC THI CHÍNH SÁCH NÀY TRONG THỜI GIAN SẮP TỚI
Chương cuối cùng chủ yếu đánh giá những điều chỉnh và tổng hợp những tác động của sự điều chỉnh này của Hoa Kỳ thời Tổng thống B.Obama đối với Myanmar, với cả Hoa Kỳ Qua đó, đưa ra những dự báo về triển vọng thực thi chính sách này ở Myanmar trong thời gian sắp tới Đồng thời, đưa ra một số kiến nghị về đối sách của Việt Nam để cần có biện pháp kịp thời trong những năm sắp tới
Trang 15NỘI DUNG CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA HOA KỲ ĐỐI VỚI MYANMAR TRƯỚC GIAI ĐOẠN CẦM QUYỀN CỦA TỔNG
THỐNG B.OBAMA (1947 – 2008) 1.1 Vài nét về Myanmar
Điều kiện tư nhiên và tài nguyên thiên nhiên Myanmar là đất nước nằm ở phía
Tây thuộc khu vực Đông Nam Á lục địa Với tọa độ 90
32’ – 280 31’ vĩ độ Bắc và
920 15’ – 1010 11’ kinh độ Đông Myanmar có diện tích khoảng 678.500 km2 nên quốc gia này được xem là có vị trí địa chiến lược vô cùng quan trọng Phía Bắc tiếp giáp với khu tự trị Tây Tạng và tỉnh Vân Nam của Trung Quốc với chiều dài biên giới 2185 km Phía Đông giáp Lào, Thái Lan Phía Nam giáp biển Andaman và vịnh Bengal Phía Tây giáp Ấn Độ và Bangladesh Đường bờ biển của Myanmar có tổng chiều dài 2965 km Với vị trí này, Myanmar thuận lợi điểm trung chuyển giao lưu buôn bán qua Ấn Độ Dương
Địa hình của Myanmar trải dài và thấp dần từ phía Bắc xuống phía Nam Vùng phía Bắc Myanmar với nhiều đồi núi và cao nguyên nằm sâu trong lục địa ở phía Bắc, phía Đông và phía Tây của Myanmar Vùng phía Nam Myanmar bao gồm toàn bộ vùng ven biển, những cánh rừng nhiệt đới và những vùng đồng bằng châu thổ màu mỡ được các con sông Irrawaddy, Thanlwin… bồi đắp tạo thành Sông ngòi ở Myanmar, có Irrawaddy là con sông lớn nhất ở nước này, nó cũng là biểu tượng cho thiên nhiên giàu có và tươi đẹp của đất nước này Con sông Irrawaddy được hình thành do sự hợp dòng chảy của sông Malihka và sông Myahka, khởi nguồn từ vùng núi Kachin ở phía Bắc Sông Irrawaddy chảy suốt chiều dài đất nước
và có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, xã hội của Myanmar Mặt khác, nó
có vai trò như huyết mạch giao thông, mà còn cung cấp lượng nước cho công trình thủy lợi, bồi đắp 260 triệu tấn/ năm phù sa cho đồng bằng châu thổ
Sự chia cắt về địa hình tạo nên sự đa dạng của khí hậu Myanmar Vì ảnh hưởng của gió mùa nên khí hậu ở Myanmar có hai mùa chính trong một năm – một mùa mưa và một mùa khô – và một mùa đông chuyển tiếp Với vị trí địa lý và độ cao cũng góp phần tạo nên tính đối lập của khí hậu của quốc gia này Khi vùng cực Nam nước này gần xích đạo nên nóng quanh năm thì vùng cực Bắc thường xuyên
Trang 16có tuyết Vùng đồng bằng châu thổ miền Nam nằm hoàn toàn trong vành đai nhiệt đới nóng ẩm thì cao nguyên Shan lại chịu ảnh hưởng của khí hậu ôn đới, giá lạnh vào ban đêm Nhiệt độ trung bình của miền Trung cao hơn những nơi khác ở Myanmar do lượng mưa ít (dưới 1000 mm) và riêng tại cố đô Bagan kể từ thế kỷ XVIII đã diễn ra quá trình sa mạc hóa do sự can thiệp của con người
Do sự đa dạng của địa hình và khí hậu góp phần tạo cho Myanmar một hệ động thực vật đa dạng với gần 300 loài thú, 300 loài bò sát, 100 loài chim và 7000 loài thực vật Cây gỗ Tếch là loại cây quý nhất ở Myanmar, chiếm 3/4 trữ lượng của thế giới, được phân bố tập trung nhiều ở vùng cao nguyên Shan – nơi có lượng mưa lớn trên 2280 mm Vùng miền Nam có rất nhiều loại cây ăn quả nhiệt đới như ổi, xoài, dừa, dứa, đu đủ… Những cánh rừng được phủ xanh vùng duyên hải và ở những vùng ven biển, khu vực đảo Amanđa có rất nhiều dừa Vùng đồng bằng châu thổ là vựa lúa Mặt khác, người nông dân Myanmar cũng gieo trồng nhiều loại cây công nghiệp khác như lạc, ngô, bông, đay, chè… Tài nguyên khoáng sản của Myanmar rất phong phú, đa dạng với chín loại đá quý và các loại khoáng sản khác như dầu mỏ, khí đốt, than, kẽm, thiếc… với trữ lượng lớn
Dân cư và tôn giáo Tổng số dân của Myanmar tính đến tháng 7/2010 là 59,1
triệu người, với mật độ dân số trung bình khoảng 87 người/ 1 km2 Tỷ lệ tăng dân số trung bình trong cả nước là 1,75% Myanmar là quốc gia đa sắc tộc với 135 tộc người khác nhau, chủ yếu là người Miến chiếm 68% tổng số dân – sống ở các khu vực đồng bằng châu thổ sông Irrawaddy, sau nữa là người Shan chiếm 9% sống ở phía Đông Bắc và khu vực biên giới với Thái Lan, người Karen chiếm 8%, người Kachin chiếm 7%, người Rakhine chiếm 4% và 4% các tộc người khác còn lại Phần lớn các dân tộc này chủ yếu đều di cư từ nơi khác đến và định cư tại Myanmar Trong đó, người Môn – Khmer là những người đầu tiên di cư đến Myanmar, tiếp đến là người Tạng – Miến và người Thái Hán Ngoài ra có khoảng 5 triệu người nước ngoài sinh sống tại Myanmar, trong đó đông nhất là người Hoa, người Ấn Độ, Bangladesh và Pakistan
Không chỉ là một quốc gia đa dang về tộc người, Myanmar còn là đất nước đa dạng về tôn giáo, bao gồm đạo Phật chiếm 89,3% số dân, Thiên chúa giáo chiếm 5,6% số dân, đạo Hồi chiếm 3,8% số dân, đạo Hindu chiếm 0,5% số dân Còn các
Trang 17tôn giáo khác như đạo Do Thái…chiếm khoảng 0,8% số dân Đạo Phật được Thủ tướng U Nu tuyên bố là Quốc giáo của Myanmar năm 1961
Những đặc điểm của Myanmar về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, dân cư và tôn giáo là yếu tố chi phối mạnh mẽ đến sự phát triển mạnh mẽ của Myanmar từ khi thành lập quốc gia thống nhất cho đến nay Tiến trình lịch sử của Myanmar khá độc đáo dù thuở ban đầu mang nhiều nét tương đồng với các quốc gia khác ở Đông Nam Á trong nền văn hóa đá cũ, đá giữa, đá mới, đồng thau và sắt Vào đầu thiên niên kỷ I trước công nguyên, một vài tộc người đã đến định cư tại Myanmar như người Pyu, người Môn và lập nên những nhà nước sơ khai đầu tiên, đánh dấu Myanmar bước vào quỹ đạo văn minh Vì sự đa dạng về tộc người nên lịch sử Myanmar bị chi phối mạnh mẽ bởi quá trình đấu tranh sắc tộc, đặc biệt giữa nhóm người Miến, người Môn, người Pyu, người Shan với nhau Cuộc đấu tranh đã làm cho người Pyu tan biến vào cộng đồng người Miến và người Môn cũng dần biến mất Bên cạnh đó, cuộc đấu tranh nội bộ từ năm này sang nay khác, một quá trình vận động hòa hợp thống nhất cũng diễn ra ngay từ đế chế Bagan đầu tiên Do
đó những khác biệt về văn hóa giữa các tộc người dần được thu hẹp và các tộc người khác nhau càng hướng đến những giá trị chung Trong thời phong kiến, Miến Điện được xem là một đế quốc ở Đông Nam Á Vua Miến Điện thuộc mỗi triều đại đều thích chinh phục các lãnh thổ láng giềng và để khẳng định quyền lực của mình
Vì thế, mục tiêu thống nhất đất nước không những không được thực hiện mà còn nổi lên những cuộc nổi dậy đậm màu sắc tộc, đất nước bị chia cắt và bị xâm lược Chính sách chia để trị của thực dân Anh đã làm sâu sắc thêm sự chia cắt đó mà hậu quả vẫn dai dẳng đến ngày nay
Từ khi cuộc đấu tranh đòi thực dân Anh trao trả độc lập thành công đến nay, người Myanmar đã không ngừng cố gắng tìm kiếm một cách thức phát triển và mô hình nhà nước phù hợp với đặc điểm của quốc gia này Lịch sử hiện đại Myanmar
dù có lúc chậm lại nhưng vẫn theo kịp xu hướng phát triển chung của nhân loại Hiện nay, Myanmar được chia thành 7 bang (gồm có: bang Chin, bang Kachin, bang Kayin, bang Kayah, bang Mon, bang Rakhine và bang Shan) và 7 vùng hành chính (gồm có: vùng Ayeyarwady, vùng Bago, vùng Magway, vùng Mandalay, vùng Sagaing, vùng Tanintharyi và vùng Yangon) Các vùng hành chính được chia
Trang 18nhỏ tiếp thành các thành phố, khu vực và các làng Các thành phố lớn được chia thành các quận Ngoài ra, các bang của Myanmar lại được chia thành các huyện, trong đó bang Shan có nhiều huyện (với 11 huyện), bang Chin, bang Mon và bang Kayah chỉ có hai huyện ở mỗi bang
1.2 Khái quát chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đối với Myanmar trong giai đoạn 1947 – 1990
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, tình hình thế giới từng bước có những chuyển biến to lớn, tác động đến quan hệ quốc tế, từng nước, từng khu vực và đến cả trật tự mới được thiết lập Mặt khác, thông qua phân tích bối cảnh thế giới, Hoa Kỳ có thể hoạch định chính sách đối ngoại phù hợp cần có sự cân nhắc và kết hợp với tình trạng trong nước nhằm đạt được mục đích xuyên suốt của quốc gia trong tương lai Hoa Kỳ bước ra khỏi chiến tranh thế giới thứ hai với sức mạnh tăng lên, là nước tham chiến sau cùng, đất nước không bị chiến tranh tàn phá, nên có cơ hội tập trung phát triển kinh tế và khoa học - kỹ thuật Hoa Kỳ chiếm khoảng 1/2 tổng sản lượng công nghiệp và trên 70% dự trữ vàng của thế giới tư bản Hoa Kỳ vượt trội hơn tất
cả các nước về kinh tế, chính trị và quân sự, nhờ những ưu thế này Hoa Kỳ hoàn toàn có cơ sở để hoạch định chiến lược mới với mục tiêu làm bá chủ thế giới Cũng
từ đây, Hoa Kỳ đã từ bỏ thông lệ hoạch định chiến lược quốc gia với phần chủ yếu
đề cập chính sách đối nội mà thay vào đó, năm 1947 Hoa Kỳ bắt đầu vạch chiến lược an ninh quốc gia nhằm chủ yếu đối phó với các mối đe dọa và thách thức từ bên ngoài đối với lợi ích toàn cầu của mình
Quan hệ giữa Myanmar và Hoa Kỳ khá tốt đẹp ngay từ đầu chiến tranh thế giới thứ hai Khi đó Myanmar cho phép máy bay chiến đấu của Hoa Kỳ sử dụng bầu trời Myanmar cùng quân Đồng minh chống lại phát xít Nhật, cho phép quân đội nhảy dù xuống vùng miền Bắc Myanmar phối hợp với lực lượng vũ trang Myanmar tại Kachin chống Nhật Một vị tướng Hoa Kỳ tên là Joe Stillwell đã chỉ huy quân đội Hoa Kỳ xây dựng một con đường hậu cần xuyên qua khu rừng rậm Myanmar đến biên giới Trung Quốc Do xây dựng công trình nên hơn 1100 binh lính Hoa Kỳ
hi sinh Vậy nên sau chiến tranh, Myanmar hợp tác chặt chẽ với Hoa Kỳ để tìm kiếm hài cốt lính Hoa Kỳ trong lãnh thỗ Myanmar Năm 1947, Hoa Kỳ đã chính thức công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Myanmar Đến năm 1948, hai nước
Trang 19chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao cấp Đại sứ Vào đầu thập niên 1950, Hoa Kỳ
cử chuyên gia kinh tế sang khảo sát cơ sở kinh tế của Myanmar sau chiến tranh để giúp Chính phủ của Thủ tướng U Nu xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế Từ đó đến năm 1962, quan hệ giữa hai nước phát triển mạnh, Hoa Kỳ còn cung cấp viện trợ giúp Myanmar phát triển Tuy nhiên, sự kiện đảo chính quân sự tại nước này vào năm 1962 dẫn đến quan hệ Hoa Kỳ – Myanmar ngày càng xấu đi Ngay khi Tướng
Ne Win lên cầm quyền, đã từ chối các khoản viện trợ phát triển của Hoa Kỳ, vì cho rằng các khoản viện trợ này đi ngược lại lợi ích an ninh quốc gia và chính sách đối ngoại không liên kết của Myanmar Hoa Kỳ và Myanmar hợp tác về phòng chống
ma túy giúp quan hệ song phương ấm dần lên kể từ năm 1974 Myanmar đã nhận hàng chục máy bay trực thăng chiến đấu mà Hoa Kỳ viện trợ cho nước này Trong những năm 1976 – 1977, Myanmar mở rộng quan hệ, nhận viện trợ từ các cơ quan của Liên Hợp Quốc và Hoa Kỳ trong chiến dịch phòng chống tội phạm ma túy Bên cạnh việc Myanmar chấp nhận viện trợ phát triển của Hoa Kỳ, các phong trào dân chủ phát triển theo, gây nên tình trạng bất ổn về chính trị Các phong trào dân chủ phát triển đến đỉnh điểm vào năm 1988, dẫn đến cuộc đảo chính quân sự do Tướng Saw Maung dẫn đầu Hoa Kỳ đã lên án gây gắt chính quyền quân sự của Tướng Saw Maung và giảm dần viện trợ cho Chính phủ Myanmar, mà chuyển sang ủng hộ các lực lượng đối lập với Chính phủ Từ đây, Hoa Kỳ đã yêu cầu Myanmar cần khôi phục dân chủ, nhân quyền, chống ma túy, giảm trồng cây thuốc phiện và không sử dụng lao động vị thành niên Chính quyền của Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa tại Hoa Kỳ chỉ giúp đỡ Myanmar trong lĩnh vực y tế cộng đồng, phòng chống HIV/AIDS Trong thời gian này, Hoa Kỳ đã viện trợ cho Myanmar tổng cộng hơn 1 triệu USD trong lĩnh vực y tế cộng đồng
1.3 Khái quát chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đối với Myanmar trong giai đoạn 1990 – 2008
Hoa Kỳ đã rút Đại sứ khỏi Myanmar sau cuộc bầu cử gây tranh cãi ở nước này năm 1990 và kể từ đó đến tháng 5/2012, Hoa Kỳ chỉ có một đại diện tại Yangon, thủ đô cũ của Myanmar
Chiến tranh lạnh kết thúc, Hoa Kỳ phải hứng chịu những tổn thất nhưng Hoa
Kỳ có ưu thế là trở thành siêu cường duy nhất trên thế giới Trên cơ sở bối cảnh thế
Trang 20giới trong thời kỳ này, chính quyền Hoa Kỳ cho rằng với những ưu trội của mình trên tất cả lĩnh vực, Hoa Kỳ cần chớp lấy thời cơ để có thể thiết lập một trật thế giới mới với vai trò lãnh đạo thuộc về mình Thật vậy, Hoa Kỳ sau chiến tranh lạnh có được thuận lợi to lớn Một là, xu thế hòa hoãn chiếm một ưu thế trong quan hệ quốc
tế khi chiến tranh lạnh kết thúc Quan hệ giữa các nước lớn thay đổi nhanh chóng, theo hướng tìm kiếm sự cân bằng mới, kiềm chế bất đồng, tránh xảy ra xung đột mang tính đối kháng Vì vậy, vừa hợp tác, vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt với nhau, vừa thỏa hiệp và xung đột, mâu thuẫn luôn hiện diện như đặc trưng giữa quan
hệ các cường quốc, nhưng nhìn chung vì lợi ích của riêng mình, các nước đều tránh đối đầu với Hoa Kỳ Hai là, Hoa Kỳ trở thành siêu cường duy nhất còn lại Tốc độ phát triển GDP được duy trì ở mức 3 – 4% vào năm 1992 – 1994 Chính quyền Hoa
Kỳ dù có giảm chi phí nhưng việc chi cho quốc phòng của nước này vẫn cao, chiếm hơn 40% trong tổng chi phí quốc phòng của thế giới
Về khoa học – kỹ thuật, Hoa Kỳ dẫn đầu trong các ngành như lĩnh vực điện toán, xây dựng hệ thống tin học Internet Ngoài ra, Hoa Kỳ còn có vai trò trụ cột trong toàn cầu hóa và tự do mậu dịch, giữ nhiệm vụ trong yếu trong các tổ chức thế giới như WTO, WB và IMF Ba là, sự sụp đổ chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô là một tổn thất to lớn chưa từng có của phong trào cách mạng và phong trào xã hội chủ nghĩa thế giới Theo cách nhìn của Hoa Kỳ, đây chính là cơ hội lớn để khuếch trương và truyền bá ý thức hệ tư bản chủ nghĩa, thúc đẩy dân chủ, tự do và các giá trị Hoa Kỳ trên toàn thế giới Đồng thời, Hoa Kỳ đẩy mạnh các biện pháp lôi kéo lực lượng để thực hiện diễn biến hòa bình chống phá các nước xã hội chủ nghĩa còn lại Bên cạnh những cơ hội thuận lợi trên, Hoa
Kỳ còn phải đối mặt với không ít thách thức tác động đến hoạch định và triển khai chính sách của Hoa Kỳ sau chiến tranh lạnh Các trung tâm quyền lực khác, nhất là các cường quốc có xu hướng trỗi dậy, không chấp nhận trật tự một cực do Hoa Kỳ lãnh đạo Chính vì lẽ đó, Hoa Kỳ cần phải thực hiện mọi biện pháp nhằm ngăn chặn không cho cường quốc liên kết chống lại và thách thức vai trò của Hoa Kỳ trong tương lại Thách thức khác đến từ các nước vốn là đồng minh thân cận với Hoa Kỳ như Nhật Bản và Tây Âu Khi việc tập hợp lực lượng chống lại cộng sản không còn tồn tại đã xuất hiện nhiều mâu thuẫn về lợi ích giữa các nước này với Hoa Kỳ, mà
Trang 21mỗi quốc gia đều có tính toán riêng phục vụ cho lợi ích của dân tộc mình Hơn lúc nào hết, Hoa Kỳ cần tập trung sự ủng hộ của đồng minh và quan hệ hợp tác nhằm tìm kiếm sự thuận lợi trong việc thực hiện chiến lược toàn cầu của mình Trong lòng bản thân chế độ tư bản chủ nghĩa đã có đầy đủ những mâu thuẫn bên trong và diễn ra khủng hoảng mang tính chu kỳ Mặt khác, khi trật tự hai cực mất đi, nghĩa là
nó cũng mất đi giới hạn kiềm chế đối với xung đột khác, dẫn đến mọi cuộc xung đột
vũ trang, mâu thuẫn dân tộc, tôn giáo, tranh chấp về quyền lực, biên giới…giữa các nước ngày càng tăng, vấn đề này đã đe dọa đến an ninh của Hoa Kỳ Việc tranh cải của các nhà lãnh đạo qua hai quan điểm theo chủ nghĩa biệt lập hoặc chủ nghĩa quốc
tế về vạch ra chiến lược đối ngoại của Hoa Kỳ Qua đây, tình trạng nội bộ của nước này đã không còn sự thống nhất rộng rải về việc xây dựng chiến lược, chính sách trong thời kỳ mới Việc đấu tranh và dung hòa các quan điểm này sẽ tác động đến việc hoạch định chính sách của Hoa Kỳ đối với trong nước và các nước khác, trong
đó có cả Đông Nam Á và Myanmar Với những khó khăn về kinh tế mà Hoa Kỳ phải gánh chịu khi chạy đua vũ trang với Liên Xô đã tốn rất nhiều tiền của tập trung cho lĩnh vực quân sự mà buông lỏng việc phát triển lĩnh vực khác như kinh tế hay khoa học – kỹ thuật
Thời kỳ sau chiến tranh lạnh, nguy cơ nổ ra chiến tranh thế giới suy giảm đi, Hoa Kỳ tăng cường lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước có vấn đề, trong đó có Myanmar “Trước năm 2009, Mỹ luôn
áp dụng chính sách cấm vận kinh tế và cô lập chính trị Mi-an-ma nhằm gây sức ép
về tình trạng vi phạm dân chủ, nhân quyền của nước này” [30; tr.36] Hoa Kỳ đã thực thi nhiều biện pháp cứng rắn để góp phần vào chính sách cấm vận đối với Myanmar
Về chính trị, Hoa Kỳ cũng sử dụng chiêu bài dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo, ủng hộ phái dân chủ chống đối chính quyền Myanmar, mưu toan ngăn cản ASEAN và ASEM kết nạp Myanmar làm thành viên Các biện pháp mà Hoa Kỳ đã
sử dụng để chống đối Myanmar bao gồm: cấm cấp visa vào Hoa Kỳ cho các quan chức cao cấp trong Chính phủ Myanmar cùng những người trong gia đình họ; các quan chức quản lý các doanh nghiệp thuộc nhà nước quản lý; phong tỏa tài sản của Chính phủ Myanmar và các nhà lãnh đạo hàng đầu của nước này tại Hoa Kỳ; chống
Trang 22lại việc cho Myanmar vay tiền từ ADB, WB, IMF; cấm nhập khẩu hàng hóa sản xuất ở Myanmar… Hơn thế nữa, sau cuộc bầu cử tháng 5/1990 ở Myanmar, Hoa
Kỳ chính thức cùng Liên Hợp Quốc và một số nước phương Tây tiến hành thực hiện lệnh bao vây cấm vận và trừng phạt kinh tế đối với Myanmar Chính quyền quân sự không chấp nhận kết quả bầu cử vào tháng 5/1990 do Đảng NLD giành thắng lợi với 59% tổng số phiếu và 81% ghế trong nghị viện Hoa Kỳ càng gia tăng biện pháp trừng phạt Myanmar Trước tiên, Hoa Kỳ đã hạ cấp quan hệ ngoại giao từ Đại xứ xuống đại biện lâm thời, cùng với đó là phối hợp với các nước phương Tây mạnh mẽ thực hiện chính sách cấm vận và trừng phạt kinh tế Myanmar, gia hạn các lệnh cấm đến năm 1997 Năm 1992, Quốc hội Hoa Kỳ không phê chuẩn đại sứ được chính quyền Hoa Kỳ cử sang Myanmar, với lý do chính quyền quân sự Myanmar vi phạm nhân quyền Sau năm 1997, Hoa Kỳ áp đặt thêm biện pháp trừng phạt, từ đây, Hoa Kỳ hạn chế cấp thị thực cho một số quan chức quân sự Myanmar
và gia đình của họ; Tổng thống B Clinton đã thông qua sắc lệnh cấm tất cả công ty
tư nhân Hoa Kỳ tiến hành đầu tư mới ở nước này Vào 6 tháng trong một năm sẽ có một báo cáo từ Bộ Ngoại giao của Hoa Kỳ trình lên Quốc hội về tình hình của nước Myanmar Trong báo cáo này, Hoa Kỳ kêu gọi chính quyền quân sự công nhận kết quả bầu cử vào tháng 5/1990, giải tán Chính phủ hiện tại và chuyển giao quyền lực cho bà Aung San Suu Kyi và Đảng NLD Khi ASEAN kết nạp Myanmar vào Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) thì Hoa Kỳ đã vận động mạnh mẽ quan hệ nhằm tác động đến ASEAN bãi bỏ việc làm này
Những năm đầu thế kỷ XXI, thế giới vẫn còn đang trong giai đoạn chuyển tiếp
từ trật tự hai cực sang một trật tự mới theo hướng đa cực Các cường quốc điều chỉnh chính sách đối ngoại theo cách tiếp cận của mình đối với các vấn đề quốc tế,
mà chúng ta phát triển theo hướng đan xen, phức tạp, có tác động nhiều đến quan hệ song phương, đa phương của các quốc gia dân tộc Các mâu thuẫn vẫn tiếp tục tồn tại trong chính nội tại của quốc gia, đặc biệt là ở các nước đang phát triển Ngoài ra, Myanmar là thành viên của ASEAN gây ra ảnh hưởng không nhỏ trong quá trình hợp tác của ASEAN với Hoa Kỳ Sự kiện ngày 11/09/2001, Hoa Kỳ điều chỉnh chính sách đối ngoại nhằm tập trung hơn vào cuộc chiến chống khủng bố trên toàn cầu và khu vực Đông Nam Á mà trọng tâm là các phần tử khủng bố và cơ sở huấn
Trang 23luyện ở đây Chính quyền Myanmar phải đường đầu với “phần tử ly khai và Hồi giáo cực đoan ở khu vực biên giới phía Bắc” [30; tr.37], dẫn đến hợp tác giữa Myanmar và Hoa Kỳ sau một thời gian dài để truy tìm nhóm khủng bố Hồi giáo cư trú tại Myanmar Tháng 3/2002, Quốc hội Hoa Kỳ thông qua nghị quyết thắt chặt hơn nữa chính sách cấm vận đối với Myanmar
Sau sự kiện đoàn xe của Aung San Suu Kyi bị tấn công ngày 30/05/2003, Hoa
Kỳ cấm vận tất cả quan hệ thương mại của Myanmar giao dịch bằng đôla của Hoa
Kỳ Ngày 28/07/2003, Bộ Ngoại giao và Bộ Tài chính Hoa Kỳ ra chỉ thị hành pháp
số 13319, lập danh sách các quan chức Myanmar cấm nhập cảnh vào Hoa Kỳ, đóng băng tài sản của tất cả các quan chức Myanmar trong danh sách này Vậy nên, cho đến năm 2004, Hoa Kỳ hầu như cắt đứt mối quan hệ thương mại đối với Myanmar Vào tháng 9/2004, khi chính quyền Myanmar thay thế Bộ trưởng Ngoại giao
và Thủ tướng, Hoa Kỳ vẫn không hài lòng Đây là những biểu hiện của sự can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của Myanmar từ phía Hoa Kỳ Hoa Kỳ đã có chủ trương vừa duy trì sức ép từ bên ngoài, yêu cầu Myanmar tiến hành cải cách triệt
để, vừa xây dựng khả năng và ý chí chính trị cho sự thay đổi bên trong đất nước để buộc Myanmar phụ thuộc vào Hoa Kỳ Tổng thống G W Bush đã tập trung chuyển hướng sang Myanmar vào năm 2004 Việc Hoa Kỳ làm ầm ĩ đối với Myanmar thực
sự chỉ là sự đe dọa, được khoác bên ngoài cái vỏ dân chủ cho đẹp mà trên thực tế Hoa Kỳ sử dụng những tiêu chuẩn dân chủ khác nhau Tuy nhiên, khi thực hiện chiến lược mới với chính sách dân chủ nhân quyền, Hoa Kỳ đã thuyết phục Liên Hợp Quốc áp dụng biện pháp trừng phạt kinh tế và chính trị đối với chính quyền quân sự Myanmar, đồng thời cũng lên án Myanmar và ép ASEAN phải gây áp lực buộc Myanmar giải quyết vấn đề dân chủ, nhân quyền làm cho nội bộ ASEAN đã
có nhìn nhận khác nhau về vấn đề Myanmar Năm 2007, Myanmar có cuộc cải tổ Chính phủ Theo đó, Thủ tướng được giao cho Trung tướng Thein Sein kết hợp với Hội đồng hòa bình và phát triển quốc gia (SPDC) Myanmar đưa ra lộ trình 7 bước cho việc tiến hành cải cách Hiến pháp và chính trị, bao gồm việc triệu tập một hội nghị toàn quốc để tiến hành dự thảo Hiến pháp mới
Về kinh tế, từ sau chính biến năm 1988, chính quyền quân sự lãnh đạo đất nước Myanmar đã bị Hoa Kỳ chỉ trích về vấn đề nhân quyền và tiến hành bao vây
Trang 24cấm vận đối với nước này, nhiều công ty xí nghiệp lớn của Hoa Kỳ bị cấm đầu tư vào nước này Lệnh trừng phạt buôn bán chống Myanmar của Quốc hội Hoa Kỳ xiết chặt sau khi bà Aung San Suu Kyi bị bắt Hoa Kỳ cho rằng, Myanmar là điểm tắc thực sự, nơi đây nếu Hoa Kỳ tạo được chỗ đứng sẽ ngăn chặn được ảnh hưởng của Trung Quốc, Ấn Độ Ngày 22/10/2004, Tổng thống G W Bush tuyên bố ngưng một số viện trợ của Hoa Kỳ dành cho Myanmar, lên tiếng thúc đẩy dân chủ ở Myanmar như Hoa Kỳ từng làm ở nước khác như Iraq, Afghanistan và cả khu vực Trung Đông Minh chứng cụ thể, việc Hoa Kỳ cam kết chống HIV/AIDS nhưng mà Hoa Kỳ lại ngăn cấm viện trợ cho Myanmar chống lại căn bệnh này Do vậy, cuộc khủng hoảng HIV/AIDS tại Myanmar được coi là tồi tệ nhất khu vực Đông Nam Á Hoa Kỳ ngăn cấm các nhà hoạt động chính trị, quân sự và kinh tế của chính nước này đến thăm Hoa Kỳ Ngoài ra, lệnh trừng phạt của Hoa Kỳ đối với Myanmar đã làm cho xuất khẩu của nước này sang Hoa Kỳ giảm sút, thậm chí xuống bằng không Xuất khẩu của Myanmar sang Hoa Kỳ đạt 456 triệu USD chiếm 19% tổng kim ngạch xuất khẩu của nước này vào năm 2001 Trong đó, hơn 70% hàng xuất khẩu sang Hoa Kỳ là dệt may, nhưng mà con số này bị giảm xuống bằng không vào năm 2004 Hệ quả tất yếu của biện pháp này đã chấm dứt hoạt động trao đổi kinh tế thương mại giữa hai nước vào năm 2004, nhưng quan hệ ngoại giao vẫn duy trì dù chỉ là cấp đại biện lâm thời Thực hiện áp đặt lệnh trừng phạt buôn bán chống Myanmar, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ mở rộng diện không cấp thị thực đối với toàn bộ thành viên của mọi tổ chức liên quan đến chính quyền quân sự Myanmar Tiếp đến
Ủy ban đối ngoại của Hạ viện của Hoa Kỳ đã thống nhất thông qua điều luật về tăng cường hơn nữa các biện pháp trừng phạt về thương mại và kinh tế đối với Myanmar Vì vậy, do toan tính riêng, Hoa Kỳ đã tìm cách gây sức ép, can dự vào Myanmar, khi mà lực lượng cầm quyền được xem là dân chủ gần gũi với Hoa Kỳ
đã bị lật đổ, nguy cơ đe dọa lợi ích của Hoa Kỳ bởi sự ủng hộ của Trung Quốc, Ấn
Độ, Bangladesh, đặc biệt là các nước thành viên trong ASEAN đối với Myanmar Mặt khác, tình trạng vi phạm dân chủ, nhân quyền tại Myanmar ngày càng tăng, đặc biệt từ việc đàn áp tàn bạo cuộc biểu tình các nhà sư vào năm 2007 Hoa
Kỳ phản ứng đối với sự kiện này qua biện pháp thắt chặt hơn những chính sách cấm vận đối với quốc gia này Có thể nói đến việc hạn chế nhập khẩu ngọc bích và rubi
Trang 25có nguồn gốc từ Myanmar, cấm người dân Hoa Kỳ giúp đỡ người khác đầu tư vào Myanmar, Hoa Kỳ đã vận dụng ảnh hưởng to lớn của mình trong tổ chức quốc tế như IMF, WB… phủ quyết mọi khoản vay hoặc viện trợ tài chính cho Myanmar Tóm lại, chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ trong giai đoạn từ năm 1947 – 1990 đối Myanmar có những lúc thăng trầm những vẫn duy trì quan hệ giữa hai nước một cách ổn định Do chính quyền quân sự Myanmar không chấp nhận kết quả cuộc bầu
cử vào năm 1990 nên trong giai đoạn 1990 – 2008, Hoa Kỳ đã thực hiện, duy trì và gia tăng cấm vận về kinh tế, đầu tư của nước ngoài, viện trợ đối với Myanmar Phần lớn chính sách cấm vận Myanmar của Hoa Kỳ chủ yếu là do vị phạm dân chủ, nhân quyền nghiêm trọng “Chính sách này đã phần nào ảnh hưởng đến chính sách và quan hệ của Mỹ, phương Tây với ASEAN” [30; tr 40] Hơn nữa, Myanmar tham gia ASEAN cũng là một cách giúp khối này cân bằng các mối quan hệ trong khu vực dù quan hệ ASEAN và phương Tây xấu đi Do đó, chính sách cấm vận toàn diện của Hoa Kỳ đối với Myanmar có tác động tích cực, nhưng về cơ bản thì những lệnh cấm vận này có nhiều hạn chế nên chính quyền quân sự vẫn duy trì việc thống trị của mình ở Myanmar dù có những thay đổi Với mục đích của mình là lãnh đạo thế giới nên Hoa Kỳ cần có biện pháp cụ thể trong chính sách đối ngoại dựa trên các yếu tố, trong đó có dân chủ, nhân quyền Đây là hai yếu tố mà Hoa Kỳ cho rằng Myanmar vi phạm nghiêm trọng và nước này cần có sự thay đổi hướng để Hoa Kỳ
sẽ có những chính sách mới phù hợp với Myanmar Chính sách cấm vận của Hoa
Kỳ đối với Myanmar góp phần chuyển hướng tới Myanmar thành lập một chính quyền mới dân chủ, hướng tới phương Tây và Hoa Kỳ Điều này giúp tăng cường ảnh hưởng và quyền lợi của Hoa Kỳ ở nước Myanmar nói riêng, khu vực Đông Nam Á nói chung
Trang 26CHƯƠNG 2 SỰ ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA HOA KỲ ĐỐI VỚI MYANMAR TRONG GIAI ĐOẠN CẦM QUYỀN CỦA TỔNG
THỐNG B.OBAMA (2009 – 2014) 2.1 Cơ sở điều chỉnh chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đối với Myanmar trong giai đoạn cầm quyền của Tổng thống B.Obama (2009 – 2014)
2.1.1 Nhân tố bên trong
Tình hình bên trong của Hoa Kỳ có nhiều chuyển biến khó khăn khi Tổng thống B.Obama nắm chính quyền Về kinh tế, Tổng thống B.Obama bước vào Nhà
Trắng khi Hoa Kỳ chịu ảnh hưởng bởi cơn bão tài chính năm 2008 Hàng loạt các tập đoàn tài chính chứng khoàn hàng đầu của Hoa Kỳ bị sụp đổ, tiêu biểu vào tháng 01/2008, công ty Country Financial – công ty tài chính từng nắm giữ 20% thị trường cho vay bất động sản Hoa Kỳ tuyên bố phá sản Đỉnh điểm là vào tháng 9/2008, tập đoàn Lehman Brother – ngân hàng đầu tư hàng đầu thế giới với 158 năm lịch sử và trên 26000 nhân viên đã tuyên bố phá sản Từ đó nền kinh tế Hoa Kỳ rơi vào cuộc suy thoái nghiêm trọng Có thể nói, cuộc khủng hoảng tài chính ở Hoa
Kỳ bắt đầu bằng sự đổ vỡ của thị trường bắt động sản và chính từ sự việc này đã kéo theo sự đình trệ của các ngành công nghiệp khác Hầu hết các chỉ số cơ bản của nền kinh tế Hoa Kỳ đề bị sụt giảm nghiêm trọng trong cuộc khủng hoàng này Tốc
độ tăng trưởng GDP của Hoa Kỳ cũng suy giảm mạnh trong năm 2008 với tỷ lệ tăng trưởng trung bình khoảng –3% Sự suy giảm của nền kinh tế Hoa Kỳ do tác động của cuộc khủng hoảng đã làm cho vấn đề thất nghiệp trở nên trầm trọng hơn
Tỷ lệ thất nghiệp trung bình năm 2008 – 2009 là 9 – 10% Tình trạng nợ công của Chính phủ tăng vọt Tháng 12/2009 tiếp tục tăng và đạt 12.000 tỷ USD (gần bằng 90% GDP) Theo nhiều chuyên gia kinh tế, nợ công tuy không là vấn đề tồi tệ đối với nền kinh tế, nhưng nếu nợ công vượt ngưỡng 100% GDP và tồn tại trong khoảng thời gian dài sẽ ảnh hưởng đến những mất cân đối lớn khác của nền kinh tế Bên cạnh đó, tình trạng mất cân đối giữa nhập siêu và xuất siêu trong giai đoạn này ngày càng trở nên nghiêm trọng, trở thành vấn đề lớn của kinh tế Hoa Kỳ Nước này ngày càng mất dần vai trò là động lực chính của nền kinh tế thế giới, đặc biệt sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 làm cho thị phần của Hoa Kỳ trong tổng GDP của thế giới suy giảm Vì sự bất ổn lâu dài trong cấu trúc nền kinh tế Hoa Kỳ
Trang 27không những tác động mạnh mẽ đến sự suy giảm sức mạnh của Hoa Kỳ trên trường quốc tế mà còn làm gia tăng tâm lý bất mãn của người dân Hoa Kỳ đối với Chính phủ Do đó, cứu vãn và phục hồi nền kinh tế đang xuống dốc là một trong những nhiệm vụ cấp thiết đầu tiên của B.Obama Đây cũng chính là một trong những nhân
tố góp phần đưa đến sự điều chỉnh các chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ dưới thời cầm quyền của Tổng thống B.Obama Về quân sự, Hoa Kỳ đang bị sa lầy ở Afghanistan và Iraq trong cuộc chiến chống khủng bố Sau sự kiện 11/09/2001, Chính quyền G W Bush đã đơn phương xác định Afghanistan là mục tiêu đầu tiên phải chịu trừng phạt vì cho rằng chính quyền Taliban đã che giấu và bảo trợ cho trùm khủng bố Al Qaeda – Osama Bin Laden Một sai lầm tiếp theo không kém phần nghiêm trọng góp phần đẩy Hoa Kỳ rơi vào bế tắc và khủng hoảng hơn chính
là cuộc chiến tranh ở Iraq Trong khi cuộc chiến tranh ở Afghanistan đang diễn ra, chính quyền G W Bush tiếp tục phát động cuộc chiến tranh ở Iraq, với nguyên nhân Hoa Kỳ cho rằng Iraq có chứa vũ khí hủy diệt hàng loạt dù cho Hoa Kỳ chưa tìm được chứng cứ cụ thể
Sự chia rẽ sâu sắc trong nội bộ chính trị của chính quyền Hoa Kỳ Với việc
tiến hành hai cuộc chiến tranh ở Afghanistan trong 7 năm và ở Iraq trong 5 năm đã làm cho nội bộ chính quyền Hoa Kỳ bị chia rẽ bởi hậu quả và tác động do chiến tranh đem lại Trong giai đoạn 2001 – 2008, cuộc chiến tranh ở Afghanistan “đã tiêu tốn của Hoa Kỳ gần 180 tỷ USD, còn Iraq là khoảng 600 tỷ USD giai đoạn
2003 – 2008” [31; tr 74] Trong khi đó, Hoa Kỳ cần phải gánh chịu những hậu quả này để vượt qua khủng hoảng và khôi phục kinh tế Sự chia rẽ trong nội bộ Hoa Kỳ đặc biệt thể hiện rõ trong cuộc chiến chống Iraq Qua đó, chính hai cuộc chiến tranh diễn ra ở Afghanistan và Iraq là một trong những chủ đề gây chia rẽ và được bàn luận nhiều nhất trong đời sống chính trị của Hoa Kỳ, sau đó là cuộc chạy đua vào vị trí Tổng thống Hoa Kỳ với các ứng cử viên Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa Xoay quanh về vấn đề gây tranh cãi giữa các ứng cử viên của hai đảng chính là có nên nhanh chóng rút quân khỏi hai nước này không và kế hoạch của việc rút quân như thế nào để tránh xảy ra tình trạng rối loạn ở Afghanistan và Iraq
Định hướng chính sách của Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống B.Obama (2009 – 2014) có sự khác biệt so với chính quyền thời kỳ trước Ngày 20/01/2009, ông
Trang 28B.Obama đã chính thức tuyên thệ trở thành Tổng thống thứ 44 của Hoa Kỳ Lần đầu tiên trong lịch sử, Hoa Kỳ có một vị tổng thống da màu lên nắm quyền Bên cạnh
đó, chính quyền Tổng thống B.Obama đã phải thừa hưởng một di sản nặng nề sau tám năm cầm quyền của Tổng thống tiền nhiệm G W Bush “Trong nhiệm kỳ Tổng thống đầu tiên của mình, ông B.Obama cần phải thực hiện được ba mục tiêu trọng yếu cụ thể là: (i) giải quyết cuộc khủng hoàng kinh tế tài chính trong nước nhằm phục hồi và phát triển kinh tế; (ii) chống khủng bố với trọng tâm giải quyết việc sa lầy của Mỹ ở hai chiến trường Afghanistan và Iraq; (iii) khôi phục hình ảnh
và uy tín của Mỹ sau những “thành tích đối ngoại” mà G W Bush đã tạo ra nhằm tiến tới mục đích sâu xa hơn là duy trì và củng cố vị trí siêu cường số một thế giới của Mỹ” [25; tr.1] Theo đó, chính quyền Tổng thống B.Obama đã có cách tiếp cận chính sách đối ngoại khác biệt so với chính quyền tiền nhiệm G W Bush Học thuyết Obama cơ bản vẫn dựa trên ba trụ cột chính là kinh tế, an ninh chiến lược và dân chủ nhân quyền Nội dung chính của Học thuyết Obama được thể hiện gói gọn
ở hai luận điểm: sức mạnh thông minh và thế kỷ Thái Bình Dương Hai luận điểm này đã được chính quyền B.Obama đề cập và giải thích khá cụ thể Để đạt được những mục tiêu chiến lược của mình, Hoa Kỳ đã chuyển dịch trọng tâm chính sách đối ngoại của mình từ Trung Đông sang Châu Á – Thái Bình Dương Sự chuyển hướng trọng tâm này được thể hiện rỏ nét trong bài phát biểu chính sách Thế kỷ Thái Bình Dương của Hoa Kỳ được Ngoại trưởng Hilary Clinton công bố tháng 11/2011 Có thể nói, sự chuyển hướng sang Châu Á – Thái Bình Dương mang tính chiến lược của Hoa Kỳ là quyết định rất phù hợp với những nỗ lực nhằm đảm bảo
và củng cố sự lãnh đạo toàn cầu của Hoa Kỳ
2.1.2 Nhân tố bên ngoài
Châu Á – Thái Bình Dương trở thành trung tâm quyền lực mới trên lĩnh vực chính trị, kinh tế của thế giới; là nơi tập trung và diễn ra nhiều xung đột lợi ích, cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc và hiện đang đứng trước nhiều cơ hội
và thách thức trong ổn định an ninh và chính trị Khu vực Châu Á – Thái Bình
Dương ngày càng phát triển năng động, đóng vai trò là động lực phát triển của nền kinh tế thế giới, khu vực này chiếm 1/2 dân số toàn cầu (hơn 600 triệu dân sống ở Đông Nam Á), gồm nhiều quốc gia là đầu tàu của kinh tế thế giới Tính đến thời
Trang 29điểm năm 2008 – 2009 xuất khẩu của Châu Á – Thái Bình Dương chiếm 30% tổng lượng xuất khẩu của thế giới, kinh ngạch thương mại mỗi năm của khu vực Châu Á – Thái Bình Dương và Hoa Kỳ vượt 1000 tỉ USD Châu Á – Thái Bình Dương đang trở thành khu vực dẫn dắt chủ yếu nền chính trị toàn cầu Trải dài từ bán đảo Ấn Độ cho tới bờ Tây Hoa Kỳ, khu vực này nối liền hai biển lớn – Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, nơi mà tầm quan trọng của các tuyến hàng hải quốc tế cũng như các giá trị chiến lược khác ngày một gia tăng Quan trọng hơn hết là khu vực này đang tồn tại nhiều tổ chức cũng như diễn đàn lớn như ASEAN, ARF, ADMM+…, có vai trò ngày càng quan trọng trong quá trình hình thành cấu trúc khu vực mới Đây là quê hương các đồng minh chủ yếu của Hoa Kỳ và một số thế lực đang trỗi dậy gồm
có Ấn Độ và Indonesia, đặc biệt là sự trỗi đậy ngày càng mạnh mẽ, toàn diện của Trung Quốc Các quốc gia sở hữu hạt nhân ở Châu Á – Thái Bình Dương không ngừng tăng lên, sự theo đuổi của các tổ chức phi chính phủ đối với vũ khí hủy diệt hàng loạt và việc triển khai hệ thống phồng thủ tên lửa đạn đạo của Hoa Kỳ ở khu vực này đều có khả năng dẫn đến cuộc chạy đua vũ trang ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương đang gay gắt
Đông Nam Á càng có vai trò quan trọng trong chính sách đối ngoại của Hoa
Kỳ dười thời Tổng thống B.Obama Do khối ASEAN càng ngày phát triển về mọi
mặt, gia tăng vị thế của bản thân ở khu vực và trên thế giới; thể hiện rõ vai trò to lớn trong liên kết khu vực và xử lý các vấn đề liến quan và ảnh hưởng đến lợi ích của Hiệp hội Đồng thời, khu vực Đông Nam Á cũng trở thành địa bàn cạnh tranh quyết liệt của các nước lớn Về mặt tổng thể chiến lược toàn cầu của Hoa Kỳ ở Châu Á – Thái Bình Dương hiện nay thì Đông Nam Á vẫn chưa phải là ưu tiên cao nhất (vị trí này thuộc về Đông Bắc Á) Có thể nói, Đông Nam Á chính là vùng đất thể nghiệm tốt nhất cho chính sách sức mạnh thông minh và sự chuyển hướng trọng tâm sang Châu Á – Thái Bình Dương của Tổng thống B.Obama Trong giai đoạn cầm quyền của Tổng thống B.Obama vai trò của Đông Nam Á được điều chỉnh theo hướng gia tăng trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ Sự tăng trưởng nhanh chóng của các nước Đông Nam Á là nhân tố quan trọng làm tăng giá trị địa – chính trị của khu vực Đông Nam Á được xem là có đủ yếu tố để trở thành một thực thể quan trong trong hệ thống kinh tế thế giới ASEAN cũng nằm trong top 10 thế giới về thu hút
Trang 30đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Quan trọng hơn, Đông Nam Á là một đối tác kinh tế quan trọng đối với Hoa Kỳ Các nước ASEAN hiện là nơi tiếp nhận đầu tư của Hoa Kỳ nhiều hơn hẳn so với Trung Quốc hay Ấn Độ Đông Nam Á là nơi có tới gần 600 triệu dân, có khả năng đảm bảo cho Hoa Kỳ một thị trường rộng lớn không chỉ đối với thương mại mà còn đối với vấn đề giải quyết việc làm cho Hoa
Kỳ Với triển vọng loại bỏ hết các rào cản thương mại và tiến xa hơn là Cộng đồng kinh tế ASEAN vào năm 2015, khu vực Đông Nam Á nói chung đang trở thành nhân tố hấp dẫn đối với không chỉ Hoa Kỳ mà còn với các đối tác lớn trên thế giới Một biện pháp hết sức quan trọng với Hoa Kỳ để khôi phục và phát triển nền kinh tế đang trên đà giảm sút của Hoa Kỳ
Tuy nhiên, Đông Nam Á là khu vực mà Hoa Kỳ có thể tận dụng để phát triển kinh tế Với tinh thần trung lập, liên kết mạnh mẽ cũng như việc tạo được sự đồng thuận cao trong nhiều vấn đề khu vực và quốc tế giữa các quốc gia thành viên ASEAN đã góp phần đưa ASEAN trở thành một thực thể chính trị có tiếng nói ngày càng quan trọng trên trường quốc tế ASEAN được đánh giá là tổ chức hợp tác khu vực thành công nhất của các nước đang phát triển Các diễn đàn đa phương có xu hướng phát triển mạnh mẽ ở khu vực này, ASEAN đóng vai trò dẫn dắt hầu hết các diễn đàn mà các nước lớn cạnh tranh gay gắt ở đậy Vì vậy Hoa Kỳ nhận thấy cần phải tăng cường hợp tác với ASEAN, lôi kéo các nước ASEAN ủng hộ vai trò của Hoa Kỳ Bên cạnh đó, sự can dự của Hoa Kỳ ở khu vực này sẽ tạo cơ hội để Hoa
Kù tham gia vào quá trình định hình cấu trúc khu vực nhằm đảm bảo ảnh hưởng và
vị thế số một của Hoa Kỳ vẩn được duy trì tại đây
Tương quan lực lượng trên thế giới và ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương thay đổi theo hướng bất lợi cho Hoa Kỳ Nhất là sau khi khu vực thương mại tự do
Trung Quốc – ASEAN được ký kết, hợp tác kinh tế thương mại song phương giữa hai bên đã tăng lên nhanh chóng Trung Quốc trở thành một trong ba bạn hàng chủ chốt của ASEAN, tương đương với Nhật Bản và Hoa Kỳ Trung Quốc chủ động tham gia Hiệp ước Thân thiện và Hữu nghị (TAC) của ASEAN, lập quan hệ đối tác chiến lược với ASEAN, tương trợ và hợp tác khu vực, ủng hộ vai trò dẫn dắt của ASEAN trong nhiều cơ chế hợp tác khu vực Cùng với đó, Trung Quốc đã hết sức quan tâm khai thác ngoại giao văn hóa để tăng cường ảnh hưởng của mình ở khu
Trang 31vực Số liệu thống kê cho thấy, trong những năm gần đây Trung Quốc gia tăng việc trao đổi sinh viên với các nước trong khu vực, nhận và tài trợ cho một số lượng đông đảo sinh viên từ các nước này sang học ở Trung Quốc, tích cực tham gia các hoạt động giao lưu văn hóa nghệ thuật trong khu vực Những nỗ lực nói trên nhằm mục đích xác lập quyền lực mềm của Trung Quốc ở Đông Nam Á cùng với việc tăng cường quyền lực cứng của nước này trong bối cảnh đẩy mạnh những hoạt động quân sự tranh chấp ở Biển Đông Những động thái này đã tạo ra những lo lắng không hề nhỏ cho Hoa Kỳ
Khối ASEAN có vai trò, vị trí và tầm quan trọng của khu vực châu Á – Thái Bình Dương trong chiến lược toàn cầu và chính sách xoay trục của Hoa Kỳ ngày càng tăng lên theo thời gian ASEAN được đánh giá là tổ chức thành công nhất của
thế giới thứ ba bao gồm quốc gia có người Hồi giáo đông nhất thế giới là Indonesia,
do đó việc duy trì quan hệ và giúp đỡ ASEAN phát triển mạnh mẽ có lợi cho Hoa
Kỳ trong việc thúc đẩy quan niệm dân chủ, tự do ở các nước thứ ba và cải thiện quan hệ với các nước Hồi giáo ASEAN cũng là đối tác chủ yếu trong các vấn đề toàn cầu như cuộc chiến chống khủng bố, phổ biến vũ khí hạt nhân, biến đổi khí hậu, chính sách an ninh năng lượng và lương thực, hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thảm họa Hơn nữa khu vực này là nơi có nhiều tuyến đường biển quan trọng của thế giới như eo biển Malacca, biển Andaman và Biển Đông Các đồng minh chiến lược thân cận của Hoa Kỳ ở Đông Bắc Á như Nhật Bản, Hàn Quốc phụ thuộc sâu sắc vào tuyến thương mại này Trong chiến lược an ninh quân sự, biển Đông là một mắt xích trọng yếu trong quan hệ quân sự biển ở Châu Á, là nơi hỗ trợ đắc lực cho việc duy trì vành đai sắt khống chế Trung Quốc ở phía Đông, duy trì quan hệ đồng minh chiến lược của Hoa Kỳ ở Đông Á và Đông Nam Á Khu vực này cũng là nơi có trữ lượng tài nguyên thiên nhiên lớn, bao gồm dầu mỏ và khí đốt, và là một trong những nơi có nguồn tài nguyên sinh học đa dạng nhất trên hành tinh Đây chính là một lợi thế mà bất kỳ cường quốc công nghiệp nào cũng khó lòng bỏ qua Tóm lại, chính quyền B.Obama nhận thấy khu vực Đông Nam Á chứa đựng những cơ hội cũng như những thách thức vô cùng to lớn đối với Hoa Kỳ trong giai đoạn mới
Suy giảm về quyền lực mềm của Hoa Kỳ tại khu vực Đông Nam Á Kể từ khi
chiến tranh Việt Nam kết thúc, chưa bao giờ uy tín và hình ảnh của Hoa Kỳ bị suy
Trang 32giảm trong giai đoạn này Sau khi chính quyền Hoa Kỳ phát động hai cuộc chiến tranh ở Afghanistan và Iraq, tâm lý chống Hoa Kỳ ngày càng tăng cao tại nhiều quốc gia trên thế giới, không chỉ ở các nước Hồi giáo mà còn ở các nước đồng minh của Hoa Kỳ Sự thù hận của người dân ở hai nước này càng thổi bùng lên làn sống chống Hoa Kỳ và đây cũng là một trong những nguyên nhân làm gia tăng các vụ đánh bom liều chết Với việc Hoa Kỳ tiến hành cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu
sẽ không thể đi đến hồi kết trong thập niên tới nếu Hoa Kỳ vẫn còn tiếp tục kết hợp mục tiêu chống khủng bố với mục tiêu khác của mình Mặt khác, Hoa Kỳ “chưa tìm được tiếng nói chung giữa Hoa Kỳ với các nước trên thế giới về việc tìm hiểu nguồn gốc cũng như các giải pháp chống khủng bố hữu hiệu nhất” [31; tr.76]
Nguy cơ khủng bố và phổ biến vũ khí hạt nhân Hoa Kỳ đã phải gánh chịu hậu
quả và tác động nặng nề từ vụ khủng bố vào ngày 11/09/2001 Từ đó, Hoa Kỳ luôn
có chiến lược, lực lượng và ngân sách để chống khủng bố nhưng kết quả là khủng
bố càng gia tăng trên thực tế Do đó, Hoa Kỳ luôn nằm trong tầm ngắm và là mục tiêu số một của các tổ chức khủng bố Mặt khác, Hoa Kỳ cũng đẩy mạnh các biện pháp nhằm ngăn chặn sự phát triển của vũ khí hạt nhân nhưng chưa có hiệu quả cao,
cụ thể là Triều Tiên diễn ra quá trình phi hạt nhân tại nước này vẫn còn tồn tại nhiều yếu tố khó lường
Điều chỉnh nhận thức về vị trí địa – chiến lược của Myanmar “Myanmar
đóng vai trò như một ngã tư chiến lược về biển lẫn đất liền, tạo thành một điểm kết nối giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, nắm được Myanmar là nắm được một
ưu thế địa chính trị quan trọng” [25; tr 6] Myanmar nằm ở khu vực Đông Nam Á,
có chung đường biên giới với 5 nước: với Trung Quốc (2.185 km), Thái Lan (1.800 km), Ấn Độ (1.463 km), Lào (235 km) và Bangladesh (193 km) Trong đó, Ấn Độ chi phối khu vực biên giới Tây Myanmar, Trung Quốc ảnh hưởng tới khu vực phía Đông nước này, Thái Lan tiếp giáp hoàn toàn vùng phía Đông và rẻo nhỏ giáp Lào Lợi ích chiến lược từ vị trí địa lý rất cao, Myanmar đã trở thành cầu nối chiến lược giữa Nam và Đông Nam châu Á, nơi mà bất kỳ nước lớn nào, trong đó có Hoa Kỳ muốn gia tăng vị thế ở khu vực cũng phải tính đến nhân tố chiến lược Myanmar Myanmar còn tạo cho tuyến đường bộ và biển ngắn nhất trong việc tiếp cận với Nam Á, nâng cao vị thế của Trung Quốc, qua đó kiềm chế Ấn Độ, hạn chế ảnh
Trang 33hưởng của các nước lớn và hơn hết là mở cửa cho Trung Quốc gia tăng ảnh hưởng đến khu vực Đông Nam Á Đặc biệt, Myanmar là quốc gia nằm ven bờ Ấn Độ Dương mà vùng Ấn Độ Dương lại chiếm 50% tổng khối lượng vận tải đường biển bằng container và 70% khối lượng chuyển tải dầu mỏ Vậy nên, đây cũng là khu vực chịu sự rủi ro đặc biệt cao và là nơi tập trung phần lớn trong số 11 khu vực được coi là huyết mạch giao thông đường biển và là yết hầu kinh tế của nhiều nước
Bờ biển dài 1.930 km hình cánh cung từ phía Đông vịnh Belgan đến dựa eo biển Malacca, tiệp giáp Trung Quốc và Myanmar tạo cho nước này hình thành nên tuyến đường bộ và đường biển ngắn nhất, thuận lợi trong việc tiếp cận với Nam Á và nâng cao vai trò và vị thế của Trung Quốc ở Đông Nam Á
“Với diện tích 678.500 km2, gần 60 triệu dân và tiếng Anh là ngôn ngữ phổ biến tại Myanmar khiến các nhà đầu tư nước ngoài hầu như không gặp phải rào cản ngôn ngữ khi thực hiện các dự án đầu tư, thương mại tại Myanmar Có thể nói, Myanmar thực sự trở thành một mảnh đất thu hút mạnh mẽ các nhà đầu tư lớn trên thế giới” [25; tr.7]
Myanmar hiện là một trong những thị trường hiếm hoi còn lại hầu như chưa được khai thác với nguồn tài nguyên được đành giá có thể so sánh ngang với với quốc gia giàu tài nguyên của châu Á Ngoài ra, Myanmar là quốc gia có nguồn tài nguyên đa dạng, dồi dào trong đó là gỗ tếch chiếm 60% thế giới Về trữ lượng dầu
và khí đốt, Myanmar được đánh giá là “một trong những quốc gia có trữ lượng lớn nhất khu vực Đông Nam Á, với trữ lượng dầu khoảng 600 triệu thùng, và tổng trữ lượng khí đốt khoảng 88 nghìn tỷ khối feet (tcf) – chỉ ít hơn so với Indonesia Mới đây còn tìm thấy trữ lượng ở ba khu vực Vịnh Bengal – Mya, Shwe và Shwe Phyu (hay còn gọi là dự án Shwe) được ước tính giữ 5,7 – 10 nghìn tỷ khối feet (tcf)” [25; tr.7] Myanmar còn là một trong những khu vực lớn nhất thế giới khai thác đá quý, vàng, nguyên tố hiếm, ngọc trai… đều có trữ lượng rất lớn và hầu như mới chỉ mới bắt đầu khai thác Với vị trí địa – chiến lược và nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú như vậy rõ ràng khi Hoa Kỳ thự hiện chính sách xoay trục về châu Á không thể không tính tới yếu tố Myanmar Thực hiện một chính sách đúng đắn với Myanmar, không chỉ giúp Hoa Kỳ có thêm lợi ích về kinh tế – thương mại, mà quan trọng hơn còn có lợi cho Hoa Kỳ trong việc gia tăng quan hệ với Ấn Độ cũng như trong