1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phong trào cách mạng quốc gia trong chính thể đệ nhất việt nam cộng hòa 1955 1963

94 10 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 8,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù đã có một số công trình nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến thời Ngô Đình Diệm, nhưng cho đến nay vẫn chưa có tác giả nào tập trung nghiên cứu về Phong trào Cách mạng Quốc gia,

Trang 2

MSSV: 1321402180077 Lớp: D13LSVN

Bình Dương, Tháng 4 năm 2017

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1.Lý do chọn đề tài 1

2.Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3.Mục tiêu đề tài 5

4.Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 6

5.Phương pháp nghiên cứu 6

6.Nguồn tài liệu 7

7.Đóng góp của đề tài 7

8.Bố cục đề tài 8

PHẦN NỘI DUNG 9

CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHẾ ĐỘ ĐỆ NHẤT VIỆT CỘNG HÒA Ở MIỀN NAM VIỆT NAM (1955-1963) 9

1.1.QUÁ TRÌNH XÁC LẬP CHÍNH QUYỀN ĐỆ NHẤT VIỆT NAM CỘNG HÒA Ở MIỀN NAM VIỆT NAM 9

1.1.1.Hoa Kỳ loại bỏ Pháp và các phần tử thân Pháp khỏi miền Nam Việt Nam 9

1.1.2.Quá trình xác lập chính quyền Đệ Nhất Việt Nam Cộng hòa 13

1.2.KHÁI QUÁT HỆ THỐNG CÁC CHÍNH SÁCH CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỆ NHẤT VIỆT NAM CỘNG HÒA 15

1.2.1.Chính sách Kinh tế - Chính trị 16

1.2.2.Chính sách Quân sự- Ngoại giao 19

1.2.3.Chính sách Văn hóa- Xã hội 21

1.3.QUÁ TRÌNH SỤP ĐỔ CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỆ NHẤT VIỆT NAM CỘNG HÒA 23

1.3.1.Khủng hoảng của chính quyền Ngô Đình Diệm 23

1.3.2.Nhân dân miền Nam đấu tranh chống Mỹ- Diệm 25

1.1.3 Sự sụp đổ của chính quyền Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam năm 1963 28

CHƯƠNG II: PHONG TRÀO CÁCH MẠNG QUỐC GIA TRONG CHÍNH THỂ ĐỆ NHẤT VIỆT NAM CỘNG HÒA (1955-1963) 32

2.1 TỔ CHỨC PHONG TRÀO CÁCH MẠNG QUỐC GIA TRONG CHÍNH PHỦ NGÔ ĐÌNH DIỆM 32

Trang 4

2.1.1 Sự thành lập của Phong trào Cách mạng Quốc gia 32

2.1.1.1 Mục tiêu hoạt động của Phong trào Cách mạng Quốc gia 33

2.1.1.2 Cách thức gia nhập Phong trào Cách mạng Quốc gia 33

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Phong trào Cách mạng Quốc gia 35

2.1.2.1 Các cơ quan của Phong trào Cách mạng Quốc gia 39

2.1.2.2 Các đoàn thể phụ thuộc của Phong trào Cách mạng Quốc gia………… 40

2.1.3 Đường lối hoạt động của Phong trào Cách mạng Quốc gia 40

2.2 MỐI QUAN HỆ CỦA PHONG TRÀO CÁCH MẠNG QUỐC GIA VỚI CÁC ĐOÀN THỂ KHÁC 45

2.2.1 Đảng Cần Lao Nhân Vị 45

2.2.2 Liên đoàn Công chức Cách mạng Quốc gia và Thanh niên Cộng Hòa 47

2.2.3 Tổng Liên đoàn Lao công 50

2.2.4 Phong trào Cách mạng Quốc gia trong Quốc hội Việt Nam Cộng hòa 52

CHƯƠNG III: VAI TRÒ CỦA PHONG TRÀO CÁCH MẠNG QUỐC GIA TRONG CHÍNH THỂ ĐỆ NHẤT VIỆT NAM CỘNG HÒA (1955-1963) 55

3.1.VAI TRÒ CỦA PHONG TRÀO CÁCH MẠNG QUỐC GIA TRONG LĨNH VỰC CHÍNH TRỊ- XÃ HỘI CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỆ NHẤT VIỆT NAM CỘNG HÒA 55

3.1.1.Về Chính trị 55

3.1.2.Về Xã hội 57

3.2.TÁC ĐỘNG CỦA PHONG TRÀO CÁCH MẠNG QUỐC GIA ĐỐI VỚI CHÍNH QUYỀN NGÔ ĐÌNH DIỆM 60

3.2.1.Tác động tích cực 60

3.2.2.Tác động tiêu cực 62

KẾT LUẬN 65

TÀI LIỆU THAM KHẢO 67

PHỤC LỤC ẢNH 72

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sau thất bại của thực dân Pháp ở Điện Biên Phủ (7-5-1954), Hoa Kỳ cho rằng Pháp

đã thất bại trong việc thực hiện “chính sách ngăn chặn Chủ nghĩa Cộng sản” nên quyết định gạt bỏ Pháp để trực tiếp can thiệp vào miền Nam Việt Nam Hoa Kỳ đưa Ngô Đình Diệm về nước, trong hai năm (1954-1955), Hoa Kỳ gấp rút củng cố chỗ đứng và hậu thuẫn cho Ngô Đình Diệm tiến hành truất phế Bảo Đại, dựng lên chế độ Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam Việt Nam do Ngô Đình Diệm làm Tổng thống

Từ năm 1955, Hoa Kỳ đưa đội ngũ cố vấn sang miền Nam Việt Nam giúp Diệm xây dựng lực lượng quân sự và bộ máy “nhà nước” Đến năm 1958, về cơ bản bộ máy nhà nước do Diệm đứng đầu đã được xây dựng tương đối hoàn chỉnh, với đầy đủ các thiết chế từ cơ quan Lập pháp đến Hành pháp và Tư pháp

Chế độ Việt Nam Cộng hòa thời kỳ Ngô Đình Diệm đứng đầu là giai đoạn lịch sử

có nhiều vấn đề đặt ra nhất, cần được các nhà khoa học quan tâm và nghiên cứu.Trong những năm qua, nhiều nhà sử học, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã tập trung nghiên cứu về thời kỳ này.Tuy nhiên, cho đến nay vẫn còn tồn tại những khoảng trống chưa được nghiên cứu và cả những vấn đề cần được nghiên cứu, đánh giá lại

Để có thể tồn tại được, trong những năm đầu cầm quyền ở miền Nam Việt Nam, chính quyền Diệm chỉ đạo thành lập Phong trào Cách mạng Quốc gia Cùng với Đảng Cần lao, hai tổ chức này từng bước dấn sâu vào hoạt động lũng đoạn chế độ Phong trào Cách mạng Quốc gia tập hợp lực lượng từ các tổ chức đoàn thể xung quanh nó nhằm tạo dựng cơ sở xã hội cho chế độ, giúp anh em Diệm nêu cao được ngọn cờ “dân chủ giả hiệu”, thâu tóm quyền lực, tiêu diệt các lực lượng chống đối Phong trào Cách mạng Quốc gia đã gây ra những tác động đa chiều đối với chính trị- xã hội của miền Nam Việt Nam nhằm phục vụ cho mưu đồ chính trị và lợi ích của Mỹ- Diệm

Phong trào Cách mạng Quốc gia trực tiếp can dự vào nhiều hoạt động của chính quyền Diệm cũng như tham gia hoạch định các quốc sách của chế độ Việt Nam Cộng hòa giai đoạn 1955- 1963 Tại sao tạo điều kiện thuận lợi để Phong trào Cách mạng Quốc gia tham gia các hoạt động đó? Vai trò của Phong trào Cách mạng Quốc gia trong chính quyền Diệm như thế nào? Những tác động mà Phong trào Cách mạng Quốc gia để lại cho chính quyền Diệm ra sao? Đó là những vấn đề cần được nghiên cứu và làm rõ

Trang 6

Mặc dù đã có một số công trình nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến thời Ngô Đình Diệm, nhưng cho đến nay vẫn chưa có tác giả nào tập trung nghiên cứu về Phong trào Cách mạng Quốc gia, vai trò và những tác động của nó trong chính quyền Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa Do đó, để làm rõ vấn đề này, chúng tôi quyết định chọn đề tài

“Phong trào Cách mạng Quốc gia trong chính thể Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa 1963)” Qua đó, tìm hiểu, phân tích và làm rõ những hoạt động, các vai trò, tác động

(1955-mà Phong trào Cách mạng Quốc gia đem lại cho chính quyền trong quá trình tạo dựng

cơ sở chính trị- xã hội và thâu tóm quyền lực cho anh em Diệm

Việc nghiên cứu đề tài “Phong trào Cách mạng Quốc gia trong chính thể Đệ nhất

Việt Nam Cộng hòa (1955-1963)” là cần thiết, qua đó làm phong phú hơn cho nguồn

tài liệu để các nhà nghiên cứu tiếp tục thực hiện những đề tài liên quan đến các vấn đề

về các tổ chức chính trị- xã hội, chế độ Việt Nam Cộng hòa

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nghiên cứu về chính quyền Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa cùng với các tổ chức chính trị- xã hội khác trong thời kỳ này đã thu hút được quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Tính đến thời điểm hiện tại đã có nhiều công trình tiêu biểu đề cập đến chính quyền Diệm cùng các tổ chức ngoại vi khác như:

Tác giả Trần Văn Giàu với tác phẩm Miền Nam giữ vững thành đồng, Tập I, nằm trong bộ sách Miền Nam giữ vững Thành Đồng do nhà xuất bản Quân đội nhân dân,

Hà Nội phát hành năm 2006 Tác phẩm nghiên cứu về sự kết thúc của chiến tranh Đông Dương và thành công của Hội nghị Genève; quá trình Ngô Đình Diệm thiết lập

và duy trì chế độ độc tài cá nhân, từ chối hiệp thương.Nhân dân miền Nam đấu tranh chống độc tài, khủng bố, đòi hiệp thương tổng tuyển cử để thống nhất nước nhà.Trong tác phẩm có nhiều tư liệu quý về các tổ chức chính trị và chức nghiệp được thành lập

để làm hậu thuẫn cho chế độ Diệm.Tuy nhiên, tác phẩm có đề cập đến Phong trào Cách mạng Quốc gia nhưng chưa đi sâu vào tìm hiểu vai trò của tổ chức này trong chính quyền Diệm Khai thác tác phẩm này, giúp tôi gợi mở được nhiều vấn đề liên quan đến Phong trào cách mạng Quốc gia và chính quyền Ngô Đình Diệm

Tác phẩm Lịch sử Việt Nam 1954- 1965 do Viện Sử học nghiên cứu và Nxb Khoa

học Xã hội, Hà Nội phát hành năm 2014 đã cung cấp những tư liệu quan trọng về sự thay thế từ chế độ thuộc địa của Pháp sáng chế độ lệ thuộc Mỹ, sự thống trị của chính quyền Sài Gòn đối với miền Nam Việt Nam Đồng thời, tác phẩm có đề cập đến quá

Trang 7

trình thâu tóm quyền lực của Ngô Đình Diệm và phe cánh, dưới sự giúp sức của các tổ chức chính trị- xã hội trong chính quyền Đệ Nhất Việt Nam Cộng hòa Tuy nhiên, việc

đề cập các sự kiện này còn rất khái quát

Tác giả Hoàng Linh Đỗ Mậu với Hồi ký “Tâm sự tướng lưu vong – Việt Nam máu

lửaquê hương tôi”, Hồi ký được xuất bản năm 1991 bởi Nhà xuất bản Công an Nhân

dân Tác giả Đỗ Mậu là một tâm phúc của Ngô Đình Diệm, là Giám đốc An Ninh Quân đội Sài Gòn… Do đó, ông có điều kiện tiếp xúc và hiểu biết gần như tường tận

về chính quyền Ngô Đình Diệm Hồi ký đã vạch ra được sự thật sinh động về các sự kiện, các lực lượng chính trị, các tôn giáo đảng phái, những bộ mặt chính khách, tướng

tá tiêu biểu trong chính trường miền Nam suốt cả một giai đoạn dài Ngoài ra, người viết còn nêu lên một số vấn đề liên quan đến chế độ gia đình trị của anh em Diệm, những chính sách độc tài mà gia đình và phe cánh của Diệm đã thực thi trong thời kỳ này Hồi ký đã cung cấp những tư liệu xác thực về những thất bại tiêu biểu chế độ Diệm, trong đó, có hai tổ chức ngoại vi trực thuộc Phong trào Cách mạng Quốc gia là: Liên đoàn Công chức Cách mạng Quốc gia và Thanh niên Cộng hòa Tiếp cận với Hồi

ký của Đỗ Mậu đã giúp chúng tôi có cái nhìn đa chiều hơn về chế độ Diệm và các tổ chức ngoại vi, góp phần làm cho nguồn tài liệu phục vụ cho bài nghiên cứu thêm phong phú hơn

Tác phẩm Liên minh sai lầm: Ngô Đình Diệm, Mỹ và số phận Nam Việt Nam của

tác giả Edweard Miller, được nhà xuất bản Chính trị Quốc gia phát hành năm 2016 Trên cơ sở tiếp cận nguồn tài liệu lưu trữ ở Việt Nam, Pháp và Hoa kỳ tác giả cung cấp cho độc giả nhiều tư liệu vô cùng quý giá về cuộc chiến tranh Việt Nam.Nhìn nhận chiến tranh Việt Nam với tư cách là một học giả nước ngoài, Edweard Miller đã phác họa rõ nét và đa chiều hình ảnh Ngô Đình Diệm và đưa ra một cách giải thích riêng về mối quan hệ giữa Ngô Đình Diệm với Hoa Kỳ Trong tác phẩm này, người viết có đề cập đến sự xuất hiện của một tổ chức mới có tên Phong trào Cách mạng Quốc gia trong chính quyền Diệm Phong trào cách mạng Quốc gia trở thành một phương tiện quan trọng để thực thi các chính sách của Tổng thống Diệm, góp phần giữ vững chế độ.Tác phẩm góp phần giúp chúng tôi làm rõ được những đóng góp và vai trò của Phong trào trong bài làm của mình

Nguyễn Khắc Viện (2008), Miền Nam Việt Nam từ sau Điện Biên Phủ (Diệu Bình

dịch), Nxb Trí Thức Qua góc nhìn của một nhà báo, tác giả viết về miền Nam Việt

Trang 8

Nam từ sau chiến thắng Điện Biên Phủ (1954 – 1963) Tác phẩmMiền Nam Việt Nam

từ sau Điện Biên Phủ là một thiên phóng sự dài và tư liệu chủ yếu được trích dẫn từ

nguồn báo chí xuất bản tại Pháp Qua tác phẩm, Nguyễn Khắc Viện đã khéo kết hợp các nhận xét tinh tế của bản thân với cách phân tích sâu sắc về con người miền Nam Việt Nam sau chiến thắng Điện Biên Phủ, sự can thiệp của Mỹ, những hành động vụ lợi của Chính quyền Diệm và những cố gắng của nhân dân Việt Nam để thi hành Hiệp định Genève Nhiều vấn đề được tác giả trình bày mang tính thời sự, với nguồn tư liệu chủ yếu từ các báo, tạp chí xuất bản ở Pháp và một số nước Tác phẩm cung cấp một

số tài liệu có giá trị về chế độ Đệ Nhất Việt Nam Cộng hòa qua hoạt động kinh tế, văn hóa và xã hội, hoạt động đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân miền Nam để chúng tôi vận dụng hoàn thành tốt đề tài của mình

Ngoài ra, còn một số công trình nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân miền Nam trong thời kỳ 1954 – 1975, có đề cập đến các vấn đề liên quan trực tiếp các tổ chức chính trị- xã hội và chế độ Việt Nam Cộng hòa như: Tác

phẩm Cuộc xâm lăng về văn hóa và tư tưởng của đế quốc Hoa Kỳ tại miền Nam Việt

Nam, Nxb.Văn hóa, 1985, của Lữ Phương ; Tác giả Nông Huyền Sơn(2009) với tác

phẩm Cái chết của anh em nhà họ Ngô, Nxb Công an nhân dân; Tác giả Đoàn Thêm (1969) với tác phẩm Những ngày chưa quên (1954 – 1963); Tác giảĐỗ Thọ (1970) với

Nhật ký Đỗ Thọ, Nxb Đồng Nai Sài Gòn; Tác giả Nguyễn Đình Tiên (1978) với sách Chân dung tướng Ngụy Sài Gòn, Nxb Quân đội nhân dân; Tác giả Trần Tam Tỉnh

(1988) với sáchThập giá và lưỡi gươm, Nxb.Trẻ… Những bài viết này đã phần nào đề

cập đến chế độ Đệ Nhất Việt Nam Cộng hòa, vai trò, ảnh hưởng của Phong trào Cách mạng Quốc gia trong chính quyền Diệm… Do đó, những tác phẩm, công trình nghiên cứu này phục vụ thiết thực cho bài nghiên cứu của chúng tôi

Nhìn chung, tất cả các công trình nghiên cứu ở trên đã đề cập ở nhiều mức độ khác nhau về vấn đề chính quyền Đệ Nhất Việt Nam Cộng hòa (1955- 1963), Phong trào Cách mạng Quốc gia và các tổ chức ngoại vi khác Có tài liệu nói khá chi tiết một vấn

đề nào đó, có tài liệu chỉ nêu lên dạng một cách khái quát.Song, tất cả đều rất cần thiết

và có ích đối với bài nghiên cứu của chúng tôi Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có

một tác giả nào tập trung nghiên cứu về đề tài “Phong trào cách mạng Quốc gia trong

chính thể Đệ Nhất Việt Nam Cộng hòa (1955- 1963)” chúng tôi hy vọng sẽ có những

Trang 9

đóng góp mới mẻ, thiết thực cho quá trình nghiên cứu và tìm hiểu về chính quyền Ngô Đình Diệm trong lịch sử Việt Nam

3 Mục tiêu đề tài

Với đề tài: “Phong trào cách mạng Quốc gia trong chính thể Đệ Nhất Việt Nam Cộng hòa (1955- 1963)”,mục tiêu của đề tài tập trung làm rõ những nội dung chủ yếu sau đây:

Khái quát sơ lược về chế độ Việt Nam Cộng hòa giai đoạn 1955-1963 nhằm giúp người đọc hình dung cụ thể và có cái nhìn cơ bản về chế độ, từ quá trình hình thành đến những khủng hoảng mà chế độ đối mặt dẫn đến sự sụp đổ năm 1963 và các chính sách về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, đối ngoại của chính quyền Ngô Đình Diệm Trình bày về quá trình thành lập, mục tiêu hoạt động, cách thức gia nhập, cơ cấu tổ chức và các cơ quan, tổ chức đoàn thể của Phong trào Cách mạng Quốc gia.Ngoài ra còn nêu lên được mối quan hệ giữa Phong trào Cách mạng Quốc gia với các tổ chức ngoại vi trong chính quyền Đệ Nhất Việt Nam Cộng hòa

Đánh giá vai trò của Phong trào Cách mạng Quốc gia trên lĩnh vực chính trị- xã hội.Đồng thời, phân tích tác động tích cực và tiêu cực của Phong trào này đối với sự tồn tại của chính quyền Đệ Nhất Việt Nam Cộng hòa

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

 Đối tượng nghiên cứu

Với đề tài “Phong trào Cách mạng Quốc gia trong chính thể Đệ Nhất Việt

Nam Cộng hòa (1955-1963)”, đối tượng nghiên cứu chủ yếu là Phong trào Cách mạng

Quốc gia trong chính thể Việt Nam Cộng hòa giai đoạn 1955 đến 1963

 Phạm vi nghiên cứu

Về không gian: Đề tài sẽ nghiên cứu tập trung vào chế độ Ngô Đình Diệm ở

miền Nam Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu về thời gian của đề tài: Ngày 23 tháng 10 năm 1955,

Ngô Đình Diệm phế truất Bảo Đại và thiết lập chế độ Việt Nam Cộng hòa Chính vì vậy, mốc thời gian nghiên cứu của đề tài là từ khi chế độ Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa thành lập 1955 và đến khi chế độ này bị đảo chính lật đổ vào năm 1963

Trang 10

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu tổng thể là dựa vào phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng với các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Việt Nam về vấn đề chiến tranh và cách mạng, về vấn đề dân tộc

và giai cấp

Phương pháp nghiên cứu: Để thực hiện đề tài “Phong trào Cách mạng Quốc gia trong chính thể Đệ Nhất Việt Nam Cộng hòa” (1955-1963) phương pháp chủ yếu là phương pháp lịch sử và phương pháp logic

Phương pháp lịch sử được sử dụng khi chúng tôi xem xét và trình bày quá trình phát triển của các sự kiện, vấn đề theo một trình tự liên tục về thời gian để làm rõ điều kiện, đặc điểm ra đời của Phong trào Cách mạng Quốc gia

Phương pháp logic, kết hợp, xâu chuỗi các sự kiện một cách linh hoạt để có thể trình bày vấn đề một cách tương đối đầy đủ, hệ thống Đồng thời, qua đó xác định độ tin cậy và giá trị của các sự kiện cũng như làm rõ được quá trình ra đời, cơ cấu tổ chức, hoạt động về sự phức tạp, đa chiều của Phong trào cách mạng quốc gia

Phương pháp phân tích, tổng hợp sử dụng khi chúng tôi tổng hợp các thông tin

có trong các nguồn tài liệu để trình bày vấn đề theo hệ thống Phương pháp này còn được chúng tôi vận dụng khi lựa chọn, phân tích giá trị của các sự kiện liên quan đến

đề tài

Ngoài ra phương pháp so sánh được chúng tôi sử dụng khi so sánh giữa đối tượng này với đối tượng khác trong những điều kiện, hoàn cảnh xác định chi phối chúng.Qua đó nhằm giúp người đọc nhìn rõ nét tương đồng và sự khác biệt trong mối quan hệ giữa các thực thể

6 Nguồn tài liệu

Để thực hiện tốt đề tài, Phong trào cách mạng Quốc gia trong chính thể Đệ

Nhất Việt Nam Cộng hòa (1955- 1963)”chúng tôi sử dụng các nguồn tài liệu chủ yếu

sau:

Tài liệu lưu trữ tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia II: Các phông tài liệu của chính quyền Việt Nam Cộng hòa (1954 - 1975) lưu giữ tại Trung tâm lưu trữ quốc gia II Đó

là các Sắc luật, Sắc lệnh, Thông tư, Quyết định, …Trong đó có cả những tài liệu mật

Tài liệu xuất bản ở Thư viện Khoa học Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh; thư viện tỉnh Bình Dương; thư viện trường Đại học Thủ Dầu Một Đó là các sách báo: Những

Trang 11

công trình nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam của các tác giả trong và ngoài nước Các bài viết liên quan đến nội dung đề tài đăng trên các báo, tạp chí…Hồi ký của các chính trị gia, tướng lĩnh Việt Nam Cộng hòa

Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng tài liệu từInternet

7 Đóng góp của đề tài

Bổ sung tư liệu, tài liệu về chế độ Đệ Nhất Việt Nam Cộng hòa nói chung và Phong trào Cách mạng Quốc gia nói riêng; đặc biệt là nguồn tư liệu mới từ khối tài liệu gốc của chính quyền Việt Nam Cộng hòa

Kết quả đề tài có thể cung cấp thông tin những bài học kinh nghiệm về công tác xây dựng, tổ chức và hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội ở Việt Nam hiện nay Kết quả nghiên cứu đề tài có thể là nguồn tư liệu để tham khảo trong công tác giảng dạy, học tập, nghiên cứu của giảng viên và sinh viên chuyên ngành Lịch sử Trường Đại học Thủ Dầu Một

- Chương 3: Đánh giá vai trò của Phong trào Cách mạng Quốc gia trong chính

thể Đệ Nhất Việt Nam Cộng hòa (1955-1963)

Trang 12

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I KHÁI QUÁT CHẾ ĐỘ ĐỆ NHẤT VIỆT CỘNG HÕA Ở MIỀN NAM VIỆT

NAM (1955-1963)

HÒA Ở MIỀN NAM VIỆT NAM

1.1.1 Hoa Kỳ loại bỏ Pháp và các phần tử thân Pháp khỏi miền Nam Việt Nam

Hoa Kỳ từ lâu đã coi miền Nam Việt Nam là địa bàn quan trọng trong chiến lược chống sự lan rộng của chủ nghĩa cộng sản tại Đông Nam Á và đã viện trợ tích cực cho Pháp chống lại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Trước sự thất thủ của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ (7-5-1954),tại Hội nghịGenève, phái đoàn Hoa Kỳ tham dự Hội nghị Giơnevơ với nhiệm vụ chính tập trung vào giải quyết vấn đề sau chiến tranh ở

Triều Tiên Đối với vấn đề Đông Dương, Bộ trưởng ngoại giao Hoa Kỳ tuyên bố: “Tốt

nhất là để người Pháp rút ra, sau đó chúng ta sẽ thiết lập một nền tảng mới”[33;103]

và thi hành chỉ thị của chính phủ Mỹ là không sẵn sàng tham gia vào bản tuyên bố và những ràng buộc của Hội nghịGenève

Nhân cơ hội Pháp thua trận và phải kí Hiệp định Genève, Hoa Kỳ liền tăng cường lực lượng thế chân Pháp ở Đông Dương, dùng viện trợ gây sức ép với Pháp và buộc Quốc trưởng Bảo Đại đưa Ngô Đình Diệm đang lưu vong ở nước ngoài về Việt Nam Đồng thời, bổ nhiệm Diệm làm Thủ tướng thay thế Bửu Lộc- hành động được coi là động thái quan trọng mở đầu quá trình can thiệp trực tiếp của Hoa Kỳ vào Việt Nam Ngày 16/06/1954, Quốc trưởng Bảo Đại ký sắc lệnh số 38-QT bổ nhiệm Ngô Đình Diệm làm Thủ tướng Quốc gia Việt Nam với toàn quyền quyết định những công việc quan trọng mà không cần xin phép Quốc trưởng

Ngày 25/06/1954 Ngô Đình Diệm về nước vàđến ngày 6/7/1954 cho thành lập chính phủ mới, việc đưa Ngô Đình Diệm lên ghế Thủ tướng ở Sài Gòn là một thắng lợi chính trị lớn của Hoa Kỳ đối với Pháp Bảo Đại vẫn là “Quốc trưởng”, vẫn là tay chân của Pháp, tiếp tục nằm lỳ bên Pháp và thực tế không có chút quyền hành nào hết Mọi quyền lực đều tập trung vào tayThủ tướng Diệm, mặc dù chính “Quốc trưởng” chỉ định Thủ tướng Và sự thật là Ngô Đình Diệm đã trở thành tay sai đắc lực cho Hoa Kỳ,

từ đây Hoa Kỳ từng bước loại bỏ Pháp và tay chân của Pháp ở miền Nam Việt Nam

Trang 13

Một biện pháp quan trọng mà Hoa Kỳ thực hiện nhằm từng bước hất cẳng Pháp

là cần trực tiếp nắm lấy quân đội và chính quyền Sài Gòn, biến các tổ chức này thành công cụ xâm lược của Hoa Kỳ Để hất cẳng Pháp khỏi Đông Dương, Hoa Kỳtrực tiếp viện trợ cho chính quyền Sài Gòn không chuyển qua tay Pháp nữa và trực tiếp chỉ huy, huấn luyện quân đội Sài Gòn Thêm vào đó, Hoa Kỳloại bỏ Bảo Đại và buộc quân Pháp rút khỏi miền Nam Việt Nam.Hoa Kỳ quyết tâm biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới của mình

Sau một thời gian ngắn, Hoa Kỳđã tạo dựng được một chính phủ thân Hoa Kỳtại Sài Gòn Ngày 8/9/1954, Hoa Kỳlập ra “Tổ chức Hiệp ước phòng thủ Đông Nam Á” (SEATO) với mục đích ngăn chặn “làn sóng đỏ” tràn xuống phương Nam, đặt miền Nam Việt Nam, Lào, Campuchia dưới chiếc ô bảo hộ của Hoa Kỳvà biến nơi đây

thành căn cứ quân sự mới.“Với những chuỗi các sự kiện trên, Mỹ đã hoàn toàn hất

cẳng Pháp ra khỏi miền Nam Việt Nam, mở đầu giai đoạn chủ nghĩa thực dân mới với việc Mỹ trực tiếp xâm lược Việt Nam”.[38; 31]

Để hợp pháp hóa sự hiện diện của Hoa Kỳ ở miền Nam Việt Nam, Ngô Đình Diệm yêu cầu Hoa Kỳ giúp đỡ trực tiếp không thông qua Pháp Bằng thủ đoạn này, Hoa Kỳ đã “nhảy” vào miền Nam Việt Nam mà vẫn đảm bảo được các yếu tố “hợp pháp”, với danh nghĩa vào giúp đỡ đồng minh, hòng che đậy âm mưu xâm lược miền Nam Việt Nam và từng bước độc quyền chi phối miền Nam Việt Nam Hoa Kỳ gấp rút đầu tư xây dựng và củng cố chính quyền Ngô Đình Diệm, lấy đó làm chỗ dựa chủ yếu

để áp đặt chủ nghĩa thực dân mới Ngoại trưởng Hoa Kỳ J.F Dulles tuyên bố: “Nước

Mỹ nhằm, về chính trị, bảo toàn và củng cố chính phủ Ngô Đình Diệm, về quân sự, xây dựng một quân đội Việt Nam được tập luyện và trang bị hơn”.[36;713]

Việc đầu tiên Hoa Kỳ giúp chính quyền Diệm loại dần các phần tử thân Pháp như Nguyễn Văn Hinh- Tổng tham mưu trưởng quân đội Quốc gia Việt Nam Ngô Đình Diệm cử Hinh đi công cán ở Pháp trong 6 tháng nhưng Hinh không đi với lý do Thủ tướng không có quyền điều động tham mưu trưởng Ngày 9/10/1954, Ngô Đình Diệm cách chức Nguyễn Văn Hinh, Hinh không tuân lệnh, cho rằng chỉ Quốc trưởng mới có đủ thẩm quyền cách chức Tổng tham mưu trưởng Hinh và các tướng tá thân Pháp chuẩn bị kế hoạch lật đổ chính phủ Diệm, Pháp bí mật ủng hộ, Hoa Kỳ phản đối

và tuyên bố thẳng với Thủ tướng Pháp P.M France:“Nếu Pháp không ủng hộ Diệm,

Hoa Kỳ sẽ cắt viện trợ cho Pháp”[39;27], Pháp buộc phải nhượng bộ Ngày

Trang 14

20/11/1954 Nguyễn Văn Hinh buộc phải sang Pháp sống lưu vong, Ngô Đình Diệm cử thiếu tướng Lê Văn Tỵ làm Tổng tham mưu trưởng quân đội Quốc gia Việt Nam

Chính phủ mới của Ngô Đình Diệm vừa ra đời đã vấp phải những xung đột mạnh mẽ đối với các giáo phái gọi là “tam liên” (Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên) chống lại chính phủ Diệm Các lực lượng này liên kết với nhau lập ra “Mặt trận thống nhất toàn lực Quốc gia”, tổ chức này đòi quyền tham chánh và ngày 21/03/1955, ép Thủ tướng Ngô Đình Diệm phải thay đổi nội các trong vòng năm ngày (trước ngày 26/3) Được sự ủng hộ của Hoa Kỳ, Diệm không cải tổ nội các

Các lực lượng của Ngô Đình Diệm đánh nhau ác liệt với lực lượng Hòa Hảo ở vùng Hậu Giang và đánh nhau với lực lượng Bình Xuyên ngay tại Sài Gòn Được sự

hỗ trợ của Hoa Kỳ, phần thắng thuộc về Ngô Đình Diệm, lãnh tụ Bình Xuyên Lê Văn Viễn được bí mật đưa sang Pháp Ngày 26/04/1954 Diệm ra lệnh cách chức Lại Văn Sang (một thủ lĩnh của Bình Xuyên) là Tổng giám đốc Cảnh sát- Công an, cử Nguyễn Ngọc Lễ vào thay thế nhưng Sang không đồng ý, ông muốn có lệnh của Quốc trưởng Bảo Đại ông mới tuân thủ lệnh của Ngô Đình Diệm Các lực lượng quân đội Hòa Hảo

và Bình Xuyên lần lượt tan rã

Trước những hành động của Ngô Đình Diệm trong nước, Quốc trưởng Bảo Đại

ra lệnh cho Diệm sang Pháp hội kiến nhưng Diệm không những không qua hội kiến

mà còn triệu tập Hội đồng nội các để lấy các ý kiến bác bỏ lệnh triệu tập của Bảo Đại Tiếp đó, Ngô Đình Diệm cho triệu tập họp bất thường, dùng danh nghĩa “Đại hội các lực lượng quốc gia” lập kiến nghị phế truất Bảo Đại, lập ra “Hội đồng nhân dân Cách mạng” để đề xướng việc nhân dân phế truất Bảo Đại

Đối với lực lượng Cao Đài do hai tướng Trình Minh Thế và Nguyễn Thành Phương chỉ huy lúc đầu “án binh bất động”, nhưng sau bị Ngô Đình Diệm mua chuộc

và nhận thấy không thể chống lại đươc quân chính phủ nên lực lượng này quy thuận chính phủ Diệm nên tránh đụng độ với quân chính phủ

Các lực lượng Đại Việt ở Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Phú Yên, Quốc dân Đảng ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Kon Tum cũng bị Ngô Đình Diệm dùng

vũ lực tiêu diệt Các thế lực thân Pháp chống đối ở miền Nam Việt Nam hầu như đã bị chính phủ Ngô Đình Diệm thanh toán, trên con đường thâu tóm quyền hành của Diệm, Quốc trưởng Bảo Đại- vật cản cuối cùng đại diện cho thế lực của Pháp ở miền Nam Việt Nam đã được Hoa Kỳ đặt sẵn trong kế hoạch “phế truất” của Ngô Đình Diệm

Trang 15

Việc gạt bỏ rào cản Bảo Đại bằng sách lược đã được Hoa Kỳ tính toán từ năm 1954 bằng việc tổ chức một cuộc “trưng cầu dân ý” gian lận nhằm hợp thức hóa quyền lực của chính quyền Sài Gòn tại miền Nam Việt Nam

Ngày 15/02/1955, Ngô Đình Diệm ban hành Dụ số 11 “Thiết lập Quốc hội lâm thời cho nước Việt Nam”, chính thức xác lập ở miền Nam Việt Nam “một quốc gia riêng biệt”- hành động vi phạm trắng trợn và ngang nhiên Hiệp định Genève Vài tháng sau, Ngô Đình Diệm tuyên bố giải tán chính phủ do Bảo Đại lập ra trước đây và dựng lên chính phủ mới, các đại diện “dân cử” họp đồng “đồng thanh” phế truất Bảo Đại

Ngày 06/10/1955, Bộ trưởng Nội vụ của Diệm tuyên bố đến dân chúng quyết định của chính phủ Sài Gòn mở cuộc trưng cầu dân ý vào ngày 23/10/1955 Các cơ quan truyền thông do Thủ tướng điều khiển cũng bắt đầu vận động dân chúng sửa soạn

đi bầu cử

Ngày 23 tháng 10 năm 1955 cuộc “trưng cầu dân ý” của Quốc gia Việt Nam được tổ chức rầm rộ, dưới sự kiểm soát tối đa của công an, cảnh sát, mật vụ và thông tin sẵn sàng bắt giam bất cứ ai chống lại Diệm Nhân dân miền Nam bị ép buộc để đi

bỏ phiếu dưới sự áp đặt của chính quyền Để lôi kéo quần chúng và làm cho người ngoài tin rằng không chỉ có các đại biểu nhân dân ủng hộ Diệm mà cả nhân dân cũng ủng hộ Diệm, Ngô Đình Diệm và bè cánh tổ chức nhiều cuộc biểu tình rầm rộ, huy động dân cư quanh thành phố để phô trương thanh thế, thổi phồng thông tin cổ động

người đi bầu cử Cuộc bỏ phiếu diễn ra với gần 6 triệu lá phiếu với kết quả “Ngô Đình

Diệm giành 5.721.735 phiếu (đạt 98,2% số phiếu), và Bảo Đại 63.017 phiếu (đạt 1,1%

số phiếu) Tổng số người đi bầu: 5.828.907; Bầu cho “Tổng thống” Diệm: 5.721.735; Bầu cho Bảo Đại: 63.017; Phiếu bầu không hợp lệ: 44.155; số người không tham dự

bầu cử: 131.395” [58]

Bằng kết quả của cuộc trưng cầu dân ý, Ngô Đình Diệm đã loại bỏ Bảo Đại (phần tử thân cận của Pháp) ra khỏi miền Nam Việt Nam và dùng biện pháp tài chính tạo sức ép xóa bỏ sự ảnh hưởng của Pháp ra khỏi Nam Việt Nam đúng như mong muốn và dự tính của Hoa Kỳ Từ đây miền Nam Việt Nam đặt dưới sự thống trị của Hoa Kỳ và chính quyền Sài Gòn, hành động này đã vi phạm nghiêm trọng các điểu khoản của Hiệp định Genève, khiến cho Việt Nam bị chia cắt lâu dài

Trang 16

1.1.2 Quá trình xác lập chính quyền Đệ Nhất Việt Nam Cộng hòa

Sau khi Ngô Đình Diệm đã hoàn tất việc loại bỏ các phần tử thân Pháp và sức ảnh hưởng của Pháp ra khỏi miền Nam Việt Nam dưới sự bảo trợ của Hoa Kỳ, kết quả cuộc “trưng cầu dân ý” đã khiến Bảo Đại bị phế truất, Diệm lên làm Tổng thống miền Nam Khi lên làm Tổng thống, Diệm không còn quan tâm đến quốc hội lâm thời nữa, ngày 26/10/1955 Ngô Đình Diệm cho ban hành một bản “Hiến ước tạm thời” để làm căn cứ cơ bản cho tổ chức chính quyền trong giai đoạn giao thời Đây được coi là bản Hiến pháp phản dân tộc, phản dân chủ, chứa đựng mầm mống của chế độ độc tài với

ba điều quan trọng của hiến ước:

- “Điều 1: Quốc gia Việt Nam là một nước cộng hòa

- Điều 2: Quốc trưởng đồng thời cũng là thủ tướng chính phủ, lấy danh là

tổng thống nước Việt Nam cộng hòa

- Điều 3: Một ủy ban được thành lập để soạn dự án hiến pháp quốc gia Việt

Nam Bản hiến pháp này sẽ được đưa ra quốc hội do dân bầu trước cuối

năm nay”.[36;777]

Như vậy, chính thể “Việt Nam Cộng hòa” chính thức được dựng lên ở miền Nam Việt Nam trực tiếp nhận viện trợ và sự bảo hộ của Hoa Kỳ Bản Hiến ước ra đời đánh dấu sự chấm hết của chế độ “Quốc gia Việt Nam” do Bảo Đại đứng đầu, khai sinh chế độ “Việt Nam Cộng hòa” ở miền Nam Việt Nam Hơn nữa Hiến ước còn quyết định lập ra một ủy ban soạn thảo dựán Hiến pháp do Diệm chỉ định, không do một ủy ban của quốc hội chỉ định ra, “Quốc hội bù nhìn” này đã tố cáo chính thể độc tài cá nhân của Ngô Đình Diệm sau cuộc trưng cầu gian lận Ngày 29/10/1955 Ngô Đình Diệm ban hành Sắc lệnh 4-TTP thành lập chính phủ Việt Nam cộng hòa do chính Diệm là Tổng thống Những hành động trên thể hiện rõ âm mưu của Hoa Kỳ và Diệm

là tạo ra “hai Việt Nam” hòng chia cắt lâu dài đất nước ta Hoa Kỳ muốn biến Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Hoa Kỳ nhằm chống lại miền Bắc, chống lại phong trào cách mạng của nhân dân các nước

Sau khi lên làm Tổng thống, Ngô Đình Diệm bắt đầu việc sơ thảo một Hiến Pháp mới cho chính quyền mới thành lập.Ngày 04/03/1956, cuộc bầu cử Quốc hội lập hiến nhiệm kỳ đầu tiên của Việt Nam Cộng hòa được tổ chức Ngày 20/10/1956, Quốc hội thông qua dự án Hiến Pháp Việt Nam Cộng hòa, sáu ngày sau Hiến Pháp được

Trang 17

Ngô Đình Diệm ban hành, Quốc hội lập hiến chuyển thành Quốc hội lập pháp Mô hình bộ máy nhà nước Việt Nam Cộng hòa được xác định gồm ba định chế cơ bản: Nguyên thủ Quốc gia (Tổng thống) do dân bầu; Quốc hội cũng do dân bầu và tổ chức

Tư pháp

Theo Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa, đứng đầu ngành Hành pháp là Tổng thống với nhiệm kỳ 5 năm, mỗi ứng viên được phép ra tranh cử ba nhiệm kỳ liên tiếp Hiến pháp quy định quyền hành của Tổng thống trên các lĩnh vực hoạt động của quốc gia và là tư lệnh tối cao của các lực lượng quân sự Tổng thống được kí kết, phê chuẩn các hiệp ước và hiệp định quốc tế, có thể tuyên chiến hoặc phê chuẩn hòa ước với nước ngoài… Hỗ trợ ngành Hành pháp là nội các gồm 14 Bộ trưởng

Ngành Lập pháp có Quốc hội chỉ với một viện duy nhất với 123 dân biểu do nam nữ cử tri bầu cử theo lối phổ thông đầu phiếu Đối với Quốc hội quyền Lập pháp được biểu quyết các dự án Luật do dân biểu đệ trình và các dự thảo luật do Tổng thống chuyển đến Về mặt ngoại giao được chấp thuận các điều ước và các hiệp định quốc tế,

về tài chính thì được biểu quyết ngân sách hằng năm của quốc gia, về tài phán thì được tham dự vào việc tổ chức và điều hành của pháp viện…

Nền Tư pháp Việt Nam Cộng hòa là sự tiếp nối cơ cấu tổ chức tư pháp của chính quyền Bảo Đại Theo đó, tổ chức Tư pháp do Bộ Tư pháp kiểm soát, bao gồm các cấp tòa án:

1 Tòa hòa giải;

2 Tòa án cấp sơ thẩm gồm có Tòa sơ thẩm và Tòa hòa giải rộng quyền;

3 Tòa thượng thẩm;

4 Tòa phá án;

Tòa phá án được xem là pháp đình tối cao trong hệ thống tư pháp của chính quyền Ngô Đình Diệm, dưới thời Ngô Đình Diệm có một tòa phá án ở Sài Gòn, hai tòa thượng thẩm ở Sài Gòn và Huế Riêng ở mỗi tỉnh có một Tòa hòa giải và những cấp thấp hơn Theo Hiến pháp VNCH quy định rõ ràng về tổ chức và nguyên tắc hoạt động của ngành Tư pháp Theo đó Tư pháp Việt Nam Cộng hòa là một ngành độc lập so với Hành pháp và Lập pháp Nhưng trên thực tế, tổ chức Tư pháp Việt Nam Cộng hòa về căn bản theo tổ chức cũ và hoàn toàn đặt dưới sự kiểm soát của Hành pháp

Chính quyền Việt Nam Cộng hòa được Hoa Kỳ dựng nên ở miền Nam Việt Nam do Ngô Đình Diệm đứng đầu được Mỹ- Diệm khoác cho “chiếc áo dân chủ” Chế

Trang 18

độ Việt Nam Cộng hòa theo định chế Tổng thống chế, Tổng thống đứng đầu Hành pháp do “dân bầu”, Quốc hội- đại diện cho Lập pháp do “dân cử”, có các cơ quan Tư pháp; đặc biệt Pháp viện, Viện Bảo Hiến và Hội đồng Kinh tế Quốc gia với đầy đủ các thiết chế của nhà nước Nhưng thực tế, mọi quyền lực đều tập trung tuyệt đối và đặt dưới sự kiểm soát của Tổng thống Ngô Đình Diệm Từ đó, cùng với sự lũng đoạn của gia đình và phe cánh, chính quyền Ngô Đình Diệm ngày càng lún sâu vào con đường chuyên chế độc tài, gia đình trị khiến cho nhân dân miền Nam ngày càng căm phẫn dẫn đến cao trào cách mạng dân cao để chống lại chính quyền tay sai “đội lốt” “dân chủ”

NHẤT VIỆT NAM CỘNG HÒA

Sau khi tiêu diệt các lực lượng vũ trang của các chính đảng và giáo phái đối lập, loại bỏ Bảo Đại và xóa tầm ảnh hưởng của Pháp ở miền Nam Việt Nam Dưới sự giúp sức của Hoa Kỳ, Ngô Đình Diệm lên ngôi Tổng thống ở miền Nam Việt Nam sau cuộc

“trưng cầu dân ý” đầy tai tiếng, tổ chức bầu cử cái gọi là “quốc hội” bù nhìn Thành lập nên chế độ Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam Việt Nam, cùng với sự viện trợ của Hoa Kỳ, Ngô Đình Diệm bắt tay vào xây dựng và ổn định kinh tế- chính trị; quân sự- ngoại giao; văn hóa- xã hội Dưới đây là hệ thống các chính sách của chính quyền Ngô Đình Diệm đã ban hành và thực hiện

1.2.1 Chính sách Kinh tế - Chính trị

Khi chính quyền Việt Nam Cộng hòa được thành lập với sự hỗ trợ của Mỹ, kinh

tế của Việt Nam Cộng hòa tăng trưởng tương đối nhanh Đường lối kinh tế Việt Nam Cộng hòa tập trung chủ yếu các mặt:

1 Sản xuất hàng hóa phục vụ nhu cầu xuất cảng nhằm cố gắng cân bằng cán cân mậu dịch Tạo ra một nền kinh tế phát triển và độc lập Và hạn chế hoặc không sản xuất các hàng hóa nhằm thay thế các mặt hàng được nhập khẩu theo các chương trình viện trợ Mỹ, nhằm tránh giẫm đạp thị trường

2 Hỗ trợ và định hướng tư bản tham gia vào các lĩnh vực do chế độ đặt ra Dùng các biện pháp tài chính nhằm ổn định tiền tệ và giảm thâm hụt ngân sách

3 Đẩy mạnh xây dựng cơ sở hạ tầng vừa phục vụ cho nhu cầu quân sự, đồng

thời tạo nên sự phồn vinh tại miền Nam Việt Nam [39;131]

Trang 19

Với đường lối kinh tế được hoạch định rõ ràng, cùng với hoạt động của tổ chức

bộ máy kinh tế riêng biệt cùng một số cơ quan trực thuộc như: Tổng nha thương phụ trách nội thương, ngoại thương và viện trợ thương mại Tổng nha khoáng chất và công nghệ kỹ nghệ phụ trách công kỹ nghệ khoáng chất, khuếch trương kỹ nghệ và tiểu công nghệ Ngoài ra còn có một số cơ quan hỗ trợ khác: Nha Ngư nghiệp, Viện Quốc gia Thống kê… đã làm nền kinh tế Việt Nam Cộng hòa có bước phát triển và đạt được một số kết quả nhất định

Chính quyền Ngô Đình Diệm còn chủ trương tiến hành nhiều chính sách khác

về kinh tế Năm 1955, chính quyền cho thu hồi ngành quan thuế trong tay người Pháp, cho thành lập ngân hàng Đông Dương, ban hành dụ số 48 về việc Việt Nam Cộng hòa hoàn toàn độc lập về tiền tệ, phát hành giấy bạc và tiền kim loại thay thế cho tiền Đông Dương Bên cạnh đó, chính quyền còn khuyến khích phát triển tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp, mở rộng sản xuất những đồ dùng trong nước và phục vụ nhu cầu xuất khẩu ra nước ngoài, mở mang buôn bán với các nước Trong nông nghiệp, tiến hành cải cách điền địa, đưa khoa học và kỹ thuật vào sản xuất, lâm, ngư nghiệp, tổ chức nạo vét kênh mương, khai hoang nhằm tăng diện tích canh tác và năng xuất cây trồng Năm 1956, chính quyền Ngô Đình Diệm cho thành lập Hội đồng Kinh tế Quốc gia, tăng cường kêu gọi đầu tư của tư nhân trong và ngoài nước, giành cho những nhà đầu

tư một số ưu đãi về thuế, thuê mặt bằng sản xuất, kinh doanh, giúp đỡ các doanh nghiệp về công nghệ và tín dụng…

Nhìn chung, việc triển khai các chính sách kinh tế của chính quyền Ngô Đình Diệm đã đạt được một số thành tựu nhất định, hình thành một số khu công nghiệp, một

số nhà máy công nghiệp như hai xưởng dệt Vinatexco và Vimytex; nhà máy thủy tinh Khánh Hội, nhà máy xi măng Hà Tiên và Thủ Đức… Trong giai đọan 1955-1960 là thời kỳ hoạt động kinh tế ổn định nhất của Việt Nam Cộng hòa với cơ sở hạ tầng có sự phát triển nhất định; đời sống nhân dân được cải thiện nhờ sự gia tăng nhập khẩu các tiện nghi sinh hoạt như: tivi, tủ lạnh, xe gắn máy… trình độ sản xuất có sự phát triển đi lên theo hướng hiện đại hóa

Với ý đồ xây dựng một quốc gia riêng ở miền Nam, chia cắt lâu dài Việt Nam, ngay từ rất sớm, Hoa Kỳ và chính quyền Ngô Đình Diệm đã có những dự án nhằm phát triển chủ nghĩa tư bản, mở đường cho tư bản Hoa Kỳ xâm nhập miền Nam Viện trợ kinh tế- điểm mấu chốt nhằm thực hiện các chính sách kinh tế của Hoa Kỳđược

Trang 20

xem là đòn bẩy để tạo nên điểm tựa vững chắc cho sự xâm nhập của Hoa Kỳ vào miền Nam Việt Nam

Viện trợ kinh tế đã được Hoa Kỳsử dụng làm công cụ nhằm chi phối các lĩnh vực chính trị- xã hội miền Nam.Thông qua hình thức “viện trợ”, Hoa Kỳđẩy mạnh việc xâm nhập vào miền Nam.Hoa Kỳthực hiện hai hình thức hoạt động kinh tế chính

là viện trợ thương mại hóa và tạo điều kiện dễ dàng cho tư bản Hoa Kỳđầu tư trực tiếp vào miền Nam

Viện trợ thương mại hóa là cách thức nhằm giúp cho hàng hóa của Hoa Kỳtràn ngập thị trường miền Nam, cạnh tranh một cách bất bình đẳng với hàng nội địa và hàng hóa của các nước.Chính quyền của Hoa Kỳđã ký với chính quyền của Ngô Đình Diệm một số văn kiện có lợi cho Hoa Kỳvề thuế quan, ngân hàng, tiền tệ Nhờ vào viện trợ củaHoa Kỳ, kinh tế Việt Nam Cộng hòa đến cuối thập niên 50 (thế kỉ XX) dường như trên đà phát triển nhưng thực chất nền kinh tế Việt Nam Cộng hòa hoàn toàn phụ thuộc vàoHoa Kỳ, “viện trợ” càng nhiều cho chính quyền Diệm thì chính quyền càng bị cột chặt vàoHoa Kỳ

Về chính sách chính trị, sau khi chính quyền Việt Nam Cộng hòa được thiết lập

ở miền Nam Việt Nam, dưới sự hậu thuẫn của Hoa Kỳ, chính quyền Diệm ra sức tuyên truyền, tự cho mình là “chính nghĩa Quốc gia”, “độc lập”, “dân chủ”, nêu khẩu hiệu

“bài Phong, đả Thực, diệt Cộng” Chính quyền Diệm thực thi chính sách cai trị hà khắc, liệt kê tất cả các phần tử đối lập, lực lượng cách mạng, quần chúng yêu nước vào danh sách những người chống đối chính quyền Sử dụng mọi công cụ bạo lực để kìm kẹp, đàn áp, buộc quy phục hoặc tiêu diệt, đặt biệt đối với lực lượng cách mạng và quần chúng nhân dân

Để tách lực lượng cách mạng khỏi dân, Diệm cho lập các khu Trù mật, khu Dinh điền và xây dựng Ấp chiến lược, biến miền Nam Việt Nam thành trại giam khổng lồ Chính quyền Việt Nam Cộng hòa thực hiện “cải cách điền địa” cho đây là việc làm có tính chất “quốc sách” là điểm “then chốt của cuộc cách mạng kinh tế ở miền Nam” nhưng thực chất cuộc “cải cách điền địa” đi ngược lại lợi ích của nông dân Đồng thời ra sức tuyên truyền “bảo vệ quyền lợi của tá điền”, “hữu sản hóa tài sản hóa công dân”, “đem lại cho đồng quê một đời sống mới” nhưng thật chất là khôi phục lại quyền sở hữu ruộng đất cho địa chủ, chỗ dựa trung thành của Diệm ở nông thôn, tước đoạt ruộng đất của nông dân mà cách mạng đã đem lại cho họ Cuộc “cải

Trang 21

cách điền địa” làm cho mâu thuẫn giữa các thế lực địa chủ phong kiến và nông dân miền Nam trở nên gay gắt

Thực thi chính sách khu Dinh điền, chính quyền Ngô Đình Diệm tiến hành đưa

số dân công giáo di cư từ miền Bắc, miền Trung đến những vùng “kinh tế mới”, chiếm đất đai của dân chúng sở tại, thành lập các khu dân cư tập trung

Mặc dù bộ máy tuyên truyền của chính quyền Diệm luôn khẳng định chủ trương xây dựng Dinh Điền nhằm “cải thiện dân sinh”, nhưng thực chất không khác gì các trại tập trung, trong đó nhân dân bị kìm kẹp trong các hàng rào kẽm gai, bị áp bức

cả về tinh thần và thể xác “Việc mở những trung tâm Dinh điền để định cư số giáo

dân Bắc Việt di cư và một số dân di cư chuyển từ miền Trung lên, bằng cách chiếm đất đai của người Thượng, chiếm súc vật, những đồng cỏ nuôi súc vật và chiếm những khu rừng gỗ của họ… một cách ngang nhiên… đã đẩy người Thượng vào thế kẻ thù của

người Kinh, của VNCH”.[47;268]

Để tăng cường bộ máy đàn áp, khủng bố, kìm kẹp dân chúng, Diệm ra sức biến các Đoàn hội Thanh niên, Thanh nữ thành các lực lượng bán vũ trang, như Thanh nữ Cộng hòa do chính Trần Lệ Xuân khởi xướng Ngoài ra còn các tổ chức như: “Thanh niên cộng hòa”, “Thanh niên thôn quê Thiên Chúa giáo”, “Thanh niên Thánh nghiệp”… đều là những tổ chức võ trang được thành lập khắp ở miền Nam với nhiệm

vụ tuyên truyền, dụ dỗ và kìm kẹp quần chúng Ngoài ra, ở mỗi thôn ấp, chính quyền Diệm còn tổ chức “Ngũ gia Liên bảo” gồm 4 gia đình để kiểm soát lẫn nhau Tháng 5/1959, Ngô Đình Diệm ban hành luật 10-59 về việc thành lập các tòa án quân sự đặc biệt, mục đích thanh trừng những người cộng sản ở miền Nam Việt Nam, sau khi luật này được ban hành, nhân dân miền Nam bị chính quyền Diệm đẩy mạnh truy quét, bắt

bớ, khủng bố với các khẩu hiệu đầy man rợ “thà giết nhầm còn hơn bỏ sót” và “Cộng sản không phải là người” Đời sống của nhân dân miền Nam ngày càng cùng cực, khốn khổ, người dân bị đẩy đến giới hạn cuối cùng của sự chịu đựng

1.2.2 Chính sách Quân sự- Ngoại giao

Chính sách quân sự, chính quyền Ngô Đình Diệm hết sức coi trọng việc xây

dựng quân đội, coi đó là xương sống của bộ máy chính quyền.Năm 1955, Mỹ- Diệm thành lập Quân lực Việt Nam Cộng hòa (Quân đội Sài Gòn).Hoa Kỳ ra sức làm cho quân đội Diệm có tính chất chính quy và hiện đại Quân lực Việt Nam Cộng hòa được

Trang 22

trang bị hùng hậu, sức cơ động cao và hỏa lực mạnh, được Hoa Kỳ và đồng minh tích cực hỗ trợ để khủng bố, đàn áp chống lại cách mạng và nhân dân miền Nam

Từ năm 1954, Mỹ- Diệm tổ chức ba lực lượng vũ trang khác nhau: Quân đội, bảo an, dân vệ Bảo an làm nhiệm vụ địa phương do tỉnh phụ trách, dân vệ làm nhiệm

vụ ở xã, cũng do tỉnh phụ trách Tính đến cuối năm 1956, Diệm có 250 phi cơ, 241 tàu hải quân các loại, 75000 quân bảo an, 55000 dân vệ, hơn 150000 vạn quân chính quy Hướng xây dựng lực lượng quân sự của Hoa Kỳ ở miền Nam, không phải là xây dựng

lực lượng quân sự cho một nhà nước độc lập, mà “xây dựng quân đội miền Nam thành

lực lượng phụ thuộc vào lực lượng cơ động Mỹ ở Thái Bình Dương”.[36;882]

Để giữ vững chính quyền, Diệm tiếp tục mở rộng chiến dịch “tố Cộng”, coi chiến dịch “tố Cộng” là chủ lực của công cuộc cách mạng quốc gia với phương châm

“liên tục, sâu rộng và lâu dài” Thực hiện kế hoạch “tố Cộng”, chính quyền Diệm thành lập “Hội đồng nhân dân chỉ đạo tố Cộng” gồm tất cả các Bộ trưởng trong chính phủ do Diệm làm Chủ tịch danh dự và Trần Chánh Thành làm Chủ tịch Hội đồng

Trong các chiến dịch “tố Cộng, diệt Cộng”, số lượng nhà tù, trại giam không ngừng tăng nhanh nhưng vẫn không đủ chỗ giam giữ Hậu quả của chính sách “tố Cộng, diệt Cộng”, chính quyền Diệm đã dìm cách mạng và nhân dân miền Nam trong

bể máu, một bầu không khí tang tóc, ngột ngạt bao trùm khắp miền Nam

Chính sách ngoại giao của Việt Nam Cộng hòa phụ thuộc vào đường lối ngoại

giao do Hoa Kỳ vạch ra Hoa Kỳ ra sức củng cố vị thế cho chính quyền Diệm trên trường quốc tế nhằm tạo uy tín cho chế độ Việt Nam Cộng hòa và đánh lừa dư luận thế giới Nhằm che đậy bản chất chính quyền tay sai do Hoa Kỳ dựng lên ở miền Nam Việt Nam- một chính quyền hoàn toàn phụ thuộc vào Hoa Kỳ Chính quyền Việt Nam Cộng hòa với chính sách ngoại giao chống Cộng, không thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước Cộng sản, các nước “thân Cộng”, chính quyền Ngô Đình Diệm còn đoạn tuyệt quan hệ ngoại giao với các nước có thiết lập quan hệ ngoại giao với chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Hoa Kỳ đứng ra thành lập Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á (SEATO)- thực chất

là liên minh chống Cộng và đặt miền Nam Việt Nam dưới sự bảo hộ của tổ chức này.Đồng thời, đưa Việt Nam Cộng hòa vào quỹ đạo của chủ nghĩa chống Cộng thế giới Dưới sự bảo trợ của Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng hòa tham gia vào nhiều tổ chức quốc tế như: Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực (FAO) vào 1950; Cơ quan Năng

Trang 23

lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA) vào năm 1957; Tổ chức Lao động Quốc

tế ILO (1950); Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF (1956); Quỹ Thiếu nhi Liên hiệp quốc UNICEF, Liên hiệp Bưu chính Quốc tế UPU (1951); Ngân hàng Thế giới (1956)… Đến năm 1958, chính quyền Diệm có 50 quốc gia công nhận về mặt pháp lý và thiết lập quan hệ ngoại giao.Trong đó, có 38 quốc gia thiết lập đại sứ quán, lãnh sự quán tại Việt Nam Cộng hòa.Ngược lại, chính quyền Việt Nam Cộng hòa cũng

đã thiết lập được tòa đại sứ quán, lãnh sự quán tại 45 quốc gia trên thế giới.Quan hệ quốc tế của Việt Nam Cộng hòa chỉ là sự thực hiện đường lối ngoại giao của Hoa Kỳ thiết lập cho chính quyền thuộc địa kiểu mới Hoa Kỳ ở miền Nam Việt Nam

1.2.3 Chính sách Văn hóa- Xã hội

Chính sách về văn hóa của chính quyền Diệm ở miền Nam Việt Nam gắn liền

và phục vụ cho chính sách thực dân mới của Hoa Kỳ ở miền Nam Việt Nam Chính quyền Mỹ- Diệm đề cao mặt trận văn hóa và có chủ trương nhất quán về văn học, nghệ thuật, giáo dục, thể thao Từ đầu đến cuối, chính sách văn hóa của Mỹ- Diệm là phổ biến chủ nghĩa chống cộng, chủ nghĩa nhân vị bằng nhiều biện pháp, phương thức khác nhau trong dân chúng miền Nam Chính quyền Diệm cho lập Bộ thông tin và Thanh niên, thay thế Bộ Thông tin và Chiến tranh tâm lý để quảng bá những đường lối văn hóa của chính phủ mới

Để thực thi có hiệu quả chính sách văn hóa chống Cộng, chính quyền Diệm cho thành lập một bộ tham mưu riêng, lấy tên là Sở nghiên cứu chính trị, văn hóa, xã hội tại phủ Tổng thống do Trần Kim Tuyến đứng đầu, đồng thời điều khiển các tổ chức như: Tân Việt văn đoàn, Câu lạc bộ Văn hóa, Hội liên hiệp Văn hóa Á châu…Sự thật,

Sở nghiên cứu Chính trị- Văn hóa- Xã hội thực chất là một trong những tổ chức mật

vụ chuyên dò xét tư tưởng, hành động và sáng tác của các giới văn nghệ sĩ, ký giả, trí thức, sẵn sàng áp dụng các biện pháp mua chuộc hay đàn áp

Mặt khác, để thực thi các chính sách văn hóa truyền bá chủ nghĩa nhân vị, áp đặt về tư tưởng, chính quyền Diệm mở các Trung tâm huấn luyện Nhân vị đào tạo cho đội ngũ các bộ, công chức của chế độ Đồng thời, chính quyền đưa các chủ thuyết Nhân vị vào giảng dạy tại các trường đại học, cao đẳng…

Nhằm lợi dụng văn hóa truyền thống của dân tộc để tạo lòng tin và lôi kéo nhân dân ủng hộ đường lối lãnh đạo của chính quyền mới, Ngô Đình Diệm đã cho khôi phục, tổ chức một số hoạt động sinh hoạt văn hóa cổ truyền như lễ giỗ tổ Hùng

Trang 24

Vương, kỷ niệm Hai Bà Trưng, đồng thời chính phủ còn cho xây dựng và khánh thành tượng đài Hai Bà Trưng ở Công trường Mê Linh (Sài Gòn)… Bản thân Diệm cũng thường xuyên trình bày quan điểm thể hiện sự quan tâm đến vấn đề “văn hóa truyền thống” của dân tộc

Chính sách về xã hội, chính quyền Ngô Đình Diệm quy định nền giáo dục cơ

bản có tính chất bắt buộc Hệ thống giáo dục Việt Nam Cộng hòa cơ bản gồm 3 bậc: Tiểu học, trung học và đại học cùng với một mạng lưới các cơ sở giáo dục công lập, dân lập và tư thục ở cả ba bậc học và hệ thống tổ chức quản trị từ trung ương tới địa phương Chính phủ đẩy mạnh giáo dục ở trình độ đại học theo mô hình Viện đại học, nhiều Viện đại học được xây dựng,tiêu biểu là Viện Đại học Quốc gia Việt Nam (1955), Viện Đại học Huế (3/1957), Viện Đại học Đà Lạt (8/1957)…Chính sách giáo dục của chính quyền Ngô Đình Diệm cơ bản đã thu hút được nhiều học sinh, sinh viên Đường lối giáo dục của chính quyền Việt Nam Cộng hòa là sự pha trộn giữa tư tưởng Nho giáo và Thiên Chúa giáo, triết lý giáo dục mà chính quyền theo đuổi là: “Nhân vị- dân tộc- khai phóng”, thêm vào đó thuyết Nhân vị là “nền tảng tư tưởng” của chế độ

và đem thuyết này ra làm cơ sở lý luận cho hoạt động giáo dục trong suốt quá trình chính quyền Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa tồn tại

Chính sách giáo dục của chính quyền Việt Nam Cộng hòa là công cụ hỗ trợ đắc lực cho quá trình xâm lược và hình thành chế độ thực dân kiểu mới của Hoa Kỳ ở miền Nam Việt Nam Trong bài viết về lịch sử Giáo dục huyện Triệu Phong, tỉnh

Quảng Trị nhận định: “Giáo dục Mỹ- Diệm tuy có phát triển về số lượng và có những

cải cách nhất định, nhưng không thoát khỏi mục đích nô dịch, thống trị”.[57]

Chính sách giáo dục của chính quyền Ngô Đình Diệm đã đào tạo ra những cán

bộ chính trị, kinh tế, văn hóa, quân sự gắn bó với chính quyền Nhằm chia cắt đất nước lâu dài, nền giáo dục Mỹ- Diệm được coi là một nền giáo dục mới ở miền Nam Việt Nam mang đầu tính thực dụng theo kiểu Hoa Kỳ và chứa đựng nhiều âm mưu thủ đoạn phục vụ cho mưu đồ chính trị của chính quyền Việt Nam Cộng hòa

Về y tế, các chương trình bảo vệ cộng đồng cũng được tiến hành như: Chương trình quốc gia vệ sinh, y tế học đường, chương trình y tế hương thôn, chương trình diệt trừ sốt rét, bảo trợ phụ sản và nhi đồng… Cùng với đó một loạt cơ sở y tế mới được xây dựng với trang thiết bị hiện đại Trong đó có những cơ sở lần đầu tiên xuất hiện ở

Trang 25

Việt Nam như: Viện Ung thư Quốc gia, Phòng Quốc gia Thí nghiệm nước,…Hệ thống

y tế từ cấp tỉnh trở xuống cũng từng bước được hoàn thiện

Bên cạnh đó, chính quyền Diệm cho xây dựng những cơ sở đào tạo chuyên môn như: Xây hai trường Cán sự y tế và Cán sự điều dưỡng, hai trường Tá viên điều dưỡng, trường Phụ tá Phòng thí nghiệm, trường Dược tá và một trường Nữ hộ sinh Quốc gia ở Huế Ngoài ra, chính quyền Việt Nam Cộng hòa cũng tăng cường đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho các hoạt động y tế

Dưới sự viện trợ của Hoa Kỳ, chính quyền Diệm đã tiến hành hàng loạt các hoạt động y tế tích cực Nhưng cũng không thể xóa nhòa đi được cuộc sống cùng cực

và sự bất bình của dân chúng đối với chính quyền

CỘNG HÒA

1.3.1 Khủng hoảng của chính quyền Ngô Đình Diệm

Chính quyền Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam do Diệm cầm đầu và được sự giúp đỡ của Hoa Kỳ nên cơ bản chính quyền này được xây dựng hoàn thiện Cộng thêm các “thành tích” do chương trình Cải cách điền địa và các cuộc càn quét, triệt phá

cơ sở cách mạng, các lực lượng yêu nước… khiến cho Hoa Kỳ và Diệm tin rằng chính trường miền Nam Việt Nam hoàn toàn nằm trong tầm kiểm soát Nhưng sự thật đằng sau những “thành tích” giả tạo, sự lạc quan về tình hình chính trị ở miền Nam là những mâu thuẫn, khủng hoảng sâu sắc trong nội bộ chính quyền Ngô Đình Diệm, những sự thật này nhanh chóng được phơi bày

Sau những năm thực hiện nhiều chính sách mị dân, kết hợp sử dụng công cụ bạo lực phản cách mạng để tiêu diệt cách mạng, kìm kẹp quần chúng, thanh trừng đối lập.Tháng 4 năm 1959, với sự tàn ác của mình, quyết tâm nhổ cỏ tận gốc Cộng sản,

"Quốc hội" bù nhìn của Diệm thông qua luật số 91 Luật được ban hành ngày 6 tháng

5 năm 1959 mang tên "Luật 10-59" về thành lập các "Tòa án Quân sự đặc biệt" với lý

do “xét xử các tội ác chiến tranh chống lại Việt Nam Cộng Hòa”, “đặt Cộng sản ngoài

vòng pháp luật” không cần xét xử mục đích nhằm tiến hành thanh trừ những người

cộng sản ở miền Nam Việt Nam Đạo luật 10-59 có thể nói là tiếp nối chính sách “tố Cộng, diệt Cộng” của Ngô Đình Diệm, cái mà Diệm nhận được là sự căm phẫn, sự đấu tranh phản kháng của quần chúng yêu nước và cách mạng miền Nam, đã làm cho nội

bộ Việt Nam Cộng hòa lục đục, mâu thuẫn

Trang 26

Đến năm 1959, tình hình tài chính mỗi năm càng thâm hụt, tình trạng an ninh trở nên phức tạp, có nhiều phần nguy hiểm Phong trào cách mạng miền Nam thực sự chuyển mình, từ đấu tranh chính trị kết hợp với vũ trang tuyên truyền phát triển thành khởi nghĩa giành chính quyền, đẩy chế độ Diệm tới bờ vực suy thoái

Sự phục hồi và phát triển của lực lượng cách mạng làm cho mâu thuẫn bộ trong chế

độ của Diệm tăng cao Nhằm củng cố quyền lực, Diệm quay ra thanh trừng nội bộ, ngày càng nhiều phần từ trung thành với Diệm trước đây bị tước đoạt quyền lợi, quay lưng với chế độ Ngô Đình Diệm và ra mặt chống đối, lên tiếng tố cáo chính sách độc tài, gia đình trị của anh em Ngô Đình Diệm trước dư luận trong nước và trên thế giới

“từ khi lên nắm quyền, Diệm luôn thanh trừng nội bộ Nhưng việc thanh trừng nội bộ

trong năm 1959 có tính chất gay gắt hơn các năm trước Trong số 123 dân biểu được bầu cử kỳ I, Diệm gạt đi đến 73 người, trong đó có cả những người trước kia tích cực ủng hộ Diệm, nhưng nay cũng công khai chống Diệm Trần Chánh Thành mới đây là kiện tướng của Diệm; bây giờ báo “Dân chúng” của Trần Chánh Thành cũng công kích thủ đoạn xảo quyệt của Diệm trong kỳ bầu cử quốc hội II”.[36;945] Cho nên

Diệm tích cực ra sức sàng lọc nội bộ, các vị trí then chốt trong quốc hội của Diệm bị thay đổi, trấn áp sự phản đối trong lực lượng di cư… Những hành động của Diệm làm gay gắt thêm mâu thuẫn trên sân khấu chính trị Việt Nam Cộng hòa

Sự khủng hoảng của chính quyền Diệm còn thể hiện rõ sự bất mãn của dân chúng ngày càng tăng với chế độ độc tài gia đình trị dưới sự bảo hộ của Hoa Kỳ Nội bộ chính quyền Diệm và bên ngoài dân chúng bàn tán xôn xao về sự làm giàu mau chóng của bà con và tay chân thân tín của Diệm, về sự thối nát của bè lũ thống trị

Thêm vào đó mâu thuẫn giữa Hoa Kỳ và Diệm phát sinh từ vụ phát giác Diệm và các công ty gia đình, tay chân thân tín của Diệm “ăn cắp” viện trợ Hoa Kỳ một cách quá lộ liễu, sự bất bình về cách sử dụng viện trợ ngày càng lớn trong các thượng nghị

sĩ Hoa Kỳ Quốc hội Hoa Kỳ cử phái đoàn điều tra việc sử dụng viện trợ Hoa Kỳở miền Nam Ngược lại Ngô Đình Diệm cũng không hài lòng vớiHoa Kỳ, vì lý do Hoa Kỳkhông chịu bỏ nhiều vốn vào việc xây dựng kinh tế theo yêu cầu của Diệm khi Diệm sang Mỹ tìm viện trợ Điều này càng khoét sâu mẫu thuẫn giữa Hoa Kỳvà Diệm, đồng thời đây được xem là một làn sóng lớn đánh vào chính quyền Diệm khiến cho bộ máy cai trị của Diệm bị lung lay, chính quyền phải lúng túng đối phó với những sự rạn

Trang 27

nứt này Đặc biệt, phong trào Đồng Khởi của nhân dân miền Nam vào tháng 1 năm

1960 đã làm cho chế độ Diệm bị lung lay nghiệm trọng

1.3.2 Nhân dân miền Nam đấu tranh chống Mỹ- Diệm

Hiệp định Genève được kí kết nhưng Mỹ- Diệm với âm mưu chia cắt lâu dài đất nước Việt Nam, chối bỏ Hiệp định, cự tuyệt hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất hai miền Nam Bắc Hành động này của Mỹ- Diệm đi ngược lại với những quyền lợi của nhân dân trong nước Trước hành động phá hoại Hiệp định Genèvecủa Mỹ- Diệm, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân miền Nam đã mở đầu giai đoạn đấu tranh mới bằng những cuộc biểu tình chính trị rầm rộ nổ ra khắp các tỉnh thành, có tính chất biểu dương lực lượng và bày tỏ nguyện vọng với những khẩu hiệu mừng hòa bình, hoan nghênh Hiệp định Genèvevà đòi thi hành nghiêm chỉnh các điều khoản của Hiệp định

Ngay tại Sài Gòn- Chợ Lớn, 10 ngày sau khi Hiệp định Genèveđược kí kết, cuộc mít tinh khổng lồ của 50000 người diễn ra, hoan nghênh thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp; đòi tự do dân chủ; đòi đối phương hủy bỏ việc động viên quân đội… Tham gia biểu tình là nhân dân lao động, học sinh, sinh viên, trí thức, tiểu thương, công nhân, nông dân Sài Gòn gương cao khẩu hiệu đòi thi hành nghiêm chỉnh Hiệp địnhGenève Đây là tiếng sấm đầu tiên nổ ra tại một trung tâm chính trị lớn nhất miền Nam, báo hiệu một giai đoạn đấu tranh chính trị mới bắt đầu

Tại miền Trung, trong tháng 7 và tháng 8 năm 1955, nhân dân các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận, Ninh Thuận liên tiếp biểu tình, đưa kiến nghị lên Ủy ban Quốc tế, đòi Hiệp thương, Tổng tuyển cử Nhưng chính quyền Diệm vẫn ngoan cố không chịu thực hiện, nhất quyết từ chối Hiệp thương và Tổng tuyển cử Chính quyền Diệm tập trung đàn áp lực lượng cách mạng và quần chúng yêu nước, thực hiện “tố Cộng” và coi đây là “Quốc sách” để giết hại, bắt

bớ và cầm tù hàng vạn người, song không ngăn được phong trào đấu tranh của nhân dân nổi lên khắp nơi

Các phong trào đấu tranh chống đàn áp, khủng bố, đòi tự do dân chủ, đòi hòa bình thống nhất đất nước nổ ra quyết liệt và rộng khắp, từ nông thôn đến thành thị, với

sự tham gia của đông đảo các tầng lớp nhân dân; nông dân, công nhân, tiểu tư sản, trí thức và các thành phần tôn giáo… Đặc biệt phải kể đến là cuộc bãi công của 3000

Trang 28

công nhân xưởng đóng tàu Ba Son (10-1955); 40000 công nhân của các đồn điền cao

su (11-1995)[39;158] Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân ngày càng phát triển mạnh mẽ, lan rộng ra nhiều xí nghiệp, công xưởng…

Từ cuối năm 1956, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân miền Nam có bước phát triển mới Không chỉ dừng lại ở những cuộc đấu tranh chính trị đơn thuần,

mà còn xuất hiện hình thức vũ trang tuyên truyền, vũ trang tự vệ với sự ra đời của các đơn vị vũ trang quy mô từ tiểu đội đến đại đội

Bước sang năm 1959, phong trào đấu tranh của nhân dân miền Nam ngày càng sôi nổi Với các phong trào lớn hơn nối tiếp các phong trào trước đó: Phong trào chống khủng bố; đòi tự do, dân chủ; phong trào đòi cải thiện đời sống; phong trào đòi hòa bình thống nhất Năm 1959 phong trào đấu tranh chống “tố Cộng” chống khủng bố; đòi tự do; dân chủ phát triển rộng rãi, liên tục và quyết liệt hơn năm 1958, từ đồng bằng đến rừng núi, cả đô thị, mạnh nhất là ở nông thôn Nam Bộ Ở thành thị, trong giới báo chí và các xí nghiệp, có các phong trào thường xuyên đòi tự do nghiệp đoàn,

tự do, dân chủ, chống chính sách khủng bố, chống gia đình trị Ngô Đình Diệm.“Một

đặc điểm của phong trào đấu tranh chống khủng bố năm 1959, là sự phối hợp chặt chẽ giữa các địa phương Như đợt đấu tranh chống vụ đầu độc ở Phú Lợi, thì ở Nam

Bộ có mít tinh thu hút hàng vạn dân chúng, thống nhất đấu tranh trong cả một vùng rộng lớn; đồng thời để tang Phú Lợi kết hợp với đình công, bãi thị, phản đối đầu độc”

[36;946]

Vào thời gian này, ở nhiều địa phương, nhân dân đã gắn cuộc đấu tranh chống

“tố Cộng” với việc bắt lính, bắt phu, xây dựng căn cứ quân sự của chính quyền Sài Gòn, chống đi “dinh điền” và cướp đất trong “cải cách điền địa”, chống tăng tô Trên Tây Nguyên và trên vùng cao các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Bình Thuận, Ninh Thuận nơi cư trú của các dân tộc Kinh, Cơtu, Co, XơĐăng, Giarai, Êđê, Mơnông, Mạ, Cơho… đồng bào liên tục rời làng, chống lại kế hoạch dồn dân vào các “khu Dinh điền”, “khu Trù mật” của Ngô Đình Diệm

Ở Nam Bộ và vùng đồng bằng ven biển miền Trung rộ lên phong trào đấu tranh chống cướp đất, tăng tô Ở Cái Sắn (Rạch Giá), phẫn uất vì âm mưu cướp đất của địch, hàng vạn đồng bào di cư mang theo giáo mác, gậy gộc, kéo lên quận chống chính quyền Ngô Đình Diệm, kẻ đã bắt họ ký khế ước và cướp ruộng đất của họ Mặc dù đã

Trang 29

huy động hàng đại đội lính bảo an đến đàn áp, nhưng trước khí thế đấu tranh hừng hực của đồng bào ta, chính quyền Ngô Đình Diệm phải nhượng bộ, nhận giải quyết một số

yêu sách…[40;235]

Vào tháng 1-1960 cuộc Đồng Khởi của nhân dân Bến Tre nổ ra và nhanh chóng giành thắng lợi ở xã Định Thủy, huyện Mỏ Cày rồi lan rộng ra nhiều xã thuộc Mỏ Cày, Giồng Trồm, Thạnh Phú, Ba Tri… Phong trào “đồng khởi” đã nhanh chóng lan rộng khắp các tỉnh đồng bằng Nam Bộ, phong trào nổi lên mạnh mẽ, liên tục hết đợt này đến đợt khác đã phá tan 2/3 bộ máy kìm kẹp của địch ở cơ sở Phong trào không chỉ đập tan ách thống trị của chính quyền Ngô Đình Diệm ở nhiều vùng nông thôn rộng lớn, mà còn có tác động cổ vũ phong trào của các tầng lớp nhân dân đô thị, trước hết là Sài Gòn, đấu tranh chống chính quyền Ngô Đình Diệm, đòi dân chủ, dân sinh, chống khủng bố, đàn áp…

Trước sự đoàn kết và ý chí kiên cường đấu tranh chống Mỹ- Diệm của nhân dân miền Nam đã làm cho ý chí của kẻ thù hoảng loạn, trở nên lúng túng khi đối phó với các cuộc đấu tranh của nhân dân Thông qua những cuộc đấu tranh này đã phản ánh rõ nét sự trưởng thành về ý thức chính trị của nhân dân và trình độ tổ chức, chỉ đạo đấu tranh của cán bộ Đảng viên Sự trưởng thành ấy, kẻ thù buộc phải thừa nhận, chính Nguyễn Trân, Tỉnh trưởng Định Tường- một trong những nơi trọng tâm của

chiến dịch “tố Cộng”, đã viết trong báo cáo “mật” gửi Ngô Đình Diệm:“Dân ngày nay

quả thật không còn như dân 10 năm trước Một số đã được men Cách mạng làm bừng dậy.Họ đã trưởng thành trong máu lửa và có ý thức về những vấn đề dân sinh một cách sâu sắc Những cảnh phụ nữ, trẻ con ra trước xe tăng và họng súng Pháp trong thời kỳ kháng chiến, trước quân đội quốc gia trong thời kỳ này tiếp thu hay biểu tình đòi hiệp thương tổng tuyền cử đó đây, có thể cho ta thấy dân không còn là một số người thụ động Động lực thúc đẩy họ coi rẻ cái chết, coi thường chính quyền, phải tìm trong ý thức của họ về một cuộc đấu tranh giai cấp mà cộng sản dạy họ là phần đắc thắng sẽ về họ Họ tin tưởng mãnh liệt nơi sứ mệnh lịch sử của họ, một sứ mệnh cứu thế”[40; 234-235]

Trang 30

1.1.3 Sự sụp đổ của chính quyền Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam năm

1963

Dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa, nhân dân miền Nam đã phải chống lại với chính quyền phát xít Ngô Đình Diệm do Hoa Kỳ dựng lên, để thống trị được nhân dân ngay từ đầu Mỹ- Diệm đã thực thi những chính sách phản dân tộc, dân chủ Không những độc lập và thống nhất dân tộc bị đe dọa mà quyền lợi dân sinh, dân chủ của mỗi người dân đều bị xâm phạm.Đứng trước sự áp bức, khủng bố của chính quyền Ngô Đình Diệm thì sự bùng nổ các cuộc đấu tranh của nhân miền Nam chống lại chính quyền là điều tất yếu.Đây là dấu hiệu của sự sụp đổ của một chính quyền độc tài, phát xít tại miền Nam Việt Nam

Chính quyền Việt Nam Cộng hòa liên tiếp phải hứng chịu nhiều thất bại và thiệt hại trên chiến trường.Tháng 5-1963, tình hình các đô thị ở miền Nam trở nên nóng bỏng Anh em Diệm phải đối đầu với phong trào đấu tranh của Phật giáo-sự kiện mở đầu cho phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân ở hầu hết các đô thị miền Nam,

mà báo chí gọi là “bốn mươi ngày nóng bỏng”.Chính quyền Diệm chỉ thị các nơi cấm

treo cờ Phật giáo trong và ngoài khuôn viên chùa Chính cái quyết định bất công cấm treo cờ Phật giáo đã làm cho phật tử miền Trung phản ứng quyết liệt… Ngoài ra, chính quyền Diệm tiếp tục chính sách bao vây, đàn áp dã man các Phật tử hậu quả là nhiều người thiệt mạng và bị thương Để phản đối chế độ gia đình trị, phát xít, ngày 11-6-

1963 Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu, gây chấn động dư luận trong nước và quốc tế Cuộc “khủng hoảng Phật giáo” đã giáng một đòn nặng nề vào chính sách thực dân mới của Hoa Kỳ ở miền Nam Việt Nam.Đồng thời, đẩy chính quyền Diệm đến bờ vực sụp đổ

Khi Kennedy lên làm Tổng thống Hoa Kỳ (5/1961) thì tình hình tại miền Nam Việt Nam trở nên tồi tệ, những thất bại liên tiếp trên mặt trận chính trị, quân sự của chính quyền Ngô Đình Diệm làm cho mối quan hệ Mỹ- Diệm trở nên khá căng thẳng

Để cứu vãn tình thế, Kennedy sử dụng chiến lược chiến tranh đặc biệt với kế hoạch chống nổi dậy, ông ta tin rằng miền Nam Việt Nam sẽ trở lại thời kỳ ổn định, sự căng

thẳng trong quan hệ Mỹ- Diệm tạm lắng xuống Nhưng “rất “rủi” cho đế quốc Mỹ,

khi chúng chọn miền Nam Việt Nam nước ta là nơi thí điểm chiến tranh đặc biệt, để từ

đó rút ra kinh nghiệm cần thiết đàn áp phong trào giải phóng dân tộc đang sục sôi ở

Trang 31

khắp nơi trên thế giới”[36;994].Đến năm 1962, mọi cố gắng của Mỹ- Diệm vẫn không

ngăn được sự phát triển ngày càng lớn mạnh của lực lượng cách mạng, không hãm được đà xuống dốc của chính quyền Việt Nam Cộng hòa

Trong khi người Mỹ đang loay hoay tìm lối thoát khỏi những bất ổn thì sự kiện

Ấp Bắc (1/1963) đã làm cho người Mỹ phải bàng hoàng Lần đầu tiên Quân giải phóng miền Nam đánh bại chiến thuật “trực thăng vận”, “thiết xa vận” của Mỹ- Diệm, mở ra khả năng đánh bại hoàn toàn chiến thuật chiến tranh được coi là hiện đại của Hoa Kỳ thời điểm này Sau chiến thắng Ấp Bắc, hàng loạt chiến dịch hành quân càn quét quy

mô lớn, nhỏ của quân đội Sài Gòn lần lượt thất bại với quân số thương vong cao

Liên tiếp thất bại trên chiến trường, cộng thêm đó là áp lực từ việc đối đầu với phong trào Phật giáo miền Nam Việt Nam khiến cho chính quyền Ngô Đình Diệm rơi vào thế quẫn bách, chính quyền càng trở nên rối loạn Anh em Diệm càng trở nên độc tài và phát xít hơn, buộc quyết định xiết chặt “bàn tay sắt” hòng lặp lại trật tự ở miền Nam Hành động này đã vấp phải sự phản kháng quyết liệt của quần chúng miền Nam, nhiều cuộc mít tinh, biểu tình nổ ra ở Sài Gòn…

Những thắng lợi liên tiếp của quân và dân miền Nam trên nhiều lĩnh vực, áp lực

từ dư luận quốc tế về cuộc chiến tranh ở Việt Nam và nội bộ chính phủ Hoa Kỳ nhiều người muốn lật đổ Diệm… Tất cả trở thành cái cớ để Hoa Kỳ công khai biện pháp

“thay ngựa giữa dòng” lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm

Trước tình hình rối loạn của nội bộ chính quyền Diệm, Hoa Kỳ đạo diễn các tướng lĩnh quân đội Sài Gòn thực hiện đảo chính Để đối phó với tình hình, tìm kiếm

sự ủng hộ của chính phủ Hoa Kỳ, Ngô Đình Nhu vạch ra kế hoạch “đảo chính giả” nhằm nhận diện và tiêu diệt lực lượng đảo chính thật

Về phía các tướng lĩnh quân đội để chuẩn bị cho cuộc đảo chính các tướng lĩnh

tổ chức đảo chính đưa một số đơn vị quân đội trung thành với Chính phủ Ngô Đình Diệm đi hành quân ở những vùng xa Sài Gòn để các đơn vị này không thể ứng cứu khi đảo chính xảy ra Theo kế hoạch, Ngô Đình Nhu cho các lực lượng trung thành thực hiện cuộc đảo chính giả bằng việc tấn công một số mục tiêu định sẵn nhằm làm lộ diện lực lượng đảo chính thật, để sau đó nhanh chóng tiêu diệt lực lượng đảo chính thật bằng kế hoạch “phản đảo chính”

Trang 32

Tuy nhiên kế hoạch thất bại, lực lượng đảo chính giả bị khống chế khi chưa kịp hoạt động mà Diệm- Nhu không hề hay biết Đến chiều ngày 1/11/1963 lực lượng đảo chính nổ súng, anh em Diệm vẫn lạc quan và nghĩ rằng kế hoạch đảo chính giả đang thực hiện, vẫn kiếm soát được tình hình Lực lượng đảo chính nhanh chóng chiếm được các vị trí trọng yếu Sau khi chiếm Đài phát thanh, quân đảo chính thông báo danh sách những tướng lĩnh tham gia đảo chính, hầu hết các tướng lĩnh đều có trong danh sách này ngoại trừ: Tư lệnh các Quân đoàn II, Quân đoàn I và Quân đoàn IV Quân đảo chính cũng phát lời hiệu triệu đại ý gồm có lời tuyên bố lý do quân đội phải đứng lên lật đổ chế độ, lời kêu gọi ông Diệm đầu hàng, lời hứa sẵn sàng để cho ông Diệm xuất ngoại và lời hiệu triệu quốc dân đồng bào đoàn kết làm hậu thuẫn cho cuộc đảo chính

Khi nhận được tin kế hoạch “đảo chính giả”, “phản đảo chính” đã thất bại và được kêu gọi đầu hàng Trong đêm ngày 1/11/1963 anh em Diệm- Nhu vội trốn khỏi dinh Gia Long trốn về nhà Mã Tuyên- Tổng bang trưởng của người Hoa Sáng sớm ngày 2 tháng 11, từ nhà Mã Tuyên hai ông sang dự lễ và cầu nguyện tại nhà thờ Cha Tam Sau khi gọi về, Bộ Tổng tham mưu thông báo Tổng thống đang ở nhà thờ Cha Tam- Chợ Lớn và ngay sau đó hai anhem Diệm- Nhu được đón bằng về bằng xe thiết giáp, trên đường về Bộ Tổng tham mưu, Tổng thống Ngô Đình Diệm và cố vấn Ngô Đình Nhu bị hạ sát

Cuộc đảo chính do tướng lĩnh quân đội Việt Nam Cộng hòa thực hiện đã lật đổ chế độ Việt Nam Cộng hòa do Diệm cầm đầu ở miền Nam Việt Nam Cái chết của Diệm là sự thất bại của mô hình nhà nước thuộc địa kiểu mới của Hoa Kỳ ở miền Nam Việt Nam (1955- 1963), đồng thời đẩy chính quyền tay sai của Mỹ ở miền Nam Việt Nam vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng khi chưa tìm được người thay thế Chính quyền độc tài, phát xít Ngô Đình Diệm chính thức sụp đổ

 Tiểu kết chương I

Chế độ Việt Nam Cộng hòa được ra đời và hoạt động trong chiến lược toàn cầu nhằm ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản của Hoa Kỳ Chế độ Việt Nam Cộng hòa được dựng nên, tồn tại chủ yếu dựa vào Đô-la của Hoa Kỳ và bầu cử gian lận Bộ máy chính quyền được tổ chức và hoạt động theo mô hình của chính quyền Hoa Kỳ Vì vậy, về bản chất, chế độ Việt Nam Cộng hòa là một chính quyền tay sai, bù nhìn, thân Hoa

Trang 33

Kỳ, dựa vào Hoa Kỳ để tồn tại Tuy nhiên, giữa Hoa Kỳ và Diệm phát sinh mâu thuẫn dẫn đến việc Hoa Kỳ phải “bật đèn xanh” cho các tướng lĩnh quân đội Sài Gòn tiến hành đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm Qua đó, ta thấy được bộ máy chính quyền Diệm chỉ thực sự là công cụ của Hoa Kỳ để thực hiện chính sách thực dân mới của mình ở tại miền Nam Việt Nam

Bản chất của mối quan hệ Việt Nam Cộng hòa- Hoa Kỳ mà thực chất là Diệm

và Hoa Kỳ lúc đầu là quan hệ đồng minh chống Cộng Sau đó là mối quan hệ giữa tôn chủ và chư hầu và cuối cùng là mẫu thuẫn gay gắt với nhau dẫn đến Hoa Kỳ đã “đạo diễn” đảo chính lật đổ Diệm, cũng là cái kết cho chế độ Đệ Nhất Việt Nam Cộng hòa

Việc thi hành hệ thống các chính sách từ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của chính quyền Việt Nam Cộng hòa theo Diệm đều xuất phát từ lợi ích của nhân dân miền Nam, nhưng thực chất là nhằm mục đích thanh trừng, loại bỏ sự chống đối của các thể lực không cùng phe cánh, củng cố chính quyền và lợi ích của tập đoàn thống trị Các chính sách đó nhằm tạo ra nền tảng kinh tế, chính trị, xã hội cho chế độ Việt Nam Cộng hòa

Trang 34

CHƯƠNG II PHONG TRÀO CÁCH MẠNG QUỐC GIA TRONG CHÍNH THỂ ĐỆ

NHẤT VIỆT NAM CỘNG HÕA (1955-1963) 2.1 TỔ CHỨC PHONG TRÀO CÁCH MẠNG QUỐC GIA TRONG CHÍNH PHỦ NGÔ ĐÌNH DIỆM

2.1.1 Sự thành lập của Phong trào Cách mạng Quốc gia

Sau Đảng Cần lao Nhân vị do hai anh em Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu thành lập vào cuối năm 1954 tại Sài Gòn thì Ngô Đình Nhu cử một bộ phận của Đảng Cần lao ra thành lập và trực tiếp lãnh đạo Phong trào Cách mạng Quốc gia Tổ chức

“Phong trào Cách mạng Quốc gia cũng được thành lập vào ngày ngày 02 tháng 10 năm 1955 theo nghị định 966/NV của Tổng trưởng Nội vụ Việt Nam Cộng hòa do Trần Chánh Thành – Bộ trưởng Thông tin là chủ tịch”[23] Trần Chánh Thành quê gốc ở

miền Trung, giống như anh em nhà họ Ngô, Trần Chánh Thành nguyên là một cựu quan chức của Việt Minh nhưng sau đó bỏ vào Sài Gòn, móc nối được với Ngô Đình Nhu và trở thành một trong những đảng viên sáng lập ra Đảng Cần Lao Điều đặc biệt

là Trần Chánh Thành không phải là người theo Công giáo Trong những năm đầu của chế độ Việt Nam Cộng hòa, Trần Chánh Thành cơ bản là chuyên viên tuyên truyền cao nhất Trong hai năm 1955 và 1956,Trần Chánh Thành xây dựng hệ thống tuyên truyền sâu rộng ở miền Nam Việt Nam phục cho đắc lực cho việc xây dựng và củng cố vững chắc cho chính quyền Ngô Đình Diệm trong những năm đầu Trong quá trình đó, quyền lực và ảnh hưởng của Trần Chánh Thành trở nên rất mạnh

Sự ra đời của tổ chức Phong trào Cách mạng Quốc gia có tác dụng dùng để điều khiển nhiều đoàn thể vệ tinh xung quanh Đảng Cần lao khác như: Liên đoàn Công chức Cách mạng Quốc gia; Liên đoàn Tư chức Cách mạng Quốc gia; Tập đoàn công dân; Phong trào tranh thủ tự do, Phong trào Phụ nữ Liên đới… Phong trào Cách mạng Quốc gia hoạt động thành lập vô kỳ hạn và hoạt động trên khắp lãnh thổ Việt Nam và ngoại quốc, trụ sở trung ương của phong trào đặt tại Sài Gòn

Phong trào Cách mạng Quốc gia ra đời với hoạt động theo điều khiển của Đảng Cần lao Nhân vị thu hút được đông đảo thành viên và trở thành một công cụ tuyên truyền, dân vận phổ biến quan trọng cho chính quyền Ngô Đình Diệm

Trang 35

2.1.1.1 Mục tiêu hoạt động của Phong trào Cách mạng Quốc gia

Xuất phát từ yêu cầu sống còn của Ngô Đình Diệm là cần có một lực lượng hậu thuẫn vững chắc, tập hợp thành một tổ chức lớn mạnh để lôi kéo, tập hợp lực lượng của các đoàn thể ái quốc khác để ủng hộ cho chính quyền của Diệm Để phô trương sự chính nghĩa của tổ chức, ngay từ khi thành lập Phong trào Cách mạng Quốc gia tạo nên những mục tiêu mang đầy tính “giả tạo” là đoàn kết chặt chẽ tất cả các phần tử Quốc gia thành một khối duy nhất nhằm tranh đấu thống nhất lãnh thổ; phục hồi toàn vẹn chủ quyền quốc gia; thực hiện một cuộc cách mạng toàn vẹn, xây dựng trên nền tảng căn bản “công bằng xã hội- tự do con người”, một chế độ dân chủ chuyên chính phục vụ quyền lợi tối cao của dân tộc Nhưng thực chất, mục tiêu mà Phong trào Cách mạng Quốc gia ra đời để tập hợp lực lượng, tạo cơ sở xã hội cho chế độ, chống lại các lực lượng đối lập, giúp Ngô Đình Diệm truất phế Bảo Đại, đưa Ngô Đình Diệm lên làm Tổng thống, hỗ trợ chính quyền Diệm trong quốc sách “chống Cộng”, lập các Dinh điền, Ấp Chiến lược…

Với những mục tiêu được đề ra, kế hoạch thực hiện tỉ mỉ và những thành quả đạt được trong từng giai đoạn của chính quyền Diệm Phong trào Cách mạng Quốc gia đã tạo được tiếng vang lớn để gây dựng cấp tốc được một lực lượng hùng hậu ủng hộ chính quyền, phục vụ đắc lực cho quá trình thâu tóm quyền lực của anh em Diệm, biến miền Nam Việt Nam thành “lãnh địa” của nhà họ Ngô Đồng thời, đẩy nhân dân miền Nam vào cảnh cùng cực, phẫn uất với sự thối nát của xã hội, chính sách cai trị hà khắc, bất công của chính quyền Diệm

2.1.1.2 Cách thức gia nhập Phong trào Cách mạng Quốc gia

Để củng cố chính quyền của Ngô Đình Diệm, với mục tiêu ổn định tình hình, đối phó với các tổ chức chính trị đối lập tại miền Nam nên tổ chức Phong trào Cách mạng Quốc gia nằm dưới sự chủ trương đường lối hoạt động của Đảng Cần lao Nhân vị Một phần vận dụng viện trợ của Hoa Kỳ nên Phong trào Cách mạng Quốc gia đã nhanh chóng thâm nhập sâu vào các tầng lớp xã hội như quân đội, công chức, trí thức, giới kinh doanh… tại miền Nam và trở thành tổ chức lớn nhất thời bấy giờ dưới sự lãnh

đạo của Đảng Cần lao Nhân vị “Phong trào Cách mạng Quốc gia thu nạp tất cả

những phần tử Quốc gia không phân biệt đảng phái, tôn giáo, nam nữ trên 21 tuổi”.[27]

Trang 36

Những đoàn viên của Phong trào được chia làm 2 hạng gồm: Đoàn viên chính thức hoặc đoàn viên dự bị Những đoàn viên thuộc hạng dự bị sau một thời gian công tác (tối thiểu là 3 tháng) thì được nhận vào hạng đoàn viên chính thức.Để được gia nhập Phong trào đoàn viên phải công nhận tôn chỉ, mục đích, chương trình hoạt động

và điều lệ của Phong trào và được ít nhất 2 đoàn viên giới thiệu Thêm vào đó, đoàn viên phải đóng một số tiền trước khi gia nhập là 20 đồng và có nghĩa vụ mỗi tháng phải đóng tiền phí là 10 đồng để Phong trào có kinh phí hoạt động (Phong trào có thể miễn cho đoàn viên nghèo)

Ngoài ra, đoàn viên phải tuyên thệ trước Ban chấp hành của Phong trào nơi mình xin gia nhập, trách nhiệm tối cao của của các đoàn viên là phải triệt để tuân theo kỷ luật của Phong trào Tất cả các văn bản ban hành, nghị quyết của Phong trào Trung ương và của các cơ quan thượng cấp đều phải được chấp hành một cách thiết thực, nhanh chóng những vấn đề chưa quyết định thì có thể thảo luận, nhưng khi đã thông qua rồi thì không được tranh luận nữa mà phải tuân theo triệt để Phong trào Cách mạng Quốc gia tổ chức sâu rộng đến từng xã, phường, kết nạp hầu hết những người tương đối có chút kiến thức Họ mời đến họp và đưa đơn cho gia nhập, không ai dám

từ chối vì sợ bị nghi ngờ là Cộng sản hay chống đối chính quyền

Ngay khi mới thành lập, để lôi cuốn nhân dân tin theo, tổ chức Phong trào Cách mạng Quốc gia đề ra “chương trình tối thiểu” áp dụng đối với tất cả các mặt trọng yếu của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, với nhiều đặc điểm nổi trội trong khắp các lĩnh vực khác nhau, tiêu biểu như trong lĩnh vực chính trị: Cương quyết chống Cộng để nhất định thắng lợi trong cuộc tổng tuyển cử; bành trướng tinh thần Quốc gia dân chủ bảo vệ Tổ quốc Thành lập “Quốc hội lâm thời” để đại diện cho các đảng phái và đoàn thể quốc gia chân chính tham gia quốc vụ, sau này tiến tới Quốc hội chính thức; đào tạo tinh thần phục vụ chính quyền trong giới công chức; triệt để bài trừ tham quan ô lại Trong quân đội, tổ chức chỉ huy huấn luyện một đội quân tinh nhuệ, thống nhất quân đội Quốc gia nhằm mục đích chống Cộng bảo vệ đất nước Về chính sách đối ngoại, Phong trào Cách mạng Quốc gia chủ trương chống lại bọn thực dân, thực hiện chính sách thân thiện với nhân dân Pháp, thân thiện với các nước dân chủ ủng hộ Quốc gia Việt Nam

Trong lĩnh vực kinh tế và giao thông vận tải, tổ chức định hướng cải cách điền địa (cấp ruộng, giảm tô…); khoa học và kỹ nghệ hóa nông nghiệp- lâm nghiệp- ngư

Trang 37

nghiệp, khuyến khích tự sản xuất nhiều sản phẩm để xuất khẩu ra nước ngoài; thành lập các hợp tác xã để mua vật liệu và bán nông sản; tổ chức các phòng thương mại Việt Nam liên lạc với các nước để thúc đẩy giao lưu buôn bán, thúc đẩy sự phát triển kinh tế nội địa Ngoài ra còn cho lập thêm Ngân hàng Việt Nam (có thể cho người ngoại quốc góp một phần vốn)… Nhằm chấn hưng nội hóa phát triển kinh tế, xây dựng

và trùng tu thêm nhiều kiều lộ, đường sắt Chú trọng đặc biệt đến việc phát triển đường hàng không và đường thủy, phục vụ đắc lực cho việc phát triển kinh tế, tạo tiềm lực vững mạnh cho quốc gia Tuy nhiên, các kỹ nghệ hiện đại còn rất ít, đời sống của nhiều tầng lớp nhân dân lao động gặp rất nhiều khó khăn …

Đối với các hoạt động về văn hóa- xã hội, Phong trào Cách mạng Quốc gia có một số chính sách nhằm chứng tỏ nỗ lực xây dựng nền văn hóa lành mạnh trong toàn dân như tổ chức thể dục và tiêu khiển, chống nạn mù chữ, bài trừ mại dâm, tự do tín ngưỡng, tổ chức y tế ở thành thị, phát thuốc cho dân nghèo… Lập thêm nhiều trường công ở làng, quận, tỉnh; khuyến khích văn hóa chống Cộng; tự do tư tưởng và tín ngưỡng; xây dựng một nền văn hóa dân tộc, dân chủ…Tuy vậy, những chính sách này cũng không cải thiện được tình hình kinh tế- văn hóa- xã hội ở miền Nam, đời sống người dân vẫn vô cùng khó khăn, cực khổ.Đồng thời cũng không thể che đậy được bản chất phi chính nghĩa của tổ chức này, không che đậy được những thủ đoạn xấu xa phục

vụ đắc lực cho quá trình tuyên truyền, phô trương cho chế độ

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Phong trào Cách mạng Quốc gia

Phong trào Cách mạng Quốc gia được tổ chức khá chặt chẽ dựa trên nguyên tắc căn bản là bí mật:

“Nguyên tắc bí mật là phương pháp tự vệ hiệu quả nghiệm nhất Không cho kẻ bàng quang biết rõ về lực lượng và nội tình của ta Gián điệp của địch cũng khó lọt vào để quấy rối Dựa vào nguyên tắc này, chủ lực phải của phong trào phải nằm trong chủ lực Dựa vào nguyên tắc đó, chủ lực của Phong trào phải nằm trong bí mật hoàn toàn

Nếu hoàn cảnh đòi hỏi một vài hoạt động công khai, chánh thức thời phong trào

sẽ cắt cử một bộ phận ra ánh sáng Bộ phận công khai bao giờ cũng phải đặt dưới quyền lãnh đạo của bộ phận bí mật”.[27]

Dưới thời Tổng thống Ngô Đình Diệm, Đảng Cần lao Nhân vị là một đảng có danh nghĩa công khai nhưng lại có hoạt động tổ chức gần như bí mật vì phần lớn lực

Trang 38

lượng của Đảng đều hoạt động khá kín đáo, các hoạt động của Đảng chưa được làm sáng tỏ Các đảng viên nắm các chức vụ chủ chốt trong các cơ quan chính quyền, đặc biệt là các cơ quan an ninh và quân đội trong thời kỳ Ngô Đình Diệm nắm giữ chức vụTổng thống, Ngô Đình Nhu đưa phần lớn đảng viên Đảng Cần lao Nhân vị tham gia hoạt động ngầm trong các tổ chức như Thanh niên Cộng hòa, Phong trào Phụ nữ Liên đới, Thanh nữ Cộng hòa, Sở nghiên cứu chính trị - xã hội Các tổ chức này tùy theo vị trí không chỉ trực tiếp tham gia vào guồng máy chính quyền Việt Nam Cộng hòa, mà còn có nhiệm vụ theo dõi, giám sát hoạt động của các tổ chức chính trị và xã hội khác

Dưới sự lãnh đạo của Ngô Đình Nhu, Đảng Cần lao Nhân vị chỉ đưa một bộ phận nhỏ cán bộ ra hoạt động công khai để tổ chức, lãnh đạo Phong trào Cách mạng Quốc

gia Trong Đảng cương của Đảng Cần lao Nhân vị có viết: “Trong giai đoạn hiện thời,

để ứng phó với tình thế, để các Cấp Bộ trực tiếp lãnh đạo Phong trào Cách mạng Quốc gia, hoàn thành nhiệm vụ lớn lao, Đảng đã quyết định công khai hóa bằng cách hợp thức việc tổ chức và đưa một phần cơ sở ra công khai hóa”[10] Để tăng cường

lực lượng của tổ chức, anh em Nhu – Diệm cho sáp nhập Liên đoàn Công chức Cách mạng Quốc gia, Liên đoàn Tư chức Cách mạng Quốc gia, Tập đoàn công dân, Phong trào tranh thủ tự do… vào tổ chức này

Bên cạnh việc hoạt động bí mật, Phong trào tổ chức theo nguyên tắc dân chủ, lấy Tiểu tổ làm đơn vị nhỏ nhất, cũng là đơn vị căn bản Bất kì một đoàn viên nào, dù ở cấp lãnh đạo cũng phải được xếp vào một Tiểu tổ và cùng sinh hoạt với các Tiểu tổ, ngoài giờ sinh hoạt với cơ quan của đoàn thể Nhiều Tiểu tổ sẽ họp lại thành Chi bộ và

có một Ban chấp hành Chi bộ, cứ như vậy nhiều Chi bộ sẽ hợp thành Liên chi bộ…lên đến Xã, Quận, Tỉnh, Liên Tỉnh Cơ quan tối cao của Phong trào là Ban chấp hành Trung ương toàn quốc.Riêng ở mỗi thành phố, thì Phong trào Cách mạng Quốc gia tổ chức thành các Phân bộ, Khu bộ và Chi bộ tuỳ theo hoàn cảnh đi lại thuận tiện và số lượng đoàn viên Nhiều Phân bộ sẽ hợp thành Khu bộ và các Khu bộ hợp thành Chi bộ của Thành phố Ba thời kỳ trong quá trình tổ chức và phát triển:

1 Thành lập các Tiểu tổ nòng cốt;

2 Thành lập các hệ thống;

3 Thành lập các đoàn thể phụ thuộc

Trang 39

Phong trào Cách mạng Quốc gia phát sinh từ một Tiểu tổ sáng lập Từ đây, tổ chức sẽ lan dần dần để thành lập các Tiểu tổ nòng cốt Các Tiểu tổ nòng cốt sẽ liên lạc thẳng với các Tiểu tổ sáng lập, đến khi nào các Tiểu tổ đã phát triển nhiều ở khắp các địa phương, lúc đó phải chấn chỉnh, tổ chức thành từng hệ thống

Tiểu tổ là cơ quan chính của Phong trào và cũng là cơ sở căn bản nhất, cơ quan này bao gồm một Tiểu tổ trưởng (hay một Bí thư), một Tổ viên phụ trách Ngoài nhiệm vụ mà bất kì đảng viên nào cũng phải làm là kết nạp đảng viên mới, có một nhiệm vụ riêng nữa là: Ngoại giao; Huấn luyện- Tuyên truyền; Tài chính… Còn lại mọi sinh hoạt của Tiểu tổ phải đều đặn, kỷ luật được duy trì chặt chẽ Bất cứ đảng viên nào cũng phải có Tiểu tổ, mỗi khi thay đổi nơi cư trú và làm việc thì Ban chấp hành hữu trách phải ghép họ vào một Tiểu tổ mới

Phong trào Cách mạng Quốc gia được tổ chức một cách chặt chẽ từ trung ương

đến địa phương thành lập“ba hệ thống và các cơ sở đặc biệt đều là chủ lực của Phong

trào Chưa kể đến các đoàn thể phụ thuộc mà Phong trào sẽ tổ chức nên để hướng dẫn mọi ngành hoạt động trong xã hội”.[27] Bao gồm như sau:

“Hệ thống A (trung tâm): Dựa vào sự phân chia cương vực, địa lý Thâu nhận những phần tử sinh hoạt cố định, không ở trong một đoàn thể nào khác ( Những phần

tử trong hệ thống A có thể ở trong một đoàn thể, nhưng đoàn thể đó phải là một đoàn thể rời rạc, không có tính chất chặt chẽ và sinh hoạt thuần nhất, thường xuyên) Hệ thống A đi từ toàn quốc tới Liên Tỉnh, Tỉnh (Thành), Quận (Khu phố), Xã (Phố), Thôn… cho tới Tiểu tổ Trung ương có Tổng bộ gồm nhiều Liên Tỉnh; Liên Tỉnh gồm nhiều Tỉnh bộ, Tỉnh bộ gồm nhiều Quyện bộ, Quận bộ gồm nhiều Xã bộ, Xã bộ gồm nhiều chi bộ; chi bộ gồm nhiều Tiểu tổ; Tiểu tổ gồm từ 3 đến 5 người

Hệ thống B: Nằm trong một đoàn thể chặt chẽ lưu động, có sinh hoạt kinh thường và thuần nhất như trong quân đội Trong quân đội, Phong trào Cách mạng quốc gia sẽ đi từ cấp Bộ cao nhất là Bộ Tổng tham mưu tới các đơn vị nhỏ dần, cho tới Tiểu

tổ (ở trong một Trung đội hay Tiểu đội)

Các cơ sở Phong trào sẽ chịu mệnh lệnh ở cấp trên trực tiếp trong hệ thống, các

cơ sở cao nhất trong quân đội sẽ nhận mệnh lệnh ở Ban chấp hành Trung ương của Phong trào Đôi khi quân đội sẽ chia làm nhiều quân đoàn, mỗi quân đoàn đóng cố định trong một chiến khu (Kỳ hay liên Tỉnh), lúc đó nên đặt Ban chấp hành Quân Đảng bộ cao nhất trong chiến khu, trực thuộc Ban chấp hành Phong trào Liên khu

Trang 40

Hệ thống C: Nằm trong một đoàn thể chặt chẽ cố định, có sinh hoạt kinh thường chặt chẽ, thuần nhất như một Liên đoàn Nông dân Mỗi cấp bộ của hệ thống này sẽ đặt dưới quyền cấp bộ trên cùng hệ thống, về phương diện tổ chức, sinh hoạt,

kỷ luật…nhưng sẽ đặt dưới quyền trực thuộc của Ban chấp hành cấp bộ Phong trào tương đương về phương diện hoạt động chính trị (đường lối, kiểm soát, đôn đốc…) [Phụ lục 3]

Những cơ sở đặc biệt: Đảng đoàn chính quyền: Chính phủ - Quốc hội đặt dưới quyền Ban chấp hành Trung ương, những cơ sở trong các công sở, trường học, xí nghiệp, đặt dưới quyền Ban chấp hành Phong trào địa phương (tùy theo sự quan trọng

ít hay nhiều sẽ đặt dưới quyền Ban chấp hành phong trào địa phương nhỏ hay

lớn)”.[27]

Tất cả các Ban chấp hành các cấp của Phong trào Cách mạng Quốc gia đều diễn

ra những cuộc họp thường xuyên nhằm kiểm thảo, báo cáo và đề nghị công tác lên cấp trên Tùy theo đơn vị mà Ban chấp hành các cấp quy định số lần họp trong tháng như: Ban chấp hành Xã mỗi tuần hộp 1 lần; Ban chấp hành Huyện hai tuần họp 1 lần; Ban chấp hành Tỉnh một tháng họp 1 lần; Ban chấp hành Trung ương thì tùy theo công việc

mà quy định số lần phiên họp nhiều hay ít, ít ra phải nữa tháng họp một lần thường xuyên Mỗi lần khai họp phải kèm theo biên bản và tờ báo cáo lên cấp trên

Phong trào Cách mạng Quốc gia hay bất cứ tổ chức nào của Phong trào cũng có thể bị giải tán.Nếu do ¾ (ba phần tư) số đoàn viên yêu cầu hoặc do quyết định giải tán của Chính Phủ thì Phong trào Cách mạng Quốc gia phải thi hành

2.1.2.1 Các cơ quan của Phong trào Cách mạng Quốc gia

Trong tổ chức Phong trào Cách mạng Quốc gia thì Ủy Ban chấp hành Trung ương là cơ quan tối cao của Phong trào có nhiệm vụ thi hành các nghị quyết của Đại hội toàn quốc Ủy ban làm việc theo nguyên tắc Dân chủ tập trung, tập đoàn chỉ huy, một nghị quyết phải được đa số hội viên tán thành mới được ban hành Ủy ban phải họp ít nhất mỗi tuần một lần và phải chịu trách nhiệm trước Đại hội toàn quốc

Đặt dưới quyền Ban chấp hành Trung ương có các cơ quan của Phong trào gồm:

- Phòng Thư ký: Phòng tập trung văn thư, phân phát văn thư và được coi như một cái trạm liên lạc;

- Phòng Đảng vụ: Chịu trách nhiệm trông coi các việc nội bộ trong Phong trào như: Tổ chức; Mật vụ; Huấn luyện…

Ngày đăng: 21/06/2021, 21:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w