1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nhân vật lịch sử và dã sử trong truyện ngắn nguyễn huy thiệp

116 22 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính bằng sự yêu thích đối với tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp đã thôi thúc người viết quyết định đi sâu nghiên cứu và tìm hiểu về truyện ngắn của ông, với đề tài “Nhân vật lịch sử và dã

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT

KHOA NGỮ VĂN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Đề tài:

“Nhân vật lịch sử và dã sử trong truyện ngắn

Nguyễn Huy Thiệp”

Giảng viên hướng dẫn: TS HÀ THANH VÂN

Sinh viên thực hiện : LÊ THỊ THU HẰNG

Lớp : D11NV01 Khóa : 2011-2015

Hệ : Chính quy

Bình Dương, tháng 6/2015

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT

KHOA NGỮ VĂN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Đề tài:

“Nhân vật lịch sử và dã sử trong truyện ngắn

Nguyễn Huy Thiệp”

Sinh viên thực hiện : LÊ THỊ THU HẰNG

Lớp : D11NV01 Khóa : 2011-2015

Hệ : Chính quy

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Nhân vật lịch sử và dã sử trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp”, em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, quan

tâm của quý Thầy Cô, gia đình và bạn bè

Với lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cám ơn TS Hà Thanh Vân, người

đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành khóa luận này

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô trong khoa Ngữ Văn – Trường Đại Học Thủ Dầu Một đã truyền đạt cho em nhiều kiến thức bổ ích và tạo mọi điều kiện cho em để hoàn thành khóa luận tốt nhất

Em cũng gửi lời cảm ơn tới gia đình và những người bạn thân đã khích lệ, động viên em trong suốt khóa học cũng như trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp

Em xin chân thành cảm ơn!

Bình Dương, ngày 04 tháng 06 năm 2015

Sinh Viên

Lê Thị Thu Hằng

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của TS Hà Thanh Vân Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong khóa luận là trung thực và chưa được công bố trong các công trình khác

Sinh viên

Lê Thị Thu Hằng

Trang 5

MỤC LỤC

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Lịch sử vấn đề 2

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 8

5 Phương pháp nghiên cứu 9

6 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

7 Cấu trúc khóa luận 10

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 11

1.1 NHÀ VĂN NGUYỄN HUY THIỆP VÀ QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC 11

1.1.1 Cuộc đời 11

1.1.2 Quá trình sáng tác 12

1.2 HỆ THỐNG KHÁI NIỆM 16

1.2.1 Khái niệm “truyện ngắn” 16

1.2.2 Khái niệm “nhân vật” 17

1.2.3 Khái niệm “nhân vật lịch sử” 19

1.2.4 Khái niệm “nhân vật dã sử” 19

* Tiểu kết 20

Trang 6

CHƯƠNG 2 CÁC KIỂU NHÂN VẬT LỊCH SỬ VÀ DÃ SỬ TRONG TRUYỆN

NGẮN NGUYỄN HUY THIỆP 21

2.1 NHÂN VẬT LỊCH SỬ VÀ DÃ SỬ TRONG BỐI CẢNH THỜI ĐẠI 21

2.1.1 Nhân vật lịch sử trong bối cảnh thời đại 21

2.1.1.1 Nhân vật là vua 21

2.1.1.2 Nhân vật là tướng 29

2.1.1.3 Nhân vật là nhà thơ 32

2.1.2 Nhân vật dã sử trong bối cảnh thời đại 35

2.1.2.1 Nhân vật là tướng 35

2.1.2.2 Nhân vật là nữ nhi 43

2.1.2.3 Nhân vật là cầu nối lịch sử 46

2.2 NHÂN VẬT LỊCH SỬ VÀ DÃ SỬ TRONG BỐI CẢNH VĂN HỌC 48

2.2.1 Nhân vật lịch sử trong bối cảnh văn học 48

2.2.1.1 Nhân vật là nhà thơ 48

2.2.1.2 Nhân vật là nhà văn 67

2.2.2 Nhân vật dã sử trong bối cảnh văn học 71

2.2.2.1 Nhân vật là nữ 71

2.2.2.1 Nhân vật là thi sĩ 74

* Tiểu kết 75

CHƯƠNG 3 NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT LỊCH SỬ VÀ DÃ SỬ TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN HUY THIỆP 77

3.1 XÂY DỰNG NHÂN VẬT QUA NGOẠI HÌNH 77

Trang 7

3.2 XÂY DỰNG NHÂN VẬT QUA HÀNH ĐỘNG 80

3.3 XÂY DỰNG NHÂN VẬT QUA NGÔN NGỮ 85

3.3.1 Ngôn ngữ đối thoại 85

3.3.2 Ngôn ngữ độc thoại nội tâm 94

* Tiểu kết 101

KẾT LUẬN 103

TÀI LIỆU THAM KHẢO 105

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nguyễn Huy Thiệp được xem là một hiện tượng tiêu biểu của văn học Việt Nam cuối thế kỷ XX Sáng tác của ông bao gồm nhiều thể loại như: Kịch, truyện ngắn, tiểu thuyết Nhưng sở trường đặc biệt của Nguyễn Huy Thiệp là sáng tác theo thể loại truyện ngắn Với những góc nhìn mới đầy táo bạo, tác phẩm của ông đã khiến cho dư luận trong nước cũng như dư luận nước ngoài trở nên sôi nổi Ý kiến về truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp khen chê đều có cả, nhưng dù ngợi khen hay

phê bình thì “phần lớn mọi người đều nhận xét ông là một tài năng độc đáo”[18;

131] Đánh dấu cho thành công ở thể loại này ông đã giành được một số giải thưởng quan trọng:

- Ngày 9 tháng 7 năm 2007, ông được đại sứ Pháp ở Việt Nam trao tặng Huân chương Văn học Nghệ thuật của Pháp;

- Ngày 23 tháng 01 năm 2008, ông nhận giải thưởng Premio Nonino, Italy;

Ngoài ra truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp còn được dịch sang nhiều ngôn ngữ như Pháp, Anh, Italy, Thụy Điển, Đan Mạch, Hà Lan, Đức, Hàn Quốc, Nhật Bản…, Chính những thành tựu trên là minh chứng rõ ràng nhất cho tầm ảnh hưởng rộng lớn của tác phẩm văn chương Nguyễn Huy Thiệp đối với độc giả trong nước và trên thế giới

Kinh nghiệm sống phong phú của Nguyễn Huy Thiệp có được chủ yếu là nhờ đã

từng : “… trải nghiệm nhiều cuộc sống, đi liền với các nghề nghiệp: dạy học, làm viên chức, vẽ tranh, bán quán ăn đặc sản, làm gốm… Muốn mình phải trải qua những vật lộn sinh tồn của mỗi nghề… để có vốn sống thực đầy ắp cho nghề viết”[31] Nhờ làm đủ nghề để có vốn sống phục vụ cho việc viết văn, nên tài năng

của ông càng được mài dũa sắc bén Với lối viết mang nhiều yếu tố mới, phong phú,

đa dạng nên truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp thể hiện được nguồn nội lực lớn

Trang 9

lao về tư duy nghệ thuật trong những tìm tòi, thể nghiệm nhằm tạo ra những tác phẩm có tính khai phá, đặc biệt là thể loại văn học sử Tuy còn nhiều ý kiến trái chiều về cách viết như muốn “đảo lộn lịch sử” của ông, nhưng theo cảm nhận riêng, người viết lại có một cảm giác rất thú vị và bị lôi cuốn khi đọc về mảng truyện ngắn lịch sử này

Chính bằng sự yêu thích đối với tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp đã thôi thúc người viết quyết định đi sâu nghiên cứu và tìm hiểu về truyện ngắn của ông, với đề

tài “Nhân vật lịch sử và dã sử trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp” để viết khóa

luận tốt nghiệp Hy vọng với đề tài này, con đường Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp sẽ có

thêm một dấu chân mới

2 Mục tiêu nghiên cứu

Khóa luận tập trung tìm hiểu những tuyến nhân vật chủ yếu trong “Nhân vật lịch

sử và dã sử trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp” một cách tương đối hệ thống,

toàn diện, qua đó khẳng định cái nhìn đa chiều, mới mẻ, táo bạo của Nguyễn Huy Thiệp về con người thông qua hệ thống nhân vật phong phú, đa dạng

Thông qua nghệ thuật xây dựng nhân vật tiêu biểu của ông, người viết sẽ nhấn mạnh một lần nữa tài năng của “ông vua” truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp

Qua khóa luận này, người viết mong muốn sẽ đem đến một cái nhìn bao quát về các sáng tác truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, những đóng góp của ông cho nền văn học nước nhà đồng thời làm nổi bật lên tuyến nhân vật lịch sử và dã sử được hiện lên rất sáng tạo, hấp dẫn dưới ngòi bút của ông Người viết hy vọng, luận văn này sẽ góp phần làm cho bức tranh về Nguyễn Huy Thiệp được hoàn chỉnh hơn và sinh động hơn

3 Lịch sử vấn đề

Hai mươi năm trước, vào thời kỳ đổi mới, thời kỳ đã làm hồi sinh đất nước, hồi sinh con người và văn học cũng từ đó mà hồi sinh với tất cả sự sâu sắc, phức tạp,

Trang 10

toàn diện, đa dạng, phong phú của nó đã kết tinh nên “hiện tượng” Nguyễn Huy Thiệp

Sự xuất hiện của ông trên văn đàn đã gây chấn động lớn trong giới văn chương

và người đọc, nhất là khi ông in Tướng về hưu, Nguyễn Khải đã phải kêu lên rằng

“Nó đã viết đến thế này thì mình còn gì để viết nữa đây?”[39], khi dư luận vẫn đang còn xôn xao, bàn tán về truyện ngắn này thì liên tiếp ông trình làng Những ngọn gió Hua Tát, Con gái thủy thần, Không có vua, Giọt máu, Vàng lửa, Kiếm sắc, Phẩm tiết… Không chỉ viết truyện ngắn, Nguyễn Huy Thiệp còn viết: Kịch, tiểu thuyết

và tiểu luận văn chương Dư luận lúc bấy giờ thực sự sôi sục khi tranh nhau tìm đọc truyện của ông, đọc rồi thì lại đưa ra bàn tán, bình phẩm Cũng không quá khi nói chính Nguyễn Huy Thiệp là người “nạp điện” cho nền văn học lúc bấy giờ, khi giới văn đàn đã thực sự khởi sắc hẳn sau khi ông xuất hiện Các ý kiến xung quanh “hiện tượng” Nguyễn Huy Thiệp từ lúc đó tới nay đã trải qua hơn hai thập kỉ thực sự rất nhiều, phải tính đến con số hàng trăm, đó còn chưa kể đến một lượng các luận văn đại học, sau đại học trực tiếp lấy sáng tác của ông làm để tài nghiên cứu và chắc hẳn con số này sẽ còn tăng nhiều hơn

Các ý kiến xung quanh Nguyễn Huy Thiệp cũng như truyện ngắn của ông được đăng rất nhiều trên báo chí khắp nơi gần hai mươi năm qua Người viết đã dựa vào

cuốn sách Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp của Phạm Xuân Nguyên sưu tầm và biên soạn

(đây là cuốn sách tập hợp khá nhiều bài viết về Nguyễn Huy Thiệp, ước tính là một phần ba bài viết đã đăng trên báo chí) để liệt kê ra phần lớn những nhận định, ý kiến

có liên quan đến “Nhân vật lịch sử và dã sử” của ông, còn lại thì sẽ lấy từ những tư

liệu bên ngoài

3.1 Ý kiến, nhận định về nội dung, hình thức có liên quan đến nhân vật lịch

sử và dã sử trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp

Trong “Bàn thêm về truyện ngắn Vàng Lửa của Nguyễn Huy Thiệp”, Văn Giá

nhận định: “…nhân vật của anh là những ẩn dụ đa nghĩa Đặng Phú Lân (Kiếm sắc),

Trang 11

Phăng (Vàng lửa)… đều theo tinh thần ấy Đó chính là mạch ngầm của những ý

tưởng Đó cũng chính là những giả định - biểu hiện của những sự nghiền ngẫm chưa xong - mà tác giả có ý đồ tung ra trước bạn đọc”[18; 206] Theo nhận định của Văn Giá, mỗi nhân vật dã sử của Nguyễn Huy Thiệp đều ẩn chứa nhiều tầng ý nghĩa, thông qua đó nhà văn muốn gửi đến cho độc giả những suy tư và cảm nghĩ chủ quan của mình

Đào Duy Hiệp đã nhận định về Hồ Xuân Hương trong “Đọc Chút Thoáng Xuân Hương”: “Hồ Xuân Hương hoàn toàn vắng bóng với tư cách là hình tượng nhân vật Bà chỉ bắt đầu xuất hiện trong suy nghĩ so sánh của Tổng Cóc, trước các đồ vật mang nhiều dấu vết từ con người cũng như từ bàn tay nàng làm ra…., xuất hiện qua

cái nhìn ngắm của Tổng Cóc”[18; 76, 79] Như vậy trong truyện ngắn Chút thoáng Xuân Hương, Hồ Xuân Hương không xuất hiện trực tiếp mà sẽ xuất hiện thông qua

cái nhìn của Tổng Cóc, từ đó người đọc sẽ nhìn thấy nàng Hương qua cái nhìn của người khác sẽ như thế nào, từ đó rút ra được cảm nhận của bản thân về nhân cách của cả hai nhân vật

Trong “Có nghệ thuật Ba-Rốc trong các truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp hay không?” Thái Hòa, giảng viên Đại học Sư phạm Hà Nội đã nhận định rằng:

“Tất cả những trò bàn luận của lũ chúng ta đều vô nghĩa hết Thiên nhiên không hề

dối trá” (Chút thoáng Xuân Hương) Suy cho cùng đó là chân lý, bởi vì thiên nhiên

chứa trong mình nó toàn bộ các quy luật, trong đó có những quy luật sinh tồn của con người…” Thái Hòa còn nhận thấy nhân vật trong truyện ngắn lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp rất lương thiện, rất đẹp về tâm hồn, đại diện là Nguyễn Du và

Hồ Xuân Hương: “Nguyễn Du giàu lòng thương người, nhưng lòng thương ấy phỏng có ích gì cho cộng đồng, ngoài bộ mặt nhàu nát như chính bầu tâm sự nhàu nát tả tơi của ông…, cái Đẹp lắng sâu vào bên trong tâm hồn, hòa vào cái tự nhiên… những tâm hồn đẹp của những người đã từng lăn lộn quằn quại trong cuộc đời như Xuân Hương, Nguyễn Du Dưới ngòi bút của nhà văn thì chỉ có hai hạng người đẹp, đó là những người ngây thơ rất gần gũi với bản sắc tự nhiên, chưa hề bị

Trang 12

những bụi bặm của cuộc đời làm cho vẩn đục, còn loại người thứ hai đã từng nếm trải những thất bại đau đớn trong đời người, được cuộc đời rửa sạch trở nên trong trẻo, thanh cao Và trên hết cả là cái đẹp của thiên nhiên, một thiên nhiên hài hòa rộng lượng… trong cảnh rừng mùa xuân, trong suối êm dịu, ánh trăng lộng lẫy trong vườn chè của tri phủ Vĩnh Tường”[18; 100, 101, 102]

Hai nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Mai Xuân và Trương Hồng Quang đã chỉ ra

kết cấu truyện ngắn Vàng lửa trong “Vàng lửa của Nguyễn Huy Thiệp “triết học lịch sử” hay là “văn xuôi nghệ thuật”?”: “Kết cấu truyện ngắn Vàng lửa trên đại

thể theo chúng tôi gồm có bốn phần: Phần một, có thể gọi là phần dẫn chuyện, thuật lại việc người kể chuyện ở ngôi thứ nhất đã có được các “tư liệu cổ” ra sao: Chi tiết đáng lưu ý nhất ở đây là nhận xét của nhân vật Quách Ngọc Minh rằng hình ảnh

“người trẻ tuổi trong quán trong trẻo lạ lùng, tâm hồn sạch như nước núi ra” mà người kể chuyện ở ngôi thứ nhất đã xây dựng nên một cách tiên nghiệm về Nguyễn

Du là “không ra gì” Phần hai, phần chiếm một dung lượng khá lớn trong truyện, bao gồm các trích đoạn bút kí của Phăng Tuy nhiên phải tới phần ba, phần bút ký

của người Bồ Đào Nha, hành động thực tế của truyện về chủ đề Vàng lửa mới bắt

đầu được triển khai Phần bốn, phần kết thúc với ba đoạn kết giả định của người kể chuyện ở ngôi thứ nhất, nói theo một khái niệm thông dụng, chính là sự “mở nút” của toàn bộ hành động truyện”[18; 210]

Hai nhà nghiên cứu văn học trên đã đồng ý với tác giả bài “Về một cách hiểu truyện ngắn Vàng lửa” (Văn nghệ, số ra ngày 30/7/1988) rằng : “Nhân vật Phăng

là một thành công của Nguyễn Huy Thiệp”, khi xin được nói phỏng theo Mark là

Phăng đã làm cho tác giả bài “Về truyện ngắn Vàng lửa”… phải “khiêu vũ bằng

giai điệu chính mình”[18; 218] Điều này có nghĩa là Nguyễn Huy Thiệp đã rất thành công khi xây dựng nhân vật Phăng và nhân vật này đã truyền tải được nhiều thông điệp của nhà văn đến cho người đọc

PGS.TS Đặng Anh Đào với bài viết về “Kiếp luân hồi của Nguyễn Trãi qua Nguyễn Thị Lộ” đã nói lên được nỗi cô đơn trong bản thân nhân vật lịch sử và dã

Trang 13

sử của Nguyễn Huy Thiệp: “… mối ám ảnh về sự cô đơn của bản thân nhân vật Nguyễn Trãi, nhân vật lịch sử, có thể đã đơn độc từ trước đây hơn 500 năm: Nếu

không, ông không bị hãm hại một cách bi thảm như vậy Nhưng với Nguyễn Thị Lộ

lần đầu tiên Nguyễn Trãi được tái sinh như một con người hiện tại, bởi ý thức về sự

cô đơn chỉ phát hiện đầy đủ với con người hiện đại, đặc biệt ở Việt Nam Ý thức về

cá nhân, về sự khác biệt với “bầy đàn” làm phát sinh cảm giác cô đơn ở Nguyễn

Trãi đã nhập ông vào thế kỷ chúng ta”[18; 271] Như vậy, đọc Nguyễn Thị Lộ

chúng ta sẽ nhận ra được cái cô đơn của nhân vật Nguyễn Trãi, ông luôn cô đơn ngay khi ở giữa đồng loại của mình Dùng chuyện ngày xưa để nói chuyện ngày nay

là cách mà nhà văn Nguyễn Huy Thiệp truyền tải những suy nghĩ của mình đến cho người đọc, tư duy “bầy đàn” ở đây mang ý nghĩa là con người chúng ta không dám sống theo cách của mình, không dám sống cho mình mà chỉ chăm chăm nhìn những người xung quanh để sống cho giống với họ, bởi chúng ta sợ bị chú ý, sợ bị xăm xoi Từ đó nhà văn muốn người đọc hiểu rằng: Mỗi con người là một cá thể khác biệt, tư duy và ước muốn cũng khác nhau, chính vì thế hãy sống cho bản thân mình chứ đừng sống cho thiên hạ, đồng thời cũng đừng xăm xoi chỉ trích những người có suy nghĩ khác với mình, bởi họ cũng giống như bạn đều có chính kiến riêng của bản thân mà thôi

Nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Tuyết Nhung, khoa Việt Nam học (Đại Học Sư

Phạm Hà Nội) trong “Nguyễn Huy Thiệp - hợp lưu giữa nguồn mạch dân gian và tinh thần hiện đại” đã viết: “Những nhân vật lịch sử như Quang Trung, Nguyễn

Du, Nguyễn Ánh, Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Đề Thám… hiện lên dưới ngòi bút nhà văn cũng không phải theo những chuẩn mực, những quy ước thẩm mĩ truyền thống Họ xuất hiện thuần nhất với tư cách số phận của một con người, một

cá thể cô đơn được lịch sử “chọn lựa” và bị cuốn vào vòng quay của định mệnh nghiệt ngã Qua những nhân vật đó, dường như tác giả muốn đặt ra những câu hỏi

về “tính người” chân chính, về thân phận con người trong mối quan hệ với lịch sử,

về quyền lực trong mối quan hệ với Tình yêu và cái Đẹp…”[32] Từ nhận định của Nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Tuyết Nhung, người viết rút ra được: Nhân vật lịch sử

Trang 14

trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp không còn đóng vai trò lịch sử của họ nữa, mà hiện tại họ được đưa vào làm nhân vật trong tác phẩm văn học với tư cách

là một con người bình thường, sau đó nhà văn cho họ sống để hành động với những cảm xúc của con người bằng da bằng thịt Rồi thông qua những nhân vật đó, nhà văn sẽ truyền đạt những suy nghĩ của mình về “tính người” chân chính, về thân phận con người trong mối quan hệ với lịch sử, về quyền lực trong mối quan hệ với tình yêu và cái đẹp

3.2 Ý kiến, nhận định về nghệ thuật có liên quan đến nhân vật lịch sử và dã

sử trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp

Trong “Có nghệ thuật Ba-Rốc trong các truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp hay không?”, Thái Hòa, giảng viên Đại học Sư phạm Hà Nội có phân tích: “Cấu

trúc nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp dựa trên hai mảng thực và ảo, theo tỷ lệ phân phối không đồng đều, xen kẽ nhau, chuyển hóa đột ngột, bất ngờ, nhiều ý nghĩa…, có những chi tiết chuyển hóa từ thực đến ảo, rồi từ ảo đến thực:

cảnh bốc mộ Vinh Hoa (Phẩm tiết)…, có những chi tiết được sắp xếp trong mạch

ngầm của văn bản và sự liên kết… đã phát động một trường liên tưởng rộng lớn về

một con người, một xã hội xưa (Chút thoáng Xuân Hương)”[18; 97] Như vậy, trong cảnh bốc mộ Vinh Hoa (Phẩm tiết), người đọc có thể cảm nhận được những

chi tiết ảo mà như thực, bởi Vinh Hoa là nhân vật ảo, còn cảnh bốc mộ lại được nhà

văn miêu tả rất thực Hay khi đọc Chút thoáng Xuân Hương, người đọc sẽ cảm nhận

được không khí tù đọng của làng quê cũng như cuộc sống của những con người trong xã hội phong kiến

Trương Hồng Quang đã tập hợp “Mười lời bình về truyện ngắn “Phẩm tiết” của Nguyễn Huy Thiệp”, trong những lời bình đó có lời bình về ngôn ngữ của vua

Gia Long rằng: “Ngôn ngữ của Gia Long, thứ ngôn ngữ dã sử, phi chính trường, khác hẳn với ngôn ngữ mang tính cách điệu, được mô phỏng theo ngôn ngữ lưu

truyền trong chính sử (ví dụ ý “ta xuất thân áo vải, cờ đào… là trích từ Chiếu lên ngôi, hay với câu mắng Ngô Khải “Mày nhờ phúc tổ, có ít của chìm, như cái đuôi

Trang 15

khô, tháng ba ngày tám mang ra gặm, tưởng xênh xang ư?” người đọc hiện đại

không thể không mỉm cười về chất biền ngẫu trong đó)”[18; 263] Đọc truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp chúng ta sẽ nhận ra ngôn ngữ mà nhà văn cho nhân vật của mình sử dụng rất bình dân, đôi khi còn thô tục Nhưng chính điều đó đã làm nên sự khác biệt giữa truyện ngắn của ông với các nhà văn cùng thời, bởi ngôn ngữ mà nhân vật của ông sử dụng vô cùng gần gũi và chân thật

Luận văn thạc sĩ ngữ văn của Phan Thanh Bình ở đại học Thái Nguyên đã viết về

“Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp” [8], ở đây

Phan Thanh Bình đã làm rất rõ ràng và có hệ thống những nét chủ yếu trong nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, khẳng định được cái mới mẻ, táo bạo của Nguyễn Huy Thiệp về con người qua cách xây dựng nhân vật đồng thời khẳng định được tài năng của ông qua luận văn của mình

Trên đây là những ý kiến, nhận định, những bài luận của các nhà phê bình, nghiên cứu nói về những vấn đề có liên quan đến nhân vật lịch sử và dã sử trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp mà người viết tìm được Theo chúng ta thấy thì vấn

đề về “nhân vật lịch sử và dã sử” trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp đã được

các nhà nghiên cứu, phê bình bàn đến, nhưng chủ yếu nằm rải rác trong các nhận định, đánh giá nên vẫn chưa được hệ thống và toàn diện Chính vì vậy, trên cơ sở gợi mở của những nhà nghiên cứu phê bình đi trước, người viết muốn làm rõ vấn đề hơn, nhằm đánh bật lên được cái thế giới nhân vật mang màu sắc lịch sử cũng như

là dã sử dưới ngòi bút của Nguyễn Huy Thiệp, nhằm lý giải được sức hấp dẫn trong nghệ thuật viết của “ông vua” truyện ngắn này

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu sẽ bắt đầu từ khái quát về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, sau đó sẽ đi vào phần chính đó là nhân vật lịch sử và dã sử trong truyện ngắn của ông Sau đó người viết sẽ đi tìm hiểu về nghệ thuật xây dựng nhân vật của ông và cuối cùng sẽ đưa ra những kết luận mang tính khái quát nhất

Trang 16

5 Phương pháp nghiên cứu

5.3 Phương pháp văn hóa lịch sử

Người viết sẽ dựa vào bối cảnh thời đại mà Nguyễn Huy Thiệp dựng nên để làm sáng rõ phong cách viết truyện ngắn cũng như tuyến nhân vật đặc trưng giúp ông lấy cảm hứng để viết tác phẩm

5.4 Phương pháp so sánh

Tìm hiểu chung về các nhà văn có những sáng tác về nhân vật lịch sử và dã sử,

để làm rõ thêm nét phong cách viết đặc trưng của Nguyễn Huy Thiệp

6 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

6.1 Đối tượng nghiên cứu

Nhân vật lịch sử và dã sử trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp

Trang 17

Nguyễn Huy Thiệp” do Đỗ Thủy Tiên hiệu đính được Nhà xuất bản Văn hóa Sài

Gòn xuất bản năm 2007

7 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo, phần nội dung được triển khai thành 3 chương như sau:

Trang 18

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp và quá trình sáng tác

bầu sắp đến ngày sinh mà vẫn phải đi buôn để mưu sinh Với ông, nông thôn chính

là nơi lưu giữ những ký ức, là hồn cốt văn hóa dân tộc Việt Nam Sống và trải nghiệm với nó, ông nhận ra giá trị của mình và của các tầng lớp khác trong xã hội Chính vì thế mà những ấn tượng về đồng quê và người lao động đã để lại dấu ấn

đậm nét trong nhiều sáng tác của ông, như trong truyện ngắn Những bài học nông thôn tác giả đã viết rằng: “Mẹ tôi là nông dân, còn tôi sinh ở nông thôn” [1; 140]

Nguyễn Huy Thiệp chịu ảnh hưởng giáo dục chủ yếu của ông ngoại, vốn là người

am hiểu nho học và mẹ, vốn là người sùng đạo Phật

Năm 1960, ông cùng gia đình định cư ở xóm Cò, làng Khương Hạ, Hà Nội

Năm 1970, ông tốt nghiệp khoa Sử Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và lên dạy học tại Tây Bắc đến năm 1980 Ký ức mười năm dạy học tại Sơn La đã để lại trong tâm trí ông những dấu ấn rất đặc biệt nhưng cũng vô cùng giản dị và hồn nhiên Chính từ việc khắc phục khó khăn trong đi lại, sinh hoạt thường ngày kể cả cái đói để hoàn thành tốt nhiệm vụ dạy học đã mang đến cho ông những trải nghiệm, vốn sống mà sau này đã trở thành chất liệu rất đậm nét trong những trang văn được mọi người yêu thích

Năm 1980, ông trở về Hà Nội và đã có vợ Vợ ông tên là Trang, là một cô giáo dạy bộ môn lịch sử, cùng nghề nghiệp với chồng Khi hai người cưới nhau, vợ ông

Trang 19

còn dạy học ở Bắc Ninh, ông thì vẫn đang ở tít tận miền rừng núi của Sơn La Con trai đầu lòng lên 3 tuổi Nguyễn Huy Thiệp từ rừng núi trở về, ông bỏ nghề dạy học, phiêu bạt cùng số phận với nhiều công việc khác nhau như làm công chức ở Cục xuất bản Bộ Giáo dục, Công ty Sách và Thiết bị Giáo dục Sau đó, ông làm việc tại Công ty Kỹ thuật trắc địa bản đồ, Cục Bản đồ cho đến khi về hưu

Sự nghiệp cầm bút của ông bắt đầu khi nền văn học nước nhà đang chuyển mình đổi mới Ông cho ra mắt độc giả tác phẩm đầu tiên khi đã 36 tuổi, lúc này ông

đã có với vợ hai mặt con, người con trưởng đã hơn mười tuổi Sáng tác của ông gồm nhiều thể loại như truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch, thơ, tiểu luận, phê bình văn học Đến nay ông vẫn sống cùng gia đình tại căn nhà số 71 Bùi Xương Trạch, Khương Đình, Hà Nội

Sau 30 năm cầm bút cống hiến cho sự nghiệp văn chương, Nguyễn Huy Thiệp

đã quyết định dừng bút vào cuối năm 2014

được xuất hiện vào tháng 4 năm 1988 thì Nguyễn Huy Thiệp mới thực sự là cái tên

“nổi đình đám” trong làng văn chương lúc bấy giờ

Gần 40 tuổi Nguyễn Huy Thiệp mới cho in truyện ngắn đầu tiên, nhưng chỉ sau vài năm ông đã trở thành một “hiện tượng” khiến văn đàn phải xôn xao Ngay

cả một nhà văn tầm cỡ như Nguyễn Khải, sau khi đọc Tướng về hưu còn hoảng sợ nói rằng: “Tôi cầm bút cả đời, nhưng may ra tôi viết được một phần ba truyện như vậy” [36]

Trang 20

Sở trường của Nguyễn Huy Thiệp là viết truyện ngắn Mảng đề tài mà ông viết rất đa dạng gồm: Lịch sử và văn học, hơi hướng huyền thoại và cổ tích, xã hội Việt Nam đương đại, xã hội làng quê và những người lao động Hơn 40 truyện ngắn của

ông chủ yếu được in trong các tập: Những ngọn gió Hua Tát (Văn Hóa, Hà Nội, 1989), Con gái thủy thần (Hội Nhà Văn, Hà Nội, 1993), Xuân Hồng (Tân Thư, California, 1994), Như những ngọn gió (Văn Học, Hà Nội, 1995), Truyện ngắn chọn lọc Nguyễn Huy Thiệp (Hội Nhà Văn, Hà Nội, 1995), Thương cả cho đời bạc (Văn Hóa - Thông Tin, Hà Nội, 2000), Mưa Nhã Nam (Văn Học, Hà Nội, 2001), Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp (Phụ Nữ, Hà Nội, 2001), Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp (Nxb Trẻ, 2003), Những truyện huyền thoại và lịch sử (Nxb Hội nhà văn, 2004), Những truyện thành thị (Nxb Hội nhà văn, 2004), Những truyện nông thôn (Nxb Hội nhà văn, 2004), Những truyện danh nhân (Nxb Hội nhà văn, 2004), Những truyện tình yêu (Nxb Hội nhà văn, 2004), Cánh buồm nâu thuở ấy (Hội nhà văn, 2005), Tình yêu, tội ác và trừng phạt (Tp.HCM, 2012), Hạc vừa bay vừa kêu thảng thốt (Tp HCM, 2013)

Ngoài sáng tác truyện ngắn, tác giả “Tướng về hưu” còn viết tiểu thuyết và

thơ Tiểu thuyết của ông viết số lượng còn ít và cũng chưa nổi trội bằng mảng

truyện ngắn, gồm một số tác phẩm như: Tiểu Long Nữ (Nhà xuất bản Công an nhân dân, 1996), Tuổi hai mươi yêu dấu (Nhà xuất bản E’ditions de l’Aube, 2002), Gạ tình lấy điểm (Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2007) Kịch của Nguyễn Huy Thiệp được tập trung trong các tập: Suối nhỏ êm dịu (Báo Văn nghệ, California, 2001), Mổ nhà văn (Trang mạng Talawas, Thích Thiện Ngân), Tuyển tập kịch Nguyễn Huy Thiệp (Nxb Trẻ, 2003) với những vở tiêu biểu như: Xuân hồng, Còn lại tình yêu, Gia đình, Nhà tiên tri, Hoa Sen nở ngày 29 tháng 4 Trong cuốn kịch bản chèo Vong Bướm (Nxb Nhã Nam, 2012) gồm có hai tác phẩm là: Vong Bướm và Truyền thuyết tìm vua, đây là cuốn kịch bản chèo đầu tiên mà Nguyễn Huy Thiệp viết

Nguyễn Huy Thiệp sáng tác thơ nhiều, tuy chưa có tập thơ nào được xuất bản nhưng thơ xuất hiện khá nhiều trong những truyện ngắn của ông Một số tác phẩm

Trang 21

của ông còn được dựng thành phim như: Tướng về hưu, Thương nhớ đồng quê (Ðạo diễn: Ðặng Nhật Minh), Những người thợ xẻ Ngoài ra, thơ của ông còn được xuất hiện trong kịch bản chèo Vong Bướm, với những câu thơ lục bát vừa buồn lại vừa

tươi sáng

Sự đa tài của Nguyễn Huy Thiệp chưa dừng lại ở đó, ngoài những sáng tác trên

ông còn viết tiểu luận phê bình trên báo chí Năm 2004, ông viết Trò chuyện với hoa thủy tiên và những nhầm lẫn của nhà văn, bài viết này được phôi thai khi nhà

văn đi chơi (vào ngày mồng 3 tết Giáp Thân) cùng với bạn của mình là Thích Thiện Ngân (bút danh), trên đường đi lên vùng núi Kim Bôi - Hòa Bình ông đã nói những suy nghĩ của mình về văn học với bạn, ít lâu sau bài viết được ra đời Trong bài viết

này nhà văn đã nêu lên suy nghĩ cá nhân về: Vẻ đẹp của văn học, Doping văn học, Văn học hiện nay thiếu gì? Những suy nghĩ của ông đã tạo ra những tranh luận sôi

nổi trong giới văn chương suốt một thời gian dài trên Báo Văn nghệ và một số trang mạng tại Việt Nam Ông còn viết tạp văn, tiểu luận, phê bình, giới thiệu và ghi chú,

những bài viết này được tập hợp trong cuốn Giăng lưới bắt chim Trong cuốn sách này đã tập hợp những bài viết của Nguyễn Huy Thiệp như: Một góc sơ xuất trong thế giới nội tâm nhà văn (đăng trên Tạp chí Đất Quảng số 62/1989), Khoảng trống

ai lấp được trong tư tưởng nhà văn (đăng trên Tạp chí Sông Hương - 1991), Con đường của nhà thơ (đăng trên Tạp chí Sông Hương - 1992), Con đường văn học (đăng trên Tạp chí Sông Hương - 1992), Nhà văn và bốn trùm mafia (đăng trên Tạp chí Sông Hương - 1992), Bàn thêm về quà phở của người Hà Nội (đăng trên báo Tiền Phong - 2000), Lưới thơ (đăng trên báo Tiền Phong 4/7/2000), Xong rồi chả biết đi đâu (đăng trên báo Tiền Phong), Cười lên đi! (đăng trên báo Tiền Phong 5/62000), Không nhạt (đăng trên báo Tiền Phong 1/6/2000), Chuyện điên điên (đăng trên báo Tiền Phong - 2000), Giá phải chăng (đăng trên báo Tiền Phong - 2000), Khổ câu thơ cứ đến rồi lại đi (đăng trên báo Nông nghiệp Việt Nam - 2001), Cua ngoi lên bờ mẹ em xuống cấy (đăng trên báo Tiền Phong), Sao cứ đùa anh là Thạch Nhọn? (đăng trên báo Tiền Phong), Lê Kim Giao: tên nghiện văn chương (đăng trên báo Tiền Phong), Nguyễn Bảo Sinh, nhà thơ dân gian (đăng trên báo An

Trang 22

ninh thế giới - 2003), Giới thiệu Đồng Đức Bốn (đăng trên tạp chí Nhịp Cầu và tạp chí Văn hóa văn nghệ - 2003), Xin đừng làm chữ của tôi đau (đăng trên báo Tia Sáng - 2003), Hiện tượng Vi Thùy Linh (đã đăng trên Tạp chí Sinh Viên và Tạp chí Văn Hiến), Lòng mẹ (đã đăng trên báo Phụ Nữ thành phố Hồ Chí Minh số Tết Nguyên Đán - 2000), Giăng lưới bắt chim (Bài viết cho Tạp chí Phật học, đăng lại trên báo Tiền phong - 2001), Thời của tiểu thuyết 1,2,3 (Bài viết cho báo Thế giới

Văn hóa - 2003)

Sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp (chủ yếu là thể loại truyện ngắn) đã gây được tiếng vang trong dư luận, chính vì thế mà những ý kiến xung quanh tác phẩm của ông vô cùng nhiều, phải kể đến hàng trăm hoặc hơn thế nữa Những ý kiến, nhận định, phê bình đó có cái thì khen, có cái thì chê bai phê phán, nói chung lại thì “hiện tượng” Nguyễn Huy Thiệp đã tạo thêm cho giới văn chương và người đọc một lượng “đất” không hề nhỏ để cho họ bày tỏ ý kiến của mình và những ý kiến này đã

được tập trung vào tập: Nguyễn Huy Thiệp - Tác phẩm và dư luận (Tạp chí Sông Hương Nxb Trẻ, Huế, 1989), Nguyễn Huy Thiệp - Tác phẩm và dư luận (Hồng Lĩnh, California, 1991, tái bản), Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp (Phạm Xuân Nguyên,

2001) Những cuốn sách trên chỉ gom góp được phần lớn những ý kiến, nhận định

về Nguyễn Huy Thiệp cũng như về tác phẩm của ông, phần còn lại là những bài luận văn đại học, sau đại học lấy những tác phẩm của ông làm nguồn tư liệu để viết bài thì vẫn còn nằm rải rác trên các trang mạng, tạp chí, báo và trong kho tư liệu của các trường đại học trên cả nước

Sau hơn 30 năm cầm bút cống hiến cho nền văn học nước nhà, Nguyễn Huy Thiệp đã giành được những thành tựu xứng đáng với tài năng của ông Những tác phẩm của ông không chỉ được giới văn học trong nước biết đến mà còn vươn ra

ngoài thế giới Năm 1990, tác phẩm Tướng về hưu, Trái tim của hổ, Sói trả thù, Chuyện tình kể trong đêm mưa, Vàng lửa, Suối nhỏ êm dịu được dịch sang tiếng

Pháp Một thời gian sau truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp còn được dịch sang nhiều ngôn ngữ như Pháp, Anh, Italy, Thụy Điển, Đan Mạch, Hà Lan, Đức, Hàn

Trang 23

Quốc, Nhật Bản , chính như vậy mà độc giả nước ngoài có điều kiện để biết thêm

về nền văn học cũng như đất nước, con người và nền văn hóa truyền thống của con người Việt Nam Nguyễn Huy Thiệp sau đó đã giành được những giải thưởng đánh dấu thành công trong sự nghiệp của ông: Năm 2007, ông được đại sứ Pháp ở Việt Nam trao tặng Huân chương Văn học Nghệ thuật của Pháp; năm 2008, ông nhận giải thưởng Premio Nonino, Italy

1.2 Hệ thống khái niệm

1.2.1 Khái niệm “truyện ngắn”

Theo Đại từ điển Tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên, Nxb Văn hóa Thông tin: “Truyện ngắn là truyện bằng văn xuôi, có dung lượng nhỏ, miêu tả những khía cạnh nhất định trong cuộc đời của nhân vật”[22; 809] Khái niệm “truyện ngắn”

này khá ngắn gọn và dễ hiểu, nó cho phép chúng ta nắm bắt cái cốt lõi chính của khái niệm này

Có một khái niệm “truyện ngắn” đầy đủ hơn trong cuốn 150 thuật ngữ văn học của Lại Nguyên Ân chủ biên: “Truyện ngắn là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ, thường được viết bằng văn xuôi, đề cập hầu hết các phương diện của đời sống con người và xã hội Nét nổi bật của truyện ngắn là sự giới hạn về dung lượng; tác phẩm truyện ngắn thích hợp với việc người tiếp nhận (độc giả) đọc nó liền một mạch không nghỉ Những nét riêng – “có chuyện” và “ngắn” – vốn đã có ở các tác phẩm thể truyện thời trung đại, ở các hình thức chuyện kể dân gian (truyện cười, giai thoại, cổ tích…), nhưng truyện ngắn với đặc điểm thể tài riêng biệt chỉ thực sự phát triển ở các nền văn học hiện đại, gắn với sự xuất hiện và phát triển của báo chí (…) Truyện ngắn thường nhằm khắc họa một hiện tượng, phát hiện một đặc tính trong mối quan hệ con người hay trong đời sống tâm hồn con người Truyện ngắn thường

ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp, chồng chéo Nhân vật truyện ngắn ít khi trở thành một thế giới hoàn chỉnh, một tính cách đầy đặn, thường khi là hiện thân cho một

Trang 24

trạng thái quan hệ xã hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái tồn tại của con người”[7;

345, 346]

Như vậy “truyện ngắn” là những tác phẩm tự sự cỡ nhỏ, thường viết bằng văn

xuôi và nó đề cập đến hầu hết các phương diện của đời sống con người và xã hội

1.2.2 Khái niệm “nhân vật”

Nhìn một cách tổng quát, “nhân vật” là khái niệm không chỉ được hiểu theo

một nghĩa và dùng trong văn chương mà còn được hiểu theo nhiều nghĩa và sử dụng

ở nhiều lĩnh vực khác Theo bộ Đại từ điển Tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên, Nxb Văn hóa Thông tin: “Nhân vật” là vai trong tác phẩm văn học: Xây dựng nhân vật điển hình, nhân vật chính diện Người có tiếng tăm, vai vế, vai trò trong xã hội: nhân vật lừng danh, một nhân vật đáng kính Tức là thuật ngữ “nhân vật” được sử

dụng phổ biến ở nhiều mặt cả trong đời sống nghệ thuật và đời sống xã hội Trong

phạm vi nghiên cứu của khóa luận, tôi chỉ đề cập đến khái niệm “nhân vật” trong

tác phẩm văn chương

Từ cội nguồn xa xưa “Hai tiếng nhân vật trong lí luận phương Tây bắt nguồn từ

từ “persona” trong tiếng Latinh, có nghĩa là cái mặt nạ mà diễn viên đeo khi diễn kịch, về sau mới dùng để chỉ nhân vật văn học”[21; 116] Cho đến ngày nay chúng

ta vẫn còn sử dụng thuật ngữ này, thường xuyên nhất là trong văn chương, nhằm chỉ đối tượng mà nhà văn miêu tả và thể hiện

Cuốn Lí luận văn học của giáo sư Trần Đình Sử chủ biên đã định nghĩa khá chi tiết về nhân vật văn học: “… Nhân vật văn học là khái niệm dùng để chỉ hình tượng các cá thể con người trong tác phẩm văn học – cái đã được nhà văn nhận thức, tái tạo, thể hiện bằng các phương tiện riêng của nghệ thuật ngôn từ…, đó là những nhân vật có tên như Tấm, Cám, Thạch Sanh…, đó là những nhân vật không tên như chị vợ của Tràng trong Vợ nhặt của Kim Lân, thằng bán tơ, một mụ nào trong Truyện Kiều…, đó là những con vật trong truyện cổ tích, đồng thoại, thần thoại…,

đó là con vật, cây cối, đồ vật trong truyện ngụ ngôn mang tính ẩn dụ, là con sói

Trang 25

trong Tiếng gọi nơi hoang dã của J.London hay con người – côn trùng trong Biến hình của F.Kafka…” [21; 114]

Một định nghĩa khác về nhân vật trong cuốn Lí luận văn học của Lê Tiến Dũng:

“… nhân vật trong tác phẩm văn học người ta thường hiểu đó là con người được xây dựng bằng các phương tiện của văn học Thực ra phạm vi nhân vật rộng hơn Nhân vật có thể là những con người được miêu tả trong tác phẩm Đó là những nhân vật như Thạch Sanh, A.Q, Chí Phèo… hay có khi chỉ hiện ra qua một đại từ nhân xưng như “tôi”, “chàng”, “thiếp”, “mình”, “ta”… nhiều trường hợp nhân vật lại không phải là con người mà có khi chỉ là một “bông hoa” biết nói, một “con cóc” biết kiện trời…, những sự vật, đồ vật này trở thành nhân vật khi được “người hóa”, nghĩa là cũng mang tâm hồn tính cách như con người” [10; 73]

Trong cuốn 150 thuật ngữ văn học của Lại Nguyên Ân chủ biên có ghi: “Nhân vật văn học là hình tượng nghệ thuật về con người, một trong những dấu hiệu về sự tồn tại toàn vẹn của con người trong nghệ thuật ngôn từ Bên cạnh con người, nhân vật văn học có khi còn là các con vật, các loài cây, các sinh thể hoang đường được gán cho những đặc điểm giống với con người (…) Nhân vật văn học là một đơn vị nghệ thuật, nó mang tính ước lệ, không thể bị đồng nhất với nguyên mẫu có thật Nhân vật văn học là sự thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người; nó có thể được xây dựng chỉ dựa trên cơ sở quan niệm ấy”[7; 241, 242]

Như vậy, bằng cách này hay cách khác những khái niệm về “nhân vật văn học”

trên của các nhà văn, nhà nghiên cứu, lý luận văn học đều thống nhất về cốt lõi không thể thiếu trong khái niệm này: Nhân vật văn học phải là đối tượng được xây dựng bằng các phương tiện văn học, là con người hoặc các con vật, các loài cây, các

đồ vật… được “người hóa” bởi chúng mang linh hồn và tính cách con người, là đối tượng mang tính ước lệ và không đồng nhất với nguyên mẫu đời thực thể hiện được quan niệm nghệ thuật về con người thông qua lăng kính chủ quan của nhà văn

Trang 26

1.2.3 Khái niệm “nhân vật lịch sử”

Theo cuốn Đại từ điển Tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên, Nxb Văn hóa Thông tin thì: “1 Lịch sử là quá trình ra đời, phát triển đã qua hay cho đến tiêu vong Lịch sử thế giới Lịch sử dân tộc Lịch sử kiến trúc 2 Môn khoa học nghiên cứu quá trình phát triển của xã hội loài người, hay của quốc gia, dân tộc: Học lịch

sử Biên soạn sách lịch sử 3.Có ý nghĩa, tính chất quan trọng trong lịch sử Bước ngoặt lịch sử, nhân vật lịch sử”[22; 1017] Nhưng dựa vào phạm vi của khóa luận,

tôi chỉ đề cập đến khái niệm thứ ba, đó là “nhân vật lịch sử” mang ý nghĩa và tính

chất quan trọng trong lịch sử Ghép hai khái niệm “nhân vật” và “lịch sử” ta có khái niệm về “nhân vật lịch sử”: Là nhân vật có thật trong lịch sử và có ý nghĩa, tính

chất quan trọng trong lịch sử

1.2.4 Khái niệm “nhân vật dã sử”

“Dã sử” là ký ức lịch sử được lưu truyền trong dân gian Khác với chính sử do nhà nước tổ chức hoặc các học giả biên soạn và ấn hành Theo cuốn Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên có ghi: “Dã sử là sử ghi chép những chuyện lưu truyền trong dân gian, do cá nhân viết (thường có nhiều yếu tố hư cấu); phân biệt với chính sử Truyện dã sử”[19; 319] Nối hai khái niệm “nhân vật” và “dã sử” ta có khái niệm về “nhân vật dã sử”: Là nhân vật có trong những chuyện được lưu truyền

trong dân gian, do cá nhân viết và thường có nhiều yếu tố hư cấu

Như vậy, “nhân vật dã sử” là nhân vật trong chuyện sử dân gian, do dân gian

ghi chép lưu truyền chứ không phải do nhà nước chủ trì, giao cho các sử quan phụ trách, chính vì thế nó khác với chính sử Bởi rằng chính sử ghi chép những điều được chế độ chấp nhận tùy theo từng triều đại, nhưng không phải cái gì các nhà chép sử cũng biết Còn “dã sử” là những sự kiện, những nhân vật lịch sử được ghi chép theo quan niệm của dân gian

Đối với “nhân vật dã sử” của Nguyễn Huy Thiệp thì trong truyện ngắn của

mình ông đã xây dựng nên những nhân vật mang màu sắc dã sử Ví dụ: Quách Ngọc

Trang 27

Minh, Ngô Thị Vinh Hoa, Phăng, Đặng Phú Lân… , những nhân vật này thực ra

không có thật trong lịch sử mà là do Nguyễn Huy Thiệp hư cấu nên Tuy nhiên với lối kể chuyện của mình thì Nguyễn Huy Thiệp đã phủ lên cho nhân vật một lớp màu sắc của dã sử, tức là ông làm cho người đọc tưởng tượng rằng những nhân vật đó là những nhân vật dã sử và thường thì đó là những nhân vật mang chức năng là người

kể lại hay là những người ghi chép lại những chuyện trong lịch sử Nguyễn Huy Thiệp tạo ra những nhân vật như thế để khiến cho câu chuyện lịch sử đó tuy là của mình, do mình kể, do mình hư cấu nên nhưng mà nó sẽ có tính khách quan Thực ra

“nhân vật dã sử” của Nguyễn Huy Thiệp là những nhân vật mang màu sắc dã sử mà thôi, nhưng để tiện cho tên gọi và tiện cho quá trình nghiên cứu nên người viết tạm gọi đó là những “nhân vật dã sử” trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp

* Tiểu kết

Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp sáng tác bao gồm nhiều thể loại như: Truyện ngắn, kịch, tiểu thuyết, thơ, tiểu luận phê bình Nhưng sở trường đặc biệt của ông là sáng tác theo thể loại truyện ngắn, cũng chính nhờ truyện ngắn mà cái tên Nguyễn Huy Thiệp đến gần hơn với độc giả trong nước và thế giới

Thành công ở thể loại truyện ngắn, Nguyễn Huy Thiệp đã nhanh chóng đứng vững trên văn đàn bằng tài năng văn chương của mình Từ những trang văn, Nguyễn Huy Thiệp đã đưa văn học đến gần với thực tế hơn, giúp người đọc có cái nhìn đa chiều, độc đáo về cuộc sống cũng như hiểu biết và khám phá được những vấn đề bản chất của cuộc sống trong những ngày đầu đổi mới đất nước

Tuy sáng tác khá muộn nhưng bằng tài năng và sự đam mê mãnh liệt với nghề viết, Nguyễn Huy Thiệp đã gặt hái được rất nhiều thành quả Từ chính cuộc đời của ông, chúng ta rút ra được bài học cho riêng mình: Không có gì là quá muộn, chỉ cần

có quyết tâm và đam mê thì chắc chắn chúng ta sẽ đạt được thành quả xứng đáng

Trang 28

CHƯƠNG 2 CÁC KIỂU NHÂN VẬT LỊCH SỬ VÀ DÃ SỬ TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN HUY THIỆP

Nguyễn Huy Thiệp là một nhà văn nổi lên từ những sáng tác mang khuynh hướng hư cấu lịch sử Bàn đến sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp về đề tài lịch sử là một vấn đề không dễ thống nhất Tuy nhiên, trên thực tế lại khẳng định rằng ta không thể bỏ qua Nguyễn Huy Thiệp khi bàn đến sự sáng tạo văn học về đề tài lịch

sử Trong truyện ngắn thời kỳ đổi mới, trong xu hướng chiêm nghiệm lại lịch sử thì Nguyễn Huy Thiệp đã mở đầu đầy sáng tạo Về vấn đề này, Lê Ngọc Trà đã nhận

định: “Lần đầu tiên, lịch sử được nhìn từ nhiều phía, được đánh giá theo quan điểm riêng của người viết, chứ không phải theo quan điểm phổ biến, được biến thành đối tượng nghiền ngẫm, thậm chí thành hình tượng nghệ thuật và phương tiện thể hiện, chứ không phải chỉ những gì thiêng liêng, bất khả xâm phạm”[24] Với cách xử lý đầy sáng tạo, ông đã thu hút được sự chú ý của mọi người qua các tác phẩm: Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết, Mưa Nhã Nam, Nguyễn Thị Lộ…, nhân vật của Nguyễn Huy Thiệp là những danh nhân nổi tiếng trong chính sử như: Quang Trung, Nguyễn Ánh, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Hoàng Hoa Thám Riêng các nhân vật như: Phăng, Đặng Phú Lân, Ngô Thị Vinh Hoa là những nhân vật được nhà văn

hư cấu hoàn toàn nhằm làm cầu nối dẫn dắt các nhân vật có thật, những chuyện có thật trong lịch sử để cuối cùng làm bật lên được những vấn đề mà Nguyễn Huy Thiệp muốn gửi gắm Để nắm rõ hơn về các nhân vật trong mảng để tài này, người viết sẽ đi sâu hơn về tuyến nhân vật lịch sử và dã sử trong bối cảnh thời đại và văn học của Nguyễn Huy Thiệp

2.1 Nhân vật lịch sử và dã sử của Nguyễn Huy Thiệp trong bối cảnh thời đại 2.1.1 Nhân vật lịch sử trong bối cảnh thời đại

2.1.1.1 Nhân vật là vua

* Gia Long

Trang 29

Nhân vật lịch sử được Nguyễn Huy Thiệp viết dưới ngòi bút của sự hư cấu, không phải theo tiêu chí kính phục cho thế hệ sau như trong truyện danh nhân lịch

sử Nhân vật ở đây đã được nhà văn biến đổi, mang dáng dấp của nhân vật tiểu thuyết, hết sức mới mẻ và sống động Trên cái nền của chính sử, nhà văn đã soi chiếu vua Gia Long dưới nhiều góc cạnh, không chỉ là chiều sâu tính cách mà còn là tâm lý bên trong con người ông Nhà văn nhắc đến vua Gia Long trong cả chùm

truyện: Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết Đầu tiên chúng ta sẽ tìm hiểu nhân vật vua Gia Long qua truyện ngắn Kiếm sắc

Truyện lấy bối cảnh đất nước vào thời Nguyễn Phúc Ánh làm vua, phong

trào Tây Sơn đang nổi lên hết sức rầm rộ Nguyễn Ánh là người: “Đa mưu, túc kế, tính kiên trì, không tin ai, dùng người lấy chữ hiệp chữ lễ làm trọng, không coi nhân, nghĩa, trí, tín ra gì” [1; 238] Giai thoại về ông cũng hết sức kỳ ảo: “Thỉnh thoảng, Ánh… xuất quỷ nhập thần…, Ánh đi đến đâu cũng có mây đen cuồn cuộn bay đằng trước, dân hễ cứ thấy có mưa là biết Ánh vừa đi qua” [1; 239] Nếu như

trong chính sử, vua Gia Long được xây dựng thành người “cõng rắn cắn gà nhà”, thì

ở đây nhà văn đã cho ông sống lại hết sức mới mẻ và sống động, với những biểu

hiện sắc thái hết sức sinh động như “Ánh cười ha hả” , “Ánh cau mày”, “Ánh ngồi im”, “Ánh bảo”, “Ánh nghiến răng nói”, Ánh vỗ tay reo”, “Ánh toát cả mồ hôi”,

“Ánh cầm thanh kiếm”, tất cả những hành động sắc thái trên cho ta cảm nhận được

Nguyễn Ánh đang sống Chúng ta biết rằng Nguyễn Ánh và Nguyễn Huệ đứng trên hai chiến tuyến, đối đầu với nhau, nghịch nhau như nước với lửa, nhưng ta lại không biết được họ nói về đối phương cụ thể thế nào, chỉ biết được sau khi Nguyễn Ánh thống nhất giang sơn đã trả thù Nguyễn Huệ vô cùng tàn nhẫn Nguyễn Huy Thiệp đã dùng ngòi bút sáng tạo của mình để vẽ lên lời thoại của Nguyễn Ánh khi

nói về Nguyễn Huệ: “Huệ coi ta là quốc thù, hịch truyền khắp nơi, lời lẽ bẩn thỉu lắm Ta với Huệ không đội trời chung Nó chết, ta cười không được ư? Khi nào thành nghiệp lớn, ta phanh thây nó, ta chôn ba họ nó”[1; 241], và cuối cùng cái

điều mà Nguyễn Ánh mong ước cũng tới, trong chính sử có ghi lại, Nguyễn Ánh thống nhất giang sơn đã trả thù Tây Sơn rất thảm khốc Nguyễn Huệ, dù chết rồi

Trang 30

nhưng vẫn bị Nguyễn Ánh cho người lôi từ mồ lên nghiền xương, bỏ đầu lâu giam ngục Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế lấy niên hiệu là Gia Long, sau đó tiếp tục đánh chiếm Nghệ An, Thanh Hóa… rồi ra bắc, vua tôi Tây Sơn lần lượt bị bắt và bị hành hình

Tuy là người tàn ác, nhưng Nguyễn Ánh không phải là gỗ đá, Nguyễn Ánh cũng biết yêu cái đẹp, biết thưởng thức cái hay của âm nhạc Khi nghe Ngô Thị

Vinh Hoa hát bài “Triều Thiên Tử”, Nguyễn Ánh đã vỗ tay reo lên “hát hay quá”, hay lúc nghe bài “Tình sông núi”, Nguyễn Ánh cau mày “hát hay nhưng buồn quá”,

trên đường đi ra Bắc Hà, cảm xúc về tiếng hát của người ca nữ vẫn còn văng vẳng

trong đầu Nguyễn Ánh: “Ta đi mà cứ văng vẳng tiếng hát ca nữ bên tai, tiếng gió thổi, tiếng gươm đao không át được” Không chỉ có cảm xúc về cái đẹp, Nguyễn

Ánh còn biết sợ, biết phòng ngừa bề tôi hãm hại Những cảm xúc vui buồn của Nguyễn Ánh được tác giả sắp xếp rất hợp lí, làm bật lên được một Nguyễn Ánh rất đời thường Nguyễn Ánh hiện đã đứng được trên đỉnh cao của quyền lực, nhưng sâu

thẳm trong tâm hồn ông lại ước ao trở về đời thường: “Ta chỉ thích như người thường thôi” [1;242] Đó chỉ là ước ao hết mực bình dị, nhưng đã theo nghiệp đế

vương Nguyễn Ánh nào có thể nghĩ cho riêng bản thân mình

Trong truyện ngắn Vàng lửa, hình ảnh vua Gia Long được hiện lên dưới

con mắt của nhân vật Phăng - một người châu Âu, đây là một trong những nhân vật được Nguyễn Huy Thiệp Hư cấu hoàn toàn Nửa phần đầu ta có thể xem nhà văn đang tái hiện lại tập bút ký của Phăng viết về Nguyễn Ánh, trong đó có đoạn mô tả

hình dáng của ông: “Nhà vua cưỡi ngựa, lưng rất thẳng Ở giữa thiên nhiên, trông ông rạng rỡ, mất đi vẻ đăm chiêu cau có hàng ngày”[1; 247], lúc cưỡi ngựa hòa

mình với thiên nhiên nhà văn đã cho Nguyễn Ánh trở về làm con người bình

thường, một phút được trở về đời thường trông ông “rạng rỡ hẳn lên” Nhưng chỉ

một phút thôi, ông lại trở về là một con người sắc sảo và hiểu đời Cũng chính vì hiểu nhiều, biết hết tất cả nên đâm ra chán ngán, ông tâm sự với nhân vật Phăng:

“Khanh biết không, cái lũ chó ấy, chúng nó chuẩn bị cả rồi, chỗ nào trẫm đi qua là

Trang 31

chúng thả thú ra…, khanh chẳng hiểu gì Vinh quang nào chẳng xây trên điếm nhục?”[1; 247] Người đời từng nói, biết nhiều thì phải làm nhiều, thà rằng không

biết gì thì khỏi phải làm Nguyễn Ánh là một vị vua hiểu biết sâu rộng, nên ông phải làm việc nhiều, ông càng làm nhiều thì sự hiểu biết càng lớn, sự trải đời càng sâu khiến ông biết tất cả mánh khóe lấy lòng của lũ quan trong triều, điều đó khiến ông chán nản Ông hiểu bản chất đời sống cộng sinh, nên dù biết nhưng ông không dám phá vỡ bất cứ quan hệ nào, bởi phá vỡ nó, nghĩa là ngai vàng không còn được đứng vững Đứng trên cái nghiệp đế vương mà ông đang nắm, nhiều khi Nguyễn Ánh

cảm thấy cô đơn và bất lực: “Nhà vua là một khối cô đơn khổng lồ Ông đóng trò rất giỏi trong triều đình Ông đi, đứng, ra, vào, ra các mệnh lệnh, chấp nhận sự tung hô của bọn quần thần Ông là người cha nghiêm khắc của lũ con ích kỷ, đần độn Là người chồng đáng kính của các bà vợ tầm thường… Ông biết ông đã già, với bọn cung tần mỹ nữ trẻ đẹp ông bất lực Ông biết rõ cái triều đình thiển cận do ông dựng lên, biết rõ quốc gia mình nghèo đói Ông luôn lo sợ bởi quyền lực nắm trong tay, nó lớn ngoài sức chứa một con người…”[1; 247] Chức càng cao thì trách

nhiệm càng lớn, làm vua đâu chỉ để hưởng sung sướng mà trong đó còn là trách nhiệm, là lao động nghiêm túc, là đấu tranh với cả cảm xúc của mình để tìm con đường giải quyết có lợi nhất Lịch sử ở đây được trình bày dưới dạng lịch sử của một con người, thời gian và không gian lẫn lộn khiến ta có cái nhìn kề cận hơn, rõ ràng hơn về nhân vật Có thể đối với Phăng, Nguyễn Ánh như một người bạn tâm tình chứ không còn là giữa vua và bề tôi nữa Những băn khoăn trăn trở của một người đứng đầu đất nước được hiện lên dưới ngòi bút của Nguyễn Huy Thiệp thật

dễ dàng cho người đọc cảm thấy gần gũi hơn với nhân vật lịch sử này

Điều này cũng đúng với việc nhà văn hư cấu ngôn ngữ của vua Gia Long

bình dân lẫn thô tục trong truyện thứ ba “Phẩm tiết” Khi Nguyễn Ánh chiếm Phú

Xuân, tướng của ông là Vũ Văn Hoàn đã tự ý cướp hết mỹ nữ, của cải để mang về nhà hưởng riêng Nguyễn Ánh biết được đã vô cùng tức giận và đã mắng Hoàn:

“Thằng khốn nạn theo voi ăn bã mía kia, đểu cáng chừng nào Mày mượn danh ta

để đi ăn cướp với chơi gái à?(…) Mày tưởng công mày to ư? (…) Thằng mặt xanh

Trang 32

kia! Kề miệng lỗ còn dê ư? Ta cho cắt dái mày! Ta cho mày ăn cứt”[1; 260] Trong

đời người dù ít hay nhiều chúng ta đều đôi lần nói tục, chỉ là ở mức độ khác nhau Vua cũng là con người, không những thế Nguyễn Ánh còn trải qua bao trận gươm đao mới lên được ngai vàng, chính vì thế lời nói của người quen với chiến trận lúc tức giận mà nói tục cũng là điều dễ hiểu Đã là bậc nam nhi thì chắc hẳn phải mềm

lòng trước phái đẹp, nhất là một người đẹp như Ngô Thị Vinh Hoa: “Nhà vua đến gần, thấy Vinh Hoa đẹp quá, bỗng nhiên xây xẩm mặt mày”[1; 261] Đứng trước nhan sắc tuyệt đẹp của nàng, nhà vua bỗng muốn trở thành “người thường” để thỏa lòng mong ước, được sống thấp hèn: “Sứ mệnh đế vương thật là sứ mệnh khốn nạn, chỉ được quyền cao cả, không được quyền đê tiện” [1; 261]

Vượt ra tất cả các khuôn mẫu cố định về nhân vật lịch sử, Nguyễn Huy Thiệp đã xây dựng nhân vật lịch sử dưới cái nhìn bình dị nhất, phô diễn tất cả nội tâm, lời nói, hành động của nhân vật Nguyễn Ánh - nhân vật đời thường, chứ không còn là một bậc đế vương cứng nhắc, từ đó khiến cho nhân vật gần gũi hơn với độc giả Nguyễn Ánh là một bậc đế vương đa mưu, túc kế nhưng bên cạnh đó cũng là một con người bằng xương bằng thịt, cũng có những cảm xúc hỷ, nộ, ái, ố như người bình thường, ông cũng có đam mê, có ước vọng trần tục nhất Bằng khả năng

hư cấu không tưởng, Nguyễn Huy Thiệp đã cho hai nhân vật Phăng và Đặng Phú Lân vào trong truyện để dẫn dắt hành động, lời nói của Nguyễn Ánh, thật giả đan xen khiến người đọc cảm thấy vô cùng thú vị, đa cảm xúc khi thấy hình ảnh nhân vật hiện lên độc đáo và sinh động Những chi tiết mà người viết vừa nêu ở trên cũng cho thấy vua Gia Long có rất nhiều điểm gần gũi với con người hiện đại Nhân vật lịch sử được nhà văn cho thêm nhiều nét mới và bất ngờ, nhưng bản chất lịch sử của nhân vật thì không hề thay đổi, Gia Long vẫn là một vị vua bị lên án trong lịch sử

“Triều Nguyễn của vua Gia Long lập ra là một triều đình tệ hại Chỉ xin lưu ý bạn đọc đây là triều đại để lại nhiều lăng”[1; 253], một vị vua “dám mang cả dân tộc mình ra lường gạt, phục vụ cho chính bản thân mình”[1; 248] thì dù vị vua đó có

hiểu hết, biết hết tất cả đi chăng nữa thì vẫn sẽ chọn sự im lặng để đổi lấy quyền lực, đổi lấy ngai vàng để cuối cùng chỉ có người trong hoàng tộc mới giàu có, mới

Trang 33

có thể xây “nhiều lăng”, còn nhân dân thì chịu cảnh nghèo túng, lầm than Vậy mới

nói, dù Nguyễn Huy Thiệp có sáng tạo nhân vật đến mấy thì ông vẫn giữ nguyên bản chất lịch sử của nhân vật, điều đó chứng tỏ ông không hề “bóp méo” lịch sử như nhiều người vẫn nói

So sánh một chút về Nguyễn Ánh trong Kiếm sắc của Nguyễn Huy Thiệp

và Nguyễn Ánh trong Dị hương của Sương Nguyệt Minh Xét về tổng thể, hai nhà

văn đều xây dựng nhân vật Nguyễn Ánh với mục đích “giải thiêng” nhân vật lịch

sử Nhưng Nguyễn Ánh của Nguyễn Huy Thiệp là một người “đa mưu, tài trí, tính kiên trì, không tin ai, dùng người lấy chữ hiệp chữ lễ làm trọng, không coi nhân, nghĩa, trí, tín ra gì”[1; 238], thông qua nhân vật nhà văn muốn xóa bỏ định kiến

thần thánh hóa mà nhân gian đã gán cho nhân vật lịch sử Hơn thế, Nguyễn Huy Thiệp còn dùng nhân vật này để nói về thời đại nhà văn đang sống, nghĩa là cách mượn chuyện xưa để nói những vấn đề hôm nay, một cách nói ám chỉ Còn Nguyễn

Ánh của Sương Nguyệt Minh cũng “trọng võ hơn văn”[35], nhưng lại là một con

người máu lạnh, một Nguyễn Ánh tầm thường, dâm tục, không phải một bậc anh hùng Nguyễn Ánh của Sương Nguyệt Minh không có một chút cơ mưu nào, không một ý nghĩ đến đại cuộc, không một cử chỉ hành xử trượng phu, trái lại chỉ như một

đứa “thảo dân vô học” Nếu đọc cả hai tác phẩm, người đọc sẽ dễ dàng nhìn ra Dị Hương lặp lại khuôn mẫu của Kiếm sắc Ở Kiếm sắc, Nguyễn Ánh có người phò trợ

là Đặng Phú Lân, thì ở Dị hương có Trần Huy Sán, cả hai cùng tận tụy phục vụ

Nguyễn Ánh, cả hai cùng dự cảm về cái chết của mình dưới tay Nguyễn Ánh, và

cùng bị Nguyễn Ánh chém đầu Khi Nguyễn Ánh chém đầu lân thì “máu phun ra không đỏ mà trắng như nhựa cây, một lúc sau thì bết lại”[1; 245], một cái chết kỳ

lạ Dị hương cũng kể rằng: “Sán vươn cổ cò ra như thách thức Một chớp sáng ngoằn ngoèo như sét đánh giữa trời quang mây tạnh Lần này Ánh chém thật Cái

“chõ xôi”lăn lông lốc rồi dừng lại, mắt Sán hấp háy, miệng nhếch mép cười cợt Bỗng dưng, mùi dị hương ở đâu đó ào ạt xông lên, rồi mất hẳn”[35], cũng là một cái chết kỳ lạ, không khác gì cái chết của Lân trong Kiếm Sắc

Trang 34

Từ những so sánh trên chúng ta nhận thấy được rằng: Nếu ở Kiếm sắc nhà

văn đã rất thành công khi xây dựng nhân vật trên nhiều chất liệu mới và sáng tạo thì

ở Dị hương lại là sự bắt chước không mới Thực sự rất khó để có thể bắt chước

Nguyễn Huy Thiệp ở lối viết văn với những câu văn như muốn lột trần tất thảy mọi thứ, nhưng trong đó lại chứa đựng một bút lực thật mãnh liệt và một thâm ý văn chương sâu xa

Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đã thật tài tình khi xây dựng nhân vật vua Gia Long trên nhiều phương diện, với đầy đủ mọi cảm xúc của một con người Không chỉ xây dựng nhân vật là vua duy nhất là Gia Long, nhà văn còn xây dựng nhân vật vua Quang Trung nhưng ở góc nhìn hẹp hơn, chủ yếu nằm ở một phương diện, đó là phẩm chất con người khi đứng trước cái đẹp

* Quang Trung

Xây dựng song song với vua Gia Long là vua Quang Trung (Nguyễn

Huệ) Nhà văn xây dựng hình ảnh Nguyễn Huệ qua truyện ngắn Phẩm tiết Tuy

Nguyễn Huệ xuất hiện ít hơn Nguyễn Ánh nhưng những hình ảnh về ông được Nguyễn Huy Thiệp xây dựng hết sức độc đáo Trong chính sử, đa phần người ta xây dựng Nguyễn Huệ trên nền là người “anh hùng áo vải”, có tài nghệ phi thường cùng Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ dẫn dắt phong trào Tây Sơn chống lại triều đình Nguyễn Ánh Nguyễn Huy Thiệp thì khác, ông cho ta thấy một Nguyễn Huệ được đặt trong một hoàn cảnh hết sức đặc biệt, đó là đứng trước một sắc đẹp đã từng khiến vua Gia

Long say đắm, nàng là Vinh Hoa Khi nhà vua thấy Vinh Hoa “thốt nhiên rùng mình, hoa mắt, đánh rơi cốc rượu quý cầm tay”[1; 257] Vua cũng nhiều khi thốt lên lời mắng vì tức giận: “Thằng Khải kia, tài bằng cái đấu, khinh ta quá chừng! Trời cho mày sống, cướp không biết bao nhiêu lộc thiên hạ, ăn miếng ngon không biết đậy mồm, còn chê là lợm May nhờ phúc tổ, có ít của chìm, như cái đuôi khô, tháng ba ngày tám mang ra gặm, tưởng xênh xang ư?”[1; 257] So sánh câu chửi

của Nguyễn Ánh và Nguyễn Huệ thì Nguyễn Huệ có phần bớt thô tục hơn nhưng lại thâm thúy hơn Chính nhờ sự kiện này nên Nguyễn Huệ và Vinh Hoa mới gặp được

Trang 35

mặt nhau Người xưa có câu “anh hùng không qua ải mỹ nhân” đúng không sai,

đứng trước một vẻ đẹp tuyệt sắc thử hỏi bậc anh hùng nào không mềm lòng

Khi nghe tin Ngô Khải chết (chết vì tự tử, do vua trách tội oan), vua

Quang Trung đã hết sức thương xót và hối hận: “Nhà vua đang đêm xõa tóc, đi chân đất, vừa đi vừa vấp, chạy vào báo tin cho Vinh Hoa việc Khải mất” [1; 258] Hay việc day dứt khi kết tội oan cho Khải: “Ta nóng nảy đã đành, ta có lý của ta Còn cái lũ nhà giàu khốn nạn, chỉ biết mỗi thân mình, Khải bị hạn, sao không có đứa nào đứng ra kêu hộ một tiếng?” [1; 258] Nguyễn Huy Thiệp xây dựng hình

tượng một bậc vĩ nhân trong cuộc sống đời thường, phải chăng hình ảnh này ứng với người anh hùng “áo vải” trong chiến trận - một Nguyễn Huệ bình dị, gần gũi với nhân dân, thương cảm trước nỗi đau của đồng loại Hình ảnh này càng làm cho nhân vật anh hùng trở nên bình dị và sống động hơn trong mắt độc giả Xây dựng nhân vật vua Quang Trung, nhà văn như muốn đề cao hơn nữa giá trị của cái đẹp, cái đẹp khiến cho mọi thứ đều ngả nghiêng theo, mọi giá trị của cái đẹp nhà văn đều đặt hết vào Vinh Hoa Vua Quang Trung là một bậc chính nhân quân tử, ông yêu cái đẹp và

cũng biết tôn trọng nó, ông coi cái đẹp như một vật báu vô giá: “Ta được Vinh Hoa như được báu vật, một Vinh Hoa bằng ba vạn người”[1; 258] Bằng biện pháp so

sánh ta có thể thấy được, về mặt sắc đẹp của nàng Vinh Hoa thì ai cũng muốn sở hữu, nhưng mỗi một vị vua lại muốn sở hữu nàng theo một cách khác nhau Nói

như vua Gia Long, ông muốn sở hữu Vinh Hoa như “nuôi con gà, con vịt trong nhà”, còn vua Quang Trung hoàn toàn khác, ông xem Vinh Hoa như báu vật của mình Khi Vinh Hoa không đồng ý thành thân thì vua chỉ “rất lấy làm buồn” Từ đó

ta có thể thấy được cách nhìn nhận giá trị con người đã phần nào nói lên tính cách

và nhận thức khác biệt giữa hai vua Với Quang Trung, vẻ đẹp của Vinh Hoa không chỉ là vẻ đẹp thể xác, mà còn thể hiện cho cái đẹp tinh thần tinh khiết giữa chốn thị phi, trần tục Vinh Hoa là cái biểu hiện của những giá trị tinh thần cao quý mà vua luôn khao khát nhưng không thể dùng quyền lực để chiếm đoạt được Có thể vì thế

mà khi lâm chung “nhà vua nhìn mãi Vinh Hoa mà không nhắm mắt”, mãi cho tới

khi Vinh Hoa lấy ngón tay út của mình đặt lên hai mí nhà vua thì mắt nhà vua mới

Trang 36

nhắm lại được Xây dựng nhân vật vua Quang Trung bằng ngòi bút sáng tạo mới lạ, Nguyễn Huy Thiệp đã làm sống dậy một vị vua với đầy đủ phẩm chất anh hùng và bản tính con người rất tự nhiên, chân thực

Nguyễn Huy Thiệp đã đem Nguyễn Huệ và Nguyễn Phúc Ánh soi chiếu vào cuộc sống đời thường bằng những màu sắc bình dị nhất Nhà văn lôi tuột hai nhân vật ra khỏi sách sử chính thức của các lịch triều Đời sống của những nhân vật lịch sử này nằm trong thời gian, không gian hư cấu nên những hành xử của họ cũng

là những hành xử hư cấu Xét về bản chất người viết có suy nghĩ phải chăng Nguyễn Huy Thiệp cũng đã dựa vào một phần chính sử khi viết nên hai nhân vật lịch sử này

2.1.1.2 Nhân vật là tướng

Đến với Mưa Nhã Nam, Nguyễn Huy Thiệp xây dựng nhân vật anh hùng

Hoàng Hoa Thám cũng dưới góc độ của một con người có phẩm chất bình thường, nhiều khi nhu nhược Nhân vật mà Nguyễn Huy Thiệp xây dựng ở đây là nhân vật

hư cấu khác xa với Hoàng Hoa Thám trong chính sử - một Đề Thám anh hùng, một

“Hùm thiêng Yên Thế” mà chúng ta từng biết

Mưa Nhã Nam là “một câu chuyện nhỏ về Hoàng Hoa Thám Tôi không chắc ông Hoàng Hoa Thám, tức Đề Thám, tức Hùm xám Yên Thế trong lịch sử có giống ông Đề Thám mà tôi kể không? Còn ông Đề Thám như tôi biết (tôi biết rõ ông ta): ông ta là một anh hùng, cũng là một người nhu nhược”[1; 374] Từ lời mở

đầu nhà văn đã cho chúng ta nhận mặt được nhân vật chính trong truyện là Đề Thám, nhưng lại không phải là Đề Thám trong chính sử, mà là nhân vật lịch sử được nhà văn đưa vào làm nhân vật chính trong tác phẩm văn học Trên cái nền chính sử, quang cảnh diễn ra ở Yên Thế, vào thời kỳ Pháp giảng hòa với Đề Thám, lúc này thống sứ Bắc Kỳ là ông Môren có mời Đề Thám đến Bắc Giang dự một buổi tiếp tân Một cuộc họp được tổ chức để quyết định nên đi hay không đi chuyến

này và Đề Thám đứng trước hai sự lựa chọn: “Ông sẽ mang tiếng hèn nhát nếu từ

Trang 37

chối Ông sẽ thành lố bịch nếu ông có mặt”, rồi ông tự trả lời “thôi thì lố bịch còn hơn hèn nhát”[1; 376] Đúng là lố bịch thật, nhưng lố bịch ở đây lại là cách ăn mặc của ông, cách ông muốn đi ngựa tới nơi dự lễ “tôi sẽ đi, đi một mình, đi ngựa… Sẽ

ăn mặc như một chàng rể”[1; 376] Quyết định của ông bị cắt ngang bởi người phụ

nữ quan trọng nhất đời ông, bà Ba Cẩn - vợ ông Bà là người phụ nữ biết lo xa nên

đã cho phu kiệu đón ông tới dự lễ Nhưng với tính cách quyết đoán, Đề Thám lên ngựa phóng đi Cũng giống như lúc miêu tả Nguyễn Ánh, nhà văn đã cho Đề Thám hòa mình vào thiên nhiên khi đang cưỡi ngựa trong rừng, lúc con người ta ở giữa thiên nhiên bao la thì mọi cảm xúc của mình được bộc lộ rất chân thật, tự nhiên sẽ cảm thấy thoải mái rất nhiều Đề Thám là người đứng đầu trong phong trào khởi nghĩa nông dân Yên Thế, nên bản thân ông cũng gặp rất nhiều áp lực, chính vì lẽ đó

nhà văn đã cho ông được thanh tịnh tâm hồn giữa thiên nhiên bao la: “Ông cho ngựa đi bước một, lang thang trong rừng Ông thích như thế Đây là thiên nhiên: Cành cây xòa trước mặt, tiếng chim hót, những giọt nước mưa đọng lại trên cây, mùi lá mục ẩm ướt, những con chim xanh, con chim đỏ, con chim vàng, những cánh mối ướt rụi, những con bọ nhảy, tiếng vượn kêu não nùng, bông hoa bé xíu… Tất cả hương vị, màu sắc của thiên nhiên đều chân thực, thanh khiết, đều khiến ta cảm động đến tận đáy sâu tâm hồn” [1; 376]

Tiếp sau đó nhà văn cho ông xuất hiện giản dị trong cuộc trò chuyện với bạn bè, ông cùng ông đồ Hoạt, ông Lũy, thằng Hoạt trò chuyện bên mâm rượu sắn với đĩa lòng lợn Đề Thám trò chuyện say sưa về chuyện thời thế, chuyện dựng vợ

gả chồng, chuyện thơ phú, văn chương Tất cả không liên quan gì đến chuyện đánh Pháp Rời nhà đồ Hoạt, Đề Thám lên kiệu mà bà Ba chuẩn bị để đi tới dự buổi lễ,

mang theo lời hứa với ông đồ Hoạt là sẽ cố gắng giúp “đừng để con trai tôi xổng con bé ấy”[1; 380], con bé ấy là Xoan (vợ chưa cưới của thằng Hoạt) nhưng vì cha

cô là Chánh Trương ham giàu nên đã thất hứa, muốn gả Xoan cho nghị Trường, một lão góa vợ, giàu nứt đố đổ vách Buổi lễ cũng không có gì làm Đề Thám cảm thấy thú vị, ông đã lựa dịp để nói chuyện với Xoan Tác giả không cho biết hai người nói

chuyện gì mà chỉ nói rằng “cô rất bối rối xúc động” sau khi nói chuyện với Đề

Trang 38

Thám và quyết định chờ ông ở cửa rừng để xin ông “hãy cho em đi theo Đi đâu cũng được” Tình huống mà tác giả bắt Đề Thám giải quyết quả là khó cho ông Bởi

ông đã đồng ý giúp đồ Hoạt đem Xoan về cho con trai ông ta, nhưng Xoan lại nhất

quyết đi theo mình Dù đã nói rằng “cô phải về đi, cô phải chọn Hoạt” nhưng Xoan nhất quyết “không” Đề Thám đã đón Xoan lên ngựa rồi phóng vào rừng “Đêm trong rừng mênh mông hư ảo lắm…, rừng vô tình, vô cảm, thản nhiên, lạnh lùng, tàn nhẫn Rừng muôn đời là thế…, tất cả đều đẩy con người về nơi tận cùng ý thức

cá nhân chính nó Con người tự co lại như con sâu, cái kiến, thúc thủ trong phần sinh linh vừa bé mọn, vừa cô đơn, vừa bất lực; nó chớp đôi mắt phấp phỏng lo âu trong tâm hồn nó và tự hỏi mình: Là ai? Đi đâu? Làm gì? Tiến đến đâu? Bao giờ thành tựu? Bao giờ kết thúc?”[1; 383] Hiện tại bên trong con người Đề Thám cũng

có nhiều nỗi ưu tư như thế Ông lo âu, ông bất lực, ông không biết mình nên đi đâu, làm gì, tiến đến đâu Nên quyết định thế nào đây, ông cũng là con người vật chất bình thường, ông cũng có khát khao chinh phục, khát khao chiếm hữu Nhưng đã trót hứa, một bậc anh hùng không thể thất hứa nên ông đã đem Xoan tới nhà đồ

Hoạt rồi phóng ngựa trở về Nhã Nam khi trời mưa như thác đổ “Giọt nước mưa mặn chát ướt đầm trên khuôn mặt ông” mà tác giả miêu tả có phải là giọt nước mưa

bình thường, nước mưa đâu có mặn, chỉ có thể là giọt mồ hôi nhưng mưa lớn như thế thân nhiệt con người sao có thể đổ mồ hôi, cuối cùng chỉ có thể là nước mắt, giọt nước mắt của một con người bất lực trước sự lựa chọn Nhiều lúc người anh hùng Yên Thế này được Nguyễn Huy Thiệp cho lặn sâu xuống đáy tâm tư để chiêm nghiệm, để ngẫm nghĩ về cuộc đời Lúc này ông đã khóc, ông không khóc trước mặt người thân mà khóc trong cái mênh mông hư ảo của núi rừng - một hành động tưởng chừng khó xảy ra đối với người anh hùng nhưng không có gì lạ đối với một con người bình thường Được tác giả cho sống với những cảm xúc thật của mình,

Đề Thám đã khóc: “Đề Thám phóng ngựa vào rừng Mưa quất vào mặt ông bỏng rát Ông bỗng òa khóc Ông òa khóc cho mình, cho người, cho tất cả những hữu hạn của chính mình, của mỗi người Đề Thám sụt sùi như một người thường: một anh bán bánh đa mật ở chợ Kế, một viên công chức quèn, một chàng thợ bạc vụng

Trang 39

về, một ông giáo nghèo Ông khóc như một người nhu nhược nhất đời, một người suốt đời thỏa hiệp, không bao giờ dám bước qua lằn ranh bổn phận, nghĩa vụ, cương tỏa Ông khóc như chưa bao giờ là một anh hùng, một người khởi nghĩa”[1;

384] Con người luôn có những mặt hạn chế mà bản thân không thể vượt qua, Đề Thám là một con người bằng xương thịt, ông cũng không thể vượt qua được giới hạn của chính mình Đoạn trích trên có thể hoàn toàn hư cấu, nhưng nó thể hiện một cách tinh tế và sâu sắc tâm thế của nhân vật lịch sử trong tính hiện thực của nó; con người ấy đang khóc vì cảm thấy bất lực trước những ràng buộc xung quanh số phận

và vị thế của mình Nguyễn Huy Thiệp tạo ra một sự nghi ngờ gợi mở và sáng tạo qua đề tài “lịch sử - giả” Qua tác phẩm, ông đưa bạn đọc về lại với vùng đất Nhã Nam nơi tháng tư có mưa, nơi có sự xuất hiện của “Hùm thiêng Yên Thế”, nơi con người ấy có thể bộc lộ được tất cả những cảm xúc mà mình giấu kín giữa thiên nhiên bao la hư ảo, giữa núi rừng hoang vu Đề Thám khóc, ông khóc vì sự bất lực, khóc vì sự hữu hạn của một con người

2.1.1.3 Nhân vật là nhà thơ

Nhân vật là nhà thơ nằm trong bối cảnh thời đại mà Nguyễn Huy Thiệp xây

dựng chỉ có một người, đó là Nguyễn Du Nhân vật xuất hiện trong hai truyện ngắn: Kiếm sắc và Vàng lửa

Trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, nhân vật Nguyễn Du được ông xây dựng trên hai truyện ngắn, nhưng lại khá khiêm tốn về câu chữ Nhà văn không

tự miêu tả nhân vật mà cho một nhân vật khác kể về nhân vật Nguyễn Du qua cái

nhìn chủ quan của nhân vật đó Cụ thể là nhân vật Đặng Phú Lân trong Kiếm sắc và nhân vật Phăng trong Vàng lửa Trong Kiếm sắc, qua cái nhìn của nhân vật Đặng Phú Lân hình ảnh Nguyễn Du hiện lên khá mờ nhạt và mơ hồ: “Lân vào nghỉ ở một quán trọ ven đường thấy có một người cốt cách hiền lành, dáng điệu bồn chồn đang ngồi uống nước chè suông Hai người nói chuyện Lân ngạc nhiên thấy người này trong trẻo lạ lùng, tâm hồn sạch như nước ở núi ra Lân cố mời rượu, người này chỉ uống một tí đã đỏ mặt Con gái chủ quán rất xinh đứng ra hầu rượu Người trẻ tuổi

Trang 40

bảo: “Khách ở nơi xa đến, mệt mỏi vì công danh không đâu, chưa biết thế nào là đường đi lối lại, cô cầm hát một bài cho nghe đi (…) người trẻ tuổi gẩy đàn, cốt cách thanh lịch”[1; 244] Qua lời kể của nhân vật Đặng Phú Lân, mới nghe thì

không thể đoán được nhân vật mà Lân gặp là ai, chỉ đến khi nhân vật “tôi”giải thích

thì mới biết đây là Nguyễn Du “Ông Quách Ngọc Minh nói tổ phụ ông (Đặng Phú Lân) sinh thời từng gặp Nguyễn Du”[1; 245] Nhân vật Nguyễn Du lúc này chỉ

được thấy ở khía cạnh là người mà Lân tình cờ gặp trên đường đi tìm nhân tài cho đất nước, cho thấy ông là một người có cốt cách thanh lịch, nhẹ nhàng và tâm hồn

rất trong sạch Còn trong Vàng lửa, dưới con mắt chủ quan của nhân vật Phăng,

Nguyễn Du hiện lên với nhiều màu sắc hơn, nhưng lại là những mảng màu tối:

“Trước mặt tôi là một người bé nhỏ, mặt nhàu nát vì đau khổ Ông nổi tiếng là một nhà thơ có tài Tôi thấy ông hoàn toàn không hiểu gì về chính trị Trước sau, ông là một viên quan tận tụy Ông hơn những người khác ở nhân cách nhưng nhân cách ấy

có giá trị gì khi cuộc đời thực của ông xúi xó, túng kiết Ông hoàn toàn thiếu tiện nghi Ông không phù phiếm nhưng sự hào hoa cũng không có nốt Đời sống tinh thần bóp nghẹt ông Ông nói chuyện giản dị và hóm hỉnh Trực giác tuyệt vời… ông

là một khối nguyên liệu to lớn … là những khối nguyên liệu vô giá, những vật quốc bảo Ông ta (tức Nguyễn Du) có sự thông cảm sâu sắc với nhân dân Ông yêu nhân dân mình Ông đại diện cho nhân dân ở phần u uất nhất, trữ tình nhất nhưng cũng đáng thương nhất (…) Nguyễn Du không biết xót thân Nguyễn Du thông cảm với những đau khổ của các số phận đơn lẻ mà không hiểu nổi nỗi đau khổ lớn của dân tộc (…) Nguyễn Du sống dân dã, ông hồn nhiên chịu đựng sự nghèo tùng cùng nhân dân Ông không đứng cao hơn họ, không hưởng thụ cao hơn họ, và như thế, ông hoàn toàn không biết làm chính trị Tất cả đời sống vật chất của ông do những hoạt động cù lần mang lại, năng suất thấp, chỉ thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu Lòng tốt của ông là thứ lòng tốt nhỏ, không cứu được ai”[1; 247, 248] Lần này

Nguyễn Du được tác giả thông qua nhân vật Phăng cho hiện lên với những nét rõ

ràng hơn, có ngoại hình “một người nhỏ bé, mặt nhàu nát vì đau khổ”, có miêu tả bản chất “là nhà thơ có tài… không hiểu về chính trị… một viên quan tận tụy… hơn

Ngày đăng: 21/06/2021, 21:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w