Trong đó, một số vấn đề liên quan đến các văn bản pháp luật như một số đối tượng lợi dụng làm giả thủ tục xuất khẩu gỗ để không phải xin phép CITES hoặc vận chuyển gỗ trái phép qua biên
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ XUẤT KHẨU
Khái quát về xuất khẩu hàng hóa
1.1.1 Khái niệm về xuất khẩu
Hoạt động xuất khẩu đã và đang ngày càng trở thành mối quan tâm lớn của nhiều doanh nghiệp trong nước và cả các doanh nghiệp nước ngoài Hoạt động xuất khẩu góp phần tạo nhiều cơ hội để các doanh nghiệp có thể phát triển vươn xa khỏi lãnh thổ của một quốc gia Và không có khái niệm nào là tuyệt đối khi định nghĩa về xuất khẩu, một số người nhận định xuất khẩu như sau:
Xuất khẩu là hoạt động kinh doanh buôn bán trên phạm vi quốc tế Xuất khẩu là hoạt động bán hàng hoá ra nước ngoài, nó không phải là hành vi bán hàng riêng lẻ mà là hệ thống bán hàng có tổ chức cả bên trong lẫn bên ngoài nhằm mục tiêu lợi nhuận, thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, ổn định và từng bước nâng cao mức sống của nhân dân [23]
Xuất khẩu là hoạt động kinh doanh dễ đem lại hiệu quả đột biến Mở rộng xuất khẩu để tăng thu ngoại tệ, tạo điều kiện cho nhập khẩu và thúc đẩy các ngành kinh tế hướng theo xuất khẩu, khuyến khích các thành phần kinh tế mở rộng xuất khẩu để giải quyết công ăn việc làm và tăng thu ngoại tệ [23]
Tuy nhiên, theo khoản 1, điều 28, Luật Thương mại Việt Nam (2005), xuất khẩu được định nghĩa là: “Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực Hải quan riêng theo quy định của pháp luật” (Luật Thương mại Việt Nam, 2005)
Tùy vào khía cạnh xem xét, xuất khẩu có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau và hoạt động xuất khẩu thường mang một số đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất, hoạt động xuất khẩu mang những đặc trưng của hoạt động thương mại quốc tế và liên quan đến các hoạt động thương mại quốc tế khác như bảo hiểm quốc tế, thanh toán quốc tế, vận tải quốc tế,…
Thứ hai, hoạt động xuất khẩu là hoạt động mua bán có sự tham gia của đối tác nước ngoài, hàng hoá phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng ngoài nước
Thứ ba, hoạt động xuất khẩu diễn ra trên mọi lĩnh vực, trong mọi điều kiện của nền kinh tế, từ xuất khẩu hàng tiêu dùng cho đến tư liệu sản xuất, máy móc thiết bị công nghệ cao
Thứ tư, Thời gian và phạm vi diễn ra của hoạt động xuất khẩu rất rộng Nó có thể diễn ra trong thời gian rất ngắn song cũng có thể kéo dài nhiều năm, có thể được diễn ra trên phạm vi một quốc gia hay nhiều quốc gia khác nhau
Thứ năm, hoạt động xuất khẩu mang lại nhiều lợi ích cho quốc gia thông qua kích thích tính sáng tạo ở các doanh nghiệp để đẩy mạnh sản xuất trong nước
1.1.2.Vai trò và nhiệm vụ của xuất khẩu
1) Vai trò của xuất khẩu
Thứ nhất, xuất khẩu tạo nguồn vốn cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp hóa đất nước: thực hiện con đường công nghiệp hóa - hiện đại hóa, đòi hỏi đất nước phải có nguồn vốn rất lớn để nhập khẩu máy móc, thiết bị công nghệ hiện đại, tân tiến Nguồn vốn cho nhập khẩu có thể hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, nhưng chỉ có giá trị mang lại từ hoạt động xuất khẩu mới quyết định được qui mô của nhập khẩu [22]
Thứ hai, xuất khẩu đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển: cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại đã tác động rất lớn đến cơ cấu sản xuất và tiêu dùng trên thế giới Để phù hợp với xu hướng phát triển chung của thế giới, Việt Nam chuyển dịch cơ cấu kinh tế là điều tất yếu Sản xuất hàng hóa theo nhu cầu thị trường thế giới đã tác động tích cực đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển [22]
Thứ ba, xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác có cơ hội phát triển thuận lợi: để phát triển những ngành xuất khẩu chủ lực, đòi hỏi những ngành phụ trợ tương ứng cũng cần phải phát triển, vì tự thân một ngành không thể duy trì sự phát triển ổn định lâu dài [22]
Thứ tư, xuất khẩu có vai trò kích thích đổi mới trang thiết bị và công nghệ sản xuất: Trên thị trường thế giới, sự tồn tại và phát triển của hàng hóa xuất khẩu phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng, giá cả Công nghệ sản xuất là cái gốc tạo ra chất lượng, vì vậy phải luôn tìm tòi sáng tạo để cải tiến, nâng cao chất lượng công nghệ sản xuất [22]
Thứ năm, xuất khẩu có tác động tích cực tới việc giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống của nhân dân: hoạt động sản xuất xuất khẩu đã tạo công ăn việc làm cho hàng triệu người lao động, giúp họ có cuộc sống đầy đủ vật chất hơn và đồng thời giải quyết nạn thất nghiệp trong xã hội hiện nay Ngoài ra, xuất khẩu còn tạo ra nguồn vốn để nhập khẩu những mặt hàng tiêu dùng thiết yếu phục vụ đời sống nhân dân trong cả nước [22]
Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu
1.2.1.Các nhân tố trực tiếp
1) Nguồn lực của doanh nghiệp
Nguồn lực tài chính: tài chính là nhân tố cực kỳ quan trọng và quyết định đến sự tồn tại của doanh nghiệp cũng như hoạt động xuất khẩu Có nguồn tài chính dồi dào sẽ đảm bảo hoạt động xuất khẩu được thực hiện và diễn ra liên tục Với khả năng huy động vốn của doanh nghiệp tốt thì sẽ tăng khả năng cạnh tranh bằng các biện pháp như ứng trước tiền hàng, cho phép thanh toán chậm, đưa ra các điều khoản thanh toán ưu đãi và dễ dàng hơn trong việc đàm phán ký kết hợp đồng [35]
Nguồn nhân lực: trình độ, năng lực lãnh đạo và quản trị kinh doanh của Ban Giám đốc tốt thì sẽ đảm bảo được kế hoạch xuất khẩu của doanh nghiệp đề ra, cho phép việc xuất khẩu có được các chiến lược kinh doanh đúng đắn, bắt kịp xu hướng của thị trường Tiếp là trình độ, năng lực kinh doanh xuất khẩu của đội ngũ cán bộ công nhân viên của doanh nghiệp, đây là những người trực tiếp thực hiện hoạt động xuất nhập khẩu Vì vậy mà họ là nhân tố quyết định đến hiệu quả xuất khẩu [35]
Cơ sở vật chất của doanh nghiệp: nhà kho, bãi tập kết hàng, bộ phận vận tải của doanh nghiệp sẽ ảnh hưởng đến tiến độ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu cũng như có thể tiết kiệm được thời gian và chi phí Có kho bãi thì doanh nghiệp có thể tập trung hàng hóa về một mối trước khi giao hàng cho người vận tải nên nghiệp vụ này có thể sẽ đơn giản hơn có bộ phận vận tải hay có những mối quan hệ với các cơ sở vận tải thì công việc chuyên chở hàng hóa sẽ diễn ra thuận tiện, nhanh hơn và đúng với thời gian giao nhận hàng [35]
2) Chính sách của nước xuất nhập khẩu
Chiến lược, chính sách và pháp luật của nước xuất khẩu, nước nhập khẩu liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ở cả hiện tại và tương lai Với chiến lược hướng về xuất khẩu mà họ đang thực hiện thì đã có một số chính sách phát triển cụ thể cho từng giai đoạn nhằm khuyến khích các nhân tố, tổ chức kinh tế trong đó đặc biệt là các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế Việc khuyến khích này thể hiện ở các chính sách, các biện pháp liên quan đến việc tạo nguồn hàng, tạo môi trường thuận lợi, hỗ trợ tài chính, ưu đãi thuế quan cho xuất khẩu [35]
1)Hệ thống cơ sở hạ tầng
Nhân tố này nó sẽ hạn chế hay tăng cường năng lực của doanh nghiệp, với hệ thống giao thông vận tải thì sẽ ảnh hưởng tới thời gian, khả năng giao hàng Hệ thống thông tin liên lạc thì ảnh hưởng tới giao dịch quốc tế [35]
2) Thị trường tài chính thế giới
Thị trường tiền tệ thế giới không ổn định, tỷ giá của đồng nội tệ và đồng ngoại tệ trong hợp đồng có sự thay đổi sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả và giá trị của hợp đồng xuất khẩu [35]
3) Các môi trường vĩ mô quốc tế
Môi trường thương mại, sự ổn định chính trị, luật pháp và các thông lệ quốc tế,…đòi hỏi doanh nghiệp phải nắm vững trong quá trình thực hiện hợp đồng xuất khẩu bởi nó chứa đựng những cơ hội hay nguy cơ, rủi ro quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp trong thực hiện hợp đồng [35]
4) Tình hình cạnh tranh trong nước và quốc tế
Với chính sách chuyển đổi cơ chế quy định về doanh nghiệp xuất khẩu trong nước đã làm bùng nổ về số lượng các doanh nghiệp tham gia vào hoạt động kinh doanh quốc tế dẫn đến sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp Sự cạnh tranh thể hiện dưới dạng phá giá thị trường, cướp khách hàng,… Độ cạnh tranh quốc tế biểu hiện ở sức ép của các doanh nghiệp hoạt động trong cùng thị trường xuất khẩu Cạnh tranh càng gay gắt thì càng gây khó khăn cho doanh nghiệp xuất khẩu khi muốn thâm nhập, duy trì, mở rộng thị trường [35]
5) Tình hình chính trị, kinh tế, hợp tác quốc tế
Tình hình chính trị hợp tác quốc tế thể hiện ở xu thế hợp tác giữa các quốc gia kéo theo hình thành các hiệp định song phương và đa phương, các khối kinh tế chính trị của một nhóm quốc gia Các hiệp định và khối kinh tế này có những ưu đãi về mặt thuế quan, hạn ngạch đối với các thành viên trong trao đổi thương mại với nhau Vì vậy mà tác động tới thị trường xuất khẩu của doanh nghiệp [35].
Quy trình xuất khẩu hàng hóa
Nghiên cứu thị trường là việc quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Đối với các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu thì việc nghiên cứu thị trường quốc tế lại càng có ý nghĩa hơn bởi vì nó liên quan trực tiếp đến việc tiến hành giao dịch, thâm nhập thị trường nước ngoài của các doanh nghiệp Thị trường là yếu tố sống còn và là yếu tố vận động không ngừng, vì vậy bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải nổ lực tìm hiểu, nghiên cứu để chỉ ra phương thức hoạt động sao cho phù hợp khi xâm nhập vào từng thị trường khác nhau Các đối tượng trong hoạt động nghiên cứu thị trường là môi trường (môi trường kinh tế, văn hoá xã hội, môi trường chính trị, luật pháp, môi trường công nghệ), giá cả hàng hoá, đối thủ cạnh tranh, nhu cầu thị trường, thị hiếu tiêu dùng, tập quán, [12]
1.3.2 Lựa chọn đối tác kinh doanh Để thâm nhập thành công vào thị trường thế giới đòi hỏi các doanh nghiệp phải lựa chọn được đối tác phù hợp để có thể hỗ trợ và giúp đỡ nhau cùng phát triển Việc lựa chọn đúng đối tượng để hợp tác mua bán tránh cho doanh nghiệp những phiền toái, rủi ro, mất mát thường gặp trong quá trình kinh doanh trên thị trường quốc tế, đồng thời liên đới giúp việc thực hiện thành công các kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp Đối với doanh nghiệp xuất khẩu trực tiếp, doanh nghiệp không cần phải chia sẻ lợi nhuận cho các đối tượng khác Tuy nhiên, trong trường hợp doanh nghiệp chỉ mới tham gia lĩnh vực kinh doanh xuất khẩu thì doanh nghiệp nên thông qua các đại lý hoặc các công ty uỷ thác xuất khẩu để giảm bớt chi phí cho việc thâm nhập vào thị trường Doanh nghiệp có thể tìm kiếm thông tin đối tác thông qua công ty tư vấn, sở giao dịch, phòng Thương mại và Công nghiệp các nước có quan hệ [12]
1.3.3 Lập phương án kinh doanh
Dựa vào những kết quả thu được trong quá trình nghiên cứu, tiếp cận thị trường quốc tế, doanh nghiệp xuất khẩu lập phương án kinh doanh Phương án này là bản kế hoạch hoạt động của doanh nghiệp nhằm đạt được những mục tiêu xác định trong kinh doanh Xây dựng phương án kinh doanh gồm các bước sau:
Bước 1: Đánh giá tình hình thị trường và thương nhân, doanh nghiệp xuất khẩu phải đưa ra được đánh giá tổng quan về thị trường nước ngoài và đánh giá chi tiết đối với từng phân đoạn thị trường cụ thể, đồng thời cũng phải đưa ra những nhận định cụ thể về các thương nhân nước ngoài mà doanh nghiệp xuất khẩu sẽ hợp tác kinh doanh
Bước 2: Lựa chọn mặt hàng tiềm năng, phương thức kinh doanh
Từ những sản phẩm hiện có, doanh nghiệp xuất khẩu phải chọn ra mặt hàng xuất khẩu mà doanh nghiệp có khả năng sản xuất, có nguồn hàng ổn định đáp ứng được thời cơ xuất khẩu thích hợp và tuỳ thuộc vào khả năng của doanh nghiệp mà doanh nghiệp lựa chọn phương thức kinh doanh phù hợp
Bước 3: Đề ra mục tiêu
Trên cơ sở đánh giá về khả năng tiêu thụ sản phẩm tại thị trường nước nhập khẩu mà doanh nghiệp xuất khẩu đề ra mục tiêu cho từng giai đoạn khác nhau:
Giai đoạn1: Bán sản phẩm với giá thấp nhằm cạnh tranh với sản phẩm cùng loại, tạo điều kiện cho người tiêu dùng có cơ hội tiếp cận dùng thử và từng bước chiếm lĩnh thị phần Mục tiêu này ngoài yếu tố thực tế thì cần phải phù hợp với khả năng của doanh nghiệp
Giai đoạn 2: Nâng dần mức giá bán để thu lợi nhuận
Bước 4: Đề ra biện pháp thực hiện
Giải pháp thực hiện là công cụ giúp doanh nghiệp thực hiện các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất, nhanh nhất, mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất
Bước 5: Đánh giá hiệu quả của việc kinh doanh
Giúp doanh nghiệp đánh giá hiệu quả sau khi thực hiện kinh doanh, đồng thời đánh giá được hiệu quả những khâu mà doanh nghiệp kinh doanh đã thực hiện tốt, những khâu còn yếu kém nhằm giúp hoàn thiện hơn về quy trình xuất khẩu tại doanh nghiệp [12]
1.3.4 Đàm phán, ký kết hợp đồng Đàm phán là hành vi và quá trình, mà trong đó hai hay nhiều bên tiến hành thương lượng, thảo luận về các mối quan tâm chung và những quan điểm còn bất đồng, để đi đến một thỏa thuận thống nhất [18, tr6] Đàm phán và ký kết hợp đồng xuất khẩu là một trong những khâu quan trọng của hoạt động xuất khẩu Nó quyết định đến khả năng, điều kiện thực hiện thành công hợp đồng xuất khẩu Đồng thời nó cũng thể hiện khả năng của doanh nghiệp trong lĩnh vực tìm kiếm khách hàng Chính vì vậy, doanh nghiệp cần phải có những cán bộ có năng lực trong đàm phán để có thể đàm phán thành công
Năng lực đàm phán là yếu tố có ảnh hưởng quyết định đến tiến trình và kết quả của cuộc đàm phán Khi nói về năng lực đàm phán, không thể không đề cập đến các yếu tố sau: tư chất, chức vụ của người đàm phán, các quan hệ xã hội, uy tín cá nhân, sự hiểu biết, lòng tự tin, khả năng thuyết phục, tính kiên nhẫn và có chiến thuật đàm phán thích hợp
Tóm lại, nhà đàm phán ít nhất phải có được ba loại năng lực cơ bản đó là trình độ chuyên môn, khả năng am hiểu pháp lý và tính mạo hiểm
1.3.5 Tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu
Sau khi ký kết thực hiện hợp đồng xuất khẩu, công việc quan trọng nhất của doanh nghiệp là tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu đó Việc này đòi hỏi phải có sự tuân thủ của luật quốc gia và luật quốc tế, cũng như các tập quán quốc tế Đồng thời phải đảm bảo được quyền lợi của quốc gia cũng như quyền lợi và uy tín của doanh nghiệp Việc tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu gồm các nghiệp vụ sau:
1) Xin giấy phép xuất khẩu
Giấy phép là tiền đề quan trọng về mặt pháp lý để tiến hành các khâu khác trong quá trình xuất khẩu hàng hoá Thủ tục xin giấy phép xuất khẩu ở mỗi nước, trong mỗi thời kỳ đều khác nhau [17, tr450] Trong thời buổi kinh tế hội nhập ngày càng sâu rộng, để bắt kịp xu hướng phát triển chung trong quan hệ hợp tác quốc tế thì Nhà nước đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp xuất khẩu
Việc xin giấy phép xuất khẩu hàng hoá bao gồm: Đơn xin phép, Phiếu hạn ngạch (nếu hàng hoá thuộc đối tượng có hạn ngạch), Bản sao hợp đồng đã ký với đối tác nước ngoài
2) Thực hiện những công việc ở giai đoạn đầu của khâu thanh toán
THỰC TRẠNG QUY TRÌNH XUẤT KHẨU SẢN PHẨM GỖ CỦA CÔNG TY TNHH VÁN LẠNG MỎNG GHÉP HÌNH NGHỆ THUẬT PRO-CONCEPTS
Khái quát về thị trường gỗ và sản phẩm gỗ trên thế giới
2.1.1 Vài nét về sản phẩm ván gỗ công nghiệp trên thế giới
Trên thị trường hiện nay, các sản phẩm được sản xuất từ gỗ rất đa dạng và phong phú Trong đó, sản phẩm gỗ nội thất là một trong những mặt hàng được đánh giá rất cao và đang chiếm lĩnh thị trường xuất gỗ và sản phẩm gỗ trên thế giới Sản phẩm gỗ nội thất đa dạng nhưng khi phân loại theo nguyên liệu cấu thành sản phẩm, sản phẩm gỗ nội thất được chia thành hai nhóm cơ bản sau: sản phẩm gỗ nội thất tự nhiên và sản phẩm gỗ nội thất công nghiệp Trước đây, sản phẩm gỗ nội thất tự nhiên chiếm ưu thế trên thị trường tiêu thụ, nhưng gần đây sản phẩm gỗ nội thất công nghiệp đang dần thay thế các sản phẩm gỗ tự nhiên do nguồn nguyên liệu từ gỗ ngày càng cạn kiệt Không chỉ riêng sản phẩm gỗ nội thất công nghiệp phát triển mà các loại ván gỗ công nghiệp cũng đang dần tăng tỷ trọng trên thị trường gỗ thế giới Tại thị trường Việt Nam, giá trị xuất khẩu của các loại ván công nghiệp ngày càng tăng nhanh, đạt mức kim ngạch xuất khẩu 407.21 triệu USD vào năm 2016 cao hơn năm 2014 gần 82.38 triệu USD (Hiệp hội gỗ và Lâm sản Việt Nam, 2017) Dưới đây là các loại ván gỗ công nghiệp phổ biến trên thị trường:
Ván dăm (PB): là loại ván được tạo thành bằng cách ép dán các dăm từ gỗ hoặc thực vật chứa cellulose nhờ chất kết dính, trong điều kiện áp suất và nhiệt độ nhất định, được sản xuất từ nguyên liệu gỗ rừng trồng (bạch đàn, keo, cao su ), có độ bền cơ lý cao, kích thước bề mặt rộng, phong phú về chủng loại Dùng làm nguyên liệu chủ yếu để trang trí nội thất, sản xuất đồ mộc gia đình, công sở [26]
Ván sợi MDF (Gỗ ép): là ván được hình thành từ sợi gỗ hoặc thực vật, gỗ đã qua chế biến tạo thành sợi, và phụ gia ép thành ván theo phương pháp ướt hoặc khô, hoặc nửa khô phụ thuộc vào công nghệ tạo ván và ép, loại ván nhân tạo có độ bền cơ lý cao, kích thước lớn, phù hợp với công nghệ sản xuất đồ mộc nội thất trong vùng khí hậu nhiệt đới Ván sợi được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực: sản xuất đồ mộc, trang trí nội thất, xây dựng [26]
Ván ghép thanh (Gỗ ghép): là loại ván nhân tạo được tạo thành bằng cách dán các thanh gỗ bằng keo dán, được sản xuất từ nguyên liệu chính là gỗ rừng trồng Những thanh gỗ nhỏ đã qua xử lý hấp sấy, trên dây chuyền công nghệ tiên tiến, thiết bị hiện đại, gỗ được cưa, bào, phay, ghép, ép, chà và sơn phủ trang trí Ván ghép thanh được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực sản xuất đồ mộc, trang trí nội thất, sản xuất ván sàn và nhiều sản phẩm khác [26]
Ván gỗ biến tính: là loại ván được cấu thành từ gỗ biến tính để nâng cao tính chất cơ lý và một số tính chất khác của gỗ bằng cách làm tăng khối lượng thể tích, ván có cường độ chịu uốn tĩnh cao, tỷ lệ dãn nở thấp [26]
Ván dán (gỗ dán) là sản phẩm dạng tấm phẳng, gồm ba hoặc nhiều lớp ván mỏng dán vuông góc chiều thớ với nhau Dùng sản xuất đồ mộc cao cấp thường là loại ván gỗ dán nhiều lớp, bề mặt sản phẩm được phủ bởi ván lạng hoặc ván bóc có vân thớ đẹp, chất lượng cao [26]
Ván lạng kỹ thuật (veneer) là loại ván được lạng mỏng (bóc ly tâm) từ cây gỗ tự nhiên thành những lát dày từ 0.3mm đến 0.6mm, độ rộng tuỳ theo loại gỗ trung bình khoản 180mm, dài khoản 240mm, được phơi và sấy khô, qua quá trình sản xuất để tạo ra loại vân gỗ theo ý muốn [19]
So với ván gỗ tự nhiên thì ván gỗ công nghiệp có nhiều ưu điểm ưu việt hơn:
Về giá thành: Gia công ván gỗ công nghiệp thường đơn giản, chi phí nhân công ít, có thể sản xuất ngay không cần phải qua giai đoạn lựa chọn gỗ, giá phôi gỗ rẻ hơn, vì vậy ván gỗ công nghiệp thường rẻ hơn nhiều so với ván gỗ tự nhiên Mức chênh lệch giá tùy thuộc từng loại gỗ khác nhau
Về độ cong vênh: Ván gỗ công nghiệp có đặc điểm là không cong vênh, không co ngót Có thể làm cánh phẳng và sơn các màu khác nhau
Về thời gian thi công, sản xuất: Ván gỗ công nghiệp có thời gian thi công nhanh hơn, có thể sản xuất hàng loạt vì phôi gỗ thường đã có sẵn, theo dạng tấm nên thợ chỉ việc cắt, ghép, dán, không mất công trong việc xẻ gỗ, bào và gia công bề mặt,…
Về phong cách: Ván gỗ công nghiệp có phong cách hiện đại, trẻ trung, công năng sử dụng cao
Tuy nhiên, ván gỗ công nghiệp vẫn mang một số hạn chế nhất định:
Về độ bền: Ván gỗ công nghiệp có độ bền không so được với độ bền của ván gỗ tự nhiên
Về đặc tính: Ván gỗ công nghiệp hút nước nên sơn bề mặt gỗ phải được sơn nhiều lớp (từ 4-7 lớp) để tránh thấm nước vào cốt gỗ, nếu sơn không đảm bảo khi gặp nước gỗ sẽ bị bung liên kết keo trong gỗ làm tấm gỗ công nghiệp trở nên rời ra và không còn sử dụng được
Về họa tiết, đường soi: Do đặc điểm cơ lý của gỗ công nghiệp và sự liên kết của gỗ do đó mà ta không thể sản xuất được chi tiết mỹ thuật như gỗ tự nhiên (đường soi, họa tiết, hoa văn…) [26]
2.1.2 Tình hình tiêu thụ và xuất khẩu ván gỗ công nghiệp trên thế giới
1) Tình hình tiêu thụ ván gỗ trên thế giới
Nhu cầu nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ từ những nước lớn như Mỹ, Trung Quốc, các nước EU,… trong năm 2016 vẫn tiếp tục tăng đã chứng minh một điều là nhu cầu về gỗ trong tương lai vẫn sẽ tiếp tục gia tăng (Hiệp hội gỗ và Lâm sản Việt Nam, 2017) Trong đó, đồ gỗ nội thất là những mặt hàng có nhu cầu trên thị trường rất lớn Theo số liệu thống kê sơ bộ từ Trung tâm nghiên cứu công nghiệp của Ý, tiêu thụ đồ nội thất trên toàn thế giới đạt giá trị khoảng 467,7 tỷ USD trong năm
2015, tăng 2,8% so với năm 2014 [34] Và nhu cầu đồ nội thất trên toàn thế giới trong tương lai sẽ tiếp tục tăng và có sự thay đổi về việc sử dụng các mặt hàng gỗ, đặc biệt là các loại gỗ công nghiệp
Nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm gỗ tự nhiên trênthế giới đang ngày càng giảm, thay vào đó nhu cầu về các loại sản phẩm gỗ công nghiệp đã xây dựng được vị trí nhất định trên thị trường Trong đó, ván gỗ công nghiệp là loại sản phẩm có nhu cầu thị trường ngày càng tăng cao, khoảng 26% mỗi năm cho đến năm 2020 [27], do chi phí rẻ và thân thiện với môi trường
Nhu cầu về mặt hàng ván veneer từ 65.8 triệu USD năm 2015 với tốc độ tăng trưởng âm 4.2% đã tăng lên khoảng 76.5 triệu USD đưa mức tăng trưởng của mặt hàng này năm 2016 lên 16.26% [30] Trong thời gian tới, mặt hàng ván veneer sẽ là mặt hàng có tiềm năng xuất khẩu sang thị trường Úc với mức tăng trưởng tốt
Tình hình sản xuất, xuất khẩu ván gỗ công nghiệp tại Việt Nam
Ngành gỗ là một trong những ngành phát triển rất năng động trong những năm gần đây Nhìn từ góc độ cung - cầu về gỗ, ngành gỗ bao gồm bốn nhóm chính sau: nguồn cung gỗ nguyên liệu trong nước, sản phẩm gỗ tiêu thụ trong nước, nguồn cung nguyên liệu gỗ nhập khẩu và sản phẩm gỗ xuất khẩu Từ góc độ các loại hình
29 sản xuất, ngành gỗ cũng được chia thành bốn nhóm chính: nhóm các doanh nghiệp chuyên chế biến, các doanh nghiệp chuyên làm thương mại, các làng nghề gỗ truyền thống và các cơ sở sản xuất qui mô nhỏ lẻ ở dạng cá nhân hoặc hộ gia đình Nhóm doanh nghiệp chuyên về chế biến chiếm số lượng lớn trong tổng ngành gỗ Việt Nam hiện nay Theo thống kê của tổng cục Lâm nghiệp, năm 2015 cả nước có khoảng 4000 doanh nghiệp, trong đó khoảng 3000 doanh nghiệp chế biến, còn lại là nhóm các loại hình khác (Tổng cục Lâm nghiệp, 2016)
Ngành gỗ Việt Nam đang hội nhập sâu rộng với thị trường thế giới Các sản phẩm gỗ từ Việt Nam hiện đang được tiêu thụ tại trên 120 quốc gia và vùng lãnh thổ Kim ngạch xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ chiếm tỷ lệ khá cao trong các mặt hàng xuất khẩu của cả nước, là mặt hàng nằm trong nhóm 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực và luôn giữ mức tăng trưởng dương qua từng năm
Trong ngành chế biến gỗ, có khoảng 80% doanh nghiệp sở hữu tư nhân, 14% doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và 4% doanh nghiệp vốn sở hữu nhà nước (Tổng cục Lâm nghiệp, 2016) Giá trị kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI rất lớn, chiếm khoảng 50% trong tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của cả nước mặc dù số lượng doanh nghiệp chiếm tỷ lệ nhỏ
Bảng 2.3 Kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của doanh nghiệp FDI giai đoạn
Giá trị xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ (USD)
Tỷ trọng so với giá trị xuất khẩu toàn ngành gỗ (%)
(Nguồn: Tính toán từ nguồn số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan)
Qua bảng số liệu 2.3, ta thấy tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI chiếm tỷ lệ rất lớn, gần 50% kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của cả nước Tuy nhiên, từ năm 2015 đến nay thì tỷ lệ này đã thay đổi với xu hướng tăng kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp trong nước, cho thấy trong quá trình hoạt động sản xuất xuất khẩu, các doanh nghiệp trong nước đã không ngừng phấn
30 đấu để cải thiện hơn Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI giảm nhưng đây vẫn là nhóm doanh nghiệp xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ quan trọng của Việt Nam
Bảng 2.4.Giá trị xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ giai đoạn 2014 - 2016
Giá trị xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ (Triệu USD)
Tỷ trọng so với giá trị xuất khẩu toàn ngành gỗ
(Nguồn: Tính toán từ nguồn số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan)
Mặc dù chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ, nhưng mặt hàng ván gỗ đã góp phần gia tăng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành cao hơn Năm 2014 chiếm 5.21% giảm xuống còn 4.77% năm 2015 và gia tăng trở lại vào năm 2016 với tỷ trọng 5.84%, trong năm 2015 tỷ trọng giảm do tốc độ tăng trưởng của mặt hàng ván gỗ (1.38%) thấp hơn so với tốc độ của tăng trưởng của ngành (10.75%)
Qua bảng số liệu, ta thấy mặt hàng ván gỗ đang có xu hướng tăng nhanh, đặc biệt trong năm 2016, kim ngạch xuất khẩu đạt mức 407.21 triệu USD, tăng cao hơn so với năm 2015 là 329.31 triệu USD Cứ theo đà tăng trưởng nhanh như hiện nay, kim ngạch xuất khẩu nhóm mặt hàng này có thể sẽ cán mức 1 tỷ USD trong thời gian không xa
Là mặt hàng xuất khẩu chủ lực với lượng ngoại tệ thu về rất lớn nhưng thời gian gần đây tốc độ tăng trưởng của mặt hàng năm 2016 chỉ tăng 1.1% so với năm 2015, thấp hơn tốc độ tăng trung bình là 6.7%, đưa vị trí ngành từ vị trí thứ 6 xuống vị trí thứ 7 và giảm tỷ trọng chỉ còn 4% Nhìn chung, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ có sự tăng trưởng nhưng không đồng bộ, tăng cao trong năm 2015 với mức tăng hai con số 10.75% nhưng năm 2016 tốc độ tăng rất chậm dù là ngành có kim ngạch xuất khẩu được mong đợi và đánh giá cao
Bảng 2.5.Tình hình xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam giai đoạn
Tỷ trọng so với tổng giá trị xuất khẩu cả nước (%)
Vị trí so với nhóm
10 mặt hàng xuất khẩu chủ yếu
(Nguồn: Tính toán từ nguồn số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan)
Trong những năm gần đây, ngành chế biến và xuất khẩu sản phẩm gỗ đã có bước phát triển vượt bậc, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt khoảng 6.97 tỷ USD năm 2016, tăng 1.01 lần so với năm 2015 (6.9 tỷ USD) và tăng gần 1.12 lần so với năm 2014 (6.23 tỷ USD) Theo đó, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đã giữ vị trí thứ 7 trong nhóm 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực, dù rớt một hạng nhưng nhóm mặt hàng gỗ và sản phẩm gỗ vẫn là nhóm hàng xuất khẩu chủ lực và mang về giá trị ngoại tệ cao cho cả nước
Bảng 2.6 Giá trị xuất khẩu gỗ theo thị trường chủ lực Đơn vị tính: Triệu USD
(Nguồn: Tính toán từ nguồn số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan)
Về thị trường xuất khẩu: Gỗ và sản phẩm Việt Nam đã có mặt tại hơn 120 quốc gia Trong đó, thị trường Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, các nước EU là những thị trường có mức kim ngạch nhập khẩu lớn và thường đạt mức tăng trưởng dương trong thời gian qua Mỹ là thị trường luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ khoảng 41% và mang về hơn 2,825 triệu USD cho kim ngạch cả nước trong năm 2016 Kế đến là thị trường Trung Quốc, đất nước đã có truyền thống mua bán lâu năm với Việt Nam, chiếm 15% tỷ trọng thị trường xuất
32 khẩu với tổng kim ngạch lên đến 1,020.235 triệu USD năm 2016, tăng gần 45 triệu USD Sau là Nhật Bản với 980.634 triệu USD chiếm khoảng 14% (2016), giảm khoảng 6.30% tương đương 61 triệu USD so với cùng kỳ năm trước (Tổng cục Hải quan, 2017) Còn lại là thị trường các nước EU và thị trường khác
Trong tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ, giá trị mang lại từ xuất khẩu các mặt hàng ván gỗ cũng góp một phần quan trọng Trong vòng 3 năm qua mặt hàng ván gỗ đã tăng đáng kể từ 324.83 triệu USD năm 2014 lên 329.31 triệu USD vào năm 2015 và năm 2016 đạt 407.21 triệu USD Riêng về mặt hàng ván gỗ dán đã chiếm trên 63.5% tỷ trọng các mặt hàng ván gỗ xuất khẩu Năm 2014, ván gỗ dán đạt mức kim ngạch 197.99 triệu USD tăng lên 213.0 triệu USD vào năm
2015, và đạt mức tăng kỷ lục năm 2016 với 286.97 triệu USD
Ván gỗ dán là mặt hàng mang lại giá trị gia tăng cao trong các mặt hàng ván gỗ xuất khẩu của Việt Nam Dự báo trong năm 2017 với nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu gia tăng, giá trị xuất khẩu các loại ván sẽ tiếp tục tăng, nhất là ván gỗ dán xuất khẩu ở mức trên 10%/năm, ước đạt trị giá gần 300 triệu USD [21].
Thực trạng kinh doanh xuất khẩu sản phẩm ván gỗ của Công ty TNHH ván lạng mỏng ghép hình nghệ thuật Pro-concepts
2.3.1 Giới thiệu về công ty
Tên công ty: Công ty TNHH Ván lạng mỏng ghép hình nghệ thuật Pro-concepts Tên giao dịch thương mại: Pro-concepts Company Limited
Tên viết tắt: Pro-concepts Co., Ltd Địa chỉ trụ sở chính: Hoà Lân II, Thuận Giao, Thuận An, Bình Dương Điện thoại: 0650.3747538 Fax: 06503.747542
Email: proconcepts@hcm.vnn.vn
Loại hình doanh nghiệp: Công ty TNHH một thành viên
Ngành, nghề kinh doanh: Sản xuất ván mỏng, ván mỏng ghép hình nghệ thuật trang trí đồ mộc và đồ mộc gia dụng với vốn điều lệ: 2.500.000 USD
Người đại diện pháp luật: Ông HSIEH CHUNG PAO; chức vụ: Tổng giám đốc
Giấy CNĐKKD (hoặc Giấy phép đầu tư) số: 461043000419 (27/06/2008) do UBND tỉnh Bình Dương cấp
Sản phẩm của doanh nghiệp là ván veneer, ván gỗ công nghiệp dán veneer
2) Lịch sử hình thành và phát triển
Năm 1990, Tổng công ty Pro-conceptsInc được thành lập tại Sec.2, Chien Tung Tsun, Ta Tsun Hsiang, Chang Hua Hsien, Taiwan Năm 1992, văn phòng đại diện của Pro-conceptsInc được xây dựng ở Hồng Kông, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc ký kết hợp đồng mua bán với các đối tác nước ngoài
Sau 5 năm hoạt động ở Đài Loan, Pro-concepts Inc mở rộng thị trường sang các quốc gia lân cận khác Vào năm 1995, hai công ty dưới quyền của Pro-concepts Inc lần lượt đi vào hoạt động tại Trung Quốc
Pro-concepts Inc nhận thấy rằng Việt Nam là một thị trường tiềm năng, có thể sinh lợi cao Vì vậy, năm 2001 Công ty TNHH Ván lạng mỏng ghép hình nghệ thuật Pro-concepts đã được thành lập tại địa chỉ Hòa Lân, Thuận Giao, Thuận An, Bình Dương, Việt Nam Pro-concepts Inc đầu tư 7.986.000 USD, với diện tích đất sử dụng 58.533 m 2 cho dự án Pro-concepts Việt Nam Quy mô của dự án là sản xuất 11.200m 3 /năm
Công ty TNHH Ván lạng mỏng ghép hình nghệ thuật Pro-concepts xuất khẩu các loại ván lạng mỏng, ván lạng ghép sang các thị trường là thị trường Mỹ, Trung Quốc, Malaysia, Thái Lan, Indonesia,…
Tính đến nay, Công ty TNHH Ván lạng mỏng ghép hình nghệ thuật Pro- concepts đã hoạt động hơn 15 năm Với các thành tựu đạt được những năm gần đây, trong tương lai công ty sẽ ngày càng phát triển vững mạnh hơn
Bảng 2.7 Thống kê nhân sự theo giới tính của công ty Pro-concepts đến tháng
Nhân sự Số lượng (người) Tỷ trọng (%)
(Nguồn: Phòng nhân sự Công ty TNHH ván lạng mỏng ghép hình nghệ thuật Pro-concepts)
Công ty hiện có 1485 cán bộ nhân viên, trong đó có 594 là nhân viên nam, chiếm 40% và 891 nhân viên là nữ chiếm 60% Công nhân chiếm 98.32% (1460 người), nhân viên văn phòng chiếm 1.68% (25 người) Về trình độ học vấn, công ty có 14 người đạt trình độ đại học và sau đại học chiếm 0.94%, trình độ cao đẳng có
34 người chiếm 2.29%, trình độ trung cấp 42 người chiếm 2.83%, còn lại lao động phổ thông chiếm 93.94% Qua bảng 2.7, ta thấy số lượng nhân viên có trình độ chuyên môn cao tương đối thấp và đây cũng là hạn chế trong nội bộ doanh nghiệp, doanh nghiệp cần quan tâm nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ quản lý vì đây là những cán bộ nòng cốt, dẫn dắt công ty ngày càng phát triển hơn
Bảng 2.8 Cơ cấu nhân sự phân theo trình độ chuyên môn tại Công ty
Pro-concepts đến tháng 04 năm 2017 Trình độ chuyên môn Số lượng (người) Tỷ trọng (%) Đại học và sau đại học 14 0.94
(Nguồn: Phòng nhân sựCông ty TNHH ván lạng mỏng ghép hình nghệ thuật Pro-concepts)
4) Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của công ty
Công ty TNHH Ván lạng mỏng ghép hình nghệ thuật Pro-concepts là một công ty sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu, chức năng hoạt động kinh doanh của công ty rất phong phú và đa dạng, ngoài việc khai thác, chế biến, sản xuất và xuất khẩu, công ty còn thực hiện kinh doanh nội địa các mặt hàng gỗ
Công ty TNHH ván lạng mỏng ghép hình nghệ thuật Pro-Concepts có nhiệm vụ kinh doanh theo đúng ngành nghề đã đăng ký và mục đích thành lập Việc bảo toàn, sử dụng hiệu quả và phát huy nguồn vốn giúp đảm bảo kế hoạch sản xuất kinh doanh mà công ty đã đề ra, làm tròn nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước Bên cạnh đó, doanh nghiệp còn quan tâm bảo vệ an toàn lao động, bảo vệ môi trường và tài sản quốc gia
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ tổ chức của công ty Pro-concepts
(Nguồn: Phòng nhân sự Công ty TNHH ván lạng mỏng ghép hình nghệ thuật Pro-concepts)
Cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp là cơ cấu hình tháp, quản lý bộ máy theo chức năng, chia hoạt động thành các phòng ban chức năng, một phòng ban sẽ đảm nhiệm việc thực hiện một hoặc một số nhiệm vụ trong tổ chức Mỗi bộ phận được đặt dưới sự điều hành của một Giám đốc chức năng Các đơn vị chức năng có quyền chỉ đạo các đơn vị trực tuyến, do đó mỗi người cấp dưới có thể có nhiều cấp trên trực tiếp của mình Ưu điểm: Tính chuyên môn hóa cao, tạo điều kiện cho mỗi cá nhân phát huy tối đa năng lực sở trường của mình trong từng lĩnh vực hoạt động, đồng thời tạo ra một bộ máy linh hoạt, dễ quản lý, có sự phân cấp rõ ràng, không chồng chéo trách nhiệm giữa các bộ phận trong doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp giảm bớt sự phức tạp trong cơ cấu tổ chức, và đòi hỏi những người lãnh đạo phải là những chuyên gia giỏi trong các lĩnh vực nhưng không đòi hỏi kiến thức toàn diện
Nhược điểm: Chế độ trách nhiệm không rõ ràng nên Tổng Giám đốc khó có thể phối hợp được tất cả hoạt động của những người lãnh đạo chức năng, dẫn đến tình trạng người thừa hành trong một lúc có thể phải nhận nhiều mệnh lệnh, hay các mệnh lệnh trái ngược nhau dẫn đến việc khó quy trách nhiệm và dẫn đến hiện tượng đùn đẩy trách nhiệm lẫn nhau
Chức năng của Tổng Giám đốc, Ban giám đốc và các phòng ban
Tổng giám đốc: Là người chỉ đạo chung, có thẩm quyền cao nhất, có nhiệm vụ quản lý toàn diện, trên cơ sở chấp hành đúng chủ trương, chính sách và chế độ của Nhà nước, xem xét phê duyệt mọi kế hoạch và giấy tờ của các phòng ban gửi lên Phó tổng giám đốc (Giám đốc tài chính ): Chỉ đạo phòng tài chính kế toán, giúp Tổng giám đốc quản lý tình hình hoạt động của doanh nghiệp để có kế hoạch và quyết định sau cùng, giải quyết công việc được phân công Ngoài ra phó Tổng giám đốc có thể thay mặt Tổng giám đốc quyết định những công việc thuộc phòng chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình
Giám đốc điều hành: Quản lý và điều hành phòng nhân sự, phòng xuất nhập khẩu, phòng sản xuất; hoạch định chiến lược kinh doanh, tầm nhìn, sứ mệnh cho doanh nghiệp; đề xuất những biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động và quản lý doanh nghiệp; thẩm định và duyệt các dự án đầu tư, tham mưu, cố vấn cho Tổng giám đốc
Giám đốc kinh doanh: Quản lý và điều hành mọi công việc và toàn bộ guồng máy liên quan đến khách hàng và hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp theo chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp và theo chỉ đạo trực tiếp từ Tổng Giám đốc
Phòng tài chính kế toán: Lập báo cáo thuế, tài chính, ghi nhận các khoản thu chi, lợi nhuận mỗi ngày, theo dõi và chịu trách nhiệm thanh toán công nợ với các đại lý ở các quốc gia khác nhau; giải quyết các vấn đề tài chính, thanh toán, quyết toán dịch vụ, tiền lương, tiền thưởng, nghĩa vụ đối với nhà nước và các vấn đề liên quan tài chính Đồng thời tham mưu cho Giám đốc xây dựng các kế hoạch tài chính
Thực trạng quy trình xuất khẩu tại Công ty Pro-concepts
2.4.1 Về khâu nghiên cứu thị trường Đối với công ty là doanh nghiệp xuất khẩu, nghiên cứu thị trường là một bước quan trọng để công ty đưa ra quyết định nên xuất khẩu những gì sang thị trường nào để vừa mang về nhiều lợi nhuận nhưng lại gặp ít rủi ro hơn Ngoài việc nắm bắt thị trường trong nước và các đường lối, chính sách của quốc gia có liên quan đến hoạt động kinh tế đối ngoại, công ty cần phải nhận biết và nắm vững thị trường ngoài nước, nơi công ty sẽ hợp tác xuất khẩu
Trong công tác nghiên cứu thị trường xuất khẩu, có hai phương thức nghiên cứu chính: nghiên cứu tại bàn và nghiên cứu tại địa bàn, khảo sát thực tế, công ty chọn hình thức nghiên cứu tại bàn thay cho phương thức khảo sát thực tế vì phương thức
48 nghiên cứu thị trường này khá đơn giản, không tốn nhiều chi phí và không cần sử dụng quá nhiều người song độ tin cậy, tính chính xác của thông tin không cao, rủi ro trong kinh doanh lớn và thường chỉ mang tính chất tham khảo
Công ty nghiên cứu thông qua hợp tác với các công ty môi giới để thu thập thông tin về các doanh nghiệp nước ngoài, từ đó công ty Pro-concepts sẽ nắm được một số thông tin cơ bản về trụ sở, người chịu trách nhiệm pháp lý, khả năng thanh toán, cũng như nhu cầu mua hàng của người dân ở thị trường này
Ngoài ra, công ty Pro-concepts còn tìm hiểu thị trường bằng cách tham gia vào các tổ chức liên quan đến kinh tế về ngành gỗ như Hiệp hội gỗ Bình Dương, Hội thương gia Đài Loan nhằm bổ sung thêm nhiều thông tin hơn về tình hình kinh tế xã hội, mức cầu về sản phẩm và các thông lệ mua bán, tình hình giá cả và sự biến động giá của thị trường nơi công ty xuất khẩu, những thông tin mà thông qua nhà môi giới công ty không thu thập được Tại những tổ chức này, các thành viên tham gia sẽ tham dự những hội nghị, hội thảo theo định kỳ, khi tham gia họ sẽ có thể tham khảo ý kiến của nhiều người qua việc trao đổi thông tin với các thành viên khác về tình hình kinh tế, xã hội, an ninh, chính trị của một số nước hoặc khu vực
Những mặt tích cực khi sử dụng cách thức nghiên cứu này là chi phí cho cuộc nghiên cứu thấp, thời gian và không gian nghiên cứu có thể linh hoạt bởi người thực hiện nghiên cứu, không tốn nhiều về nguồn lực Bên cạnh mặt tích cực, vẫn tồn tại một số hạn chế nhất định như những thông tin thu thập được chỉ mang tính tương đối, tính chính xác không cao, công ty phải chi một khoản tiền hội phí khi tham gia các tổ chức, không có bộ phận chuyên về công tác nghiên cứu
2.4.2 Về khâu lựa chọn đối tác kinh doanh (khách hàng) Để có thể thâm nhập vào thị trường nước ngoài thành công thì các doanh nghiệp xuất khẩu trong nước phải lựa chọn được đối tác phù hợp Với mặt hàng sản phẩm được sản xuất bằng nguyên liệu gỗ, công ty đã xác định những thị trường có nhu cầu nhập khẩu mặt hàng gỗ lớn để lập kế hoạch thực hiện công tác tìm kiếm đối tác trao đổi mua bán Từ khi bắt đầu hoạt động kinh doanh xuất khẩu đến nay, công ty đã mở rộng phạm vi hợp tác với rất nhiều doanh nghiệp nước ngoài, đi tiên phong là các doanh nghiệp Trung Quốc, sau đó mở rộng xuất khẩu sang các nước Đông Nam Á và đặc biệt là đã quan hệ hợp tác thành công với các doanh nghiệp tại thị trường
Mỹ, thị trường có mức nhập khẩu sản phẩm gỗ hàng đầu thế giới và tiêu chuẩn về chất lượng hàng hóa cao
Trong các khách hàng có quan hệ hợp tác với công ty Pro-concepts, Trung Quốc là thị trường có số lượng doanh nghiệp hợp tác với công ty Pro-concepts lớn nhất, chiếm khoảng 40% tỷ trọng, kế đến là các doanh nghiệp ở thị trường khác chiếm 30% tỷ trọng, sau đó là các doanh nghiệp của Mỹ với hơn 20% tỷ trọng, còn các doanh nghiệp Malaysia chỉ khoảng 10% tỷ trọng trong cơ cấu các thị trường xuất khẩu của công ty
Bảng 2.14 Thống kê thị trường xuất khẩu của công ty Pro-concepts các năm
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh các năm 2014-2016 của Công ty Pro-concepts ) Khách hàng thuộc thị trường Mỹ
Thị trường Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất, chiếm hơn 50% tỷ trọng của toàn bộ thị trường xuất khẩu của công ty mặc dù số lượng công ty hợp tác không nhiều Một số đối tác thường quan hệ làm ăn với công ty là Oak Canyon Manufacturing, Inc, American International Log & Lumber Corp Mức tăng trưởng bình quân xuất khẩu của thị trường này là 1,050,425.81 USD, là thị trường duy nhất trong tất cả các thị trường xuất khẩu của công ty duy trì được mức tăng trưởng dương trong những năm vừa qua Năm 2015, kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ đạt
1,305,847 USD, chiếm 57% tỷ trọng xuất khẩu của công ty, tăng 68,205.31 USD so với năm 2014, (tăng 6.9%) Vào năm 2016, mức tăng 49,376.80 USD, đưa kim ngạch xuất khẩu lên 1,106,078.79 USD, tăng 4.67% so với cùng kỳ năm trước Kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Mỹ tăng ngoài việc cung cấp các sản phẩm đáp ứng đủ tiêu chuẩn nhập khẩu của thị trường này thì việc các doanh nghiệp Mỹ có lượng đầu tư tương đối thấp vào thị trường Việt Nam nên các đối tác xuất khẩu của công ty vẫn được duy trì và trên hết là nhu cầu nhập khẩu sản phẩm của doanh nghiệp đối tác ngày càng nhiều hơn
Kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Mỹ tăng do những tác động tích cực về nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm gỗ của thị trường này và môi trường kinh doanh ở Việt Nam với nhiều điều kiện thuận lợi
Thị trường Mỹ là thị trường có dân số đông trên 300 triệu dân với mức thu nhập bình quân cao 57,300 USD cùng sức mua lớn 18.56 tỷ USD (2016) [33] đã tạo nhiều điều kiện hơn cho các doanh nghiệp có cơ hội thâm nhập vào thị trường này Thực tế, kim ngạch nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Mỹ từ Việt Nam đã không ngừng gia tăng trong những năm qua Trong năm 2014, Việt Nam xuất khẩu sang thị trường này khoảng 2,237 triệu USD, nhưng chỉ trong 3 năm, con số này đã tăng gần ẳ kim ngạch xuất khẩu của năm 2014 (Tổng cục Hải quan, 2017)
Ngoài ra, Mỹ và Việt Nam cùng là thành viên của tổ chức WTO, cùng ký kết hợp tác song phương nên sẽ được hưởng nhiều ưu đãi từ các hiệp định đó, đặc biệt là ưu đãi về thuế quan khi nhập khẩu vào thị trường Mỹ Bên cạnh đó, giá dầu thế giới những tháng cuối năm 2014 giảm liên tục đã tác động không nhỏ đến tình hình xuất khẩu của công ty
Mặc dù kim ngạch xuất khẩu của công ty vào thị trường Mỹ tăng nhưng trong thời gian qua sự cạnh tranh của các sản phẩm gỗ của Trung Quốc trên thị trường
Mỹ đã gây ra nhiều sức ép cho ngành sản xuất xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ cả nước nói chung và các doanh nghiệp trong ngành nói riêng Khó khăn hơn là các sản phẩm gỗ được nhập khẩu vào Mỹ có yêu cầu tiêu chuẩn về mặt chất lượng, tính thẩm mỹ, các thông số kỹ thuật,…rất cao Đòi hỏi công ty phải có kế hoạch quản lý các khâu trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu từ khâu nguyên liệu đầu vào, khâu chế biến đến khâu đóng gói, xuất hàng một cách kỹ lưỡng và khoa học