Văn học Việt Nam tronggiai đoạn 1930–1945 có nhiều nhà văn theo khuynh hướng hiện thực như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan,Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng,… trong đó tiêu biểu là Nam Cao.Các tá
Trang 1KHOA NGỮ VĂN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CAO ĐẲNG
Tên đề tài:
CHỨC NĂNG NHẬN THỨC VÀ CHỨC NĂNG GIÁO DỤC TRONG
TRUYỆN NGẮN CỦA NAM CAO
Giáo viên hướng dẫn: ThS.LÊ SỸ ĐỒNG Sinh viên thực hiện: LÊ THỊ HOÀI THƯƠNG
Lớp: C12NV01 Khóa: 2012-2015
Bình Dương, ngày 25 tháng 05 năm 2015
Trang 2
LỜI CẢM ƠN
Trước hết, em xin gửi lời chân thành đến gia đình, đặc biệt là ba mẹ, người
đã nuôi dưỡng, dạy dỗ, tạo mọi điều kiện trong quá trình học tập của em
Em cũng xin chân thành cảm ơn đến tập thể quý thầy cô trong khoa Ngữ văn
đã nhiệt tình giúp đỡ em hoàn thành khóa luận
Đặc biệt, em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Lê Sỹ Đồng Thầy đã hết lòng tận tình động viên, giúp đỡ em trong suốt quá trình làm luận văn tốt nghiệp
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn đến những người bạn đã động viên em hoàn thành khóa luận này
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn! Bình Dương, ngày 25 tháng 05 năm 2015
Người thực hiện
Lê Thị Hoài Thương
Trang 3Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.Các kết quả nêu trong khóa luận là trung thực và chưa được công bố trong các công trình khác
Người viết (ký tên)
Lê Thị Hoài Thương
Trang 4DẪN NHẬP
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Văn học phản ánh hiện thực, chính văn học giúp chúng ta có thể hình dung được cuộc sống chân thực của đời thường Văn học Việt Nam tronggiai đoạn 1930–1945 có nhiều nhà văn theo khuynh hướng hiện thực như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan,Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng,… trong đó tiêu biểu là Nam Cao.Các tác phẩm của ôngphản ánh chân thực về người nông dân, người tri thức tiểu tư sản Nhà văn luôn trăn trở, băn khoăn tìm lối thoát cho những số phận luôn
bị cái nghèo, cái đói dằn vặt Họ bị tha hóa cả ngoại hình lẫn tâm hồn cũng bởi vì cơm áo gạo tiền.Bị kịch thương tâm đó không chỉ xảy ra ở tầng lớp nông dân mà còn có tầng lớp tri thức tiểu tư sản Những tác phẩm của ông có giá trị rất cao, thể hiện rõ chức năng nhận thức và chức nănggiáo dục và còn nhiều chức năng khác
Nam Cao là người đi sau so với các nhà văn khác cùng thời nhưng ông đã
gặt hái nhiều thành công Trong các tác phẩm như Dì Hảo, Ở hiền, Lão Hạc, Một
đám cưới, Nghèo, Điếu văn, Tư cách mõ,…viết về người nông dân, Nam Cao đã
thể hiện tính nhân văn cao cả với bút pháp hiện thực sâu sắc
Qua quá trình đọc và tìm hiểu các tác phẩm của Nam Cao, chúng tôi nhận thấy những sáng tác của ông điều thể hiện khá rõ chức năng văn học trong đó cóchức năng nhận thức và chức năng giáo dục Những trang viết của Nam Cao như tiếng kêu cứu: hãy bảo vệ nhân phẩm của con người
Việc nghiên cứu này sẽ góp phần quan trọng trong việc đọc, cảm nhận cũng như phân tích các tác phẩm của Nam Cao, đặc biệt là truyện ngắn.Bên cạnh đó, đề tài sẽlà tài liệu giảng và học của giáo viên và học sinh ở các trường phổ thông trong bộ môn Ngữ văn, những người quan tâm đến tác phẩm của Nam Cao
Trang 5II LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Như chúng ta đã biết, Nam Cao là một nhà văn hiện thực xuất sắc của văn học Việt Nam nói chung và văn học hiện thực nói riêng.Ngay từ khi tên tuổi của Nam Cao được khẳng định qua tác phẩm Chí Phèo cho đến nay có nhiều nhà phê bình, nghiên cứu văn học quan tâm đến.Ta có thể nói đến công trình nghiên cứu
năm 1941Lê Văn Trương có tập “Đôi lứa xứng đôi”,do nhà xuất bản “Đời mới”
ấn hành (1941) đầu tiên.Lê Văn Trương đã xác nhận Nam Cao là người “Không
nói cái người ta nói, không tả theo lối người ta đã tả”[20, 347] Như vậy, Lê Văn
Trương đã nhấn mạnh việc Nam Cao mạnh dạn đi theo lối riêng của mình, tìm tòi những đều chưa có và chưa ai sáng tạo nên
Phong Lê khi nhận xét về Nam Cao: “Nam Cao - là người suy nghĩ rất
nghiêm chỉnh và cẩn thận về nghề, tuy khôngđặt nghề viết cao hơn mọi nghề”[11,
157].Nam Cao ý thức laođộng trong bất cứ nghề nào đều là một hoạt động nghiêm túc và phải có lương tâm với nghề, đặc biệt là khi viết văn
Nguyễn Đăng Mạnh đã nhận định rằng: “Truyện của Nam Cao dạy cho con
người ta biết xấu hổ, hay nói cách khác muốn lay tỉnh con người ý thức về nhân phẩm, nhân tính”[16, 257].Nguyễn Đăng Mạnh khẳng định tầm quan trọng tính
giáo dục trong truyện ngắn: “Nam Cao luôn tạo cảm giác ngược đời để càng làm
nổi bật số phận bi thươngvà các cay đắng chua chát của những cuộc đời để làm nổi bật số phận bi thảm và cái cay cực chua chát của những cuộc đời nghèo khổ”
[14, 263].Cảm giác ngược đời mà Nam Cao tạo ra như thế không thể không làm cho người đọc cứ phải day dứt không nguôi về thân phận tủi nhục của con người trong cái xã hội đầy rẫy sự bất công tàn bạo
Thao Nguyễn với bài viết Nam Cao, trái tim luôn thức đập cùng với những
buồn vui đau khổ của con người năm 2013,NXB Văn hóa thông tin, đã trích dẫn
lời nói của nhà văn Nguyễn Minh Châu khi nói đến Nam Cao:“Từ trước tới giờ tôi
Trang 6vẫn thường nghĩ rằng trong những người cầm bút viết văn xuôi hiện thực của ta, Nam Cao có tấm lòng thương người thương đời và có con mắt nhìn đời ác nhất –
vì Nam Cao đã nhìn thấy vấn đề cuối cùng của con người… Nam Cao đã lật ra hết tất cả các lớp áo phủ ngoài đời sống con người Việt Nam… Nam Cao đánh giá tư cách của con người, vẽlên muôn vạn muôn dạng bức xúc, eo sèo của đời sống, do cái miếng ăn sinh ra, vẽ lên tâm lý và những mối quan hệ đầy đau đớn giữa những con người trước cách mạng tháng Tám”[24, 116] Qua bài viết trên, ta thấy Nam
Cao đã nói vẽ lên bức tranh xã hội hiện thực trước Cách mạng tháng Tám một cách
khái quát và cụ thể nhất Tô Hoài nhận địnhNam Cao:“Nam Cao không che giấu,
không màu mè gì hết, nói toạt ra cái cuộc sống cùng đường tận lối và nhơ nhớp của những người như anh”[24, 23].Nam Cao là người nhận thức rõ vềxã hội qua
sự trải nghiệm của mình từ cuộc sống
Nguyễn Minh Châu trong bài viết về Nam Cao trên bài báo Văn nghệ số
ngày 18 tháng 7 năm 1987 có nhận xét: “Cả cuộc đời cầm bút cuả Nam Cao cứ
đau đáu nhìn vào cái nhân cách Cái sự săn đuổi chính mình và các nhân vật của mình đầy róng riết cũng chính là sự săn đuổi cái nhân cách của con người ta nói chung” [19, 265] Miêu tả người nông dân, Nam Cao không chỉ vạch trần tình cảnh
nghèo khổ của của họ, mà còn chú tâm đến nhân cách bị chà đạp, nhân cách bị tha hóa cũng bởi vì hoàn cảnh đôi khi biến họ trở thành những kẻ thô tục tham lam, đáng bị khinh bỉ về nhân cách
Hà Minh Đức khi viết về Nam Cao trong cuốn giáo trình Văn học Việt Nam
1900 -1945 có đoạn: “Gấp những trang sách của Nam Cao, người đọc dường như vẫn cảm thấy ngột ngạt và ám ảnh không nguôi với số phận của những con người khốn khổ Cái không khí ngột ngạt đó, chủ yếu là do hiện thực xã hội lúc bấy giờ”[4, 478] Qua đó phần nào ta cũng thấy được sự phản ánh trong nhận thức của
Nam Cao: “Ngòi bút hiện thực sắc sảo của Nam Cao đã xé toang lớp vỏ hào
Trang 7nhoáng bên ngoài của con người tiểu tư sản để đi sâu vào những vấn đề bên trong, ông không rơi vào lối viết tô vẽ, thi vị hóa như một nhà văn lãng mạn đương thời”
[4,484] Người đọc thấy được bản chất bên trong con người của từng nhân vật Đồng thời, ta nhận ra một điều rằng Nam Cao là một người ghét những tính chất giả dối và kiên quyết đoạn tuyệt với chủ nghĩa lãng mạn để đến với chủ nghĩa hiện thực
Nguyễn Duy Tờ tác giả cuốn sách Sự vận động của động của dòng văn học
hiện thực Việt Nam 1930 -1945 đã ghi lại nhận xét của Nguyên Hồng như sau:
“Tuy ta đã được đọc không ít những truyện viết về sự đói khổ, bóc lột, áp bức, về
những cảnh thương tâm, đen tối của một xã hội đầy rẫy sự bất công, nhưng qua Nam Cao ta được thấy cất lên thật là những tiếng nói, ta được những chứng kiến thật là những cuộc đời mờ mịt, ngoi ngóp, xơ xác ở nông thôn mà từ trước đến giờ
mà ta đã trông đã nghĩ mà gần không hiểu, không thấy gì hết, đó thật là những tác phẩm của con người” [21,265] Có thể nói giá trịtác phẩmcủa Nam Cao đã đánh
sâu vào tâm trí làm lay động ý thức nhà văn Nguyên Hồng
Những nhận định trên, ta thấy đa phần trong các bài phê bình chỉ có một vài đoạn nhắc đến chức năng nhận thức và chức năng giáo dục.Nhưng các nhận định
đó chưa đi sâu làm rõ vấn đề.Vấn đề đặt ra ở đây là cần phải làm rõ chức năng nhận thức vàchức năng giáo dục trong truyện ngắn của Nam Cao, đặc biệt giai đoạn trước 1945 Có như thế, chúng ta mới có thể thấy đượcvị trí quan trọng của Nam Cao trên văn đàn Việt Nam cùng với giá trị lớn lao từ những tác phẩm ấy Bên cạnh những nhận định của các nhà văn và công trình nghiên cứu trên,
chúng ta còn tham khảo các cuốn sách tập hợp viết về nhà văn Nam Cao như “Nghĩ
tiếp về Nam Cao”(NXB Hội nhà văn Hà Nội 1992), “Nam Cao về tác gia tác phẩm”
(NXB Giáo dục 1998), “Nam Cao nhà văn hiện thực xuất sắc” (NXB Thông tin văn hóa Hà Nội 2000),“Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn”(NXB
Giáo dục, H, 1996)…
Trang 8III MỤC ĐÍCH ĐỀ TÀI
Mục đích của đề tài này là làm rõ chức năng nhận thức và chức năng giáo dục trong sáng tác của Nam Cao Chức năng giáo dục trong tư tưởng rèn luyện nhân cách để từ đó biết nuôi dưỡngthanh lọc tâm hồn.Mỗi tác phẩm của ông điều mang tính giáo dục đi kèm với nhận thức khi người đọc soi mình vào từng trang viết của ông để nhìn lại bản thân mình.Những tác phẩm ấy dường như làm cho con người thức tỉnh.Từ đó, giúp người đọc nhận thức thêm về giá trị truyện ngắn của Nam Cao
IV ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu về chức năng nhận thức, chức năng giáo dục trong truyện ngắn của Nam Cao trước1945
2 Phạm vi đề tài
Do giới hạn làm luận vănnên chúng tôi chọn khảo sát những truyện ngắn ở
giai đoạn trước 1945như: Giăng sáng(1942), Đời thừa (1943), Trẻ con không
được ăn thịt chó (1942), Chí Phèo (1941), Nghèo (1937), Dì Hảo (1944), Tư Cách Mõ (1943), Lang Rận (1944), Lão Hạc (1943), Một bữa no (1943), Một truyện xu-vơ-nia (1943), Một đám cưới (1944), Điếu Văn (1943), Ở hiền (1943), Truyện tình (1943), Nhỏ nhen (1942), Nửa đêm (1944), Sao lại thế này (1943), Quên điều độ (1943), Mua danh (1943), Nhìn người ta sung sướng (1942), Từ ngày mẹ chết (1943), Điếu văn (1943), Mua nhà (1943), Đui mù (1937),Xem bói (1943)
Trang 9V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong quá trình nghiên cứu, để đề tài của mình chặt chẽthống nhất, chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp sau để hoàn thành luận văn của mình:
1 Phương pháp phân tích
Phương pháp này rất quan trọng trong khi nghiên cứu đề tài.Từ những tài liệu đã chọn lọc và tập hợp đầy đủ, người viết tiến hành phân tích các chức năng nhận thức và chức năng giáo dục trong tác phẩm Nam Cao.Như thế sẽ giúp đề tài thêm sức thuyết phục
2 Phương pháp so sánh
Người viết tiến hành liện hệ so sánh tác phẩm của Nam Cao với những tác gia khác, để làm rõ chức năng.Góp phần cho đề tài thêm sức thuyết phục.Và khẳng định tài năng và sự đóng góp của Nam Cao trong giai đoạn hiện đại hóa văn học Việt Nam
3 Phương pháp liên ngành
Để đánh giá một cách chính xác, người viết vận dụng những kiến thức về cơ
sở văn hóa, lịch sử, tôn giáo tư tưởng để phân tích các hiện tượng văn học
Trang 10BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
CHƯƠNG 1 TÁC GIẢ NAM CAO VÀ THỜI ĐẠI 1.1 Hoàn cảnh lịch sử năm 1930- 1945
1.1.1.Tình hình chính trị, kinh tế, xã hội
1.1.2.Tình hình văn học
1.2.Tác giả Nam Cao
1.2.1.Con người và cuộc đời
2.1.1.Hiện thực xã hội
2.1.2 Thái độ của tác giả
2.2.Nhận thức về số phận con người
2.2.1.Nông dân bần cùng hóa, tha hóa
2.2.2.Tri thức tiểu tư sản
Trang 11 Tiểu kết
CHƯƠNG 3 CHỨC NĂNG GIÁO DỤC TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NAM CAO
3.1 Giáo dục về tư tưởng
3.1.1 Rèn luyện, tu dưỡng, trao dồi phẩm chất
Trang 12CHƯƠNG 1 TÁC GIẢ NAM CAO VÀ THỜI ĐẠI 1.1 Hoàn cảnh lịch sử năm 1930- 1945
1.1.1 Tình hình chính trị, kinh tế, xã hội
Tình hình chính trị
Vào thế kỉ XX, thực dân Pháp đã thực hiện xong việc xâm chiếm nước ta sau đó chuyển sang giai đoạn khai thác thuộc địa làm giàu cho nước của họ Pháp cho xây dựng các hệ thống như hầm mỏ, cơ sở công nghiệp, giao thông, Ngoài việc khai thác thuộc địa thiết lập trật tự mới thì chúng đã tuyên truyền tư tưởng văn minh của nước Phápmuốn đầu độc thuần hóa nhân dân Việt, che dấu bộ mặt cướp nước bằng cách đã đưa ra hội đồng tư vấn bày trò dân chủ giả hiệu
Thôn xóm làng mạc tiêu điều sơ xác do kẻ thù tàn phá, nhân dân ta đã sống với những ngày tháng sống dở chết dởchịu nhiều áp bức sưu thuế, nhiều người phải bỏ làng ra đi làm thuê, làm mướn với đồng lương rẻ mạt Tầng lớptrí thức thời phong kiến lúc bấy giờ cũng lâm vào tình trạng bế tắc.Trong bối cảnh chính trị phức tạp và đen tối như thế, thanh niên Việt Nam cảm thấy bi quan tuyệt vọng
họ hết sức chán nản với lối học cũ
Phong trào giải phóng dân tộc bị dập tắt kể từ ngày khởi nghĩa Phan Đình Phùng thất bại hoàn toàn.Nhưng sau đó có các cuộc khởi nghĩa khác trỗi dậy mạnh mẽ như khởi nghĩa Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo trong năm sau Vào đầu thế kỉ XX, cuộc đấu tranh giải phóng nổi dậy mạnh mẽ
Ngọn cờ cứu nước, cuộc giải phóng dân tộc chuyển sang thời kì mới.Với việc thành lập Đảng cộng Sản năm 1930.Sau cao trào Xô viết – Nghệ Tĩnh năm 1930- 1931 bị thực dân Pháp đàn áp.Phong trào mặt trận Dân chủ Đông Dương
Trang 13(1936- 1939) và tiếp đó là thời kì Mặt trậnViệt Minh dẫn tới cuộc tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, đã chấm dứt chế độ thực dân phong kiến trên đất nước ta Trong bối cảnh chính trị phức tạp như thế, Nam Cao đã không chịu khuất dưới chế độ ngạt thở ấy.Ông nhìn rõ chế độ đã đầy đọa con người, nhà văn muốn vạch ra cho mọi người thấy cái khổ đang vây kín con người.Thế nên, trong sáng tác của ôngchịu ảnh hưởng sâu sắc về hoàn cảnh chính trị
Tình hình kinh tế
Đầu thế kỉ XX,kinh tế nước ta vẫn là kinh tế nông nghiệp lạc hậu.Thực dân Pháp thực hiện chính sách kinh tế thực dân làm phá sản nông dân và thợ thủ công, tạo ra nguồn nhân công rẻ mạt, phục vụ cho công trình khai thác của chúng.Kết quả của chính sách trên đã kéo nước ta vào quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản, muốn biến nước ta thành sân sau của thực dân Pháp
Tình hình xã hội
Kinh tế hàng hóa kích thích phát triển của công thương nghiệp làm cho thành thị phát triển, xuất hiện nhiều nhu cầu mới, phát triển nhiều nghề mới, tầng lớp thị dân phát triển.Trong xã hội Việt Nam thời kì này tồn tại những mâu thuẫn gay gắt giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp, giữa tầng lớp nhân mà chủ yếu
là nông dân với giai cấp địa chủ phong kiến.Tầng lớp thị dân có ít nhiều tự do trong đờisống thành thị tư sản Giai cấp tư sản từ các tầng lớp thị dân phát triển dần lên.Sự phát triển của đô thị dẫn đến sự phá sản nông nghiệp, làm cho nông thôn tiêu điều.Nông dân kéo ra thành thị kiếm sống ngày càng đông.Sự vơ vét, bóc lột của thực dân Pháp, địa chủ cường hào ở nông thôn với sưu thuế cao đã đẩy nhiều tầng lớp rơi vào bế tắc bần cùng hóa
Qua tình hình kinh tế, xã hội như thế, Nam Cao đã chứng kiến cuộc sống khó khăn bế tắc bần cùng của người dân và tri thức tiểu tư sản Nên trong quá trình sáng tác, ta thấy có rất nhiều truyện ngắn đề cập đến vấn đề đói khổ của người nông dân, cuộc sống bế tắc của những người tri thức
Trang 141.1.2 Tình hình văn học
Văn học giai đoạn 1900- 1930 mang tính chất giao thời từ văn học trung đại sang văn học hiện đại Đi đôi với sự giao thời đó, văn học giai đoạn này có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, văn học đổi mới theo hướng hiện đại hóa Hiện đại hóa chính là sựđổi mới văn học sao cho thoát khỏi thi pháp văn học trung đại để tiến tới tiếp cận
và hội nhập với nền văn học phương Tây Bên cạnh đó, xã hội Việt Nam đã có sự thay đổi và chính điều này đã thúc đẩy hiện đại hóa văn học Việt Nam qua hai lần khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, cơ cấu xã hội có sự biến đổi, quá trình đô thị hóa hình thành tầng lớp thị dân công chúng, đóng vai trò quan trọng thúc đẩy văn học thay đổi Không những thế, nền văn học Trung hoadần mất đi sự ảnh hưởng, thay vào đó là nền văn học phương Tây chiếm ưu thế; trí thức Tây học thay thế dần trí thức Nho học.Và cuối cùng ta không bỏ qua được chính là sự ra đời của chữ quốc ngữ.Chính ba yếu tố này thúc đẩy quá trình phát triển văn học theo hướng học đại hóa Bên cạnh đó, có sự ảnh hưởng quá trình phát triển văn học
Từ đầu thế kỉ XX đến 1920, nền văn họcbước vào giai đoạn giao thời, nhưng
vẫn còn tồn tại các lớp nhà nho học của văn học trung đại như Tú Xương, Nguyễn Khuyến Họ vẫn tiếp tục sáng tác với những tác phẩm viết bằng chữ Hán thể loại theo kiểu truyền thống Bên cạnh đó, có sự xuất hiện tác phẩm viết bằng chữ quốc
ngữ trước đó chẳng hạnnhư Truyện thầy Lazaro Phiềncủa Nguyễn Trọng Quản
năm 1887, hay một số sáng tác của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, HuỳnhThúc Kháng.Văn học giai đoạn này mang nội dung mới,tư tưởng mới nhưng nghệ thuật thì lại còn chịu ảnh hưởng nặng nề bởi văn học trung đại Cho nên ta chỉ xét văn học giai đoạn này như một bước điều kiện cần thiết cho văn học hiện đại hóa về sau
Trang 15Bước qua giai đoạn 1920 đến 1930, giai đoạn này ra đời những tác phẩm có
giá trị, những nhà văn mang tên tuổi khẳng định được sáng tác của mình Đồng thời, ta thấy có sự xuất hiện thể loại mới là kịch nói và những tác giả, tác phẩm tiêu biểu Văn xuôi ở miền Bắc có Hoàng Ngọc Phách, ở miền Nam có Hồ Biểu Chánh
Về truyện ngắn thì có những cây bút khá tài năng như Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học và Nhất Linh.Về bút kí, tùy bút có Đông Hồ, Phạm Quỳnh Về thơ, có Tản Đà, Tuấn Khải.Văn học lúc này có sự thay đổi mới, một bước tiến mới nhưng chưa thực sự sâu sắc
Giai đoạn 1930 đến 1945, đây là giai đoạn quan trọng nhất cho quá trình
hiện đại hóa hoàn thiện nhất, lúc này ta bắt gặp một số tác giả tác phẩm tiêu biểu
và văn học cũng đạt được nhiều thành tựu.Về thơ, chúng ta không thể nào không nhắc đến cuộc cách mạng của thơ ca 1930- 1945 với những tác giả rất nổi tiếng như Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Thế Lữ, Huy Cận, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính, Về truyện ngắn, nổi bật lên những cây bút tài hoa như Thạch Lam, Nam Cao, Nguyên Hồng, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Bút kí, tùy bút có Xuân Diệu, Nguyễn Tuân Về tiểu thuyết, ta không thể quên Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Ngô Tất Tố Đặc biệt có sự hình thành phê bình văn học với các nhà phê bình như Đặng Thai Mai, Hoài Thanh Bước sang giai đoạn này, về mặt nội dung, nghệ thuật, thể loại
có sự thay đổi toàn diện, chính vì thế văn học lúc bấy giờ có lợi thế hội nhập vào nền văn học phương Tây
Thứ hai,hình thành hai bộ phận và phân hóa đa xu hướng;điểm quan trọng ở đặc điểm thứ hai này là thái độ chính trị của người sáng tác đối với chính quyền thực dân.Bộ phận đầu tiên là văn học công khai, trong bộ phận này lại chia ra thành hai xu hướng khác nhau đó là xu hướng lãng mạn và xu hướng hiện thực.Với
xu hướng lãng mạn, các nhà văn nhà thơ thể hiện một cách trực tiếp để có thể nói lên tiếng nói cảm xúc riêng cho cá nhân mình.Nhưng bên cạnh đó, họ thể hiện một
Trang 16thái độ bất hòa với xã hội, đề cập đến vấn đề bức bối, tù túng của một xã hội thực dân phong kiến.Và điều quan trọng nhất là những sáng tác của trào lưu văn học lãng mạn rất chú tâm đến đời sống nội tâm con người, góp phần vào cho chủ nghĩa nhân đạoViệt Nam lên tiếng yêu cầu hạnh phúc của cá nhân và chống lại phong kiến Đến xu hướng hiện thực thì hoàn toàn khác với lãng mạn, các nhà văn hiện thực của chúng ta tập trung phơi bày thực trạng bất công của xã hội thực dân phong kiến lúc bấy giờ Họ bênh vực cho những kiếp người lầm than nghèo khổ
Họ đề cập đến vấn đề thế sự với tinh thần dân chủ và tinh thần nhân đạo.Đồng thời các nhà văn còn phân tích lý giải hiện thực khách quan trong việc xây dựng những hoàn cảnh điển hình, tính cách điển hình
Mặt khác, chúng ta còn phải kể đến một bộ phận khác của giai đoạn 1900-
1945 chính là bộ phận văn học không công khai, của các nhà cách mạng, những chiến sĩ yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn Aí Quốc, Tố Hữu Nội dung chính của nó đólà xem văn học như một vũ khí chống lại thực dân phong kiến.Đặc biệt hơn, họ lại phản ánh xã hội với mâu thuẫn cơ bản giữa nước xâm lược và nước bị xâm lược.Ấn tượng hơn, họ đã xây dựng nhân vật trung tâm của mình là những hình tượng nhân vật yêu nước, những anh hùng bất khuất xả thân vì dân tộc
Thứ ba, văn học phát triển theo tốc độ nhanh chóng Ta thấy rất rõ ở Hồ Biểu Chánh có hơn sáu mươi cuốn tiểu thuyết, Vũ Trọng Phụng trong thời gian sáng táccho ra đời tám tiểu thuyết, bảy phóng sự hàng chục truyện ngắn có giá trị, Nguyễn Công Hoan một truyện ngắn tài hoa có hành trăm truyện dài và hàng chục truyện ngắn Nóivề thơ, ta thấy rằngtừ năm 1932-1941Hoài Thanhđã chọn ra những bài thơ tiêu biểu để hình thành nên tập thi nhân Việt Nam.Nói vậy để ta thấy được sự đồ sộ về số lượng trong giai đoạn văn học này
Trang 17Không những thế,văn học lúc này có sự cách tân văn học Việt Nam đã đến
một đỉnh điểm Vào năm 1925 ở miền Bắc với tiểu thuyết Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách ra đời đánh dấu một chấn động lớn Nhưng đến năm 1933 khi Hồn bướm
mơtiên xuất hiện thì Hoàng Ngọc Phách đã lùi xa và sau này Nam Cao,Thạch Lam
xuất hiện văn xuôi Việt Nam có một bước phát triển mạnh mẽ hơn nữa Đến với
thơ, ta có bài Nhớ rừng của Thế Lữ, khi bài này ra đời chỉ có đôi ba câu thơ thôi
cũng đã đủ làm bức phá thành công vượt qua thơ cũ Vì thếta thấy văn học thời xưa phát triển rất dữ dội
Nhịp độ phát triển sự trưởng thành của văn học Việt Nam hình thành và phát triển nhờ sự kết tinh tài năng của những cây bút tài hoa, chúng ta có được những tác phẩmvà tác giả đứng vững mãi với thời gian.Những biểu hiện trên có được nhờ vào các nguyên nhân sau:Đó là tiềm lực văn học dân tộc, khả năng diễn đạt tuyệt vời của Tiếng Việt giúp cho các nhà văn hình thành nên sáng tác vô cùng tuyệt diệu Bên cạnh đó, còn có sự đóng gópcủa lớp trí thức tây học Họ là những người cách tân văn học đổi mới văn học đưa văn học Việt Nam đến với thế giới, ảnh hưởng từ các cuộc vận động cách mạng với tinh thần dân chủ cách mạng những năm 1930- 1945 do Đảng Cộng Sản Việt Nam lãnh đạo
1.2 Tác giả Nam Cao
1.2.1 Con người và cuộc đời
Nam Cao có một vị trí vững vàng đặc biệt trong văn học Việt Nam giai đoạn
1930 – 1945.Ông là một tài năng lớn, một ngòi bút hiện thực sắc bén đã góp phần không nhỏ vào quá trình vận động cách tân văn học bằng chữ quốc ngữ.Những tác phẩm của Nam Cao ra đời trong thời kì phát triển của trào lưu văn học hiện thực phê phán.Chỉ mới mười lăm năm cầm bút (1936- 1951), Nam Cao đã khẳng định vị trí vững chắc cho ngòi bút của mình.Ông đã để lại cho đời những tác
Trang 18phẩm vô giá, vững bền với thời gian, có sức vượt qua mọi giới hạn để trở thành một người bạn gần gũi với nhiều thế hệ độc giả
Khi đến với nghề văn, Nam Cao luôn quan niệm tiến bộ, nhất quán sâu sắc:
“Nghệ thuật không cần ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối, nghệ
thuật có thể là tiếng đâu khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than”[25, 112] Cả
một đời mình, Nam Cao gắn sự nghiệp vào cuộc đời để phản ánh cuộc sống chân thực đầy đen tối của xã hội thực dân phong kiến, số phận lầm than bế tắc của người nông dân, người trí thức tiểu tư sản những năm 1940 -1945
Nam Cao tên thật là Trần Hữu Trí, sinh năm 1917 trong một gia đình nông dân nghèo ở làng Đại Hoàng, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam Trong gia đình nghèo, đời sống quá khó khăn, chỉ có mình Nam Cao được ăn học tử tế Thi Thành chung trượt, Nam Cao đành phải vào Sài Gòn kiếm sống mang trong mình biết bao nhiêu hoài bão, ước mơ dự định trong tương lai, nhưng rốt cuộc bệnh tật đã đưa ông về lại miền quê nghèo mà ông đã từng sống Khi trở về làng, Nam Cao lại nỗ lực học lại và thi đỗ Thành chung Ông định đi làm công chức nhưng bệnh tật nên không được chấp nhận Nam Cao lên Hà Nội dạy học cho một trường tư thục Chính cuộc sống nhà giáo khổ trường tư này giúp ông nhận thức được sâu sắc về thân phận tri thức nghèo tiểu tư sản phải sống trong không khí ngột ngạt, bế tắc của xãhội cũ Vào năm 1941, Nhật xâm lược Đông Dương, trường bị đóng cửa Nam Cao phải chuyển nghề viết văn, làm gia sư,có khi phải thất nghiệp…Và cuối cùng phải tồn tại bằng cách sống dựa giẫm vào vợ ở quê Năm 1943, Nam Cao tham giavào nhóm Văn hóa cứu quốc cùng với một số nhà văn như Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi, Nguyên Hồng Nhưng khi cơ sở mà ông đang hoạt động bịphát hiện, Nam Cao trở về quê tham gia vào phong tràoViệt Minh Năm 1945, Nam Cao thamgia lập đổ chính quyền ở phủ Lí Nhân Sau được bầu làm chủ tịch xã.Năm 1947kháng chiến bùng nổ, Nam Cao tham gia vào kháng chiến ông vừa biên tập cho báo Cứu quốc Việt Bắc, vừa làm mọi công việc của một cán bộ thông
Trang 19tin tuyên truyền Trong quá trình hoạt động nghiêm túc ông được vinh dự kết nạp vào Đảng Cộng Sản Đông Dương năm 1948 Tháng11năm 1951trên đường công tác, Nam Cao bị địch phục kích sát hại Nam Cao ngã xuống khi tài năng đang nổ rộ.Nhắc đến Nam Cao, ta nhớ ngay một người bề ngoài có vẻ lạnh lùng nhưng đằng sau đó có một trái tim nồng hậu, biết yêu thương con người với tấm lòng nhân đạo sâu sắc đối với con người nghèo khổ
Trong sách giáo trình văn học Việt Nam hiện đại, có nhận xét về Nam Cao
như sau:“Nam Cao là một người luôn trăn trở về cuộc đời, lúc nào cũng cảm thấy
mình mắc nợ tình thâm” [6, 255] Đó là người bà, mẹ, vợ, họ là những người chịu
thương chịu khó nuôi dưỡng, chăm sóc Nam Cao Chính họ là điểm tựa niềm an
ủi, động viên ông trước những sóng gió của cuộc đời, là nơi tiếp sức nâng đỡ đôi chân nhà văn khi ông tuyệt vọng.Trong sâu thẳm nội tâm,Nam Cao thường xuyên dằn vặt,đấu tranh bản thân kiềm nén những tham vọng, để vượt qua chính mình và vươn tới cái đẹp trong cuộc sống Một đặc điểm nổi bật nữa ở Nam Cao là hay hối hận, dày vò bản thân, dám thành thực và dũng cảm phơi bày mình trên từng trang giấy Cuộc đấu tranh nội tâm này phản ánh rõ trong các tác phẩm về đề tài tri thức tiểu tư sản Các nhân vật trí thức tiểu tư sản của Nam Cao ít khi có cuộc sống bình yên, lúc nào cũng lo toán việc gạo tiền, nét mặt dường như đăm chiêu lo lắng.Nam Cao có một tình cảm đặc biệt với quê hương nơi sinh ra và lớn lên ở làng quê Nam Cao hiểu rõ và yêu thương những người nông dân khốn khổ, tuy họ bề ngoài thô kệch, có khi thô lỗ nhưng bên trong họ mang nhiều phẩm chất đáng quý
1.2.2 Sự nghiệp sáng tác
Trang 20Nam Cao là người đại diện cho trào lưu văn học hiện thực giai đoạn 1940
-1945, với tài năng xuất sắc nhà văn đã viết ra những trang giấy phản ánh chân thực những cuộc đời tăm tối, chua chát, những bi kịch đau đớn Trước Cách mạng tháng Tám, sáng tác của Nam Cao đã xoay quanh hai mảng đề tài chính Mảng đề tài thứ
nhất viết về người nông dân nghèo khổ có những tác phẩm như (Nghèo, Chí Phèo,
Nhỏ nhen, Nhìn người ta sung sướng, Đòn chồng, Đôi móng giò, Trẻ con không được ăn thịt chó, Mua nhà, Quái dị, Từ ngày mẹ chết, Mua danh, Tư cách mõ, Điếu Văn, Một bữa no, Ở hiền, Lão Hạc, Lang rận, Một đám cưới, Nửa đêm, Dì Hảo, Sao lại thế này, Làm tổ).Mảng đề tài thứ hai viết vềngười trí thức tiểu tư sản
có những tác phẩm như (Giăng sáng, Truyện tình, Một chuyện xú - vơ - nia, Đời
thừa, Cười, Quên điều độ, Xem bói, Nước mắt, Những chuyện không muốn viết,Sống mòn) Sau cách mạng tháng Tám có những tác phẩm tiêu biểu (Đôi mắt, Chuyện biên giới, Từ ngược về xuôi, Đường vô Nam, Vui dân công,…)
Cuộc sống những người nông dân cùng khổ
Bức tranh nông thôn trong truyện ngắn của Nam Cao có phần mới mẻ khá đặc biệt Bao trùm lên toàn bộ thôn quê trong tác phẩm của Nam Cao là một không khí ngột ngạt u ám,hoang vắng và nghèo đói đến rợn người Hình ảnh con đường, ngõ vắng, tất cả mọi hoạt động của con người điều được thu gọn vào trong các mái nhà.Cảnh nông thôn hoang vắng đến lạnh người như thế Chính cái cảnh này nổi lên lên tiếng chửi của những kẻ tha hóa rạch mặt ăn vạ, người vợ túng quẫn chửi con hay thậm chí là tiếng khóc thành lời của những người nông dân bế tắc…Bức tranh nông thôn trong sáng tác của Nam Cao phản ánh chính xác bộ mặt nông thôn Việt Nam những năm cuối cùng của chế độ thuộc địa
Trên bối cảnh nông thôn xơ xác,ngòi bút của Nam Cao đã diễn tả chân thực vềtình trạng nghèo túng và không ít nhân vật bị đẩy vào con đường chết đầy đau
đớn: anh Đĩ Chuột (Nghèo), bà cái Tý (Một bữa no), lão Hạc (Lão Hạc), anh Phúc
Trang 21(Điếu văn)…số phận đáng thương của người nông dân bần cùng, mỗi người mỗi
cảnh nhưng chung lại đều là nghèo Mỗi tác phẩm của nhà văn là một lời tố cáo chân thực, cảm động về cuộc sống tăm tối, thê thảm của người nông dân Bên cạnh loại nhân vật chịu sự đầy đọa, chà đạp của xã hội nhưng vẫn giữ được nhân phẩm của mình Nam Caocòn chú ý đến những con người thấp cổ bé họng, bị áp bức bất
công đẩy họ vào con đường tha hóa, lưu manh hóa Đó là Trạch Văn Đoành (Đôi
móng giò),Trương Rự (Nửa đêm), Năm Thọ, Binh Chức (Chí Phèo)…
Trong xã hội ấy, người phụ nữ với thân phận nô lệ luôn bị chà đạp thô
bạo,có khi họ là nạn nhân khốn khổ của những kẻ mà họ phải thờ phụng Ở hiền,
Trẻ con không được ăn thịt chó, Đòn chồng…Hay ta lại bắt gặp những nhân vật
nông dân với cái vẻ bề ngoài xấu xí thô kệch, nhưng Nam Cao phát hiện bên trong tâm hồn của họ những phẩm chất cao quý Ôngđi sâu vào nỗi khổ tâm hồn của con người bị đầy đọa, nhân phẩm bị xúc phạm giá trị làm người bị tước đoạt Bị sỉ nhục tàn tệ, người nông dân khốn khổ chỉ có thể hoặc từ bỏ cuộc sống như Lang Rận Nam Cao đã đanh thép lên án xã hội lúc bấy giờchà đạp người nông dân lương thiện, và dõng dạc bênh vực nhân phẩm của họ ngay khi bị sỉ nhục một cách độc ác
Cuộc sống của những người trí thức tiểu tư sản nghèo
Viết về đề tài này, Nam Cao đã miêu tả thấm thía tình cảnh bấp bênh, đói cơm,rách áocủa tầng lớp tiểu tư sản trước cách mạng, Nam Cao hiểu rất rõ cuộc sống cơ cực của họ Vì bản thân ông đã là nhà văn nghèo bất đắc dĩ, từng dạy học ở những nơi giáo khổ trường tư Tác phẩm của Nam Cao đã ghi lại chi tiết cuộc sống nghèo túng bi hài của người tư sản.Nhân vật tiểu tư sản của Nam Cao
là những Hộ(Đời thừa), Điền (Trăng sáng), Hài (Quên điềuđộ), …Họ đã ý thức
được nhân phẩm, có hoài bão, có tâm huyết với nghề,muốn xây dựng một sự nghiệp lớn nhưng vì cơm áo gạo tiền mà đành phải sống thừa, kẻ ăn bám, làm
Trang 22những việc bất lương…Nam Cao không chỉ miêu tả tình cảnh ấy mà còn có thái độmỉa mai thói hư tật xấu của những kẻ tri thức thèm khát hưởng lạc cuộc sống
giàu sang trong truyện Quên điều độ, Truyện tình, Nhìn người ta sung sướng
Quan điểm sáng tác
Nam Cao là một trong những nhà văn có ý thức tự giác về sáng tạo trong văn chương trước cách mạng Cả một đời nhiệt huyết với nghề, Nam Cao luôn không ngừng suy nghĩ về cách sống và quan điểm nghệ thuật của mình.Những quan điểm đó tuy không thể hiện trực tiếp qua báo chí hay văn bản chính luận, nhưng đã được thể hiện qua các tác phẩm mà nhà văn sáng tác Trong cuộc sống cũng như trong nghề viết văn, Nam Cao gặp khá nhiều khó khăn ngay lúc ban đầu Lúc mới bắt đầu cầm bút viết văn, Nam Cao đã chịu ảnh hưởng của văn học lãng
mạn đương thời khiến ông hướng tới xu hướng “nghệ thuật vị nghệ thuật” thoát
khỏi hiện thực sáng tác ra những bài văn, bài thơ dễ dãi không phản ánh được hiện thực cuộc sống mà ông đang sống Từ đó, Nam Cao đã kịp thời thoát khỏi thế giới
ảo ảnh để nhanh chóng trở về với cuộc sống thực Quan điểm của Nam Cao trước
hết là quan điểm: “Nghệ thuật vị nhân sinh” nhà văn yêu cầu phải nhìn thẳng, phản
ánh chân thực hoàn cảnh đời sống, phục vụ đời sống con người Người cầm bút phải có trách nhiệm dám đương đầu với sự thật, dù sự thật ấy chẳng nên thơ chút nào
Trong truyện ngắn Giăng sáng Nam Cao viết: “Nghệ thuật không cần là ánh
trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật có thể là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than” [25, 112].Người nghệ sĩ phải mở rộng lòng
mình để đón nhận những vang động của đời.Nhà văn phải đồng cảm nhân vật Điền, một nhà văn có xu hướng đi theo văn chương lãng mạn, muốn thoát khỏi cuộc sống tầm thường ước ao muốn vươn lên cuộc sống giàu có Điền muốn ánh trăng nghệ thuật kia che lấp đi cái cuộc sống khó khăn hiện tại nhưng thực tế đã làm cho
Trang 23anh tỉnh thức bởi, tiếng chửi mắng của người vợ Ngoài kia ánh trăng đẹp đấy nhưng nó lại không thể hiện được sự đồng cảm mà Điền phải gánh chịu, tâm trạng Điền đang đấu tranh day dứt trong tư tưởng giữa hai con đường thực và ảo mà ý thức được trách nhiệm ngòi bút của mình Điền chối bỏ và nghiêm khắc phê phán tính chất giả dối của văn thơ lãng mạn thờ ơ trước những kiếp người lầm than quay lưng với cuộc sống Để rồi lựa chọn cho mình chủ nghĩa hiện thực có nghĩa là trở
về chỗ đứng của mình trong những người nghèo khổ ruột thịt của mình:“Điền
chẳng cần đi đâu cả Điền chẳng cần trốn tránh, Điền đứng trong lao khổ, mở hồn
ra đón lấy tất cả những vang động của đời…”[25, 113] Điền chẳng muốn đi đâu
hay trốn tránh gì cả, anh muốn ở lại chịu đựng những lao khổ với vợ mình và những người khốn khổ
Quan điểm nghệ thuật ấy cho thấy nghệ thuật không chỉ phản ánh hiện thực
lầm than mà còn thể hiện giá trị nhân đạo: “Nó phải chứa đựng một cái gì đó lớn
lao, mạnh mẽ vừa đau đớn vừa phấn khởi, nó ca tụng lòng yêu thương và sự bác ái,
nó làm cho người gần gũi nhau hơn” [25, 348] Hộ trong Đời thừatừng mơ ước
viết một tác phẩm có giá trị chứa đựng một cái gì đó lớn lao, một tác phẩm có giá trị chung cho nhân loại, đem lòng yêu thương cứu giúp đỡ người Hộ sống theo nguyên tắc yêu thương nâng đỡ họ trên đôi vai của mình, chính nguyên tắc thể hiện lòng nhân đạo đó Hộ đã cứu lấy đời Từ Tư tưởng nhân đạo là sợi dây đỏ xuyên suốt quá trình sáng tác của nhà văn.Mỗi tác phẩm của ông đều được xây dựng trêncái nền nhân đạo kiên cố
Nam Cao là nhà văn luôn coi lao động là một hoạt động nghiêm túc và công phu, đòi hỏi người viết văn phải cólương tâm với nghề, đề cao sự sáng tạo của
người nghệ sĩ.Ông lên án sâu sắc sự cẩu thả trong nghề văn: “Sự cẩu thả trong bất
cứ nghề gì cũng là sự bất lương rồi, nhưng sự cẩu thả trong văn chương thật là đê tiện” [25, 341] Sự cẩu thả trong văn chương, viết ra những tác phẩm hời hợt, tầm
Trang 24thường sẽ giết chết một thế hệ người đọc sách, nếu như không cẩn trọng thì văn chương sẽ đầu độc vào tinh thần một cách ghê gớm Chính vì thế, Nam Cao có ý thức rất rõ trách nhiệm của người cầm bút Với Nam Cao, ông nhấn mạnh lương tâm của người cầm bút Từ việc đề cao ý thức sáng tạo của người nghệ sĩ, nhà văn cũng coi trọng văn học nghệ thuật là một lĩnh vực hoạt động đòi hỏi sự tìm tòi sáng
tạo không ngừng Nam Cao từng viết: “Văn chương không cần đến người thợ khéo
tay làm theo một vài kiểu mẫu được cho, văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu,biết tìm tòi khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có”[25, 341] Để có một tác phẩm có giá trị, người cầm bút phải biết cách đưa hình
ảnh của cuộc sống giản dị chẳng có gì hấp dẫn vào trong tác phẩm của mình sáng tạo ra một thế giới thu nhỏ mang những ý nghĩa dạy đời cho bạn đọc, tưởng chừng những cái không ra gì.Nhưng nó thật sự tạo nên một giá trị rất lớn, gây sự ám ảnh cho người đọc, cái quan trọng ở đây không phải là nghĩ như thế nào viết thế ấy mà
là phải viết như thế nào để cho tác phẩm ấy làm bật lên tư tưởng thâm thúy Chính quan điểm trên,thể hiện rõ nhất ở các tác phẩm của Nam Cao mang một ý nghĩa lớn
Có thể nói, quan điểm nghệ thuật của Nam Cao tiến bộ và nhất quán rất cần cho nền văn học hiện thực giai đoạn này, nó trở thành một kim chỉ nam để Nam Cao mạnh dạn đi theo cách mạng với tư cách là một nhà văn chiến sĩ
Phong cách nghệ thuật
Nam Cao có tài năng đặc biệt trong việc phân tích tâm lý nhân vật.Điều đó
thể hiện qua hứng thú tìm kiếm, khám phá “con người trong con người”, đi tìm bản
chất thực của con người Hứng thú tìm kiếm này, cũng như đối tượng tìm kiếm cho
dù là người nông dân bần cùng tha hóa hay người tri thức tiểu tư sản nghèo thì hứng thú đó vẫn không thay đổi, vẫn nguyên vẹn và đòi hỏi nhà văn phải nổ lực
Trang 25kiếm tìm những điều quan trọng để tạo ra rồi nuôi dưỡng hứng thú ấy là sống hết mình trung thực không giả dối
Với phong cách của ông, Nam Cao đề cao con người sống có tư tưởng: “Sống
là cảm giác cũng là hành động nữa, nhưng hành động chỉ là phần phụ,có cảm giác
có tư tưởng mới sinh ra hành động Bản chính cốt yếu của sự sống chính là tư tưởng, cảm giác càng mạnh càng linh dịu tư tưởng càng dồi dào, càng sâu sắc thì
sự sống càng cao”[25, 647] Điều mà Nam Cao nhấn mạnh ở đây không phải là
khía cạnh của tâm lý hay thế giới tinh thần mà thực chất ở đây là con người, tư tưởng con người trí tuệ Sức mạnh trí tuệ tạo nên phẩm chất và quy định tính cách con người, có những hành vi ứng xử phù hợp mang tính đạo lý nhân văn cao cả, cho nên các nhân vật của Nam Cao đều có dáng vẻ riêng, tâm lý riêng tiếp cận xử
lý từ góc độ tâm lý.Tâm lý của nhân vật được tái hiện và phân tích từ các góc độ khác nhau, có những trạng thái tâm lý cực kì phức tạp
Từ việc khai thác tâm lý, Nam Cao tạo ra kiểu kết cấu mà ở đó có sự đảo ngược trình tự không gian, thời gian Ngoài ra ta còn thấyxuất hiện nhiều dạng đối thoại xen lẫn độc thoại nội tâm Nhà văn làm thế giới bên trong của nhân vật càng trở nên phong phú và phức tạp đúng như những gì diễn ra trong cuộc sống Qua việc phân tích tâm lý nhân vật, Nam Cao còn đi đến việc xác lập từng giọng điệu riêng, có tác phẩm nhà văn sử dụng giọng điệu buồn buồn mang màu sắc chua chát mỉa mai, còn có tác phẩm nhà văn tỏ ra lạnh lùng tưởng chừng như tàn nhẫn song đầy tình cảm yêu thương
1.3 Chức năng của văn học
Trang 26Chức năng nhận thức đóng một vai trò quan trọng trong tác phẩm văn học
Nó có thể đem đến cho người đọc một thế giới khách quan về đời sống tinh thần,
đời sống vật chất:“Trong văn chương nghệ thuật nhận thức có nghĩa là biết; ý
nghĩa nhận thức của nghệ thuật là ở chỗ nó giúp người ta biết về cái gì, có thêm những tri thức gì” [12, 166].“Một điều ta đáng lưu ý của nhận thức văn học là dường như “biết” không cơ bản mà “hiểu” mới là cái chính” [12, 171]
Mặt khác, văn học cũng giúp cho con người nhận thức về chính mình.Trong sáng tác, người nghệ sĩ là một quá trình tìm hiểu thế giới xung quanh nhưng đồng thời cũng là quá trình tự quan sát chính bản thân mình Tác phẩm được xem như là một tấm gương soi những năng lực và thế giới tinh thần của nhà văn Sau mỗi lần sáng tác các nhà văn như hiểu mình hơn Đối với người đọc, người xem cũng như thế, nhờ tiếp xúc tác phẩm nghệ thuật người ta mới biết đầy đủ hơn về xã hội, về người khác, về chính mình.Mục đích của nhận thức là hướng tới khái quát lớn, khám phá cái bản chất, quy luật của hiện tượng
1.3.2 Chức năng giáo dục
Để hiểu rõ chức năng giáo dục, trước hết ta phải hiểu được khái niệm “giáo
dục”, giáo dục có thể hiểu là học tập, nâng cao trình độ văn hóa, hay giáo dục
cũng có thể hiểu là hoạt động rèn luyện, trao dồi những giác quan thẩm mĩ và năng lực sáng tạo của con người
Văn học còn có thực hiện chức năng nuôi dưỡng tâm hồn, trí tuệ tình cảm, đạo đức cho con người qua một tác phẩm cụ thể mà tư tưởng của nhà văn thể hiện ngay trong việc nhận thức và phản ánh hiện thực.Tác phẩm văn học là sản phẩm của nhà văn Ở đó nhà văn gửi gấm những tư tưởng, ước vọng của họ vào nhằm mục đích làm rung động lòng người giúp người đọc nhận thức đúng đắn cuộc sống và khiến họ đi đến suy nghĩ và hành động đúng Nghệ thuật thời nàocũng
vậy - “luôn có xu hướng khuếch đại cái tốt để nó trở nên đẹp đẽ, lỗng lẫy hơn, từ
đó lôi cuốn, hấp dẫn mọi người, làm cho mọi người tin rằng trên đời bao giờ cũng
Trang 27công lý lương tri, bao giờ cũng có người tốt, khơi dậy ở mỗi người khát vọng vươn tới cái lý tưởng muốn noi gương, bắt chước làm theo điều thiện, điều hay”
[12, 176] Văn học rèn luyện cho con người thói quen cảm thụ tinh tế, khả năng nhận ra cái thật, cái giả, cái thiện, cái ác trong cuộc sống, cải tạo thế giới quan và quan đểm chính trị xã hội
Tiểu kết
Có thể nói, hoàn cảnh lịch sử đã tác động mạnh quá trình sáng tác của một nhà văn có tài năng lớn, đã góp phần cách tân một bước đáng kể nền văn xuôi Việt Nam,nhất là thể loại truyện ngắn Những năm cầm bút, Nam Cao đã trăn trở về tương lai, cuộc sống con người Nhà văn có ý thức trách nhiệm của người cầm bút, cócái nhìn sắc sảo đối với những vấn đề của xã hội.Chính vì điều này mà Nam Cao
đã sớm tìm đến cách mạng
Nam Caođại diện cho văn học hiện thực phê phán trong giai đoạn cuối.Ông
là người có ý thức tự giác về sáng tạo nghệ thuật Những quan điểm đó, ông không thể hiện trên chính luận mà thường gửi gắm gián tiếp qua quá trình sáng tác chứa đựng chức năng nhận thức và chức năng giáo dục
Chức năng nhận thức giúp phản ánh hiện thực, đem đến cho người đọc một thế giới khách quan.Giúp ta có khả năng phân tích, đánh giá nhận ra cái đẹp cái tốt của con người và xã hội Nếu như chức năng nhận thức giúp người đọcnhận thức
về thế giới quan,con người, xã hội, thì đến với chức năng giáo dục trong văn học, giúp người đọc biết nuôi dưỡng tâm hồn, tư tưởng, tình cảm và giúp ta thấu chính bản thân của mình Phân biệt được cái tốt cái xấu trong xã hội, hướng người đọc đến tương lai tươi sáng tốt đẹp
Trang 28CHƯƠNG 2 CHỨC NĂNG NHẬN THỨC TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NAM CAO 2.1.Nhận thức về hoàn cảnh xã hội
2.1.1 Hiện thực xã hội
Sinh ra và lớn lên tại làng Đại Hoàng, một vùng quê nghèo tăm tối với những con người xơ xác vì đói, vì bị áp bức bóc lột Chính nơi đây, ông nhận ra một hiện thực xã hội bất công Vì sao những người nông dân lại phải chịu những nỗi cơ cực đến như thế?Chính là do bản chất xã hội đã gây ra, một xã hội đã sản sinh ra những bọn cường hào ác bá đã dùng tiền bạc, địa vị ức hiếp người dân thấp
cổ bé họng Bọn cường hào địa chủ ngày càng sâu sắc.Chẳng hạn, trong tác phẩm
Chí PhèoBá Kiến tiêu biểu cho bọn địa chủ, cường hào ác bá ở nông thôn Việt
Nam.Hắncòn dùng âm mưu nham hiểm để bóc lột những người bần cùng.NamCao
nói về cách nhìn của Bá Kiến đối với kẻ bần cùng như sau: “Những thằng ấy là
những thằng được việc, khi cần đến thì cho nó dăm hào uống rượu, thì có thể sai
nó tác hại bất cứ anh nào không nghe mình Gặp người bướng bỉnh, đanh thép thì
nó đốt nhà hay cho mấy lát dao; gặp người non mặt thì nó quăng vào chai rượu lậu, hay gây sự rồi lăn ra kêu làng Có chúng sinh chuyện thì mới có dịp mà ăn, nếu không thì giữa đám dân hiền lành và yên phận này, khéo lắm chỉ bóp nặn được vào vụ thế” [25, 42] Bá Kiến có đủ quyền lực, có đủ khả năng thao túng tất
cả mọi chuyện Ban đầu chúng dùng những quyền lực và tiền tài để chiếm ruộng
đất, nhà cửa của dân, cho vay nặng lãi: “Cái nghề làm quan thì bám thằng có tóc,
ai bám thằng trọc đầu” [25, 37].Bóc lột bằng sưu thuế, lấy tiền trong những ngày
bắt phu Bọn cường hào lí dịch càng giàu bao nhiêu thì nhân dân lại cực khổ bấy nhiêu Họ mất hết ruộng đất rồi phải nộp tô thuếlàm phu tạp dịch
Trong xã hội ấy, Nam Cao chứng kiến đời sống khó khăn, thóc cao gạo kém, con người phải vật lộn để kiếm sống Không đâu xa đó là làng Đại Hoàng nơi mà
Trang 29Nam Cao gắn bó với quê hương Chính làng Đại Hoàng này được xem như là một màn hình thu một của xã hội lúc bấy giờ Làng Đại Hoàng những năm trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 người nông dân phải chịu tô nặng nề, làm phu sai tạp dịch, nhiều người phải bán hết tài sản của mình để cứu đói, nếu như không có tài sản thì phải chịu nhận cái chết thê thảm Vì đói khổ và bị áp bức,một số nông dân
đã bị đầy vào con đường lưu manh hóa như Chí Phèo Nông dân còn khổ cực
nhiểu hơn khi tình trạng như dốt nát mù chữ, rượu chè xảy ra tràn lan
Trong một cái xã hội thực dân nửa phong kiến, dưới ách thống trị của bọn thực dân phong kiến giai cấp tiểu tư sản cũng không hơn gì so với tầng lớp nông dân lúc bấy giờ Đời sống của giai cấp tiểu tư sản luôn bị đe dọa cả về vật chất lẫn tinh thần, đa số họ rơi vào tình trạng bị phá sản, bần cùng hóa Họ là những viên chức nhỏ, trí thức nghèo, học sinh… chịu nhều cay đắng, đe dọa về đời sống nhất Tầng lớp tiểu tư sản nghèo sống rất bấp bênh khổ cực, ngay đến những viên chức nhỏ, trí thức tự do cũng lâm vào hoàn cảnh khó khăn và bị khinh rẻ chà đạp Tình hình xã hội hết sức ngột ngạt, ngay những kẻ bảo thủ sợ đổi thay nhất
2.1.2 Thái độ của tác giả
Trong không ít tác phẩm, Nam Cao tỏ ra rất am hiểu về hiện thực và số phận con người Nhất là đối với những kiếp người nhỏ bé, nghèo khổ Nam Cao có thái
độ thương xót, thông cảm, đồng cảm sâu sắc với thân phận của bà quản Thích
trong Nửa đêm.Suốt cuộc đời lương thiện của bà, bà đã vất vả làm lụng nuôi Trương Rự và con của hắn Thế nhưng bà chẳng có một tuổi già an phận: “Đã già
nua, lại đau yếu, lại đói khát, lại bơ vơ và khổ hơn là chết”[25, 319] Bà quản
Thích là người đàn bà góa giàu, còn trẻ mà lại chưa con, bà luôn hiền lành nhân đức Cả cuộc đời chăm bẵm nâng niu Trương Rự, dù đứa con ấykhông phải ruột thịt của mình Thế nhưng đứa con mà bà yêu thương hết mực lại không xem bà là ngưởi mẹ, hắn đối đãi với mẹ mình như người dưng không cho bà một ngày bình
Trang 30yên toàn gây ra nhiều chuyện để bà phải mang tiếng là người mẹ không biết dạy con Khi bà đau yếu lại không nhờ vả vào con nuôi của mình mà ngược bà phải gồng mình tiếp tục nuôi đứa cháu của mình, hết khổ vì con rồi lại khổ vì cháu.Nam Cao rất sâu sắc và thấu hiểu cuộc đời khi nhận ra nỗi lầm than như là một con quái vật cứ đeo bám cuộc đời con người trong xã hội cũ, khiến họ không có lối thoát ra được Nhà văn đã làm nổi bật lên hình tượng bà quản Thích với tất cả những cực khổ, nhọc nhằn
Xót xa và thương cảm, Nam Cao nhận ra sự bất công trên cuộc đời này qua
lời tự hỏi của Nhu trong truyện Ở hiền: “Tại sao trên đời này lại có nhiều sự bất
công đến thế? Tại sao ở hiền không phải bao giờ cũng gặp lành? Tại sao những kẻ hay nhịn, nhường thì thường thường lại chẳng được ai nhịn, nhường mình; còn những kẻ thành công thì hầu hết lại là những người tham lam, chẳng biết nhịn nhường ai,nhiều khi lại xảo trá, lọc lừa và tàn nhẫn, nhất là tàn nhẫn? ” [25,
238] Nam Cao đã dẫn người đọc lướt qua cuộc đời Nhu, một cô gái rất mực hiền lành bị mọi người hà hiếp, coi thường, xem thường Bởi tính tình hiền lành mà Nhu để người khác lọc lừa, toan tính rồi rơi vào bế tắc của sự đau khổ, phải sống một cuộc đời bi thảm, nhàm chán, không hề có ánh sáng niềm vui
Nhìn cuộc đời Nhu làm ta nghĩ đến nhân vật Dì Hảo trong truyện ngắn cùng tên chỉ biết làm lụng vất vả, không một lời than, một tiếng oán trách, chỉ biết nhẫn nhục chịu đựng Sự nhẫn nhục ấy cứ lặp lại nhiều lần như một điệp khúc buồn thảm trong cuộc đời nhân vật Khi người chồng phụ bạc đưa về một người phụ nữ
trơ tráo thì dì Hảo: “Ngạc nhiên Rồi thì dì tức tối sai cùng thì dì nhẫn nại; phải
nhẫn nại là hơn: nếu hắn về thì cũng thế”[25, 338] Dì Hảo và nhân vật Nhu: “Cả đời chỉ biết cúi đầu, cúi cổ nai lưng ra làm” Cuộc đời của hai nhân vật cứ như
cánh bèo trôi nổi bị dòng đời xua đẩy Cứ như thế nhân vật buông xuôi phó mặc cho cuộc đời, một cuộc đời bế tắc, nhẫn nhục
Trang 31Qua từng truyện ngắn của Nam Cao, ta thấy giọng điệu của nhà văn buồn thương da diết Ông nhận ra cuộc đời đã đem lại cho con người những trớ trêu không thể nào lường trước được, nhất là những con người bần cùng dưới đấy xã hội
Trong thế giới nhân vật của Nam Cao có những người xấu xí như Lang Rận, Thị Nở, Mụ Lợi…dường như mọi người bỏ rơi và khinh rẻ Là người có ngoại
hình làm một trò cười của tạo hóa:“Mặt gì mà nặng chình chĩnh như mặt người
phù, da như da con cóc tằm bủng, lấm tấm đầy những tàn nhang Cái trán ngắn ngũn, ngắn ngùn, lại gồ lên Đôi mắt thì hiếp lại như mắt lợn sề…”.Còn mụ Lợi thì
có gì hơn đâu:“Béo trục, béo tròn, mặt mũi như tổ ong bầu, mắt trắng môi thâm
đen như thằng quỷ”[25, 272 - 274] Với một cái nhìn, thái độ bao dung nhân đạo,
mang đậm tính nhân văn, Nam Cao đã nhận ra đằng sau những gương mặt xấu ấy
là một tâm hồn nhạy cảm và khát khao yêu đương Hai con người dần như bị mọi người ruồng bỏ họ đã đến với nhau.Thế nhưng sự đời không đơn giản và diễn ra không suôn sẻ như họ mong muốn.Vì một trò đùa quái ác mà vô tình giết chết một mạng người Qua cái chết của Lang Rận, Nam Cao muốn tất cả mọi người hãy có thái độ sống trân trọng đối với mọi người xungquanh ta, không nên làm tổn thương cho người khác
Trong truyệnMua danh, nhà văn cũng có thái độ mỉa mai, coi thường những
người lấy tiền mua danh Anh Bịch vốn nghèo, làm lụng cực nhọc vẫn không đủ ăn, thế mà khi có tiền lại dại dột nghe một ông Cựu dỗ dành ngon ngọt, vay mượn thêm để mua một chức hương trưởng Anh mừng rỡ ra mặt, tưởng mua danh để được danh giá, được ăn trên ngồi trốc, ai ngờ khi làng vào đám, chỉ được cái chân
đi dẹp bọn trẻ con, còn bị người ta mắng nhiếc là “Bịch đi xúc dậm”, bị quát mắng,
dọa cách chức Thật danh chẳng thấy đâu, chỉ chuốc lấy sự tủi nhục, trong khi ông Cựu mồm thì nói họ hàng, tình nghĩa, nhưng bỏ túi đến bốn mươi đồng
Trang 32Anh Bịch hoàn toàn tỉnh táo biết rõ hoàn cảnh của mình đang bước vào đường cùng, biết rõ việc mình làm nhưng vì sức ép của hoàn cảnh lại buộc phải lựa chọn cái điều mà mình nhận thức nó là sai.Câu chuyện dạy cho con người ta bài học nhớ
đời Nếu ở đời ta chỉ nhắm đến việc dùng đồng tiền để “mua danh” cho mình thì cho dù có tạm thời “mua” được đôi chút danh tiếng, đó cũng không phải là chân
thật và sẽ dễ dàng tan biến trong chốc lát
Xuyên suốt các tác phẩm khi viết về người nông dân trong đó hình ảnh của
những bọn nhà giàu, Nam Cao đã có tỏ thái độ: “Cái bọn ngu dốt mà đáng ghét vô
cùng.Chúng chỉ biết có tiền coi người khác như rác, như rơm”[25, 352]Sao lại thế này.Bọn nhà giàu qua cái nhìn của nhà văn là những con người vô nhân tính,
những kẻ không có trái tim của một con người Sống không có tình thương với nhân loại Ông không hài lòng đối với những bọn nhà giàu ức hiếp người nông dân bần cùng Người nông dân phải làm nô lệ cho nhà giàu như một con trâu,làm việc
quần quật cả ngày: “Cơm nhà giàu khó nuốt Ăn của họ mà không làm lợi cho họ
được thì họ làm cho đến phải mửa ra mà giả họ”trong Một đám cưới [25, 284] Từ
đó nhà văn đã có cái chung cho bọn nhà giàu là chúng cùng giống nhau ở chỗ:“Gợi
lòng thương của một người chủ tham lam còn khó lắm thay!”[25, 222] trongĐiếu văn Cả một cuộc đời anh Phúc đã: “Mong lấy sự cố gắng của chính mình để bù lại sự kém cỏi tự trời sinh; và cốt lấy sự chăm chỉ, sự kiên nhẫn và nhẫn nại để gợi lòng thương của chủ” [25, 219] Thế nhưng chủ lại chẳng có một chút lòng thương
xót anh
Trang 332.2 Nhận thức về số phận con người
2.2.1 Nông dân bần cùng hóa, tha hóa
Trong bối cảnh nông thôn tiêu điều, xơ xác, ngòi bút của Nam Cao đã diễn
tả thấm thía tình trạng đói kém nghèo túng, số phận bi thảm của người nông dân.Truyện ngắn viết về người nông dân của Nam Cao ra đời trước cách mạng tháng Tám, thời kì đen tối đã để lại cho nhà văn một dấu ấn sâu sắc trong nhiều truyện ngắn của Nam Cao Phần lớn nhân vật nông dân của Nam Cao là những con
người bần cùng hóa nhất của đáy xã hộigia đình anh Đĩ Chuột, giađình Dần, bà
cái Tý, Chí Phèo, anh Phúc…,cuộc đời của họ không thể nào khổ hơn được nữa.Họ
bị hoàn cảnh vùi dập, bị chà đạp thể xác lẫn phẩm chất Các gia đình nông dân trong tác phẩm của Nam Cao hầu như mang trọn những nỗi đau mất mác lớn (vợ mất chồng, chồng ở vậy nuôi con, con sống bơ vơ…).Hoặc có những người nông dân vì quá khổ phải bỏ quê đi tha hương cầu thực để rồi cũng bỏ thân nơi đất khách Có những người nông dân trước kia luôn là người lương thiện nhưng vì xã hội hiện thực đã làm cho họ phải sống dở chết dở…
Khi viết truyện ngắn về người nông dân bần cùng hóa, thì nhà văn đã nhận thức rõ vì sao họ lại đến nông nỗi như thế này Trước hết, là do cái đói một sự thật
ám ảnh, đeo đẳng thường xuyên người nông dân đã đẩy họ vào cái chết đau đớn,
xót xa: Vì đói, mà bà cái Tí chết tức tưởi bởi Một bữa no.Hoàn cảnh xã hội điên
đảo có sức tàn phá khốc liệt Câu chuyện cái đói được Nam Cao nhìn nhận thành một câu chuyện nhân cách Vấn đề miếng ăn đã dược Nam Cao diễn tả so sánh như
là miếng nhục Dù nhục nhưng vì quá đói nên chấp nhận hết cả, cái đói đã dày vò
bà sống không bằng chết:“Hơn ba tháng bà lão chẳng ăn toàn bánh đúc, mới đầu
chỉ ăn ba tấm, sau một tấm cũng không còn nữa” [13, 288] Một bữa nolà câu
chuyện cay đắng về cái chết nhục nhã của một bà lão đem nhân phẩm đổi lấy miếng ăn Bởi vì đói mà bà phải đến nhà bà Phó Thụ phải lạy kẻ nhà giàu sang,để
Trang 34có một bữa cơm nuốt vội trong tiếng nặng nhẹ, chửi bới để rồi phải “chết no” làm
trò cười cho thiên hạ Qua hoàn cảnh của bà lão chúng ta thấy một xã hội đã dồn con người vào đường cùng không có lối thoát Cái chết của bà lão là do hoàn cảnh
đói mang lại Bà cái Đĩ bất chấp cái nhục của một kẻ ăn chực để được “Một bữa
no” Chết no ấy thật ra cũng là một cái chết đói vừa đáng trách vừa đáng thương
Cái đói đã hủy hoại con người cả thể xác lẫn tinh thần, hủy hoại cả nhân tính
Vì đói, vì muốn giữ mảnh vườn cho con trai mà Lão Hạc đã ăn củ khoai củ
ráy cho qua bữa Truyện Lão Hạc, Nam Cao đã thể hiện sinh động qua cái nhìn
nhận thức số phận của người nông dân phải chịu đựng hoàn cảnh bất hạnh Lão Hạc một con người nghèo khổ, cả đời sống trong cảnh thiếu thốn, gà trống nuôi con nhưng con cũng bỏ ông đi làm phu điền chỉ còn lại cậu Vàng làm bạn với lão Lão coi con chó như đứa cháu, đứa con, như một thành viên trong gia đình.Nhưng
vì hoàn cảnh bế tắc mà lão phải bán con chó mà mình yêu thương nhất, rồi lại tự tìm cho mình cái chết bằng bã chó Cuộc đời lão đầy nước mắt, đau thương, sống thì cô đơn bất hạnh, nghèo đói, chết thì quằn quại đau đớn Cái chết của Lão Hạc
đã chấm dứt mối nghi ngờ của một số người xung quanh Họ hiểu ra dù nghèo đói
nhưng lão vẫn trọn vẹn nhân cách cao quý của mình.Truyện Lão Hạcgợi cho người
đọc bao nỗi xót xa cho một kiếp người mà Lão Hạc từng nói một cách chua chát:
“Kiếp con chó là kiếp khổ thì ta hóa cho nó để nó làm kiếp người; may ra sung sướng hơn một chút… Kiếp người như kiếp tôi chẳng hạn! ”[25, 253] Lão Hạc đã
khổ mà nhìn lại ông giáo lại còn khổ hơn Cả vợ chồng ông giáo và lão Hạc đều có một số phận hẩm hiu, một cuộc đời nghèo khổ Vì khó khăn, ông giáo phải bán hết
cả quần áo Lão Hạc đại diện cho số phận của bao người nông dân trước cách mạng tháng Tám
Vì đói, vì bệnh tật mà anh Đĩ Chuột tìm chọn cho mình cái chết đau đớn để
tự giải thoát cho bản thân:“Anh lấy dây thừng làm một cái vòng tròng chắn chắc,