1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bước đầu tìm hiểu về công giáo ở tỉnh thủ dầu một từ năm 1899 đến năm 1945

59 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 1,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở Việt Nam nói chung và các tỉnh nói riêng thì Công giáo trong quá trình truyền giáo đều có những sự khác nhau về thời gian hình thành đạo, quá trình thăng trầm của sự phát triển đạo, cơ

Trang 2

MSSV: 1056020001

Lớp: D10LS01

Bình Dương, 5/2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là khóa luận do chính tôi thực hiện, không sao chép

bất kỳ kết quả nghiên cứu nào của các tác giả khác Nội dung của khóa luận có

tham khảo và sử dụng một số thông tin, tài liệu từ các nguồn sách, tạp chí được

liệt kê trong danh mục các tài liệu tham khảo

Sinh viên

Phạm Thị Vân Anh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Qua thời gian học tại trường Đại học Thủ Dầu Một em đã tiếp thu và tích lũy những kiến thức vô cùng quý báu do Thầy, Cô truyền đạt Đó là tiền đề cho

em hoàn thành bài khóa luận này

Trước tiên em xin chân thành cảm ơn đến Ban Giám Hiệu nhà trường, cùng các Thầy Cô trong khoa Sử của trường Đại Học Thủ Dầu Một đã cho em những định hướng và tạo điều kiện cho em làm bài khóa luận này Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn GVHD T.S Nguyễn Văn Hiệp đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện đề tài Xin gửi lời cám ơn chân thành đến gia đình

và bạn bè đã động viên và giúp đỡ trong thời gian làm khóa luận

Mặc dù đã cố gắng, nhưng do hạn chế về thời gian và kinh nghiệm, những vấn đề trình bày trong bài này chắc chắn khó tránh khỏi những sai sót, do đó em rất mong nhận được góp ý của quý Thầy Cô và bạn bè để vấn đề nghiên cứu được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn ! Sinh viên thực hiện

Phạm Thị Vân Anh

Trang 5

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

Bình Dương, Ngày… tháng.….năm 2014

Giảng viên hướng dẫn

Trang 6

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN

Bình Dương, Ngày… tháng.….năm 2014

Giảng viên phản biện

Trang 7

MỤC LỤC

DẪN LUẬN 4

1.Lý do chọn đề tài 4

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài 6

4 Nguồn tài liệu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Đóng góp của đề tài 7

7 Bố cục của đề tài 8

NỘI DUNG 9

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ TỈNH THỦ DẦU MỘT 9

1.1 Đặc điểm tự nhiên tỉnh Thủ Dầu Một 9

1.2 Lịch sử hình thành tỉnh Thủ Dầu Một 10

1.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội tỉnh Thủ Dầu Một 13

1.3.1 Đặc điểm cư dân 13

1.3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 15

CHƯƠNG 2: CÔNG GIÁO Ở TỈNH THỦ DẦU MỘT TỪ NĂM 1899 ĐẾN NĂM 1945 21

2.1 Sự du nhập của Công giáo vào tỉnh Thủ Dầu Một 21

2.1.1 Giai đoạn Từ đầu thế kỷ XVII – 1802 21

2.1.2 Giai đoạn 1802 - 1899 22

2.2 Công giáo năm 1899 đến năm 1945 24

Trang 8

2.2.1 Hệ thống tổ chức của Công giáo tỉnh Thủ Dầu Một từ 1899 đến năm

1945 24

2.2.2 Một số hoạt động xã hội của giáo hội Công giáo ở tỉnh Thủ Dầu Một .31

2.2.2.1 Trường câm điếc Lái Thiêu 31

2.2.2.2 Cô Nhi Viện Lái Thiêu 33

2.2.3 Lịch sử hình thành và phát triển của một số cộng đồng giáo xứ ở tỉnh Thủ Dầu Một năm 1899 – 1945 34

2.2.3.1 Giáo xứ Lái Thiêu 34

2.2.3.2 Giáo xứ Chánh Tòa 36

2.2.3.3.Giáo xứ Búng 37

2.2.3.4.Giáo họ Lộc Tấn 38

2.2.3.5.Giáo xứ Dầu Tiếng 38

2.2.3.6.Giáo xứ Vàm Vá 39

KẾT LUẬN 42

TÀI LIỆU THAM KHẢO 45

PHỤ LỤC 48

Trang 9

Bản đồ tỉnh Thủ Dầu Một

Nguồn: Địa chí Bình Dương

Trang 10

DẪN LUẬN

1 Lý do chọn đề tài

Tôn giáo là một hiện tượng văn hóa tinh thần đã kịp thời đáp ứng nhu cầu tìm hiểu thế giới, giải tỏa tạm thời những bức xúc chưa giải quyết được trong cuộc sống của đa số dân chúng Từ đó đến nay cùng với sự biến đổi và tồn tại của xã hội loài người, các kiểu và các hình thức tôn giáo ngày càng phong phú

và ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của mọi người dân về mặt tâm linh, tinh thần, tôn giáo đã và đang tự thể hiện như là một trong những bộ phận cấu thành quan trọng của đời sống xã hội loài người

Trên thế giới hiện nay, có rất nhiều loại hình tôn giáo khác nhau như: Đạo Phật, Đạo Hồi, Đạo Tin lành, Trong số đó có Công giáo với số lượng tín đồ

và có ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động trên toàn thế giới nói chung cũng như ở Việt Nam nói riêng Công giáo bắt đầu được du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ XVI, quá trình này gắn liền với quá trình xâm lược của thực dân phương Tây Từ khi được truyền vào Việt Nam đến nay đạo Công giáo đã không ngừng phát triển cả về tín đồ, chức sắc, chức việc,

về các dòng tu Trải qua bao bước thăng trầm, đến nay Việt Nam đã có trên 6 triệu tín đồ công giáo(2)

Ở Việt Nam nói chung và các tỉnh nói riêng thì Công giáo trong quá trình truyền giáo đều có những sự khác nhau về thời gian hình thành đạo, quá trình thăng trầm của sự phát triển đạo, cơ cấu tổ chức…

Cũng như các tỉnh khác, Tỉnh Thủ Dầu Một là một địa bàn dưới thời thuộc Pháp, thành lập từ năm 1899, nằm dưới sự cai trị của thực dân Pháp và là tỉnh thu hút một số lượng lớn các cư dân ở vùng khác đến lập nghiệp, trong quá trình

di dân đó có những cư dân Công giáo đã góp phần tạo nên cộng đồng Công giáo

Trang 11

ở đây Tình hình Công giáo ở tỉnh Thủ Dầu Một từ khi thành lập cho đến hết thời thuộc Pháp có sự phát triển nhanh chóng về số lượng giáo dân và có những ảnh hưởng lớn đến đời sống xã hội, văn hóa của cư dân tỉnh Thủ Dầu Một

Từ những lý do nêu trên tác giả muốn tìm hiểu về chọn đề tài “Bước đầu

tìm hiểu về Công giáo ở tỉnh Thủ Dầu Một từ năm 1899 đến năm 1945” cho

bài luận văn tốt nghiệp của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Hiện nay các vần đề về tôn giáo đang thu hút nhiều tác giả nghiên cứu có thể kể đến các công trình tiêu biểu như:

Nguyễn Văn Kiệm, Sự du nhập của đạo Thiên chúa giáo vào Việt Nam từ

thế kỷ XVII đến thê kỷ XIX, Hội khoa học lịch sử Việt Nam, 2001, quá trình du

nhập của Thiên chúa giáo vào Việt Nam từ đầu thế kỉ XVII đến thế kỉ XIX, tác giả chủ yếu đề cập đến con đường du nhập đạo Thiên chúa vào Việt Nam và sự phát triển của đạo thiên chúa trong thế kỉ XVII đến thế kỉ XIX

Nguyễn Quang Hưng, Công giáo Việt Nam thời kỳ triều Nguyễn (1802 –

1883), Nxb Tôn giáo, 2009, tác giả đề cập đến sự truyền giáo của các dòng thừa

sai trước năm 1802 và sự tình hình Công giáo dưới triều Nguyễn (1802 – 1883), cuối cùng là rút ra một số kinh nghiệm từ việc nghiên cứu công giáo triều Nguyễn

Kỷ yếu giáo xứ Lái Thiêu, Nxb Thời đại, 2012, kỷ yếu chủ yếu dề cập đến

lịch sử phát triển của giáo xứ lái Thiêu và một số hoạt động của giáo xứ

Tổng giáo phận thành phố Hồ Chí Minh, 150 năm chủng viện thánh Giuse

Sài Gòn 1863 – 2013, Nxb Tôn giáo, 2013, tác gải đề cập đến quá trinh hình

thành và phát triển của chủng viện Sài Gòn, các khóa đào tạo của chủng viện từ năm 1863 – 2013

Kỷ yếu giáo phận Phú Cường 1965 – 2005, Nxb Tôn giáo, 2005, kỷ yếu

nói đến sự phát triển của giáo phận Phú Cường, lịch sử hình thành cũng như

Trang 12

phát triển của các giáo xứ trong giáo phận Phú Cường và các hoạt động của giáo phận

Vũ Đức Thành, Thủ Dầu Một – Bình Dương đất lành chim đậu, Nxb Văn

nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 1999, tác giả tập hợp những bài viết về sự phát triển của Bình Dương, trong đó có đề cập đến công giáo ở bình dương nhưng với cách khái quát sơ lược sự phát triển của Công giáo trong tỉnh Bình Dương

Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương (2010), Địa chí Bình Dương, tập 4,

Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, tác giả giới thiệu tổng quan về sự du nhập Công giáo vào Bình Dương từ đầu thế kỉ XVII đến đầu thế kỉ XXI và chỉ đề cập một phần sự du nhập của công giáo vào tỉnh Thủ Dầu Một

Những công trình trên của các tác giả chủ yếu thể hiện một cách tổng quát

về tình hình Công giáo ở Việt Nam từ khi du nhập đến ngày nay và lịch sử hình thành một số giáo xứ trong tỉnh Thủ Dầu Một Nhưng các đề tài đó chưa hoàn chỉnh, nghiên cứu một cách hệ thống về Công giáo ở tỉnh Thủ Dầu Một từ năm

1899 đến năm 1945 Do vậy, trên cơ sở kế thừa, cập nhật và phát triển những nội dung, vấn đề đã được nghiên cứu ở các công trình trên luận văn cố gắng bước đầu phục dựng bức tranh Công giáo tỉnh Thủ Dầu Một từ năm 1899 –

1945

3 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu của đề tài

3.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu đã được xác định như tên gọi của đề tài là bước đầu tìm hiểu về Công giáo ở tỉnh Thủ Dầu Một từ năm 1899 đến năm 1945 Tìm hiểu về lịch sử du nhập, hệ thống tổ chức, sự phát triển của đạo từ đó đánh giá các hoạt động và vai trò của Công giáo đối với tỉnh Thủ Dầu Một

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Mặc dù đề tài giới hạn phạm vi thời gian nghiên cứu Công giáo ở tỉnh Thủ Dầu Một từ năm 1899 – 1945, nhưng để có cái nhìn tổng thể, xuyên suốt quá trình phát triển của Công giáo thì luận văn sẽ đề cập thỏa đáng đến các giai đoạn

Trang 13

trước đó: từ khi Công giáo du nhập vào Đàng Trong từ đầu thế kỉ XVI đến trước năm 1802, từ năm 1802 đến năm 1899 Nhằm làm rõ các bước phát triển thăng trầm của Công giáo từ khi mới du nhập thông qua con đường buôn bán tự do và đến khi có sự quản lý của triều đình Tuy nhiên đó cũng mới chỉ là những nội dung khái quát làm nổi bật nội dung trọng tâm của đề tài là bước đầu tìm hiểu Công giáo ở tỉnh Thủ Dầu Một từ năm 1899 đến năm 1945

Về không gian, luận văn nghiên cứu về Công giáo trong phạm vi tỉnh Thủ Dầu Một

4 Nguồn tài liệu

Để thực hiện đề tài, luận văn chủ yếu tiếp cận, khai thác nguồn tài liệu từ các thư viện: Thư viện Quốc gia, thư viện Khoa học Xã hội và nhân văn, thư viện tỉnh Bình Dương, các công trình nghiên cứu về lịch sử Công giáo của những tác giả là giáo dân của Công giáo và những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học

Ngoài ra, tôi còn khai thác một số tác phẩm, tạp chí: tạp san hội Khoa học lịch sử Bình Dương, tạp chí nghiên cứu tôn giáo…

Dù số lượng tài liệu chưa được tập hợp thật đầy đủ, song là cơ sở giúp luận văn giải quyết những vấn đề do đề tài đặt ra

5 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu vấn đề này tác giả sử dụng chủ yếu phương pháp lịch sử và phương pháp Logic, ngoài ra còn có các phương pháp liên ngành như: Phương pháp phân tích tổng hợp, thu thập xử lý các nguồn tư liệu…

6 Đóng góp của đề tài

Bước đầu tìm hiểu về Công giáo ở tỉnh Thủ Dầu Một, luận văn góp phần làm rõ việc hình thành và phát triển của Công giáo trên địa phận tỉnh Thủ Dầu Một và những đóng góp của Công giáo đối với đời sống văn hóa, xã hội tỉnh Thủ Dầu Một thông qua những hoạt động xã hội thiết thực của đạo

Trang 14

Đề tài khi được hoàn thành có thể là một nguồn tài liệu tham khảo cho các

đề tài nghiên cứu về sau khi muốn tìm hiểu về Công giáo tỉnh Thủ Dầu Một - tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu tôn giáo địa phương

7 Bố cục của đề tài

Luận văn có 2 chương chính, ngoài ra còn có phần dẫn luận, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ TỈNH THỦ DẦU MỘT

Chương này gồm 3 mục nêu khái quát lịch sử hình thành tỉnh Thủ Dầu Một và đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của tỉnh Thủ Dầu Một từ năm 1899 –

1945 có liên quan đến sự du nhập và phát triển của Công giáo ở tỉnh Thủ Dầu Một

Chương 2: CÔNG GIÁO Ở TỈNH THỦ DẦU MỘT

TỪ NĂM 1899 – 1945 Chương này gồm 2 mục chính trình bày tiến trình du nhập Công giáo vào

tỉnh Thủ Dầu Một, quá trình phát triển Công giáo ở tỉnh Thủ Dầu Một từ năm

1899 đến năm 1945

Trang 15

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TỈNH THỦ DẦU MỘT

1.1 Đặc điểm tự nhiên tỉnh Thủ Dầu Một

Tỉnh Thủ Dầu Một có diện tích khoảng 250.000 hecta Phía bắc giáp Campuchia, phía Nam và Tây giáp sông Sài Gòn và các tỉnh Gia Định, Tây Ninh, phía Đông giáp sông Bé và tỉnh Biên Hòa Người Pháp gọi Thủ Dầu Một

Đất đai tỉnh Thủ Dầu Một rất đa dạng và phong phú về chủng loại Các loại đất như đất xám trên phù sa cổ, đất nâu vàng trên phù sa cổ nằm trên các vùng đồi thấp thoải xuống Đất phù sa Glây (đất dốc tụ), chủ yếu là đất dốc tụ trên phù sa cổ, đất thấp mùn Glây nằm rải rác tại những vùng trũng ven sông rạch, suối Về mặt địa lý, tỉnh Thủ Dầu Một là không bằng phẳng như nhau mà rất nhấp nhô, tỉnh Thủ Dầu Một phân thành 2 vùng rõ rệt: vùng thấp với ruộng lúa phì nhiêu và các đồn điền mía, vùng cao là cao nguyên được giới hạn bởi

Chế độ thủy văn của các con sông chảy qua tỉnh và trong tỉnh Thủ Dầu Một thay đổi theo mùa: mùa mưa nước lớn từ tháng 5 đến tháng 11 (dương lịch)

và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau, tương ứng với 2 mùa mưa nắng Thủ Dầu Một có 3 con sông lớn (Sông Sài Gòn, Sông Bé, Sông Thị Tính) và đặc biệt là nằm giữa hai con sông lớn là Sông Bé và Sông Sài Gòn, nhiều rạch ở các địa bàn ven sông và nhiều suối nhỏ khác

Về hệ thống giao thông đường thủy, do Thủ Dầu Một nằm gọn trong 3 con sông lớn, nhất là sông Sài Gòn Vì vậy, tỉnh Thủ Dầu Một có thể nối với các

Trang 16

cảng lớn ở phía Nam và giao lưu hàng hóa với các tỉnh của vùng đất Nam Kỳ với những cảng thị lớn của vùng như Sài Gòn – Chợ Lớn, Biên Hòa

Do đặc điểm khí hậu ẩm nhiệt đới và đất đai màu mỡ nên rừng ở Thủ Dầu Một xưa rất đa dạng, phong phú và có nhiều loại cây gỗ quý như: gỗ, trắc, sao, cẩm lai, dầu, giáng hương Hệ thực vật có nhiều loại như: lan, dương xỉ, cây tuế, dây thường xuân… Rừng Thủ Dầu Một còn cung cấp nhiều loại dược liệu làm thuốc chữa bệnh, cây thực phẩm và đặc biệt là những loại cây công nghiệp lâu năm phục vụ cho nhu cầu sản xuất công nghiệp như cao su, cà phê, trái cây… Đặc biệt là cây cao su Chính vì điều này khi thực dân Pháp tiến hành công cuộc khai thác thuộc địa phục vụ cho nhu cầu của chính quốc Thủ Dầu Một chính là một trong những tỉnh có diện tích cao su lớn nhất cả nước Cùng với sự ưu ái về mặt trồng cây công nghiệp, thiên nhiên còn mang đến cho đất và người Thủ Dầu Một những danh lam thắng cảnh, những vườn trái cây đã trở thành thương hiệu đi vào lòng người như vườn trái cây Lái Thiêu Bên cạnh đó, rừng Thủ Dầu Một còn có nhiều loại động vật và trong đó có nhiều loại động vật quý hiếm như: voi, tê giác, báo, gấu, chồn…

1.2 Lịch sử hình thành tỉnh Thủ Dầu Một

Lưu dân Việt đã đến vùng đất phía nam của Việt Nam khai hoang và làm

ăn sinh sống vào đầu thế kỷ 17, nhờ có cuộc hôn nhân giữa công nữ Ngọc Vạn với vua Chân Lạp Chey Chetta II vào năm 1620

Vào năm 1698, Thống suất Chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh được Chúa Nguyễn Phúc Chu cử vào nam kinh lược lập nên những đơn vị hành chính đầu tiên ở phần đất phía Nam của nước ta Tỉnh Thủ Dầu Một thuộc tổng Bình An thuộc huyện Phước Long dinh Trấn Biên, tổng Bình An có đại phận khá lớn, đông giáp sông Bé và sông Đồng Nai, tây giáp sông Sài Gòn và sông Thị Tính,

Trang 17

Năm 1790, chúa Nguyễn Phúc Ánh sai đắp thành Bát Quái, đồng thời chọn Sài Gòn (thuộc tổng Bình Dương, huyện Tân Bình) làm nơi đóng đô của mình, và gọi là Gia Định kinh Địa vị kinh đô này chỉ tồn tại được trên 10 năm (1790 - 1801), vì sau khi lấy được Phú Xuân (1801), chúa Nguyễn liền dời đô ra đấy

Năm Nhâm Tuất (1802), vua Gia Long (tức chúa Nguyễn Phúc Ánh) cho đổi phủ Gia Định thành trấn Gia Định, đồng thời cho các dinh cũng đổi thành các trấn, gồm: Phiên An, Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Thanh và Hà Tiên Tất cả các trấn này nằm dưới sự cai quản của trấn Gia Định

Năm 1808, Phước Long được đổi thành phủ gồm bốn huyện: Bình An, Phước Chánh, Long Thành, Phước An; Tân Bình cũng thành phủ gồm bốn huyện: Bình Dương, Tân Long, Thuận An, Phước Lộc

Năm Minh Mạng thứ 13 (Nhâm Thìn, 1832), sau khi Lê Văn Duyệt từ trần, nhà vua bãi bỏ chức Tổng trấn, chia miền Nam Việt Nam ra làm 6 tỉnh là: Phiên An, Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên (gọi chung

là Nam Kỳ lục tỉnh)

Tháng 5 (âm lịch) năm Quý Tỵ (1833), Lê Văn Khôi khởi binh chiếm thành Phiên An Tháng 8 (âm lịch) năm đó, vua Minh Mạng cho đổi tỉnh Phiên

An thành tỉnh Gia Định

Ngay sau khi chiếm được ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, thực dân Pháp đặt

bộ máy cai trị đứng đầu là viên thống đốc (Lieutenant - Gouverneur) do một sĩ quan cao cấp từ chuẩn đô đốc trở lên đảm nhận Tên đơn vị hành chính có nhiều thay đổi Pháp chia cắt lại địa phận và đặt tên cho các tỉnh mới lập (lúc đẩu gọi

là địa hạt, anondissement) Pháp bỏ các địa danh hành chính cũ và đặt lại tên cho các địa danh này như tỉnh Chợ Lớn, Gò Công, Bà Rịa, Bến Tre, Sa Đéc, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Rạch Giá

Trang 18

Cuối năm 1861, chiếm được tỉnh Biên Hòa, Pháp vẫn giữ y nguyên các đơn vị hành chính như cũ với hai phủ: Phước Long và Bình Phước Tuy và 4 huyện: Phước Chánh, Bình An, Long Thành, Phước An

Năm 1864 đô đốc La Grandière chia ba tỉnh miền Đông: Biên Hòa, Gia Định, Định Tường thành 7 tiểu khu chỉ huy (cercles de commandement) thì tỉnh

Năm 1871 cả Nam kỳ có 18 sở tham biện thì tỉnh Biên Hòa còn lại 3 sở tham biện: Biên Hòa, Bà Rịa, Thủ Dầu Một

Sau khi chiếm được Nam Kỳ, thực dân Pháp cải tổ đơn vị hành chính cho phù hợp với chế độ thuộc địa Ngày 5 tháng 1 năm 1876, đô đốc Đuyperê (duperré), tổng chỉ huy lực lượng viễn chinh pháp tại Nam Kỳ ra nghị định phân chia toàn bộ Nam Kỳ thành 4 khu vực hành chính lớn là: Sài Gòn, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Bát Xắc (Bassac) Mỗi khu vực hành chính lại chia nhỏ thành nhiều tiểu khu hành chính Trong đó, khu vực Sài Gòn gồm 5 tiểu khu: Tây Ninh,Thủ Dầu Một, Biên Hòa, Bà Rịa Và Gia Dịnh (ngoại vi Sài Gòn)(7) Đến ngày 20 tháng 12 năm 1899, đổi tiểu khu thành tỉnh, tiểu khu Thủ Dầu Một thành tỉnh Thủ Dầu Một

Tỉnh Thủ Dầu Một tựu trung nằm gần như trên địa phận huyện Bình An

đã tách ra bớt đất Nghĩa An (Thủ Dức) nhưng lại nhận thêm địa bàn tổng Dương Hòa Hạ (tức xứ Dầu Tiếng, nguyên thuộc Bình Dương, phủ Tân Binh, tỉnh Gia Định)

Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương (2010), Địa chí Bình Dương, tập 2, Nxb

Chính trị Quốc gia Hà Nội, tr 90

Trang 19

1.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội tỉnh Thủ Dầu Một

1.3.1 Đặc điểm cƣ dân

Thuở xa xưa, Tỉnh Thủ Dầu Một là một vùng đất hoang vu, núi rừng rậm rạp Qua các di chỉ khảo cổ được khai quật tại Vườn Di Dũ, Gò Đá, Cù Lao Rùa, Dốc Chùa (huyện Tân Uyên), các nhà khảo cổ đã phát hiện từ thời đồ đá mới đến thời đồ đá đồng và đã từng là địa bàn sinh tụ của tộc người Anh-đô-nê-điên

cổ đại-tổ tiên của người Stiêng, Châu Ro, Châu Mạ, Mơ-nông ngày nay Từ đó, các nhóm dân tộc bản địa: Stiêng, Châu Ro, Châu Mạ, Mơ-nông…từng bước

đầu thế kỷ XVII, trên vùng đất trù phú này dần dần xuất hiện những tầng lớp cư dân mới Đó là những di dân người Việt từ các tỉnh phía Bắc, thuộc tầng lớp nông dân và thợ thủ công nghèo khổ không chịu nổi sự áp bức, bóc lột của chế

độ phong kiến hà khắc, buộc phải vào đây tìm đường sinh sống Đặc biệt, khi cuộc chiến tranh giữa Chúa Trịnh và Chúa Nguyễn diễn ra khốc liệt, mâu thuẫn giữa địa chủ phong kiến và nông dân ngày càng trở nên gay gắt, thì tiến trình di

cư của người Việt vào phương Nam (trong đó có vùng đất Thủ Dầu Một) diễn ra liên tục và dồn dập hơn

Trong quá trình di dân vào Đàng Trong, ngoài người Việt còn có người Hoa Người Hoa di cư vào Đàng Trong bao gồm nhiều đợt, vào những giai đoạn lịch sử khác nhau với điều kiện xã hội khác nhau Đáng chú ý là từ 1678 đến

1685, khi cuộc kháng chiến “ Phân Thanh phục Minh” ở Đài Loan tan vỡ (1683), các di thần nhà Minh đã đến Đàng Trong định cư lâu dài với khoảng

trở đi, khi cuộc chiến tranh kéo dài hơn 40 năm giữa hai họ Trịnh - Nguyễn

Trang 20

chấm dứt với thế cân bằng, tình hình chính trị-xã hội đã tương đối ổn định, nền ngoại thương đang trên đà phát triển rất cao, cả một vùng lãnh thổ trải dài từ Thuận - Quảng đến Cà Mau đang chờ nguồn lao động của con người đến từ mọi hướng Cũng trong giai đoạn lịch sử này, người Hoa được phép xuất cảnh đến nước để buôn bán, vì vậy, đông đảo người Hoa đã đến định cư ở Đàng Trong (trong đó có vùng đất Thủ Dầu Một) Một đợt di dân quan trọng khác của người Hoa vào miền Nam và Thủ Dầu Một đã diễn ra Hòa ước Thiên Tân) được ký kết giữa Pháp và triều đình Mãn Thanh Đông đảo người Hoa đang sống ở Thủ Dầu

Tiến trình nhập cư của người Việt diễn ra liên tục trong suốt thế kỷ thứ XVII Để thể chế hóa một tình hình thực tế về dân cư và hành chính, mùa xuân năm Mậu Dần (1698), Chưởng Cơ Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào vùng kinh lược vùng đất phương Nam, xác lập cương thổ, xây dựng thiết chế hành chính lập phủ Gia Định gồm hai huyện Phước Long với dinh Trấn Biên và huyện Tân Bình với dinh Phiên Trấn Đây là đơn vị hành chính được xác lập đầu tiên trên vùng đất mới khai khẩn của người Việt ở phương Nam Từ đó, vùng đất mới dần dần phát triển sôi động Cư dân ngày càng đông, xóm làng, phố chợ mọc lên nhộn nhịp Trên đất Thủ Dầu Một, những tên đất, tên làng đã sớm xuất hiện như Lái Thiêu, Chợ Búng, Chợ Phú Cường, Chợ Tân Ba (Đồng Ván), Chợ Tân Uyên (Đồng Sứ), Chợ Thị Tính, Chợ Dầu Giếng (Dầu Tiếng)…là biểu hiện sức sống mạnh mẽ và sôi động của sức sản xuất và trao đổi hàng hóa trên vùng đất mới

Đến thời thuộc Pháp, sau khi chiếm được 3 tỉnh miền Đông Nam Kì, thực dân Pháp đã chia lại ranh giới hành chính và cùng với việc mộ phu của thực dân Pháp ở vùng đất này đã làm cho dân số Thủ Dầu Một cũng có sự gia tăng đáng

kể Năm 1915 dân số tỉnh Thủ Dầu Một vào khoảng 110.796 người đến năm

(10)

Nguyễn Văn Hiệp (2005), luận văn thạc sĩ “Những chuyển biến kinh tế - xã

hội ở Bình Dương từ ngày tái lập tỉnh (1997 – 2003)”, tr 15

Trang 21

1925 dân số toàn tỉnh đã vào khoảng 126.730 người, năm 1931 là 177.259 Nhưng từ những năm 1932, 1933 đến năm 1943 thì do khủng hoảng kinh tế thế giới đã tác động tiêu cực đến nền kinh tế tỉnh chính vì vậy dân cư trong tỉnh đã

Trong thành phần dân cư của tỉnh thì người Việt chiếm khoảng 90% tiếp đến là người Hoa, Khmer, Stieng Số người phương Tây khá ít ỏi khi năm 1915 mới chỉ có 59 người, năm 1925 tăng lên 174 người

Như vậy trong suốt thời thuộc Pháp người Việt lần lượt mở rộng địa bàn

cư trú ra khắp toàn Tỉnh Nét độc đáo về dân cư Thủ Dầu Một là sự quy tụ cư dân từ bốn phương trong cả nước cùng với các dân tộc bản địa mà hình thành Dưới tác động của đời sống kinh tế - chính trị đã làm cho dân số ở Thủ Dầu Một tăng lên nhanh chóng Cùng với sự tăng nhanh của cư dân là quá trình hình thành các cụm cư dân mới, những khu hành chính, những trung tâm thương mại… đã biểu hiện sức sống mạnh mẽ và sinh động của dân cư Thủ Dầu Một thời thuộc Pháp

1.3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

Năm 1897, Thực dân Pháp bắt đầu triển khai kế hoạch khai thác thuộc địa lần thứ nhất trên toàn liên bang Đông Dương Ở Nam Kỳ, bộ máy cai trị thực dân đẩy mạnh các biện pháp chính trị, quân sự, kinh tế - tài chính… nhằm củng

cố hệ thống chính quyền, tăng cường kiểm soát trị an, tăng các nguồn lợi nhuận… và Thủ Dầu Một cũng không nằm ngoài cuộc khai thác thuộc địa Cuộc khai thác thuộc địa bước đầu đã làm xáo trộn và thay đổi nền kinh tế - xã hội của tỉnh Thủ Dầu Một

Về kinh tế, với điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sự phát triển cây công nghiệp chính vì lẽ đó mà ngay từ những năm đầu của cuộc khai thác thuộc địa những đồn điền cao su ở Thủ Dầu Một liên tục được mọc lên và tăng về diện

(11)

Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương (2010), Địa chí Bình Dương, tập 1, Nxb

Chính trị Quốc gia Hà Nội, tr 178

Trang 22

tích Nếu tính từ năm 1910 toàn tỉnh có khoảng 550 ha cao su (đứng thứ 3 ở Nam Kỳ sau Biên Hòa với 1027 ha và Gia Định 2090 ha) nhưng tới năm 1920 thì tỉnh Thủ Dầu Một đã vươn lên đứng đầu Nam kỳ về diện tích cao su với

13399 ha (Biên Hòa có 8000 ha và Gia Định có 5954 ha) và đến năm 1929 thì diện tích cao su của tỉnh đã tăng lên 35000 ha (Biên Hòa 27000 ha và Gia Định

8000 ha)(12)

Ngoài cây cao su liên tục được mở rộng và phát triển thì cà phê và các loại cây ăn trái khác cũng được chú trọng Những năm cuối thập niên 20 của thế kỷ

XX diện tích cà phê tại tỉnh đạt khoảng 500 ha (Biên Hòa có 120 ha, Bà Rịa có

35 ha…) Các loại cây trái khác như Xoài, Măng Cụt, Dừa, Thơm, Chôm Chôm, Cam… chiếm diện tích khoảng 6000ha đặc biệt là vườn trái cây Lái Thiêu Chính sự đa dạng về các loại cây ăn trái đã biển Thủ Dầu Một thành trung tâm cây ăn trái đặc sản của vùng đất Nam Kỳ và cả nước

Trong việc mở rộng và phát triển công nghiệp đặc biệt là các ngành công nghiệp có liên quan phục vụ lợi ích cho công cuộc khai thác của tư bản Pháp thì liên tục được đầu tư và phát triển trong đó có ngành giao thông vận tải mà đặc

là một minh chứng điển hình Số công nhân làm việc tại đề pô xe lửa vào khoảng 300 người chủ yếu xuất thân từ nông dân và thợ thủ công nghèo Họ làm việc trong bốn phân xưởng chính với nhiệm vụ lắp ráp, sửa chữa đầu máy và toa xe lửa cho các tuyến đường sắt phía Nam (Sài Gòn – Biên Hòa – Nha Trang, Sài Gòn – Mỹ Tho, Sài Gòn – Lộc Linh…) Đây chính là một bộ phận quan trọng của đội ngũ công nhân công nghiệp hiện đại đầu tiên của Thủ Dầu Một và của cả nước

(12)

Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương (2010), Địa chí Bình Dương, tập 2, Nxb

Chính trị Quốc gia Hà Nội, tr 93

(13)

Đề pô xe lửa Dĩ An được khởi công xây dựng vào năm 1902 và trở thành nhà máy xe lửa lớn thứ 2 ở Đông Dương, sau nhà máy xe lửa Trường Thi

Trang 23

Năm 1901, trường Bá nghệ được Pháp cho thành lập tại tỉnh Thủ Dầu Một sau đổi tên thành Trường Kỹ nghệ thực hành, trường đào tạo cho học sinh kỹ năng về nghề mộc và chạm khắc gỗ Do đó, sản phẩm gỗ Thủ Dầu Một ngày càng trở nên nổi tiếng khắp vùng đất Nam kỳ và Nam Trung Kỳ bởi kiểu dáng mới mẻ và trình độ kỹ thuật tinh xảo

Một nghề thủ công khác ở Thủ Dầu Một cũng được nhiều nơi biết đến là nghề vẽ tranh kiểng Dọc bờ rạch Lái Thiêu đã xuất hiện nhiều cơ sở thủ công

mỹ nghệ chuyên vẽ tranh thờ, liễn, câu đối bằng sơn vẹc – ni trên kính thủy tinh Nhiều bức tranh, câu liễn được cẩn xà cừ hoặc chạm khắc tinh vi miêu tả phong cảnh hoặc thể hiện mơ ước làm ăn phát đạt Nghề gốm Thủ Dầu Một vẫn phát triển đều đặn, số lượng các lò lu, lò chén tăng lên, ngoài các sản phẩm truyền

Sự phát triển của nông nghiệp, các ngành công nghiệp và thủ công nghiệp

ở Thủ Dầu Một đã góp phần quan trọng tạo nên sự khởi sắc của hoạt động thương mại Chợ Phú Cường, tỉnh Thủ Dầu Một, chợ Lái Thiêu, chợ Búng, chợ Bình Nhâm là những chợ lớn được xếp vào hàng thị tứ, bên cạnh đó, chợ Dĩ An cũng khá nhộn nhịp kể từ khi đề pô xe lửa được xây dựng và đưa vào hoạt động

Về văn hóa - xã hội, cơ cấu dân cư của Thủ Dầu Một có các giai cấp, tầng lớp hiện diện trong đời sống xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX, bao gồm các giai cấp đã hình thành từ lâu đời (địa chủ, nông dân) và các giai cấp, tầng lớp mới (tư sản, tiểu tư sản, công nhân) Tuy nhiên, số địa chủ (tính cả phú nông) thì người việt chiếm số lượng rất ít, bởi phần lớn các đồn điền trồng cao su, cà phê, cây ăn trái Dưới tác động của công cuộc khai thác thuộc địa, các thành phần xã hội mới lần lượt hình thành ở Thủ Dầu Một Một số ít thợ thủ công làm ăn khá giả

và phú nông nhanh chóng mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh rồi dần dần “tư sản hóa”; tuy nhiên đội ngũ tư sản tại đây hết sức nhỏ bé cả về số lượng, lĩnh

(14)

Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương (2010), Địa chí Bình Dương, tập 2, Nxb

Chính trị Quốc gia Hà Nội, tr 94

Trang 24

vực sản xuất kinh doanh cũng như thực lực kinh tế Tiểu tư sản có bước phát triển khá nhanh, bao gồm nhiều bộ phận: tiểu chủ (đa phần là chủ các cơ sở thủ công), tiểu thương, trí thức, học sinh… do Thủ Dầu Một là nơi các trường tiểu học Pháp – Việt, trường nghề hoạt động sớm nên lực lượng trí thức và học sinh

ở đây có phần đông hơn so với các địa phương khác ở miền Đông Nam Kỳ Lực lượng thanh niên trí thức của Thủ Dầu Một có vai trò quan trọng trong các phong trào yêu nước và cách mạng tại địa phương

Đáng chú ý nhất là vào những năm 20 của thế kỷ XX, trên địa bàn tỉnh đã hình thành 4 vạn người bao gồm công nhân cao su, công nhân xe lửa và thợ thủ

Phần đông công nhân làm việc ở đề

pô xe lửa Dĩ An xuất thân từ nông dân và thợ thủ công nghèo người Việt sống ở các tỉnh miền Đông Nam Kỳ Ngoài bộ phận công nhân làm việc tại đề pô xe lửa

Dĩ An còn phải kể đến lực lượng công nhân làm việc trong các đồn điền chủ yếu

là đồn điền cao su (xuất thân từ nông dân lao động nhưng đa phần là lớp cư dân

từ các tỉnh miền Bắc và miền Trung chuyển vào)

Đời sống công nhân đồn điền có phần cơ cực hơn lực lượng công nhân tại

đề pô xe lửa họ làm những công việc như cạo mủ, chế biến mủ, nhân viên kỹ thuật giống, thợ cơ khí…cuộc sống cả về vật chất lẫn tinh thần họ đều bị bóc lột

khi đi trai tráng khi về bủng beo”

Sự ra đời của đội ngũ giai cấp công nhân đông đảo đã đem lại luồng sinh khí mới cho phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân Thủ Dầu Một

Bên cạnh đời sống khổ cực thì mọi sinh hoạt mang tính chất văn hóa dân tộc đều bị thực dân Pháp bóp chẹt Nền âm nhạc chỉ dành cho những người giàu

có, tầng lớp trung lưu trở lên Thời gian này, việc hoạt động âm nhạc là tự phát ở một số người, một số nhóm yêu thích và có tâm huyết Nhac dân tộc, hò vè dân

(15)

Ban thường vụ tỉnh ủy (1995), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Sông Bé, tập 1, nxb Ban

thường vụ tỉnh ủy Sông Bé,Tr.45

Trang 25

gian thời kỳ này chỉ phổ biến ở các dịp cúng đình, chùa, miếu, các dịp tết giỗ, cưới xin và ma chay Đầu thế kỉ XX, có sự ra đời và trưởng thành nhanh chóng của nghệ thuật cải lương Ngoài ra còn nhiều nghệ nhân rất giỏi về đàn kìm, đàn tranh, đàn ghi ta phím lõm Một số địa phương có truyền thống âm nhạc khá sôi nổi của tỉnh lúc đó là Phú Cường, Bến Thế, Lái Thiêu, Dĩ An…

Về tín ngưỡng, cũng như một số tỉnh ở miền Đông Nam Bộ, tín ngưỡng của cộng đồng cư dân người Việt ở Bình Dương phần đông được hình thành trên

cơ sở các tập tục truyền thống của làng xã miền Trung và miền Bắc Việt Nam,

mà trực tiếp là mô hình thôn làng Thuận – Quảng được các nhóm lưu dân người Việt mang theo vào vùng đất mới

Tôn giáo có nhiều tôn giáo xuất hiện theo sự di cư của người dân vào vùng dất này như đạo Phật du nhập vào Thủ Dầu Một khoảng cuối thế kỷ XVI, khi có lớp cư dân đầu tiên từ phía Bắc đến dịnh cư ở vùng này, Công giáo vào Thủ Dầu Một vào khoảng đầu thế kỷ XVII, khi các nhà truyền giáo phương Tây theo thương nhân ngoại quốc đến vùng đất này Khi thực dân Pháp hoàn tất việc

tổ chức bộ máy cai trị trong cả nước, thì Công giáo phát triển tương đối nhanh

Tóm lại, những đặc điểm về tự nhiên tương đối thuận lợi và đặc điểm cư dân mới di cư từ miền trung và miền bắc vào với tính cách cần cù lao động, tinh thần tương thân tương ái đã tạo nên tình đoàn kết của người dân nơi đây, mặt khác, những thay đổi về kinh tế - xã hội đã làm cho tỉnh Thủ Dầu Một mang một màu sắc mới và sự phát triển nhanh chóng cả về dân số cũng như tình hình kinh

tế - xã hội đã đánh dấu một bước thay đổi cả về vật chất lẫn tinh thần của cộng đồng cư dân trong tỉnh Trong đó, gắn liền với quá trình xâm lược của thực dân Pháp thì tình hình tôn giáo ở đây có những chuyển biến rõ rệt, số cư dân theo Công giáo ngày càng tăng lên và số giáo dân này cũng chịu tác động trực tiếp của cuộc chiến tranh, nhưng bên cạnh đó, các giáo dân cũng có những đóng góp nhất định trong đời sống xã hội trong tỉnh Thủ Dầu Một thông qua các hoạt động Công giáo của mình

Trang 26

NHÀ THỜ CHÁNH TÕA

Nguồn : Bình Dương xưa và nay

Trang 27

CHƯƠNG 2: CÔNG GIÁO Ở TỈNH THỦ DẦU MỘT TỪ NĂM 1899

ĐẾN NĂM 1945 2.1 Sự du nhập của Công giáo vào tỉnh Thủ Dầu Một

2.1.1 Giai đoạn Từ đầu thế kỷ XVII – 1802

Trước khi thống suất Lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh thiết lập nền hành chính ở Đồng Nai - Gia Định (Mậu Dần 1698) thì đã có các tín đồ Công giáo

“lác đác đến đây lập nghiệp tại vùng ven sông Đồng Nai…Như vậy, số người Công giáo tới đây đã theo đạo rồi chứ không phải tới đây mới theo đạo” Tuy nhiên, thời gian các tín đồ Công giáo vào vùng đất Thủ Dầu Một, không có tài liệu nào ghi rõ, chỉ biết rằng, vào cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII, nhiều thương nhân theo đạo cùng giáo sĩ phương Tây đã đến Việt Nam để thám hiểm,

Vào cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVIII, nhiều thương nhân theo đạo cùng giáo sĩ phương Tây đã đến vùng Viễn Đông xa xôi để thám hiểm và buôn bán Khi hai giáo sĩ Frangcois Bujomi và Diego Carvalho người Bồ Đào Nha thuộc dòng Jésuites (dòng Tên) đến Đàng Trong Việt Nam truyền giáo, thì ở Việt Nam

đã các dòng Dominicains Trong tác phẩm Khâm Định Việt Sử ghi rõ: năm Nguyên Hòa thứ nhất (1533), đời Lê Trang Tông đã có chỉ dụ cấm đạo Thiên Chúa truyền giáo Đến năm 1616 ở Đàng Trong, hai giáo sĩ Frangcois Bujomi

và Diego Carvalho cải giáo được trên 300 tín đồ người Việt

Tính đến năm 1624, số giáo sĩ phương Tây đến truyền giáo ở Đàng Trong

là 8 người

Năm 1658, Giáo hoàng cử giáo sĩ Pallu, Larmbert và Cotolendi làm Thế diện Tông tòa (Vicaire apostolique) vùng Viễn Đông, trong đó giáo sĩ Lambert được giao trọng trách phát triển nước chúa ở Đàng Trong Đến năm 1664, Hội

(16)

Địa chí Đồng Nai, tập 5, nxb Tổng hợp Đồng Nai, 2001, tr.100

Trang 28

Thừa sai Pari (Sociétedes missions éstrangères de Paris) được thành lập nhằm cai quản công việc mở nước chúa Đông Dương và các vùng phụ cận

Năm 1670, sau khi Thừa sai Mahot được cử làm Giám mục địa phận Đàng Trong, Ông cho tiến hành chỉnh đốn việc đạo và lên kế hoạch đào tạo kinh mục người bản xứ Do vậy, theo thống kê năm 1734, ở địa phận Đàng Trong có đến

Theo tài liệu của Ban Quản lý di tích và danh thắng tỉnh Bình Dương cho biết, khoảng giữa thế kỷ XVIII, tại vùng Lái Thiêu, Họ Gò đã xuất hiện do ông Phippe Nguyễn Văn Tấm và bà Marie Nguyễn Thị Y sáng lập và truyền giáo

Họ đạo Lái Thiêu được hình thành trước năm 1747

Đến năm 1771, Đức cha Bá Đa Lộc (Pigneau de beshaine) cho giáo dân dựng bàn thờ Chúa tại Chợ Cây Me ( Lái Thiêu) Hơn nữa, đến tháng 7-1789, Đức cha Bá Đa Lộc lại cho chuyển 40 chủng sinh và Chủng viện từ Chantaburi (Thái Lan) về dựng tại Lái Thiêu và cử thừa sai Boisserand làm Giám đốc Như vậy, Lái Thiêu đã trở thành cái nôi của Công giáo trong tỉnh nói riêng và vùng Nam Bộ nói chung, nơi có chủng viện, thừa sai, chủng sinh và giáo dân

Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương (2010), Địa chí Bình Dương, tập 4, Nxb

Chính trị Quốc gia Hà Nội, tr 91

Trang 29

Đến thời Minh Mạng, để yên dân trị nước, ông xem hạn chế việc phát triển của Công giáo là một chính sách lớn Do vậy, dưới thời vua Minh Mạng đã ban hành 4 sắc dụ cấm đạo vào năm 1825,1833, 1836, 1838 nhằm ngăn ngừa sự nhòm ngó đất nước của các thế lực phương Tây và hạn chế việc phát triển, lan rộng của tín đồ Công giáo

Trong nửa đầu thế kỷ XIX, số lượng tín đồ Công giáo ở Đàng Trong lên tới 100.000 người Đặc biệt là giai đoạn từ năm 1827, khi cha Jean Baptiste Taberd được làm Giám mục giáo phận Tây Đàng Trong, ở vùng đất Thủ Dầu Một, xuất hiện nhiều cơ sở Công giáo, điển hình như Giáo xứ Lái Thiêu, Giáo

xứ Brolam, Giáo xứ Thala Và đến năm 1888, vùng đất Thủ Dầu Một xuất hiện

Đến thời Tự Đức, đặc biệt khi Pháp đánh chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam

Kỳ thì vua Tự Đức mới ban hành một sắc lệnh tương đối nghiêm khắc “phân tháp giáo dân” Tuy nhiên đến tháng 6-1862, vua Tự Đức lại ký điều ước cho phép truyền giáo trên đất nước ta và cũng từ đó Công giáo được truyền bá tự do

và được pháp luật bảo vệ

Từ năm 1897, khi hai trung tâm nghiên cứu cao su được thực dân Pháp thành lập tại Ôm Yêm và 3 công ty cao su lớn của Pháp đều lập đồn đền tại Thủ Dầu Một Theo đó, các giáo sĩ phương Tây đã tiến hành xây dựng nhà thờ và truyền bá đạo giáo, làm cho tín đồ Công giáo tăng lên nhanh chóng

Có thể nói, sự du nhập đạo Công giáo vào Việt Nam nói chung và tỉnh Thủ Dầu Một nói riêng thì sự du nhập của Công giáo vào tỉnh Thủ Dầu Một theo hai con đường: thứ nhất, con đường hòa bình hay là theo các thương nhân nước ngoài vào buôn bán và từ đó hình thành đạo, thứ hai, theo con đường xâm lược của thực dân vào Việt Nam, truyền giáo để lợi dụng tôn giáo đó phục vụ cho nhu cầu xâm lược thuộc địa của mình Nhưng dù là bằng con đường nào thì

Chính trị Quốc gia Hà Nội, tr 93

Ngày đăng: 21/06/2021, 21:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Bình Dương (2003), Lịch sử đảng bộ tỉnh Bình Dương (1930 – 1975), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử đảng bộ tỉnh Bình Dương (1930 – 1975)
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Bình Dương
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
2. Ban thường vụ tỉnh ủy Sông Bé(1995), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Sông Bé, tập 1, Nxb Ban thường vụ tỉnh ủy Sông Bé Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Sông Bé, tập 1
Tác giả: Ban thường vụ tỉnh ủy Sông Bé
Nhà XB: Nxb Ban thường vụ tỉnh ủy Sông Bé
Năm: 1995
3. Trác Tân Bình (2007), Lý giải tôn giáo, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý giải tôn giáo
Tác giả: Trác Tân Bình
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2007
4. Nguyễn Hồng Dương (2012), Một số vấn đề cơ bản của Công giáo ở Việt Nam hiện nay, Nxb từ điển bách khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề cơ bản của Công giáo ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Hồng Dương
Nhà XB: Nxb từ điển bách khoa
Năm: 2012
5. Nguyễn Hồng Dương (2012), Công giáo Việt Nam – tri thức cơ bản, Nxb từ diển bách khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công giáo Việt Nam – tri thức cơ bản
Tác giả: Nguyễn Hồng Dương
Nhà XB: Nxb từ diển bách khoa
Năm: 2012
6. Nguyễn Hồng Dương (2003), Nhà thờ Công giáo Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà thờ Công giáo Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hồng Dương
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2003
7. Trần Chí Đạo (2004), Lịch sử đạo Thiên chúa, Nxb Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử đạo Thiên chúa
Tác giả: Trần Chí Đạo
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2004
8. Địa chí Đồng Nai, Nxb Tổng hợp Đồng Nai, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí Đồng Nai
Nhà XB: Nxb Tổng hợp Đồng Nai
9. Địa chí tỉnh sông Bé, Nxb Tổng hợp sông Bé, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí tỉnh sông Bé
Nhà XB: Nxb Tổng hợp sông Bé
10. Mai Thanh Hải (2006), Các tôn gióa trên thế giới và Việt Nam, tập 2, Nxb văn hóa thông tin Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tôn gióa trên thế giới và Việt Nam
Tác giả: Mai Thanh Hải
Nhà XB: Nxb văn hóa thông tin Hà Nội
Năm: 2006
11. Nguyễn Hồng (2009), Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam, tập 1, Nxb Từ điển Bách khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hồng
Nhà XB: Nxb Từ điển Bách khoa
Năm: 2009
13. Nguyễn Văn Hiệp (2005), luận văn thạc sĩ “Những chuyển biến kinh tế - xã hội ở bình dương từ sau ngày tái lập tỉnh (1997 – 2003)” Sách, tạp chí
Tiêu đề: luận văn thạc sĩ “Những chuyển biến kinh tế - xã hội ở bình dương từ sau ngày tái lập tỉnh (1997 – 2003)
Tác giả: Nguyễn Văn Hiệp
Năm: 2005
14. Nguyễn Ngọc Huỳnh (2012), Chính sách tôn giáo thời Tự Đức (1848 – 1883), Nxb Chính trị Quốc gia – sự thật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách tôn giáo thời Tự Đức (1848 – 1883)
Tác giả: Nguyễn Ngọc Huỳnh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia – sự thật Hà Nội
Năm: 2012
15. Đỗ Quang Hưng (2007), Vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt Nam, lý luân và thực tiễn, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt Nam, lý luân và thực tiễn
Tác giả: Đỗ Quang Hưng
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
16. Đỗ Quang Hưng (2012), công giáo trong mắt tôi, Nxb Tôn giáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: công giáo trong mắt tôi
Tác giả: Đỗ Quang Hưng
Nhà XB: Nxb Tôn giáo
Năm: 2012
17. Nguyễn Quang Hưng (2009), Công giáo Việt Nam dưới triều Nguyễn (1802 – 1883), Nxb Tôn giáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công giáo Việt Nam dưới triều Nguyễn (1802 – 1883)
Tác giả: Nguyễn Quang Hưng
Nhà XB: Nxb Tôn giáo
Năm: 2009
18. Hội đồng Giám mục Việt Nam (2007), Bộ Giáo luật 1983, Nxb Tôn giáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Giáo luật 1983
Tác giả: Hội đồng Giám mục Việt Nam
Nhà XB: Nxb Tôn giáo
Năm: 2007
19. Nguyễn Văn Kiệm (2001), Sự du nhập của đạo Thiên chúa giáo vào Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thê kỷ XIX, Nxb Hội khoa học lịch sử Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự du nhập của đạo Thiên chúa giáo vào Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thê kỷ XIX
Tác giả: Nguyễn Văn Kiệm
Nhà XB: Nxb Hội khoa học lịch sử Việt Nam
Năm: 2001
20. Kỷ yếu giáo xứ Lái Thiêu, Nxb thời đại, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu giáo xứ Lái Thiêu
Nhà XB: Nxb thời đại
21. Lê Văn Long (2008), luận văn thạc sĩ “sự du nhập và phát triển thiên chúa giáo tại Bình Dương” Sách, tạp chí
Tiêu đề: luận văn thạc sĩ “sự du nhập và phát triển thiên chúa giáo tại Bình Dương
Tác giả: Lê Văn Long
Năm: 2008

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w