1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bước đầu tìm hiểu quan hệ việt xiêm thời vương triều nguyễn thế kỷ XIX

69 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 780,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu Khóa luận tập trung tìm hiểu mối quan hệ Việt – Xiêm thời vương triều Nguyễn với đầy đủ các đặc điểm, tính chất của nó, đặc biệt làm rõ được những bước p

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và trích dẫn trong khóa luận là trung thực Mọi ý kiến, khái niệm có ý nghĩa mang tính chất gợi ý, và mọi tham khảo khác không phải của người viết được trích dẫn và ghi rõ nguồn trong danh mục Tài liệu tham khảo của khóa luận

Bình Dương, ngày tháng năm 2014

Tác giả

Đặng Thị Thùy Nga

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Khóa luận “Bước đầu tìm hiểu quan hệ Việt – Xiêm thời vương triều

Nguyễn thế kỷ XIX” được hoàn thành với sự quan tâm động viên và giúp đỡ

của nhiều người

Em xin gửi lời cảm ơn đến người thân và gia đình đã động viên, ủng

hộ cho em Xin cảm ơn các bạn học trong và ngoài lớp đã giúp đỡ em trong việc tìm kiếm các nguồn tài liệu tham khảo và đưa ra ý kiến đóng góp cho đề tài khóa luận của em được hoàn thiện hơn

Đồng thời, em xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô trong Khoa Sử, trường Đại học Thủ Dầu Một đã giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình học tập và hoàn thành đề tài khóa luận

Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến Tiến sĩ Huỳnh Ngọc Đáng; thầy đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong suốt quá trình tìm kiếm tư liệu và viết bài để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Một lần nữa em xin trân trọng cảm ơn!

Trang 4

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

Bình Dương, Ngày tháng năm 2014

Trang 5

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN

Bình Dương, Ngày tháng năm 2014

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

DẪN LUẬN 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề và nguồn tài liệu 2

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Đóng góp của đề tài 7

7 Cấu trúc của đề tài 7

NỘI DUNG 9

Chương 1 Cơ sở dẫn đến mối quan hệ Việt – Xiêm thời vương triều Nguyễn thế kỷ XIX 9

1.1 Nước Việt trong thế kỷ XIX 9

1.1.1 Tình hình kinh tế - xã hội 9

1.1.2 Tình hình chính trị 13

1.2 Nước Xiêm trong thế kỷ XIX 16

1.2.1 Tình hình kinh tế - xã hội 16

1.2.2 Tình hình chính trị 18

Chương 2 Quan hệ Việt – Xiêm thời vương triều Nguyễn thế kỷ XIX 21

2.1 Khái quát mối quan hệ Việt – Xiêm trước thế kỷ XIX 21

2.2 Các yếu tố tác động đến mối quan hệ Việt - Xiêm 23

2.2.1 Bối cảnh khu vực 23

2.2.2 Yếu tố kinh tế - chính trị 26

2.2.3 Yếu tố Chân Lạp 27

Trang 7

2.2.4 Yếu tố Hà Tiên 31

2.3 Diễn biến của mối quan hệ Việt – Xiêm thời vương triều Nguyễn thế kỷ XIX 34

2.3.1 Thời Gia Long 34

2.3.2 Thời Minh Mệnh 40

2.3.3 Thời Thiệu Trị 46

2.4 Nhận xét về mối quan hệ Việt – Xiêm thời vương triều Nguyễn thế kỷ XIX 52

KẾT LUẬN 56

TÀI LIỆU THAM KHẢO 59

Trang 8

Đầu thế kỷ XIX, khi triều Nguyễn ra đời vào năm 1802, Việt Nam trở thành một thế lực chính trị và quân sự lớn mạnh trong khu vực Điều này đã làm thay đổi tương quan lực lượng giữa các quốc gia ở bán đảo Đông Dương Trước vị thế lớn mạnh của Việt Nam, hai nước Lào và Chân Lạp vốn là thuộc quốc của Xiêm phải thay đổi chính sách đối ngoại với hai thế lực phong kiến hùng mạnh ở phía Tây (Xiêm) và phía Đông (Việt Nam) Chính cục diện này phản ánh quan hệ các mặt giữa Việt Nam và nước Xiêm trong thời gian này

Nước Xiêm (Thái Lan) thuộc khu vực Đông Nam Á với diện tích hiện nay khoảng 514.000 km2 lớn thứ 50 trên thế giới; phía bắc giáp Lào - Myanma, phía đông giáp Lào - Campuchia, phía nam giáp vịnh Thái Lan - Malaysia, phía tây giáp Myanma - biển Andaman Đến thế kỷ thứ XIX, nước Xiêm đã trải qua thời kỳ trị vì của ba đời vua đầu tiên của triều đại Chakri: vua Rama I (1782-1809), vua Rama II (1809–1824), vua Rama III (1824-1851) Với tham vọng mở rộng lãnh thổ của mình về phía Đông, nước Xiêm

đã thực hiện chính sách bành trướng, xâm lược với các nước lân bang, nhất

Trang 9

là Lào và Chân Lạp Theo chiều hướng lịch sử đó, nước Xiêm tất yếu phải xung đột và tranh giành ảnh hưởng với Việt Nam

Vào thế kỷ XIX, quan hệ Việt – Xiêm có những bước phát triển thăng trầm, diễn biến phức tạp, đa dạng, để lại những dấu ấn sâu đậm trong lịch sử mỗi nước Cho nên việc nghiên cứu về thời kỳ này có ý nghĩa quan trọng cả

về lý luận, nhận thức và thực tế Trước hết, nó giúp mọi người hiểu đầy đủ, sâu sắc hơn về các quan hệ kinh tế, chính trị, ngoại giao, quân sự…giữa Việt Nam và Thái Lan trong lịch sử, cả những lúc yên ả, hòa bình và những thời điểm xung đột, tranh chấp ngấm ngầm hay quyết liệt Qua nghiên cứu quan

hệ Việt-Xiêm trong lịch sử thời kỳ này, chúng ta sẽ hiểu sâu sắc hơn cái giá của hòa bình, hợp tác và hậu quả thảm khốc của xung đột, chiến tranh giữa hai nước, nhất là khi cả hai dân tộc đều đang đứng trước hiểm họa xâm lược của phương Tây Nhận thức có được từ đây sẽ giúp chúng ta có thêm những kinh nghiệm quan trọng, có thể tham khảo trong quá trình xây dựng và bảo

vệ tổ quốc Những bài học và kinh nghiệm lịch sử rút ra được qua nghiên cứu về quan hệ Việt-Xiêm trong thời kỳ nhiều thăng trầm và phức tạp này chắc chắn sẽ được vận dụng tốt để củng cố quan hệ Việt – Thái và xây dựng cộng đồng các nước ASEAN ngày càng đoàn kết, độc lập, hợp tác vì hòa bình và phát triển, phù hợp với đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa của Việt Nam

Như vậy, đề tài khóa luận “Bước đầu tìm hiểu quan hệ Việt – Xiêm thời vương triều Nguyễn thế kỷ XIX” có ý nghĩa khoa học và thực tiễn quan

trọng Nó xứng đáng được quan tâm, triển khai nghiên cứu như một đề tài khoa học nghiêm túc

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề và nguồn tài liệu

Quan hệ Việt-Xiêm trong lịch sử được nhiều tác giả quan tâm nghiên

Trang 10

cứu

Trước hết, đó là các công trình nghiên cứu chung về quan hệ ngoại giao của Việt Nam trong lịch sử, trong đó có thời vương triều Nguyễn và

chúa Nguyễn Tiêu biểu nhất loại này là Nguyễn Lương Bích (1996), Lịch

sử ngoại giao Việt Nam các thời trước, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội

Trong đó tác giả đã đề cập, dù rất khái quát quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam với Xiêm thời vương triều Nguyễn Một số công trình nghiên cứu khác tuy nghiên cứu lịch sử nói chung nhưng cũng đã đề cập đến hoạt động ngoại giao của Việt Nam (thời vương triều Nguyễn) hoặc Thái Lan (thời các vua

Rama I, II, III) như các công trình của Lê văn Quang, Lịch sử vương quốc

Thái Lan (1995), Nxb Tp.Hồ Chí Minh; TS Đỗ Quỳnh Nga (chủ biên)

(2013), Công cuộc mở đất Tây Nam Bộ thời chúa Nguyễn, Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật Hà Nội; Nguyễn Phan Quang (1999), Việt Nam thế kỷ

XIX ( 1802 - 1884 ), Nxb Thành phố Hồ Chí Minh; Nguyễn Văn Nam

(2008), Tìm hiểu lịch sử các nước Đông Nam Á – Asean (trước công nguyên

đến thế kỷ XX), Nxb Hà Nội…các công trình nghiên cứu này giúp cho tác

giả khóa luận có những hiểu biết chung về lịch sử quan hệ Việt - Xiêm trong tổng thể lịch sử ngoại giao Việt Nam và Thái Lan

Quan trọng nhất là những công trình nghiên cứu trực tiếp về quan hệ Việt - Xiêm thời Vương triều Nguyễn Trong đây phải đặc biệt kể đến tác giả Đặng Văn Chương và các công trình nghiên cứu của ông: Đặng Văn Chương

(chủ biên), Quan hệ Xiêm – Việt từ 1782-1847, (luận án Tiến sĩ), Bộ giáo

dục và đào tạo Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Nxb Hà Nội năm 2003;

Đặng Văn Chương (2002), uộc tấn công của Xiêm vào Hà Tiên và hâu

Đốc cuối n m đầu n m , Tạp chí khoa học, Đại học Huế, số 12;

ngoài ra còn có một số bài viết khác của ông về quan hệ Việt – Xiêm thế kỷ XIX Các công trình này rất sát với đề tài mà khóa luận đang tìm hiểu, trình

Trang 11

bày khá chi tiết những diễn biến đầy căng thẳng và thăng trầm trong mối quan hệ bang giao Việt –Xiêm, thế kỷ XIX

Về nguồn tài liệu, vì đề tài chủ yếu nghiên cứu về triều Nguyễn ở thế

kỷ XIX, nên trong khóa luận đã khai thác nhiều tư liệu từ thư tịch cổ triều Nguyễn, nhất là bộ Đại Nam Thực Lục (bản dịch của Nhà xuất bản Sử học,

Hà Nội) Tài liệu này cung cấp những tư liệu sống động, có giá trị lịch sử về mối quan hệ bang giao của triều Nguyễn với vương quốc Xiêm, trong thế kỷ XIX

Khóa luận cũng sử dụng những tư liệu viết về lịch sử Việt Nam và Thái Lan, trong đó có bao hàm quan hệ Việt - Xiêm thời triều Nguyễn Việt Nam và thời các vua Rama Thái Lan, bao gồm các công trình nghiên cứu in thành sách sách hoặc đăng tải trong các tạp chí khoa học lịch sử Các tài liệu này giúp khóa luận xác định được những nội dung liên quan về bối cảnh lịch sử, tình hình kinh tế - xã hội của Việt – Xiêm…có tác động đến mối quan hệ này vào thế kỷ XIX Ngoài ra, khóa luận đã tiếp thu và kế thừa

nhiều nội dung giá trị trong luận án Quan hệ Xiêm – Việt từ 7 2-1847 của

TS Đặng Văn Chương và các bài viết chuyên đề của ông về quan hệ Việt – Xiêm qua các thời kỳ

Khóa luận còn khai thác và sử dụng nguồn tài liệu từ mạng Internet Nguồn tài liệu này tuy không nhiều nhưng cũng góp phần cung cấp thêm những nội dung cần thiết cho đề tài khóa luận

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Khóa luận tập trung tìm hiểu mối quan hệ Việt – Xiêm thời vương triều Nguyễn với đầy đủ các đặc điểm, tính chất của nó, đặc biệt làm rõ được những bước phát triển của quan hệ này, lúc hòa bình hữu nghị, lúc xung đột

Trang 12

và mâu thuẫn trong vấn đề tranh giành quyền lực, mở rộng lãnh thổ ra các nước láng giềng

Qua đây nâng cao được sự hiểu biết và rút ra được thêm nhiều kinh nghiệm lịch sử quý giá trong quá trình xây dựng, phát triển các mối quan hệ bang giao trong khu vực, không ngừng tăng cường và có những nhận thức, hành động đúng đắn nhằm xây dựng quan hệ Việt – Thái ngày càng vững mạnh, hợp tác, đoàn kết và hữu nghị trong quá trình hội nhập quốc tế

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung làm rõ các diễn biến lịch sử trong quan hệ Việt – Xiêm thời vương triều Nguyễn; ngoài ra còn chú ý phân tích làm rõ bối cảnh lịch sử của khu vực, đặc điểm về tình hình kinh tế - xã hội, chính trị của hai nước, đặc điểm của Lào – Chân Lạp đối với việc thiết lập mối quan hệ giữa Việt – Thái

Phạm vi nghiên cứu: khóa luận nghiên cứu quan hệ Việt - Xiêm thời vương triều Nguyễn, nhưng chủ yếu tập trung sâu vào ba đời vua đầu tiên (Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị); còn ở thời Tự Đức, cả Việt Nam và Xiêm đều điêu đứng trước công cuộc gây hấn và xâm lược của các nước phương Tây Việt Nam đã bị thực dân Pháp xâm lược và trở thành thuộc địa của Pháp Xiêm may mắn hơn, tuy bị thực dân phương Tây xâm lược nhưng nhờ vào chính sách ngoại giao mềm dẻo, khôn khéo nên đã bảo vệ được nền độc lập, tự chủ của đất nước, nhưng vị thế với khu vực không còn lớn mạnh như trước Vì vậy, quan hệ Việt –Xiêm trong giai đoạn này chỉ được đề cập

sơ lược

Khóa luận cũng có một dung lượng thích hợp đề cập đến thời kỳ trước vương triều Nguyễn, nhất là thời các chúa Nguyễn, về các hoạt động bang giao Việt - Xiêm trong thời kỳ này để góp phần phục vụ cho nội dung chính

Trang 13

Về không gian: Tập trung vào các diễn biến lịch sử quan hệ Việt – Xiêm giữa vương triều Nguyễn và vương quốc Xiêm, kể cả những sự kiện và diễn biến lịch sử của mối quan hệ này diễn ra ở Lào, Chân Lạp

5 Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận “Bước đầu tìm hiểu quan hệ Việt – Xiêm thời vương triều Nguyễn thế kỷ XIX” lấy Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm

nền tảng tư tưởng, làm kim chỉ nam để nghiên cứu làm rõ vấn đề

Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp lịch sử và phương pháp phân tích nhằm nêu nổi bật nội dung cốt lõi và những đặc trưng của vấn đề

Phương pháp lịch sử chủ yếu được sử dụng để làm rõ được các bước phát triển của mối quan hệ Việt – Xiêm qua từng thời kỳ lịch sử cụ thể, giới thiệu khái quát lịch sử của đất nước Thái Lan và Việt Nam, mặt khác còn khắc họa được những sự kiện lịch sử cụ thể và những cuộc đấu tranh tiêu biểu liên quan đến việc thiết lập mối quan hệ giữa hai nước, nói lên được lịch sử hình thành và phát triển của quan hệ Việt - Xiêm trong lịch sử

Phương pháp phân tích chủ yếu làm rõ các đặc điểm tình hình kinh tế, chính trị, xã hội và quân sự của hai nước; phân tích các nguyên nhân cụ thể làm cho mối quan hệ Việt – Xiêm từ hòa hiếu yên ấm lại chuyển sang xung đột, làm nổi bật được quá trình tranh giành ảnh hưởng của hai nước trong quá trình bành trướng và mở rộng lãnh thổ; phân tích được các yếu tố tác động sâu sắc đến quan hệ Việt – Xiêm đó là Chân Lạp và Hà Tiên, làm rõ được tình hình bối cảnh khu vực của Đông Nam Á trong việc thiết lập xây dựng mối quan hệ giao hảo Việt - Xiêm

Đồng thời trong khóa luận còn có sự kết hợp sử dụng các phương pháp khác như tổng hợp và xử lý, sưu tầm, đọc và ghi chép tài liệu một cách

cụ thể, đảm bảo sự đúng đắn và trung thực về các sự kiện lịch sử… để hoàn

Trang 14

6 Đóng góp của đề tài

Đề tài góp phần nâng cao nhận thức lý luận, tầm hiểu biết cho người đọc, tạo cho mọi người có cái nhìn sâu sắc hơn về mối quan hệ Việt – Xiêm thế kỷ XIX; cung cấp nguồn tài liệu cần thiết cho mọi người khi tìm hiểu và nghiên cứu về quan hệ Việt – Xiêm thời vương triều Nguyễn

Khóa luận đã tái hiện lịch sử mối quan hệ Việt – Xiêm để người đọc nhận thấy được đặc điểm và bản chất hiện thực của nó qua các thời kỳ, hiểu được những chính sách ngoại giao của hai nước và quá trình mở rộng lãnh thổ cũng như quá trình xâm lược bành trướng quyền lực

Nghiên cứu đề tài này góp phần nâng cao kinh nghiệm và hiểu biết nhất định trong việc xây dựng quan hệ Việt – Xiêm ở khu vực Đông Nam Á, góp phần bồi dưỡng thêm những kiến thức còn thiếu sót, phục vụ cho công tác học tập và giảng dạy sau này

Đề tài khóa luận cho thấy mối quan hệ Việt – Xiêm thế kỷ XIX có thời kỳ yên ấm hòa bình, hai bên đã không ngừng bảo vệ và gìn giữ quan hệ tốt đẹp này, giúp cho kinh tế và giao thương giữa nhân dân hai nước ngày càng thêm thịnh vượng Nhưng cũng có lúc quan hệ Việt - Xiêm đi vào xung đột, chiến tranh liên miên, để lại hậu quả nặng nề cho nhân dân hai nước Khóa luận, qua trình bày và phân tích các diễn biến lịch sử có thể khái quát được những bài học kinh nghiệm quan trọng trong việc gìn giữ hòa bình, hợp tác, đẩy lùi nguy cơ xung đột, chiến tranh, xây dựng ASEAN thành khu vực hòa bình, ổn định hợp tác và phát triển

7 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận khóa luận có cấu trúc nội dung gồm hai chương

Chương 1: ơ sở dẫn đến mối quan hệ Việt – Xiêm thời vương triều

Nguyễn thế kỷ XIX Ở chương này chủ yếu làm rõ những vấn đề về tình hình

kinh tế, chính trị, xã hội của hai nước Việt – Xiêm thế kỷ XIX và khái quát

Trang 15

được mối quan hệ Việt – Xiêm trước thế kỷ XIX Chương này có ý nghĩa rất quan trọng trong toàn bộ khóa luận, nó cung cấp được đặc điểm, bản chất của từng nước trong quá trình thiết lập mối quan hệ ngoại giao, làm rõ mối quan hệ bang giao của Việt – Xiêm trước thế kỷ XIX, khắc họa được sâu sắc những chuyển biến về kinh tế - xã hội và sức mạnh quân sự của Việt – Xiêm, cho thấy hai nước đều có thế lực cân bằng với nhau, đồng thời đây còn là những nội dung cơ bản chi phối xuyên suốt trong khóa luận

Chương 2: Quan hệ Việt –Xiêm thời vương triều Nguyễn thế kỷ XIX

Chương này chủ yếu làm rõ bối cảnh của khu vực Đông Nam Á và các yếu

tố tác động đến mối quan hệ Việt – Xiêm như Chân Lạp – Lào, Hà Tiên đây

là các nhân tố chính làm cho quan hệ ngoại giao giữa hai nước ngày càng có những diễn biến phức tạp qua từng thời vua Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị; từ đó sẽ nhận thức bản chất những biến đổi phức tạp trong việc tranh giành ảnh hưởng, mở rộng chủ quyền lãnh thổ của quốc gia Chương 2 trình bày nội dung chính của khóa luận, giúp làm rõ hơn về sự thay đổi của quan

hệ Việt – Xiêm, qua đây còn muốn nhắc nhở, giáo dục mọi người nên biết tôn trọng, bảo vệ tốt đẹp những gì đã có trong suốt quá trình lịch sử mới xây dựng được, nên xây dựng mối quan hệ thân thiện, hữu nghị, không nên sử dụng chiến tranh để mở rộng thế lực của nước mình mà hãy cố gắng tạo ra những mối quan hệ thân thiện và hữu nghị, góp phần xây dựng và đưa đất nước phát triển

Trang 16

NỘI DUNG Chương 1: Cơ sở dẫn đến mối quan hệ Việt – Xiêm thời vương

triều Nguyễn thế kỷ XIX 1.1 Nước Việt trong thế kỷ XIX

1.1.1 Tình hình kinh tế - xã hội

Vào năm 1802 sau khi đánh bại hoàn toàn quân Tây Sơn Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế lấy niên hiệu là Gia Long (1802-1883), chính thức thành lập vương triều Nguyễn Năm 1803, triều Nguyễn được nhà Thanh chính thức phong vương và đổi tên nước thành Việt Nam vào năm 1804 Từ đây, triều Nguyễn đã bắt đầu làm chủ một đất nước Việt Nam rộng lớn thống nhất

từ Nam Quan đến mũi Cà Mau

Sau khi lên ngôi hoàng đế vua Gia Long đã không ngừng quan tâm việc khai hoang mở rộng diện tích đất đai cho nông dân canh tác Đến năm

1836, thời vua Minh Mạng đã khai thác được 4.063.892 mẫu ruộng, trong khi đó ruộng đất thuộc sỡ hữu của nhà nước chỉ có 580.363 mẫu, số còn lại

là ruộng tư các loại, duy trì và mở rộng diện tích ruộng đất công cho dân Để tăng cường mở rộng diện tích đất đai canh tác cho nông dân, triều Nguyễn đã thực hiện chế độ quân điền chia đều ruộng đất công cho dân canh tác

Năm 1840, vua Minh Mệnh đã điều chỉnh lại phép quân điền: “Tất cả quan lại, quân lính và dân thường đều nhận số phần như nhau là 01 phần, các đối tượng khác nhận bằng 1/2 phần (lão nhiêu, lão hạng, phế tật, đốc tật) hoặc 1/3 phần (cô nhi, quả phụ)”1 Qua đây ta có thể thấy được rằng sau khi vua Minh Mạng điều chỉnh lại chính sách đã thể hiện được sự quan tâm đúng

1 TS Huỳnh Ngọc Đáng (2012), Vương triều Nguyễn, thế kỷ XIX, Giáo trình Lịch

sử Việt Nam chuyên đề [trang 48]

Trang 17

đắn, tiến bộ hơn về mặt ruộng đất cho người dân, nhưng bên cạnh đó người dân vẫn còn tình trạng bị bóc lột nặng nề, xã hội Việt Nam ngày càng đi vào tình trạng bất ổn

Mặt khác triều Nguyễn đã không ngừng quan tâm đến công tác trị thủy, sửa sang đê điều cho dân Sau khi lên ngôi vua Gia Long đã lo tu bổ sửa chữa đê cũ, đắp thêm nhiều đê mới; tiến hành đào kinh Vĩnh Tế và kinh Thoại Hà phục vụ cho việc trồng trọt Việc đắp đê được triều đình quan tâm đặc biệt, các công việc được tiến hành khá tỉ mỉ Tuy nhiên, nạn vỡ đê vẫn xảy ra thường xuyên kéo theo nhiều thiệt hại nặng nề về kinh tế - xã hội

Nhờ vào những chính sách mang tính trọng nông của triều Nguyễn đã làm cho tình hình nông nghiệp ở nước ta vào thế kỷ XIX đã có những bước phát triển nhất định về khai hoang và sản xuất lương thực ở các vùng đồng bằng Tuy nhiên, do chính sách quá chú trọng đất công của triều đình đã làm cho số diện tích ruộng đất tư bị hạn chế không thể động viên được nền sản xuất nông nghiệp phát triển, bên cạnh đó, chính sách đê điều bị thất bại đã làm cho nền nông nghiệp Việt Nam chưa có tiềm lực phát triển, đời sống người dân vẫn còn khó khăn chưa được ổn định như những mong muốn khi mới thành lập của triều Nguyễn

Với công nghiệp: Nhà Nguyễn đã làm ra nhiều xưởng đúc tiền, đúc súng, đóng tàu, tập trung ở kinh thành Huế, Hà Nội, Gia Định và các tỉnh khác Năm 1803, vua Gia Long đã lập xưởng đúc tiền ở Hà Nội Năm 1812 nhà Nguyễn đã đúc thêm tiền kẽm và đến năm 1816 tiền kẽm đã được lưu thông trong cả nước, bên cạnh đó triều Nguyễn còn quan tâm nhiều đến việc khai mỏ, nhất là các mỏ kim loại quý

Năm 1830 - 1840, vua Minh Mệnh đã chế tạo chiếc tàu chạy bằng hơi nước đầu tiên, từ những việc làm này của triều Nguyễn cho thấy được trình

Trang 18

độ và khả năng phát triển công nghệ ở nước ta vào thế kỷ XIX đã nâng cao được hiểu biết của người dân

Với thủ công nghiệp: Trong thế kỷ XIX, các làng nghề thủ công ở nông thôn và thành thị đã không ngừng phát triển, nhiều thợ thủ công chuyên nghiệp đã tăng lên một cách đáng kể, triều Nguyễn tổ chức thu thuế và thu mua sản phẩm thường với giá rất thấp Tuy nhiên, nhìn chung các hoạt động thủ công nghiệp trong dân gian còn rất phân tán, rời rạc, lẻ tẻ

Những chính sách đối với công nghiệp (có cả khai mỏ) và thủ công nghiệp tuy đã có những cố gắng nhất định nhưng vẫn còn nhiều hạn chế đã không làm cho kỹ thuật phát triển và sản xuất không đạt được nhiều thành tựu; do những chính sách sai lầm của triều Nguyễn đã làm cho nền thương nghiệp lâm vào tình trạng lạc hậu và trì trệ

Đối với các hoạt động nội thương: Bước sang thế kỷ XIX, trong điều kiện quốc gia thống nhất không còn tình trạng chia cắt dẫn đến xu thế phát triển kinh tế thị trường ngày càng được thể hiện rõ hơn, được biểu hiện cụ thể dưới triều vua Gia Long nhiều kênh ngòi được khai đào và những tuyến giao thông quan trọng đã được sửa chữa và xây dựng mới, thúc đẩy giao lưu kinh tế giữa các vùng phát triển Mặt khác nhà nước vẫn còn tình trạng nắm độc quyền mua bán nhiều sản phẩm công nghiệp quan trọng trong nước đã làm cho nền kinh tế hàng hóa không có điều kiện phát triển Nhà Nguyễn còn thực hiện thống nhất đơn vị đo lường và hệ thống tiền tệ ở trong khu vực Nhìn chung thương nghiệp có bước phát triển mạnh mẽ, thị trường mở rộng và thống nhất đến nhiều vùng, Việt Nam có đủ điều kiện để tiếp tục phát triển các mối quan hệ ngoại thương với các nước trong khu vực và trên thế giới

Trang 19

Đối với ngoại thương: Vào thế kỷ XIX, các vua triều Nguyễn vấp phải một mâu thuẫn lớn giữa lập trường cương quyết không bang giao chính thức với các nước phương Tây với mong muốn giao thương, buôn bán với các thuyền buôn đến từ các nước này để tranh thủ lợi ích các mặt, chính mâu thuẫn này này đã dần dần hình thành chính sách bế quan tỏa cảng của triều Nguyễn Vào thế kỷ XIX, thuyền buôn các nước láng giềng như Xiêm, Malaysia thường xuyên sang mua bán hàng hóa ở nước ta Đồng thời nhà Nguyễn còn rất xem trọng mối quan hệ bang giao với nhà nước Mãn Thanh

và các thuyền buôn Trung Hoa

Những hoạt động về nội thương và ngoại thương của triều Nguyễn đã không tạo được những bước phát triển đáng kể trong và ngoài khu vực, bên cạnh đó những chính sách bất cập của nhà Nguyễn đã làm cho ngoại thương

bị ức chế, đình đốn, không có điều kiện mở rộng giao thương với bên ngoài

Về mặt xã hội: Dù chú ý trọng nông nhưng nông nghiệp triều Nguyễn luôn điêu đứng Vào thế kỷ XIX, nhà Nguyễn đã ban hành nhiều chính sách nhằm ổn định xã hội và phát triển kinh tế, nhưng do thiên tai mất mùa xảy ra thường xuyên đã dẫn đến nhiều trận nạn đói lớn trong nhân dân; các vua triều Nguyễn đã có những biện pháp cứu giúp dân thoát khỏi tình trạng khó khăn như mở kho thóc chẩn cấp cho dân đói hoặc cho dân vay lúa, khuyến khích các nhà giàu quyên góp tiền, gạo để cứu tế cho dân, mặt khác triều đình cũng chú ý miễn giảm thuế cho nông dân, miễn giảm thuế nhưng các biện pháp này đều bị hạn chế do quan lại tham ô Chính những việc làm sai trái của vua quan triều đình đã làm cho đời sống của người dân ngày càng cơ cực họ đã phải nổi dậy đấu tranh như cuộc nổi dậy của Phan Bá Vành ở Nam Định (1826-1827), cuộc nổi dậy của Lê Duy Lương (1832-1838), cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi, Cao Bá Quát…

Trang 20

Nhìn chung tình hình kinh tế - xã hội ở Việt Nam thế kỷ XIX đã vấp phải những khó khăn làm cho kinh tế trong và nước không phát triển như mong muốn từ đầu của triều Nguyễn; quan lại vơ vét, tham nhũng, bóc lột làm cho đời sống nông dân cơ cực họ phải nổi dậy đấu tranh chống lại triều đình để tìm ra được một cuộc sống tốt hơn đưa đất nước phát triển hơn và thoát khỏi cảnh bần cùng thối nát của chế độ phong kiến

át uy quyền của nhà vua, Gia Long đặt ra lệ “bốn không” (tứ bất): trong triều không đặt chức tể tướng, thi đình không lấy trạng nguyên, trong cung không lập hoàng hậu, không phong tước vương cho người khác Các chức tứ trụ, tam thái, tam thiếu là những trọng chức có quyền lực rất lớn ở những triều đại trước nhưng dưới triều Nguyễn chỉ còn là những vinh hàm gia phong cho công thần

Khi mới lên ngôi vua Gia Long chưa có ý định tập trung vương quyền cao độ nhưng nhằm đề phòng những phản ứng ở các địa phương ông đã cho xây dựng kinh đô Huế vào năm 1804, kinh đô này được chính thức hoàn thành vào khoảng năm 1830 thời vua Minh Mạng Nhà vua còn phải duy trì những khu vực hành chính lớn như: Chia nước ra làm 23 trấn và 4 doanh, lại thành lập Bắc Thành (gồm 13 trấn), Gia Định Thành (gồm 5 trấn) do các chức tổng trấn nắm mọi quyền hành, tư pháp, quân sự… miền đất còn lại từ Thanh Hóa đến Bình Thuận đặt dưới quyền cai trị trực tiếp của triều đình

Trang 21

Đến thời Minh Mạng (1820-1840), tính chất chuyên chế phát triển cao

độ song song với việc hạn chế quyền hành của các cấp địa phương Nhà vua đặt thêm Cơ mật viện, lấy bốn đại thần ở các bộ sung vào để cùng nhà vua bàn bạc những việc quân trọng yếu; lại đặt thêm Tôn nhân phủ là cơ quan quản lý công việc của hoàng tộc Bắc Thành, Gia Định Thành bị bãi bỏ và cả nước được chia ra làm 29 tỉnh (sau lại chia thêm thành 31 tỉnh), đứng đầu mỗi tỉnh có chức tổng đốc, dưới tổng đốc có bố chánh, án sát; ở phủ có tri phủ, huyện có tri huyện, châu có tri châu

Ở miền thượng du nhà Nguyễn khó lòng trực tiếp khống chế vẫn phải dựa vào các tù trưởng nhưng thường đặt thêm viên quan của triều đình gọi là chiêu thảo sứ, lại có thêm chức “lưu quan” nhằm trực tiếp kiềm chế nhân dân giảm dần quyền hạn của tù trưởng và kiểm soát chặt chẽ các nguồn sản vật địa phương

Nói chung, hệ thống chính trị của triều Nguyễn đã đạt đến thiết chế nhà nước quân chủ chuyên chế kiểu phương Đông, mọi quyền hành trong triều và các địa phương đều tập trung vào trong tay nhà vua được thể hiện cụ thể từ thời vua Minh Mạng Sử triều Nguyễn chép: “Vua sáng suốt về việc chính trị; những tờ sớ dâng lên, vua đều xem hết và trực tiếp chỉ bảo cho Hễ việc gì quan trọng tâu lên thì phần nhiều vua tự nghị soạn lấy, hoặc thảo ra rồi giao phó cho, hoặc châu phê vào Bản châu phê bắt đầu từ đấy mới có” (nói về Minh Mạng)2

Bằng những cố gắng của mình nhờ vào tầm nhìn xa rộng và sâu sắc của vua Minh Mạng đã giúp cho triều Nguyễn xây dựng được một bộ máy nhà nước trung ương tập quyền mạnh mẽ, mở rộng lãnh thổ và xây dựng

2 Nguyễn Phan Quang (1999), Việt Nam thế kỷ XIX ( 1802 - 1884 ), Tái bản lần thứ

Trang 22

được các mối quan hệ giao hảo, góp phần vào việc bảo vệ tổ quốc, tiếp thu được nhiều điều mới mẻ trong quá trình thiết lập quan hệ

Hệ thống chính trị ở Việt Nam ngày càng lớn mạnh vào thế kỷ XIX ở khu vực Đông Nam Á, đây sẽ tạo ra nhiều cơ hội cho nước ta thiết lập được nhiều mối quan hệ ngoại giao với nước khác trong khu vực như Chân Lạp, Xiêm…Với những điều kiện thuận lợi sẽ mở ra một thời kỳ mới trong mối quan hệ bang giao giữa Việt – Xiêm vào thế kỷ XIX

Tóm lại vào thế kỷ XIX, Việt Nam có những biến đổi sâu sắc về kinh

tế - xã hội, chính trị, triều Nguyễn đã bắt đầu quan tâm hơn đến việc giải quyết vấn đề ruộng đất cho người dân, chia ruộng đất tư công cho dân nghèo, xây dựng hệ thống giao thông quan trọng phục vụ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc; mở rộng các hoạt động đối nội và đối ngoại và thiết lập các mối quan hệ ngoại giao chặt chẽ, xây dựng hệ thống chính trị quân đội vững mạnh, nền kinh tế nông nghiệp được phát triển từng bước nâng cao sức cạnh tranh với thị trường thế giới Bên cạnh những mặt tích cực, triều Nguyễn cũng đã vấp phải những khó khăn không khắc phục được một cách triệt để như hệ thống đê điều tuy được xây dựng và mở rộng nhưng hằng năm vẫn xảy ra nạn vỡ đê làm thiệt hại đến người và của, nạn áp bức của cường hào, địa chủ làm xã hội càng chia rẻ và phân hóa giàu nghèo sâu sắc; nhà Nguyễn vẫn thực hiện chính sách đóng cửa hạn chế việc học hỏi tiếp thu những cái mới từ bên ngoài; với những chính sách sai lầm triều Nguyễn đã làm cho tình hình Việt Nam lâm vào tình trạng gặp nhiều khó khăn đặc biệt đối với nông dân, họ phải di cư hoặc nổi dậy khởi nghĩa để bảo vệ quyền lợi cho chính bản thân mình và những mặt tiêu cực này ngày càng trở thành nguyên nhân chính cho các nước phương Tây nhòm ngó mà điển hình là thực dân Pháp

Trang 23

1.2 Nước Xiêm trong thế kỷ XIX

1.2.1 Tình hình kinh tế - xã hội

Triều đại Chakri ra đời từ năm 1782 và tồn tại dưới thời trị vì của từng đời vua qua các thời kỳ lịch sử, thời vua Rama I và Rama II Xiêm đã khắc phục được hậu quả chiến tranh xâm lược của Miến Điện (Mianma) và từng bước phát triển kinh tế

Nước Xiêm đã tăng cường đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp nhất là sản xuất lúa, đường, các sản phẩm của Xiêm không ngừng được tăng cường mở rộng ra trong nước và góp phần phục vụ cho xuất khẩu với số lượng ngày một tăng lên đạt được những thành tựu vượt bậc so với các nước khác trong khu vực Nền kinh tế ở nước Xiêm mang tính chất tự cung tự cấp đã có bước phát triển cao hơn thời kỳ Auythaya, kinh tế hàng hóa đã bắt đầu xuất hiện

do người Hoa đảm nhiệm

Ngay sau khi giành lại độc lập (1767), Taksin và các vua đầu tiên của vương triều Chakri đã rất quan tâm đến vấn đề ngoại thương, điều này rất quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế nước Xiêm; bên cạnh đó Rama III lại càng đẩy mạnh việc buôn bán với Trung Quốc một bạn hàng truyền thống của Xiêm và luôn chiếm một vị trí lớn nhất trong ngoại thương của Xiêm, kế tiếp là khu vực các nước Đông Nam Á như các tiểu quốc ở bán đảo

Mã Lai, quần đảo Inđônêxia, Singapo, Campuchia, Việt Nam (Hà Tiên, Gia Định, Hội An) Nhờ vậy, trong khoảng 20 năm cuối của thế kỷ XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX, ngoại thương của Xiêm phát triển hết sức mạnh mẽ (nhất là dưới thời Rama III), mang lại nguồn thu nhập lớn cho nhà nước Vào nửa đầu thế kỷ XIX: “ Tổng giá trị buôn bán hằng năm trong xuất khẩu của

Trang 24

Xiêm có năm lên tới 5.500.000 bạt, còn nhập khẩu là 4.300.000 bạt”3

Bêncạnh đó: “Giá trị xuất khẩu năm 1850 là 5.585.000 bạt, vượt xa giá trị nhập khẩu 1.200.000 bạt”4 Mặt khác: “Từ thu nhập của Nhà nước dưới thời Rama

II là 5.169.000 bạt tăng lên 14.000.000 bạt (khoảng 8,5 triệu US lúc bấy giờ) vào cuối thời Rama III”5

Trong quá trình phát triển ngoại thương Rama III đã tiến hành cải cách việc thu thuế, trước đây thu thuế bằng thóc thì nay sẽ thu thuế bằng tiền và cho đấu thầu việc thu thuế, đặc biệt tăng nguồn thu của nhà nước; nhờ vào những việc làm này mà nước Xiêm đã có những điều kiện hết sức thuận lợi cho việc đầu tư vào quốc phòng và tăng cường được lực lượng quân sự để đối phó với sự đe dọa của các nước phương Tây

Từ khi vương triều Chakri được thành lập các vua từ Rama I đến Rama III đều quan tâm đến phát triển kinh tế, mở rộng ngoại thương, không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân và đưa nền kinh tế của đất nước ngày một phát triển trong khu vực Đông Nam Á; đồng thời mở rộng quá trình xuất nhập khẩu trong khu vực và các nước láng giềng tạo ra được các mối quan hệ hữu nghị, hợp tác và phát triển để góp phần đưa đất nước đi lên

Trang 25

1.2.2 Tình hình chính trị

Ngay từ khi vương triều Chakri được thành lập quá trình xác lập và tập trung hóa cao độ nhà nước phong kiến trung ương tập quyền đã được các vua đầu triều đặc biệt chú ý Dưới thời Rama I (1782-1809) và Rama II (1809-1824), việc xây dựng củng cố tổ chức hành chính, tăng cường sức mạnh quyền lực của nhà vua đã được đẩy mạnh, hệ thống các quan hệ họ hàng huyết thống được củng cố hình thành nên một nhóm các gia đình hoàng tộc và quý tộc hùng mạnh nắm trong tay các quyền lực chủ yếu của nhà nước phong kiến Đó là hệ thống các Bộ do các hoàng tử, hoàng thân cầm đầu Rama I đã đưa 11 hoàng thân và công chúa đứng đầu các bộ ngành trong bộ máy nhà nước Xiêm

Dưới thời Rama III quá trình tập trung hóa cao độ nhà nước phong kiến trung ương tập quyền càng được đẩy mạnh hơn Rama III bổ nhiệm các quan chức vào bộ máy nhà nước trung ương Ở Xiêm có hai tầng lớp quan chức chính: quan chức hoàng gia (gồm các hoàng tử) và quan chức quý tộc Chỉ có các hoàng tử mới được bổ nhiệm đứng đầu các bộ Quan chức quý tộc cũng được phong chức tước, số quan chức quý tộc chiếm một phần lớn trong công việc hành chính của chính phủ, họ đã thực sự trở thành người thực thi các chính sách và chủ trương của Nhà nước

Năm 1830, để hoàn thiện các bộ, ngành Rama III đặc biệt quan tâm đến ba bộ quan trọng nhất: Bộ Nội vụ (Mahatthai), Bộ Chiến tranh (Kralahom) và Bộ Tài chính (Phraklang) phụ trách cả ngoại thương; càng về sau ông càng có khuynh hướng tập trung quyền lực vào tay mình và hoàng gia Dưới thời Rama III nền quân chủ chuyên chế Xiêm đạt đến đỉnh cao và Xiêm thực sự trở thành một quốc gia hùng mạnh trong khu vực Đông Nam Á lục địa lúc bấy giờ

Trang 26

luyện cho quân đội Xiêm theo mô hình và chiến thuật quân sự của phương Tây Tăng cường sức mạnh quân sự, củng cố và nâng cao vị thế của họ đối với các nước chung quanh mà trước hết là đối với Miến Điện, các tiểu quốc Lào, Chân Lạp và các tiểu quốc Hồi giáo ở bán đảo Malaixia Họ còn giúp

Xiêm chế tạo các loại tàu chiến mới Nhờ đó, đến cuối năm 1830: “Xiêm có

một lực lượng bộ binh 10.000 người và lực lượng pháo binh đã được huấn luyện theo kỹ thuật tác chiến của châu Âu Về hải quân, Xiêm có 4 chiến hạm, 12 hải phòng hạm và khoảng 500 chiến thuyền cải tiến”6

Nhìn chung ở Xiêm qua các thời vua Rama I, Rama II, Rama III quyền lực chính trị nằm trong tay nhà vua, dưới triều đại Chakri đã xây dựng được một quân đội hùng mạnh giúp cho quá trình mở rộng xâm lược của Xiêm ngày càng được củng cố và bành trướng thế lực ra các nước trong khu vực Đông Nam Á Trên tất cả các phương diện kinh tế - xã hội – chính trị Xiêm đều có bước phát triển rất đáng kể tạo dựng được các mối quan hệ ngoại giao với nhiều nước láng giềng nhất là Việt Nam

Tóm lại vào thế kỷ XIX, ở Xiêm tình hình kinh tế - chính trị chủ yếu tập trung vào sản xuất nông nghiệp, xây dựng lực lượng quân đội mạnh mẽ

và hiếu chiến, từ thời vua Rama I đến vua Rama III Xiêm phát triển rất mạnh

mẽ, muốn mở rộng và bành trướng xâm lược ra bên ngoài, ở phía Bắc gặp phải Miến Điện, phía Nam gặp hồi giáo, vì vậy trong quá trình phát triển Xiêm đã quyết định chọn phía Đông làm nơi mở rộng lãnh thổ, tại đây Xiêm

đã xâm phạm trực tiếp đến lợi ích và chủ quyền quốc gia của Việt Nam Xiêm với chế độ chính trị chuyên chế mọi quyền hành đều nằm trong tay vua

Trang 27

và huấn luyện quân đội theo phương Tây nên lúc này Xiêm là nước có thế mạnh rất lớn về mọi mặt Tuy nhiên, Xiêm cũng như Việt Nam với tham vọng mở rộng bành trướng xâm lược đã tác động sâu sắc đến xã hội dẫn đến nhiều cuộc đấu tranh xảy ra, đời sống của người dân gặp khó khăn, nền chính trị khắc khe và xung đột trong nội bộ hoàng tộc, điều này đã tác động sâu sắc đến các mối quan hệ bang giao trong lịch sử vương quốc Xiêm mà cụ

thể là mối quan hệ Việt – Xiêm trong thế kỷ XIX

Trang 28

Chương 2: Quan hệ Việt –Xiêm thời vương triều Nguyễn

thế kỷ XIX 2.1 Khái quát mối quan hệ Việt – Xiêm trước thế kỷ XIX

Trước thế kỷ XIX, Việt Nam – Xiêm đều là những nước thuộc khu vực Đông Nam Á lục địa có những điều kiện thuận lợi để phát triển nền nông nghiệp lúa nước

Quan hệ Việt – Xiêm được sử sách ghi chép sớm nhất vào thế kỷ XII

và các thế kỷ sau đó, vào thời kỳ phát triển của Sukhothay và sau đó là Auythaya đã làm cho quan hệ lúc này chủ yếu diễn ra trên lĩnh vực thương mại, thuyền buôn của người Xiêm do triều đình cử đi thường đến Vân Đồn

để trao đổi buôn bán

Vào cuối thế kỷ XIV, quan hệ Việt – Xiêm càng thêm thân hữu, chính sách của Sukhothay lúc này là tăng cường quan hệ với Đại Việt và Trung Quốc, ý đồ của Xiêm muốn liên kết với các quốc gia hùng mạnh và bí quyết ngoại giao của Xiêm trong giai đoạn này chủ yếu dựa vào mối quan hệ thân thiện nhiều mặt với Trung Quốc để tạo thực lực và uy tín, đồng thời cũng thông qua đó mở rộng lãnh thổ ra bên ngoài

Năm 1335, một phái bộ Xiêm đã đến tận Cửa Rào (Nghệ An) để đón vua Trần Hiến Tông nhân dịp nhà vua đi thị sát biên giới phía Tây Từ thế kỷ XVI trở đi mối quan hệ giữa Đại Việt – Xiêm ngày càng tiến triển phong phú

và không kém phức tạp Đây cũng là thời kỳ nhà Nguyễn có quan hệ trực tiếp với chính quyền Xiêm

Vào thế kỷ XVII, đất nước Đại Viêt được chia làm hai vương quốc là Đàng Trong và Đàng Ngoài với sự đối lập của hai chính quyền Trịnh – Nguyễn Kể từ khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ vùng đất Thuận Hóa, các

Trang 29

chúa Nguyễn đã mở mang lãnh thổ về phía Nam, mở rộng các quan hệ giao thương với thuyền buôn nước ngoài đến từ Nhật Bản, Trung Hoa và các nước khác làm cho kinh tế, thương mại Đàng Trong ngày càng phát triển, đủ sức tranh giành ảnh hưởng ở Chân Lạp với Xiêm

Khi họ Nguyễn chiếm Đàng Trong, thương nhân Xiêm thường đến đây buôn bán lúa gạo, cau… Nhà Nguyễn đánh thuế thương nhân Xiêm khá nặng; thuyền nhân Xiêm La lệ thuế đến là 2000 quan và thuế về là 200 quan Trong thời kỳ này, quan hệ giữa hai nước Việt - Xiêm diễn ra trên lĩnh vực kinh tế và chính trị liên quan đến ảnh hưởng của các bên đối với Chân Lạp

và Lào Năm 1750, chúa Võ vương Nguyễn Phúc Khoát cử phái bộ ngoại giao mang thư sang triều đình Xiêm với nội dung trách cứ họ can thiệp vào nội bộ Chân Lạp Năm 1755, triều đình Xiêm cử phái bộ sang Đại Việt điều đình về vấn đề buôn bán của thương nhân Thái và xin giảm thuế

Hai nước Xiêm và Đàng Trong đối đầu với nhau từ cuộc chiến tranh Chenla năm 1658 Cuộc chiến tranh giữa Xiêm và Đàng Trong được xem như một cuộc chiến tranh lớn nhất và phần thắng đã thuộc về người Xiêm Sau chiến tranh quan hệ giữa Xiêm và Đàng Trong bình thường trở lại, hai bên vẫn thường trao đổi thư và trao đổi vật phẩm Vào năm 1755, chúa Nguyễn miễn thuế cho tàu thuyền đi từ Trung Hoa sang Xiêm và ngược lại Ngoại giao giữa Đàng Trong với Xiêm diễn ra rất phức tạp lúc bạn lúc thù nhưng trong ngoại giao, Đàng Trong có ưu thế của một nước mạnh hơn Xiêm cả về kinh tế lẫn quân sự

Năm 1771, vua Xiêm là Trịnh Quốc Anh (Phìa Tắc Xỉn) tấn công trấn

Hà Tiên của chúa Nguyễn bắt nhóm người Mạc Thiên Tứ và chiếm đóng Hà Tiên cho đến năm 1773 Năm 1780, vua Xiêm đã giết phái bộ ngoại giao cao cấp của Nguyễn Ánh Năm 1781, vua Xiêm cử hai anh em Chakri – Sôsi tấn

Trang 30

Thụy – Hồ Văn Lâm tiếp ứng nhưng chưa đến La Bích thì Chakri – Sôsi xin giảng hòa Bắt đầu từ năm 1784 trở đi mối quan hệ giữa hai nước bớt căng thẳng và cả hai bên đều cố giữ thăng bằng trong quan hệ ở cấp độ ngoại giao

Năm 1784, Nguyễn Ánh cầu cứu Xiêm chống lại phong trào Tây Sơn, vua Rama I (Xiêm) đã giúp Nguyễn Ánh đem 5 vạn quân Xiêm kéo sang xâm lược nước ta và bị quân Tây Sơn đánh bại trong trận Rạch Gầm – Xoài Mút (1785)

Tóm lại trước thế kỷ XIX, mối quan hệ Việt – Xiêm diễn ra có lúc hòa hiếu có lúc tranh chấp, thực chất của mối quan hệ này chủ yếu do các yếu tố

về Chân Lạp, Hà Tiên là những nguyên nhân trực tiếp gây nên tình trạng thăng trầm và đầy phức tạp của mối quan hệ Việt - Xiêm Cả hai nước đều thuộc khu vực Đông Nam Á lục địa và đã có quan hệ với nhau từ rất lâu trong tình hữu nghị giữa các nước láng giềng, Việt – Xiêm đều muốn mở rộng quá trình bành trướng mở rộng lãnh thổ, khẳng định chủ quyền quốc gia của dân tộc trong khu vực Đông Nam Á lục địa nên đã dẫn đến mối quan hệ bang giao giữa hai nước trong thời gian trước thế kỷ XIX ngày càng thăng trầm và phức tạp Những tác động trên đã chi phối sâu sắc đến diễn biến của quan hệ Việt – Xiêm thời vương triều Nguyễn vào thế kỷ XIX

2.2 Các yếu tố tác động đến mối quan hệ Việt – Xiêm

Trang 31

Campuchia, Lào, Việt Nam và Đông Nam Á hải đảo gồm 6 quốc gia Malayxia, Singapo, Inđônêxia, Đông-Timo, Brunây và Philippin

Trong quá trình hình thành và phát triển khu vực Đông Nam Á đã có những điều kiện thuận lợi để mở rộng được ranh giới của mình Về mặt tự nhiên và địa lý các nước ở khu vực đều có những điều kiện thuận lợi để mở rộng lãnh thổ Cho đến ngày nay hầu hết các nước ở đây đều có sự ổn định

về mặt ranh giới, mặt khác trải qua quá trình lịch sử lâu dài hầu hết các quốc gia trong khu vực đã có tư tưởng và ý đồ muốn bành trướng xâm lược để mở rộng lãnh thổ ra bên ngoài cùng với sự hợp tác của các nước khác xảy ra ngoài khu vực Đông Nam Á

Tất cả các nước trong khu vực Đông Nam Á đều nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới rất thuận lợi cho việc phát triển, khai thác các loại sản phẩm quý hiếm; với những đồng bằng rộng lớn màu mỡ đã tạo ra được sự phong phú và giàu có về tài nguyên thiên nhiên, các nguồn lợi lâm – thủy – hải sản đều có những điều kiện phát triển một cách đa dạng thu hút được sự đầu tư từ các nước bên ngoài vào khu vực

Mặt khác ở khu vực Đông Nam Á còn có thêm những eo biển như Malacca, Sundra… là cầu nối, cánh cửa giữa phương Đông và phương Tây

từ lâu đã thu hút được những thương nhân khắp châu Âu, châu Á đến giao lưu buôn bán Qua đây sẽ tạo được mối quan hệ giao thoa về các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội giữa các nước trong khu vực Đông Nam Á và giữa khu vực với các nước bên ngoài

Các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á đều được bao quanh bởi những vùng biển rộng lớn thuận lợi cho việc đánh bắt thủy – hải sản Từ đây

sẽ tạo ra cầu nối cho Đông Nam Á lục địa và Đông Nam Á hải đảo giao lưu hợp tác với nhau chủ yếu bằng tàu, thuyền trên biển; vì vậy các vùng biển có

Trang 32

vị trí rất quan trọng trong việc giao thương buôn bán giữa các nước Vịnh Thái Lan còn giữ một vị trí đặc biệt quan trọng mang tầm quốc tế trong việc thông với biển Đông đã tạo điều kiện thuận lợi tạo nên mối quan hệ giữa hai nước Xiêm – Việt

Đối với khu vực, vịnh Thái Lan có thể coi như “Địa Trung Hải của Đông Nam Á” Với thế giới nó là cửa ngõ giữa Đông và Tây, vai trò của nó

đã được khẳng định đặc biệt khi con đường tơ lụa trên biển được hình thành

và nó biểu tượng cho sự phát triển một thời đại của quan hệ giao thương quốc tế Các mối quan hệ qua lại khiến cho sự hiểu biết của các quốc gia về nhau trở nên rõ ràng hơn và trên cơ sở đó đi đến xác lập những mối quan hệ chính trị như quan hệ láng giềng, các mối bang giao hoà hảo, nhưng mặt khác cũng đồng thời dẫn tới thiết lập những mối quan hệ “phiên quốc”,

“thuộc quốc” giữa các quốc gia hùng mạnh với các nước nhỏ yếu hơn trong

và ngoài khu vực Đông Nam Á

Trong khu vực Đông Nam Á các mối quan hệ giao lưu kinh tế chiếm

vị trí tương đối quan trọng được thể hiện cụ thể qua việc giao lưu buôn bán, trao đổi những sản vật quý hiếm giữa các quốc gia, các vương triều với nhau hoặc giữa các thương nhân của các nước ở trong khu vực thể hiện được mối quan hệ thân thiện, giao hảo và thắt chặt được tình hữu nghị giữa các quốc gia, dân tộc Bên cạnh đó các hoạt động giao thương giữa các quốc gia cũng diễn ra chủ yếu bằng đường biển, các tàu thuyền giao lưu trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia thể hiện được sự thịnh trị của sự giao thương, mở rộng được sự hiểu biết và trao đổi kinh nghiệm giữa các nước ở trong khu vực

Vị trí địa lý nối liền giữa phương Đông và phương Tây tạo điều kiện cho Đông Nam Á có dịp tiếp xúc và cọ sát với nhiều nền văn minh lớn của nhân loại, đồng thời cư dân ở đây cũng xây dựng cho mình một nền văn hóa riêng mang bản tính cởi mở và thượng võ

Trang 33

Với những đặc trưng trên khu vực Đông Nam Á đã ngày càng tạo nên bản sắc văn hóa đa dạng cho các quốc gia, dân tộc trong khu vực; thể hiện được tình hữu nghị và mối quan hệ bang giao với nhiều nước, nhưng các mối quan hệ này diễn ra đầy thăng trầm và phức tạp trong quá trình phát triển của

nó mà điển hình nhất là mối quan hệ Việt – Xiêm ở khu vực Đông Nam Á lục địa

2.2.2 Yếu tố kinh tế - chính trị

Việt Nam – Xiêm đều thuộc khu vực Đông Nam Á lục địa, vào khoảng cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX, chế độ phong kiến Đông Nam Á ngày càng suy yếu do sự can thiệp mạnh mẽ của các nước phương Tây và những hạn chế của chế độ phong kiến ở đây

Kinh tế lúc này đã có sự thay đổi to lớn từ sự chuyển hóa vai trò của các thương nhân trong việc trao đổi buôn bán và sự truyền đạo của các giáo

sĩ sang vai trò chủ yếu của binh sĩ Tuy có sự tranh giành ảnh hưởng trong khu vực nhưng mối quan hệ buôn bán giữa hai nước này vẫn phát triển, tàu thuyền vẫn hoạt động giao lưu buôn bán trong khu vực

Đầu thế kỷ XIX, Việt Nam là một nước lớn và hùng mạnh trong khu vực Đông Nam Á đang xây dựng lại thể chế kinh tế - chính trị của mình, Việt Nam vẫn thực hiện chính sách đóng cửa không quan hệ kinh tế với nước ngoài, hạn chế việc thiết lập và mở rộng các mối quan hệ với các nước lân bang, những chính sách này đã làm cho Việt Nam bị các nước tư bản phương Tây nhòm ngó, xâm lược

Mặt khác ở Xiêm dưới thời Rama III nền quân chủ chuyên chế Xiêm đạt đến đỉnh cao và Xiêm thực sự trở thành một quốc gia hùng mạnh trong khu vực Đông Nam Á lục địa lúc bấy giờ, các vua từ Rama I đến Rama III

Trang 34

sách bành trướng nhằm mở rộng quyền kiểm soát đối với tất cả các nước trong khu vực như Chân Lạp, Lào và đặt biệt là việc Xiêm tấn công vào vùng đất Hà Tiên của triều Nguyễn một vùng đất rộng lớn, màu mỡ, rất giàu

có về tài nguyên thiên nhiên

Việt Nam trong giai đoạn này tuy vẫn thực hiện chính sách bế quan tỏa cảng nhưng mà kinh tế - chính trị vẫn rất phát triển ngang hàng với Xiêm, nhưng Xiêm lại theo quan niệm truyền thống của dân tộc muốn mở rộng lãnh thổ và bành trướng xâm lược nên mối quan hệ bang giao giữa hai nước ngày càng bắt đầu có sự phức tạp từ khi Xiêm đưa quân chiếm Chân Lạp - Hà Tiên

Yếu tố kinh tế - chính trị đóng vai trò rất quan trọng trong việc giúp hai nước có thể phát triển đất nước mở rộng lãnh thổ của mình; đồng thời nó còn là nguyên nhân để cho Việt – Xiêm phải có cách nhìn nhận khác nhau về nền chính trị của nước mình Xiêm và Việt Nam đều chú trọng phát triển nền nông nghiệp lúa nước tuy nhiên về thể chế chính trị Xiêm lại luôn mang tính chất chuyên chế, tập trung quyền lực cao độ vào tay nhà vua và luôn có quan niệm đi xâm lược các nước lân bang để mở rộng lãnh thổ nước mình Điều này dẫn tới kinh tế - chính trị của Việt – Xiêm đã chi phối trực tiếp đến việc thiết lập mối quan hệ giữa hai nước vào thế kỷ XIX thời vương triều Nguyễn

2.2.3 Yếu tố Chân Lạp

Vào giữa thế kỷ thứ VII, Phù Nam ngày càng suy yếu trong khi đó Chân Lạp lại trở thành quốc gia hùng mạnh và đã thôn tính lại toàn bộ đế chế này Năm 717, vương quốc Chân Lạp chia thành hai vương quốc nhỏ là Thuỷ Chân Lạp (vùng đất trũng ở phía đông) và Lục Chân Lạp (vùng đất cao

ở phía tây)

Ngày đăng: 21/06/2021, 21:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w