1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án tiến sĩ quản lý nhà nước về pháp luật đối với công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam

190 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 190
Dung lượng 2,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Hộp 2.1. Cổ đông lớn bán cổ phiếu, không công bố thông tin (84)
  • Hộp 2.2. Cổ đông L18 nắm giữ dưới 10.000 CP không được tham dự ĐHĐCĐ (93)
  • Hộp 2.3. Đại diện cổ đông Nhà nước trong HĐQT đã kìm hãm sự phát triển của công ty (102)

Nội dung

Cổ đông lớn bán cổ phiếu, không công bố thông tin

Ngày 24/3/2010, bà Nguyễn Thị Kim Phƣợng, cổ đông lớn của CTCP Vật tƣ Vận tải Xi Măng (mã VTV, niêm yết tại HNX), đã bán 557.800 cổ phiếu VTV, tương đương 8,5% cổ phần, và không còn sở hữu cổ phiếu nào sau giao dịch này Ngày 31/3, Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội thông báo bà Phƣợng đã bán toàn bộ số cổ phiếu mà không công bố thông tin chào bán trước đó, dẫn đến việc giá cổ phiếu VTV giảm nhanh xuống còn 44.600 đồng Đáng chú ý, vào ngày 3/2/2010, bà Phƣợng đã công khai chào mua 1,3 triệu cổ phiếu VTV với thời gian hoàn tất 60 ngày, lệnh mua sẽ bị hủy nếu giá cổ phiếu tăng quá 30% (40.000 đồng) Sau đó, giá cổ phiếu VTV tăng mạnh, có đến 5 phiên tăng trần liên tiếp, đạt 66.000 đồng vào ngày 19/3, vượt quá 30% giá chào mua của bà Phƣợng.

Nguồn: tổng hợp cho nghiên cứu

Theo Thông tư 09/2010/TT-BTC, bà Phượng được xác định là cổ đông lớn và có trách nhiệm công bố thông tin ít nhất 3 ngày trước khi thực hiện giao dịch Tuy nhiên, bà đã vi phạm quy định này, dẫn đến việc Sở GDCK Hà Nội báo cáo lên Ủy ban Chứng khoán Nhà nước để xem xét Kết quả, bà Phượng bị phạt 170 triệu đồng do vi phạm quy chế công bố thông tin.

Tóm lại, tình trạng vi phạm CBTT về các giao dịch vẫn tồn tại do một số nguyên nhân nhƣ sau:

Do thiếu hiểu biết về quy định công bố thông tin, nhiều người có liên quan đến cổ đông nội bộ, đặc biệt là tại các tổ chức mới niêm yết hoặc cổ đông mới được bổ nhiệm, thường nêu lý do này Theo Quy chế công bố thông tin của Sở, thời gian tối đa cho một đợt giao dịch không được vượt quá quy định.

01 tháng kể từ ngày dự kiến bắt đầu thực hiện giao dịch

Do sự chủ quan trong việc đi công tác đột xuất và số lượng cổ phiếu đăng ký giao dịch không lớn, nhiều cổ đông nội bộ và người có liên quan tại các tổ chức niêm yết quy mô nhỏ thường quên báo cáo kết quả giao dịch với Sở Ý thức về nghĩa vụ công bố thông tin trong các giao dịch này vẫn còn thấp.

Khảo sát 62 công ty niêm yết cho thấy 100% hoàn thành công bố báo cáo tài chính năm và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, các thông tin khác như biên bản và nghị quyết của HĐQT, biên bản họp Đại hội đồng cổ đông không được công bố đầy đủ Đặc biệt, chỉ có 17,7% quyết định của Giám đốc được công khai Điều này cho thấy vi phạm công bố thông tin vẫn xảy ra với tỷ lệ cao ở một số nội dung quan trọng, ảnh hưởng đến quyền lợi của cổ đông.

Hơn 95% số công ty được khảo sát cho thấy có ý thức chấp hành quy định công bố thông tin, thường xuyên gửi thông tin công bố ngay khi có kết quả điều tra.

Sở giao dịch nơi công ty niêm yết cho thấy chỉ có 85,5% công ty chủ động công bố thông tin trên website của mình Điều này chỉ ra rằng bên cạnh việc nâng cao ý thức và hiểu biết pháp luật về công bố thông tin, nhiều doanh nghiệp vẫn chưa chú trọng đến việc cải thiện hình ảnh công ty Thống kê cho thấy, việc công bố thông tin qua các phương tiện truyền thông đại chúng như báo chí và truyền hình chỉ chiếm chưa đến 50%.

Vấn đề người thực hiện công bố thông tin tại doanh nghiệp cần được chú ý, vì theo Luật Chứng khoán và kinh nghiệm quốc tế, nên giao trách nhiệm này cho một người chuyên trách thay vì kiêm nhiệm Thực tế cho thấy, nếu người công bố thông tin là các quản lý điều hành, thông tin có thể không đầy đủ và kịp thời do khối lượng công việc lớn Dữ liệu khảo sát cho thấy, 32,3% người đại diện công bố thông tin là Tổng Giám đốc hoặc Phó Tổng Giám đốc, trong khi 29% là Kế toán trưởng kiêm nhiệm Chỉ hơn 20% công ty có người đại diện công bố thông tin chuyên trách, cho thấy ý thức của doanh nghiệp về việc công bố thông tin ra công chúng còn hạn chế, chưa coi trọng vai trò của việc này như một cầu nối quan trọng với cổ đông và công chúng đầu tư.

Nhìn chung, việc vi phạm công bố thông tin vẫn diễn ra do các quy định về CBTT nhƣ trên chƣa triệt để trên một số khía cạnh sau:

Các công ty lớn và nhỏ đều có nghĩa vụ công bố thông tin, nhưng khả năng thực hiện điều này rất khác nhau Do đó, cần thiết phải thiết lập các yêu cầu công bố thông tin khác nhau cho từng loại công ty.

Các công ty phải công bố thông tin qua các phương tiện công khai hoặc thông qua Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) hoặc Sở Giao dịch Quy định này khiến các công ty không chủ động trong việc công bố thông tin, mà thường phụ thuộc vào sự chỉ đạo từ cơ quan quản lý.

Nhận thức về việc công bố thông tin của công ty vẫn chưa đầy đủ và chính xác, điều này xuất phát từ ý thức chủ quan và trình độ nhận thức còn hạn chế của các cán bộ quản lý.

Việc vi phạm công bố thông tin của công ty niêm yết vẫn diễn ra do các quy định pháp lý chưa hợp lý và sự thiếu chú trọng của các công ty trong việc xây dựng hình ảnh thông qua việc công bố thông tin đầy đủ, kịp thời đến công chúng.

2.4 Thực trạng quản lý nhà nước về quản trị công ty

2.4.1 Quy định về quản trị công ty niêm yết

Quy định về quản trị công ty tại Việt Nam, được ban hành theo Quyết định số 12/2007/QĐ-BTC ngày 13/3/2007 của Bộ Tài chính, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cổ đông Quy chế này thiết lập các chuẩn mực về hành vi và đạo đức nghề nghiệp cho các thành viên Hội đồng Quản trị, Ban Giám đốc, Ban Kiểm soát và cán bộ quản lý của các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán.

Quản trị công ty trong Quy chế là hệ thống quy tắc nhằm đảm bảo công ty được điều hành và kiểm soát hiệu quả, phục vụ quyền lợi của cổ đông và các bên liên quan Các nguyên tắc quản trị công ty bao gồm:

 Đảm bảo một cơ cấu quản trị hiệu quả;

 Đảm bảo quyền lợi của cổ đông ;

 Đối xử công bằng giữa các cổ đông;

 Đảm bảo vai trò của những người có quyền lợi liên quan đến công ty;

 Minh bạch trong hoạt động của công ty;

 HĐQT và Ban kiểm soát lãnh đạo và kiểm soát công ty có hiệu quả

Quy chế này đề cập đến nhiều vấn đề quan trọng, phù hợp với thông lệ quốc tế, với các nội dung chính được nêu rõ.

 Cổ đông và đại hội cổ đông

 Thành viên HĐQT và hội đồng quản trị

 Thành viên ban kiểm soát và ban kiểm soát

 Ngăn ngừa xung đột lợi ích và giao dịch với các bên có quyền lợi liên quan đến công ty

 Đào tạo về quản trị công ty

 Công bố thông tin và minh bạch

 Chế độ báo cáo và xử lý vi phạm

Cổ đông L18 nắm giữ dưới 10.000 CP không được tham dự ĐHĐCĐ

Công ty cổ phần Đầu tư xây dựng số 18 (mã chứng khoán L18) hiện đang niêm yết trên Sở GDCK Hà Nội với vốn điều lệ 35 tỷ đồng Ngày giao dịch đầu tiên của công ty trên HNX là 23/4/2008 Vào ngày 27/3/2009, công ty đã tổ chức thành công đại hội đồng cổ đông với tỷ lệ biểu quyết 100%, trong đó có điều khoản về quyền tham dự Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2010.

Cổ đông sở hữu từ 10.000 cổ phần trở lên tại thời điểm chốt danh sách có quyền tham dự Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2010, do số lượng cổ đông đạt 579 nhà đầu tư Công ty đưa ra điều khoản này vì không đủ điều kiện vật chất để triệu tập tất cả cổ đông.

Công ty đã vi phạm khoản 1, Điều 79 Luật Doanh nghiệp, khi không cho phép cổ đông phổ thông tham dự và phát biểu tại các đại hội đồng cổ đông, cũng như thực hiện quyền biểu quyết Theo khoản 5 Điều 78, mỗi cổ phần của cùng một loại phải đảm bảo quyền, nghĩa vụ và lợi ích ngang nhau cho người sở hữu Điều lệ công ty cũng khẳng định quyền tham gia và biểu quyết của cổ đông Do đó, việc áp đặt điều kiện tham dự trái với quy định của Luật Doanh nghiệp và Điều lệ công ty.

Cơ quan quản lý yêu cầu L18 hủy bỏ Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2009 và tổ chức lại đại hội này Đồng thời, cần công bố thông tin công khai về việc hủy bỏ và tổ chức lại sự kiện này.

Tóm lại đánh giá chung về quyền cổ đông tại các công ty niêm yết trên cả 2 sàn giao dịch có thể rõ những bất cập nhƣ sau:

Cổ đông thường không nhận thức đầy đủ về trách nhiệm và quyền lợi của mình đối với công ty, dẫn đến việc các vi phạm như không nhận giấy mời họp, không được thông báo nội dung cuộc họp, và không bỏ phiếu đúng số cổ phần diễn ra thường xuyên Hơn nữa, cổ đông nhỏ thường xem việc phát triển công ty là trách nhiệm của Ban điều hành và HĐQT, do đó họ không quan tâm đến các quyết định quan trọng, làm cho tình hình quản trị của công ty không được cải thiện.

Cổ đông lớn, HĐQT và Ban giám đốc thường lạm dụng quyền lực để ra quyết định có lợi cho bản thân, cả trực tiếp lẫn gián tiếp HĐQT thường quyết định mức lương và thưởng cho chính mình và Ban giám đốc, mặc dù quy chế quản trị công ty khuyến nghị phải đưa ra ĐHĐCĐ để quyết định những vấn đề này, nhưng thực tế chỉ thực hiện một cách chung chung, thiếu cụ thể và chuẩn mực Bên cạnh đó, việc lựa chọn các đối tác chiến lược và nhà cung cấp cũng thường mang lại lợi ích cho các thành viên HĐQT hoặc Ban giám đốc, thể hiện sự lạm dụng quyền lực một cách gián tiếp.

Cổ đông nhỏ tại Việt Nam thường không gắn bó lâu dài với công ty như cổ đông ở Nhật Bản hay Hàn Quốc Họ ưu tiên hiện thực hóa lợi nhuận ngắn hạn thông qua việc yêu cầu chia cổ tức bằng cổ phiếu, chấp nhận các phương án chia cổ tức từ mọi nguồn quỹ của công ty Điều này dẫn đến việc họ không muốn tăng cường quỹ phát triển cho các kế hoạch dài hạn của công ty.

Hiện tượng vi phạm quyền cổ đông vẫn tiếp tục xảy ra tại các công ty niêm yết với nhiều cấp độ khác nhau Mặc dù Luật Doanh nghiệp và quy chế quản trị công ty đã có các điều khoản nhằm bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số và giám sát hoạt động của Hội đồng quản trị và Ban giám đốc, nhưng vẫn còn nhiều bất cập tồn tại Các đề xuất hoàn thiện sẽ được trình bày trong chương tiếp theo.

2.4.2.2 Vai trò của nhà nước với tư cách là cổ đông lớn

Phần lớn các công ty cổ phần ở Việt Nam đang đối mặt với tình trạng tập trung sở hữu, khi Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối Theo nghiên cứu của Nguyễn Đình Tài, Đinh Trọng Thắng và Nguyễn Thị Lâm Hà, các vấn đề quản trị công ty không phải là điều mới mẻ, mà đã xảy ra ở các quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi Mặc dù có nhiều giải pháp được đề xuất, việc lựa chọn giải pháp hiệu quả nhất để đảm bảo thành công vẫn cần được xem xét kỹ lưỡng.

Thống kê chọn mẫu điều tra về sự tham gia của Nhà nước tại hơn

100 công ty cổ phần trên toàn quốc cho kết quả nhƣ sau:

Bảng 2.7: Thống kê về sự tham gia của Nhà nước tại công ty cổ phần

Vị trí công tác Số lƣợng

CT HĐQT kiêm GĐ/TGĐ 42 35.59

PCT HĐQT kiêm PGĐ/GĐ 11 9.32

TV HĐQT kiêm GĐ/PGĐ 10 8.47

TV HĐQT kiêm Trưởng phòng, GĐ xí nghiệp 13 11.02

Nguồn: Khảo sát về Quản trị công ty của Ciem, 2008

Đại diện vốn nhà nước tại các công ty cổ phần đóng vai trò quan trọng, với 53.39% trong số các công ty khảo sát có Chủ tịch HĐQT là người đại diện này Đặc biệt, 35.59% trong số đó vừa giữ chức Chủ tịch HĐQT vừa là Giám đốc/Tổng Giám đốc, cho thấy sự chi phối mạnh mẽ đối với hoạt động công ty Thống kê cũng cho thấy 82.2% những người đại diện vốn nhà nước không chỉ tham gia HĐQT mà còn đảm nhiệm các vị trí quản lý điều hành trong công ty.

Tính đến ngày 15/5/2008, tỷ lệ sở hữu của Nhà nước tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán là khá lớn, với 225/297 công ty có tỷ lệ sở hữu trên 5% Trong số đó, 108 công ty (36%) có tỷ lệ sở hữu 50% từ Nhà nước, và 17 công ty (5,7%) có tỷ lệ nắm giữ trên 65% Điều này cho thấy rằng nhiều công ty niêm yết vẫn bị chi phối bởi cổ đông lớn, ảnh hưởng đến việc bổ nhiệm Hội đồng quản trị và Ban giám đốc Đặc biệt, 16/17 công ty trong số này có nguồn gốc từ doanh nghiệp Nhà nước cổ phần hóa, cho thấy thực trạng quản trị của các công ty này vẫn tương tự như trước đây với mô hình doanh nghiệp Nhà nước.

Bảng 2.8: Tỷ lệ nắm giữ của Nhà nước trên TTCK Việt Nam tại thời điểm 15/5/2008

Số lƣợng công ty niêm yết 297

Số lƣợng công ty niêm yết có NN nắm giữ trên 5% 225/297

Số lƣợng công ty niêm yết có NN nắm giữ trên 50% 108/297

Số lƣợng công ty niêm yết có NN nắm giữ trên 65% 17/297

Cơ cấu sở hữu trong các doanh nghiệp niêm yết hiện nay có tính tập trung cao, cho phép các cổ đông lớn ảnh hưởng mạnh mẽ đến quản lý công ty Tuy nhiên, điều này cũng mang lại nhược điểm khi các cổ đông nắm quyền kiểm soát có thể hành động vì lợi ích cá nhân, gây thiệt hại cho các cổ đông nhỏ và nhà đầu tư khác Vấn đề quản trị công ty cần tập trung vào việc bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số trước sự bất bình đẳng do cổ đông lớn tạo ra Ngoài ra, vai trò của cổ đông lớn là Nhà nước cũng cần được xem xét, khi mà Nhà nước nắm giữ từ 10% đến 75% vốn cổ phần, có thể dẫn đến quyết định kinh doanh không vì lợi ích chung mà do năng lực hạn chế của những cá nhân đại diện cho sở hữu Nhà nước.

Theo kết quả điều tra khảo sát, trong số 62 công ty được hỏi, có đến 44 công ty (chiếm 71%) có nguồn gốc từ doanh nghiệp Nhà nước cổ phần hóa Điều này cho thấy tỷ lệ sở hữu tại các công ty và số lượng công ty do Nhà nước nắm giữ cổ phần trên thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay đều khá lớn.

Theo Tổ chức Ngân hàng Thế giới (WB), các nước có nền kinh tế chuyển đổi có cơ chế quản trị khác biệt so với các nước phát triển, đặc biệt trong khái niệm về chủ sở hữu và quản lý Việc cải thiện quản trị doanh nghiệp để nâng cao hiệu quả không hề đơn giản Chủ sở hữu doanh nghiệp ở các nước chuyển đổi thường là sự kết hợp giữa nhà nước, ngân hàng, doanh nghiệp nhà nước, công nhân, cá nhân và các doanh nghiệp khác Điều này dẫn đến tình trạng "vắng mặt" của người chủ thực sự, gây ra sự bỏ bê lợi ích của doanh nghiệp và giảm chất lượng vốn, thay vào đó là lợi ích cá nhân Những yếu tố này ảnh hưởng tiêu cực đến lợi ích dài hạn của doanh nghiệp.

HĐQT gặp khó khăn trong việc thực thi vai trò điều hành do Nhà nước là cổ đông chính, dẫn đến sự mất cân bằng quyền lực trong các quyết định quan trọng Các đại diện vốn Nhà nước phải xin ý kiến từ tổ chức hành chính, làm giảm khả năng ra quyết định kịp thời Hệ quả là HĐQT không thể thực hiện hiệu quả nhiệm vụ bảo đảm lợi ích dài hạn cho doanh nghiệp, mà chỉ tập trung vào lợi ích ngắn hạn và đánh giá hiệu quả hoạt động của giám đốc điều hành.

Đại diện cổ đông Nhà nước trong HĐQT đã kìm hãm sự phát triển của công ty

Công ty cổ phần dầu thực vật Tường An (Mã CK: TAC) có vốn điều lệ 189.802 tỷ đồng tính đến ngày 1/10/2009, với Nhà nước sở hữu 51% cổ phần và ba đại diện trong Hội đồng Quản trị, bao gồm Chủ tịch HĐQT Ba thành viên này cũng là đại diện của công ty CTCP Dầu thực vật Hương liệu Mỹ phẩm Việt Nam (Vocarimex), đơn vị nắm giữ 51% cổ phần tại TAC, đồng thời là nhà cung cấp nguyên liệu chính và cũng là đối thủ cạnh tranh trong lĩnh vực sản xuất dầu ăn.

Theo quy chế thu mua nguyên liệu, nhà cung cấp phải gửi báo giá qua fax cho Tổng giám đốc và Chủ tịch HĐQT, trong đó Chủ tịch HĐQT là Phó tổng giám đốc của Vocarimex Quy định này đã vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc cạnh tranh trong chào giá.

Với quy chế hiện tại, Vocarimex có lợi thế khi biết trước giá chào bán của các đối tác trước khi đưa ra giá của mình Thông thường, khi chào giá qua fax, nhà cung cấp thường chào cao hơn giá thực tế từ 10-20 USD/tấn để dự phòng cho khả năng tăng giá trong quá trình thương thảo Nhờ đó, Vocarimex thường thắng thầu với mức giá cạnh tranh hơn, chỉ thấp hơn 1 USD/tấn so với giá chào của các bên khác Tuy nhiên, thực tế cho thấy công ty có thể chịu thiệt hại khoảng 9-19% so với giá thị trường.

Vào đầu năm 2007, bà Huỳnh Tuân Phương Mai cùng Ban Tổng giám đốc đã quyết định nhập khẩu một lượng lớn dầu nguyên liệu từ các nhà cung cấp nước ngoài và dự trữ tại Phú Mỹ, Bà Rịa - Vũng Tàu, ngay trước khi giá cả tăng cao, giúp TAC thu về lợi nhuận lớn.

Tại cuộc họp ĐHĐCĐ 2008, bà Mai không được bầu lại làm Tổng Giám đốc với chỉ 28% số phiếu tán thành, cho thấy sự phủ quyết chủ yếu đến từ ba đại diện cổ đông nhà nước nắm giữ 51% vốn tại TAC Điều này khẳng định vai trò quyết định của các cổ đông lớn đại diện cho Nhà nước trong việc bầu cử người đại diện theo pháp luật và Tổng Giám đốc của TAC.

Trong vòng 10 phiên giao dịch, cổ phiếu TAC đã chứng kiến sự sụt giảm 36,42%, gấp đôi mức giảm của toàn thị trường Cụ thể, VN-Index vào ngày 12.9 đã ghi nhận mức giảm đáng kể.

476 điểm, mất 15% so với 10 phiên trước)

Hai cổ đông nước ngoài nổi bật, Dragon Capital và Jaccar, đã quyết định bán bớt cổ phiếu của mình đúng vào thời điểm diễn ra đại hội cổ đông bất thường của Công ty Dầu Tường An vào ngày 10.9, giảm tỷ lệ sở hữu xuống dưới 5% Hành động này cho phép họ bán cổ phiếu mà không cần công bố thông tin, đồng thời chấm dứt quá trình cử đại diện tham gia hội đồng quản trị do sự mệt mỏi trước tranh chấp lợi ích giữa cổ đông lớn Vocarimex và các cổ đông thiểu số.

Nguồn: tổng hợp cho nghiên cứu

Nhiều thành viên HĐQT tại các công ty Việt Nam thường có nhận thức và trình độ không cao, chủ yếu do họ được Nhà nước đề cử, dẫn đến sự thiếu gắn kết giữa quyền lợi cá nhân và trách nhiệm Thêm vào đó, thị trường chuyển nhượng nhân sự cấp cao tại Việt Nam gần như không phát triển, góp phần vào tình trạng này.

Do đó không có sự cạnh tranh, đào thải để có nhân sự tốt nhất

Thành viên HĐQT thường là đại diện cho các cổ đông nắm giữ tỷ lệ cổ phần lớn trong công ty, vì vậy họ có xu hướng thực thi quyền lực của mình để bảo vệ lợi ích cá nhân và nhóm cổ đông lớn, thay vì quan tâm đến lợi ích của cổ đông nhỏ.

Theo TS Nguyễn Hữu Long, trong bài viết “Để hiểu thêm về thành viên độc lập” trên Thời báo kinh tế Sài Gòn, nghề thành viên HĐQT độc lập đã bắt đầu xuất hiện tại Việt Nam Một số công ty cổ phần nhận thức được tầm quan trọng của việc nâng cao năng lực quản trị, đặc biệt là trong tư duy và hoạch định chiến lược Dù nhiều công ty sẵn sàng chi trả lương cao cho tổng giám đốc, họ thường thiếu khả năng yêu cầu và đánh giá năng lực của vị trí này Sự góp mặt của thành viên HĐQT độc lập có kinh nghiệm sẽ giúp HĐQT xem xét lại các kế hoạch dài hạn của TGĐ, đồng thời đánh giá tính khả thi và sức thuyết phục của các chiến lược Thành viên HĐQT độc lập không chỉ yêu cầu TGĐ thực hiện đúng định hướng mà còn hỗ trợ và giám sát quá trình thực hiện các chương trình đã được HĐQT quyết định.

Tại Việt Nam, một đặc điểm nổi bật là các công ty cổ phần thường thiếu thành viên Hội đồng Quản trị độc lập thực sự, không đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế So với các nước trong khu vực, quy định về thành viên Hội đồng Quản trị độc lập có sự khác biệt rõ rệt.

Bảng 2.10: Các quy định về thành viên HĐQT độc lập tại các nước khu vực châu Á

Trung quốc Ba/33% (Luật có hiệu lực từ 6/2003)

Hồng Kông Hai (đề xuất là Ba)

Nhật Bản Hai (có thể lựa chọn)

Sing ga po 33% Đài Loan Hai (cộng 1 thành viên giám sát độc lập)

Nguồn: QTDN ở châu Á, Julian Roche, Nhà xuất bản Routledge, 2005

Yêu cầu về thành viên HĐQT độc lập tại Việt Nam hiện đang ở mức trung bình so với các nước trong khu vực, nhưng việc thực thi và giám sát lại còn yếu kém Theo thống kê đến 31/12/2008, chưa đến 50% trong số hơn 300 công ty niêm yết có thành viên quản trị độc lập Đáng chú ý, khái niệm về sự độc lập này được hiểu khác nhau, dẫn đến vai trò thực tế của các thành viên này trong điều hành công ty không đáng kể, thậm chí còn thấp hơn so với các thành viên HĐQT tham gia điều hành Hơn nữa, việc công bố thông tin về thành viên HĐQT độc lập chưa được chú trọng, khiến cho các báo cáo thường niên và nội dung trong đại hội đồng cổ đông hầu như không đề cập đến đối tượng này trong năm hoạt động trước đó.

Kết quả khảo sát tại 62 công ty cho thấy 45,8% thành viên HĐQT kiêm nhiệm vị trí trong Ban Tổng Giám đốc, trong khi 22% trường hợp có trên 3 người kiêm nhiệm Đặc biệt, có 1 trường hợp vi phạm quy chế quản trị công ty, cho thấy tỷ lệ độc lập hoàn toàn của các thành viên HĐQT kiêm Ban TGĐ gần như đạt 100%.

Cơ cấu sở hữu trong các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay có tính tập trung cao, cho phép các cổ đông lớn có ảnh hưởng đáng kể đến quản lý và điều hành công ty Tuy nhiên, nhược điểm của tình trạng này là các cổ đông nắm quyền kiểm soát có thể ưu tiên lợi ích cá nhân, dẫn đến việc hy sinh quyền lợi của các cổ đông nhỏ và nhà đầu tư khác.

Hiện tượng cổ đông nhỏ thiếu sự bảo vệ vẫn tiếp diễn, khi cổ đông lớn lạm dụng quyền lực hoặc không nhận thức được trách nhiệm của mình, đặc biệt là trong trường hợp cổ đông là đại diện sở hữu nhà nước Điều này dẫn đến hoạt động của công ty trở nên kém hiệu quả và không phục vụ cho sự phát triển chung của doanh nghiệp.

Ngày đăng: 21/06/2021, 18:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[38]. ACGA, CG watch 2007, Regional Special report, 3/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: CG watch 2007
[39]. Anthony T. Kronman (2004-2005), Lỗi cáo bạch, thông tin và luật hợp đồng, Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright Sách, tạp chí
Tiêu đề: (2004-2005), Lỗi cáo bạch, thông tin và luật hợp đồng
[41]. Edith Penrose, The growth of the firm, Third Edition, Oxford University Press, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The growth of the firm
[42]. Franks and Mayer, Ownership and Control of German Corporations, CEPR Discussion Paper No. 2898, 7/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ownership and Control of German Corporations
[43]. Frederic S. Mishkin, Tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính, trang 202-237, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật
[44]. Kenneth A Borokhovich, Robert Parrino and Teresa Trapani, Outside Directors and CEO Selection, The Journal of Financial and Quantitave Analysis, Vol.31 No.3, 9/1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Outside Directors and CEO Selection
[45]. Michael C.Jensen, A theory of the firm: governance, residual claims, and organizational form, printed in the United States of America, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A theory of the firm: governance, residual claims, and organizational form
[46]. Michael C. Jensen, Capital market: Theory and Evident, The Bell Journal Economics and Management Science, Vol.3 No. 2, 1972 [47]. OECD, Corporate governance: a survey of OECD countries, 2000-2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Capital market: Theory and Evident
[48]. OECD (2005), Guidelines on Corporate governance of State-owned enterprises, OECD, Paris Sách, tạp chí
Tiêu đề: Guidelines on Corporate governance of State-owned enterprises
Tác giả: OECD
Năm: 2005
[49]. OECD, The role of stock exchanges in corporate governance, 7/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: OECD, The role of stock exchanges in corporate governance
[50]. Robert Charler Clark, Corporate Law, Little, Brown and Company, 1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Corporate Law
[51]. R. I. Tricker, History of Management Thought Series, Ashcroft Publishing, Gower House, Croft Road, Aldershot, UK GU11 3HR, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: History of Management Thought Series
[52]. Ronald Harry Coase, The firm the market and the law: The Problem of Social Cost (Paper no. 10-20), The University of Chicago Press, 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The firm the market and the law: The Problem of Social Cost (Paper no. 10-20)
[53]. World Bank, Vietnam Report on Observance of Standards and Codes (ROSC)-Corporate governance country assessment,(2006) Final Draft, Hanoi- Vietnam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Report on Observance of Standards and Codes (ROSC)-Corporate governance country assessment
[40]. Becht, F and Mayer, The control of corporate Europe, 2001 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm