1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Tài liệu CHỌN LỌC BÒ CÁI TRONG CHĂN NUÔI BÒ THỊT - CHƯƠNG 4 pptx

11 704 9
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chương 4: các công cụ quản lý đàn gia súc
Thể loại Bài giảng
Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 474,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xác định những gia súc năng suất cao Những yêu cầu cho việc xác định và chọn lọc những gia súc năng suất cao gồm: • Dễ dàng xác định cá thể • Đo đạc khách quan các tính trạng mong muốn

Trang 1

CHỌN LỌC BÒ CÁI TRONG CHĂN NUÔI BÒ THỊT

CHƯƠNG 4 CÁC CÔNG CỤ QUẢN LÝ BÒ CÁI

Trang 2

Chương 4

Các công cụ quản lý đàn gia súc

Giới thiệu

Cải tiến đàn là một quá trình dài gồm 3 bước chính Thứ nhất bạn cần xác định rõ mục tiêu hay mục đích lai tạo đàn gia súc bạn nuôi Khi bạn đã đặt ra những mục

đích này, bạn phải làm tiếp tục hai bước tiếp theo nhằm đạt được những mục đích này Mức độ tiến hành các bước này được xác định bởi các mục tiêu tạo giống

• Thường xuyên giám sát khả năng sản xuất của gia súc trong đàn giống nhằm tìm ra những bò có chất lượng cao Điều này đòi hỏi số liệu phải được ghi chép tốt, phân tích những số liệu này theo các tính trạng dùng để chọn lọc

• Chương trình phối giống có kế hoạch phải đảm bảo rằng những gene mong muốn được dùng để chọn lọc được trải rộng ra trên toàn đàn Điều này có thể thực hiện thông qua cho nhảy trực tiếp những bò đực mong muốn với những bò cái tốt hoặc thông qua sử dung thụ tinh nhân tạo và cấy truyền hợp tử

Có một số công cụ có thể giúp các nhà nhân giống tiến hành những bước này và thực hiện chương trình cải tiến đàn

Xác định những gia súc năng suất cao

Những yêu cầu cho việc xác định và chọn lọc những gia súc năng suất cao gồm:

• Dễ dàng xác định cá thể

• Đo đạc khách quan các tính trạng mong muốn

• Phân tích số liệu về khả năng sản xuất một cách cẩn thận

Hình 9: Ghi chép số liệu cá thể

Ghi chép và sử dụng số liệu

Để sử dụng những giá trị của tính trạng trong giám sát khả năng sản xuất và chọn lọc chúng ta cần phải thu thập và phân tích các số liệu Đầu tiên, cụ thể hoá các mục tiêu của bạn trong các thu thập và phân tích số liệu Phương pháp có được các mục tiêu này là thoả đáng nếu:

• thu thập được các số liệu cần thiết

• số liệu có thể lưu trữ được trong hệ thống ít tốn kém tiền bạc và thời gian, các số liệu phải dễ dàng sử dụng và truy cập

• phân tích chính xác số liệu có thể có do người thu thập số liệu hoặc người thứ 3 làm

• các mục tiêu khác của thu thập số liệu cũng phải được đáp ứng thí dụ các chương trình đảm bảo chất lượng hoặc chẩn đoán các vấn đề về năng suất và tiềm năng

Trang 3

Khía cạnh căn bản trong sử dụng số liệu là hệ thống nhận dạng gia súc có hiệu quả Lợi ích của việc đánh số bò gồm:

• nó là cách duy nhất và rõ ràng

• nó mô tả cho đàn hoặc cho mục đích thương mại Một hệ thống tốt để sử dụng là dùng 6 chữ số Hai chữ số đầu chỉ năm đánh số Bốn số tiếp theo chỉ cá thể

được đánh số trong năm Chữ số chỉ năm có thể cho ta biết những thông tin về nhóm bò đang quản lý hoặc dòng giống của những con đực

• nó có thể dễ dàng dùng trong sổ ghi chép công việc và máy vi tính Tốt hơn là không dùng chữ trong việc đánh số

• nó dễ dàng đánh dấu trên gia súc và đeo số tai cho gia súc và và dễ dàng sử dụng chúng trên thực địa

Tốt nhất là các số liệu phải lưu trữ trong những chương trình được thiết kế tốt Tất cả các số liệu phải được kết nối với số hiệu gia súc, ở những nơi có thể số liệu cần được cặp nhật phù hợp Hệ thống dữ liệu cơ sở chỉ dựa trên sổ ghi chép Sai lầm khi nghĩ rằng chỉ phân tích các số liệu phức tạp mới cần có máy tính Máy tính là công cụ trợ giúp có giá trị cho những người có thể sử dụng chúng và cho những người cần tính toán các số liệu phức tạp Hệ thống máy tính cơ bản tiên tiến hơn so với số liệu ở sổ ghi chép Sổ ghi chép cũng nên bao gồm cả phần giống như nhật ký Số liệu sau đó

được chuyển đến cơ quan thu thập ở đó người ta sẽ đưa ra:

• thông tin không thay đổi bao gồm: hệ phả, ngày cai sữa, ngày bán và lý do

• thông tin về sinh trưởng gồm: khối lượng cơ thể, thể trạng, chiều cao, số liệu về

tỷ lệ thịt xẻ

• thông tin về khả năng sinh sản của bò cái, mô tả chi tiết kết quả phối giống hàng năm

• thông tin về khả năng sinh sản của bò đực, thông tin về tính hăng và khả năng phối giống

• thông tin về quản lý bao gồm: quản lý theo nhóm, đồng cỏ, thú y

Để đảm bảo các mục tiêu trên, cách hiệu quả nhất, ít tốn thời gian nhất là sử dụng

sổ sách hoặc hệ thống máy tính để lưu giữ, quản lý số liệu và tiến hành các phân tích cơ bản sau đó ký hợp đồng với các chuyên gia vào dữ liệu và phân tích chúng bằng phần mềm hoàn chỉnh Đối với những người thích và có thể dùng máy tính của

họ thì vấn đề cần quan tâm nhiều là chọn hệ thống máy tính để làm việc với số liệu Một loạt vấn đề từ việc thương mại phần mềm đến xây dựng mục đích phần mềm

Có thể chọn phần mềm tiêu chuẩn trên thị trường hoặc sử dụng các phần mềm chuyên dụng Các phần mềm hệ thống cần có các tiện ích sau đây:

• hệ thống phù hợp với trình độ kinh nghiệm của người sử dụng và phù hợp với mục tiêu của người dùng

• hệ thống phải tương thích với các phần mềm khác Hệ thống không tương thích chỉ phù hợp với người sản xuất ra chúng và là cách để người làm chương trình kiếm tiền từ người sử dụng khi cần giúp đỡ và nâng cấp phần mềm

• hệ thống có thể kết nối với phần mềm khác khi cần thiết

Đo đạc và phân tích khả năng sản xuất

Trong chăn nuôi bò thịt thường chọn lọc gia súc trên cơ sở đánh giá bằng mắt Đánh giá bằng mắt vẫn dựa trên cơ sở màu sắc, tính nết và cấu trúc cơ thể Đánh giá bằng mắt cũng có thể có hiệu quả đối với chọn lọc các tính trạng liên quan đến một

số gen Những tính trạng này có khuynh hướng biểu hiện ra tất cả hoặc không ví dụ tính trạng có sừng, gia súc có thể có hoặc không có sừng Đánh giá bằng mắt ít có hiệu quả đối với các tính trạng liên quan đến nhiều gen và ít có hiệu quả khi đo đạc khách quan có thể tiến hành được, ví dụ đối với các tính trạng tốc độ sinh trưởng và sinh sản

Trang 4

Đo đạc và phân tích tốc độ sinh trưởng

Đo tốc độ sinh trưởng rất đơn giản, chỉ yêu cầu một chiếc cân, có số hiệu gia súc chính xác và một hệ thống ghi chép khối lượng, ngày cân và nhận dạng Phân tích

và xử lý các số liệu là công việc phức tạp hơn

Gia súc có khối lượng cao nhất trong một đơn vị thời gian là gia súc có tăng trọng cao nhất Thông thường chúng ta sử dụng tăng trọng bình quân ngày (ADG) và thể hiện chúng bằng kg/ngày, ví dụ như 0,3 kg/ngày Số liệu này sẽ không có nghĩa là những gia súc lớn nhất tại thời điểm cân hoặc thậm chí không có nghĩa là gia súc có tiềm năng sinh trưởng lớn nhất Chọn lọc những gia súc có tốc độ tăng trọng cao nhất sẽ dần đến tăng tiến bộ di truyền Phân tích và sử dụng các số liệu được càng chi tiết bao nhiêu chúng ta càng có thể có được nhiều tiến bộ di truyền

Sử dụng những tỷ lệ khối lượng

Để có thể dễ dàng trong việc so sánh giữa các gia súc với nhau có thể sử dụng tỷ lệ khối lượng Tỷ lệ khối lượng xếp loại năng suất của từng cá thể gia súc so với giá trị trung bình của nhóm Giá trị trung bình được cho giá trị là 100, giá trị của từng cá thể

có thể là cao hơn hoặc thấp hơn giá trị trung bình này

Ví dụ: khi so sánh khối lượng cai sữa, nếu giá trị trung bình của nhóm là 150 kg, và gia súc được cân có khối lượng 180 kg thì chúng có tỷ lệ khối lượng là 120 tức là 20% cao hơn giá trị trung bình của nhóm (30/150 x 100% = 20%) Thông thường tỷ

lệ khối lượng phản ánh sự khác nhau giữa các gia súc một cách thực tế hơn là số liệu thô và như vậy chọn lọc sẽ chính xác hơn

Tỷ lệ khối lượng cũng có giới hạn khi chúng ta sử dụng chúng Điều quan trọng nhất

là tỷ lệ này không thể dùng để so sánh giá trị di truyền của các gia súc sinh ra ở các năm khác nhau hoặc các gia súc sinh ra và được nuôi dưỡng trong các điều kiện khác nhau (loại đất khác, đồng cỏ khác nhau) các trang trại khác nhau Sự so sánh này chỉ có thể làm được khi sử dụng các hệ thông phân tích hiện đại trên máy vi tính như hệ thống phân tích của BREEDPLAN

BREEDPLAN

Breedplan là từ thương mại của hệ thống đánh giá giá trị di truyền của bò đang được

sử dụng tại Viện nghiên cứu kinh tế nông nghiệp (Agricutural Business Research Institute-ABRI) Trường Đại học tổng hợp New England, Armidale, Australia Chi tiết

về cài đặt và sử dụng chương trình này có thể xem trong cuốn sách "Beef Cattle Recording and Selection" do DPI xuất bản

BREEDPLAN là hệ thống tân tiến trong đánh giá giá trị di truyền của gia súc theo các tính trạng kinh tế quan trọng Nó tính đến tất cả các chỉ tiêu về khả năng sản xuất của tất cả các cá thể họ hàng đã biết và được nhận dạng về hệ số di truyền BREEDPLAN cho phép xác định chính xác những gia súc đã truyền cho con cái của chúng các gene để cải tiến năng suất, việc này tỷ lệ khối lượng và khối lượng không làm được BREEDPLAN giúp quá trình chọn lọc tránh chọn những gia súc hay thay

đổi, chúng có thể có năng suất cao do may mắn hoặc do các điều kiện đặc biệt Những nhà tạo giống bò có thể hy vọng tạo ra nhiều tiến bộ di truyền hơn khi sử dụng thông tin của BREEDPLAN hơn là dùng tỷ lệ khối lượng hoặc tăng trọng bình quân ngày BREEDPLAN cũng cho phép so sánh các gia súc sinh ở các mùa hoặc năm khác nhau, có nghĩa là chương trình có thể so sánh các lứa bê khác nhau Chương trình BREEDPLAN sử dụng trong các trang trại có thể mở rộng để phân tích chéo các đàn với nhau Điều này chỉ có thể làm được trong điều kiện khi có quan hệ

về di truyền giữa các trang trại phân tích Khái niệm phân tích chéo các đàn được gọi

là nhóm BREEDPLAN (Group Breed Plan)

BREEDPLAN thể hiện giá trị di truyền ước tính của các tính trạng có thể đo đếm

được: giá trị giống ước tính (EBVs) Hiện tại chương trình BREEDPLAN có EBVs về

Trang 5

sinh trưởng, sinh sản và một số tính trạng về khả năng cho thịt Giá trị giống ước tính

về sinh trưởng gồm EBV cho:

• 200 ngày hoặc khối lượng cai sữa

• 400 ngày hoặc khối lượng sản xuất

• 600 ngày hoặc khối lượng kết thúc

• năng suất sữa

• khối lượng sơ sinh

• khối lượng trưởng thành

EBVs về khối lượng sơ sinh là yếu tó quan trọng trong sinh sản Không may cho nhà tao giống bò thịt là tốc độ sinh trưởng nhanh thường liên quan tới khối lượng sơ sinh cao (liên quan tới đẻ khó) Hiếm có gia súc có khối lượng sơ sinh thấp và tốc độ sinh trưởng cao Sử dụng EBVs như thế nào trong chương trình giống sẽ được giải thích trong cuốn sách "Chọn lọc đực giống" và "Chọn lọc và ghi chép số liệu trong chăn nuôi bò thịt" do Bộ Nông nghiệp bang Queensland (DPI) xuất bản

Đo đạc và phân tích khả năng sinh sản

Khả năng sinh sản của bò cái nghĩa là bò cái đẻ và nuôi bê hoặc không đẻ và nuôi

bê trong một khoảng thời gian nhất định Phần lớn gia súc cái có khả năng sinh sản nếu chúng có đủ thời gian hoặc cơ hội, vấn đề là chúng sinh sản như thế nào Khả năng sinh sản liên quan đến nhiều gen và bị ảnh hưởng bởi vô số các nhân tố của môi trường

Khám thai là công cụ quản lý hữu hiệu trong chăn nuôi bò thịt Chức năng của bò

mẹ là nuôi bê Càng nhiều bê cai sữa thì bò mẹ tạo ra càng nhiều lợi nhuận Chi phí quản lý cho một bò cái có chửa ít hơn so với chi phí quản lý cho một bò không chửa Mặc dù hệ số di truyền về tính trạng sinh sản của phần lớn bò cái thấp, hệ số lặp lại của tính trạng này cao Điều này có nghĩa là những bò cái đẻ bình thường trong quá khứ có thể có khả năng lớn lặp lại hiện tượng này trong tương lai

Khám thai

Có rất nhiều phương pháp kiểm tra bò có thai Không phải tất cả các phương pháp

là hữu hiệu và thực tế Các phương pháp này bao gồm:

• sử dụng các ghi chép về chu kỳ sinh sản (động dục)

• xét nghiệm hormone trong sữa, máu và nước tiểu

• xem xét mô tế bào cơ quan sinh dục

• siêu âm (cả dùng máy nghe và nhìn như siêu âm nhìn qua màn hình)

• máy dò điện cực âm đạo xác định thông qua điện tích của dịch nhờn

• khám ngoài trực tràng

• khám đường sinh dục qua trực tràng

Khám qua trực tràng là phương pháp thông dụng để khám thai trong chăn nuôi bò thịt Ngày nay đây là phương pháp được chọn cho hầu hết các trường hợp Khám thai do một người lành nghề với giá thành rẻ, tin cậy và có thể tiến hành ở nhiều trang trại Khám thai cho chúng ta những kết quả đánh dấu những gia súc phải loại thải ngay và đòi hỏi ít trang thiết bị

Không có một thời điểm lý tưởng để khám thai Tuy nhiên, nếu có thể thực hiện được thì nên tiến hành vào 13 tuần sau khi chuyển đực giống khỏi đàn cái Điều này đảm bảo rằng việc khám thai sẽ an toàn cho bò cái và bào thai và đảm bảo kết quả khám thai có độ chính xác cao Có chút ít rủi ro dẫn đến xảy thai nếu tiến hành khám thai trước 13 tuần Vì lý do này mà khám thai bắt buộc phải do cán bộ thú y đại gia súc giỏi hoặc nếu không phải là cán bộ kỹ thuật có kỹ năng và kinh nghiệm tiến hành Sau 13 tuần, độ chính xác trong khám thai của cán bộ thú y giỏi có thể đạt 99% hoặc cao hơn Nếu khám thai lúc 8 tuần trở đi thì độ chính xác không cao nhưng cũng có thể đạt trên 95%

Trang 6

Nếu thời gian khám thai trùng vào lúc cai sữa, việc quản lý cũng không khó khăn hơn và nên tránh thương tích cho bê Sẽ có ít việc để tách những bò có chửa và không có chửa

Đối với những đàn nơi đực giống ở cùng bò cái quanh năm thì việc khám thai khó thành công Tuy nhiên, những phương pháp cho phép xác định những con cái có năng suất sinh sản cao nhất sẽ cho chúng ta có được các số liệu về năng suất sinh sản của đàn

Giá trị giống ước tính (EBVs) về sinh sản

Sử dụng chỉ số này từ phân tích số liệu của chương trình BREEDPLAN hoặc Group BREEDPLAN là phương pháp có hiệu quả trong việc nâng cao sinh sản của đàn cái giống Có nhiều chỉ số EBVs ảnh hưởng đến một số khía cạnh sinh sản Chúng bao gồm các chỉ số cho cả bò đực và bò cái:

• kích cỡ tinh hoàn (SS)

• số ngày đến khi đẻ lại (DC)

• khối lượng sơ sinh (BW)

• thời gian mang thai (GL)

• tính dễ đẻ ở bò cái (CEdir)

• tính dễ đẻ của con gái (CEdtr)

Cách đơn giản và dễ dàng nhất để cải tiến mức độ di truyền về sinh sản (hoặc bất

cứ tính trạng nào) là thông qua chọn lọc đực giống Với phần lớn các tính trạng, sử dụng EBVs cho phép đạt được tốc độ cải tiến di truyền lớn hơn so với chỉ dùng cân

đo đơn giản EBVs kích cỡ tinh hoàn là phương pháp đơn giản, hữu hiệu nhất dùng cải tiến mức độ di truyền về khả năng sinh sản của đàn bò giống ở Queensland Nếu không có chỉ số này thì chỉ đơn giản chu vi tinh hoàn vẫn có hiệu quả Người sản xuất nên tránh dùng đực giống có số đo chu vi tinh hoàn nhỏ hơn 32 cm lúc bò

đực 24 tháng tuổi hoặc lớn hơn

Kích cỡ tinh hoàn

EBVs kích cỡ tinh hoàn rất quan trọng do 2 nguyên nhân Đầu tiên, những đực giống

có tinh hoàn lớn hơn thì sản xuất nhiều tinh trùng hơn, tạo cơ hội thụ thai cao hơn Hai là những đực giống có tinh hoàn lớn sẽ sản xuất nhiều bê cái sinh sản tốt hơn

Điều này có nghĩa là chúng cho ra nhiều bò cái tơ thành thục sớm và có thể có chửa sớm hơn sau khi đẻ nghĩa là chúng có EBVs khoảng cách 2 lứa đẻ ngắn hơn (xem phần sau) Với tính trạng này, EBVs đã được xác định là tốt nhất và nó chỉ ra được

bò đực nào có tiềm năng di truyền về nâng cao khả năng sinh sản tốt

Số ngày đến khi đẻ

EBVs số ngày đến khi đẻ là chỉ thị về thời gian cần thiết để bò cái có chửa sau khi

bò đực được thả vào đàn Những bò sinh ra bê sớm nhất giả thiết là chúng chửa sớm nhất EBVs này được đo bằng ngày trên hoặc dưới giá trị này của giống ở bò cái có EBVs về số ngày đến khi đẻ là +2 ngày có nghĩa là chúng đẻ bê 2 ngày chậm hơn

so với giá trị trung bình của giống Bò đẻ sớm nhất là bò lý tưởng nhất và có giá trị EBVs DC âm EBVs về số ngày đến khi đẻ có giá trị dương là không mong muốn

Khối lượng sơ sinh

EBVs về khối lượng sơ sinh là giá trị đo bằng kg trên hoặc dưới giá trị cơ sở của giống Cũng như với tất cả các tính trạng khác trong BREEDPLAN, giá trị cơ sở của giống được đặt bằng 0 Giá trị dương của EBVs về khối lượng sơ sinh có nghĩa là gia súc có khối lượng sơ sinh nằm trên giá trị cơ sở của giống Khối lượng sơ sinh là yếu

tố quan trọng có thể đo đếm được góp phần vào hiện tượng đẻ khó ở những nơi có thể người chăn nuôi dùng những đực giống có giá trị EBVs khối lượng sơ sinh thấp nhưng chúng có tốc độ sinh trưởng và các giá trị EBVs khác cao phù hợp cho chương trình tạo giống và yêu cầu của thị trường Lưu ý rằng EBVs về khối lượng sơ sinh cũng là EBVs về tốc độ sinh trưởng

Trang 7

Thời gian mang thai

Giá trị ước tính về thời gian mang thai là chỉ số đánh giá sự khác nhau di truyền giữa các cá thể bò về số ngày từ lúc thụ thai đến khi đẻ Thời gian mang thai được xác

định bởi bào thai không phải bởi mẹ và là một thành phần di truyền có thể chọn lọc EBVs về thời gian mang thai ngắn hơn (giá trị âm) thường đi liền với khối lượng sơ sinh thấp và vì vậy sẽ cải tiến việc đẻ dễ hay khó Giá trị EBVs về thời gian mang thai ngắn hơn cũng gắn liền với thời gian phối giống trở lại ngắn hơn và đấy là điều

mà các nhà chăn nuôi mong muốn Chửa ngắn là cách tránh khối lượng sơ sinh cao

Đẻ dễ

EBVs về chỉ tiêu này cho biết bê của những con đực dễ đẻ hay khó Nó thường được

áp dụng cho con của những bò đực và bò cái tơ 2 năm tuổi được sinh ra không cần can thiệp Giá trị này (+) càng cao bê đẻ càng dễ, ít phải can thiệp

Tính dễ đẻ ở con gái

EBVs về chỉ tiêu này cho biết con gái của một con đực đẻ dễ như thế nào lúc chúng

2 năm tuổi Với giá trị dương (+) bò sẽ dễ đẻ hơn Hiện EBVs về chỉ tiêu này cho bò cái và những con gái của con đực chưa được dùng ở các giống bò nhiệt đới Hiện nay, chỉ số EBVs đẻ dễ chủ yếu dùng cho một số giống bò Anh và Châu Âu

Đo kích thước vùng xương chậu

Khoảng trên 50% các nguyên nhân được biết và có thể đo được về khó đẻ là do phối hợp giữa khối lượng sơ sinh và kích thước vùng xương chậu Cả 2 yếu tố này đều có

sự đóng góp của di truyền Khối lượng sơ sinh là thành phần quan trọng trong 2 yếu

tố trên, khoảng 35% trường hợp đẻ khó rơi vào trường hợp này EBVs về khối lượng sơ sinh đã được đề cập ở phần trước

Có một số nguyên nhân khác gây ra đẻ khó đã được biết đến gồm hình dạng của

bê, vỡ nước ối, đẻ ngược, thai không nằm đúng vị trí và bò mẹ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố giống và dinh dưỡng đặc biệt là thiếu khoáng Những nguyên nhân này không

có liên quan đến di truyền và không thể đo được Đẻ khó thấy nhiều ở giống bò Bos taurus hơn là giống bò Bos indicus

Hiện nay không có EBVs cho kích thước vùng xương chậu Kích thước xương chậu chỉ giải thích được 15% trường hợp đẻ khó Kích thước xương chậu không thể đánh giá được trừ phi dùng thước chuyên dụng để đo bên trong (pelvimeter) Đánh giá một cách khách quan một số đặc điểm như độ rộng giữa 2 xương khum, xương hông

và đường chéo hông-khum không có tác dụng gì

Có 2 thước (pelvimeter) chuyên dùng được dùng ở Australia; Rice pelvimeter và Krautmann pelvimeter Loại Rice pelvimeter dùng com-pa, dễ làm, rẻ và dễ sử dụng Krautmann pelvimeter mở theo kiểu dùng nước và phức tạp khi dùng hơn

Những người chăn nuôi bò giống vẫn dùng số liệu thô khi chon bò cái tơ thay thế

đàn Chọn những con có kích thước vùng xương chậu lớn, sẽ ngay lập tức có lợi vì loại bỏ được những bò cái có khả năng đẻ khó ngay lần đẻ đầu tiên Kích thước vùng xương chậu có hệ số di truyền cao có nghĩa là những bò đực có kích thước vùng xương chậu lớn sẽ đẻ ra những con gái có kích thước vùng xương chậu lớn

Quản lý phối giống

Chương trình quản lý phối giống được kiểm soát sẽ giúp những nhà chăn nuôi bò thịt

đạt được tiến bộ di truyền trong đàn của họ Mức độ quản lý phối giống có thể từ thấp như đưa nhưng bò đực đã được chọn lọc di truyền vào đồng cỏ chăn thả và hy vọng sẽ tốt hơn, chỉ cho 1 đực giống đã được chọn lọc di truyền nhảy trong một đàn hoặc cho nhiều đực giống đã được chọn lọc về di truyền vào 1 đàn cái, dùng thụ tinh nhân tạo và cấy truyền phôi

Trang 8

Hình 10: Một dòng bê cai sữa đồng đều

Thả đực vào đàn cái quanh năm (phối tự do)

Thả bò đực vào đàn cái suốt năm hay phối giống quanh năm là hệ thống sử dụng ở những nơi đực giống được thả vào đàn bò cái cả năm Trong những đàn gia súc lớn nuôi quảng canh khó có thể nâng tiến bộ di truyền trong hệ thống này đặc biệt là tính trạng sinh sản bởi vì giám sát khả năng sinh sản rất khó ở những đàn như thế này cải thiện tiến bộ di truyền chỉ có thể thông qua chọn lọc đực giống Những tiến

bộ trong sử dụng chọn lọc bò cái cho tất cả tính trạng sẽ rất thấp hoặc bằng không

Thả đực vào đàn cái trong một khoảng thời gian hạn chế (phối hạn chế)

Hệ thống này là hạn chế chỉ cho bò cái tiếp xúc với bò đực trong một khoảng thời gian nhất định trong năm Thời gian đực cái ở cùng nhau trong một đàn có thể kéo dài 6 tuần ở những nơi chăn nuôi bò thâm canh cao độ đến 8 hoặc 9 tháng ở những nơi chăn nuôi quảng canh Thêm nữa, ở một số đàn, những bò đực giống có thể

được đưa vào đàn cái 2 lần, mỗi lần từ 3-4 tháng Hệ thống này cho phép giám sát khả năng sinh sản dễ hơn và cho phép so sánh sinh sản với các tính trạng khác áp lực chọn lọc thay đổi phụ thuộc vào mức độ quản lý Thả đực vào đàn cái sinh sản 9 tuần và 6 tuần cho bò tơ kết hợp với sử dụng 1 đực cho một nhóm cho phép giám sát được năng suất sinh sản và áp dụng chọn lọc với cường độ cao

Sử dụng nhiều đực giống và kéo dài thời kỳ thả đực, hạn chế áp lực chọn lọc sẽ làm tăng tiến bộ di truyền Tỷ lệ bò đực trong đàn cái trong chăn nuôi quảng canh là 4% hoặc cao hơn Tuy nhiên, nghiên cứu từ "Dự án sức mạnh của đực giống" cho thấy rằng phần lớn các trường hợp là 2,5% bò đực đã được chọn lọc là đủ Điều này giúp các nhà chăn nuôi bò giống giảm chi phí về bò đực giống và giá thành 1 con bê nuôi sống

Hình 11: Thụ tinh nhân tạo bò

Trang 9

Phối giống nhân tạo

Thụ tinh nhân tạo được xem là phối giống nhân tạo Thụ tinh nhân tạo có hàng loạt các ứng dụng trong chăn nuôi bò thịt Trong nhiều trường hợp nó là phương pháp rẻ nhất trong việc đưa các nguyên liệu di truyền mới có giá trị trên diện rộng Nó cũng

là cách kinh tế nhất để có các liên kết về di truyền cần thiết để tiến hành các chương trình đánh giá di truyền như chương trình Group BREEDPLAN

Phối giống nhân tạo có thể thành công thậm chí ở những trại chăn nuôi quảng canh, dưới các điều kiện hiện tại Những điểm cần lưu ý khi tiến hành chương trình phối giống nhân tạo như sau:

• Chương trình thụ tinh nhân tạo trong chăn nuôi bò thịt chỉ được sử dụng rộng rãi trên bò tơ Những bò cái đã đẻ thì ít phù hợp Cho sữa đòi hỏi nhiều năng lượng

và hoạt động bú của bê sẽ làm chậm chu kỳ động dục và giảm khả năng sinh sản Sự hiện diện của những con bê cũng ảnh hưởng đến việc phát hiện động dục, việc lùa bò và tiến hành thụ tinh nhân tạo Cai sữa xong là cách tốt nhất để những bò cái động dục lại, tuy nhiên, điều này sẽ làm tăng khoảng cách giữa 2 lứa đẻ trừ khi bê được cai sữa sớm

• Đủ thức ăn chất lượng cao là điều kiện cần thiết để tiến hành thụ tinh nhân tạo

• Bất cứ chương trình phối giống nhân tạo áp dụng cho những bò không có khả năng sinh sản bằng nhảy trực tiếp sẽ bị thất bại Điều này thường không được áp dụng ngay cả ở những nơi tổ chức tốt chương trình phối giống nhân tạo Những

bò đẻ lứa 1 ít phù hợp cho chương trình thụ tinh nhân tạo

• Kết quả phối giống sẽ tốt chỉ khi có một kế hoạch chi tiết Đối với chương trình phối giống nhân tạo được tiến hành trên qui mô lớn thì kết quả hợp lý là 1 bê sinh ra/2 liều tinh cọng rạ, thậm chí ở cả những nơi có điều kiện tốt

• Khi có các stress nhiệt, nghèo dinh dưỡng, khoáng vi lượng không cân bằng và bệnh tật thì tỷ lệ chết phôi tăng lên Tương tự như vậy các stress nhiệt và các stress khác cũng dẫn đến chết phôi thai ở giai đoạn muộn hơn hoặc xảy thai

• Sử dụng thuốc gây động dục hàng loạt nên được xem xét cho chương trình phối giống trên đàn có nhiều bò cái sinh sản Sử dụng thuốc đúng sẽ làm giảm lao

động, rút ngắn thời gian của chương trình phối giống, phát hiện động dục tập trung hơn và khi có hiệu quả cho phép thụ tinh nhân tạo một lúc nhiều bò cái theo yêu cầu của chủ trại Nếu sử dụng sai hoặc không chú ý một cách chi tiết

đến sản phẩm thuốc sẽ giảm tỷ lệ thụ thai và tăng giá thành sản xuất 1 con bê

• Bò tơ phải có khả năng sinh trưởng tốt và được chuẩn bị tốt trước khi tiến hành chương trình phối giống Điều sống còn là phải ngăn ngừa các bệnh làm giảm khả năng sinh sản như bệnh phẩy khuẩn, bệnh trùng roi và bệnh Lepto

Cấy truyền phôi

Cấy truyền phôi có thể dùng để phát tán các gen của các gia súc cái có tiềm năng di truyền cao rộng hơn và nhanh hơn so với phối giống tự nhiên Vào lúc sơ sinh, mỗi gia súc cái có khoảng 100.000 trứng Trong điều kiện tự nhiên chỉ có một số lượng nhỏ trứng được thải ra và có khả năng thụ thai Thường 1 trứng rụng vào mỗi chu kỳ Khi tiêm bò cái bằng một liệu trình hormone thích hợp, một số lượng trứng nhiều hơn

được thải ra trong quá trình rụng trứng Nếu được thụ tinh, ta có thể thu được nhiều hợp tử (thường là sau 7 ngày) và sau đó chuyển chúng cho những bò nhận phôi và sau đó nuôi bê đẻ ra Cấy truyền phôi có thể tiến hành bằng phẫu thuật hoặc không cần phẫu thuật Phương pháp không phẫu thuật được tiến hành tương tự như thụ tinh nhân tạo

Cho đến nay phương pháp phẫu thuật đạt được kết quả cao hơn chút ít so với không phẫu thuật Tuy nhiên, cấy truyền phôi bằng phương pháp không phẫu thuật nhanh hơn và cho phép sử dụng bò cái được nhiều lần hơn so với phương pháp phẫu thuật

Trang 10

Cấy truyền phôi là phương pháp đắt tiền và không thông dụng cho sản xuất những gia súc để giết thịt Cấy truyền phôi đã được dùng ở một số trại sản xuất giống bò sữa thương phẩm nhưng thông thường đối với bò thịt thì chỉ dùng hạn chế trong sản xuất đàn hạt nhân Cấy truyền phôi đã trở nên dễ dàng và thực tế hơn khi chúng ta cấy được phôi được đông lạnh đã giải đông Phân biệt giới tính của phôi hiện cũng

đang được một số nhà tạo giống quan tâm Trong tương lai việc phát triển phôi đông lạnh và giải đông cho phép cấy truyền phôi có thể áp dụng rộng rãi trong các trại giống bò thịt

Tránh có chửa cho những bò cái loại thải

Cắt buồng trứng là phẫu thuật loại bỏ buồng trứng Trường hợp không phẫu thuật thì dùng hormone điều trị để chống việc chức năng buồng trứng phát triển bình thường nhưng không cắt hoặc phá huỷ buồng trứng Chức năng buồng trứng và quá trình sinh sản sẽ trở lại bình thường khi ngừng điều trị bằng hormone

Chỉ có một lý do có giá trị cho việc cắt bỏ buồng trứng là ngăn không cho bò cái có chửa Bò cái cắt bỏ buồng trứng không phát triển nhanh hoặc béo nhanh hơn bò không cắt buồng trứng- chúng chỉ không có chửa Kiểm soát đực giống tốt có thể loại bỏ việc cắt buồng trứng, với thị trường nhập gia súc sống thì tốt hơn là cắt buồng trứng

Có 3 phương pháp phẫu thuật cắt buồng trứng ở bò cái: phẫu thuật ở vùng hông, kéo buồng trứng qua âm đạo, phương pháp làm rụng buồng trứng hay phương pháp Willis Cắt buồng trứng nên được tiến hành nhờ các bác sỹ thú y đại gia súc giỏi hoặc những người không phải là bác sỹ thú y nhưng có tay nghề, hiểu hiểu biết và

có kinh nghiệm

Phẫu thuật vùng hông

Phương pháp này là cắt phần da và cơ nằm phía trước hông và sau xương xườn để tìm cơ quan sinh dục Buồng trứng được kéo ra và cắt bằng dụng cụ cắt chuyên dụng hoặc kéo

Phương pháp cắt buồng trứng này đơn giản có thể được thực hiện trên phần lớn gia súc cái không kể tuổi hoặc tình trạng mang thai và chỉ yêu cầu ít trang thiết bị Tuy nhiên, nó làm cho gia súc đau, không thẩm mỹ khi quan sát từ phía ngoài và có thể

có một số con bị chết Nó cũng gây tổn thương bên trong Các nhóm quyền động vật

đã tuyên bố rằng để hạn chế tối thiểu đau đớn cho gia súc, người phẫu thuật nên dùng thuốc tê cục bộ để làm dịu đau Thời gian và giá thành của phương pháp này cho thấy rằng nó là một phương pháp không kinh tế

Kéo buồng trứng ra cắt

Phương pháp này là rạch vùng cổ tử cung để lấy buồng trứng, buồng trứng được kéo vào trong âm đạo và cắt bằng dụng cụ cắt chuyên dùng hoặc bằng kéo Phương pháp này it đau hơn vì có rất ít dây thần kinh ở vị trí này Phương pháp này khó hơn phương pháp mổ hông và không dễ thực hiện trên tất cả gia súc có chửa Những gia súc chưa trưởng thành cũng khó thực hiện được bằng phương pháp này Thông thường nếu âm hộ quá nhỏ sẽ khó đưa tay vào Điều này có thể khắc phục thông qua việc sử dụng dụng cụ mở "sepeader" (thiết bị căng âm hộ), nhưng thường làm gia súc rất đau như khi dùng phương pháp phẫu thuật hông Thiệt hại gia súc chết từ việc sử dụng phương pháp này rất nhỏ

Kỹ thuật lấy buồng trứng Willis

Phương pháp này là phương pháp dùng dụng cụ (hình lưỡi mác) luồn qua thành âm

đạo trong khung xương chậu Buồng trứng được cố định bằng tay luồn trong trực tràng và mỗi buồng trứng được đặt vào đầu lưỡi mác và cắt khỏi tử cung Buồng trứng này sau đó rơi vào xoang bụng Trong tất cả phương pháp phẫu thuật thì

Ngày đăng: 14/12/2013, 18:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 9: Ghi chép số liệu cá thể - Tài liệu CHỌN LỌC BÒ CÁI TRONG CHĂN NUÔI BÒ THỊT - CHƯƠNG 4 pptx
Hình 9 Ghi chép số liệu cá thể (Trang 2)
Hình 10: Một dòng bê cai sữa đồng đều - Tài liệu CHỌN LỌC BÒ CÁI TRONG CHĂN NUÔI BÒ THỊT - CHƯƠNG 4 pptx
Hình 10 Một dòng bê cai sữa đồng đều (Trang 8)
Hình 11: Thụ tinh nhân tạo bò - Tài liệu CHỌN LỌC BÒ CÁI TRONG CHĂN NUÔI BÒ THỊT - CHƯƠNG 4 pptx
Hình 11 Thụ tinh nhân tạo bò (Trang 8)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w