1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Tài liệu CHỌN LỌC BÒ CÁI TRONG CHĂN NUÔI BÒ THỊT - CHƯƠNG 3 pptx

12 593 12
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chọn những bò cái tốt
Thể loại Bài giảng
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 342,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều này có nghĩa là sai khác đo đạc được về khả năng sinh sản giữa các con cái chủ yếu là do các nguyên nhân không di truyền vì thế tiến bộ di truyền về các tính trạng này chậm hơn tiến

Trang 1

CHỌN LỌC BÒ CÁI TRONG CHĂN NUÔI BÒ THỊT

CHƯƠNG 3 CHỌN NHỮNG CON CÁI TỐT

Trang 2

Chương 3

Chọn những bò cái tốt

Đại cương

Các tính trạng quan trọng về kinh tế, dùng để chọn lọc bao gồm:

• Sự thích nghi với môi trường

• Khả năng thụ thai

• Tốc độ sinh trưởng

• Thể khí

• Các tinh trạng thịt xẻ

• Cấu trúc cơ thể hợp lý

Tầm quan trọng tương đối hoặc sự xếp hạng các tính trạng này sẽ phụ thuộc vào vị trí của trang trại và cơ cấu của đàn gia súc hiện tại

Giống bò hợp lý sẽ là giống sản xuất có hiệu quả ở một địa điểm nào đó, trong điều kiện chăm sóc quản lý nhất định và thoả mãn với các nhu cầu của thị trường Trong các điều kiện khắc nghiệt, thích nghi môi trường là tính trạng quan trọng nhất vì tính trạng này ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ nuôi sống của gia súc Trong các vùng stress về dinh dưỡng nghiêm trọng lại kết hợp với các stress về môi trường, tỷ lệ máu cao các giống thích nghi tốt với vùng nhiệt đới cần được sử dụng (như: Zebu, Sanga) việc này sẽ làm giảm chi phí

điều hành và tăng năng suất Các stress môi trường cũng gồm cả nội, ngoại ký sinh trùng và thời tiết nóng

Mức độ máu bò giống Zebu hoặc Sanga sử dụng để tạo sự thích nghi về môi trường nhiệt đới phải được cân bằng với tiềm năng sản xuất cao hơn của các giống Anh và giống Châu Âu Sự kết hợp tốt nhất sẽ được xác định trên cơ sở tình hình mối trang trại Chọn lọc trong các giống là rất quan trọng bởi vì đối với nhiều tính trạng thường sự khác nhau trong một giống nhiều hơn giữa các giống

Các nguyên tắc chọn lọc cơ bản

Các tiến bộ về di truyền thường lâu dài và tích luỹ Điều này có nghĩa là kết quả thu được

về di truyền trong đàn sẽ giữ nguyên trừ phi các bò đực hoặc bò cái có phẩm chất thấp hơn được đưa từ bên ngoài vào trong đàn

Tiến bộ về di truyền có thể thu được ở con đực nhiều hơn ở con cái Điều này rất đơn giản vì chúng ta giữ lại bò đực ít hơn bò cái nhiều, tỷ lệ bò đực dùng cho chọn lọc thấp vì vậy áp lực chọn lọc ở bò đực lớn hơn nhiều áp lực chọn lọc cao ở cả bò đực và bò cái

sẽ tăng tối đa tiến bộ di truyền

Chọn lọc có hiệu quả không những đòi hỏi sự nhận dạng cá thể mà đòi hởi phải có cả cơ

sở hạ tầng như hàng rào, điểm cung cấp nước để tách riêng gia súc và kiểm soát phối giống

Có một số nhân tố quan trọng cần cân nhắc khi chọn lọc gia súc để nhân giống Nếu một số tính trạng đặc biệt được đưa vào trong chương trình nhân giống, chúng phải đáp ứng các tiêu chuẩn sau:

• Hệ số di truyền không quá nhỏ

• Có tầm quan trọng về kinh tế

• Có thể đo đọc được (trực tiếp hoặc gián tiếp)

• Được đặc trưng bởi các biến động trong quần xã

Hệ số di truyền

Hệ số di truyền (h2) được định nghĩa là mức độ các thuộc tính di truyền của bố mẹ được chuyển cho thế hệ sau Các biến đổi không di truyền là kết quả của các nhân tố như dinh dưỡng, chăm sóc, quản lý, bệnh tật và tất cả các nhân tố môi trường khác

Hệ số di truyền của một tính trạng càng lớn phần giá trị di truyền của bố mẹ truyền sang cho con cái càng lớn Phần lớn các tính trạng sinh trưởng ở bò thịt có hệ số di truyền

Trang 3

giữa 30 và 50% điều này có nghĩa sai khác đo được về tốc độ sinh trưởng giữa các cá

thể trong cùng một nhóm 30-50% là di truyền và 50-70% là do yếu tố không di truyền

hay ngoại cảnh

Các tính trạng về thịt xẻ nói chung có hệ số di truyền 30-50% Hệ số di truyền chu vi tinh

hoàn là 25-50% trong khi hệ số di truyền về khả năng phối giống là 15-30% (cho Bos

taurus) Các tính trạng sinh sản ở con cái có hệ số di truyền thấp hơn rất nhiều (5-20%)

Điều này có nghĩa là sai khác đo đạc được về khả năng sinh sản giữa các con cái chủ

yếu là do các nguyên nhân không di truyền vì thế tiến bộ di truyền về các tính trạng này

chậm hơn tiến bộ di truyền đạt được ở các tính trạng khác Hệ số di truyền ước tính đạt

được cho một số tính trạng quan trọng ở bò thịt được trình bày ở bảng 5

Bảng 5 Hệ số di truyền ước tính cho một số tính trạng ở bò thịt trong môi

trường ôn đới và nhiệt đới

Hệ số di truyền %

Tính trạng

Bò Ôn đới (Angus) Bò Nhiệt đới (Brahman Sinh sản

Tuổi đẻ lần đầu 0-10 0-10

Thời gian chửa 15-25 chưa có

Khả năng nuôi con 20-40 chưa có

Dễ đẻ (bò cái tơ) 15-60 chưa có

Chất lượng tinh 25-40 6-44

Chu vi tinh hoàn (18 tháng) 20-50 28-36

Khả năng phối giống (18 tháng) 15-60 chưa có

Hình thái và sinh trưởng

Dài thân 25-45 chưa có

Vòng ngực 25-55 chưa có

Cao vây 30-50 chưa có

Khối lượng sơ sinh 35-45(39) 35-45(46)

Sản lượng sữa 20-25(10) (4)

Khối lượng lúc sữa 20-30 3-50

Khối lượng 200 ngày (18) (28)

Tăng trọng, từ sơ sinh đến cai sữa 25-30 16-40

Tăng trọng 1 năm (chăn thả) 30-45 20

Khối lượng 400 ngày (25) (37)

Khối lượng 18 tháng (chăn thả) 40-50 30

Khối lượng 600 ngày (31) (43)

Khối lượng bò cái trưởng thành 50-70(41) 25-40(39)

Tăng trọng ở mùa khô chưa có 17-30

Tăng trọng ở mùa mưa chưa có 18

Thịt xẻ (Mỹ)

Khối lượng thịt xẻ/ ngày tuổi 25-45(36) (36)

Mỡ vùng sườn 12-13 (27) (27)

Mỡ mông vị trí P8 29(28) 18(28)

Mỡ trong cơ bắp (%) 15(22) 30(22)

Diện tích mắt cơ 20-25(23) (23)

Tỷ lệ % thịt xẻ 15 37

Sản lượng thịt bán lẻ 29(36) 36(36)

Hiệu suất % khối lượng thịt xẻ 49 52

Các tính trạng khác

Mẫn cảm với ung thư mắt 20-40 chưa có

Sắc tố mi mắt 45-60 chưa có

Kháng ve chưa có 20-42

Kháng giun chưa có 25-36

Kháng ruồi trâu chưa có 20-30

Nguồn tài liệu tham khảo: (a) Hammon.K (ed) và cộng sự 1981 Selecting Beef Cattle for Maximum

Production in the 80s, AGBU, UNE (b) Davis C - P 1993 Genetic Parameters for Tropical Beef Cattle

Trang 4

for Northern Australia Aust.J Agric.Res., 44 170 -198 (c) Robenson, D.L Fergusun, D.M và Skeritt,

J.W 1998 Genetic Parameters for Beef Tenderness, Marbling and Yield Proc 6 th World Congress Genet APP Livestock Prod

Tầm quan trọng về kinh tế

Tất cả những tính trạng chúng ta sử dụng trong chọn lọc cần phải có tầm quan trọng

về kinh tế Không cần nỗ lực để cải tiến một tính trạng không mang lại hiệu quả kinh

tế cho người chăn nuôi Ngoài ra trong hầu hết trường hợp những người làm công tác giống sẽ cố gắng cải tiến được hai tính trạng trở lên trong cùng một lúc các tính trạng thêm ra trong chương trình chọn lọc thường làm giảm nhịp độ cải biến các tính trạng khác Tốt nhất là tập trung chọn lọc trên một số tính trạng có giá trị kinh tế cao Tầm quan trọng về kinh tế có nghĩa khác nhau đối với những người chăn nuôi Đối với phần lớn những người chăn nuôi bò thịt các tính trạng quan trọng nhất theo quan

điểm kinh kế là khả năng sinh sản, tốc độ sinh trưởng và chất lượng thịt xẻ Đối với người chăn nuôi gia súc giống để bán, có thể những tính trạng khác sẽ làm tăng hiệu quả kinh tế do bán gia súc làm giống Cùng với việc tăng cường quan tâm đáp ứng yêu cầu của thị trường, những tính trạng quan trọng về mặt kinh tế sẽ được kết hợp với yêu cầu thị trường

Khả năng đo đếm được

Đo đọc một cách khách quan các tính trạng năng suất của bò thịt tạo khả năng cho phép người chăn nuôi so sánh được các tính trạng không kể đến mùa vụ, năm, ảnh hưởng của môi trường và ước tính được giá trị di truyền Khối lượng rất dễ dàng xác

định và là lựa chọn đầu tiên có tính lôgíc đối với nhiều nghiên cứu về sinh trưởng của gia súc trong chương trình cải tiến di truyền

Tốc độ sinh trưởng dễ dàng xác định và có hệ số di truyền cao Giá trị giống đầu tiên (EBV) đã được tính toán cho tốc độ sinh trưởng So với sinh trưởng các tính trạng sinh sản đo đạc khó hơn Đầu tiên người ta thường nhấn mạnh 2 tính trạng có liên quan đến sinh sản được xác định tương đối dễ dàng là chu vi của bao dịch hoàn ở

bò đực và số ngày trước khi đẻ lứa đầu của bò cái Gần đây hơn người ta có thể xác

định được các tính trạng dễ đẻ và thời gian chửa từ Group BREEDPLAN cho một số giống bò Anh

Một số thuộc tính của thịt xẻ hiện tại có thể xác định được vì vậy được đưa vào trong giá trị EBV Những tính trạng này bao gồm cả diện mắt cơ (EMA), mỡ sườn và mỡ mông P8, tỷ lệ mỡ trong cơ và sản lượng thịt bò bán lẻ Xác định các tính trạng này

có thể tiến hành bằng Scan siêu âm hoặc xác định thịt móc hàm ở lò mổ

Sự biến động

Mọt tính trạng có biến động lớn có nhiều cơ hội hơn để thay đổi bằng chọn lọc Một

số tính trạng có biến động lớn mặc dù có hệ số di truyền thấp Đa số các tính trạng

được điều khiển bởi 2 gen trở lên và biến động của tính trạng là một phân phối chuẩn Phân phối chuẩn là một mô hình phân phối đơn giản ở đó đa số gia súc gần

ở giá trị trung bình (Hình 8)

Một tính trạng có biến động lớn (như tốc độ sinh trưởng, sản lượng sữa sẽ có đường cong thấp hơn, rộng hơn) nhiều gia súc xa giá trị trung bình hơn, trong khi một tính trạng có biến động nhỏ (như tỷ lệ mỡ trong cơ hoặc độ vân của cơ) sẽ có đường cong cao hơn và hẹp hơn (nhiều gia súc gần với giá trị trung bình hơn) Nếu chúng

ta chọn lọc 10% gia súc trong mỗi một trường hợp thì khoảng cách từ giá trị trung bình sẽ lớn hơn đối với tính trạng có biến động lớn hơn Vì vậy tính trạng có biến thiên lớn hơn từ giá trị trung bình có thể dự kiến thu được kết quả chọn lọc lớn hơn tính trạng có biến động ít hơn

Trang 5

Tính trạng biến động nhỏ

Tính trạng biến động lớn

Hình 8: Phân phối chuẩn đối với các tính trạng có biến động lớn và nhỏ

Thiết lập những mục tiêu lai tạo giống

Bước đầu tiên và là bước quan nhất để thành công trong chương trình lai tạo là xác

định rõ các mục tiêu lai tạo Việc định rõ các mục tiêu giống trong trang trại chăn nuôi bò thịt đòi hỏi phải xác định rõ ràng mức năng suất hiện tại của đàn về tính trạng quan trọng về kinh tế và xem xét các tính trạng này trong mối liên hệ với những cản trở của môi trường, những đòi hỏi của thị trường mà bò thịt sẽ được bán Các bước tiến hành để đạt được các mục tiêu gồm:

• Liệt kê các tính trạng có tầm quan trọng về kinh tế

• Liệt kê những nhu cầu của khách hàng

• Lập danh sách các mục tiêu sản xuất của đàn - Đặt các mục tiêu có thể thực hiện được cho các tính trạng quan trọng

• Lập danh sách năng suất hiện tại của đàn gia súc của bạn theo năng suất của

đàn một cách khách quan

• Lập danh sách các mục tiêu chọn giống, các tính trạng cần đặc biệt quan tâm

• Lập danh sách các tiêu chuẩn chọn lọc, các phương tiện để đạt được các mục tiêu trên

• Xếp thứ tự ưu tiên cho các tiêu chuẩn chọn lọc, xác định hệ số điểm cho từng tính trạng

Cân bằng chọn lọc

Chọn lọc một số tính trạng có thể tạo ra những ảnh hưởng không mong muốn đến các tính trạng có tầm quan trọng về kinh tế Ví dụ rỗ ràng nhất là các tính trạng sinh trưởng trong chăn nuôi bò thịt Ngày nay tính trạng này có thể được chọn lọc một cách có hiệu quả nhằm tăng tốc độ sinh trưởng thông qua sử dụng giá trị giống ước tính (EBVs) của chương trình BREEDPLAN Chương trình này sẽ được giải thích ở Chương 4 - Những công cụ quản lý đàn bò

Dùng EBVs để chọn lọc đàn cho thấy đã làm tăng tăng trọng một cách đáng kể Tuy nhiên, trừ phi sử dụng chọn lọc cân bằng, nếu chỉ chú trọng đến tốc độ tăng trọng sẽ

có thể làm tăng hiện tượng đẻ khó do bê sơ sinh có khối lượng lớn Sinh trưởng bắt

đầu từ khi thụ thai và tốc độ tăng trọng cao thường cho bê có khối lượng sơ sinh lớn hơn Tương quan giữa các tính trạng có thể là tương quan dương (+) hoặc âm (-) do

đó cần phải được lưu ý trong bất cứ chương trình chọn lọc nào

Chọn lọc cân bằng cần phải đảm bảo các tính trạng về sinh sản ít ảnh hưởng đến các tính trạng khác như tốc độ sinh trưởng hoặc khả năng cho sữa

Chọn lọc bò cái giống

Có 2 cơ hội để chọn lọc bò cái: trước và sau khi phối giống Chọn lọc bò cái giống có thể làm tăng mức độ di truyền các tính trạng cần chọn lọc trong đàn Chọn lọc thông qua việc sử dụng những công cụ chọn lọc trước khi phối giống để loại bỏ những bò sản xuất kém cũng quan trọng để tăng lợi nhuận về kinh tế sau này Chọn lọc cũng

Trang 6

cho phép "loại thải" để thay thế bò kém bằng những bò cái có khả năng sản xuất tốt

hơn hoặc cho phép giữ lại những gia súc có khả năng sản xuất tốt thu nhận thức ăn

và nước uống tốt Bởi vì chọn lọc có kế hoạch và loại thải có thể tăng quay vòng

vốn và giảm áp lực chăn thả, nó là một thành phần trong quản lý giống bò thịt

Vì một con cái trước đây rất tốt bây giờ có thể không được chấp nhận điều quan

trọng cần nhấn mạnh ở đây là mặc dù khả năng sinh sản là tính trạng có hệ số di

truyền không cao, nó có độ lặp lại cao Điều này có nghĩa là bò cái hàng năm đã đẻ

ra bê trong quá khứ thì vẫn đẻ như vậy trong tương lai

Chọn lọc trước khi phối giống

Số lượng bò cái cần thay thế được xác định thông qua:

• khả năng sinh sản hiện tại của đàn bò;

• cách loại thải hoặc chọn lọc

- tuổi loại thải

- loại thải do khả năng sinh sản kém

- loại thải do không có hoặc kém trong các tính trạng sản xuất

• tuổi cao nhất của bò sinh sản

• tỷ lệ loại thải và tỷ lệ chết hàng năm

Khi khả năng sinh sản cao hơn sẽ cho phép tăng tỷ lệ loại thải theo năng suất hoặc

giảm tỷ lệ bò tơ giữ lại

Bảng 6: So sánh số bò tơ có được để thay thế đàn ở 2 mức khả năng sinh sản

cao thấp

Nuôi thâm canh trong môi trường thuận lợi

Quản lý tốt trong môi trường khắc nghiệt

Số bò tơ có thể chọn lúc 26

tháng tuổi

44 37

Bảng 6 cho thấy đàn A chỉ có 10 bò cái trên tổng đàn 100 con cần loại thải do khả

năng sinh sản kém Nếu loại thải theo tuổi thì những bò này đạt 10,5 tuổi, đàn A sẽ

cần phải thay thế 10-13 con/năm cho mục đích này Nếu loại thải được tiến hành vì

lý do khác như tính nết, bầu vú không phát triển, gày mòn hoặc không có khả năng

thích hợp cho việc nuôi bê thì cần phải thay thế thêm Hơn nữa cần thay thế thêm

trong trường hợp bò bị chết hoặc từ các nguyên nhân khác Điều này có nghĩa là

phần lớn các trường hợp, thậm chí trong trong điều kiện quản lý tốt, tỷ lệ những bò tơ

cần thiết để thay thế đàn sinh sản cũng phải trên 50%

Tình huống đàn B cho phép hầu như không có áp lực trong chọn lọc được áp dụng

trên bò cái tơ thay thế, nếu loại thải vì bò cái không có khả năng sinh sản được tiến

hành trong đàn giống Mỗi bò cái tơ đều sẽ cần để thay thế khi có nhu cầu Trong

những trường hợp như vậy do áp lực chọn lọc bị hạn chế, tiến bộ về di truyền cũng

sẽ bị hạn chế theo

Càng nhiều tính trạng được chọn lọc thì tiến bộ di truyền ở bất kỳ tính trạng nào đó

càng thấp Điều quan trọng trong chọn lọc bò cái tơ là nên chọn lọc theo một số ít

Trang 7

các tính trạng kinh tế quan trọng Tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể, thứ tự ưu tiên cho chọn lọc bò cái là:

• Khả năng sinh sản

• Tính nết

• Cấu trúc cơ thể

• Tốc độ sinh trưởng

Hiện nay, có rất ít cơ hội để thu được lợi nhuận trong chọn lọc bò cái theo tính trạng

về khả năng cho thịt Thông thường, khả năng thích nghi với môi trường sẽ được biểu hiện qua một số tính trạng như tốc độ sinh trưởng Việc chọn lọc nên tiến hành khách quan ở những nơi có thể và nên là chọn lọc cân bằng tránh cực đoan trong chọn lọc

Tóm lại, bởi vì có ít đàn bò thịt thương phẩm có được các thông tin khách quan như các thông tin khách quan có được từ phân tích các số liệu của đàn bò tham gia vào BREEDPLAN hoặc Group BREEDPLAN các thông tin này giúp cho các thao tác chọn lọc và chọn lọc trước khi phối giống là nhỏ nhất Chỉ những bò cái tính nết không hiền hoặc không có khả năng sinh sản và phát triển bị thải Những bò cái tơ giữ lại phải cho phối giống trong các giai đoạn đủ dài và số bò có chửa sẽ giữ lại để trong đàn

Khả năng sinh sản

Sinh sản ở bò cái là tất cả hoặc không có nghĩa là 1 bò cái trong một khoảng thời gian nhất định có thể đẻ được 1 bê hoặc không đẻ bê nào cả Mặc dù hệ số di truyền về sinh sản thấp sinh sản có độ lặp lại cao và đơn giản là giữ lại những bò cái sinh sản có bê cai sữa sẽ nâng cao được khả năng sản xuất của đàn

Chọn lọc khách quan chỉ có thể thực hiện được khi có thông tin về hệ phả hoặc các thông tin về cha mẹ lý tưởng nhất là chọn lọc về khả năng sinh sản theo giá trị giống

ước tính (EBVs) được trình bày ở Chương 4 Như phần lớn các tính trạng, cải tiến về mặt di truyền nhanh nhất là thông qua chọn lọc đực giống nhưng thông thường điều này chỉ thực hiện được ở trại giống hoặc trên đàn hạt nhân có các số liệu được ghi chép đầy đủ

Nếu khó hoặc dễ đẻ là vấn đề thì có thể cải thiện về mặt di truyền tính dễ đẻ thông qua việc chọn lọc những bò cái tơ có khung xương chậu lớn Để làm được việc này cần phải đo phía trong khung xương chậu bằng thước đo chuyên dùng (pelvimeter)

và không thể đánh giá bằng mắt thường thông qua độ rộng giữa xương hông và xương mông Khung xương chậu có hệ số di truyền khá cao và trong tương lai giá trị giống ước tính EBVs của tính trạng này sẽ được sử dụng Ngày nay, sử dụng những

số liệu thô vẫn thu được những kết quả có ích (khi sử dụng cách này, hiệu chỉnh số liệu với tuổi của gia súc là cần thiết) Khung xương chậu lớn hơn so với tuổi thì phối giống sẽ dễ hơn Những bò cái tơ này có thể sẽ an toàn và dễ dàng trong khi đẻ hơn

Người lành nghề khám bên trong cơ quan sinh dục đánh giá kích thước buồng trứng

và tử cung có thể biết được những bò cái tơ nào thành thục về tính trong thời gian chọn lọc và có nhiều cơ hội nhất trong thụ thai khi phối giống Việc khám bên trong cơ quan sinh dục cũng cho phép biết những bò cái tơ đã có chửa, biết được bò cái này bất toàn và lưỡng tính (nửa đực-nửa cái) và các yếu tố khác ảnh hưởng đến khả năng sinh sản

Tính nết

Tính nết của bò cái rất quan trọng về mặt kinh tế bởi vì những bò hiền lành thường

dễ dàng, an toàn trong vận chuyển và ít bị stress trước khi giết mổ (và vì vậy thịt của

bò này mềm hơn)

Đáng tiếc là hiện nay vẫn chưa có một phương pháp thực tế đáng tin cậy nào để xác

định tính trạng này Những phương pháp đánh giá tính nết bò chỉ là những phương

Trang 8

pháp dựa vào việc quan sát khi bò chạy ra khỏi róng nhốt Tuy nhiên, tính trạng này

có hệ số di truyền tương đối cao (>0.7) nên chúng vẫn thường được quan tâm đánh giá

Cấu trúc cơ thể

Cấu trúc cơ thể đàn cái sinh sản là tính trạng liên quan tới việc kéo dài thời gian sống, sức khoẻ Bò có cấu trức hợp lý khi vỗ béo sẽ cho hiệu quả cao

Đánh giá trước khi phối giống là hợp phần tương đối nhỏ và nên tập trung vào những khuyết điểm sẽ có ảnh hưởng tới gia súc và đến các chức năng phát triển bình thường của con cái chúng

Nếu những khuyết điểm là trầm trọng hoặc có vẻ trầm trọng chúng sẽ ảnh hưởng

đến chức năng của bò cái tơ và nên loại thải những gia súc này Những khuyết điểm trầm trọng như chân trước yếu, chân vòng kiềng, móng không đều, dáng đi khác thường, hàm trên hoặc hàm dưới quá ngắn hay quá dài, mắt đỏ, có những u ở mắt v.v thì nên loại thải

Tốc độ sinh trưởng

Tốc độ sinh trưởng không thể đánh giá chính xác bằng cách nào khác hơn là dùng chỉ số về khối lượng gia súc Phương pháp tốt nhất có thể sử dụng để cải thiện tốc

độ sinh trưởng là dùng giá trị giống ước tính (EBVs) về sinh trưởng của chương trình BREEDPLAN hoặc Group BREEDPLAN Thường chúng có hiệu quả gấp 2 lần so với dùng tỷ lệ khối lượng hoặc số liệu thô (được tình bày ở chương 4- Các công cụ quản lý đàn) nhưng EBV này không phải là lựa chọn cho quản lý đàn thương phẩm

Đánh giá tốc độ sinh trưởng bằng mắt không thành công vì trong phần lớn các trường hợp nó chỉ đơn thuần xác định những gia súc có khối lượng lớn vào thời điểm chọn lọc Tại thời điểm cai sữa, có thể có một số bê có khối lượng lớn chúng có thể

là những bê sinh sớm nhất hoặc chúng được nuôi từ những bò có sản lượng sữa tốt nhưng không nhất thiết những bê này có tiềm năng tốt nhất về sinh trưởng Thông thường chọn lọc tăng trọng sau khi cai sữa quan trọng hơn chọn lọc bê cai sữa Chọn lọc tăng trọng sau cai sữa sẽ nhanh xác định được những gia súc phù hợp với những đòi hỏi về môi trường và thị trường Sữa mẹ là yếu tố quan trọng trong quá trình sinh trưởng của bê trước khi cai sữa

Bò có tốc độ sinh trưởng nhanh là điều mong muốn của các nhà chăn nuôi vì chúng

sẽ đạt được khối lượng theo yêu cầu của thị trường lúc còn non Đây là nhân tố quan trọng về chất lượng thịt Hơn nữa nuôi bò có tốc độ sinh trưởng nhanh thì hiệu quả kinh tế cao hơn Tuy nhiên, tốc độ sinh trưởng cao không có nghĩa là có khối lượng trưởng thành quá lớn tuy vậy trong nhiều trường hợp những gia súc lớn hơn có tốc độ sinh trưởng cao hơn Tốc độ sinh trưởng chỉ là chỉ tiêu có lợi về kinh tế cho đến khi gia súc đạt được khối lượng theo yêu cầu của thị trường với một lớp mỡ dưới da xác

định Sinh trưởng sau thời gian này không có lợi và trong vài trường hợp có thể bất lợi Bò cái có khối lượng cao hơn lúc trưởng thành cũng đòi hỏi nhu cầu duy trì cao hơn

BREEDPLAN và Group BREEDPLAN (trình bày ở chương 4) của một số giống hiện tại đã có giá trị giống ước tính (EBVs) về khối lượng ở tuổi trưởng thành, chúng cho phép các nhà tạo giống chọn lọc theo tốc độ sinh trưởng mà không cần tăng khối lượng lúc trưởng thành

Chọn lọc sau khi phối giống

Chọn lọc sau khi phối giống là vấn đề quan tâm hàng đầu để xác định khả năng sản xuất của bò cái Nững bò cái có khả năng sản xuất tốt nhất là những bò cái sản xuất

được nhiều bê cai sữa nhất (tinhs bằng kg) với chi phí ít nhất Để làm được việc này chúng phải đẻ đều (tốt nhất là 365 ngày hoặc thấp hơn) và nuôi bê đạt khối lượng lớn lúc cai sữa Khối lượng bê nuôi trong 1 đời bò dao động lớn theo những điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý ở vùng Nam Australia trong điều kiện thuận lợi và

Trang 9

nuôi thâm canh, mỗi năm bò cần cai sữa được 250 kg bê hoặc cao hơn, để được xếp vào loại có khả năng sản xuất cao ở vùng nhiệt đới, bò cái có được 450 kg bê cai sữa (150 kg x 3 con) = 450 kg) trong 4 năm (3 bê) được coi là có khả năng sản xuất cao

Chỉ có một số lần trong năm có thể đánh giá khả năng sản xuất của bò cái Khoảng thời gian tốt nhất để thực hiện việc này là thời điểm cai sữa và lúc khám thai Việc quản lý trở nên dễ hơn nếu bò có thể được khám thai lúc cai sữa hoặc sau khi cai sữa bê Những vấn đề như bò mẹ nhảy khi khám và nằm ỳ rất dễ giải quyết Những thủ tục này trên đàn bò thả đực giống hạn chế dễ làm hơn trên đàn bò thả đực quanh năm

Khả năng sinh sản

Những bò cái không chửa được, đặc biệt nếu chúng không có khả năng sản xuất sữa và không thể nuôi bê đến khi cai sữa là loại cần thải Trong trường hợp chăn nuôi thâm canh bò đẻ tập trung trong một khoảng thời gian ngắn, bò mẹ sản xuất ra

bê nhẹ cân hoặc có chất lượng thấp cũng sẽ bị loại thải

Cấu trúc cơ thể

Loại thải những bò cái hung dữ, có cấu trúc cơ thể không phù hợp cho sinh sản như núm vú hình chai cần được làm liên tục trong suốt đời bò cái

Khả năng làm mẹ

Khả năng làm mẹ là khả năng thu nhận thức ăn và chăm sóc bê của bò cái Một vài

bò mẹ bỏ con ngay sau khi sinh hoặc tách rời khỏi bê con ngay sau đó Khả năng bảo vệ con trước những động vật ăn thịt cũng là yếu tố trong khả năng làm mẹ Cần loại thải những bò mẹ trục trặc khi nuôi bê

Lợi ích của phối giống theo mùa

Chọn lọc những bò cái có khả năng sản xuất cao hơn và vì vậy thu được những cải tiến về di truyền trong đàn sẽ được thực hiện dễ dàng hơn bằng cách hạn chế thời gian thả bò đực vào đàn bò cái Nếu bê được đẻ trong cùng khoảng thời gian thì tốc

độ sinh trưởng của bê có thể có giá trị khi so sánh với nhau và có thể đánh giá được khả năng làm mẹ của bò cái Phối giống hạn chế trong một thời gian ngắn loại trừ việc so sánh những bê không sinh ra cùng mùa và cho phép người quản lý dễ dàng xác định những bò cái đẻ đều cho sữa tốt Nhiệm vụ khác trong quản lý như đánh

số, cai sữa và tiêm vac xin có thể được tiến hành tập trung chỉ một hoặc hai lần trong năm, bê phát triển đồng loạt thì dễ dàng hơn trong quản lý và bán ra thị trường Phối giống hạn chế có thể cho phép khám thai trong khoảng thời gian nhất

định, vừa chính xác vừa tốt cho gia súc Thuận lợi nhất là khám thai vào tuần thứ 13 sau khi chuyển đực giống đi Tuy nhiên, ở những nơi chăn nuôi quảng canh có những điều kiện dinh dưỡng nghèo hơn thì phối giống theo mùa là kỹ thuật nhằm hạn chế thấp nhất số bò mẹ nuôi con vào mùa khô Do đó thả đực giống vào đàn bò cái sinh sản trong vòng 6-8 tháng có thể phù hợp hơn

Cường độ chọn lọc bò cái sẽ thay đổi từ:

• giữ lại tất cả những bò cái có chửa và bò đang nuôi con ở những vùng quá khắc nghiệt

• chỉ giữ những bò cái đang nuôi con

• chỉ giữ lại những bò cái có chửa hoặc đang tiết sữa, những bò cái này sẽ đẻ bê trong một khoảng thời gian nhất định

Chọn lọc những bò cái có khả năng sản xuất cao sẽ khó khăn hơn trong những đàn

bò cái cho phối giống quanh năm bởi vì:

• thông thường những đàn bò được phối quanh năm có khoảng cách giữa 2 lứa đẻ lớn hơn 365 ngày Điều này chủ yếu là do chất lượng thức ăn kém Kết quả là nhiều bê sinh ra vào cuối năm ngay cả nếu quản lý tốt bê tơ vào thời điểm thích hợp

Trang 10

• khi bò đẻ vào khoảng thời gian không thích hợp thì cơ hội cho chúng phối lại sẽ

giảm và tỷ lệ chết có nguy cơ cao hơn

• có những sai số tiềm ẩn bởi những gia súc có chửa dưới 4-6 tuần không thể

khám qua trực tràng

Tuy nhiên, những nhà sản xuất, bác sỹ thú y và những chuyên gia phát triển có thể

đảm bảo:

• phần lớn bò cái có khả năng sản xuất được chọn lọc;

• phần lớn những bò thích hợp cho loại thải sẽ được định rõ nhằm tăng lợi nhuận,

tránh ảnh hưởng đến khả năng sản xuất của đàn trong tương lai và những rủi ro;

• tính hiệu quả trong dinh dưỡng và bổ sung thức ăn;

• giảm yêu cầu về đực giống và tăng hiệu quả sử dụng đực giống

Hệ thống quản lý bò cạn sữa

Chương trình này có thể sử dụng cho bất cứ đàn bò cái phối giống suốt năm nào

Nếu hệ thống quản lý bò cái tơ đã sử dụng trước đây cho bò cạn sữa thì hệ thống

này sẽ sử dụng với bò sinh sản đẻ lần thứ 2 trở đi

Trước hết, chuyển những bò cạn sữa đi và đưa bò đang nuôi con đến đồng cỏ thích

hợp Nhóm những bò đang nuôi con gồm cả những bò có bê con vừa cai sữa hoặc

sắp cai sữa Những bò cái này sẽ được cạn sữa ở vòng thứ 2 cho đến khi đẻ vào

cuối năm Loại thải những bò cái có ngoại hình không phù hợp với sinh sản hoặc

những bò cái hung dữ

Khám thai những bò cạn sữa khi đủ số lượng Những bò không chửa cho loại thải hết

và những bò có chửa đã được đưa vào các nhóm Việc nhóm bò có chửa dựa trên cơ

sở về tình trạng mang thai của đàn, diện tích bãi chăn, điều kiện mùa vụ và thời gian

trong năm Bãi chăn thả những bò có chửa phải đủ thức ăn và thức ăn bổ sung

Ví dụ về chăn thả bò cạn sữa và quản lý bò có chửa

Bảng 7 cho một ví dụ về cách quản lý thích hợp những bò có chửa ở các giai đoạn

khác nhau như thế nào

Bảng 7: Các nhóm bò và ngày dự kiến đẻ của bò có chửa ở các giai đoạn khác

nhau tính từ ngày 1 tháng 5

Nhóm bò Tình trạng mang thai lúc ngày

mùng 1 tháng 5 (tháng)

Dự kiến ngày đẻ

P2 10/12 P3 10/11

P5 11/9 P6 12/8

P8 13/6 P9 14/5

Nhóm 1: bò có chửa 1-3 tháng

Nhóm này đẻ bê muộn nhất, bê con không thể cai sữa năm nay và vì thế chúng có

khả năng sản xuất kém so với bò có chửa khác Thông thường những bò này có thể

trạng cơ thể tốt, khối lượng thịt xẻ cao và vì vậy chúng là nhóm bò bán lý tưởng Có

chửa sớm thường ảnh hưởng tới tỷ lệ thịt xẻ

Trong trường hợp giữ lại những gia súc này và không thể chia chúng ra thành những

nhóm để chăn thả riêng, có thể đưa chúng vào nhóm bò đang nuôi con vì chúng

cũng sẽ đẻ cùng thời điểm

Ngày đăng: 14/12/2013, 18:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 5. Hệ số di truyền −ớc tính cho một số tính trạng ở bò thịt trong môi - Tài liệu CHỌN LỌC BÒ CÁI TRONG CHĂN NUÔI BÒ THỊT - CHƯƠNG 3 pptx
Bảng 5. Hệ số di truyền −ớc tính cho một số tính trạng ở bò thịt trong môi (Trang 3)
Hình 8: Phân phối chuẩn đối với các tính trạng có biến động lớn và nhỏ. - Tài liệu CHỌN LỌC BÒ CÁI TRONG CHĂN NUÔI BÒ THỊT - CHƯƠNG 3 pptx
Hình 8 Phân phối chuẩn đối với các tính trạng có biến động lớn và nhỏ (Trang 5)
Bảng 6: So sánh số bò tơ có đ−ợc để thay thế đàn ở 2 mức khả năng sinh sản - Tài liệu CHỌN LỌC BÒ CÁI TRONG CHĂN NUÔI BÒ THỊT - CHƯƠNG 3 pptx
Bảng 6 So sánh số bò tơ có đ−ợc để thay thế đàn ở 2 mức khả năng sinh sản (Trang 6)
Bảng 7 cho một ví dụ về cách quản lý thích hợp những bò có chửa ở các giai đoạn - Tài liệu CHỌN LỌC BÒ CÁI TRONG CHĂN NUÔI BÒ THỊT - CHƯƠNG 3 pptx
Bảng 7 cho một ví dụ về cách quản lý thích hợp những bò có chửa ở các giai đoạn (Trang 10)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w